Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Những Bài Viết Về Nhà Thơ Bùi Giáng

28 trả lời, 643 lượt xem — Trang 1 / 1
Bùi Giáng - "Người thơ" cuối cùng của thế kỷ 20
Nguyễn Hữu Hồng Minh




Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998).

Có lẽ những người yêu thơ Việt Nam vẫn còn nhớ ngày này cách đây 5 năm (7/10/1998), thi sĩ Bùi Giáng của chúng ta đã trút hơi thở cuối cùng ở Sài Gòn. Bùi Giáng, không chỉ là nhà thơ, mà đi xa hơn, ông chính là hiện thân của một "đạo thơ", một "thi sĩ sinh ra giữa cỏ cây và sẽ chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gây cấn"...

Sự nghiệp của Bùi Giáng tỏa rộng qua nhiều lĩnh vực, từ thơ, nghiên cứu phê bình, bình giảng, làm báo và dịch thuật. Nhưng có thể khẳng định thơ đã "can thiệp", xuyên suốt và xuyên thấu qua hết mọi địa hạt của ông. Nói cách khác, cái lõi của vấn đề Bùi Giáng là "lõi thơ". Không những Bùi Giáng dịch hay như làm thơ (tiêu biểu là các cuốn Ngộ nhận, Hòa âm của điền dã, Hoàng tử bé)... mà ông viết nghiên cứu cũng dào dạt mê cuồng như làm thơ (Tư tưởng hiện đại)... Ông lấy "thi tưởng" để "quán" hết mọi lẽ trong hành động. Vì thế mới có những nhận định về Bùi Giáng theo kiểu như của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, đó là "ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ".

Điều tôi quan tâm ở thơ Bùi Giáng cũng là thái độ về lẽ biến hóa, vô thường đó. Ông là người kết hợp được những lý lẽ uyên áo, trầm mặc của tinh thần phương Đông với triết lý thực nghiệm, thực dụng của phương Tây nên càng về cuối đời, thơ Bùi Giáng càng có những cuộc đảo lộn dữ dội về ngôn ngữ, lật nhào cả những hệ thống quan điểm thơ mà gần như cả một đời ông xây dựng. Từ cái thuở tinh khôi và căn nguyên như trong Mưa nguồn:

"Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?
Ta đi còn gởi đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù."

cho đến khi xóa sổ, tung hê hết:

"Sài Gòn chợ Lớn rong chơi
Đi lên đi xuống đã đời du côn."

Triết lý trong cuộc chơi và kiếm tìm ngôn từ của Bùi tiên sinh cuối cùng chỉ còn lại mấy chữ "vui thôi mà!" cứ ngỡ rằng ai hiểu thế nào cũng được. Nhưng theo ý tôi, "vui thôi mà" đó chính là khát vọng và bi kịch của một thi sĩ đã "tuẫn nạn trên lộ trình của chữ". Dường như mỗi thi sĩ đích thực không thể lý giải hết khát vọng và sự có mặt của mình. Bùi Giáng viết:

"Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau".

Nhiều bài viết của các học giả cho rằng, ở văn học miền Nam một giai đoạn, nếu Phạm Công Thiện là đỉnh cao của trí tuệ thì Bùi Giáng chính là tinh hoa của trời đất.

Vì thế Bùi Giáng là kẻ hát rong giữa chợ đời hay kẻ vì yêu đời quá mà hóa điên, trở thành một gã cuồng khấu vô vọng? Không ai hiểu hết những con đường nào mà thi sĩ đã đi. Đường trần, đường thơ, đường định mệnh. Khi tôi biết Bùi Giáng và đến chơi với ông thì ông không còn đi rong nữa. Có lẽ ông đã thuộc lòng mỗi con đường, mỗi ngõ phố Sài Gòn. Ông dường như chỉ còn ngồi một chỗ trong căn nhà của một người cháu tên là Hoài trên đường Lưu Quang Định, quận Gò Vấp. Trên trán ông, lớp băng trắng vẫn còn thấm máu bởi những vết thương đời do những kẻ ít hiểu thi sĩ gây ra. Chỉ riêng hai con mắt vẫn sáng bừng như muốn nhìn thấu, muốn ôm trọn hết mọi cõi. Đến lúc ấy tôi mới hiểu hai câu thơ:

"Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con".

Tất nhiên, ý thơ này là của Bùi Giáng chứ không phải của Trịnh Công Sơn. Cũng cần phải nói thêm, Trịnh Công Sơn đã từng sử dụng rất nhiều ý tưởng của Bùi Giáng cho nhạc của mình nhưng ít khi ông chính danh về điều đó. Ví như ý câu thơ "Từ khi trăng là nguyệt" vậy. Nhưng Bùi Giáng, theo chỗ tôi biết, chưa một lần có phản ứng về điều này. Đến khi Bùi Giáng mất, Trịnh Công Sơn là người đã khóc trên báo Thanh Niên số tưởng niệm Bùi Giáng. Trịnh Công Sơn viết đại ý, ngày còn sống Bùi tiên sinh đã có thơ tặng ông. Thơ viết rằng:

"Công Sơn trịnh trọng phiêu bồng
Thưa rằng thơ nhạc có ngần ấy thôi!".

Tôi có nhiều lần được tiếp xúc và gặp gỡ với Bùi Giáng nhưng không có một buổi trò chuyện nào ông chịu hết mình với tôi. Bùi Giáng rất hay nổi điên khi có một người nào truy bức ông đến cùng. Cho dù đó là thi ca hay học thuật. Tôi cho rằng ông tránh các cuộc va chạm nảy lửa và tàn khốc ấy với hai lý do: Một, cuộc đời ông quá đủ đầy như một minh chứng; và hai, ông không muốn tái lặp lại bất cứ một đặt đề, một định đề nào cho Nghệ thuật. Đi vào nó thì giống như đi vào "Sa mạc phát tiến". Ước mơ của ông là tung hê hết chữ nghĩa để nhảy múa và hát ca. Mang tinh thần Lão tử, hòng diễn giữa chợ đời hiện đại. Vì thế ở một góc chợ Bà Chiểu, hay giữa cầu Trương Minh Giảng, người ta đã từng thấy thi sĩ múa may quay cuồng hay "nhập đồng" phóng ào từ trên xích lô xuống diễn kịch, múa gậy vây giữa đám đông hồ hởi và cuồng nhiệt. Những hình ảnh thơ như thế sẽ không bao giờ còn nữa. Ông chính là "người thơ" cuối cùng của một thế kỷ và đã ra đi giữa một thời đại đang ngày càng xa vắng những tâm hồn và những tâm tình thơ.

Nguyễn Hữu Hồng Minh
Đăng nhập để trả lời
0


TIỂU SỬ BÙI GIÁNG
Đặng Tiến


Bùi Giáng là tên thật ?????
Có khi sử dụng nhiều bút danh khác : Vân Mồng, Bùi Bàng Giúi, Búi Bàng Giùi, Báng Giùi, Trung Niên Thi Sĩ, Đười Ươi Thi Sĩ.

Ông sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926, Bính Dần, tại làng Thanh Châu, nay đổi thành Duy Châu vì thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam [i ] .

Thân phụ là Bùi Thuyên, tục danh Cửu Tỳ, địa chủ giàu có; thân mẫu là Huỳnh thị Kiền, còn tên là Hai. Cụ Bùi Thuyên có hai đời vợ, bà trước là con Phạm Tuấn, là một trong năm tiến sĩ đồng khoa 1898 cùng quê Quảng Nam, gọi là Ngũ Phụng Tề Phi [ii]. Bà mất sớm khi hạ sinh người con thứ ba. Bà sau là cháu nội cụ Hoàng văn Bảng, em ruột Hoàng Diệu, phó bảng khoa 1853, Thượng thư Bộ Binh, Tổng Đốc Hà Ninh, tuẩn tiết tại Hà Nội năm 1882. Bà sinh được hai gái và bảy trai. Bùi Giáng là con thứ năm, kể cả con bà mẹ trước, nên còn tên là Sáu Giáng.

Những chi tiết này chứng tỏ Bùi Giáng xuất thân tự một giòng họ gia thế. Họ này gốc Nghệ An, di dân vào đây từ đời Hồng Đức [iii].

Nhiều người trong giòng họ này nổi tiếng như bác sĩ Bùi Kiện Tín, sản xuất dầu khuynh diệp, kỹ sư Bùi Thạnh, hay giáo sư Bùi xuân Bào, gia đình ra lập nghiệp tại Huế.

“Dòng họ Bùi giàu có bậc nhất trong vùng với những sở ruộng ‘cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi” . Bùi Giáng trong mắt người dân thuở đó là một trang công tử. Dòng họ Bùi gốc ở Vĩnh Trinh lên ngụ cư ở Trung Phước khoảng những năm đầu của thập kỷ 40. Hồi đó, dòng họ có những căn nhà lầu đầu tiên ở xứ này. Trong nhà của họ có rất nhiều nô bộc. Sau này, nhà Quảng Nam học Nguyễn văn Xuân nhận xét rằng những dòng họ giàu có nổi tiếng ở xứ Quảng đều sinh sống dọc hai bên triền sông, tận dụng lợi thế “nhất cận thị, nhị cận giang” [iv] .

Sông Thu Bồn quanh năm có lưu lượng cao, nối liền miền Thượng Du với cửa Đại (Hội An), cửa Hàn (Đà Nẵng) và cửa Kỳ Hà (Tam Kỳ) qua nhiều sông lớn khác. Do đó, Vương Quốc Chăm đã đóng đô tại vùng Trà Kiệu, bên sông này, khoảng thế kỷ IV.

Nhờ kinh tế phồn thịnh, dân địa phương nhiều người học hành và đỗ đạt.

Bùi Giáng sinh ra và lớn lên giữa “những dãy nhà rộng thênh thang tường xây bằng đá” [v]. Thời niên thiếu giữa một thiên nhiên phong phú, nhiều sắc thái : sông hồ, đồi núi, ruộng nương là một thiên đường mà Bùi Giáng suốt đời hoài vọng, và gọi là cố quận. Trong Ngày Tháng Ngao Du, ông kể : “Hồi nhỏ, tôi được sanh ra và lớn lên trong miền quê hẻo lánh. Chung quanh có ruộng đồng sông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy suốt tuổi thơ. Làng tôi xưa kia có nhiều cỏ mọc, cỏ mọc từ trong làng ra ngoài ruộng, tới những cồn, gò, đồi núi thật xanh. Từ đó về sau, tôi tìm kiếm mãi một màu xanh không còn nữa vì những trái bom và hòn đạn khổng lồ” .

Có lẽ vì vậy mà mãi đến tuổi 71 ông mới về quê sau non 50 năm xa cách, qua bài thơ Tâm Sự 1996, trong Đêm Ngắm Trăng.

Về học trình của Bùi Giáng, tư liệu chi tiết nhất là bài diễn văn năm 1995 của Bùi văn Vịnh, em ruột : “Thuở nhỏ, anh học trường Bảo An, tại Điện Bàn, Quảng Nam. Sau đấy, anh theo Trung học ở trường Thuận Hóa, Huế. Năm 1945, đang lớp đệ tứ thì gặp Đảo chính Nhật, song anh kịp đậu Thành Chung (Diplôme). Cùng năm, anh lập gia đình riêng – chị qua đời ba năm sau. Việt Minh lên, anh trôi nổi khắp các tỉnh Nam Ngãi Bình Phú của Liên Khu V trong vùng kiểm soát này. Cho đến 1950, kho có kỳ thi Tú tài đặc biệt do Liên Khu V tổ chức “đặc biệt” vì đề thi do Liên Khu IV gửi vào, thi xong bài thi gửi ra Liên Khu IV chấm), anh đậu Tú tài II Văn Chương, rồi lên đường ra Liên Khu IV, tới Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học Đại Học. Từ LIên Khu V ra Liên Khu IV phải đi bộ theo đường mòn trên núi, hơn một tháng rưỡi trời. Khi ra đến nơi, trong này khai giảng sau khi nghe ông Viện trưởng Đại học đọc diễn văn, Bùi Giáng quay ngay về Quảng Nam – với một tháng rưỡi đi bộ nữa theo đường mòn trên dãy Trường Sơn. Và anh bắt đầu quãng đời "Mười lăm năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt” . Xin mở một ngoặc đơn : con số “15” được hiểu với nghĩa tượng trưng của điển “mục dương” , và anh chăn dê chứ không bò hay trâu ! Tháng 5-1952, gửi đàn dê lại cho... chuồn chuồn, châu chấu, anh băng qua Huế lấy Tú tài tương đương, để vào Sài Gòn ghi danh theo học Đại Học Văn khoa. Lần này nữa, sau khi nhìn danh sách các giáo sư sẽ giảng dạy, anh quyết định chấm dứt việchọc ở trường của mình tại đây” [vi].

Nhiều bài biên khảo sử dụng tư liệu này, vì tư cách của tác giả và những dữ kiện cụ thể được đưa ra. Nhưng cũng có người tự hỏi : Hà Tĩnh thì làm gì có đại học ? Năm 1952, thì Sài gòn làm gì có đại học văn khoa [vii] ?

Chúng tôi dò hỏi và đề nghị một học trình khác của Bùi Giáng :

- Tiểu học : Bùi Giáng có học trường Viên Minh, Hội An,

- 1940 ông bắt đầu vào Trung Học, trường Cẩm Bàng, Quy Nhơn. Trường tên như thế vì là tên làng của chủ trường, ông Lâm tô Bôi, người Quảng Ngãi.

- 1941-1945 : Bùi Giáng ra Huế, học trường Tư thục Thuận Hóa. Thầy là các vị Hoài Thanh, Đào duy Anh, Trần đình Đàn, Lê Trí Viễn... Hai ông sau là cùng quê với Bùi Giáng. Nhà thơ khâm phục và về sau có viết bài ca ngợi các bậc thầy này.

- 1945 : Nhật đảo chính.

Ông đỗ bằng Thành Chung, thường gọi là Diplôme, sau khi thi hỏng năm trước, và ở lại lớp Tứ Niên C.

- 1943 : Bùi Giáng đọc trên báo Bạn Đường, do Hướng Đạo chủ trương, in tại Thanh Hóa, mấy câu thơ :

Mịt mùng một nẻo quê chung
Người về Cố Quận, muôn trùng ta đi.
Theo Bùi Giáng “đây là một niềm tương ngộ, cuộc trùng phùng, những tao ngộ tình cờ trong một cuộc Hội Thoại” .

Có thể xem như là khởi điểm nguồn sáng tạo văn học của Bùi Giáng, như ông thổ lộ ở phần đầu Lời cố Quận (1972), mà không cho biết tên tác giả câu thơ.

Tuy nhiên trước đó, trong Đi vào Cõi Thơ (1969), Bùi Giáng có trích hai câu này trong một đoạn 4 câu trong bài Cảm Thông (12 câu, 1940) và nói rõ là của Huy Cận. Bài này chưa bao giờ được in ở các thi tập đã xuất bản của Huy Cận.

- 1945 : ông về quê, cưới vợ, dọn lên Trung Phước, một làng Trung Du hẻo lánh.

Vợ ông tên Phạm thị Ninh, trạc tuổi ông, sinh trưởng trong một gia đình công chức khá giả, ông bà Phán Trai, Hội An, ở gần Chùa Cầu, nay còn người em là Phạm văn Hòa, 71 tuổi.

Bà Ninh qua đời năm 1948 vì bệnh dài hạn và đẻ non, đứa con cũng mất, tại làng Trung Phước. Người em, Bùi Công Luân, kể lại rằng khi mất, thì “chị không thấy mặt chồng. Anh Bùi Giáng bấy giờ đang ở Quảng Ngãi, Bình định, Phú Yên gì đó, nghe phong thanh anh đang đi học” [viii].

Chúng tôi lần theo, và được biết là giai đoạn này, Bùi Giáng tiếp tục học tại trường Nguyễn Huệ Bồng Sơn, tỉnh Bình định. Trường này không dạy đủ lớp, chỉ dạy hai trên ba năm, bậc Tú Tài, và chỉ dạy chuyên khoa Toán Lý Hóa. Bùi Giáng có ra Hà Tĩnh - bài Kỷ Niệm, trong tập Mưa Nguồn, làm tại Hà Tĩnh, 1951- nhưng có thể để học tiếp ban Tú Tài văn chương, rồi bỏ dở.

Tháng 5-1952, Bùi Giáng về thành [ix]. Rồi vào Sài Gòn dạy học.

Học trình Bùi Giáng, chúng tôi chỉ biết có vậy.

Trên cơ bản ông là người tự học và đã đạt tới một kiến thức uyên bác, làm nhiều người ngạc nhiên và kính phục.

Chúng tôi phụ chú thêm ba điểm :

1. Việc hôn nhân : khi trả lời một bài phỏng vấn của báo Thời Văn, 1997, Bùi Giáng có tiết lộ : “phải thuận theo ý cha mẹ lấy cô vợ người thành phố Hội An, suốt đời không biết cày sâu cuốc bẫm là gì” [x]. Người em trai Bùi công Luân xác nhận điều này trên báo Khởi Hành số 25 đã dẫn, nói rằng hai bên không yêu nhau.

2. Việc chăn dê : khoảng 1948, tại Trung Phước, chúng tôi tin vào kỷ niệm của ông Phạm văn Hòa :

“Ông anh rể tôi kỳ lạ lắm. Hồi đó ổng mua một đàn dê khoảng 100 con và rủ tôi đi chăn cùng. Buổi sáng ông thường lùa dê vào Giáp Nam, Gò Om, sau đó hai anh em rủ nhau xuống khe (suối) Le ngồi dưới bóng của các lùm tre và… đọc thơ suốt buổi. Có những buổi ổng lang thang lên tận các quả đồi hái hoa, lá kết vòng thơ thẩn đeo vào cổ cho dê…" Đặc biệt Bùi Giáng rất thương vợ. Sáng nào ông cũng vắt một bát sữ dê đem chưng lên cho vợ uống. Tôi chẳng hiểu hồi đó ông có tâm sự gì nhưng chỉ biết ông nuôi dê để chơi thôi, không thấy bán (vì nhà rất giàu, đâu cần tiền), cũng không hấy giết thịt vì ông rất yêu nhưng con dê. Mỗi con ông đặt cho một cái tên, rất kỳ lạ.

Chuyện Bùi Giáng chăn dê nhiều người còn nhớ. Đấy là hình ảnh một thanh niên hàng ngày lặng lẽ lùa dê vào núi, trên tay ôm một cuốn sách tiếng Pháp dày cộp.

Quãng đời du mục của Bùi Giáng kéo dài khoảng 3 năm thôi nhưng sau này khi viết Nỗi lòng Tô Vũ, thi sĩ đã đề từ "Kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê núi đồi Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú" . Mười lăm năm – nhiều người cho rằng có thể Bùi Giáng lấy thời gian lưu lạc của nàng Kiều để nói về đời mình” [xi].

3. Thời kháng chiến : ngày Toàn quốc Kháng Chiến chống Pháp, Bùi Giáng đúng 20 tuổi. Vậy ông làm gì ? chẳng nhẽ chỉ chăn dê và làm thơ ?

Bùi Giáng có đi bộ đội, thời đó là Giải Phóng Quân. Trong lúc “vui lòng cởi mở” ở dưỡng trí viện Biên Hòa tháng 5-1969, ông có kể với các Bác sĩ trong viện : “trong thời trai trẻ, đi kháng chiến, một chiều nọ, mệt, đói, anh đang lê từ bước một với chiếc ba lô khá nặng sau lưng, thì vừa quẹo một đường mòn, anh chợt thấy một thiếu nữ thiểu số đang giặt áo bên bớ suối, anh vừa ngừng chân thì "Bông hoa rừng nọ cũng vừa ngừng tay giặt, mỉm cười với anh và niềm nở hỏi chào anh. Anh tưởng mình như đang lạc vào suối Đào-nguyên, và hình ảnh này vẫn không phai trong tâm khảm anh. Đó là phần Cô em Mọi nhỏ ; còn Hoàng hậu Nam-Phương thì đến với anh trên một bao thư : người mẫu nghi thiên hạ này, sau anh có gặp lại ở Huế – lần này, người thiệt, chớ chẳng phải là một con tem thư – nhưng thực và mộng vẫn không sai biệt.” [xii]

Đoạn văn được trích dài, để quy chiếu, về một chi tiết trong tiểu sử mà các tài liệu khác không đề cập, và trong chừng mực nào đó giúp ta hiểu thêm về hình ảnh người đàn bà – rất nhiều đàn bà – trong thơ Bùi Giáng.

* *

1952 – 1960 : về vùng “quốc gia”, Bùi Giáng vào Sài gòn lập nghiệp, dạy Pháp văn và Việt văn cho nhiều trường Tư Thục : Tân Thịnh, Vương gia Cần … và gửi thơ đăng báo.

Ông cư ngụ tại đường Trương tấn Bửu, nay là Trần huy Liệu, gần chợ Trương minh Giảng, cùng với các em, trong một ngôi nhà giữa vườn cây vú sữa [xiii]. Võ Phiến, ở gần đó, thường lui tới. Có lần Bùi Giáng chiêu đãi Đinh Hùng tại nhà, mời ăn Mì Quảng, nhưng tại một căn nhà đường Dixmude, Đề Thám, theo lời kể của Mặc Thu [xiv] .

Mì Quảng là món ăn quê hương mà ông tự hào và ưa thích. Có lần tuyên bố : “ta ăn hai ngàn tô mì Quảng nữa ta chết” [xv].

Thời gian dạy học, ông đã soạn 6 cuốn sách giáo khoa, do nhà Tân Việt ấn hành, về Bà Huyện Thanh Quan, Lục vân Tiên, Kiều (1957), Tản Đà, Chu Mạnh Trinh, Tôn Thọ Tường và Phan văn Trị (1959) chủ yếu cho học sinh cấp hai.

1960-1975 :

1960 : xuất bản Tư Tưởng Hiện Đại, biên khảo về tư tưởng phương Tây, chủ yếu là chủ nghĩa hiện sinh đang thời thượng. Có thể xem như là sáng tác đầu tay quan trọng.

Dường như từ thời gian này ông mới học tiếng Đức, bắt đầu đọc Heidegger, do ảnh hưởng nhóm Phật giáo Vạn Hạnh với Thượng tọa Thích Minh Châu, Tuệ Sĩ, và Phạm công Thiện. Hai cuốn về Heidegger, in 1963, trích nhiều tiếng Đức.

1962 : xuất bản tập thơ Mưa Nguồn, có bài làm từ 1950, thời chăn dê. Có lẽ Mưa Nguồn là tập thơ đều tay và giá trị nhất của Bùi Giáng. Liên tiếp, năm sau, là 4 thi phẩm : Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Màu Hoa Trên Ngàn và Sa Mạc Trường Ca.

Dường như sau đó có thời gian ông về ở chùa Phát Hội, một trung tâm nghiên cứu Phật Học, tiền thân của Đại Học Vạn Hạnh, với Nhất Hạnh, Tuệ Sĩ, Phạm công Thiện,… .

1965 : chiến tranh leo thang. Cùng với nhóm trí thức : Nhất Hạnh, Hồ hữu Tường, Tam Ích,… Bùi Giáng tham gia kêu goị hòa bình. Dường như đây là hoạt động chính trị chính thức duy nhất trong đời Bùi Giáng. Nhưng lá thư gửi René Char của Bùi Giáng chỉ nói đến hòa bình chung chung.

Thời gian này ông chủ tâm dịch sách, xuất bản 13 dịch phẩm, nhiều nhất là Camus. Kịch bản Ngộ Nhận (le Malentendu) xuất bản 1967, đã đăng trên báo Bách Khoa từ 1963, và Bùi Giáng yêu thích Camus từ lâu. Dường như đôi bên có trao đổi thư từ.

1969 : xuất bản 10 tác phẩm trong một năm, chủ yếu về thơ.

Đồng thời xảy ra tai nạn lớn : một hỏa tai thiêu rụi căn gác ông ở và chứa sách, trong ngõ Phan thanh Giản, bây giờ là Điện Biên Phủ. Căn gác này do tu sĩ Thanh Tuệ, chủ nhà xuất bản An Tiêm, thuê cho Bùi Giáng ở, chứa nhiều tư liệu và rất nhiều sách, Pháp, Anh, Đức, Hán, có ghi chú. Hỏa hoạn xảy ra khoảng 3 giờ chiều, trước đôi mắt bất lực của Bùi Giáng và Thanh Tuệ, thiêu rụi tư liệu, bản thảo, và sách tặng của Camus, dường như có cả sách tặng của Heidegger.

Bùi Giáng, cuồng nhẹ từ trước, nổi cơn điên, được gia đình đưa vào dưỡng trí viện Biên Hòa đầu tháng 5-1969. Theo các bác sĩ của viện : “Người cầm bút cô độc này, bịnh đã chuyển từ cuồng nhẹ sang cuồng nặng” [xvi] . Không biết bệnh có di truyền hay không, vì thân sinh ông cũng bị cuồng nhẹ, theo lời người địa phương “thân sinh ông Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên, thường gọi là Cửu Tỳ, Ông Cửu Tỳ cũng là một người … điên, hàng ngày thường làm bộ cưỡi ngựa bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà Tang đọc thơ, làm câu đối và đặc biệt ông này rất thích chọc ghẹo… các cô gái có nhan sắc !” [xvii].

Ra khỏi dưỡng trí viện, Bùi Giáng sống lang thang nay đây mai đó. Từ đầu năm 1973, ông dọn về khu nội xá của Đại Học Vạn Hạnh, đường Trương Minh Giảng, có phòng riêng ở lầu 3. Thời gian này Bùi Giáng thỉnh thoảng có dự những buổi đàm luận chính trị với nhóm trí thức chủ hòa thời đó : Nguyễn đăng Thục, Tuệ Sĩ, Ngô trọng Anh,… Nhưng vẫn ăn ngủ đó đây và biểu diễn nhiều trò lạ mắt trong y phục thùng thình trên hè phố Sài Gòn. Thân hữu và gia đình vẫn ồ ạt xuất bản sách cho ông. Tạp chí Văn đã ra một số đặc biệt Bùi Giáng tháng 5-1973, và Mai Thảo, phụ trách tờ báo giải thích về sau : “Phải làm cái gì về ông. Để ghi nhận lại”.

Mai Thảo còn kể tiếp : “chưa biết tìm Bùi Giáng ở đâu, thì thi sĩ bất ngờ ghé thăm tòa soạn. Ông chỉ còn là da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy (…) Mấy tháng trước biến cố 1975, chỉ thỉnh thoảng nghe thấy ông vẫn lang thang đây đó, một quán này, một bãi hoang kia, ngủ bất cứ ở đâu” [xviii].

1975-1998 : Sau 1975 bệnh cuồng trầm trọng thêm, dù rằng vẫn có lúc ông sáng suốt. Sống nhờ bạn bè và trợ cấp của gia đình từ nước ngoài. Có lúc ở nhờ chùa Già Lam, xóm Gà, Gia Định.

Từ 1985, về ở với gia đình người cháu gái, đường Lê Quang Định, Tân Bình, Vợ chồng người cháu giúp Bùi Giáng định cư và định tâm, an dưỡng và sáng tác, đến ngày cuối đời. Hiện gia đình này còn giữ nhiều di cảo.

Từ 1992, Tâm trí có phần ổn định, Bùi Giáng làm nhiều thơ trong năm 1993. Sau đó sáng tác cầm chừng, vẫn làm nhiều thơ.

1996 về thăm lại "Cố Quận" Quảng Nam khi đã 71 tuổi.

7-10-1998 (ngày 17 tháng Tám năm Mậu Dần) : Bùi Giáng mất tại Sài Gòn vì bị tai biến mạch máu não.

Đêm 23-9, ông có uống rượu, trượt té và vào hôn mê sâu. Giải phẩu tối 25-9, nhưng ông vẫn hôn mê, cho đến 14 giờ ngày 7-10 thì qua đời.

Tang lễ được tổ chức trọng thể tại chùa Vĩnh Nghiêm. Khoảng 600 người, phần đông là thanh niên, sinh viên đến canh thức, ngâm thơ. Một đám tang nhẹ nhàng, nhắc lời ông thường nói, để đời : “vui thôi mà”.

11-10-1998 : an táng tại nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Đức.

Hiện nay Bùi Giáng còn 10 tập thơ và dịch phẩm chưa in.

Đặng Tiến
Viết cho ngày tưởng niệm Bùi Giáng
7-10-2003, Sơ Thu Quí Mùi


Des lisières lointaines
les cerfs ont bramé
Từ ven rừng xa
tiếng nai gào gọi
Apollinaire

Ghi chú:

--------------------------------------------------------------------------------

Du khách đi thăm di tích Chàm ở Mỹ Sơn, từ quốc lộ số 1, lấy tỉnh lộ 610 khoảng 15 km sẽ đi qua làng Duy Châu. Đi thêm 30 km sẽ đến làng Trung Phước, nơi Bùi Giáng chăn dê, nay đổi là Quế Phước vì thuộc huyện Quế Sơn, phía mỏ than Nông Sơn. Cả hai làng đều nằm bên sông Thu Bồn, bờ bên này và bên kia.
[ii] Năm người theo thứ tự là : Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Truân và Dương hiển Tiến. Ngoại trừ Phan Quang huyện Quế Sơn, bốn người kia đều thuộc huyện Diên Phước, nay là Điện Bàn.
[iii] Bùi Tấn, Chớp Biển, Sài Gòn, Anaheim 1996, tr. 35.
[iv] Nguyễn Minh Sơn, báo Người Lao Động, số Xuân Quý Mùi 2003, TPHCM.
[v] Bùi Công Luân (em ruột Bùi Giáng), báo Khởi Hành, số 25, tháng 11/1998, tr. 27, California.
[vi] Bùi văn Vịnh, trong Chớp Biển, sdd, tr. 90.
[vii] Trường Đại Học Văn Khoa, Sài Gòn, có từ 1958. Trước đó, có lớp Văn dạy tại Đại Học Sư Phạm, 1956. Khoa trưởng cả hai trường thời đó là G.s Nguyễn huy Bảo, mà Bùi Giáng tỏ lòng ngưỡng mộ, như đã tuyên bố ở trang 17, báo Thời Văn, 6-1997, Sài Gòn.
Tại Khu IV, khoảng 1948, chỉ có lớp dự bị Văn Khoa, 7 sinh viên học với g.s. Đặng Thai Mai, Quần Tín, Thanh Hóa, và g.s. Cao Xuân Huy, Diễn Châu, Nghệ An. Cụ Huy là thầy Bùi Giáng môn Pháp văn, tại trường Thuận Hóa, Huế.
[viii] Bùi Công Luân, trong Chớp Biển, sđd, tr. 15, có đăng lại trên báo Khởi Hành, số 16 tháng 2-1998, tr. 20, California.
[ix] Cùng một thời điểm với nhà thơ Tạ Ký 1928-1979. Tạ Ký vào học trường Khải Định 1952, Huế, học đủ ba năm cấp ba, đậu Tú Tài năm 1955.
Tạ Ký cùng quê, và ở cùng xóm, trong làng Trung Phước với Bùi Giáng. Làng này đã trở thành một đề tài thi ca qua câu thơ Tạ Ký :
Trung Phước ơi, sông sâu dài uốn khúc,
Tình cheo leo cao vút một con đèo.
Trong chiến tranh, một chiều mưa bên bờ sông Vĩnh Điện, nhà thơ Tường Linh, quê ngoại ở Trung Phước, học trò Pháp văn của Bùi Giáng, nhìn về Trung Phước, có câu thơ cảm động :
Thấy gì đâu, chỉ thấy núi mây mờ,
Lòng gọi mãi tên làng xưa Trung Phước !
Nhà văn Võ Phiến, 1986, có lời bình luận : "Làng Trung Phước, ngày còn ở trong nước tôi chưa đến bao giờ, chính dân làng còn khó về làng huống hồ người xa kẻ lạ. Từ khi xa nước, nghe nói tới Trung Phước càng thấy mơ hồ típ tắp. Tôi đinh ninh đó là một làng đáng tưởng nhớ, đáng mê say : dễ gì một ngôi làng nhỏ bé hẻo lánh, mà có được hai thi sĩ dễ thương ngoan lành như vậy ? Hơn nữa, ngoài Tạ Ký và Tường Linh, làng Trung Phước còn liên hệ dến một thi sĩ thứ ba rất quen thuộc là Bùi Giáng, người đã từng sống với đàn dê tại đây một thời gian thời kháng chiến chống Pháp".
(Võ Phiến, Văn Học Miền Nam – Thơ, nxb Văn Nghệ, tr. 3145, 1999, California.)
Khi mộ Tạ Ký được dời về Gò Dưa, Thủ Đức, Tường Linh có đọc điếu văn.
Ngày nay cùng nghĩa trang với Bùi Giáng.
[x] Bùi Giáng, tạp chí Thời Văn, số 19, tháng 6-1997, tr. 26, TPHCM.
[xi] Nguyễn minh Sơn, báo Người Lao Động, sđd.
Chúng tôi chua thêm hai điều :
a) Mười lăm năm là cái "khớp trong đời Bùi Giáng : mười lăm tuổi, rời thôn ấp về thành phố Huế, mười lăm năm sau, đất nước chia đôi, rồi 1969, vào dưỡng trí viện Biên Hòa, v..v… Ông có bài thơ Mười lăm năm :
Mười lăm năm ngọn tử phần
Mù sương cố quận chín tầng tầng rơi
Linh cảm, có thể quan hệ với thân phận Thúy Kiều.
b) Tâm sự u uất : Bùi công Luân xác nhận điều này, khi Bùi Giáng rời gia trang ở Thanh Châu miền trung du Trung Phước chăn dê : "dường như anh muốn xa lánh trốn tránh, thậm chí đoạn tuyệt với một cái gì đó. Có thể là một quá khứ với những kỷ niệm không phai. Có thể là một đoạn đời với nhiều bão giông còn âm ỉ ".
Bùi Giáng có thơ :
Người điên mang một mối buồn
Chưa bao giờ biết cỗi nguồn từ đâu
(Một Lần Nàng Tiên)
[xii] Thơ Điên, nxb Ki-Gob-Jó-Cì, Thái Bình Điên Quấc, năm Chó 70, tr. 81, 1970, Sài Gòn.
Sách do các bác sĩ dưỡng trí viện Nguyễn văn Hoài, Biên Hòa, thực hiện, 140 trang khổ 16x24 cm.
[xiii] Viên Linh, Khởi Hành số 25 bđd, tr. 23.
[xiv] Mặc Thu, Khởi Hành, số 25, tr. 25.
[xv] Trần Hữu Cư, báo Thời Văn, bđd, tr. 71.
[xvi] Thơ Điên, sđd, tr. 80.
Giám đốc dưỡng trí viện là Tô dương Hiệp, con trai nhà văn Bình Nguyên Lộc. Bác sĩ chuyên trị Bùi Giáng và thân thiết, là Nguyễn Tuấn Anh.
[xvii] Nguyễn minh Sơn, báo Người Lao Động, sđd.
[xviii] Mai Thảo, tạp chí Văn, số 26, tháng 8-1984, California, in lại trong Hợp Lưu, số 44, tháng 12-1998, tr. 15-16, California .
Đăng nhập để trả lời
0
Nguyễn Hưng Quốc
Cuộc hoà giải vô tận: Trường hợp Bùi Giáng


Khi viết về thơ ở miền Nam trước 1975 cũng như thơ trong nước sau 1975, tôi ít nhắc đến Bùi Giáng. [1] Không phải vì tôi đánh giá ông thấp. Ngược lại. Tôi đồng ý với Mai Thảo: Bùi Giáng là một tài thơ trác tuyệt. "Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời". [2] Càng đọc Bùi Giáng, tôi càng thấy ông lạ lùng. Con người ông lạ lùng: nói như Thanh Tâm Tuyền, qua lời kể của Mai Thảo, Bùi Giáng là người "ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ". [3] Thơ ông càng lạ lùng, lạ lùng đến nỗi ai cũng ngại ngùng khi viết về ông. Kể chuyện về ông: có; nhưng phê bình thơ ông: chưa.

Có lần, Thanh Tâm Tuyền gọi Bùi Giáng là "một thiên tài tự huỷ ghê gớm nhất của thi ca Việt Nam hiện đại' và là 'một hồn thơ bị vây khốn". [4] Bị vây khốn bởi cái gì? Theo tôi, Bùi Giáng bị vây khốn, trước hết, bởi những hoài nghi, những dằn vặt. Thì một số khá đông các nhà thơ khác ở miền Nam thời kỳ 1954-75 cũng hoài nghi, cũng dằn vặt. Song, có điều, không ai sống đến tận cùng sự hoài nghi, sự dằn vặt như là Bùi Giáng. Thơ Bùi Giáng là những phún thạch phun lên từ hoả diệm sơn của hồn ông. Nhưng khác các nhà thơ khác, Bùi Giáng lại nguỵ trang thảm kịch của mình bằng một giọng cợt nhã, bông đùa. Trong một bài viết về Hàn Mặc Tử, sau khi ghi nhận thơ Hàn Mặc Tử là 'một tiếng thét và một lời than. Tiếng thét đầy máu, tiếng than tràn ngập hư vô. Lúc hãi hùng khiếp đảm, lúc quạnh quẽ lạc phách xiêu hồn', Bùi Giáng nhắc đến thơ của chính ông, như một sự so sánh:

Thơ tôi làm... là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm bão giông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm hoạ trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm, bay về Sương Hy Lạp, ghé Calvaire viếng thăm một vong hồn bát ngát, rồi quay trở về đồng ruộng làm mục tử chăn trâu. Làm mục tử chăn trâu không xong bỏ trâu bò chạy lạc, phá phách mùa màng khoai sắn, thì tôi chạy về bẩm báo với ni cô cho phép con chuồn chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong linh hồn bao dung phương trượng. Ni cô xua đuổi tôi thì tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao, thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao. [5]

Có dìu ba đào về chân trời nào khác thì ba đào vẫn cứ là ba đào, động biển vẫn cứ là động biển. Bay đi đâu cánh chuồn chuồn của Bùi Giáng cũng gặp giông bão. Giông bão dậy lên, trước hết, từ đôi cánh của nó: ngôn ngữ. Đã đành, làm thơ, ai cũng chú trọng đến ngôn ngữ. Song tôi có cảm tưởng ít có ai bị ám ảnh bởi vấn đề ngôn ngữ một cách nặng nề, triền miên như Bùi Giáng. Chữ 'ngôn ngữ' thường xuyên xuất hiện trong thơ ông, đặc biệt trong hai tập thơ mới xuất bản ở hải ngoại sau 1975, [6] ở đó, câu 'Đường qua ngôn ngữ tuyệt trù', 'Đường qua ngôn ngữ điệp trùng' và 'Đường qua ngôn ngữ cuối cùng' được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong nhiều bài thơ khác nhau. Hãy để ý đến nhóm từ 'đường qua ngôn ngữ': với Bùi Giáng, dường như công việc làm thơ chủ yếu là một cuộc hành trình vượt qua ngọn đèo cheo leo của ngôn ngữ trước khi là bất cứ một cái gì khác. Ngọn đèo ấy không những cheo leo mà còn mù mịt, thăm thẳm. Phần lớn các câu thơ kế tiếp mấy câu vừa dẫn đều là bóng đêm ('Mừng xuân viễn vọng đêm bù cho đêm'; 'Mừng xuân viễn vọng đêm lừng lẫy đêm'; 'Mừng xuân viễn tuyệt đêm từng từng đêm'). Xuân, ừ, thì xuân. Nhưng đêm vẫn mịt mùng đêm. Đêm vô tận. Ngôn ngữ không làm cho bóng đêm ấy tan biến. Trái lại.

Chấm ngòi bút sắt se vào mực
Viết ra câu thúc giục sương mù
(Mùa xuân chiêm bao)

Trong lúc hầu hết các nhà thơ khác, mặc dù nhận chân được vị thế hẩm hiu của nhà thơ trong xã hội, vẫn tin tưởng vào ngôn ngữ và vẫn tự hào về công việc sáng tạo của mình, nói như Thanh Tâm Tuyền, 'cuộc hành trình hoàn toàn cô độc' trên một 'con đường chưa ai tới', [7] Bùi Giáng, ngược lại, tuy vẫn làm thơ, hơn nữa, còn làm thơ cực kỳ nhiều, nhiều hơn bất cứ một người nào khác, lại có vẻ rất coi thường cái việc làm thơ ấy và chắc chắn là không mấy tin tưởng vào khả năng thể hiện của ngôn ngữ:

Người điên ngôn ngữ điệp trùng
Dở chừng như mộng dở chừng như mê
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói hết nghiệp nghề người điên
(Người điên)

Trong quyển Mùa thu trong thi ca, Bùi Giáng viết:

một hôm mai thảo bảo rằng
làm thơ bê bối sao bằng đi rong
phố phường mọc cỏ quanh năm
(Sa mạc phát tiết)

Có người đọc câu thơ thấy đâm ra bực mình hỏi: 'Phố phường đâu có cỏ nào mọc! Thằng thi sĩ ăn nói tầm phào, sai sự thật!' Ấy thế là người ta cưỡng bức thi ca một cách không chính đáng. Và trầm trọng hơn nữa, người ta tưởng chừng như tin rằng ngôn ngữ có thể nói ra được sự thật. Tưởng chừng như người ta chẳng bao giờ suy gẫm về Kim Cương Kinh. Thế gian ngôn ngữ phi chân kinh. [8]

Ngôn ngữ không những quặt què, không những không nói ra được sự thật mà, hơn nữa, trong thời hiện đại, đặc biệt, khi cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối Tư bản - Cộng sản đang gay gắt, khi cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam đang ác liệt, khi vấn đề thắng bại không những được quyết định ngoài chiến trường mà còn trên các bàn hội nghị quốc tế, ngôn ngữ còn có tác dụng ngược lại: nó che giấu sự thật và, thay vì đem lại sự cảm thông giữa loài người, nó lại làm cho con người ngộ nhận lẫn nhau, thù ghét lẫn nhau, say sưa chém giết lẫn nhau. Đó là lý do tại sao Bùi Giáng lại

Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ
Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh hôm nay
Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng
Gọi người sương phụ gái thơ ngây
(Lẫn lộn lung tung)

Bùi Giáng xáo trộn chữ nghĩa để nói lên một sự thật: ngôn ngữ đang bị xáo trộn, đang bị tha hoá. Bùi Giáng gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ, Mỹ Thọ, người ta cho là hài hước hoặc điên khùng, nhưng chẳng phải là trong cuộc sống người ta đã không từng gọi một kẻ bán nước là yêu nước, một kẻ giết người như ngoé là nhân đạo, một kẻ bắn súng vào anh em vào đồng bào vào đồng loại vì một thiên đường không tưởng nào đó là cách mạng đó ư? Chẳng phải là người ta đã không từng gọi nhà tù là trại học tập, độc tài là tập trung dân chủ, sự ngu đần là đỉnh cao trí tuệ, khố xanh khố đỏ là quốc gia, thái độ khom lưng trước ngoại bang là biểu hiện của tinh thần dân tộc đó ư? Thử thế chữ Mỹ Tho bằng bất cứ chữ nào trong từ điển chính trị Việt Nam hiện đại người ta sẽ thấy ngay cái điều mà Ionesco từng nói: 'một nền văn minh của ngôn ngữ là một nền văn minh quẩn trí, hỗn độn'. [9] Ngôn ngữ mất linh hồn. Ngôn ngữ xác xơ, rách mướp, tơi tả. Nhiều người thuộc loại nhạy cảm nhất trong thời đại chúng ta đã thất vọng não nề. Sự thất vọng ấy, ở Tây phương, dẫn đến sự im lặng của một số người cầm bút, sự ra đời của loại kịch không lời; ở Bùi Giáng, tạo ra những vần thơ đại loại thế này:

- ... Một hai hai một di hài
Dài hy hữu mộng an bài chẩm ma
Chả xin? Chả hỏi? Vịt gà?
Và thân thể máu me và thịt xương...
- Ma đên ỳ nẽ ô mà
Xơ tin ô đố đâu là đến đây
Xền nô đô thí xi đầy
Xè rê tê nến ngọn lầy lội cơn
A tin a tỷ oan hồn
Vong lưu lỳ lẫy cung đờn cợt trêu
Người ôi ô ướt dấu bèo
Ồ thôi thế vậy thu vèo sang thu
Lừng bay thân thế pha mù
Sương mây tuyết dậy thân bù cho thân
(Đạm Tiên)

Gắn liền với sự hoài nghi ngôn ngữ là sự hoài nghi lý trí. Trong lúc hầu hết các nhà thơ khác, mặc dù hoài nghi lý trí, luôn luôn khắc khoải tìm kiếm sự thật, với niềm tin, dù mơ hồ và mong manh, là sự thật ấy có, đâu đó, sẽ gặp được, một ngày, Bùi Giáng, ngược lại, tuy dịch và viết khá nhiều tác phẩm về triết học hiện đại Tây phương, lại hoàn toàn phủ nhận đầu óc duy lý của Tây phương, hoàn toàn mất niềm tin với mọi cái gọi là chân lý. Cuộc đời, với Bùi Giáng, là chuỗi dài những nghi vấn và phẫn nộ:

Đi vào giữa cuộc thị phi
Nửa tam bành tới nửa nghi vấn về
(Y ư mộng, du ư mê)

Làm thơ, với Bùi Giáng, là một hành động phản kháng, phản loạn. Như Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Sao bằng riêng một biên thuỳ
Cõi điên vũ trụ tuỳ nghi tung hoành
Xiết bao vô ngại ngọn ngành
Chọc trời khuấy nước tan tành thịt xương
Ấy như thể, ấy như dường
Đi vô tận ý đi đường chơn không
Đi mây gió đi phiêu bồng
Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi
Đi về thể lệ lâm ly
Đi đi suốt cõi lời nghi vấn lời.
(Sao bằng)

Nghi vấn. Lúc nào cũng nghi vấn. Nghi vấn cả lời nói của mình. Bài thơ 'Tặng Mã Giám Sinh' là một bài thơ hay:

Hỏi tên, rằng biển xanh dâu
Hỏi quê, rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên, rằng một hai ba
Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm.

Tôi đoán là Bùi Giáng rất tâm đắc bài thơ này: nó được in lần đầu trong Mùa thu trong thi ca với tựa là 'Mã Giám Sinh', sau, in lại trong Thơ Bùi Giáng xuất bản tại Canada năm 1990 với sự thay đổi nhỏ: thêm chữ 'tặng' ở tựa đề. Có hay không có chữ 'tặng', thật ra, cũng chả có gì quan trọng. Cũng như mọi cái tựa trong thơ Bùi Giáng: chả có gì là quan trọng. Lười, ông thường nhặt bất cứ từ hay nhóm từ nào trong bài dùng để làm nhan đề. Bài thơ trên được đặt tựa là 'Mã Giám Sinh' hay 'Tặng Mã Giám Sinh' có lẽ để ghi lại xuất xứ một nguồn cảm hứng: nó xuất phát từ mấy câu thơ trong Truyện Kiều có liên quan đến Mã Giám Sinh:
Hỏi tên, rằng: Mã Giám Sinh
Hỏi quê, rằng: huyện Lâm Thanh, cũng gần.

Trong bài 'Chiều nguyên xuân' in trong tập Mưa nguồn, xuất bản từ năm 1963, Bùi Giáng đã bị ám ảnh bởi vấn đề quê hương:
Hỏi rằng: người ở quê đâu
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà.

Từ 'ở rất lâu quê nhà' đến 'mộng ban đầu đã xa', tư tưởng của Bùi Giáng đã vượt biên, lấn sang một tầm khác. Với một sức oằn khác.

Dẫu sao, ở đây, điều quan trọng nhất là câu cuối cùng: 'đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm'. Mọi sự phân biệt đều bị xoá nhoà. Tôi cho đây là đặc điểm nổi bật nhất trong phong cách thơ Bùi Giáng: thơ Bùi Giáng chính là sự xoá nhoà của mọi đường biên quen thuộc vốn được mọi người chấp nhận như là một quy ước, một luật lệ trong văn học từ xưa đến nay.

Thứ nhất là xoá nhoà những đường biên về giọng điệu. Những ai từng viết lách ít nhiều cũng đều hiểu cái khó nhất đối với người cầm bút là pha trộn giọng điệu, nghĩa là, chẳng hạn, vừa nghiêm túc lại vừa cười cợt, vừa uyên bác lại vừa bình dân, vừa suy tư lại vừa thích thảng. Bùi Giáng vượt qua tất cả những khó khăn ấy một cách nhẹ nhàng. Ví dụ dưới đây, tôi chọn một cách tình cờ:

Hai cô bán phở dịu dàng
Đừng nên nói bậy hai nàng buồn ta
- Trẫm từ lịch kiếp phôi pha
Tái sinh bất chợt mà ra phụ lòng
Tình thương ẩn mật từ trong
Nội tâm vô tận mà long đong vì
Phong tao phấn đại tương nghi
Tuỳ thời thể dựng mà tuy nhiên là.
(Tặng quán phở Huyền Trân)

Ai cũng thấy rõ hai câu đầu và sáu câu sau có giọng điệu khác hẳn nhau. Vậy mà, riêng tôi, thú thật, tôi không hiểu tại sao Bùi Giáng có thể chuyển từ hai câu đầu xuống sáu câu dưới một cách dễ dàng tự nhiên như vậy. Mà đây cũng lại là một đặc điểm rất phổ biến trong thơ Bùi Giáng. Nói một cách tóm tắt, thơ ông có hai loại từ vựng: một loại tạm gọi là bác học và một loại tạm gọi là bình dân. Bác học thì như thục nữ, thuyền quyên, cảo thơm, thượng thừa, miên trường, đoạn trường, băng tuyết, thập thành v.v... nghĩa là những từ Hán Việt lâu lắm không còn được sử dụng nữa. Còn bình dân thì như đại ca, Huê Kỵ, Liên Xồn, lai rai, nhậu nhẹt, máu me, số dzách, giấn bước, giấn liều v.v... nghĩa là những khẩu ngữ, còn lấm lem bụi bặm ngoài đường ngoài phố. Cả hai loại đều dễ khiến giới làm thơ chùn tay. Dùng loại trên thì dễ có nguy cơ trở thành sáo, cổ. Dùng loại dưới thì dễ có nguy cơ trở thành nhả nhớt, rẻ tiền. Bùi Giáng hoàn toàn thoát khỏi hai nguy cơ ấy. Hơn nữa, ông còn hoà trộn cả hai loại ngôn ngữ ấy lại với nhau một cách tài tình. Đọc, người ta không hề có chút cảm giác lấn cấn nào. Như một phép mầu.

Gắn liền với sự xoá nhoà trên là một sự xoá nhoà khác: xoá nhoà ranh giới giữa truyền thống và hiện đại. Không phải Bùi Giáng kết hợp truyền thống và hiện đại, như cái điều chúng ta có thể nói về một số nhà thơ khác. Nói đến sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại tức là thừa nhận chúng ta có thể ít nhiều khu biệt đâu là truyền thống và đâu là hiện đại. Ở Bùi Giáng, mọi nỗ lực khu biệt ấy đều trở thành vô vọng. Ở Bùi Giáng, tính chất truyền thống và tính chất hiện đại tan hoà vào với nhau. Là một. Thể thơ ông dùng: cũ; hình tượng ông dựng: cũ; ngôn ngữ ông viết: cũ; thế nhưng, rất lạ, toàn bộ bài thơ của ông thì lại mới, mới như chưa từng có ai viết được như thế. Mới đến độ tôi có cảm tưởng phần lớn những từ, những chữ nào đã được Bùi Giáng sử dụng một lần đều trở thành của riêng của Bùi Giáng, một thứ tài sản của Bùi Giáng, trên đó có dấu ấn của Bùi Giáng; sau đó, ai dùng lại những từ ấy, chúng ta cứ ngờ ngợ ngỡ như họ ăn cắp của Bùi Giáng. Đọc thơ của bất cứ người nào, hễ gặp chữ 'giũ áo', 'rớt hột', 'đười ươi', 'chuồn chuồn', 'châu chấu'... chúng ta hay tri hô lên: Bùi Giáng! Ngay cả một số từ quen thuộc hơn, như 'thập thành', 'máu me', 'lai rai'... chúng ta cũng lại tri hô lên: Bùi Giáng! Trong lịch sử thi ca Việt Nam hiếm có trường hợp nào lạ lùng đến như vậy. Phần lớn, tính chất độc đáo chỉ ở cấp độ bài hoặc cấp độ câu. Ở Bùi Giáng, tính chất độc đáo thể hiện ngay ở đơn vị từ. Với sự xuất hiện của Bùi Giáng, số phận của các nhà thơ đâm ra lao đao hẳn. Khi chọn chữ không khỏi có cảm giác e dè vì sợ dẫm vào dấu chân của Bùi Giáng.

Thứ ba là sự xoá nhoà ranh giới giữa cái gọi là thơ và cái gọi là phi thơ. Ngổn ngang trong thơ Bùi Giáng những chi tiết ngỡ như không bao giờ thành thơ được, ngỡ như mãi mãi thuộc thế giới của văn xuôi, của tiểu thuyết, của đời thường. Nhớ người yêu, có lẽ ai cũng nhớ như Bùi Giáng nhưng không có ai viết được như Bùi Giáng:

Bây giờ em đứng nơi đâu
Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao
(Gửi thôn nữ Vĩnh Trinh)

Bùi Giáng có tài hoá giải những tình thế oái oăm: cái đáng lẽ sàm sỡ, dưới ngòi bút ông, tự nhiên thành thơ mộng, thiết tha, tội nghiệp. Bùi Giáng cũng có tài làm cho những cái lắt nhắt trở thành mênh mang:

Sáng nay bao tử mơ mòng
Cà phê bên nọ, cháo lòng bên kia
(Sáng nay)

Tất cả những chi tiết ấy đều tầm thường đến độ nhảm nhí. Đi vào thơ Bùi Giáng, tự dưng chúng lại có một âm vang gì rất lạ, rất xa, tưởng như không còn là chuyện 'cà phê'' hay 'cháo lòng' nữa. Một nỗi phân vân giữa cuộc đời, chẳng hạn. Một niềm xót xa trong cảnh khốn cùng, chẳng hạn. Bùi Giáng còn có tài làm cho những cái linh thiêng trở thành bình thường. Những Thượng đế, Phật, thánh hiền... đi vào thơ ông, mất một chút hào quang song bù lại, dường như đẹp hơn. Bùi Giáng làm cho cái đáng kính biến thành cái đáng yêu. Hình tượng ni cô trong thơ ông là một ví dụ. Bùi Giáng cũng lại có tài làm cho cái thô và tục trở thành những cái thơ mộng, xôn xao.

Cuối cùng, thứ tư, tôi tạm gọi là sự xoá nhoà giữa cái lý và cái phi lý. Ít có ai để ý trong thơ Bùi Giáng có đặc điểm này: ông rất thích dùng những từ có tính chất lý luận như 'mặc dù', 'càng... càng', 'vẫn là', 'và', 'vì', 'rằng', 'bởi chưng', 'chỉn e', 'té ra', và đặc biệt, nhiều nhất là từ 'tuy nhiên'... Chắc chắn là không có nhà thơ nào dùng các từ này nhiều bằng ông. Thế nhưng, cách Bùi Giáng sử dụng các liên từ này rất lạ lùng, không giống bất cứ người nào trước ông hoặc sau ông. Xin hãy đọc lại bài 'Tặng quán phở Huyền Trân' dẫn ở trên, và hãy chú ý đến ba câu cuối cùng: chữ 'vì' và chữ 'là' đứng hết sức lửng lơ. Chúng không nối kết cái gì cả. Chúng cũng không giải thích cái gì cả. Chúng hoàn toàn trái ngược mọi luật lệ ngữ pháp. Chúng thường xuất hiện ở những vị trí thật bất ngờ: ở cuối câu, thường là câu cuối bài:

- Em về - nhà cửa nhỏ nhoi
Buồn rầu khôn xiết em soi gương và...
(Em đi)

- Nối đuôi khởi sự từ đầu
Ví dù kết thúc trước sau vẫn là.
(Vẫn là là)

- Bá phương phảng phất rồi ra
Mùi hương xa vắng càng xa xôi càng
(Băng tâm)

- Mai sau dù có đi về
Xin nhìn gió rụng ngành tre thưa rằng.
(Em về)

Một điều vừa thú vị vừa khó hiểu là: người đọc thơ Bùi Giáng lại ít chú ý, không bị giật mình vì những cách dùng từ, đặt câu ngược ngạo như vậy. Mà, ở những trường hợp này, Bùi Giáng đều cố tình cả. Một mặt, tần số xuất hiện của những kiểu câu như thế ê hề; mặt khác, nhiều lúc Bùi Giáng đem những liên từ lý luận ra đùa nghịch:

- Nếu và nhưng vẫn ắt rằng
Tuy nhiên thế nọ thường hằng thế kia
Và nhưng tuy dẫu là chia
Lìa cha biệt mẹ bốc tia sinh tồn
(Tuy nhiên)

- Tuy nhiên đất quạnh sơn hà
Còn tuy nhiên mãi hoạ là nhiên tuy
(Ích dụng hung sự)

- Mầng răng ra rứa ví dù
Mầng ri thế nọ tịt mù thế kia.
(Mỗi ngày)

Một lần, Bùi Giáng giải thích:
Dù sao, tôi nói dù sao, bởi vì thiên hạ vốn ưa thích dù sao. Cho có mạch lạc. Chứ thật tình tôi chẳng rõ sao gọi là mạch lạc liên tục ngụ trong tính tình của ngôn ngữ dù sao dao sù. [10]

Cách phân tích như trên khá nguy hiểm: nó dễ làm cho người ta có cảm tưởng thơ Bùi Giáng là một cái gì tĩnh tại và cố định. Thật ra, không phải. Theo dõi thơ Bùi Giáng chúng ta sẽ nhận ra ông thay đổi không ít. Tập Mưa nguồn xuất bản năm 1962 rất trong sáng; từ tập Ngàn thu rớt hột (1963) về sau, thơ ông tối tăm hẳn; sau năm 1975, ở hai tập thơ xuất bản tại hải ngoại, thơ ông trong sáng trở lại, nhưng so với Mưa nguồn, đằm hơn, lắng hơn và chín hơn.

Mưa nguồn là niềm nhớ thương đồng ruộng không nguôi:
Viết thơ lạc dấu sai dòng
Viết trong tức tưởi sợ đồng lúa mong
[...]
Viết thơ là trở lại bên
Con người thôn nữ răng đen hai hàng
(Ca dao)

Sau này, ông vẫn bâng khuâng nhớ đồng quê. Chỉ bâng khuâng thôi. Nghĩa là rất man mác. Có một câu thơ có lẽ ông thích, cứ lặp đi lặp lại rải rác ở nhiều bài thơ khác nhau:

Trông về đồng ruộng đôi khi
Thị thành tâm sự hoài nghi trăng tà.
(Gấu buồn)

Nhưng tâm sự chính của ông là nỗi tuyệt vọng về khả năng giao cảm giữa người và người, niềm cay đắng trước một xã hội ngày một đảo điên. Ông hoàn toàn cô độc:
quay về một cõi riêng thôi
liệu trong tấc cỏ kiếm trời ba xuân
(Đời rộng đương chìm)

Ông làm thơ cho hư không:
Bây giờ xin ngó cụm cây
Chắp hàng viết nốt áng mây về trời
(Bây giờ)

Ông độc thoại:
Ngàn năm độc đối riêng hàng
Tờ xanh ứa lệ đẫm trang xuân đầu
(Khởi từ)

Có khi ông im lặng:
Từ đây đổi vịt thay gà
Chán chường đến thế là ta ngậm lời
(Nhà ma đi đời)

Sau 1975, cảm giác cay đắng và tuyệt vọng ấy, không hiểu tại sao, dường như nhẹ nhàng đi nhiều. Đời sống ông cơ cực hơn, những cơn điên đến với ông thường xuyên hơn, [11] song thơ của ông lại có vẻ thanh thản hơn. Ông bớt những thắc mắc siêu hình để quan tâm hơn đến khía cạnh cảm xúc, từ đó, nhấn mạnh đến yếu tố tâm hồn, coi đó là nguồn gốc của thơ:
Chợt mùa thơ vội đổi giòng
Cỗi nguồn cũng bởi tự lòng mà ra
(Từ bấy tới nay)

Với quan niệm như vậy, thơ không còn là trò đùa nghịch chữ nghĩa nữa mà là một sự bộc bạch tâm sự:
Lời tỉnh táo, lời mê man
Điệu thê thiết rống điệu bàng hoàng ca
(Y ư mộng du ư mê)

Do đó, ông khao khát được thông cảm:
Xổ bầu tâm sự điêu linh
Ai người chia xẻ với mình với ta
(Một giờ)

Bài 'Bao giờ' in trong tập Thơ Bùi Giáng do Thế Kỷ 21 xuất bản là một bài thơ hay:

Bằng bút chì đen
Tôi chép bài thơ
Trên tường vôi trắng

Bằng bút chì trắng
Tôi chép bài thơ
Trên lá lục hồng

Bằng cục than hồng
Tôi đốt bài thơ
Từng phút từng giờ
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không.

Thơ, với Bùi Giáng, trước hết là một sự hiện hữu cụ thể với những màu sắc cụ thể nhất định: đó là một văn bản với những từ, ngữ, giấy, mực cụ thể. Văn bản ấy có đời sống riêng của nó: có sinh có tử. Nhưng đằng sau, ẩn náu phía trong cái hình thức cụ thể ấy lại là một tâm tình, là tiếng cười, là tiếng khóc. Tâm tình của người làm thơ oà vỡ bất chấp những giới hạn tự thân của ngôn ngữ:

Ngữ ngôn khép kín mặc dầu
Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra

(Bé con ơi)

Bùi Giáng băn khoăn:

Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không?

Bùi Giáng lại năn nỉ:

Tặng nhau từ ngữ lạc lầm
Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn

(Y ư mộng du ư mê)

Trong bài 'Thuở chưa điên' in trong tập Thơ Bùi Giáng do Việt Thường xuất bản tại Canada năm 1990, Bùi Giáng tự so sánh thơ mình ngày trước với thơ mình bây giờ:

Ấy là thơ thuở chưa điên
Ở trong dấu ngoặc quàng xiên reo cười
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Điệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân

Sự khác nhau không phải ở chỗ: có lúc ông 'quàng xiên reo cười', có lúc ông lại 'ngậm ngùi dấn thân'. Ở Bùi Giáng cái cười và cái khóc đôi khi rất giống nhau. Theo tôi, chỗ khác nhau căn bản là: trước đây, Bùi Giáng loay hoay mãi trong 'dấu ngoặc' của ý thức, của cái tôi; sau này, ông tung hê hết, ông hoà nhập vào cái chung của cuộc đời: 'Ta quên như thể mình ta quên mình' ('Tặng hai cháu Quỳnh và Na'). Ông trở thành dễ thương và tội nghiệp vô cùng:

Trái tim mỗi mới mỗi ngày
Mỗi giờ phút động mây trời rung rinh
Đường đi mất hút thình lình
Những khuôn mặt lạ những hình ảnh quen
Tạm nhờ men rượu nguôi quên
Niềm vui nỗi nhớ chênh vênh lạ lùng
(Đường quanh ngõ quẹo)

Ở khía cạnh này, có thể nói Bùi Giáng xoá nhoà ranh giới giữa cái tôi và cái ta, giữa cái riêng và cái chung:

Hoặc rằng người cũng là tôi
Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười ươi
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay.

Xoá nhoà. Xoá nhoà ranh giới giữa các giọng điệu, giữa truyền thống và hiện đại, giữa thơ và phi thơ, giữa cái lý và cái phi lý, giữa cái tôi và cái ta, cái riêng và cái chung, xoá nhoà mọi sự phân biệt, biện biệt: theo tôi, đó là những đặc điểm nổi bật nhất trong thơ Bùi Giáng. Bằng những sự xoá nhoà ấy, Bùi Giáng xoá nhoà luôn cả ranh giới giữa cái gọi là văn hoá cao cấp và văn hoá bình dân. Đồng thời, Bùi Giáng cũng xoá nhoà luôn cả tính chất nghiêm nghị, nghiêm túc với những khẩu hiệu ồn ào như 'vị nhân sinh', 'vị nghệ thuật' vốn kéo dài rất lâu trong văn học Việt Nam. Khác với các nhà thơ khác lúc nào cũng nhăn mặt nhíu mày, lao vào thơ như lao vào một trận địa, kỳ khu và khắc khổ, lúc nào cũng khắc khoải sáng tạo ra cái mới, mà chưa chắc đã mới và chưa chắc đã hay, Bùi Giáng, ngược lại, làm thơ cứ như đùa như giỡn, như không phải đang làm thơ, vậy mà tự nhiên thơ lại trở thành bát ngát và lấp lánh và lộng sắc và lộng hương. Mai Thảo kể: "ba chữ 'vui thôi mà' là câu trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất của Bùi Giáng trước mọi tìm hiểu của (về ?) lực thơ và số lượng thơ không thể tưởng tượng được ở nơi ông", rồi bình tiếp: "Thơ Bùi Giáng vui thật. Một vĩ đại vui". [12] Theo Leslie Fiedler, sự xoá nhoà ranh giới giữa văn hoá bình dân và văn hoá cao cấp, và cùng với nó, việc đoạn tuyệt với chủ nghĩa đặc tuyển (elitism) và tính chất nghiêm cẩn (seriousness) là những đặc điểm chính yếu của chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism). [13]

Ở khía cạnh này, Bùi Giáng rất gần các nhà thơ hậu hiện đại. Bùi Giáng còn gần gũi các nhà thơ hậu hiện đại ở một khía cạnh khác nữa: một số khá nhiều những bài thơ của ông là loại thơ không thể giảng. Susan Sontag cho một trong những đặc trưng lớn của chủ nghĩa hậu hiện đại là tính chất phản-diễn dịch (anti-intepretation), là sự nhấn mạnh vào hình thức và sự trình diễn (performance) hơn là nội dung và ý nghĩa. [14] Chúng ta biết theo quan niệm của Ferdinand de Saussure, ngôn ngữ chỉ là một hệ thống ký hiệu, ở đó, mỗi đơn vị ký hiệu đều có hai mặt: cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified). Cái biểu đạt là âm hoặc chữ viết. Cái được biểu đạt là ý niệm do âm hoặc chữ viết ấy gợi lên trong đầu chúng ta. Ví dụ: nghe âm 'chó' (cái biểu đạt), chúng ta nghĩ ngay đến giống vật thường được nuôi trong nhà (cái được biểu đạt). [15] Từ đó, người ta đi đến chỗ coi bài thơ cũng là cái biểu đạt. Đọc thơ là để tìm kiếm cái được biểu đạt, tức ý nghĩa, điều ẩn giấu phía sau bài thơ. Với Bùi Giáng, cũng như với các nhà thơ hậu hiện đại, ngược lại, bài thơ là cái được biểu đạt chứ không phải là cái biểu đạt. Nói cách khác, bài thơ là bài thơ. Không có ý nghĩa nào ẩn đằng sau bài thơ để chúng ta đào xới, tìm kiếm. Nó giống như một bức tượng đá. Bề mặt: đá; trong ruột: cũng là đá. Do đó, nếu hỏi ý nghĩa bài thơ 'Đạm Tiên' tôi dẫn ở trên là gì ư? Chịu! Ý nghĩa của nó là chính sự hiện hữu của nó, là bài thơ có nhan đề là 'Đạm Tiên', vậy thôi. Chúng ta không thể phân tích. Chúng ta chỉ cần nghiệm (experience). Đọc lần thứ nhất: chúng ta không hiểu gì cả. Đọc lần thứ hai: chúng ta vẫn không hiểu gì cả. Đọc lần thứ ba: chúng ta lại vẫn không hiểu gì cả. Nhưng càng đọc chúng ta càng nghe rõ, càng thấm, càng cảm cái nhạc điệu lầm rầm, lầm rầm của bài thơ. Nghe như thần chú. Như tiếng tụng kinh. Như lời cầu hồn. Chúng ta sống trong một không khí huyền bí, ma quái, không có gì rõ nét. Thì Đạm Tiên là một bóng ma mà! Ở nhiều bài thơ khác, điều chúng ta nghiệm được thường là sự bất lực của ngôn ngữ: chúng ta không hiểu vì chính nhà thơ cũng không thể diễn tả được những gì ông chỉ cảm nhận một cách mơ màng hoặc bằng trực giác hoặc bằng tiềm thức.

Chúng ta có thể gọi Bùi Giáng là nhà thơ hậu hiện đại được chăng? Khái niệm hậu hiện đại, mặc dù xuất hiện từ thập niên 30 và 40 với Frederico de Oníz, Dudley Fitts và Arnold Toynbee, được sử dụng khá nhiều tại Mỹ vào thập niên 50 và 60, trở thành thời thượng tại Âu Mỹ từ giữa thập niên 80 đến nay, [16] vẫn còn khá xa lạ với giới cầm bút Việt Nam. Điều đó dễ gợi cho chúng ta ấn tượng chủ nghĩa hậu hiện đại là cái gì rất mới, chỉ gần đây thôi, gắn liền với máy vi tính, chẳng hạn. Tuy nhiên, trên thực tế, khác hẳn. Danh sách các nhà thơ hậu hiện đại được Jerome Mazzaro phê bình trong quyển Postmodern American Poetry bao gồm W.H. Auden (1907-73), Randall Jarrell (1914-65), Theodore Roethke (1908-63), v.v... [17] Với Margaret E. Gray, ngay cả Marcel Proust (1871-1922) cũng là một nhà văn hậu hiện đại. [18] Chúng ta có thể gọi Bùi Giáng là nhà thơ hậu hiện đại hay hậu 'iện' đại (người vượt ra ngoài chủ nghĩa 'iện' đại tại Việt Nam) hay 'ậu' hiện đại (người ít nhiều - chứ chưa hoàn toàn - nhích ra khỏi chủ nghĩa hiện đại theo cách hiểu truyền thống tại Tây phương) được chăng?

Dù sao, vấn đề xác định danh xưng ở đây, tôi nghĩ, cũng không phải là điều quan trọng. Quan trọng hơn, chúng ta cần ghi nhận đóng góp lớn lao của Bùi Giáng: ông đã tiến một bước khá xa trên con đường hoà giải giữa thơ và hiện thực cũng như giữa nhà thơ và người đọc.

Trích trong cuốn Thơ, v.v... và v.v...
do Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1996

--------------------------------------------------------------------------------
[1]Bài này vốn là một chương, chương thứ 14 trong cuốn Thơ, v.v... và v.v.... của Nguyễn Hưng Quốc (Văn Nghệ, California, 1996).
[2]Mai Thảo (1994), 'Thay lời bạt: Một vài kỷ niệm với Bùi Giáng', in trong tập Thơ Bùi Giáng, nxb Thế Kỷ 21, California, 1994, tr. 146.
[3]Như trên, tr. 139.
[4]Thanh Tâm Tuyền (1994), 'Bùi Giáng, một hồn thơ bị vây khốn', Tạp chí Thơ (California) số 1, mùa thu 1994, tr. 73-75.
[5]Bùi Giáng (1969), Thi ca tư tưởng, Ca Dao, Saigon, tr. 102-3.
[6]Thơ Bùi Giáng, Việt Thường xuất bản tại Montreal, 1990 và Thơ Bùi Giáng, Thế Kỷ 21 xuất bản tại California, 1994.
[7]Trong bài 'Bao giờ' và 'Bài thơ của tháng giêng' in trong tập Liên, đêm mặt trời tìm thấy, nxb Sáng Tạo, Saigon, 1964.
[8]Bùi Giáng (1970), Mùa thu trong thi ca, Sống Mới in lại tại hải ngoại, không ghi năm, tr. 223-4.
[9]Dẫn theo Steiner, G. (1967), Language and Silence, Faber & Faber, London, tr. 72.
[10]Bùi Giáng (1970), Mùa thu trong thi ca, sđd, tr. 17.
[11]Xem Phạm Xuân Đài, 'Kẻ cuồng sĩ trong vườn cây' lời tựa tập Thơ Bùi Giáng, Thế Kỷ 21, 1994, tr. 15-26.
[12]Mai Thảo (1994), bài đã dẫn, tr. 141.
[13]Fiedler, L. (1975), 'Cross the Border - Close the Gap: Postmodernism' in trong tập American Literature since 1900 do Cunliffe chủ biên, Sphere Books, London, 1975, tr. 344-366.
[14]Sontag, S. (1966), Against Interpretation and Other Essays, Delta, New York.
[15]Tác phẩm chính của Saussure, Cours de linguistique générale, in tại Paris năm 1916, sau đó, được dịch ra nhiều thứ tiếng và tái bản rất nhiều lần; một thời gian dài, ít nhất cho đến đầu thập niên 70, được xem như một tác phẩm kinh điển trong ngành ngôn ngữ học trên khắp thế giới. Về Saussure, có thể xem quyển sách giới thiệu rất hàm súc của Jonathan Culler, Saussure, Fontana / Collins, 1976.
[16]Về lịch sử thuật ngữ "chủ nghĩa hậu hiện đại", có thể xem: Bertens, H. (1986), 'The Postmodern Weltanschauung and Its Relation with Modernism: An Introductory Survey' in trong Approaching Postmodernism do Fokkema, D & Bertens, H. biên tập, John Bengamins xuất bản tại Amsterdam, 1986, tr. 9-51; Best, S & Kellner, D. (1991), Postmodern Theory, Macmillan, Hampshire, tr. 1-33. Về chủ nghĩa hậu hiện đại trong lãnh vực văn học, có thể xem: Hassan, I. (1982), The Dismenberment of Orpheus: toward a Postmodern Literature, Oxford University Press, New York; Hassan, I. (1987), The Postmodern Turn: Essays in Postmodern Theory and Culture, Columbus; Spanos, W. (biên tập) (1979), Martin Heidegger and the Questions of Literature: toward a Postmodern Literary Hermeneutics, Indiana University Press, Bloongton; Connor, S. (1989), Postmodernist Culture: an Introduction to Theories of the Contemporary, Basil Blackwell, Oxford, đặc biệt chương 4, 'Postmodernism and Literature', tr. 103-131; McHale, B. (1986), 'The Semantic and Syntatic Organisation of Postmodernist Texts' in trong tập Approaching Postmodernism, sđd, tr. 81-98; và Jameson, F. (1988),'Postmodernism and Consumer Society' in trong Postmodernism and its Discontents: Theories & Practices, Kaplan E.A. biên tập, Verso, London, tr. 13-29.
[17]Mazzaro, J. (1980), Postmodern American Poetry, University of Illinois Press, Urbana.
[18]Gray, M. E. (1992), Postmodern Proust, University of Pennsylvania Press, Philadelphia.
Đăng nhập để trả lời
0
Kỷ niệm ngày 17-12, sinh nhật Bùi Giáng
Nam Dao
Ðỉnh ảo, một đời thơ


Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ của mai này đụng độ mà không chết, dẫn tôi đi tìm Bùi Giáng. Không về ghé sông Mao phá phách chơi, chẳng chia nốt nỗi sầu cùng gái điếm, và bụng dạ nào để nghĩ đến đốt tiền mua một thoáng ngày vui. Ðó là Sài Gòn đầu thập niên 80. Quần đen, áo bà ba. Nón cối gắn sao đỏ. Áo vàng thấp thoáng góc phố, mắt cay nghiệt rình rập, mặt lạnh như tiền. Như thế, dẫu là thánh cũng chẳng thể không mang mặc cảm phạm tội. Một thứ tội danh chưa biết nhưng có thể ụp xuống đầu bất cứ lúc nào, thậm chí ngay bây giờ, hoặc mai, hay mốt. Tội hay không, hên sui may rủi như lắc xâm xin quẻ, tung đồng chinh sấp ngửa cầu một quẻ hào dịch ê a niềm hy vọng từ miệng người thầy bói mù đang lén lút hành nghề dị đoan mê tín.

Chúng tôi đạp xe dưới nắng chang chang. Qua cầu Bông. Tìm, hỏi. Rồi hỏi, tìm. Không, không thấy. Vòng qua Tân Bình, cũng không. Mấy bữa rồi ông đi mất tiêu. Qua chợ Trương Minh Giảng, lại hỏi, cái ông ấy mà, râu tóc trắng xóa, con mắt rực màu tinh quái, áo vá chằng vá đụp thùng thình, thỉnh thoảng la hét gầm gừ, vai bị, tay gậy, nghe đâu dạo này lại có một chú tiểu đồng con con lẽo đẽo theo sau. Ờ, mới thấy bữa trước, giờ chắc ổng zìa Sè Gòn rồi. Chỗ nào? Trời biết, ổng như thần thánh, lúc biến lúc hiện...Chịu, thôi thì thôi, để mặc mây bay, chưa bén duyên thì gửi lòng yêu theo cơn gió lửng. Nào, đạp xe về, chỗ đám văn nghệ sĩ trú, số 160 Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Nguyễn Bắc Sơn ra chợ trời, tối hôm đó mang về một cuốn sách mất bìa, tơi tả buộc kiểu bó giò bằng hai sợi dây thun, thiếu 48 trang đầu, bảo ...ta cho chú mày cuốn sách gối đầu giường. Tôi rón rén nhẹ tay mở ra, phía trên trang bên phải có chữ Tư Tưởng Hiện Ðại (TTHÐ), bên trái thì M. Heidegger, cứ thế giở, đến W. Faulkner, M. Camus. Ðến trang 478, tiếp Phụ Trương Thần Thoại Hy Lạp, với cước chú rất tếu:''...vì muốn hướng câu chuyện theo những viễn tượng nào đó được phơi mở nhiều trong tác phẩm của Homère - Euripide - Sophocle nên tôi kể chuyện Thần Thoại nghe ra có khác trong sách vở''...

Tếu thế, và thế được là rất ngông nghênh, nhưng ngông nghênh duyên dáng nên chẳng để ai mất lòng (trừ những học giả hàn lâm, nghiêm túc chỉ thuần trích, dịch, ghi chú, liệt kê sách biên khảo với số trang chính xác...để ... làm tài liệu). Giở trang bìa sau nát bét, mọt nhá đã bươm tả, giấy nhăn nheo vàng ố, thấy ghi Giấy phép số 2715/XB cấp ngày 10-11-62, không có tên Nhà Xuất Bản. Trang trong ghi Lời Cuối Tập, rằng:

Vì điều kiện ấn loát quá khó khăn, nên ông chủ nhà in muốn chia cuốn sách ra làm hai tập. Tập thứ nhì sẽ in xong sau Tết Nguyên Ðán. Ðộc giả thông cảm cho. Ða tạ. (Ký) Năm Của- Năm Cao-Năm Lửa-Năm Giáng.

Nhưng Tết năm nào? In thế, ông chủ nhà in hẳn chịu chơi và rất chiều tác giả, để tên ký cũng cợt nhả, không phép tắc qui củ, bất cần nhân thế, cái thế nhân thường giữ cho bề ngoài có nét đứng đắn đến độ ảo não âu sầu! Tay nào viết cuốn này vậy? Nguyễn Bắc Sơn phá lên cười, thì Bùi Giáng chứ còn ai vào đấy được! À, và nếu ông chủ nhà in là ông Thanh Tuệ thì nhân đây tôi xin gửi ông một lời chào. Quả ông có con mắt xanh, chắc ông in năm 63, thời đệ nhất Cộng Hòa, mai hậu sách sử gọi là thời Tiền Ngụy để khỏi lẫn với thời sau 90.

*
Có sách, phải đọc. Thật kỳ lạ! Dĩ nhiên có các vị M. Heidegger, W. Faulkner, M. Camus nhưng tất cả qua cái lăng kính Bùi Giáng, trộn vào nào là Thu Trang, Kim Cương, Thúy Kiều, Brigitte Bardot và Marilyn Monroe, nhuần nhuyễn tồn hoạt với nhau trong một tồn sinh mà tại thể tạo ý nghĩa cho tồn thể. Nhưng tại thể là gì? Là Dasein trong ngôn ngữ Hết-Ðe-Ghè, ...là thực tại người?...là cái thể đứng ra để đón mời tồn thể. Nếu không có thực-tại-người-tại-thể thì tồn thể sẽ thiên thu mất ý nghĩa, sẽ chỉ còn là lù-lù-vật-thể-lai-rai (Tựa thứ hai cho M.Heidegger và Tư Tưởng Hiện Ðại). Vậy Dasein là, Bùi Giáng cao giọng nghịch ngợm (TTHÐ, tr. 104), là Da (nghĩa thịt da) mà vì Sein (chỉ cái vú trong Pháp ngữ). Thế là, nữ lưu các vị ở trên, Bùi Giáng ký dưới cứ rên hừ hừ. Thơ kiểu lục bát thì tỉnh bơ ký BG và Tố Như, còn sang đường luật thì là văn xuôi, tuyên bố ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn thể và cứ thế quậy cho... nát nhừ những nghĩa cùng ngôn, thò tay xem cái lò tôn (đọc lái kiểu Bùi Giáng, là tồn lo, là...) là gì. Tóm lại, đọc để hiểu tư tưởng Bùi Giáng quả là bất khả, nhưng có những thoáng thiên tài nhấp nháy ánh sao sa, và những phút giây khiến vỗ đùi cười phá lên vì không thể nhịn mà được. Tỉ dụ:

Những ánh sao sa:

Khoa học giết người ...khoa học ngây thơ được phép không ngờ...đã hồn nhiên gây bóng tối. Triết học giết người ...và ít ai hiểu rằng sở dĩ khoa học giết được nhiều con người đến thế là chính bởi triết học khốn nạn đã dọn đường, chính triết học hư tà đã phạm tội trước tiên... Sự lầm lẫn tai hại của các triết gia-học giả đã tàn phá triết học thi ca suốt bao nhiêu thế kỷ, và dẫn con người thời đại này tới đầu hàng cơ giới duy lý duy vật một cách nhục nhã. (trích Tựa thứ hai, sách dẫn ở trên).

Luận lý học là tạo phẩm lai rai của nhà trường, của học giả. Triết nhân nếu có sử dụng luận lý học thì bao giờ cũng sử dụng với những hậu ý, coi luận lý học như một phương cách tạm thời giúp ta đạt được một cái-gì-khác lung linh hơn...Từ bao nhiêu thế kỷ tư tưởng của tinh anh đã hao mòn trong vòng vây của luận lý. Người ta đo tư tưởng theo tiêu chuẩn lệch lạc. Buộc cá phải bò trên bãi cát? Buộc chim phải lội dưới dòng sông?...Tất cả vấn đề là: làm thế nào cho xoang điệu hào hoa đừng bị đánh chìm bởi luận lý cò kè đo đếm, bớt một thêm hai. (trích Tựa thứ hai, sách dẫn ở trên).

Sau nghìn thế kỷ của ba trăm năm điêu tàn sa mạc, con người Trí Thức Trưởng Giả Da Vàng...vừa thống thiết tự xưng "ta Ðông phương da vàng'' vừa lém luốc dòm dỏ theo đuôi "em Tây phương tiến bộ văn minh da trắng''...Ðông phương đã tiếp tục ngủ vùi giữa những trầm thống thất thanh kia. Và lúc sực tỉnh ra thì chỉ biết thống thiết chạy theo đuôi một cái đuôi hút heo tan nát, vừa chạy theo đuôi vừa gào to lên rằng mình vớ chộp được một cái đầu thật bự! (Trích Tựa cho Mùa Xuân Hương Sắc, An Tiêm,1990, tái bản lần1).

Vỗ đùi mà cười phá lên:

Nhưng tinh hoa của tư tưởng tồn sinh chính là ở chỗ chập chờn- tồn hoạt, hắt hiu -tồn động, lây lất- tồn lung. Luôn luôn phải xin mở những dấu ngoặc để nói chuyện đầu Ngô đuôi Sở, là cố công cố gắng để đi sát nhịp với tồn sinh...Và nói chuyện đầu Ngô đuôi Sở xong, thì xin phép đóng dấu ngoặc lại, để xuống dòng bàn đến chuyện đầu Sở đuôi Ngô khác. Bởi vì nếu không tiếp tục bàn chuyện khác cũng đầu Ngô đuôi Sở thì ta sẽ rơi vào cái lỗi của hệ thống ngu si dập dìu những Waelhens những Jean Wahl những Sartre cứ lục tục nối đuôi nhau - nhưng không nối đuôi được đẹp đẽ như chuồn chuồn - để tết dệt hàng hàng những lách lau bá láp (TTHÐ, tr 103).

Cuộc "cách mạng" tư tưởng của học thuyết Sartre chỉ mở đường cho tư duy xuống dốc (ta hết sức tàn nhẫn mặc dầu ta yêu Sartre gần bằng Trang Phượng. Và mến Sartre hơn bao kẻ hương nguyện. Và không muốn quên cái công của Sartre - không phải công với triết học mà là công với dế mèn - nhưng không thể nào không đậâp ngươi vì bổn phận đối với lá cỏ cồn mà ta yêu quí. Ðập ngươi, ta rất đau lòng). Chủ nghĩa hiện sinh theo điệu Sartre sẽ sớm chầy bắt tay với duy - vật và suy - tư - khoa - học - máy móc. ( TTHÐ,tr. 147).

Tại sao một đêm ăn trộm bằng ba năm làm? Những bọn cầm bút phê bình cha-chú, ru rú rúc rào, lấp lơ giả vờ đứng - đắn - ta - đây để bổ nhào đè lưng kẻ làm vườn mồ hôi nhuễ nhoại - vâng - những bọn đó nên suy gẫm kỹ một cái câu này.(TTHÐ,tr. 183).

TTHÐ, tr. 364:

"I've seed de fisst en de last", Dilsey said, "Never you mind me".
"First en last whut?" Frony said.
"Never you mind", Dilsey said. "I seed de beginnin, en no I sees de endin"
Bùi Giáng dịch (giọng Quảng) :

Tôa đỏa thếy ké đòa ké cuếi.
Chớế ngeại chi têoa, Chớế lôô chi cho têao.
Ðêầu cuếi ké chi?
Chớế lôô ngeại chi chô têao hếếc.

*

Tết năm con khỉ cách đây hai giáp, tôi đến thăm Trịnh Công Sơn và gia đình thì Bùi Giáng đã ở đó, áo trắng (sạch sẽ, chắc để đi ăn Tết), nhưng mặt mũi thâm tím. Sơn vỗ vai tôi, bảo tên này cũng làm thơ. Giáng cười móm mém, vờn vờn đi kiểu hát bội, vòng quanh tôi hai vòng, mắt chằm chằm nhìn tôi như một con vật lạc loài nơi phố thị. Ðập đập lên vai, sờ sờ nắn nắn, Giáng làm điệu bộ đánh hơi, ước giá, miệng kêu khìn khịt, mắt hấp háy tinh quái. Thình lình, Giáng thò tay trái ra bắt, hố hố, "Ðười ươi thi sĩ, đích danh tại hạ!" rồi đưa tay lên trán chào kiểu nhà binh. Năm Dao hỉ! Giáng ré lên, chỉ trỏ cười, huyên thuyên nói thứ ngôn ngữ pha Anh Pháp Ðức Việt và ba lăng nhăng đủ loại âm thanh, nói liền năm bẩy phút, không cho ai cắt lời, chẳng cần ai hiểu. Tôi ngớ ra, lúng túng nhìn Giáng, chỉ biết cười cười. Sơn kêu, ông nội này phá quá trời quá đất. Giáng mặc, cứ tiếp tục, thình lình lăn cù xuống đất, lộn ngược đầu, xoay vòng vòng, lăn từ trong nhà ra sân, rồi lại từ sân lăn vào, tiếng da thịt đụng xuống nền đất bình bịch. Tôi kinh hoảng. Hình như cả nhà Sơn đã quen với cái cảnh này, chẳng ai lộ vẻ ngạc nhiên. Sơn đủng đỉnh, chút chả hết cơn, không sao đâu... Mươi phút sau, Giáng thôi ngọ nguậy, nằm thở hồng hộc. Một lát, Giáng lồm cồm ngồi lên, mặt mũi tươi rói, có vẻ không nhớ gì những giây phút vừa qua. Phải chăng, tôi tự hỏi, Giáng vừa tìm lại một thứ quân bình giữa cái thể và cái trí chừng như cái nọ làm lệch cái kia. Bất ngờ, anh nhìn chằm chằm vào mắt tôi, giọng Quảng đặc sệt, dịu dàng: "Có sống như thơ thì mới làm thơ được!".

Thơ Bùi Giáng. Phải nói, nhiều người đã xưng tụng thơ Giáng. Cũng nhiều người, nhăn mặt kêu, thơ đang hay bỗng trửng giỡn, mất hay. Nhưng nói gì thì nói, ai cũng nhận rằng Bùi Giáng là một nhà thơ. Và là một huyền thoại sống.

Tôi biết một đêm ăn trộm bằng ba năm làm, không chơi trò ru rú rúc rào, nhưng xin thưa với Ðười Ươi thi sĩ những bài thơ của anh mà tôi trân trọng. Trong tập Mưa Nguồn (1963), bài Người đi đâu, với

Trời vi vút én liệng vòng hớt hả.
Ði đi em nguồn giậy mộng chiêm bao.
Về thao thức canh chầy tìm trở lại.
Bốn chân trời người đứng ở nơi nao.

Rồi bài Phương Hà, nhất là đoạn:

Trời tuổi trẻ bụi nào về vây hãm.
Giữa mịt mờ trăng nước lạnh liên miên.
Hoài vọng uổng bên nỗi đời thê thảm.
Hờn núi sông anh lạc xứ xa miền.

Trong Mắt Buồn, hai dòng như thể chuỗi hạt trai, rằng:

Bây giờ riêng đối diện tôi.
Còn hai con mắt khóc người một con.

Cuối cùng, Mai Sau Em Về, trác tuyệt bất ngờ là hai câu:

Em về mấy thế kỷ sau.
Nhìn trăng có thấy nguyên mầu ấy không.

Ðến tập Lá Hoa Cồn (cũng 1963), tôi yêu lục bát Bùi Giáng, và nhận ra anh là đứa em cuối cùng của Tố Như Tử (chứ chẳng phải Nguyễn- Bính- ca- dao hay Phạm- Thiên- Thư- vô -thanh - vì- không- đủ -đoạn- trường). Với Dệt Áo, hãy nghe:

Áo vàng xin dệt cho em.
Tơ vàng ai lựa sợi mềm tay đan.
Mai sau để lại hoe vàng.
Cầm nghe có thịt da nàng ở trong.

Còn Sa Mạc Phát Tiết, đoạn cuối khiến châu thân lạnh toát rợn người:

Thưa em trời chẳng cho gần.
Ðường vô hạn trắng tử phần ban trưa.
Ðêm vần vũ bạc phau xưa.
Hồn sa mạc phát tiết mưa ra ngoài.

Bây giờ, lần dở Ngàn Thu Rớt Hột (lại cũng 1963) và nghe Bùi Giáng lên cơn tếu trong Gởi thôn nữ Vĩnh Trinh, kêu ca:

Tấm quần em rách đường tơ.
Cỏ trong mình mẩy bâng quơ mọc nhiều,

rồi sau lại hỏi:

Bây giờ em đứng nơi đâu.
Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao.

Chưa hết, làm xong mấy khổ lục bát, Giáng tái bút:

Gắng thu xếp gấp rồi vào. Tấm quần năm trước phai màu rồi phải không. Trong này thiên hạ rất đông. Ăn mặc thật đẹp nhưng trông không mặn mà bằng em.

Anh viết cứ như thật! Em nào chịu cho nổi cơ chứ?

Ðến Màu Hoa Trên Ngàn (lại 1963), Bùi Giáng vẫn cứ phong độ, thơ trào ra, có tệ thì thi thoảng xuống mức thường thường bậc trung, nhưng chỗ này chỗ kia vẫn lấp lánh những ánh sao băng kỳ diệu. Em về mấy thế kỷ sau lại được lập lại (sau đó thêm một lần nữa thì phải) trong bài Em Về Ra Sao. Xin chép:

Em về mấy thế kỷ sau.
Hồn ngân tiết điệu câu chào vọng qua.
Em đi lòng độ giang hà.
Cỏ mùa thu mọc chớm già chợt non.

A, cái tứ thơ lạ, em về nhưng lại mấy thế kỷ sau, tại sao hở em?

Chỉ nội một năm 1963, Bùi Giáng ra thêm Màu Hoa Trên Ngàn, tức là 5 tập thơ. Thêm vào, Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Ðại I và II, rồi Sao Gọi Là Không Có Triết Học Heidegger, là hai cuốn sách lý luận biên khảo. Và chỉ một năm thôi, là thừa cho một đời văn: anh đã để dấu ấn Bùi Giáng trong văn học và thi ca. Từ 1955 đến 1975, Giáng viết khoảng 46 (47?) tác phẩm, đủ thể loại, từ sách Giáo Khoa đến Dịch Thuật. Sau 75, anh không sung sức như trước, nhưng thơ anh thấm thía trạnh lòng hơn, và cũng hoài nghi hơn, đôi khi có chút uỷ mị chua xót, nhưng gì thì gì, vẫn ngộ nghĩnh. Tôi chép ba bài tôi cảm:

Bao giờ
Bằng bút chì đen
Tôi chép bài thơ
Trên tường vôi trắng
Bằng bút chì trắng
Tôi chép bài thơ
Trên lá lục hồng
Bằng cục than hồng
Tôi đốt bài thơ
Từng phút từng giờ
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không

Một đời
Một đời đâu chốn đâu nơi
Ðâu người đi kẻ ở đời đâu đâu
Em đi từ tỉnh mộng đầu
Một mình anh ở mang sầu trăm năm
Em từ vô tận xa xăm
Trùng lai chất vấn: từ trăm năm nào?

Gió
Gió qua đồi núi cheo leo
Gió chào em Mọi bên đèo đầu truông
Giữa đèo rốt cuộc một muôn
Bên giòng suối mát cởi truồng ngồi chơi
Nhân vì có việc qua đồi
Thấy em xinh đẹp tôi ngồi ngắm em
Thế rồi công việc bỏ quên
Chỉ còn có biết ngắm em thôi mà
Về sau khắp bến giang hà
Nơi nào cũng thấy ngọc ngà đèo truông

Phải nói, bài Bao Giờ hay, có chất Apollinaire, một nhà thơ người Pháp Giáng trân trọng. Bài Một Ðời trung trung, được câu chót, bất ngờ, nâng cấp bài thơ lên một tầng siêu hình. Bài chót, Gió, mới đọc thì thường, quá thường, loại thơ kể chuyện. Nhưng không hiểu sao nó ám ảnh. Em Mọi man sơ nay thay những kiều nữ môi son má phấn Kim Cương, Malyn MốngLồ, Bizít Bàđô? Sao thế nhỉ? Thơ lại thơi thới, hân hoan, giản dị, thực thà, ngộ nghĩnh và trẻ thơ. Nhất là vào những phút cuối đời! Sao trẻ thơ được thế nhỉ?

*

Sống như thơ thì mới làm thơ được!
Nhưng sống thế nào là sống như thơ, anh Giáng? Khà khà, là sống, thế thôi. Sống như anh là lang thang phiêu bạt, không cứ sở để cứ bàng hoàng nỗi niềm cố quận. Chẳng danh chẳng lợi, ôi chuyện phù hoa. Không quá khứ không vị lai, tại thể phải ngay đây, chốn này, tức thì, quyết liệt từng giây từng phút tồn lưu. Chân thành với cả hư vô và hữu thể, tránh màu mè uốn éo giả dạng này kia. Thôi ảo vọng, nhận mặt cuộc phù sinh như bạn đời chăn gối, và gối chăn là sao trời là huyễn mộng ta gắn cho cô em cái tên để thành hiện thực mầu nhiệm lung linh...

Thế thôi sao? Quay hỏi tiểu đồng, sao mặt mũi ổng thâm tím thế? Tiểu đồng đáp, ổng zô hẻm, lộn đầu trồng cây chuối chổng đít lên trời đi bằng tay, bên trên hẻm có căng biểu ngữ nền đỏ chữ vàng, kẻ "Không có gì quí bằng độc lập tự do...". Công an kêu, ổng tỉnh bơ. Nó chặn nó uýnh, uýnh xong ổng lại lộn đầu chổng đít đi ra. Nó biểu, chống chính quyền hả. Ổng cười. Lại bị uýnh, lần này lết không nổi. Người bầm dập, mang về bóp thuốc, chưa khỏi thời ổng lại tới con hẻm, bắt đền, đòi quyền sống. Sống thế, cũng là sống như thơ à? Tức phải trung thực. Phải tự do, tự do tuyệt đối, bất kể bất cứ quyền lực nào vây bủa o ép, sẵn sàng sống chết đổi lấy một thứ giá trị người đời cho là trừu tượng viển vông...

Có phải có thế thì mới sống với và bằng những con chữ mà không mang thân phận mang kẻ bất lực chăn chiếu đang gượng leo lên giường rồi quay mặt không dám nhìn bà sồn sồn quyền thế nằm ngửa dạng chân? Khi Tố Hữu leo đến tuyệt đỉnh quyền lực, anh em văn nghệ kể, Bùi Giáng đến trước số 160 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, giữa trưa réo, ông Lành ơi, ông làm chi mà chúng nó đày đọa văn chương thế này? Nghe Giáng gào thét, ai nấy im lặng. Người đứng, đứng yên. Người ngồi, ngồi yên. Nhột và ngột. Giả tảng không hiểu, nhưng chẳng ai dám nhìn vào mặt ai. Chẳng ai xuống mở cổng mời ông vào, rót cho ông chén nước, mặc để ông cứ gào, ông gào như thế chóng chầy chắc sẽ rách toạc cuống cổ.

Một buổi tối năm 88, Trịnh Công Sơn đưa tôi đến chỗ cõi tạm Bùi Giáng, trong một khu vườn nhà cháu ông, một người tôi cũng quen biết. Chúng tôi mới mon men vào, đèn bỗng tắt ngúm. Sơn khe khẽ gọi, anh Giáng ơi, Sơn đây. Ðèn lại bật. Sơn hả? Bùi Giáng đẩy cửa, tươm tất, sạch sẽ, thậm chí đỏm dáng, áo quần râu tóc trắng tinh. Chiếc màn buông quanh chiếu, cũng trắng, và thoang thoảng trong không gian là mùi hương mới đốt. Bùi Giáng không điên như người đời tưởng. Anh điên cách của anh, có chọn lựa và rất ý thức. Anh dịch lời Pascal, người ta vốn điên, điên một cách thiết yếu đến nỗi không điên cũng là điên theo một lối khác. Và nói cho cùng, Nietzsche điên, Heidegger điên, Hölderlin điên... Trang điên, Lão điên, Thích Ca cũng điên... Thì anh, kẻ nòi tình đến sau, muốn về nơi họ chắc không điên chẳng được. Và khi anh tỉnh, rất uyên bác với một trí nhớ kinh điển khủng khiếp, thì ai mới là những người điên nhỉ? Năm đó, lần cuối tôi gặp anh là dịp ta cùng gặp Trần Dần. Cũng lần cuối.

Trở về chuyện Bùi Giáng, huyền thoại sống. Thiên hạ bốn phương cần huyền thoại vì phải chăng sống như thơ là một nhu cầu hằng tưởng nhưng bất khả đạt? Vì trung thực là một tất yếu của cuộc tồn sinh? Tự do, sự sống còn của tồn thể? Và nghịch ngợm, hóm hỉnh, hân hoan là cái hạnh phúc tồn hoạt. Nhưng những cái tồn (nọ, kia) theo chữ Bùi Giáng, ít người biết anh định nói chi. Ngược lại, người người biết anh sống cái gì và sống ra sao. Và có thế anh mới thành huyền thoại. Với bài thơ Gió và cô em Mọi, anh hoàn nguyên chất trẻ thơ. Anh thật may: trung niên thi sĩ gầm gừ tác phong mãnh hổ đã hoá thân ra đứa trẻ lúc cuối đời là giấc mơ của Nietzsche. Hình ảnh Bùi Giáng áo quần chằng đụp đủ mầu như một lão đạo sư nghễu nghện trên đỉnh ảo một đời thơ không là huyền thoại. Anh thực sự có đó khi xưa, và vẫn đây trong tâm tưởng tôi bây giờ, với nụ cười móm mém hiền hòa, ánh mắt tinh quái nhưng dịu dàng. Câu anh thốt, sống như thơ thì mới làm thơ được, vẫn đâu đó theo tôi đằng đẵng một thời.

Cứ nhớ bạn, lại mất ngủ. Nhớ anh, lại nhớ Sơn và căn vườn treo phố Duy Tân. Nhớ ánh nắng xế trưa hoe vàng đậu trên những tàn lá cây me dưới cái màu xanh ngăn ngắt của trời cao độ lượng. Bây giờ, đêm ở đây. Tôi lục lại dăm tấm ảnh, mấy bức thư còn ấp chút hương xưa một thời quá vãng. Một mảnh giấy nhỏ xíu mầu vàng rơi xuống. Không phải lá muà thu, dẫu ngoài kia, trời đã lạnh và rừng phong cạnh nhà đang chuyển sang màu đỏ.

Mảnh giấy đèo bồng hai hàng chữ nguệch ngoạc :

Người đâu gập Búi Giáng Bùi
Hỏi thiên thu, gió, buồn vui những gì?

Chữ anh hay chữ Sơn. Chắc chắn không phải chữ tôi, xấu chứ không được đẹp như vậy. Thơ anh hay thơ Sơn. Hay thơ tôi. Không nhớ được. Hề chi, hề chi. Có hề chi vàng những rong rêu...Không- anh không- Sơn không- tôi thì là chúng ta vậy.

Xin chào, anh Bùi Giáng. Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau. Rồi sẽ một ngày tái ngộ, hẳn thế. Với anh, với bạn bè và những kẻ nòi tình.

gửi BG, 5 năm khuất mặt

7-10-2003

Hợp Lưu, 74, Xuân Giáp Thân
Đăng nhập để trả lời
0

Bùi Giáng trong tôi

Thi sĩ Bùi Giáng
Bùi Giáng (1926-1998) là một nhà thơ có kiến thức uyên bác đã cho xuất bản trên 60 cuốn sách (14 tập thơ, 19 dịch phẩm, 6 sách giáo khoa và nhiều tập biên khảo triết học và thơ) và hiện còn 10 tập thơ và nhiều bản dịch chưa được công bố. Ông nổi tiếng trên văn đàn với lối thơ "xiêu đình đổ quán" mà ông có thể "nhẩm bút" cả chục bài liền trong quán rượu hay quán cà phê. Tên ông đã trở thành một huyền thoại văn chương; để hiểu thêm về ông, chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết (bằng miệng, có người chép lại) đầy cảm hứng riêng của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Trước mắt tôi là chân dung của một người đứng tuổi, tóc và râu cằm lưa thưa, gương mặt hốc hác , có một mắt mang kính đen khiến tôi nghĩ đến một câu nhạc của Trịnh Công Sơn "còn hai con mắt khóc người một con...". Đó là chân dung Bùi Giáng do bé Ký vẽ để lại cho tôi trước khi xuất ngoại. Còn lại là, đầy ắp trong tôi, những điều tôi nghĩ về Bùi Giáng và đã kết luận từ lâu.

Điều tôi kết luận, thứ nhất, rằng tên tuổi Bùi Giáng thuộc lớp thi sĩ hàng đầu của hậu bán thế kỷ XX, có trước cả những tác giả của những câu thơ sang trọng kiểu này: "Thướt tha hồn của bông hường, nghe trong hơi gió còn vương máu hồng". Vậy cứ một nửa thế kỷ còn lại một người. Tôi nói như thế chắc sẽ làm nhiều người bực mình, và tôi cũng e rằng miền Bắc ít có người biết đến Bùi Giáng thuở ông nổi tiếng. Chế Lan Viên đã khẳng định trên báo Tuổi Trẻ như thế về Hàn Mạc Tử và thơ VN tiền bán thế kỷ XX.

Bùi Giáng có công rất lớn với thi ca VN, trước hết là về phương diện từ ngữ, chữ của Bùi Giáng là chữ bụi bặm thường ngày; hình như người ta vứt đi, và ông nhặt lên, phủi phủi, hà hơi vào, để tất cả hóa thành thơ. Trong thơ Bùi Giáng có cả "cánh chuồn chuồn và cánh bướm". Đó chính là tập thơ Mưa nguồn mà gần đây NXB Văn học mới in lại của Bùi Giáng. Bên cạnh thơ siêu thực, thơ tự do của thời thượng bấy giờ, giọng thơ dân gian của Bùi Giáng đã khiến ông trở thành một hiện tượng không thể phủ nhận, cũng giống như Nguyễn Bính thời tiền chiến. Ví dụ, ai đã đọc những câu sau:

Làm con bé chạy đồi sim
Vấp chân hốc đá tiếng kèn nghiệt ma
Ngày mai bưng mặt khóc òa
Trời trên đất dưới hóa ra chung tình.

thì ắt không thể nghi ngờ về công của Bùi Giáng đối với thơ VN.

Thứ hai, nói đến thơ VN, là chắc chắn ta nghĩ đến thơ lục bát. Không hẳn vì chỉ có VN mới có thể thơ này (Chiêm Thành cũng có) mà bởi vì đó là thể thơ của nhịp hai, là nhịp của cái gàu tát nước, là tiếng đưa võng, là nhịp của tao nôi, và là nhịp của trái tim đập trong lồng ngực. Thí dụ thứ nhất thuộc về Nguyễn Du:

Trăm năm/trong cõi/người ta
Chữ tài/chữ mệnh/khéo là/ghét nhau

Bùi Giáng cũng đi nhịp hai như vậy. Hồi chúng tôi còn trẻ (cuối thập niên 50), tôi thường lui tới một căn nhà trọ thuộc hẻm Lê Văn Duyệt (nay là đường CMTT), và đi ngang qua nhà của Bùi Giáng. Đó là một căn nhà hầu như trống trải, nghe nói do một người bà con giàu có là bác sĩ Tín mua cho và gửi trước cả tiền cơm tháng dù ông Bùi Giáng có về ăn hay không. Tôi nhìn vào thấy lũ trẻ trong xóm đang ngồi đầy căn phòng, miệng hò la:
- Ông Bùi Giáng! ồng đờn (đàn) đi!

Bùi Giáng làm bộ cầm một cây đàn violon và kéo, vừa "hát" thơ của ông theo điệu bài chòi:
Đem tôi đến giữa màu đêm
Giết tôi chết giữa người quên mặt người

Lũ trẻ vỗ tay ran ran. Chúng tiếp tục hò reo:
- Ông bùi Giáng đờn hay quá! Đờn nữa đi!

Bùi Giáng tiếp tục:
Hãy đem tôi tới ngoài xa
Giết tôi chết giữa màu hoa trên ngàn

Ông lại cười ha hả, vừa đàn với cây vĩ cầm ảo tưởng, vừa hát theo ý lũ trẻ: "Ông hát đi, ông hát nữa đi"
Hãy đem tôi tới ngoài xa
Giết tôi chết giữa dâu Tần cỏ Yên...

Ông Bùi Giáng giống như người Nghệ, ít thay đổi giọng nói. Giọng Quảng của ông phổ vào điệu bài chòi nghe gan ruột lạ lùng. Có người thấy việc kể lại rằng: Một ngày nọ, ông Bùi Giáng ra hóng mát đầu hẻm, thấy một người đàn ông từ lục tỉnh lên, vừa đi vừa dòm những số nhà. Bùi Giáng giữ ông già lại, mới biết ông đang di tìm thuê một căn nhà. Bùi Giáng đon đả:
- Mời ông vô ở với tui, khỏi phải thuê nhà, tui cho ông ở không lấy tiền.

Ông già lắc đầu:
- Cảm ơn thầy, nhưng tôi còn ở chung với cả gia đình.

Bùi Giáng ngập ngừng một lát , rồi gật đầu:
- Gia đình cũng được. Tui ở một mình buồn quá!

"Gia đình" của ông già gồm có vợ, hai cô gái mà ông gọi là "con Hai, con Ba", và người chồng của cô Ba là một trung sĩ (chế độ cũ). Một hôm ông trung sĩ đi chiến trường Tây Nguyên về, gặp ông Bùi Giáng đang đưa cô Ba đi chơi công viên. Ông Bùi Giáng lịch sự xin phép ông trung sĩ đi chơi với cô Ba một quãng, tới cái máy nước gần đó rồi đi vào trở lại, "trả vợ" cho ông trung sĩ. Ông trung sĩ cười vui vẻ:
- Thầy cứ tự nhiên, có sao đâu!
Và Bùi giáng lam theo lời hứa.

Một hôm cả nhà làm một bữa cơm thịnh sọan đãi ông Bùi Giáng. Nửa chừng, ông già ngỏ ý gả cô Hai cho ông Bùi Giáng, "vì con Ba đã có chồng rồi". Ông Bùi Giáng nói tỉnh bơ:
- Tui biết rồi. Hiềm vì cô Hai xấu quá, không hạp nhãn tui.

Sau này người ta biết rằng ông Bùi Giáng yêu cô Ba mê mệt. Thỉnh thoảng người ta đọc thấy một dòng chữ viết phấn trên cái bảng đen vẽ giữa nhà: "Vì BG làm cô Ba giận nên không dám về. BG xin phép cô Ba vắng mặt...ngày...".

Hồi đó, tôi dạy Việt văn ở trường Tư thục Văn Lang còn Bùi giáng dạy lớp luyện thi ở gần đó. Tôi thấy Bùi Giáng ra đề: "Nếu cho anh chọn giữa Thúy Kiều và Thúy Vân làm vợ, thì anh sẽ chọn ai". Tôi cười thầm trong bụng, vì tôi cũng dạy Kiều ở lớp đệ nhị. Lớp đông học trò, nên dạy nửa chừng, áo ông Bùi Giáng ướt dầm dề. Ông cứ tự nhiên đứng giữa lớp cởi áo ra, nhét vào túi quần và lôi từ túi quần kia một cái áo nhàu nhò và mặc thay vào cũng giữa lớp. Cách dạy đó, từ lối ra đề đến lối mặc áo đều bộc lộ tính tự do tuyệt đối của Bùi Giáng.

Ở Huế, có một người in thiệp, dòng trên tên mình thì dòng dưới ghi cả chức vụ của cha, ông nội và cố, toàn là quyền cao chức trọng. Bùi Giáng chẳng xem những điều đó quan trọng gì, dù ông thuộc về gia đình của Hoàng Diệu. Nhân một cuộc cãi vã, ông đứng trước nhà thờ họ Hoàng, kêu Hoàng Diệu bằng thằng, chửi vã một hồi rồi bỏ đi thẳng đến mấy chục năm.

Rồi chiến tranh làm chúng tôi xa nhau.
Sau giải phóng, tôi tìm thấy một tấm thiệp mốc meo ở trong sách nhà Đinh Cường, tấm thiệp chỉ ghi:

Hỏi tên, rằng: "Biển - Dâu- Ngàn"
Hỏi quê, rằng : "Xứ mơ màng", đã quên

Quả nhiên đó là thiệp của Bùi Giáng. Ông chỉ nhớ như vậy và đã quên cả tên của mình. Tôi nhớ Đặng Quân "ở bên Pháp" có lần nói: Quê hương nhà thơ thuộc "bông lông xã, Ba la huyện". Hỏi quê, rằng xứ mơ màng đã quên".

*

Tôi có thói quen khi đi đường rừng một mình thường ngâm thơ, hoặc hát vang, để nghe giọng người trong hoang vắng cũng đỡ cô độc. Lần ấy, tôi đi lấy lá nón về lợp nhà, ngâm to bài thơ sau đây:

Người trở về trên năm ngón chân
Tôi buồn, người bảo có tay nâng
Bàn tay người có đầy năm ngón
Người đứng xa tôi tiến lại gần

Tôi gặp người mừng rỡ biết bao
Trời xanh như lá ở trên cao
Con chim nó nhảy trên cành lá
Người nắm tay tôi nhẹ dẫn vào

Ngôi nhà người dựng giữa trời xanh
Cửa ghép bằng cây với nhành cành
Để khép sơ sơ và cũng để
Mở mời anh chị bước vào nhanh

Hôm xưa đi đốn củi trong rừng
Lạc mất đường về chợt bỗng dưng
Sực nhớ nơi đây rừng núi thẳm
Là quê, thân thiết biết bao chừng

Vừa đọc đến đoạn cuối tôi chợt nghe một giọng sang sảng vang lên sau lưng:

- Chà, anh T đọc thơ hay quá . Thơ ai đó?

Nghe giọng nói tôi đoán là anh Th, đang đứng bên lề con đường mòn dẫn vào cơ quan tỉnh ủy, tôi lẹ miệng:
- Dạ, thơ Xuân Diệu
- Ông Xuân Diệu làm thơ hay quá nhỉ? Vậy mà hồi đi học tôi không biết.
- Ai mà đọc cho hết thơ của Xuân Diệu. Ông Xuân Diệu làm thơ nhiều lắm.

Tôi quay nhìn lại, thấy anh Th vội vã đi trên đường mòn. Thật ra đấy là một bài thơ của Bùi Giáng, không biết bao giờ đã lọt vào trí óc tôi. Tôi nhận thức đây là một bài tóm gọn hiện tượng luận của Heidegger trong quyển "Những con đường rừng": Khách thể (ở đây là chân lý) có đặc điểm cởi mở (sẵn sàng để được nhận thức) và chủ thể thì hiểu bằng sự thông cảm. Hình như Bùi Giáng thích hiện tượng luận của Heidegger hơn thuyết hiện sinh của Jean P. Sartre. Chả thế mà trong một quyển sách viết về Heidegger, Bùi Giáng đòi dùng roi quất Jean P.Sartre, "để cho nó biết thế nào là triết học" và khi có người chê quyển sách ấy thì Bùi Giáng đến xóm gõ cửa đòi đánh nhau (lúc ấy Bùi Giáng còn trẻ nên rất hăng).

Tôi cho rằng cái tài năng làm thơ không cần phải đi thực tế. Một lần tôi đi ngang qua Rừng Thông, một xã Trường Sơn giáp giới giữa Thừa Thiên - Huế và Quảng Trị. Những o du kích đi bật hầm sau Mậu Thân lên sống tạm ở hầm hố trên núi đến độ họ bị nạn cháy rận: Các o đi ra miền Bắc, ngồi giữa rừng thông bắt chấy cho nhau và khi họ vạch tóc ra, thấy tóc xanh trở thành bạc vì trứng chấy. Tôi nhớ lại:
Hai bên đường ngồi lại
Những người đếm tóc nhau
Kỷ niệm về kinh hãi
Tóc xưa đã phai màu
và thầm nghĩ: Quái lạ! ông Bùi Giáng đi thực tế lúc nào mà biết cảnh này? Có lẽ ông đã thấy nó khi ông còn là một thiên thần sống trong thế giới hoàn hảo mà Platon gọi là thế giới ý niệm; ở đó, ông đi dự đám rước những ý niệm, trong đó có ý niệm đếm tóc trên. Ông sa đọa xuống cõi trần và trở thành nhà tiên đoán, đời gọi là thi sĩ...

*

Năm ngoái, tôi và Ngô Văn Tao có đến nhà riêng ở Bình Thạnh tìm Bùi Giáng. Ông Văn Tao là giáo sư toán học ở Canada, thi sĩ đã in nhiều tập thơ ở trong nước và xem Bùi giáng như sư phụ...Bùi Giáng giằng điếu thuốc trên tay tôi như sợ tôi hút hết và quên mời ông, nói:
- Từ đây đến chết tao còn một vạn câu thơ. nhưng mày chỉ cần nhớ hai câu này là đủ. và ông đọc:

"Ngày mai cá sống phiêu bồng
Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi"

Ông nói chuyện với tôi, ngồi xổm trên nền nhà và mặc chiếc quần lãnh ở trong, thò hai ống quần ra ngoài chiếc quần cộc. Nên có người nhận thấy ông choàng một tấm vải có treo lon tùm lum và rong chơi khắp phố phường. Ông tự xưng là "trung niên thi sĩ". Còn tôi coi ông là người của nỗi cô đơn không thèm nói ra. Nghe nói chiếc quần lãnh kia cũng thuộc một người đàn bà mà ông ngưỡng mộ. Trong bài thơ Phụng hiến nổi tiếng, ông đã viết những câu thật là nhân ái:

Tôi gửi lại đây mấy dòng ảo não
Mấy vần thơ tuyệt vọng gửi cho em
Rồi gục đầu trên trang giấy hão
Em bảo rằng:
Đừng tuyệt vọng nghe không?
Còn mãi đây,
Trang thơ thắm lại với đời hồng

Hoá ra đỡ đầu cho nỗi cô đơn của ông cũng là một bàn tay con gái...

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG (Phụ bản Thơ - báo VN)
Kỉ niệm ngày sinh của Bùi Giáng (17.12.1926-17.12.2003)
Đăng nhập để trả lời
0
Ngô Văn Tao
Bùi Giáng đàm thoại

1.

Nhà thơ đi đâu lang thang ngoài nắng? Đầu tóc lôi thôi, chân guốc chân không. Nhà thơ sao nằm lăn ra đất, sao quay tròn để lấm bụi đường?
- Ôi! Hãy ngồi lại cùng tôi ăn bát phở, chia cùng tôi ly nước.
Thiên thần khổ hạnh, nhà thơ vẫn đi qua. Thế mà… như làn gió ngược, nhà thơ bỗng trở lại, chậm rãi đến ngồi bên tôi, cầm cốc la ze của tôi trước mặt, nhẹ nhàng uống nửa ngụm. Cả một vầng trán khoan dung, đôi mắt dịu hiền.
- Thi sĩ đã tìm thấy một nàng tiên?
- Hừ "…Em mười sáu tuổi với trực giác trong suốt hồn nhiên, xin hãy đưa tay cho người thi sĩ. Chúng ta sẽ đồng thanh thưa lại với đời rằng: mười lăm năm bấy nhiêu lần hoen ố, mảnh quần hồng vẫn giữ vẹn một tấm gương…" [1]
Nhà thơ Bùi Giáng đã viết những câu văn, những câu thơ như vậy ! Trên quá trình thi văn và ngôn ngữ của người Việt Nam chúng ta, Bùi Giáng đã đánh dấu một nẻo đường.

2.

Thi sĩ ấy sinh năm 1926 tại Quảng Nam. Bỏ nghề dạy học, soạn sách và làm thơ. Chỉ lo in sách của mình: những sách giáo khoa luận về Nguyễn Đình Chiểu, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà…, những quyển thơ: Mưa nguồn, Ngàn thu rơi hột, Mùa hoa trên ngàn, Lá hoa cồn..., những luận sách triết lý: Tư tưởng hiện đại, Heidegger và tư tưởng hiện đại, Câu hỏi Thuý Kiều…Còn bao nhiêu dịch thuật, còn bao nhiêu văn thơ khác in rải rác trên báo chí, hay viết trên những mảnh giấy vụn vứt ra cho trời đất. Hiện ở Bắc Mỹ lưu hành tập thơ: Mùa thu trong thi ca (nhà xuất bản Sống Mới, Hoa Kỳ).

Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã từng hỏi:
- Bùi Giáng! Đời sống anh ra sao?
- Tôi xin đáp "…đời sống tôi thật tai hại như bình sinh của tôi. Ấy bởi vì, bình sinh thì điên tam đảo tứ, mà đời sống thì đảo tứ điên tam. Tính sao bây giờ ? Nếu có thể đem nhốt đời sống vào Biên Hoà Bệnh Viện, thì ắt phải đem bình sinh nhốt vào cõi Viện Bịnh Hoà Biên. Có thể thế được chăng?" (Kính gửi anh Nguyễn Xuân Hoàng, báo Văn, Sài gòn 1973)

"Một hồn thơ bị vây khốn" (Thanh Tâm Tuyền), thi sĩ ấy đã sống "cuộc đời vô định, nơi đầu đường xó chợ, như một nhà tu khổ hạnh, bất chấp mọi khổ ải cùng lao tù" (Nghiêm Xuân Hồng). Những ngày tháng này đây, bóng dáng thi sĩ ấy vẫn lang thang "nửa mất hồn nửa mất trí" (theo lời bá tánh)," khi đứng thì lại ngồi", " khi đi thì lại nằm" ở một vài ngõ phố của Sài Thành.
3.

Ôi! Vằng vặc. Ôi! Đọa đầy. Một thiên tài nẩy nở trong một xã hội hẹp hòi, trên đất nước bất hạnh của chúng ta. Một nghệ sĩ đi vào nghệ thuật như một đạo sĩ đi tìm tuyệt đối trong cái tâm của chính mình.

Tôi ước mong rồi đây lịch sử sẽ đánh dấu tất cả những bước đi của Bùi Giáng. Vì ông đã từng cư trú ở Đại Học Vạn Hạnh, thì tôi cầu ước cái ngõ ngày xưa dẫn vào Đại Học Vạn Hạnh sẽ mang tên Bùi Giáng. Vì ông đã từng qua lại Biên hoà Bệnh Viện, tôi muốn đại lộ Biên Hoà rồi đây sẽ có một đường ngang đưa ta đến bên bờ sông Sài Gòn, dẫn ta đến một biệt thự mang tên Bùi Giáng, mà ở đó văn nghệ sĩ Việt Nam có thể tĩnh dưỡng, an tịnh và sáng tác. Nhưng tôi cầu mong trước hết là rất gần đây, dù ở ngay đất khách, sẽ có một tùng thư sưu tầm, nhặt nhạnh tất cả dịch thuật và sáng tác của Bùi Giáng.

Tôi chỉ mới biết đây Bùi Giáng qua Mùa thu trong thi ca, qua một số văn thơ trích của Bùi Giáng và qua một số bài báo của nhiều người bàn về Bùi Giáng, nhưng tôi cũng đủ biết rồi: "hai trăm năm sau Nguyễn Du", Bùi Giáng đã có một cống hiến không nhỏ cho kho tàng văn học của người Việt Nam chúng ta. Một kho tàng mà chỉ có chúng ta, người Việt Nam, là có diễm phúc biết mở cửa đi vào chiêm ngưỡng cái đẹp, cái nhẹ nhàng, cái thâm trầm thôn dã. Một kho tàng cần thiết, để chúng ta dù có tản mát bốn phương trời, và cả con cháu chúng ta mãi mãi sau này, mà còn biết hấp thụ thì còn biết trở về cố quận gần gũi, như đứa con hoang, như người anh, như người chị, như người em trở về thăm lại nóc nhà tranh xưa của gia đình.
Dạ thưa phố Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương
(Dạ thưa)

4.

Bùi Giáng đã đến trong cái truyền thống của thơ văn Lý Trần, của kinh thơ Ngô Thời Nhiệm…Ông là một nhà văn, một nhà thơ tư tưởng, viết để nói ra cái đạo nhân sinh của mình.
Bùi Giáng đã "…đọc Nguyễn Du hơn một phần tư thế kỷ, đọc Trang Tử hơn mười năm, đọc Tô Đông Pha hơn hai năm" (Mùa thu trong thi ca) rồi mới dám làm thơ. Phải! Từ sự uyên bác sâu rộng về Hán văn, Việt văn, về văn học và tư tưởng Á Đông, Bùi Giáng đã đi tới cái quán triệt tự trong tâm những khái niệm triết học Âu Tây để giờ đây còn biết nói một cách ngụ ngôn về xã hội về cuộc đời. Hồn nhiên và lãnh đạm nhìn phi thuyền nhân tạo bay đến cung trăng, những thành tựu vật chất xa hoa của kỹ thuật, làm một Ngu công tay không đào đất trồng sắn! Bùi Giáng sáng tác trong cái sơ khai nguyên thuỷ của tâm hồn Việt Nam: Đạo giáo và Phật giáo.

Tôi chưa có dịp đọc những luận thư triết học của Bùi Giáng; nhưng đã nghĩ một cách chắc chắn rằng Bùi Giáng không phải là một triết gia theo cái ý nghĩa thông thường của triết học Tây phương. Ông không đưa ra một phạm trù triết lý nào, một hệ thống tư tưởng nào. Nhưng có lẽ ông là một thánh nhân theo cái nghĩa của triết học Trung Hoa. Bùi Giáng đi đến Đạo học để tự cứu mình, đi đến Phật học để tự giải thoát mình, và độ…độ cái tao loạn của tâm hồn mình, cái đại loạn của đất nước và thế giới xung quanh.

"…Ta ngồi dưới gốc cây sim, lắng nghe bò đương gặm cỏ, thong dong đưa tay với một cành, hái một trái ăn chơi. Và bỗng dưng? Bỗng dưng nẩy ra một sự tình kỳ bí: bàn tay ta vừa chạm tới một trái sim riêng rẽ, thì suốt dãy rừng, toàn thể ngàn sim lục bỗng chấn động lừng vang…" (Đi vào cõi thơ, Mùa thu trong thi ca)

5.

- Phải! Giữa cuộc đời, tại hạ là người ngồi dưới gốc cây si. Trong xã hội vật chất chèn đua, tại hạ là Ngu Công thiên núi. Ai đã gieo tang tóc trên quê hương của ta, "trên làng ta xưa có cỏ mọc", ta sẽ gọi bom lửa là "bom đạn của thương nhớ". Khi người ta mù quáng rẻ rúng cả "Xuân Thu", tại hạ đành khắc khổ - "hãy để yên ta điên ta dại"- nói chuyện cùng "Khổng Khâu, Lão Đam", với "em mọi nhỏ da đen", với "nương tử da trắng Marilyn, Gertrude, người đẹp da vàng Phùng Khánh, Nam Phương…
…Độn thế chung nan từ Nguyễn chiếu
Hồi thiên uổng bão phục Lê tâm
Ra về giũ áo đười ươi mộng
Cầm xốc buông dây nguyệt xuống đồng"
(Sư lịch tồn lưu, Mùa thu trong thi ca)

Đấy là Bùi Giáng! Dù sao trước cái nông cạn nhỏ nhoi của phận sống hằng ngày, với những cảm nghĩ chợt đến chợt đi về con người, về trời đất, về tiền thân, với những cảm nghĩ thu nhập ẩn tàng trong tiềm thức từ buổi hoá sinh, từ những đêm dài đèn trăng đọc sách, hoạ sĩ có những biến tấu của màu sắc, nhạc sĩ có những biến tấu của hòa âm, Bùi Giáng có những biến tấu của ngôn ngữ. Bùi Giáng biết đọc bao nhiêu sinh ngữ? Dưới ngòi bút của ông, tiếng Việt chưa bao giờ rạng rỡ như thế, thâm trầm cân nhắc từng chữ, lập đi láy lại, đùa rỡn bông lơi, đảo lộn và trào phúng như cho một thực tại huy hoàng và đen tối, như cho một thân phận ngạo nghễ và chua cay. Đọc văn thơ của Bùi Giáng, tôi thấy cả một ngọn thuỷ triều ngôn ngữ dâng lên, đưa đẩy những đợt sóng, ý tình này sang ý tình khác, không màu mè câu nệ, không ràng buộc lý trí. Bùi giáng hầu như đụng tới "chí ngôn" của Trang Tử, ý bay theo bút viết, hoa văn trong chữ phóng, hư thực huyễn tượng của "đài suơng trăng nước".

Không những phá bỏ những khắt khe gò bó của quốc ngữ, Bùi Giáng còn tự cho một sứ mạng là đẩy lùi cái biên giới phân chia Quốc văn và Hán Việt. Dân tộc ta đã có tự ngàn năm, ngôn ngữ ta đã có thành tích, chúng ta không ngần ngại gì hiên ngang tìm về cái Uyên Nguyên Trung Hoa của văn học chúng ta, trở về với Mnémosyne của tâm hồn chúng ta qua Kinh Thi Khổng-Lão-Trang, qua thi phú của Lý Bạch, Đỗ Phủ…Chúng ta hãy tiếp thu trực tiếp lại thiên vạn văn cảo Hán Việt của lịch triều Lý Trần, của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh khiêm, của Ngô gia văn phái, của Nguyễn Du, Cao Bá Quát.. Ngôn ngữ ta giầu mạnh hơn, lời lẽ ta yểu điệu hơn. Theo gót của người xưa, Bùi Giáng trong lòng làm thơ không phân biệt Việt ngữ hay Hán Việt. Độc đáo bao nhiêu và thành công bao nhiêu là những câu văn, những câu thơ nhị ngữ của ông.

….Tà tà khép mở kiều khu hẹp
Chênh chếch đong đưa mỵ nhân kề
O bế thập thành sương nước đục
Phiêu bồng luân khuếch dịch di khuê…
(Nữ sinh viên, Mùa thu trong thi ca)

Đó là những câu thơ bằng Việt ngữ hay bằng Hán Việt? Chúng ta không còn biết nữa, chỉ còn biết đây là những câu thơ tuyệt vời, một bức tranh trừu tượng tả cái mị nhãn, cái khuê các, cái trinh bạch mong manh của nữ sinh giữa buổi dậy thì trong một mùa xuân nhiệt đới rộn ràng ong bướm

6.

- Nhưng rồi, với chiếc thân đơn côi, đứng giữa trời đất, ông Bùi Giáng hỡi! Nói cho cùng hết, ông chỉ là một nhà thơ…
- Thi nhân? "…Một cõi thơ bát ngát hiện đại đang đi tới trong trần gian đại hiện…Ta tồn lưu triền miên tại miên trường mộng ảo chi trung…nằm khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiên bao, thơ về lãng đãng, thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao…Ta sống trong cơn dại cơn điên. Ta làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là ta chết hai lần trong trận sống…"

Bùi Giáng sống trong thơ, mộng trong thơ. Tất cả những cảm nghĩ, những tư tưởng đều nghệ thuật hoá, thi vị hoá. Xã hội xung quanh có thể sụp đổ và thay biến, người bên ông hôm nay đang khổ, ngày mai có thể mất mát, tang tóc trong bom đạn. Ông vẫn điên dại làm thơ. Bùi Giáng không làm thơ với những tình hứng đến từ thực tại hiện hữu, hay từ thế giới khách quan. Ông không làm thơ lãng mạn để nói về mình, như nói cái say mê, cái đớn đau của một mối tình, như nói đến sức sống rộn ràng, bi đát của một mùa hè, trong một mùa xuân, hay như nữa nói về thân phận, về mình, về con người trước sự ly tan, trước những đám mây đen đầu tiên của mùa thu…. Nguyễn Du đã đi vào đời tìm hiểu những cảnh huống, những tình lý, những dân ca của người Việt Nam để viết một Truyện Kiều. Truyện Kiều đối với Bùi Giáng chỉ là Một Câu Hỏi ám ảnh về nghệ thuật, về chất thơ, về ngôn ngữ, về thần tượng Nàng Kiều. Bùi Giáng cũng có những câu thơ đẹp đẽ trong suốt, nhẹ nhàng như ca dao, nhưng mỗi bài thơ của ông là một khắc khoải, dấn thân trên cuộc hành trình nghệ thuật mà ông đi và đi mãi trong nội tâm.

Bùi Giáng đi đến văn thơ, đi đến nghệ thuật vì ông mang sẵn trong tâm hồn một viễn tượng, mà chính ông gọi là Đạo, mà chúng ta có thể gọi là Niết Bàn, là Thiên đàng đã mất, là Địa ngục gần gũi, là cái đẹp, là màu sắc, là sự hòa âm tuyệt đối… Hoạ sĩ P.Gauguin giũ áo bỏ hết mọi tình thương ràng buộc, xa lìa bạn bè xã hội, tự đầy mình ra một hòn đảo giữa Thái Bình Dương để tìm ra và vẽ mãi cho đến khi chết những màu sắc, những dáng dấp người đàn bà, mà ông tưởng như hé thấy trong cái huyền ẩn mỹ lệ trần gian. Bùi Giáng cũng đi ra ngoài tục lụy của cuộc đời; sống nơi đây mỗi ngày, ông vẫn nhìn thấy qua làn bụi những nụ cười, những dãy phố một cái gì xa vời nữa, phản ảnh cái viễn tượng của tâm hồn ông. Thơ ông không có những đề tài uỷ mị, những ý vị chải chuốt thông thường của thi ca Việt Nam. Đọc thơ ông, chúng ta cảm nhận sự đầy đoạ phẫn uất của lộ trình đi mãi không bao giờ tới. Vì làm sao mà tìm ra lại được "Cố Quận" đã mất ! Đọc thơ ông, tôi không ngừng xúc động bởi tiếng kêu thầm lặng, tiếng kêu đè nén đó, lời than thở vô cùng của " cái tôi buông tay xuôi trước tấm cửa dầy vô hình chắn ngõ cấm đưa vào thế giới tuyệt đối của Thi Ca":

…Hãy mang tôi đến bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên
Hãy mang tôi tới diện tiền
Giết tôi chết giữa người thuyền quyên kia…

Như con chim bằng muốn bay tới tận cùng vũ trụ, như thi nhân muốn nhoài ôm vầng trăng trong lòng biển cả.

Bùi Giáng không lụy vì tình hay tiền bạc, Bùi Giáng không lụy vì danh vọng hay những đam mê của đời thường. Đạo Lão với thuyết vô vi, Trang học với ý tiêu dao như đã đưa ông ra khỏi sự tầm thường vật chất, sự ồn ào chen đua của thời bình, sự xáo lộn tang tóc của thời loạn; nhưng Đạo học và Trang học cũng không làm sao giải thoát cho ông ra khỏi cái nghiệp lụy "vị Nghệ Thuật", nghệ thuật siêu việt và đắm đuối. Tâm hồn ông như luôn luôn căng thẳng để tiếp nhận những cảm hứng, những ý thơ. Một đôi khi phẳng lặng như trong một giây yên gió, hừng sáng giữa cơn giông tố mịt mù bất tận, tâm hồn ông an định trong cõi ta bà, lời thơ bỗng hồn nhiên tự tại mang thiền tính Đạo Phật. Bùi Giáng đã sáng lập ra phong trào văn nghệ "Đạo và Thiền" của miền Nam Việt Nam trong những năm 1960-74. Tôi mạn nghĩ rằng Phạm Thiên Thư với Đoạn Trường Vô Thanh, Phạm Công Thiện với Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học là hai khía cạnh tư tưởng nghệ thuật của Bùi Giáng.

Mỗi thi sĩ thường để lại trong lòng người một hai bài thơ tiêu biểu. Bùi Giáng đã để lại cho tôi những câu thơ của bài Anh lùa bò vào đồi sim trái chín:

Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
Chìm ngây ngất vào trong đôi mắt lả
Anh lim dim cho chết lịm hồn mình

Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ
Với người ngó ngất ngây đương nằm đó
Không biết trời đất có ngó mình không

Nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng vẫn hàm chứa đầy cái bát ngát u uẩn của trời đất và của lòng người. Bài thơ đã vẽ lên, cao sang kiểu cách tinh vi, bức tranh in tay khắc gỗ mộc mạc dân gian thô sơ của Niết bàn kinh.

7.

Ai che được mặt trời, ai giấu được mặt trăng. Bùi Giáng thi nhân chắc vẫn còn đây, ở những quán trà nước cũ, gửi vần cho gió để gió trải thơ như hoa bay về trên đường xuôi. Những biện chứng gia, duy tâm duy vật, sẽ phải nói tới thơ ông, cho ông một giai cấp, cho ông một tâm lý giữa ngã ba của lịch sử, ngã sáu của lòng người…
- Thì "…đừng có bàn tới thơ tôi. Tôi không dám si mê, cũng không dám hoài vọng… Người yêu đừng bén mảng đến, bạn bè hãy đi xa. Để tôi một mình tha hồ tôi điên tôi dại. Ai có đến gần thì hãy thử điên dại cho như tôi…"

Thôi chúng ta cùng một phận, cùng nhau đi một hành trình, mang theo một gánh nặng, gửi gắm suy tư cho trời đất để tuỳ người thâu và người nhận. Chắc tôi cũng điên cũng dại, nên tôi mới bàn tới thơ ông qua một số thi văn, qua một ít truyền thoại.

Nhưng một hai trăm năm nữa, thời đại của chúng ta có nhiều nước mắt, có nhiều chờ đợi, sẽ chỉ là một gợn sóng trong muôn ngàn gợn sóng của lịch sử. Khi những công trình dù bằng đá hoa sẽ đi vào hoang phế, để lại mấy vụn xương khô, thì thơ văn của Bùi Giáng sẽ tồn tại trong lịch sử.

Tháng 8 - 1985 [2]

--------------------------------------------------------------------------------
[1]Tất cả các trích đoạn thơ, các đoạn trong " " (nếu không đề tên tác giả) đều trích từ tác phẩm của Bùi Giáng
[2]Bài này tôi viết nhưng chưa phổ biến bao giờ đến nay (2003), tức là đã gần hai mươi năm trước, khi đó tôi vẻn vẹn có dưới tay: Mùa Thu Trong Thi ca, nhà xuât bản Sống Mới phát hành năm 1980 (?) ở Hoa Kỳ, và một số bài thơ của Bùi Giáng và một số bài bình luận về Bùi Giáng in rải rác trên những sách báo của Việt Kiều hải ngoại. Đọc lại, tôi vẫn nhận thấy rằng tôi đã không phụ nhà thơ lớn Bùi Giáng của chúng ta.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-06 22:10:46TTL>
Kỉ niệm 5 năm ngày mất của Bùi Giáng (07.10.1998-07.10.2003)

Phan Nhiên Hạo
Bùi Giáng như tôi thấy



Vâng, tôi không quen biết Bùi Giáng. Tôi chỉ thấy ông, một cách khá thường xuyên, trong những năm học Ðại Học Sư Phạm ở Sài gòn. Trong bốn năm từ 1985 đến 1989, tôi sống ở ký túc xá Ðại Học Sư Phạm, tức trường Vạn Hạnh cũ. Nơi này vừa là chỗ ở vừa là chỗ học của sinh viên khoa Văn, bên cạnh các lớp học ở cơ sở chính trên đường An Dương Vương. Bùi Giáng hay lang thang trong sân trường Vạn Hạnh và khu vực quanh cầu, chợ Trương Minh Giảng.

Thời tôi học, sinh viên văn chương không phải là những anh chàng lãng đãng văn nghệ như sinh viên văn khoa Sài gòn trước 1975. Sinh viên thời chúng tôi chỉ có một bận tâm lớn nhất, lớn hơn cả sự học hành: đói. Tôi không biết có nơi đâu trên thế giới mà sinh viên phải sống cảnh thiếu thốn như sinh viên ký túc xá những năm đó. Ðói ngày đêm. Những bữa ăn gạo mục, một mẩu cá khô, và một bát "canh toàn quốc" thật ghê sợ. Chiều ăn, đến khoảng tám giờ tối đã đói run người. Ban ngày đang ngồi học trên giảng đường cũng đói. Ðó là thời người ta uống rượu được làm cho trong bằng cách chấm thuốc trừ sâu vào, bia lên men ủ từ những trái cây thối rửa nồng nặc mùi cồn y tế. Sinh viên càng đói thì càng nhậu dữ. Nhậu để quên nỗi thống khổ hiện tại, để thôi hình dung về một tương lai bi đát với đồng lương thầy giáo chết đói và cuộc đời rã mục ở một xứ sở khỉ ho cò gáy. Ðại đa số sinh viên văn khoa lúc đó giỏi lắm chỉ nghe tên Bùi Giáng chứ không hề đọc tác phẩm của ông. Vì trong chương trình học người ta không hề nhắc đến tên tuổi ông, mà nếu muốn đọc cũng chẳng có sách để đọc. Ngoại trừ một số rất nhỏ sinh viên cố gắng mở rộng kiến thức bằng cách săn tìm những sách xuất bản ở Sài gòn trước đây, đại đa số chỉ được dạy dỗ bằng những giáo trình thiển cận, méo mó.

Tôi đã đọc Bùi Giáng trước đó rất lâu, trong tủ sách của các chú tôi, cùng với những tác phẩm của Phạm Công Thiện, Nhất Hạnh, Lê Tôn Nghiêm... Thời mới lớn, sống ở Phan Thiết, thỉnh thoảng tôi cũng được dẫn đi lang thang bởi một nhân vật rất gần gũi về mặt tinh thần với Bùi Giáng: nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn. Tác giả "Chiến Tranh Việt Nam và Tôi" này luôn nhắc đến Bùi Giáng với giọng kính trọng đăc biệt, gọi ông là "thầy Bùi Giáng". Qua cách diễn đạt của Nguyễn Bắc Sơn, tôi có cảm tưởng Bùi Giáng là một nhân vật mà những người thường khó lòng hiểu được. Ông điên hay không điên, tôi không biết và cũng không thắc mắc nhiều. Có điều tôi biết rõ, ngay từ lần đầu tiên đọc Bùi Giáng, tôi không thích văn chương ông. Tôi không thích thơ ông, và tôi không chịu được dịch thuật của ông. Thơ ông làm theo những thể điệu cũ, vừa trong sáng nhưng cũng vừa cầu kỳ, giọng điệu vừa đùa cợt lại vừa trịnh trọng, và phảng phất một không khí cổ. Còn dịch thuật, phải nói ông phóng tác thì đúng hơn. Mà phóng tác như viết kiếm hiệp. Từ nhỏ tôi đã rất ghét kiếm hiệp, mặc dù tôi có thử đọc một đôi lần. Trong những ngày đói kém ở Sài gòn sau 1975, kiểu văn chương "phiêu bồng" của Bùi Giáng dường như ở quá xa mặt đất đối với tôi. Tôi cần một thứ văn chương trực tiếp hơn, thẳng thắn nhìn vào đời sống hiện thực, xoa dịu sự khốn cùng hôm nay. Tôi cũng có xu hướng thích thơ tự do, triết Tây phương, mà thơ Bùi Giáng thì phần lớn là lục bát và có vẻ phiêu bồng rất Á Ðông. Văn chương của Bùi Giáng trong những ngày đói kém ở Sài gòn sau 1975 là một loại văn chương quá mông lung và cũ kỹ đối với tôi. Ðó là lý do tại sao tôi đã không cảm thấy một sức hút đặc biệt đối với Bùi Giáng. Tôi đã không đến gần để hỏi han gì, mặc dù tôi vẫn thường thấy ông lang thang trong sân đại học Vạn Hạnh. Một người bạn tôi, tên Thuấn, lân la làm quen với ông và xin được mấy bài thơ lục bát Bùi Giáng mới làm. Ông viết chữ to, hơi nghiêng, rõ ràng và khá đẹp. Còn tôi, tôi không đến gần ông, nhưng vẫn hay quan sát ông.

Ông là một nhân vật khá nổi đình đám ở khu vực cầu Trương Minh Giảng. Có những buổi chiều đông đặc xe cộ, tôi ngồi uống cà phê bên đường nhìn ông đứng làm cảnh sát giao thông nơi đầu cầu Trương Minh Giảng. Ông đội một chiếc quần lót đỏ chói trên đầu, áo quần te tua, tay cầm chiếc roi tre dài, xoay ngang xoay dọc chỉ đường cho xe cộ. Người ta đi qua, cố gắng tránh xa ngọn roi tre dài, nhưng không ai chú ý đến ông. Ông loay hoay như vậy giữa dòng xe cộ hàng giờ liền, rồi chán, bỏ đi.

Một lần đang ngồi ăn cơm của một bà bán cơm gánh trước cổng trường, ông đến ngồi cạnh tôi. Bà bán hàng thấy ông, có vẻ rất ngán ngẩm nhưng không đuổi ngay. Ông cũng chẳng kêu cơm nước gì. Ông dùng ngón trỏ và ngón giữa móc vào nhau tạo thành một dấu hiệu tục tĩu mà trẻ con hay làm. Tay kia cầm một quả chanh, không biết kiếm đâu ra. Ông cố nhét quả chanh vào giữa cái hình ô van tạo nên bởi hai ngón tay, miệng lẩm bẩm: "Ðây là con c. nhét vô cái l. Kim Cương. Con c. to quá nhét vô không đươc".

Ông nói tiếng Quảng Nam, phát âm tiếng c. nghe như "ạketỳ". Tôi cố nín cười mà không được. Ông vẫn tỉnh bơ lặp đi lặp lại trò chơi quả chanh to và cái khe nhỏ đó cho đến khi bị bà bán cơm quát đuổi. Rồi ông nói ông mong được Kim Cương đái lên mồ ông. Ông còn nói một vài câu nữa về Kim Cương, toàn những câu rất tục, có vẻ ông bị ám ảnh ngày đêm bởi khao khát tình dục với người đàn bà này.

Có lần tôi thấy ông mặc một chiếc áo chim cò rộng thùng thình. Chiếc áo rất mới có vẻ hàng ngoại đắt tiền, chắc ai đó ở nước ngoài về tặng ông. Nhưng chỉ vài hôm đã thấy chiếc áo trở nên cũ bẩn.

Ðôi khi tôi bắt gặp ông ngồi dưới hành lang trong sân Vạn Hạnh, chỗ gần cổng. Ông nửa ngồi nửa nằm, tựa lưng vào cột. Dưới bóng cây phượng xanh mát, những lúc như vậy trông ông có vẻ tỉnh và buồn. Ông ngồi một mình, ánh mắt sau cặp kính cận dày nhìn xa xăm ra dòng xe cộ bên ngoài cổng trường.

Hình như Bùi Giáng không chỉ lang thang trong "lãnh địa" chợ Trương Minh Giảng và trường Vạn Hạnh. Một lần tôi thấy ông ở một chỗ khác, khá xa "nhà". Hôm đó trời mưa to, tôi đứng chơi trên lầu nhà một anh bạn ở đường Nguyễn Thiện Thuật, đối diện một cái chợ, không nhớ rõ là chợ Vườn Chuối hay chợ Nguyễn Thiện Thuật. Trước chợ có một đống rác cao nghệu, đen xì, bục ướt và rất hôi thối. Bùi Giáng đang đứng cãi nhau với một bà bán hàng ngay cạnh đống rác. Chắc ông phá phách gì nên bị bà này mắng xối xả, còn ông thì chỉ la ó những câu vô nghĩa để đáp lại. Nhưng ông cũng hoa tay múa chân vẻ khá hung hăng. Cuối cùng người đàn bà xô mạnh Bùi Giáng. Ông ngã chỏng gọng vào đống rác đen, miệng la bai bải. Cặp kính cận dày và cái thân hình lèo khoèo trong tư thế nằm ngửa khiến ông trông giống một con bọ ngựa bị bẻ chân. Dưới trời mưa tầm tã, ông có vẻ không gượng dậy được vì đống rác quá nhão. Còn người đàn bà vẫn tiếp tục chửi bới.

Tôi cũng đã thấy Bùi Giáng trong một trường hợp khác, rất đáng nhớ. Một buổi sáng chỉ mới khoảng 6 giờ, sinh viên ký túc xá bỗng nghe tiếng la hét từ phía dãy phòng các sinh viên nữ. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nghe những tiếng la như vậy khi có trộm lẻn vào bên khu nữ. Tôi vội chạy ra hành lang. Nhìn qua bên dãy nữ, thấy các mái tóc dài thò ra rồi thụt vào, hết người này đến kẻ khác. Tiếng la oai oái vẫn không ngớt, nhưng bây giờ xen lẫn tiếng cười khoái trá của các sinh viên nam. Nhìn xuống, tôi thấy giữa sân trường, Bùi Giáng đang trong tư thế trồng chuối, nhưng hoàn toàn... khỏa thân, quần áo cởi hết ra để bên cạnh. Mấy sinh viên bảo vệ từ ngoài cổng vội chạy đến, nhét quần áo vào tay ông lôi ra khỏi sân trường. Thật là một buổi "điểm tâm" đặc biệt cho cả ký túc xá.

Thời tôi học cũng có một nhân vật "điên điên" nổi tiếng khác trong trường là giáo sư ÐXH. Ông từ Hà nội vào, dạy tu từ học và là dịch giả của một cuốn truyện Xô Viết, cuốn "Lục Ðịa Sanhicốp". Sau 1975, phim "Lục Ðịa Sanhicốp" được chiếu ở miền Nam. Như những bộ phim "màu-màn ảnh rộng-Liên Xô" thời đó, người ta chen lấn nhau đến rách áo để vào xem "Lục Ðịa Sanhicốp". Trong sự thiếu thốn cùng cực không chỉ về vật chất mà còn cả về văn hóa, người ta thèm khát bất cứ thứ gì từ thế giới bên ngoài, từ những chiếc bình thủy lòe loẹt Trung Quốc đến những cuốn phim viễn tưởng vụng về của Liên Xô.

Không biết do ông tự xưng hay do sinh viên đặt, tất cả chúng tôi đều gọi giáo sư ÐXH là thầy Trình Văn Ðộ. Thầy Trình Văn Ðộ đã về hưu nhưng vẫn hay ôm cặp, một chiếc cặp bằng da cũ kỹ, đứng trước cửa giảng đường. Sinh viên ra khỏi lớp, vây lấy Trình Văn Ðộ, yêu cầu ông diễn Shakespeare. Chúng tôi khoái nhất ông diễn cảnh Othello giết Desdemona. Ông rống lên những tiếng kêu bi thiết, ôm ngực lảo đảo gục xuống như một kịch sĩ thượng thặng. Ông đọc Shakespeare bằng tiếng Anh và thơ của chính ông bằng tiếng Pháp, giọng hùng hồn vang khắp sân trường. Ông là một ông già to con, lưng hơi còng, hai lỗ tai đầy những sợi lông đen mọc thò ra ngoài. Ông nói ông biết bảy ngoại ngữ. Về khả năng ngoại ngữ của ông thì tôi không kiểm chứng được vì tôi chỉ biết lõm bõm tiếng Anh. Tôi đoán ông rành nhất tiếng Pháp, tiếng Nga, và đọc được tiếng Anh. Chúng tôi khoái Trình Văn Ðộ vì ông rất "điên". Ông lang thang vào phòng các sinh viên huyên thuyên chuyện văn chương trên trời dưới đất, lâu lâu lại đóng kịch, xổ ngoại ngữ. Ông có vẻ là một trong số hiếm hoi những giảng viên có khả năng thật sự, những người say mê văn chương và yêu thích việc dạy học. Ông nói ông phải vào trường để tiếp tục "dạy ngoài hành lang" cho chúng tôi. Cũng như chúng tôi, Trình Văn Ðộ hình như rất đói. Ông hay hỏi thẳng xem "chúng mày có gì cho thầy ăn không". Thỉnh thoảng tôi mời ông một tô mì ăn liền dưới cantin rồi dẫn ông vào nằm nghỉ trưa trong giường của tôi.

Nếu như Bùi Giáng hay bị ám ảnh bởi kịch sĩ Kim Cương thì Trình Văn Ðộ hay bị ám ảnh bởi giáo sư Hoàng Nhân. Hoàng Nhân dạy văn học phương Tây và có thời làm chủ nhiệm khoa văn. Sự dạy dỗ của ông thầy này tôi có thể tóm gọn trong một câu: "Toàn bộ văn học hiện đại phương Tây đều đồi trụy và bế tắc, ngoại trừ Aragon, một nhà thơ tiến bộ Cộng Sản". Dĩ nhiên ông không đề cập nhiều đến chuyện Aragon rồi cũng từ bỏ Cộng Sản. Trình Văn Ðộ hay than vãn chuyện Hoàng Nhân "đì" ông, không cho ông đi Tây, bắt ông phải về hưu như thế nào. Những chuyện này, được kể ra từ miệng một ông già hơi điên điên, không biết thật hư thế nào. Nhưng rõ ràng Trình Văn Ðộ rất "cay" Hoàng Nhân. Trình Văn Ðộ cũng có một điểm đặc biệt là mặc dù điên, ông không bao giờ dám động đến các lãnh tụ. Về phương diện này thì ông hoàn toàn khác với Bùi Giáng, một người tôi đã từng nghe đem tên các "thánh thần" ra nhiếc móc. Mỗi khi tôi đặt những câu hỏi chính trị, Trình Văn Ðộ lập tức lái câu chuyện sang hướng khác. Khôi hài hơn nữa, ông còn làm thơ tặng các lãnh tụ. Những bài thơ rất nghiêm túc, hùng hồn. Ông làm thơ tiếng Nga tặng Brezhnev, một bài thơ hình như tặng lãnh tụ Tito của Nam Tư, một bài khác tặng đồng chí Ðỗ Mười. Ông nói ông đã gởi các bài thơ này đến các đồng chí lãnh đạo, xin được đi Nga. Thấy ông cũng điên điên như Bùi Giáng, chúng tôi hỏi ông có biết Bùi Giáng không. Ông trả lời một cách rất ngông:
- "A, Bùi Giáng. Bùi Giáng chỉ là một con mèo nhỏ bên cạnh con sư tử lớn Trình Văn Ðộ".

Chúng tôi rất mong chứng kiến một cuộc đụng độ giữa Trình Văn Ðộ và Bùi Giáng để biết ai thật sự là mèo, ai là sư tử. Nhưng chuyện đó đã chẳng bao giờ xảy ra. Có thể vì cả hai ông đều điên nên không nhận ra nhau, như cái cách những người tâm thần chẳng bao giờ nhận ra nhau. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng hai ông không đụng độ nhau vì thật sự hai ông chẳng có một điểm chung nào, mặc dù bề ngoài đều "điên". Bùi Giáng là một người đọc sách nhiều nhưng coi thường kiến thức hàn lâm, trong khi Trình Văn Ðộ rất hay trích Ðông dẫn Tây khi nói chuyện. Bùi Giáng dịch sách rất phóng túng trong khi Trình Văn Ðộ dịch sách rất cầu kỳ, trau chuốt theo kiểu một chuyên gia tu từ học. Bùi Giáng là một nhà thơ, mà là một nhà thơ giang hồ nhất, trong khi Trình Văn Ðộ về bản chất là một ông giáo mực thước. Và quan trọng hơn, Bùi Giáng là một con người của tự do tuyệt đối, một kẻ không e ngại hay hệ lụy bất cứ điều gì ngoài những huyễn tượng tình yêu (hoặc tình dục) của chính ông. Trong khi đó, mặc dù điên điên, Trình Văn Ðộ vẫn là một người bị ám ảnh bởi cái quán tính của một đời sống tủn mủn, đầy sợ hãi của những người bị đè nén quá lâu. Trình Văn Ðộ than vãn không ngừng về chuyện không được đi Tây, làm thơ ca ngợi lãnh tụ, và có vẻ vẫn hy vọng sẽ được "đèn trời soi xét". Khoảng năm 1989, khi bắt đầu bùng lên phong trào các đầu nậu sách thuê người dịch truyện ngoại quốc, Trình Văn Ðộ hình như có dịch một vài cuốn sách cho một nhà xuất bản ở miền Tây. Bẵng đi một dạo mới thấy ông lại vào trường, tay đeo chiếc nhẫn vàng một chỉ, ăn mặc tề chỉnh, và ông cũng thôi la hét, thôi diễn kịch Shakespeare. Ông đã tỉnh lại khi có mùi tiền. Còn Bùi Giáng thì hình như điên hoài, điên cho tới ngày ông chết.

Tôi không phải là người ái mộ văn chương Bùi Giáng, và tôi thuộc một thế hệ hoàn toàn khác với thế hệ ông. Nhưng tôi nghĩ sự tuyệt diệu của văn chương miền Nam, trong số nhiều điều tốt đẹp khác mà nó đã làm được, là việc sản sinh ra một nhân vật kỳ vĩ như Bùi Giáng. Nền văn chương đó đã cho phép ông sống trọn vẹn cuộc sống của một nghệ sĩ sáng tạo, đi đến tận cùng con đường tinh thần đã chọn mà không phải sợ hãi hay quỵ lụy bất cứ điều gì. Sự dấn thân tuyệt đối của ông cho thơ ca có một điều gì gần như là tôn giáo và khiến tất cả chúng ta xúc động. Ông không chỉ là một nhà thơ, ông là một nhân vật lớn hơn đời sống (a larger than life character). Ðóng góp của Bùi Giáng vào văn chương miền Nam, bên cạnh những giá trị thơ văn, chính là cái đời sống nghệ sĩ can đảm và kỳ lạ của ông. Cái đời sống có khả năng kích thích và khiến những người viết khác, nhất là những thế hệ đi sau, giữ được lòng tin vào sự kỳ diệu của văn chương. Ông là một huyền thoại hiện đại của thơ ca, như Rimbaud vậy.

Sau cùng, và quan trọng nhất, Bùi Giáng là biểu tượng trọn vẹn của tự do sáng tạo. Một tự do đã mất.

Nghe nói Bùi Giáng có nhiều người quen ở Sài gòn, nhưng tôi chỉ luôn thấy ông đi một mình. Ông ra vào trường Vạn Hạnh nhưng không còn tìm thấy ai quen. Ông đứng trên cầu giữa giòng xe cộ la hét nhưng không ai chú ý đến ông. Người ta đẩy ông ngã xuống rác. Tôi không biết ông có cảm thấy cô độc không, những lúc ngồi lặng lẽ dưới bóng phượng, nhìn mọi sự đổi thay. Có thể dưới cái bề ngoài điên khùng, thật ra ông đã sống những ngày buồn bã.

Tôi không biết chắc, vì tôi chỉ đứng từ xa nhìn ông mà thôi. Ðó là những ngày tôi rất đói.

9/2003.
Đăng nhập để trả lời
0
Kẻ Cuồng Sĩ Trong Vườn Cây
Phạm Xuân Đài


Hiện nay có lẽ không có một người nào trong giới văn nghệ trước đây ở miền Nam -và có lẽ cả nước- được yêu mến như Bùi Giáng. Những ai từng sống trong không khí văn nghệ ấy, bây giờ sau khi trải qua thực sự một cuộc bể dâu, dù ở trong nước hay ra nước ngoài đều nhớ tới anh như một đám xanh tươi duy nhất còn sót lại giữa một vùng đã bị sa mạc hóa cằn khô.

Có điều lạ là trong những người yêu mến và kính phục Bùi Giáng ấy không ít người chưa từng đọc thơ hoặc bất cứ thứ gì anh viết hoặc đã đọc nhưng vị tất đã hiểu. Không cần. Anh có một ma lực tự nhiên của đấng tài hoa, và ảnh hưởng của anh trong cõi tinh thần của một số đông người là có thực.

Cuộc sống của anh tại Sài Gòn hiện nay là của một cuồng sĩ, khi thì thu mình trong túp lều của anh tại một khu vườn bên Gia Ðịnh, khi thì lang thang vô định trong cơn điên. Những cơn điên như là dưỡng chất cho cuộc sống và đặc tính của anh, nó làm cho anh bùng cháy lên, phát tiết một cách thê thảm những gì có trong anh, sống với anh, là chính anh, mà anh không nói ra được. Ngôn ngữ đời thường bất lực. Chỉ có thơ và những cơn điên. Thơ Bùi Giáng tung hoành bên trên lề thói thi ca, cũng như ngôn ngữ và cử chỉ điên khùng vượt ra khỏi khung khổ của cuộc sống xã hội. Bây giờ anh ít làm thơ lắm, còn các cơn điên thì viếng anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện vùng chợ Trương Minh Giảng (chỗ Ðại Học Vạn Hạnh là nơi ngày xưa anh từng trú ngụ), đứng giữa đường vung tay điều khiển xe cộ, cử chỉ rất linh động, đặc biệt là đôi mắt sáng quắc bừng bừng. Anh đang thể hiện một năng lực nào đấy đầy ắp trong người anh. Có khi anh múa may trong một lớp áo lòe loẹt, động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt nộ với một đối tượng vô hình đang hiện diện ngay trước mặt mình. Ðêm khuya một hai giờ sáng người ta nghe thấy một người vừa đi vừa tranh luận với chính mình, lời lẽ khó hiểu, thì ai nấy đều biết đó là Bùi Giáng. Chỉ có các em nhỏ là im thin thít. Ðối với chúng, "ông Bùi Giáng" là ông ba bị thực sự hiện diện trên cõi đời này. Gầy gò, dơ bẩn, tóc hoa râm có khi dài chấm vai, quần áo tả tơi, hay múa may la hét, đôi mắt sáng rực một cách ma quái sau cặp kính trắng, tất cả thành viên các nhà trẻ vùng chợ Trương Minh Giảng đều thất kinh với hình ảnh ấy. Hình như nhà nào ở khu vực này cũng biết dọa con nít khóc nhè bằng câu "Ông Bùi Giáng đó, nín đi" và câu dọa có hiệu lực tức thì. Nhưng nhiều người lớn khi nói câu ấy thì cảm thấy một nỗi xót xa vô hạn, thương cho một người mà họ biết trí thức và tài hoa, nhưng định mệnh đã buộc anh phải tự thể hiện một cách dữ dội và khác thường như thế. Chính Bùi Giáng sau những cơn điên đều kiệt sức vì đã phung phí năng lực quá nhiều, anh nằm im trong một thời gian, tinh thần tỉnh táo nhưng suy sụp và cảm thấy một nỗi buồn vô bờ bến.

Bùi Giáng sinh năm 1926, con cháu họ Bùi là một tộc lớn gốc ở Vĩnh Trinh, tỉnh Quảng Nam. Năm 1945, anh đang ở độ tuổi hai mươi, vừa đậu tú tài, kết thúc thời kỳ đi học tại Huế. Anh về quê, và trong khung cảnh "lúc kháng chiến xa nhà biệt ly đời gấm hoa," anh bắt đầu cuộc đời chăn bò, chăn dê ở khắp các miền núi rừng, và có lẽ trong chính thời kỳ này anh bắt đầu đi vào thế giới thi ca.

Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
...
Cây lá bốn bên song song từng lứa
Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn
Hạnh phúc với trời đất mang mang
Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ.

Cuộc đình chiến năm 1954 là một vận hội đối với anh. Sài Gòn, thủ đô thời ấy, đang chuyển mình để thành một trung tâm chính trị văn hóa kinh tế lớn, cùng với cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, bao nhiêu tinh hoa của cả miền Nam đang dồn về đây. Các trường đại học được thành lập, không khí văn hóa khởi sắc trước một vận hội mới. Bùi Giáng đến Sài Gòn, hòa nhập ngay vào không khí ấy. Sau chín năm cắt đứt với học vấn đích thực để thả hồn trong đồi sim với bầy bò hoặc sống "Nỗi lòng Tô Vũ" cạnh bầy dê, giờ đây Bùi Giáng trở lại với chữ nghĩa. Thoạt đầu, anh đến với Ðại Học Văn Khoa, nhưng rồi anh tự học. Anh đọc rộng về triết học và văn học, thậm chí tự học tiếng Ðức để có thể đọc nguyên văn các tác giả Ðức, đi dạy Việt Văn, viết sách giảng luận về văn học (các luận đề văn chương), về triết học (Tư Tưởng Hiện Ðại 1962; Heidegger và Tư Tưởng Hiện Ðại I, II - 1963...) dịch sách và viết văn, làm thơ (Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Màu Hoa Trên Ngàn, xuất bản trong các năm 1962, 63). Nghe nói có thời gian anh vẽ tranh. Ðó là một con người sung mãn sáng tạo. Các bản dịch của anh dù là triết học hay văn học đều là các sáng tạo đẹp đẽ để nuôi sống được tinh thần nguyên bản. Trong vòng hai mươi năm (1955-1975) Bùi Giáng đã tạo nên một văn nghiệp đồ sộ, và cũng trong thời gian ấy, lúc nhặt lúc thưa, khi nặng khi nhẹ, các cơn điên vẫn đến với anh. Anh không có gia đình.

Từ sau năm 1975, cuộc sống của Bùi Giáng suy sụp xuống một bực, các cơn điên có vẻ mạnh và thường xuyên hơn. Trong vòng đùm bọc của bà con, anh được cư ngụ trong một căn lều nhỏ làm riêng cho anh giữa một khu vườn đầy cây lá. Chỗ ở thích hợp với anh lạ lùng. Nó như một cái am của ẩn sĩ, như "túp lều lý tưởng" cho một nhà thơ, lại cũng là nơi nương náu đầy may mắn của một kẻ không vợ không con không sản nghiệp. Ở đấy anh được yên tĩnh và tự do. Cái góc xanh tươi kín đáo ấy giữa đất Sài Gòn hỗn độn sau 75 là một món quà đặc biệt mà số phận dành cho một kẻ tài hoa lận đận nhưng rõ ràng là cũng có phước có phần.

Cái ông già gầy gò ngoài sáu mươi ấy lấy đâu ra sức lực để trải qua các cơn điên dữ dội của mình? Ðấy là một điều bí ẩn. Ði lang thang hàng chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đã làm được. Hay là anh được "tiếp dẫn" một lực nào từ bên ngoài? Nhìn anh lúc giữa "cơn" sẽ thấy rõ ràng một mãnh lực trào dâng không thể kềm chế, đôi mắt lấp lánh vừa điên dại vừa thông minh như muốn nói nhiều điều, như đã hiểu thấu nhiều điều. Những giây phút thăng hoa cực điểm. Giây phút một con người có thể thành thần.

Bây giờ Bùi Giáng không bao giờ nói về những gì mình đã trước tác. Với anh những cái đó hình như chỉ có giá trị khi anh đang sáng tạo ra chúng. Xong rồi, quên rồi. Anh là một khối tinh thần đang chuyển hóa chứ không phải là một tác giả thỏa mãn với một sự nghiệp. Nay lo tái bản cuốn này, mai được mời thuyết trình về cuốn kia, anh hoàn toàn chẳng biết một tí gì về những điều như thế. Nếu nói là nói cái bây giờ, mặc dù đó có thể là điều rất cũ nhưng nó phải đang tươi roi rói trong tâm thức của anh. Ðó là chỗ Bùi Giáng rất khác chúng ta, những "người phàm," được hiểu là những con người bám chặt lấy đời sống xã hội với tất cả các hệ lụy của nó. Anh không có gia đình nên chẳng bận tâm về vợ con; không có của cải riêng nên chẳng bận tâm chuyện mất còn; không màng tới địa vị danh vọng (dù là trong văn giới) nên chẳng khổ tâm chuyện hơn thua. Phải chăng như thế anh đã có được các điều kiện căn bản của một bậc chân tu? Bao nhiêu người thực sự thoát khỏi tham sân si như anh? Tinh thần, đời sống, văn thơ anh là một khối không phân biệt, anh đạt đến chỗ nhất quán một cách hồn nhiên. Không biết đó có phải là trạng thái của các bậc hiền triết thời xưa khi tất cả sự sống là một nguyên khối chưa đi vào thế giới ý niệm chẻ nhỏ mọi thứ ra khiến xã hội loài người vừa văn minh vừa điêu đứng? Bùi Giáng hay nói về cõi "lãng đãng phiêu bồng," phải chăng muốn diễn đạt một cách tương đối cái chỗ ngọn nguồn ấy? Trong thơ của anh Bùi Giáng cũng hay dùng hai chữ "cố quận".

Ðất hoa khóc vĩnh biệt người
Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu.

Người đọc dần dần cảm thấy cố quận không còn là một thực thể địa lý của một thời đã qua mà chính là một vùng tâm thức xa xưa nào đấy trong ý thức tập thể của loài người. Ðây là một hình tượng gợi cảm rất Việt Nam bên cạnh các "tro tàn Hy Lạp," "ba người con gái chiêm bao ở bờ cỏ Phi Châu" v.v... rất tân kỳ của anh. Cố quận ở nẻo mù khơi nào? Có phải như Huy Cận đã viết:

Tâm tình một nẻo quê chung
Người về cố quận muôn trùng ta đi.

nẻo quê chung, cố quận, luôn luôn là một nỗi niềm trong thâm sâu mỗi chúng ta?

Có lẽ vì tinh thần không vương hệ lụy, thơ của Bùi Giáng tràn đầy một loại ngôn ngữ tài hoa, bình dị, táo bạo, bất ngờ. Ðôi khi như là lời lẽ dân gian nhưng mang tính chất cực kỳ bác học. Ðôi khi như một lời văng tục nhưng lại cực kỳ tài hoa. Và nhất là không theo một đường mòn nào cả. Mỗi câu thơ Bùi Giáng là một lối lạ mới phá nhưng luôn luôn mang đầy đủ bản sắc của anh. Trong tâm thức lãng đãng phiêu bồng, anh nói ra những ngữ, những điệu thuộc về thế giới của anh. Anh xa lạ với những diễn dịch của trí tuệ, lý luận chẻ sợi tóc làm tư của cung cách học giả. Lời thơ của anh lắm khi kỳ lạ đối với chúng ta, nhưng chúng ta luôn luôn thích thú với sự tập hợp chữ nghĩa ấy, vì thấy nó "hay", gần giống như khi đọc âm chữ Hán một bài thơ Ðường, có khi không hiểu hết nghĩa nhưng tâm hồn vẫn bàng bạc một nỗi cảm hoài. Có thể thơ Bùi Giáng nói được đôi điều rất chân thật với tâm hồn ta, và ta được hưởng ít giây phút sung sướng phiêu bồng mà hầu hết chúng ta đã đánh mất, đã rời quá xa trong cuộc sống đầy phân chia đến chỗ cằn cỗi này. Ta có thể chia sẻ chút nào chăng trong các câu thơ Bùi Giáng viết đã lâu rồi để tự giới thiệu mình:

Hỏi tên rằng biển xanh dâu
Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên rằng một hai ba
Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.

Ngày nay, một cách đùa cợt cho mình là đười ươi, kiểu cách khác hẳn xưa, nhưng điều anh muốn nói hình như không khác:

Hoặc rằng người cũng là tôi
Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười ươi
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay...

Bùi Giáng chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nguyễn Du và truyện Kiều. Nguyễn Du và truyện Kiều đã hóa thân vào anh. Ngôn ngữ Nguyễn Du đã biến thành ngôn ngữ của anh tự nhiên như thức ăn biến thành sự sống của sinh vật. Anh gọi Terre Des Hommes của Saint Exupéry là Cõi Người Ta, tài tình đến sửng sốt nhưng lại tự nhiên như dùng một tiếng Việt vốn có từ nghìn xưa. Không phải là anh "lẩy Kiều" mà là tạo ra một "ngôn ngữ Kiều." Khắp mọi nơi trong thơ anh, ngôn ngữ ấy luôn luôn lãng đãng như gần như xa:

Chiêm bao hội thoại ngân dài
Ý trong tờ mộng nhớ ngày Việt Nam

Trăng Gò Vấp sương Ða Kao
Huệ lan sực nức niềm khao khát chờ
Tưởng bây giờ là bao giờ
Sát na niệm tưởng chép thơ tặng người...

Dấu bèo phong vận nguy nga
Sống phơi trường mộng đầu hoa cuối cành
Dập dìu quân nhạc đại doanh
Ngàn thu rớt hột thập thành trở cơn.

Về sau chẳng biết vân mồng
Ra sao thế nọ phiêu bồng thế kia...


Gần đây một hôm đang trò chuyện với vài người bạn trong khu vườn cây, đột nhiên anh la lớn:
"Nguyễn Du đâu phải như Trần Trọng Kim 'phân tích', vẽ ra cuộc đời Kiều để nhằm gởi gắm tâm sự này nọ của mình! Nguyễn Du khác hơn nhiều, không phải như thế, không phải như thế!"
Tuy anh không nói rõ về Nguyễn Du là như thế nào -thời gian sau này ít khi anh nói mọi điều một cách khúc chiết- nhưng qua mạch câu chuyện cùng là nhìn anh và nghe anh trong lúc ấy, người đối diện phải hiểu rằng theo anh, Nguyễn Du đâu có bận tâm về những chuyện biện minh cho mình về chuyện thị phi ở đời như trung với triều đại hay làm quan với triều đại khác, Nguyễn Du vượt xa cao hơn những cái đó, muốn trình với đời nỗi đau khổ của con người trong thiên thu. Nỗi đau như là bản chất vĩnh viễn của cuộc sống, của vô minh nhưng được miêu tả trong thân phận một con người và một hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể. Cũng cụ thể như những cảnh sinh, lão, bệnh, tử mà thái tử Tất Ðạt Ða chứng kiến trong những lần du hành của mình để làm khởi điểm cho một chứng nghiệm cứu đời vĩ đại. Rõ ràng tác phẩm Nguyễn Du cũng là một phơi bày như thế, một đánh động thê thiết đầy nhân bản về thân phận con người, đồng thời cũng hé lộ cho thấy khả năng đầy lạc quan của nó. (Tìm cách diễn dịch Bùi Giáng như thế có thể là... liều mạng, nhưng biết sao, đành phải cố gắng "hiểu" anh với khả năng trí óc và ngôn ngữ hạn chế đời thường của mình thôi).

Người đọc Bùi Giáng trước năm 1975 tất nhiên rất quen thuộc với các "nhân vật nữ" của anh: Kim Cương, Marilyn Monroe, Phùng Khánh..., toàn là những nhân vật có thật của đương thời. Tuy thật nhưng họ hiện diện trong văn thơ anh, như một hư cấu, như một tượng trưng. Tuy được nhắc đến lúc nào cũng như với chút bông đùa, cái mà họ tượng trưng lại vô cùng nghiêm trang: mẫu thân, mẹ. Phải chăng Bùi Giáng muốn nhắc đến cái nguyên lý sinh sôi và êm dịu -yếu tố Nữ- vốn có trong trời đất qua tên những người đàn bà quen thuộc nổi tiếng ấy? Nhưng đây là thuộc phạm vi tư tưởng. Từ sau năm 1975 thơ anh có nhắc đến một người đàn bà khác nhưng với một cung cách khác hẳn. Không bông đùa mà thân mật. Không tượng trưng mà đầy cảm mến. Và vẫn bàng bạc một tâm tư sùng bái như trước kia.

Tâm tùy thị hiện sát na
Căn do Hoàng thị đầu hoa Chiên Ðàn
Cội trồng ánh ngọc cưu mang
Tờ rung Hoa Tạng dư vang vô ngần.

Hoàng thị... Ðó là một người có thật, trong họ hàng bên ngoại mà Bùi Giáng gọi bằng dì (nhưng tuổi nhỏ hơn Bùi Giáng ít nhất một giáp). Cũng vốn là giòng dõi thi văn, người dì từ lâu đã lấy làm khâm phục ông cháu tài hoa họ Bùi, và nhà thơ của chúng ta, trong những cơn vật vã sau 1975, luôn luôn nhắc đến người dì một cách trìu mến. Ðây lại là một "nhân vật nữ" nữa của Bùi Giáng, nhưng nhờ sự gần gũi họ hàng, nhờ sự chăm nom thăm hỏi từ xa của người dì, nhân vật nữ này trong thơ Bùi Giáng không thăng hoa để thành một tượng trưng của ý niệm triết học mà lại thành một tình thương mến pha nhiều màu sắc trân trọng nặng tính chất đời thường.

Giữ ngọc gìn vàng trân trọng chút
Nghìn thu cổ lục sẽ mai sau
Hoàng Trang Thy Thỵ còn vang mãi
Cùng điểm quần thoa điểm điểm màu

Ân lộc nghìn kho lả lướt chào
Chùm chùm xuân sắc hộ xuân trao
Hồ Hương Ðoàn Ðiểm Thanh Quan huyện
Cùng xiết bao quần cân quắc cao.

Rõ ràng phong cách thơ Bùi Giáng bỗng chững chạc lại trước dì Trang. Hình như đã lâu lắm thơ anh phóng túng như một chàng đãng tử không nhà, bỗng trở nên lễ giáo như một thời nào trẻ trung chàng còn đang vòng kèm cặp của nghiêm đường. Người dì đã làm nhà thơ nhớ lại nếp xưa? Ta hãy đọc bài Hoàng Hoa Giữa Phố mà tác giả làm để riêng tặng dì Trang, để thấy thêm một chút phong cách xưa của anh:

(Màu con mắt bên mùa xuân xiêu đổ
Ở bên kia nhìn ngó lại bên này
Gió lắt lay bốn phương về dồn tụ
Bụi thu mờ ai phủi với hai tay)

Hoàng Hoa phố chợ niệm tình
Chép câu ủy tạ chưa đành bởi đâu
Hoàng Hoa Phố Thị hương màu
Ði thiêm thiếp cõi mai sau lạ lùng
Hoàng hoa tinh thể não nùng
Từ mai hậu với vô cùng Hôm Nay
(Kính tặng Dì Trang)

Và bài Tưởng Niệm, cảm hứng từ một câu thơ của dì Trang:

"Mừng mãi chưa quên nỗi bẽ bàng"
(Hoàng Trang Thị)

Chim xa cất cánh bay vù
Nhớ Lâm Tuyền Mộng đất phù du hoa
(Hồi sinh hồng lệ trao quà
Từ bình nguyên rộng lại nhà thăm nhau)
(Em về mấy thế kỷ sau)
Ngồi bên gốc cây
Ngủ trên ngọn sóng
Ði giữa trời mây
Tần ngần nghe ngóng
(Buồn vui như thể thân mình
Ai chia nửa máu ai giành nửa xương)

Cũng trong khu vườn ấy, một lần Bùi Giáng kể:
"Khi ta còn nhỏ, khoảng bốn năm tuổi, mỗi khi mẹ đi vắng, ta nhớ ghê lắm, ngồi một mình đầu hè trông ngóng mẹ về. Nhưng khi mẹ ta về, bà không ngó tới ta, mà chạy thẳng vào nhà ôm lấy thằng em của ta!..."

Trong Bùi Giáng, niềm khát khao Mẹ không lúc nào vơi, dù là lúc còn thơ hay khi tóc đã bạc. Dù niềm khao khát có thể thăng hoa thành nguyên lý Mẹ phổ quát, nhưng trong đời sống của anh lúc nào cũng cần có những "mẫu thân" nâng đỡ suốt đường đi. Dù các mẫu thân ấy có thực một cách hư cấu hay hư cấu một cách rất thực, thì vẫn là một niềm an ủi êm dịu cho tâm hồn dằng dặc khao khát vỗ về của nhà thơ.

Bùi Giáng như một ngọn lửa cháy liên tục mấy mươi năm nay trong thế giới thơ ca -của anh và của chúng ta. Ngọn lửa có khi thu lại thành một đốm nhỏ, có khi bùng lên dữ dội, có khi bị gió bão lắt lay, nhưng vẫn là nguyên một ngọn lửa ấy từ đầu cho đến bây giờ. Anh không bao giờ tự phủ nhận mình để bắt đầu lại từ đầu -nghĩa là tắt ngọn lửa của mình đi để thắp lên một ngọn theo kiểu khác hẳn. Anh cũng thoát khỏi các hệ lụy của đời thường để không lâm vào cảnh lúng túng hoặc đối đầu khi hoàn cảnh hoàn toàn thay đổi. Ở giữa đời mà quả thực anh không dính dáng với cõi trần. Nếu đừng hiểu chữ ung dung tự tại một cách quá chặt chẽ thì quả là anh đã đạt tình trạng ấy, theo kiểu của anh. Trước sau anh nguyên vẹn. Có thi nhân nào của Việt Nam trải mấy mươi năm qua mà được như anh? Sau tháng Tư 1975, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư... vào Nam trưng thơ tình của mình ra trong cung cách làm công tác để chứng tỏ rằng trong chế độ của họ thứ hàng nào cũng được sản xuất cả. Họ đã trưng một ít hàng-mẫu-không-bao-giờ-bán của một cơ cấu sản xuất toàn là quốc doanh. Quần chúng miền Nam cảm thấy một bãi khô cằn mênh mông. Giữa sa mạc với những viên đá đen đúa lăn lóc, Bùi Giáng trở thành một ốc đảo xanh tươi mát rượi, ốc đảo duy nhất còn lại giữa một miền Nam cháy da sau khi "thằng bán tơ kia dở dói ra" đủ các trò ma mãnh để đổ vào khuôn tất cả mọi sinh hoạt tinh thần. Anh càng lang thang, càng lên cơn điên dữ dội, càng điêu linh tàn tạ, nhưng cùng lúc anh đang đóng vai trò của một sứ đồ tự do, bản thân anh là một bài ca đầy cảm hứng cho nỗi khát khao tinh thần tự do của xã hội. Anh thành một chỗ tựa cho bạn bè cũ và một sức mạnh cảm hóa đối với người mới đến. Anh tượng trưng cho sự "ngoài vòng cương tỏa" mà người văn nghệ chân chính nào cũng thèm muốn. Ngọn lửa của anh được giữ cháy liên tục là biểu tượng cho một truyền thống tinh thần không bị đứt. Ngọn lửa ấy không phải cháy do một thứ nhiên liệu trần thế nào nên các sức mạnh trần thế không dập tắt nó được. Anh như là một loại người nhà trời xuống để giúp con người ra khỏi được tai họa do chính sự dại dột của nó gây ra. Anh không có và không cần hào khí của một dũng sĩ rút gươm đương cự với con chằn tinh gian ác. Nơi anh không có sự phân biệt ta và nó. Chỉ là một khối tinh thần vật chất lãng đãng phiêu bồng.

Nhưng tất cả chúng ta luôn luôn cần và biết ơn cái lãng đãng phiêu bồng ấy.
(Nguồn: http://72.14.207.104/search?q=cache:GCcdVpUT5wIJ:dactrung.net/baiviet/noidung )
Đăng nhập để trả lời
0
Nghĩ về Bùi Giáng, Hàn Mặc Tử và Thanh Tuệ!
Nguyễn Mộng Giác


Trong một bài tạp ghi viết cách đây khá lâu, tôi có ghi nhận mối duyên nợ thắm thiết giữa nhà thơ và nhà chùa. Hầu hết các nhà sư đều thích đọc thơ, làm thơ, in thơ. Hầu hết các nhà thơ, ngược lại, đều có quan hệ thắm thiết với nhà chùa, nhất là vào những lúc nhà thơ gặp cảnh hoạn nạn. Cũng lạ. Tôn giáo nào cũng tuyên xưng lòng thương yêu. Chùa chiền, giáo đường, thánh thất... luôn luôn mở cửa chào đón những kẻ khốn cùng, những người bất hạnh. Một nhà thơ đau khổ cũng tuyệt vọng, xót xa như bất cứ ai, nhiều khi người biết làm thơ ít đau khổ hơn những người không biết làm thơ, vì nhà thơ có thể chia bớt nỗi đau cho chữ nghĩa. Ðau mà khóc được thì mau vơi hơn nỗi đau thầm. Nhưng khi tìm một nơi an trú, hình như các nhà thơ lại có những cách lựa chọn khác hơn người thường. Lý do? Nói như ngôn ngữ nhà Phật, các nhà thơ thường có cái ngã lớn hơn người thường. Dù trong cảnh hoạn nạn, các nhà thơ không thích những đôi mắt nhìn xuống thương hại, không thích bị đối xử như một đứa trẻ mồ côi trong viện dục anh. Thử tưởng tượng một nhà thơ như Alfred de Vigny (tác giả bài Cái chết của con chó sói) hay Tản Ðà (người tự nhận là ông tiên bị giáng xuống trần) mà phải chịu đứng yên cho các bà mệnh phụ ngắm nghía hình hài và xuýt xoa thương xót, chúng ta sẽ thấy hình ảnh đó nghịch lý biết chừng nào. Thi sĩ có thể nghèo đến độ nhìn hoa cúc vàng mà gan ruột cồn cào vì đói như Nguyễn Du, có thể chết dấm dúi trong một chiếc thuyền rách như Ðỗ Phủ. Nhưng phải chịu thu vai bó gối cho thiên hạ nhìn xuống thương hại, thì không. Nhất định không. Thi sĩ thích tìm nơi an trú nào ở đó, anh ta vẫn có thể tiếp tục làm thi sĩ, ở đó không có những ánh mắt thương hại, ở đó khỏi phải ngửng đầu lên mà cầu khấn. Nhìn quanh, hình như chỉ có chùa chiền là nơi an trú thích hợp cho các nhà thơ.

Kể cũng đúng thôi. Vừa qua khỏi cổng chùa, thi sĩ đã gặp một thi sĩ thực thụ (hay một chuẩn thi sĩ) là nhà sư trụ trì. Hai bên đều thầm nghĩ thơ mình hay nhất, nhưng cách định giá chủ quan ấy không làm cho mối quan hệ khó khăn nặng nề hơn, vì đã có một lối phân định ranh giới hợp lý: tôi thơ đời, thầy thơ đạo. Trong thơ tôi nỗi thống khổ lên cao đến hết cung bậc. Trong thơ thầy, nỗi đau chỉ là gió thoảng. Lối xác định rạch ròi ngay từ ban đầu giữa hai thi sĩ không phải là ngẫu nhiên. Nó bắt nguồn từ Phật pháp. Khi Ðức Phật nhận mình chỉ là người dẫn đường chứ không phải là đấng thiêng liêng cứu thế, và mỗi người phải tự đốt đuốc soi tìm đường đi, thì nhà sư trụ trì không thể đứng trên cao nhìn xuống cái thế gian nheo nhóc này mà thương xót được. Mỗi người đều tự tạo nghiệp cho mình, và chỉ có mình chứ không có ai khác có thể cứu mình. Ðạo Phật cũng không đòi hỏi mọi người phải chấp nhận những tín điều mình đưa ra như những chân lý tuyệt đối bất khả tư nghị. Chính Ðức Phật cũng thường xuyên cảnh giác Phật tử, khuyên họ không nên tin theo những điều chính mình cũng chưa hiểu rõ, chưa thông suốt, kể cả những điều đã được người xưa truyền lại, ngay cả những điều đã được ghi trong kinh sách. Tinh thần vô chấp của Ðạo Phật rất thích hợp với khát vọng suy nghĩ và sáng tạo tự do của văn nghệ sĩ. Nhà thơ vào chùa thoải mái, không bị ai chận cửa thu thẻ căn cước, khỏi phải rón rén bước đi vì kinh sợ đấng thần linh, lỡ nói năng ba hoa quá lời cũng không sợ tội phạm thánh vì nhà chùa không có thánh, và nếu không chịu được cuộc sống tu hành kham khổ phải rời chùa, cũng không bị ai chê trách. Ðúng là chỗ an trú lý tưởng của các nhà thơ, khi họ cần một chỗ trú. Vì thế Phạm Công Thiện là khách quí của khắp các chùa lớn chùa nhỏ ở Việt Nam và ở hải ngoại. Nguyễn tất Nhiên lái xe đến chùa trước khi quyết định từ giã cõi đời. Và Bùi Giáng trong suốt cuộc chơi lớn với đời vẫn xem chùa chiền là chỗ dừng nghỉ thoải mái.
Nói như thế, không có nghĩa là khi khổ đau các nhà thơ Việt Nam chỉ tìm tới một địa chỉ: nhà chùa. Nói như thế không công bằng, khi ai trong chúng ta cũng biết bài thơ tuyệt tác Eve Maria của Hàn Mặc Tử trong tập Xuân Như Ý. Trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh viết: “Ðây là mùa xuân trong tưởng tượng, một mùa xuân theo ý muốn của thi nhân, đầy rẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Nhất là ánh thơ. Với Hàn Mặc Tử, thơ có một sự quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng đế mà cũng để nối người ta với Thượng đế, để ban phước cho cả và thiên hạ”. Rồi Hoài Thanh đưa ra nhận xét chung: “Hình như trong các thi phẩm xưa nay có tính cách tôn giáo không có gì giống như vậy”. Hoài Thanh nói đúng. Hàn Mặc Tử là nhà thơ đầu tiên mang không khí Phúc âm vào thi ca Việt Nam. Và cũng là lần đầu người đọc chứng kiến một nhà thơ say sưa dâng trọn đời mình cho Ðức Tin:

Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến
Lạy Bà là Ðấng tinh truyền thanh vẹn
Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế...

Giả dụ Hàn Mặc Tử sống cùng một thời một chỗ với một thi sĩ lớn khác là Bùi Giáng. Trong khi Hàn Mặc Tử dọn mình tinh sạch để “dâng lời cảm tạ phò nguy” lên Ðức Mẹ trong khung cảnh trang nghiêm thiêng liêng của giáo đường, thì Bùi Giáng vung tay huơ chân đùa cợt với Thượng Ðế:

Hôm nay ông Thượng Ðế đề huề
Ngày mai cô độc mỏi mê linh hồn
Hôm nay Thượng Ðế ăn cơm
Ngày mai ông ăn cá cơn cơn cuộc tình
Hôm nay ông ăn nói đinh ninh
Ðàng hoàng rất mực tặng Na Quỳnh bài thơ...

Nhất định không ai cho Bùi Giáng được phạm thánh ở chỗ Hàn Mặc Tử đang cầu nguyện, dù ông được mọi người cho rằng ông điên, khỏi phải chịu trách nhiệm về những điều nói ra. Gọi Thượng Ðế bằng “ông” là một tội lỗi không thể tha thứ được, chưa nói tới vụ bắt Thượng Ðế “ăn cơm, ăn cá, cơn cơn cuộc tình” và sợ cô độc, y như Bùi Giáng vậy. Không ai có thể cao hơn Ðấng Sáng Thế, kể cả các thi sĩ ngông cuồng tự xem mình là trích tiên như Lý Bạch, Tản Ðà.

Không có thứ tài ba nào có thể ở ngoài sự xếp đặt của Ðấng Sáng Thế, cho nên kiểu tự phong ngang xương mà đáng yêu của Bùi Giáng không có chỗ trong giáo đường:

Làm thơ hay nhất trần đời
Cái điên cũng đến tuyệt vời cuồng điên
Cái khùng cũng vậy tuy nhiên
Cái tài hoa cũng muộn phiền lắm thay.

Bùi Giáng chỉ có thể đến nương náu nơi cửa chùa, vì Ðức Phật chẳng những không cấm đoán mà còn khuyến khích cái quyền ngờ vực chân lý có sẵn. Thơ Bùi Giáng bay lượn giữa thực và ảo, nghiêm chỉnh và bông đùa, phóng túng và cổ điển nhờ ông tận hưởng được cái quyền tự do tìm kiếm chân lý và chọn kiểu sống theo ý mình. Ngược lại, thơ Hàn Mặc Tử có giá trị trường cửu nhờ Ðức Tin nhiệt thành của ông. Hai con đường vào thơ cũng là hai cách chọn chỗ an trú. Hai cách chọn khởi điểm để sống trọn đời mình: biết ngờ, và biết tin.

Con đường vào thơ của Bùi Giáng dẫn tới cửa chùa.

Nói cụ thể hơn, không có nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ thì bạn đọc không có cơ hội thấy hết được sự nghiệp thơ đồ sộ của Bùi Giáng. "Cuộc chơi lớn" của Bùi Giáng không dễ tìm được một nhà xuất bản nào chịu bỏ tiền ra in thơ cho ông, ngoài nhà An Tiêm. Có thể nói hầu hết những tác phẩm quan trọng của Bùi Giáng (và cả Nguyễn Ðức Sơn) đều do anh Thanh Tuệ in, dù nhà xuất bản biết không thể lấy lại vốn in đã bỏ ra. Dường như có một trùng hợp may mắn cho văn chương miền Nam trước 1975: một nhà thơ lớn đẩy thơ vào một cuộc chơi lớn, thì ngay lập tức cũng có một nhà xuất bản “chịu chơi” có đôi mắt xanh sẵn sàng bỏ công bỏ sức ra in thành quả khác thường của cuộc chơi ấy. Thời nào cũng vậy, bỏ tiền ra in thơ là một hành động đầy “thi vị”. Nhưng in thơ một cách trân trọng, trang nhã, mỹ thuật như anh Thanh Tuệ lúc đó in cho Bùi Giáng, thì người đi tiếp cuộc hành trình của Bùi Giáng cũng phải có tâm hồn của một nhà thơ lớn.

Phải, tôi tin chắc rằng anh Thanh Tuệ kiếp trước cũng là một nhà thơ. Không, tôi lầm. Không cần phải đi ngược lên kiếp trước. Ngay trong kiếp này, anh “đã là” một nhà thơ. Thi nghiệp của anh là An Tiêm. Mỗi quyển sách anh in ra là một bài thơ, vì hầu hết đều rất đẹp. Rất trang nhã. An Tiêm đã nâng tiêu chuẩn hình thức sách của miền Nam trước 1975 lên một mức cao hơn trước đó rất nhiều, bắt buộc các nhà xuất bản khác phải chú trọng đến cách trình bày bìa, cách chọn kiểu chữ, cách chọn màu giấy, cách bố trí trang... Không phải là nói quá lời, nếu bảo An Tiêm là cái mốc cho trình độ của ngành xuất bản ở miền Nam. Nói đến giá trị hình thức sách, phải nói đến phân ranh “trước và sau An Tiêm”. Tôi chưa thấy ai mê sách đẹp cho bằng anh Thanh Tuệ. Rảnh lúc nào, anh dạo một vòng qua các hiệu sách. Anh dán mắt vào tủ kính trưng bày những cuốn mới xuất bản và vừa phát hành. Anh không quan tâm tới tên tác giả, và nội dung. Anh say sưa ngắm nghía cách nhà xuất bản chọn chữ cho nhan sách, màu bìa, phẩm chất giấy, cách bố cục hài hòa giữa màu sắc và hình ảnh... Cái đẹp của sách là cái nghiệp nặng làm trở ngại không ít cho cuộc đời tu hành của anh. Mê sách đẹp và những tâm hồn rộng, cuộc chơi lớn, anh đứng đợi Bùi Giáng vào lúc, vào chỗ thích hợp nhất, để hai người sóng vai thực hiện một cuộc hành trình mới vào thơ. Anh Thanh Tuệ làm thơ theo cách của anh, chất liệu thơ anh là những trang sách đẹp, và cái mới trong thơ anh là những quyết định in thơ đầy táo bạo và thi vị.

Hậu thế yên tâm thừa hưởng những thành quả của nghệ thuật, tưởng nhớ và biết ơn những nghệ sĩ sáng tạo ra các thành quả ấy. Nhưng hậu thế cũng thường bất công khi quên ơn những người có đôi mắt xanh biết trước mọi người những viên ngọc nằm lẫn lộn trong đám cát bụi đất đá, những người bỏ công thu góp những viên ngọc ấy rồi cặm cụi mài giũa, gắn kết lại thành những giá trị vĩnh cửu.

Với văn chương chữ nghĩa, họ là những người làm xuất bản như anh Thanh Tuệ của nhà An Tiêm.

Nguyễn Mộng Giác (19/08/04)
Nguồn: http://72.14.207.104/search?q=cache:OwI3Y-TGgOwJ:www.phusa.net/vanHoa/vanHoc/VhV22804
Đăng nhập để trả lời
0
Tưởng Nhớ Bùi Giáng
Nguyễn Quốc Trụ


-Em thương anh như thương một ông trời bơ vơ...
(Bùi Giáng )

*

Auden: Gì nữa đây?

Ký giả: Tôi tự hỏi, nhà thơ số một hiện đang còn sống được coi là người bảo vệ sự vẹn toàn tiếng Anh của chúng ta, là ai theo ông?

Auden: Tại sao (không phải là) tôi, lẽ dĩ nhiên!

(Chuyện trò, Mùa Thu 1972).

*

Wilfrid Sheed, trong một bài giới thiệu tuyển tập Nhà văn khi viết, Writers at work của tạp chí The Paris Review, (Penguin Books, 4th series, 1979) đã coi đây như một dịp "xin lỗi người đọc", về một định kiến của ông đối với những bài phỏng vấn nhà văn/nhà thơ tạp chí này thường thực hiện. Bởi vì có lần tác giả viết: những thông tin ở trong đó chẳng khác gì chuyện ngồi lê đôi mách, làm xàm, bá láp về giới viết lách. Chuyện những cây viết chì-số hai của Hemingway, hay Aldous Huxley mặc áo ngủ loại nào, thì đâu có ăn nhậu gì tới văn chương? Nhưng rồi tác giả nhận ra, trong những câu chuyện tầm phào như thế, chứa đựng "nguyên liệu số một", materia prima, của văn chương.

Liệu chăng, chúng ta có thể vượt lên khỏi cõi đời thường, để hiểu được "một ông trời bơ vơ"?

Bởi vì Bùi Giáng, là cả một kho tàng những giai thoại, thường rất đỗi đáng yêu, nhiều khi rất ngậm ngùi...

Trong một bài viết ở trong nước, "một thú vui tao nhã: thú đọc sách ở thành phố Sài-gòn" (cho phép tôi được sửa, một tên gọi ở đây), tác giả Hồng Minh-Hoàng Kim kể, khi tập thơ Lá (1988) của Văn Cao được xuất bản, người yêu thơ náo nức chờ đợi, nhưng dù được nhà xuất bàn Tác Phẩm Mới của Hội Nhà Văn in với số lượng lớn, vậy mà người viết không làm sao không tìm thấy ở đâu cả. Ông/bà không giải thích lý do, nhưng than, (ôi) nỗi thất vọng tràn trề.

Thế rồi một chiều Tr. phóng đến tìm tôi, tay vung vẩy tập thơ. Đúng là tập Lá, bìa của họa sĩ Trần Ngọc Quỳ đàng hoàng. Ở đâu? Văn Cao tặng tao, Tr. đáp, mặt vênh lên như tay chơi chính hiệu. Không tin hả. Thì đây, ở đầu tập thơ vẫn còn nét chữ Văn nguệch ngoạc, thứ chữ của một ông già bị nung đủ lửa. Mà lời đề tặng rất tao nhã, rất thơ: Gửi anh, một chiếc lá đầu - Văn. Cuối cùng Tr. mới thú nhận rằng nó nhặt ở... quầy sách cũ trên đường Điện Biên Phủ, góc đầu Hai Bà Trưng!

Và đây là đoạn về ông trời bơ vơ giữa chợ sách:

Người có nỗi chuân chuyên của người, sách có sự thăng trầm của sách. Tại khu sách cũ Nơ Trang Long một chiều mưa, tôi gặp thi sĩ Bùi Giáng đang chăm chú với một cuốn sách cũ. Cứ ngỡ bậc tiền bối như Bùi tiên sinh thì không còn gì đáng cho ông đọc nữa, nhưng khi ông bỏ cuốn sách xuống đi ra thì tôi lại thấy đó chính là cuốn Tư tưởng hiện đại của... ông. Giở lam nham thấy nhiều trang còn nguyên vết mực tươi, chữ viết ngoằn ngoèo. Thì ra ông tìm đến quầy sách cũ để tiếp tục sửa lại những điều chưa vừa ý trong cuốn sách của mình!

Cá nhân người viết không tin, chuyện "tìm, để" nhưng cảnh tượng ông trời bơ vơ thưởng thức một buổi chiều mưa như thế, bằng những nét chữ còn tươi nét mực như vậy, chắc chắn là có thực. Tôi bỗng liên tưởng tới đoạn Zhivago về già, đi làm công cho một gia đình, gặp ông chủ nhỏ đang cắm cúi ghi chú lia lịa trên những trang sách, giơ tay vẫy vẫy ra ý xua đuổi, đừng làm rộn... nhân lúc vắng người, Zhivago tò mò lén coi: hóa ra là tác phẩm của mình! Hai hình ảnh, về cùng nhà thơ, một mơ tưởng một cuốn sách đẹp thật đẹp, cùng với nó là trách nhiệm của một người viết, và một (hình như) hài lòng vì thấy tác phẩm sống dai hơn mình...

Trong bài viết Bùi Giáng và nỗi lòng Tô Vũ (Thế Kỷ 21, Tháng 11, 1998), Phạm Xuân Đài nhớ lại, kỷ niệm lần đầu ông đọc Bùi Giáng, "vào thập niên 50 trên tờ Phổ Thông do ông Vũ Quốc Thúc chủ trương chủ trương, xuất bản tại Hà-nội trước cuộc di cư năm 1954. [Đây cũng là một chi tiết thật hiếm quí; đa số độc giả, theo tôi, chỉ biết ông lần đầu, qua tập Mưa Nguồn ]. Tuổi học sinh đọc là tôi mê bài ấy ngay, nỗi mê gần giống như khi đọc Những Vì Sao, Les étoiles, của Alphonse Daudet, có lẽ với nhiều cảm động hơn. Một bên là chàng chăn dê giữa rừng núi với tình yêu bầy dê của mình, một bên là chàng chăn cừu với mối tình chớm nở với cô con gái ông chủ. Tuổi thanh niên dễ "bắt" những rung động ấy lắm!...

Theo Phạm Xuân Đài, bài thơ Nỗi Lòng Tô Vũ, kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt - Nam Ngãi Bình Phú gây thắc mắc cho nhiều người. Ông đã từng gặp thi sĩ, nhưng quên nhờ giải thích: về thời gian, không làm gì có chuyện Bùi Giáng đi chăn dê trong 15 năm, về không gian thì cả vùng đồi núi Nam Ngãi Bình Phú là quá lớn đối với địa bàn chăn dê thật của thi sĩ. Và ông đành tự giải thích, xin tóm tắt đại khái: Thời gian và không gian, tuy có thật, nhưng được nới rộng ra. Mười lăm năm, có lẽ là mượn từ Kiều. Không gian, gợi nên không gian Liên Khu Năm thời kháng chiến chống Pháp. Thời gian ấy, không gian ấy sẽ hỗ trợ cho không khí và nỗi lòng của chàng Tô Vũ mới, và làm cho mối tình của chàng với bầy dê đượm một mầu sắc riêng...

Mượn mười lăm năm luân lạc của Kiều để chỉ một thời gian ngắn hơn nhiều của đời mình, Bùi Giáng "có lẽ đã tiên cảm nỗi bất trắc lớn lao của dân tộc trong vòng vây không thoát được của chủ nghĩa CS... Nỗi lòng của Tô Vũ là nỗi lòng của một kẻ đi đầy". Và Phạm Xuân Đài kết luận rõ ràng đoạn đời 15 năm và đồi núi Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú là một lối nói thậm xưng để thành một loại mật ngôn, nhằm chuyển tải một tâm sự. Ngay cả việc chăn dê cũng chỉ là một cái cớ. Nội dung bài thơ chỉ thuần túy nói về việc chăn dê và tình của tác giả với bầy dê, với hình ảnh ý tứ và ngôn từ đẹp, nên thơ, độc đáo. Duy tựa đề và nhất là câu đề từ hơi lạ... nhưng đó chính là một mấu chốt không thể giải của bài thơ Nỗi Lòng Tô Vũ.

Theo tôi những nhận định của Phạm Xuân Đài về bài thơ Nỗi Lòng Tô Vũ: nội dung bài thơ chỉ thuần túy... cho thấy rất nhiều, nếu không là tất cả về nhà thơ, và điều này được khẳng định qua tập Mưa Nguồn, qua những tác phẩm dịch thuật, qua cách ăn ngủ dầm dề với lục bát, cho dòng thơ này làm bạn với chuồn chuồn châu chấu, mẫu thân, người đẹp... Mượn hình ảnh rất đáng yêu, rất ngạo mạn, rất ngổ ngáo, rất "ngồ ngộ" của thi sĩ Anh, Auden, tôi nghĩ, Bùi Giáng cũng muốn trả lời như vậy, khi được hỏi ông muốn gì khi ăn ngủ đi đứng với thơ: ông muốn bảo vệ sự vẹn toàn của tiếng Việt, thoát ra khỏi mọi quyền lực nhằm lạm dụng nó, trước khi nó bị thương tổn nặng nề.

Hãy lấy một thí dụ, bây giờ những người tuổi trẻ ở trong nước, hỏi nhau trước khi đi thăm "em út": Mày có "đạn" không?

Ngay cả những tiếng nói thật bình thường, những danh từ xưng hô như Bác, Cháu, Anh Hai, Anh Ba.... nhiều khi người được gọi nghe thấy gai trên mấy đầu ngón tay...

Thời gian, không gian, và một chàng Tô Vũ chăn dê ở đây, là một vùng đất đã mất (lost domain), nơi tiếng Việt, chàng Tô ẩn náu cùng với bầy dê, trước Kinh Hoàng Lớn sẽ tới.

Lost domain, Vùng đất đã mất, là một trong những ẩn dụ lớn của văn chương. Một huyền thoại của đời sống: Vườn Địa Đàng, Tuổi Thơ, Nàng Công Chúa Xa Vời, hay dùng ngôn ngữ phân tâm học: người mẹ được thánh hóa, lý tưởng hoá của tuổi thơ (chúng ta gặp mẫu thân Kim Cương ở đây).

Thi sĩ như một ông vua, ông trời, như một kẻ sẽ chẳng bao giờ kinh qua địa ngục, sẽ chẳng bao giờ là nạn nhân...

Anh ta chẳng khác gì nhân vật thần thoại Gryphon [Nhân vật mình, chân sư tử. đầu cánh, tai chim ưng, tượng trưng cho sức mạnh, nhanh nhện, và cái nhìn sắc bén.được miêu tả trong Lò Luyện Ngục, Canto XXXI]. Không ngừng là chính mình, anh ta biến thành cái bóng của chính anh ta; Paz viết về thi sĩ. Về kinh nghiệm thi ca: chỉ là mặc khải phận người. [Thi ca và Lịch sử , trong The Bow and the Lyre].

Với Bùi Giáng, một phận người thật yêu thương, đôi khi thật ngậm ngùi. Và hình ảnh nhà thơ nhập vào, là ca dao, Truyện Kiều, lục bát, trên tất cả, là tiếng Việt với tất cả những thăng trầm của nó.

Nói về khùng điên, phải có tài của một thi sĩ.

[Bản dịch tiếng Anh: To speak of madness one must have the talent of a poet].

Michel Foucault

Xin vĩnh biệt nhà thơ.

NQT (tanvien.net)
Nguồn: http://72.14.207.104/search?q=cache:t9EvAQwmVOwJ:www.vietbao.com/main.asp

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-07 23:54:05TTL>
LTS:

Thuở sinh tiền, khi nói đến thơ, nhà văn Mai Thảo thường nhắc nhiều đến Vũ Hoàng Chương và Bùi Giáng. Mỗi người một phong cách, nhưng theo Mai Thảo, đó là những “ngôi sao Bắc Ðẩu trên vòm trời thơ ca của ta”.
Chúng tôi cho đăng lại bài viết này (Văn, số 26 tháng 8/1984, USA) như một hình thức tưởng nhớ đến một người yêu thơ rất mực: nhà văn Mai Thảo, và một người làm thơ tài hoa cũng rất mực: thi sĩ Bùi Giáng.
Cả hai đã ra đi.
Bên kia thế giới, có lẽ nhà văn Mai Thảo lại có dịp mời thi sĩ Bùi giáng một chai bia lớn, và lại sẽ được nghe ông nói, bằng chất giọng Quảng Nam đặc sệt: “vui thôi mà”, như độc giả sẽ thấy, trong bài viết dưới đây.

HỢP LƯU



Một Vài Kỷ Niệm Với Bùi Giáng
Mai Thảo




Bùi Giáng và Thanh Tuệ


Thủ bút của Bùi Giáng



Nhiều buổi chiều Sài Gòn, tôi chẳng còn có thể nhớ đích xác vào những năm nào, đâu như năm 1962, đâu như năm 1965 (nếu sai, nhờ hai anh Cung Tiến, Phạm Công Thiện nhớ lại dùm cho), tôi thường được mời tới những họp mặt ăn nhậu trên căn lầu ngăn nắp, thoáng mát của thầy Thanh Tuệ ở đường Lý Thái Tổ. Mỗi họp mặt với Thanh Tuệ, hồi đó là giám đốc của nhà xuất bản An Tiêm và còn là nhà sư trẻ tươi tắn chưa cởi áo hồi tục, thường vì một cuốn sách. Một cuốn sách mới, vừa in xong chưa ráo mực. Và trước khi gởi sách vào nắng mưa đời, họp mặt An Tiêm với thân hữu là một tiệc rượu lạc thành cho sách.

Những họp mặt vì sách và do sách đó thường có tôi, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Công Thiện, đôi khi Nguyễn Ðình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, và đương nhiên nhân vật chủ chốt là tác giả sách là Bùi Giáng. Tôi chỉ kể tới Bùi Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói, thầy Thanh Tuệ vì một tấm lòng liên tài đặc biệt, chỉ mê thích thơ văn Bùi Giáng, chỉ in Bùi Giáng, dành trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản trước mọi tác giả khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đã in đêm, in ngày, in mệt nghỉ, vì những năm tháng đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung mãn nhất của Bùi Giáng, cõi văn cõi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm, ngôn ngữ và tư duy của Bùi Giáng bấy giờ hiển lộng tới không bền không bờ, vô cùng vô tận, và tài năng ông cũng vậy.

Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương. Vậy mà mỗi lần gặp thi sĩ hồi đó, cảm tưởng bao giờ cũng giữ được là đã gặp một Bùi Giáng rất nhàn rỗi, rất rong chơi. Bước chân vào nhà Thanh Tuệ chúng tôi đã thấy Bùi Giáng ngồi trước đó, tươi cười, ung dung, trong cái phong thái của một người nhàn nhã nhất thế giới, chẳng có một dấu vết nào của một người viết đang gió táp mưa rơi trên ngàn ngàn trang sách. Có như Bùi Giáng trước sau vẫn đang chập chờn với đời như một cánh bướm, lững thững với đời như một áng mây. Có như Bùi Giáng, cái áo vải cũ, râu tóc để mặc, điếu thuốc trên tay, chén trà trước mặt, vẫn chỉ ngồi chơi thảnh thơi ngày ngày với An Tiêm như thế. Sau này, sống với Bùi Giáng nhiều hơn, tôi cũng chỉ thấy Bùi Giáng như hồi đầu thấy ở An Tiêm. Trong một phiêu hốt, một ung dung chưa từng thấy. Có như, trọn một đời cái đầu của thi sĩ không một chút nào dành cho suy nghĩ, bàn tay thi sĩ không một phút nào dành cho cây bút. Có như trang giấy trắng, mặt bàn viết là những vật thể xa lạ chẳng bao giờ ông biết tới. Vắn tắt là Bùi Giáng chẳng làm gì hết, chẳng ai một lần nhìn thấy Bùi Giáng đang làm gì hết. Mà hoàn toàn phiêu bồng, hoàn toàn rong chơi.

Vậy mà cái sức viết hồi đó đến như Bùi Giáng là tột đỉnh, là không tiền khoáng hậu. Vậy mà cái lực viết đến như Bùi Giáng và thấy Bùi Giáng là ngàn người không một, là phi phàm, là vô địch rồi.

Một lần, tôi đem cái điều khó hiểu này ra hỏi một người cũng làm thơ thật nhiều, cũng làm thơ rất đều tay là Thanh Tâm Tuyền. Tác giả Liên Ðêm Mặt Trời Tìm Thấy lắc đầu cười: “Chịu không giải thích được. Chỉ biết Bùi Giáng khác. Với tôi. Với hết thẩy. Là cái chỉ có một. Với tôi là từng bài thơ. Nói đến từng bài thơ Bùi Giáng, bài thơ này bài thơ kia của Bùi Giáng lại là chuyện tức cười lắm lắm. Bùi Giáng là cái hiện tượng dị thường của một suối thơ ăm ắp không ngừng. Ðọc thơ Bùi Giáng cũng phải đọc như thế. Ðứng trên đơn vị từng bài. Bùi Giáng đặt tựa cho từng bài là ngắt thơ ra, ngắt chơi ra vậy thôi. Nói đến mấy ngàn bài thơ Bùi Giáng là đúng. Mà nói thơ Bùi Giáng chỉ có một bài, vô tận vô cùng là đúng hơn. Ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ ra thơ, làm thơ. Ta cứ tạm hiểu cái trạng thái thơ kỳ lạ khác thường ở Bùi Giáng là như vậy.”

Sự ngược nghịch giữa cái rong chơi một đời của Bùi Giáng với cái lực thơ, cái số thơ, cái lượng thơ khủng khiếp làm ra, tôi đem hỏi thêm nhà xuất bản hằng ngày sống cùng Bùi Giáng, rồi đến chính thi sĩ, cũng không được sáng tỏ gì hơn ngoài suy diễn có tính chất phỏng đoán của Thanh Tâm Tuyền. Thầy Thanh Tuệ cũng chỉ lắc đầu cười. “Tôi cũng lấy làm kỳ”, Thanh Tuệ nói. “Anh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Ðêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Nói có máy, có giấy, nói buổi sáng buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm, bảy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc. Ðiều kỳ lạ là không riêng một thể loại mà thể loại trước tác nào anh cũng có ngay sách, dễ dàng và nhanh mau vô tả. Từ thơ đến văn. Từ một cuốn tiểu luận về Camus đến một cuốn tiểu luận về Nguyễn Du. Từ dịch thuật tiểu thuyết đến phê bình triết học. Tất cả như đùa như chơi vậy.”

Nhà An Tiêm suốt mấy mùa sách, hầu như không thở được nữa trước cái viết tràn bờ của Bùi Giáng, điều này ai cũng biết.

Rồi tôi rủ Bùi Giáng tới quán. Ðãi ông uống rượu. Vặn hỏi chính thi sĩ. Ðể cũng chỉ được Bùi Giáng cười cười thích thú trước tìm hiểu có vẻ ngớ ngẩn của tôi. Ông không chịu giải thích, chừng như ông không có gì giải thích, sự thành hình tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đã là của nó. Cười cười, ông đốt điếu thuốc, cầm lấy ly rượu: “Vui thôi mà”. Ừ vui, ba chữ “vui thôi mà” là câu trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất của Bùi Giáng trước mọi tìm hiểu của lực thơ và số lượng thơ không thể tưởng tượng được ở nơi ông, cõi thơ vô bờ của ông trăm phương nghìn ngã mênh mông và chính ông là hiện tượng thân của mênh mông nghìn ngã trăm phương ấy.

Bùi Giáng nói vui thôi mà. Quả vậy, thơ ông vui cực kỳ. Con châu chấu, con chuồn chuồn. Con chuồn chuồn, con châu chấu. Rừng Marylyn. Biển Brigitte Bardot. Ngành Novak. Ðóa John Keats. Ngành Mật niệm. Ðóa U Linh. Hồng Lĩnh Hạc Lâm. Quỳnh Lai Thị Xứ. Thơ đốt pháo bông, ngôn ngữ triệu triệu, như chữ thần diệu:

Người nằm ngủ thấy gì
Thấy rất nhiều nắng lạ

Giấc ngủ đầy nắng, đầy nắng lạ. Bùi Giáng nói vui thôi mà. Thơ ông vui thật. Từ cánh tay áo rộng, thơ bay. Từ trí tuệ gió lộng, thơ phất. Nghìn thu cổ lục. Ngày Hy Nga. Ðêm bé chị. Mọi trên ngàn. Sóng Hồng Hoang. Thềm dục vọng. Thơ ghé thăm đá, thăm bàn ghế, thăm bún bò, thăm lá.

Ghé thăm trái mận ban đầu
Bình minh bắt gặp nguyên màu ban mai

Tiếng thơ sáng rỡ, chói lọi, kỳ ảo, cánh rừng ngôn ngữ ấy suối reo, chim hót, hoa nở, cây ào ào sóng vỗ, sóng từng từng xanh cây, beo gấu rởn nghịch, con chuồn chuồn hóa thân, con châu chấu suy tưởng, những môi nhỏ hằng ngày, gì cũng là thơ, thảy đều biến dạng. Thơ Bùi Giáng vui thật. Một vĩ đại vui. Hãy đọc thơ ấy, như cùng ông đi vào một trận vui lồng lộng. Ðừng cần tìm hiểu. Ðừng cần giải thích. Hãy đọc lại Mưa Nguồn, Bài Ca Quần Ðảo:

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa Xuân phía trước, miên trường phía sau

Sẽ thấy cái vẫy tay chào lấp lánh của thi sĩ. Cái sự “vui thôi mà” trước sau ông chỉ nói vậy, ba chữ này tôi ao ước được thấy khắc vào mộ chí ông khi ông mất đi, ông và giữa con đường vui, không dưới không trên, không đầu không cuối gì hết. Giữa và mùa xuân phía trước, miên trường phía sau.

Thơ là người. Ngoài đời Bùi Giáng cũng thật vui. Thời kỳ Thanh Tuệ chấm dứt, nhà xuất bản An Tiêm tạm ngừng hoạt động, Bùi Giáng gặp lại Thanh Nam, Viên Linh, Vũ Khắc Khoan và tôi ở toà soạn tuần báo Nghệ Thuật và những kỷ niệm chúng tôi có với thi sĩ thời gian này vẫn là những kỷ niệm vui. Lúc này, thần thái ông ấy không còn được rạng rỡ như mấy năm về trước. Cuộc phiêu bồng qua đời sống của ông kỳ dị và tận cùng hơn. Mái tóc ông đổi màu. Mấy chiếc răng cửa bị gãy, nụ cười trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu hóm xa khuất dần với mọi hình hài thực tế. Những con đường trên đó ông đi, cái túi vải thơ nào, những ngã tư ông ngừng lại, tách thoát với nhân thế, tất cả ở Bùi Giáng phơi hiện dần dần một hủy hoại khô khốc, ấy là tôi chỉ biết nhìn thấy ông một cách “hình hài” như vậy, nhưng “vui thôi mà” thì vẫn là rất vui. Ông vào tòa soạn, ngồi xuống ghế, nhìn mọi người, cười trẻ thơ, thường nói khát quá và xin một chai bia uống. Ông uống từng ngụm nhỏ, nói thích chai bia lớn vì uống được nhiều hơn, châm thuốc hút, những ngón tay vụng về lóng ngóng. Uống cạn chai bia, cái túi vải đeo lên và bỏ đi. Ðó là cái đến, cái đi êm ả của Bùi Giáng. Nhiều lần không thế. Ông ra tắm ở cái máy nước trước tòa soạn, thản nhiên trước người qua kẻ lại, quần áo lướt thướt đi qua đường, một đám con nít tròn mắt đi theo. Một lần khác, chúng tôi đi ra ngoài một lát trở về, thấy ông nằm ngủ ngon lành trên hai cái bàn viết kê liền lại. Giấc ngủ dài, quên đời, quên hết, mặc hết, phải đánh thức dậy. Những lần đó, ông ngồi im lặng, bất động, thầm thì “vui thôi mà” rồi lặng lẽ bỏ đi, cái bóng dáng gãy đổ, gầy guộc trong chiều xuống.

Chính là trong cái tình trạng suy nhược đã trầm trọng quá chừng và tiều tụy quá thể này của Bùi Giáng mà chúng tôi bắt đầu cảm thấy quan tâm thực sự đến thi sĩ. Ðến sức khỏe ông, ngày mỗi cạn kiệt. Ðến cách sống ông ngày mỗi tiều tụy. Ðến tâm thức ông, ngày càng bất định. Cuộc vui của ông Bùi Giáng tuyệt vời nhưng chẳng thể phiêu bồng mãi mãi. Phải làm một cái gì về ông. Ðể ghi nhận lại. Về thế nào là cái tiếng thơ trác tuyệt của Bùi Giáng, cõi ngôn ngữ đạt tới hoang đường kỳ ảo của Bùi Giáng. Trong khi còn gần ông. Trước khi ông chẳng gần, chẳng chịu sống cùng ai nữa.

Số đặc biệt về thiên tài thi ca Bùi Giáng phải chờ đến hơn một năm sau, tờ Nghệ Thuật đình bản, tôi sang trông coi tờ Văn chung với Nguyễn Xuân Hoàng mới thực hiện được. Cũng nhờ số Văn này mà tôi mới nhìn thấy và hiểu được sự không hiểu của tôi nói ở trên là sự ngược nghịch giữa Bùi Giáng tháng ngày rong chơi với Bùi Giáng một tuần lễ cả ngàn câu thơ, cả ngàn trang sách. Số Văn ấy, phần nhận định nhờ Thanh Tâm Tuyền, Ninh Chữ, Tuệ Sỹ, Trần Tuấn Kiệt... viết. Bài phỏng vấn Nguyễn Xuân Hoàng thực hiện. Phần giới thiệu những bài thơ mới nhất là tôi. Chưa biết kiếm tìm Bùi Giáng ở đâu, thi sĩ bất ngờ ghé thăm tòa soạn. Ông ấy chỉ còn là da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy. Kéo ông ra trước báo quán chụp chung tấm hình làm kỷ niệm rồi tôi hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Ông gật. Tưởng lấy ở túi vải ra. Hoặc nói về lấy, hoặc nói hôm sau. Tất cả đều không đúng. Ông hỏi mượn một cây bút, xin một xấp giấy, một chai bia lớn nữa, đoạn ngồi xuống, và trước sự kinh ngạc cực điểm của chúng tôi, bắt đầu tại chỗ làm thơ. Ông không chép lại thơ đã làm. Ông làm thơ tại chỗ. Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng viết, thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả. Như thơ không thể từ đầu, từ tim chảy xuống, lâu quá, mà ngay từ ngọn bút từ đầu ngón thôi. Làm thơ ứng khẩu, làm thơ tại chỗ, nhiều người cũng làm được. Nhưng là thơ thù tạc, và chỉ năm bảy câu một bài thôi. Bùi Giáng khác. Chai bia còn sủi bọt, ông ngồi viết không ngừng, tự dạng nắm nót chỉnh đốn, chỉ một thôi đã xong hơn hai mươi bài thơ, chúng tôi cầm lên coi, thấy bài thơ nào cũng khác lạ, cũng thật hay, cũng đích thực là từng hạt ngọc của cái thơ thượng thừa Bùi Giáng. Lần đó, tôi đã hiểu tại sao Bùi Giáng cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lãng du mà vẫn có ngay nghìn câu một buổi. Ðúng là ngủ ra thơ, thở ra thơ, uống la-de, hút thuốc lá ra thơ. Mà thơ không ai sánh bằng, thơ không ai đuổi kịp. Ông uống cạn chai la-de, lập lại ba tiếng bất hủ “vui thôi mà” rồi đứng lên từ biệt.

Mấy tháng cuối cùng trước biến cố 1975, tôi không thấy Bùi Giáng trong đời sống tôi nữa. Chỉ thỉnh thoảng nghe thấy ông vẫn lang thang đây đó, một quán này, một bãi hoang kia, ngủ bất cứ ở đâu, dưới trời sao, ở một gầm cầu, dưới một mái hiên. Có lúc thấy nói ông đeo một xâu chuỗi toàn dày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ như một vòng gai quái dị, đám con nít reo hò chỉ trỏ người điên, người điên. Có khi nghe thấy, ông ẩn lánh ở ngôi chùa vùng ngoại vi thành phố, ăn chay niệm Phật cả ngày không nói.

Ở tình trạng này, anh em chúng tôi, những bạn bè một thời thân thiết với Bùi Giáng, từng đã chén thù chén tạc với Bùi Giáng bao lần trên căn gác đường Lý Thái Tổ của nhà xuất bản An Tiêm, nhận sách tặng của Bùi Giáng, ở với ông và trời thơ trác tuyệt của ông, chúng tôi biết chúng tôi chẳng làm gì cho Bùi Giáng được nữa. Chẳng phải bỏ ông. Ông cũng không bỏ. Chỉ là ông đã đi khỏi, đi xa, vào một trời đất khác.

Hai câu thơ hay tuyệt hay vào tập cho tập Mưa Nguồn:

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau

Ðã mang một ý nghĩa khác. Lời chào như một xa cách vĩnh viễn. Một bỏ đi. Một vĩnh viễn. Cái kho tàng chữ nghĩa phong phú vô tận ở đó Bùi Giáng vừa tạo dựng nên cái thế giới ảo huyền của mình vừa phá hủy tan tành cái thế giới ấy, kho tàng ấy thi sĩ không thèm sử dụng nữa, và chúng tôi chẳng còn con đường nào tới được với ông.

(.....)

Bùi Giáng đã đem lại cho cuộc đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng cõi ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không tận. Ðọc lại Mưa Nguồn, đọc lại Ngàn Thu Rớt Hột, Bài Ca Quần Ðảo, tôi còn muốn bật cười với thơ Bùi Giáng. Vui thôi mà. Ðúng vậy, vui thôi, có khác gì đâu. Mất Bùi Giáng, thơ ta lại trở về với cái hữu hạn đời đời của thơ. Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta, văn học ta còn được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu.

MAI THẢO
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-09 17:46:27Ngọc Lý>
.


Đem tôi đến giữa màu đêm
Giết tôi chết giữa người quên mặt người

Bùi Giáng


Cám ơn TTL đã mang vào đây nhiều bài viết về Bùi Giáng.

Trong một cõi đời, mà một chút tỉnh táo bị lên án,
thì người nghệ sĩ khao khát sự tỉnh thức
sao tránh khỏi không điên?

Tạo ra cho mình
riêng
một vũ trụ,
để được tự do sáng tạo theo đúng cảm xúc, tâm ý của riêng mình
để thực sự
sống

"cho vui thôi mà"

"như một ông trời
bơ vơ"


đã có ai làm được điều này
ngoài Bùi Giáng?

Thản nhiên mở ra những cánh cửa

…Hãy mang tôi đến bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên


Thản nhiên bước vào đêm
để chụp bắt nhiều nắng lạ

Ghé thăm trái mận ban đầu
Bình minh bắt gặp nguyên màu ban mai


Một ngày mùa của văn học Việt
sẽ là ngày mỗi người cầm bút hoàn toàn tự do
trong cõi sáng tạo của
riêng
hồn bút.


Có phải đó là âm vọng từ một cánh chim vừa bay qua đời?


Chim xa cất cánh bay vù
Nhớ Lâm Tuyền Mộng đất phù du hoa
(Hồi sinh hồng lệ trao quà
Từ bình nguyên rộng lại nhà thăm nhau)
(Em về mấy thế kỷ sau)
Ngồi bên gốc cây
Ngủ trên ngọn sóng
Ði giữa trời mây
Tần ngần nghe ngóng
(Buồn vui như thể thân mình
Ai chia nửa máu ai giành nửa xương)
Bùi Giáng



.
Đăng nhập để trả lời
0
Tự do là cái đang là
như ngây như dại bước qua cửa đời
một hôm ướt mộng rong chơi
đầu mày cuối mặt tả tơi dáng người...
- Huyền Nguyên -
Không có tự do thật sự, cũng không có cuồng điên hay tỉnh táo thật sự, mọi thứ thật sự cũng không có gì thật sự nốt. Ấy chính là cõi-Bùi-Giáng.
Riêng tay, kẻ cầm bút ngày hôm nay, cũng như hôm qua, cũng như vạn ngày trước, triệu ngày sau, thấu suốt mọi trời cư lưu, không ai có quyền cấm cản tài hoa phát tiết.
Camus nói trong "Sứ mệnh văn nghệ hiện đại": Muôn đời, nghệ thuật (văn chương) không phục vụ cho một đảng phái nào, không phục vụ cho một giai cấp nào, mà phục vụ cho nỗi thống khổ của con người..."
Nên, chỉ có những người cầm bút bị mất tự do trong chính ngòi bút của họ mà thôi. không phải ai cũng sống được như Bùi Giáng, bởi vì, có phải ai cũng tự đốt cháy mình cho mọi sự thiêu hủy tận cùng của ý niệm tư tâm máy động ta bà như Bùi Giáng?
Quên hết mọi khái niệm, trời Thơ mở ra, chẳng riêng một trời Thơ Bùi Giáng, mà mọi mọi cõi Thơ, đều mở ra như câu kinh kì diệu bát nhã đại huệ siêu linh...
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-11 03:55:39TTL>
Trích đoạn: huyennguyen

Tự do là cái đang là
như ngây như dại bước qua cửa đời
một hôm ướt mộng rong chơi
đầu mày cuối mặt tả tơi dáng người...
- Huyền Nguyên -
Không có tự do thật sự, cũng không có cuồng điên hay tỉnh táo thật sự, mọi thứ thật sự cũng không có gì thật sự nốt. Ấy chính là cõi-Bùi-Giáng.
Riêng tay, kẻ cầm bút ngày hôm nay, cũng như hôm qua, cũng như vạn ngày trước, triệu ngày sau, thấu suốt mọi trời cư lưu, không ai có quyền cấm cản tài hoa phát tiết.
Camus nói trong "Sứ mệnh văn nghệ hiện đại": Muôn đời, nghệ thuật (văn chương) không phục vụ cho một đảng phái nào, không phục vụ cho một giai cấp nào, mà phục vụ cho nỗi thống khổ của con người..."
Nên, chỉ có những người cầm bút bị mất tự do trong chính ngòi bút của họ mà thôi. không phải ai cũng sống được như Bùi Giáng, bởi vì, có phải ai cũng tự đốt cháy mình cho mọi sự thiêu hủy tận cùng của ý niệm tư tâm máy động ta bà như Bùi Giáng?
Quên hết mọi khái niệm, trời Thơ mở ra, chẳng riêng một trời Thơ Bùi Giáng, mà mọi mọi cõi Thơ, đều mở ra như câu kinh kì diệu bát nhã đại huệ siêu linh...



Nếu trời sanh Bùi Giáng thì phải có những người như Huyền Nguyên và càng nhiều người như vậy thì càng tốt phải không? Nếu không thì tài hoa của Bùi Giáng cũng chỉ là tầm thường lẫn lộn giữa những cái tầm thường khác. Ý của ttl : không người thưởng thức ngọc và đá chẳng khác chi nhau.

Điểm chính mà ttl muốn nói là "dân trí". HN cứ nhìn chung quanh xem, ttl không nói quá đâu. Trình độ thưởng thức một tác phẩm văn học của đa số dân VN ở vào thế kỷ 18 trong bối cảnh của thế kỷ 21. Lỗi của Ai & Trách Ai đây?

HN có cơ hội đọc Camus và v..v.. Nhưng bao nhiêu người Việt đã có cơ hội đọc, đừng nói chi đến hiểu. (sách đâu để đọc và kiến thức tổng quát đòi hỏi để hiểu những tác phẩm như vậy ... lấy đâu ra... Những điều kiện này là do cả một quá trình học hỏi, thu thập và trau dồi kiến thức. )

Một tác phẩm như cỡ của Nguyễn Ngọc Tư mà còn không đủ khả năng để "tiêu hóa" thì nói chi đến chuyện Camus.... Một thực tế buồn cho dân VN!!!!!

"không ai có quyền cấm cản tài hoa phát tiết." (HN)

Vâng, có và được đó, chỉ vài ngoại lệ thôi (quá tài hoa) , nhưng bàn thì sẽ không phi chính trị đâu =&gt; ttl ngưng ở đây!!!

Cũng như câu HN trích của Camus

Camus nói trong "Sứ mệnh văn nghệ hiện đại": Muôn đời, nghệ thuật (văn chương) không phục vụ cho một đảng phái nào, không phục vụ cho một giai cấp nào, mà phục vụ cho nỗi thống khổ của con người..."

Có "áp dụng được" hoặc "được áp dụng" ở VN không? (Chỉ riêng cho giới cầm bút hay làm văn hóa thôi).
Câu trả lời là không và lý do chính : PHỤC VỤ CHO CHÍNH TRỊ và CHẾ ĐỘ.

=&gt; Phi chính trị có là một khái niệm có thực không?????
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-11 16:15:58TTL>
Bùi Giáng-những tư nghiệm về người lữ khách cuồng điên.
Huyền Nguyên


*** ( Xin phép Bạn HN nhé ... ttl "sao y chang" lại bài viết và dời sang đây cho đủ bộ... để độc giả nào muốn đọc khỏi mắc công tìm kiếm.)

Gần đây, trong một số mục có nhắc đến Bùi Giáng, người thi sĩ tài hoa đất Quảng. Sự đến và đi của Trung Niên Thi Sĩ trong gần một thế kỉ thênh thang như mây trời. Người viết bài này là một kẻ vô danh ngưỡng vọng Bùi Giáng đã lâu. Góp đôi lời bàn về một đỉnh Thái Sơn, chỉ là lấy tâm trạng của một kính ngưỡng dành cho thiên tài. Và bằng những tư nghiệm riêng tây. Được hay không, đúng hay sai còn để cho lâu dài đáp lời, mù sương thưa thốt. Được nói về những lòng riêng dành cho một anh hoa kiêu bạc đã mất, một ngông ngạo bỡn cợt đã xa, thoả nguyện lắm rồi thay! Còn được tiếng ngân nào giữa lung linh hư ảo như thơ Bùi Giáng:
Ngõ ban sơ hạnh ngân dài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua…
là may mắn vô chừng.
Dưới đây, có trích dẫn vài lời của một vài người viết để luận bàn, tất cả trao đổi được trích dẫn bồng bột ngang xương. Và thật biết, đây chỉ là những trao đổi ngẫu nhiên khi đọc những bình luận của người khác. Nếu có gì không thoả mái, hoặc chẳng đặng lòng, xin cho cáo lỗi thật sâu.

(*): Những dòng được in đậm là bài viết của người khác về Bùi Giáng.
Nguyên.


“Ông là người kết hợp được những lý lẽ uyên áo, trầm mặc của tinh thần phương Đông với triết lý thực nghiệm, thực dụng của phương Tây nên càng về cuối đời, thơ Bùi Giáng càng có những cuộc đảo lộn dữ dội về ngôn ngữ, lật nhào cả những hệ thống quan điểm thơ mà gần như cả một đời ông xây dựng.” (Nguyễn Hữu Hồng Minh)
Nói như thế này là duy lý theo cái kiểu hiểu mà chẳng cảm. Bị Bùi Giáng tiếp không nhiệt tình cũng phải. Quan điểm nào mà Bùi Giáng đã dựng xây suốt cuộc đời mình? Lật nhào là cái gì khi mà vốn nó đã không định dạng được như không khí? Nắm được cái gì, cầm đựơc lẽ chi chi mà có trên có dưới? Để mà lật nhào?
Gần như cả một đời xây dựng? Bùi Giáng suốt cả đời từng nói nhiều lần, đại ý: Làm thơ muôn câu vạn chữ, tóm gọn được trong vài câu mà thôi. Trích dẫn ở một bài khác:
- Từ đây đến chết tao còn một vạn câu thơ. nhưng mày chỉ cần nhớ hai câu này là đủ. và ông đọc:
"Ngày mai cá sống phiêu bồng
Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi"
Cá sống phiêu bồng? Con cá nào trong đại dương tung tăng? Như ngàn con cá đã khuất mặt trong lung linh đáy nước tự do? Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi? Ưng tác như thị quán? Lời Thích Ca? Bóng sương đồng làm sao có thể ngậm? Vậy ngậm được là ngậm cái gì? Phiêu bồng? Miên man bất tuyệt? Thế mới thấy chẳng có gì để nói ngoài một bể cả mênh mông như mênh mông bể cả cho địa hạt thơ Bùi điên…
Nhưng theo ý tôi, "vui thôi mà" chính là khát vọng và bi kịch của một thi sĩ đã "tuẫn nạn trên lộ trình của chữ".
Tuẫn nạn? Lộ trình? Chữ? Tuẫn nạn nghĩa là chết cao đẹp? Lộ trình là đoạn đường đi? Chữ là ngôn ngữ như một khối hàm hỗn bi thống chon von đứng trên đầu đỉnh núi chót vót cô độc? Không có khát vọng của Bùi Giáng đặt trên con chữ, cũng không có bi kịch nào cho đạo hạnh thiên tiên.
“Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc
Nào ngờ đâu ở lại đến hôm nay? “
Đến là vì đã đến. Đi là vì đã xa ngái những tuế nguyệt tiêu tao, trường hận tuôn trào. Mê nguyệt lặn, Thực nhật qua, vời vợi bóng tà? Bùi Giáng không chú tâm tạo chữ mà chữ đến tâm ông, thân ông, ý ông như một ngẫu nhĩ tuỳ thời, nhảy múa đùa ca với kẻ rỡn từ trong ý, thân, tâm tuyệt ngạo.
Vui thôi mà, là ngón tay chỉ cái rỡn không cùng, cái rỡn bi loạn, cái rỡn tịch hạp, cái rỡn não nùng… thẳng tới. Vui thôi mà, là Thôi Mà Vui? Mà Thôi Vui? Vui Mà Thôi? Là … Là như thế trỏ vào, chỉ đến? Xin đừng nói đến bi kịch vì cuộc đời Bùi đười ươi không có bi kịch nào, cũng chẳng có hài kịch, chính kịch gì ráo. Nó là một cuộc đời, và ông đã trọn vẹn hiến dâng cho đất trời uyên mặc cái tình chết lịm từ lúc bước chân ra. Chết lịm vì lỡ lầm từ muôn một tái sinh.
“Lỡ từ hạnh ngộ ban đầu
Lầm từ muôn một qua cầu Tử Sinh…”
Ước mơ của ông là tung hê hết chữ nghĩa để nhảy múa và hát ca… Ông chính là "người thơ" cuối cùng của một thế kỷ và đã ra đi giữa một thời đại đang ngày càng…
Phải, chí phải, nhưng cũng từ đây mà thấy, người viết này đã tự mâu thuẫn với những gì ông ấy vừa viết trên kia. Xin bỏ lửng hai chữ ngày càng cho nó trôi về vô vọng, tuyệt đối vô vọng. Người thơ trọn vẹn đã mang tuyệt bích xa mù đi mãi mãi, còn gì cho những giọt lệ trần gian tiếc nuối chút hương thừa?
Bùi Giáng sinh ra và lớn lên giữa “những dãy nhà rộng thênh thang tường xây bằng đá” . Thời niên thiếu giữa một thiên nhiên phong phú, nhiều sắc thái : sông hồ, đồi núi, ruộng nương là một thiên đường mà Bùi Giáng suốt đời hồi vọng, và gọi là cố quận.
Thênh thang dãy dọc, rộng rãi nhà ngang? Lão Giáng nhà ta có bao giờ tự phát ngôn về gốc tích? Sinh từ sơ ngộ màu hoa, chết từ tử tận ta bà hỗn mang là cái tư nguyện suốt đời lơ lửng của gã giang hồ chịu chơi. Nhưng quả thật, hắn ta có mang giữa mình một yêu dấu cố quận. Cố Quận, hắn chuyên môn viết hoa hai chữ cố quận. Là vì sao? Sao vì lại hỏi vì sao? Có ai biết được tại sao thế nào? Cố quận phải chăng chỉ là ảnh hình của một nông thôn quê mùa chất phác mênh mông cỏ hoa châu chấu chuồn chuồn? Là mảnh đất từ bước chân ra, hay là yêu dấu đất hoa ngút ngàn? Ngút ngàn cũng phải, bởi đâu còn ai thấy mặt cố quận nó ra làm sao? Dài ngắn Nam Tào? Chạm tới là ngỡ như, đi vào là thực thụ. Đặt bước chân lên, đi bằng phiêu linh rì rầm âm vọng may chăng nắm bắt được mớ ảo ảnh hư phù. Nhưng rốt cục, cố quận cũng vuột mất, vụt bay, la đà siêu thực… Suốt đời hoài vọng, như cái lửng lơ sầu âm vọng giữa đêm suông… Thiên đường ấy lão Giáng nhà quê đã mơ thấy mình nắm tay cùng các má hồng thôn nữ, đài các tiểu thư nhảy múa cà rỡn tiệc tùng với Mâu Ni, Khổng Lão Camù (Camus)?...
Mịt mùng một nẻo quê chung
Người về Cố Quận, muôn trùng ta đi.
Ấy ấy, chính nó đấy, kẻ về cố quận, còn muôn trùng phiêu dạt ta đi. Nẻo quê chung là quê chung của đứa nào? Hay cả thảy mọi đứa? Ta đi, là đi đâu? Về cuồng điên phố, rậm rịch phường, lệch lạc tang thương? …
Có lần, Thanh Tâm Tuyền gọi Bùi Giáng là “một thiên tài tự huỷ ghê gớm nhất của thi ca Việt Nam hiện đại” và là “một hồn thơ bị vây khốn”. Bị vây khốn bởi cái gì? Theo tôi, Bùi Giáng bị vây khốn, trước hết, bởi những hoài nghi, những dằn vặt… có điều, khơng ai sống đến tận cùng sự hoài nghi, sự dằn vặt như Bùi Giáng. Thơ Bùi Giáng là những phún thạch phun lên từ hoả diệm sơn của hồn ông. Nhưng khác các nhà thơ khác, Bùi Giáng lại nguỵ trang thảm kịch của mình bằng một giọng cợt nhã, bông đùa. Trong một bài viết về Hàn Mặc Tử, sau khi ghi nhận thơ Hàn Mặc Tử là 'một tiếng thét và một lời than. Tiếng thét đầy máu, tiếng than tràn ngập hư vơ. Lúc hãi hùng khiếp đảm, lúc quạnh quẽ lạc phách xiêu hồn', Bùi Giáng nhắc đến thơ của chính ơng, như một sự so sánh:
”Thơ tôi làm... là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm bão giông một lúc thì lập thời xơ ngôn ngữ thốt ra, phá vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phĩ thác thảm hoạ trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm, bay về Sương Hy Lạp, ghé Calvaire viếng thăm một vong hồn bát ngát, rồi quay trở về đồng ruộng làm mục tử chăn trâu. Làm mục tử chăn trâu khơng xong bỏ trâu bị chạy lạc, phá phách mùa màng khoai sắn, thì tơi chạy về bẩm báo với ni cơ cho phép con chuồn chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong linh hồn bao dung phương trượng. Ni cô xua đuổi tôi thì tôi ra bờ sơng nằm ngủ khò một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao, thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao.”

Thiên tài tự huỷ? Tâm hồn nguy khốn? Vớ vẩn. Có ràng buộc nào đã được mang lên vai để mà gánh nặng? Có hoài nghi nào đã dày vò để mà vây hãm linh hồn gã du tử hoang đàng? Sống trong tận cùng hoài nghi? Không, lão đạo sĩ điên đã khật khùng đem sự điêu linh ra mà bỡn cợt như múa trên tay cây phất trần màu nhiệm, làm loé mắt thảy thảy mọi nguy cơ thập thành. Những con ngươi đã chẳng còn ánh sáng, cái chết đã từ vô tận nảy mầm. Có lần Giáng đã nói về Hàn Mặc Tử với đại ý, Hàn cũng là kẻ điên, nhưng muốn hiểu người điên ấy, hãy thử lân la làm người điên như Hàn. Vậy thực là nguy, chí nguy, khi kẻ tỉnh nhìn người điên đàm bàn phán luận? Đã hẳn. Tiếng “hò tắc”, “hò rì” của thằng mục đồng trên ruộng, phải chăng chỉ những gã quê mùa từng cuốc bẫm cày sâu với con trâu chăm bẵm, mới hiểu ra được lẽ đi chậm đi nhanh qua cái lời vô nghĩa như là…?
Đâu là Tử Trúc Lâm? Chốn nào là Sương Hy Lạp? Hay là Trăng Tỳ Hải? Sương Bình Nguyên? Vì đâu Vân Mồng thi sĩ dịch Othelo của W.Shake thành Hoa Ngõ Hạnh? Dịch chơi? Ni cô thượng thừa phép Phật đã hoá biến cho chuồn chuồn châu chấu mang trên cánh mỏng những âm hao vô tích về vân mấn miên miên? Chiêm bao thơ dại, vì thơ dại là trẻ con không toan tính, là ngây thơ bình minh trên đồng lãng đãng bất tuyệt say mê? Chiêm bao, vì Nam Kha phiêu du hoè huệ lấn chen vào những ranh giới thực tại chơ vơ? Chiêm bao vì một cuộc đời phải chăng cũng chỉ là mộng huyễn xa vời, như tia chớp vụt băng qua bầu không trong đêm giông âm u? Hành trình vô tận đã hơn 5 tỷ năm, sá gì ba vạn sáu ngàn ngày? Dù ba vạn sáu ngàn lại là một vô tận trong từng sát-na tích tắc?
Song tôi có cảm tưởng ít ai bị ám ảnh bởi vấn đề ngôn ngữ một cách nặng nề, triền miên như Bùi Giáng… dường như công việc làm thơ chủ yếu là một cuộc hành trình vượt qua ngọn đèo cheo leo của ngôn ngữ trước khi là bất cứ một cái gì khác. Ngọn đèo ấy không những cheo leo mà còn mù mịt, thăm thẳm…
BG lại có vẻ rất coi thường cái việc làm thơ ấy và chắc chắn là không mấy tin tưởng vào khả năng thể hiện của ngôn ngữ.
Bùi Giáng xáo trộn chữ nghĩa để nói lên một sự thật: ngôn ngữ đang bị xáo trộn, đang bị tha hố… ngôn ngữ còn có tác dụng ngược lại: nó che giấu sự thật…

Bùi Giáng đã chấm ngòi bút nào vào mực se sắt, để viết ra câu thúc giục sương mù? Phố phường nào đã mọc cỏ quanh năm? Ngôn ngữ trong tay người điên khác nào những thứ đồ chơi trẻ con mà có suy nghĩ để vượt qua? Không vượt qua thì còn đâu chỗ để cho những khái niệm cheo leo thăm thẳm? Sự thật nào để che giấu? Tự thân ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng đã là phù phiếm lung tung lẫn lộn, thế thì bằng cách nào Trung niên thi sĩ lại bị ám ảnh triền miên? Nói Bùi Giáng không tin vào khả năng thể hiện của ngôn ngữ lại càng tệ hơn nữa. Không phải là không tin, mà trái lại, Bùi Giáng tỉnh táo một cách say mê biết rằng, ngôn ngữ như một cây cầu bắc qua bờ kênh siêu thoát, phổ độ kiếp nạn nhân sinh loạn trầm mê muội. Phương tiện rốt cuộc không là cứu cánh, nên lắm kẻ bảo rằng, Giáng chỉ là người mất lòng tin vào chữ nghĩa, và phá phách chữ nghĩa, khạc nhổ vào chữ nghĩa đấy thôi…
Giáng xáo trộn chữ nghĩa cũng chẳng nhắm vào việc sẽ nói lên chữ nghĩa đang bị xáo trộn, tha hoá… Khi đã là một trò chơi, thì mọi xáo trộn lăm le càng làm cho mọi thứ trở nên tối tăm hơn bao giờ. Khi nghĩ đang bị xáo trộn, đang bị tha hoá nghĩa là mặc định một luận thuyết, ngôn ngữ phải đẹp, phải trong, phải mong manh, phải lộng lẫy… Không, mọi khái niệm đều mất tích dưới tiếng sấm của mù sương vô bờ đang tràn lan, khi hiện lên một tiếng Thơ vang dội…


(còn nữa)

*******
Hỏi tên, rằng biển xanh dâu
Hỏi quê, rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên, rằng một hai ba
Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm.
(Bùi Giáng)
Mã Giám Sinh là ai? Truyện Kiều đã dựng lên chân dung một gã Sở Khanh đưa nàng Kiều bước chân vào đoạn trường 15 năm lưu lạc. Từ biệt ly gia đình, Kiều đưa mình vào ruồi nhặng phủ giăng. Gã ấm ớ về thân thế có phải là tự dưng Nguyễn Du muốn thế? Có hai lý do để cụ Nguyễn nhà ta muốn như vậy. Một là, Mã Giám Sinh là thằng trộm phấn buôn hường, không muốn cho người biết lai lịch mình. Hai là, Mã Giám Sinh đại diện cho cả một Nghi Ngẫu Tồn Sinh rất mực cát lầm đầy đoạ đẩy đưa. Từ họ Mã, nàng Kiều đi mãi trong gió cát bơ vơ, có lúc chết đi sống lại, có lúc ngỡ được gặp hạnh phúc cứu vớt, để rồi trầm thống u nùng mải miết đến lúc gặp Đạm Tiên bên dòng Tiền Đường, cuộn tấm thân vùi trong sóng nước thả trôi. Thằng họ Mã oan nghiệt? Hay Con Tạo xoay vần trớ trêu? Hoặc Trời Xanh quen thói má hồng đánh ghen? Gì gì đi nữa, thì cái nguyên do đầu tiên cũng chính “cái tên ỡm ờ rằng huyện Lâm Thanh cũng gần”. Bùi Giáng dường như tâm đắc cực kì với vai trò thằng họ Mã, nên viết riêng một bài “thắm thiết” tặng gã như đã thấy bên trên.
Hỏi rằng: người ở quê đâu
Thưa rằng: tơi ở rất lâu quê nhà.
(Bùi Giáng)
Từ 'ở rất lâu quê nhà' đến 'mộng ban đầu đã xa', tư tưởng của Bùi Giáng đã vượt biên, lấn sang một tầm khác. Với một sức oằn khác. (Nguyễn Hưng Quốc)

Đúng là Bùi đười ươi rất ám ảnh bởi vấn đề quê hương như lời tác giả, nhưng ấy chính là cố quận quê chung, chứ chẳng riêng một lý do cỏn con nhớ quê như người ta nhớ nơi cắt rốn thuở oe oe mấy tiếng chào đời. Ơû rất lâu quê nhà so với mộng ban đầu đã xa nào phải là hai ý khác hẳn nhau? Nói tới sự vượt biên, lấn tầm là nói đến sự phát triển tầm thường của ý thức. Sức oằn nào? Mà khác? Mộng ban đầu đã xa có phải là đã muôn trùng xa ngái những sáng láng bản lai diện mục? Tôi ở rất lâu quê nhà có phải là một tên khật khùng đã mang cái nòi tình ban đầu mà đi hoài giữa chiều phố thị đìu hiu nhân ảnh mập mờ? Hai tiếng quê hương phải là dễ hiểu như một ước vọng bình thường của những khách xa nhà, nhớ cô em mọi đã từng yêu thương?

Dẫu sao, ở đây, điều quan trọng nhất là câu cuối cùng: 'đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm'. Mọi sự phân biệt đều bị xố nhồ. Tơi cho đây là đặc điểm nổi bật nhất trong phong cách thơ Bùi Giáng: thơ Bùi Giáng chính là sự xố nhồ của mọi đường biên quen thuộc...
(Nguyễn Hưng Quốc)

Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm. Chính ấy đấy, hột mù sa nào đã ló khỏi hai mép bờ mương giữa đầu tường lửa lựu. Càng thấy rằng, nói tới một sự phân biệt, so sánh nào thì càng xa dần thơ điên lô hoả thuần thanh của họ Bùi. Mọi sự phân biệt đã bị xoá nhoà, thì còn đâu chỗ để mà lấn tầm, vượt biên như chính tác giả vừa nói ở trên? Chính cái nói cho thấu đáo đã tự mâu thuẫn và không minh bạch, lòng vòng, thì mơ gì nhìn nhận, phán xét, như kẻ trịch thượng, đứng bên trên ban bố lời khai thị cho nhân gian mở mắt về Bùi Giáng? Chỉ thiên tài mới nói được cái chân không diệu hữu của thiên tài qua lời vô cực, ý vô thanh, tâm vô tức mà thôi. Có những trớ trêu lộn gan như thế nên Bùi Giáng mãi mãi là huyền thoại, mãi mãi là người khùng thập thành như ông thừa nhận? Mãi mãi là điên loạn siêu việt tươi vui như trẻ nít ngô nghê? …

Lời tỉnh táo, lời mê man
Điệu thê thiết rống điệu bàng hoàng ca…
(Bùi Giáng)

Điệu nào thê thiết mê man, lời nào tỉnh táo bàng hoàng trong mơ? Chẳng có lời nào, hoặc vì có cả hai. Dù thê thiết, dù trường đoạn là đà lả lay, thì mọi giấc mộng cũng kéo tuột con người đi về những ngã u mê vô minh ta bà! Đứng trên cả hai loại ý niệm đau thương và hạnh phúc, mà chính mình còn không tự khái niệm được điều đó, chính là tâm tư của lão điên say tỉnh tỉnh say mơ mộng khật khùng… Nói như Phạm Công Thiện, chính là phá huỷ đến tàn khốc, phá huỷ cả những tư tưởng phá huỷ, để đi vào với cầm ca thi nguyệt mù sương lồ lộ nét ngọc ngà khe mương đào nguyên phong nhị phiêu bồng lâng lâng… Bùi điên làm cho mọi thứ trở nên nhập nhằng, chẳng phải vì thật sự điên, mà vì muốn làm rõ cái trăm sự dở hơi của bọn bới gốc tìm ngọn chữ nghĩa học đòi. Luận lý học trong tay Trung Niên thi sĩ thành ngọn roi quất vào mông lũ học giả ngông nghênh cứ hay trích dẫn khoe mẽ hàm hồ hổ lốn cỡm kệch sáo mòn thái thậm ngu si…
Dù sao, tôi nói dù sao, bởi vì thiên hạ vốn ưa thích dù sao. Cho có mạch lạc. Chứ thật tình tôi chẳng rõ sao gọi là mạch lạc liên tục ngụ trong tính tình của ngôn ngữ dù sao dao sù.
(Bùi Giáng)

Cái này mới chính là ý Bùi Giáng muốn tỏ thị, nhưng nhớ là nghe rồi quên ngay, hoạ may còn lững thững nắm bắt, lơ đễnh rỉ tai được điều gì của Ngàn Thu Rớt Hột Mưa Nguồn… còn âm vọng, chảy từ mạch nguồn khiết trong sơ ngàn cổ độ đăm đăm hiện về… Một mạch nguồn bất tuyệt miên trường bất dịch nhưng lại thay đổi biến chuyển không ngừng hằng phút hằng ngày hằng mỗi chớp mắt nguy nga nguyên truyền. Điều này có thể tạm hiểu như là tư tưởng của Paménide chọi nghịch tư tưởng Héraclite, tác giả của câu nói nổi tiếng mà nhiều người hay đem ra dạy đời kẻ khác: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông.” Vừa thay đổi liên miên bất tuyệt lại vừa nguyên truyền nguy nga, là cái quái thế nào nhỉ? Tầm phơ tầm phào lộn xộn mơ hồ hỗn độn phi lý … đấy chăng? Ưh hưh, có thể như thế lắm thay! Dù Dịch Thể, hay Thường Thể, rốt cục cũng chỉ là cái ý giỡn chơi bồng phiêu của những kẻ rãnh rỗi nói lối bâng quơ trà dư tửu hậu !? …

Ngàn năm độc đối riêng hàng
Tờ xanh ứa lệ đẫm trang xuân đầu
(Khởi từ-BG)


Tờ xanh ngàn năm riêng hàng, viết lên lời thống ca trên ngày mộ địa, Bùi Giáng trở thành người điên đi chân trần giữa cát sa mạc hư vô thăm thẳm dặm dài mà độc thoại riêng tây. Nói một mình, cô độc trơ trọi, tiếng nói vút lên chót vót, rồi sa xuống thâm sâu, nghe lạnh cả sống lưng như tiếng ca não nuột của người xẩm mù trên hè phố trong nhập nhoạng buổi chiều ray rứt đứt ruột tang thương buồn tủi biệt ly tháng ngày! Như cái lời nào trong Hán Văn: “Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh, trường tiếu (khiếu) nhất thanh hàn thái hư…”
Bởi chăng cái lời xuất phát từ Tâm, đi thẳng đến Tâm, đành chịu những phong ba của thị phi điên cuồng gánh chịu ngậm tăm? Gánh chịu, bởi hiểu thì hà tất phải thị phi điên đảo lốc xoáy lầm lạc luôn luôn, khích bác câu nệ thường thường…

Tặng nhau từ ngữ lạc lầm
Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn…
(Bùi Giáng)

Hồng lệ hay huyết lệ? Bình minh một sớm tinh sương? Hay hoàng hôn thắm dạ trường sầu đau? Từ ngữ đã lạc lầm, còn chỗ nào cho lời tỏ ngoại ý hiện thị lõi minh triết sạch thơm vô ngần nắm bắt với đôi tay trần lấm bụi cuộc đời giành giật đuổi xua hững hờ? Khi tặng cho nhau đôi dòng lầm lạc, là lúc phải chăng đã biết những vùng réo rinh gào gọi của biển động trời sôi sẽ úp chụp lên đầu? Tâm ai oán vô thanh về vân mấn, dòng hồng châu phủ suốt những bình nguyên? Ra đi từ những vùng miền, giọt sương lìa lá hoá điên dông dài. Tóc xanh phủ dựng vân đài, phiêu du bất tuyệt dấu hài cỏ bay. Giáng điên ngất ngưỡng tỉnh say, ôm bơ vơ mộng ngửa ngang khóc cười? …
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-11 16:26:06TTL>
Bùi Giáng, kẻ tận hiến

Lời đọc trước mộ
Huy Tưởng




Kính thưa anh Bùi Giáng,
Việc anh dứt áo ra đi hôm nay, theo lẽ biến dịch của vạn hữu, là như nhiên, và đã được chính anh cũng như tất cả chúng tôi ở đây, cùng những ai yêu quí thơ ca Việt Nam trên cùng khắp mọi miền thế giới, đã chuẩn bị trước. Ấy vậy mà, tin anh qua đời, chúng tôi vẫn cứ bị choáng váng, lòng đầy nhớ tiếc và đau đớn tột cùng.

Thưa anh Bùi Giáng.
Ngợi Ca và tuyên xưng anh, dù với lời lẽ lộng lẫy hay hàm súc đến đâu chăng nữa, trong hạn hữu một bài viết và ngay cả những số báo đặc biệt về anh, có lẽ cũng khó lòng với tới tới chốn cao vợi và quảng bác mà anh đã dày công hàm dưỡng và đắm đuối vun đắp nên. Có phải vì lẽ đó đã khiến cho tôi luôn ngần ngại đẻ nói hay để viết về anh (?) Cho dù tôi vẫn thầm hứa trước lòng kỳ vọng anh dành cho, dù vẫn muốn ôm được anh riêng cho mình. Tôi cứ phải thức tỉnh rằng, vốn sống, vốn chữ nghĩa và cảm thức của mình vẫn chưa thể hứng chờ nổi chiếc bóng lồng lộng, đa âm sắc và linh hoạt của anh. Có phải, càng viết nhiều thì càng bày lộ sự thiếu sót trầm trọng của mình trước thiên tài bát ngát nơi anh?

Anh Bùi Giáng,
Mấy lời biện bạch vụng về và hàm hồ như vậy, chẳng biết anh có tạm bằng lòng mà lượng thứ cho tôi?
Xin hãy để cho lòng nhân thế dịu lại sau cái mất mát lớn lao này, nén cơn xúc động, bình tâm để được gần gũi anh một cách chân thật và sâu sắc hơn, từ tốn trước một gia tài độ sộ của thông tuệ và tài hoa ngất trời điên đảo mãi tỏa sáng.
Ngoài những tư tưởng và chũ nghĩa mà anh Bùi Giáng để lại, đã làm giàu có đáng kể cho kho tàng tiếng Việt, anh còn thật sự ghi đậm lên tôi một ấn tượng vô cùng mạnh mẽ, rằng anh là một sinh thể luôn bị lay động và bị cấu xé bởi ánh sáng và lửa tịch mịch, điêu linh với những ám ảnh về lẽ sinh tử không cùng, dấn mình một cách hiên ngang và khốc liệt vào cõi thơ ca. TẬN HIẾN hết cả đời mình cho duy nhất - thơ ca – Từ buổi sơ ngộ đầu đời đến những giây phút cuối cùng về nơi chốn lâm chung – Tận hiến mà không hề nhận lại một sự bù đắp đối đãi nào của nhân thế, trút gửi hết thảy xương máu và hồn phách, lưu lại ở đời như vậy tạm một hình cốt mong manh bi thiết và mộng mị. Với riêng tôi, hình ảnh đắm chìm của tận hiến hung hiểm đó chính là một tượng đài vĩ đại đến khủng khiếp của thiên tài thơ Bùi Giáng.
Nói đến sự Tận Hiến, tôi chợt nhớ ai đó đã nói, đại khái: “Nếu người không chết trong cuộc tại thế, thì người sẽ mất tích, sau khi qua đời”. Và hôm nay, chúng tôi ngậm ngùi kính cẩn tiễn đưa anh – Kẻ Tận Hiến. Kẻ, đã chết trong cuộc tại thế này sang bên kia thế giới, cũng có nghĩa rằng, xin được thay cho người mai hậu, đón chào đấng tài hoa của thế kỷ trước ngàn sau bát ngát...
Trong khung cảnh thiêng liêng và đầy cảm động hôm nay, tôi không dám rậm lời, chỉ xin nói lên một vài cảm nghĩ tận đáy lòng liêm kính của mình để bái biệt anh, xin như góp một chiếc đinh nhỏ cùng nhau treo bức chân dung kỳ vĩ của anh lên khoảng tường lớn trong căn nhà Thơ ca Việt Nam.
Trong ngàn ngàn châu báu anh để lại, tôi có nhớ được một bài thơ anh viết đã từ lâu, tôi quên mất tựa đề, như một lời tạ từ với trần gian cố quận.

Anh Bùi Giáng,
Không có gì hơn bằng chính lời anh, xin được thay anh, tôi đọc bài thơ ấy để anh được ngỏ lời chia biệt với cõi người ta:

Rồi Mai đi về xứ nào chẳng biết
Ðỗ Quang ơi và có lẽ Quyên ơi
Ði lìa xa xứ sở của mặt trời
Thì chuyện cũ cũng như từng biết
Tôi nào biết cội nguồn tôi ly biệt
Dấu tiên nga và ngấn tích tiên sa
Bờ dạt bèo hay bến lạnh trôi hoa
Ngày ngóng mộng hay đêm ngờ máu chảy
Xuân thơ dại hay đông tàn thu gãy
Chút tình xưa Ðông Á mất đâu rồi
Rồi mai đi về xứ nào chẳng biết
Những người em hãy ở lại bên đời
Nô hay đùa xin cứ mỉm hai môi...


Xin vĩnh biệt anh Bùi Giáng yêu kính. Cầu cho hồn anh được siêu sinh tịnh độ, nương theo mây trắng mà về lại với quê nhà, tiếp tục rong ruổi vui chơi trên cõi trời đâu suất...

Huy Tưởng
11/10/98
Đăng nhập để trả lời
0
Thử phác họa đôi nét về cõi thơ Bùi Giáng
HUỲNH HỮU ỦY




Một ngôi văn tinh kỳ dị, lạ lùng, quái đản vừa rụng trên bầu trời văn học. Chỉ cần nói như vậy thì có lẽ bất kỳ ai cũng biết ngay là thi sĩ Bùi Giáng vừa qua đời.

Trong vòng nửa thế kỷ vừa qua, chưa có nhà thơ nào tạo được một bóng dáng lồng lộng trên vòm trời thơ như Bùi Giáng. Ông làm được thơ, viết văn, bàn luận về văn học, triết học, chuyển dịch nhiều tác phẩm văn chương của thế giới sang Việt ngữ. Tất cả đều theo một thể điệu riêng biệt của ông. Văn nghiệp của Bùi Giáng vô cùng đồ sộ. Nội chuyện làm một bảng thư mục Bùi Giáng cũng đòi hỏi chúng ta mất nhiều thì giờ và công phu lắm, chứ chưa nói đến vấn đề gì khác.

Bùi Giáng có một sức đọc và viết vô cùng kinh khủng. Viết liên tu bất tận, ngưng viết thì đọc, ngưng đọc thì viết. Dịch sách Tây, sách Tàu, Ðức ngữ, Pháp ngữ. Cái lạ lùng vô cùng quí báo mà Bùi Giáng mang lại cho chúng ta chính là sự uyên bác, tài hoa, thâm trầm, bí ẩn của ông, tất cả đều nhào biến một cách vô cùng tự nhiên rồi hiện ra trong một vẻ giản dị tài tình của một tâm hồn và ngôn ngữ Việt. Trước bế tắc tư tưởng của Phương Tây cùng sự tràn lan của chủ nghĩa hư vô, ông đã trở về ngọn nguồn phương Ðông nhất thể, trở lại với cái hài hòa của đạo tự nhiên, đạo vũ trụ, mộc mạc, sơ nguyên, ẩn mật nơi tư tưởng vô cùng trầm trọng. Ông gom hết mọi chuyện lại rồi đưa đẩy tuôn trào thành một chuyển động tư tưởng bát ngát, một dòng thơ yêu kiều, thâm thúy.

Tư tưởng và chất thơ cổ kim đông tây tuôn chảy qua tâm hồn Bùi Giáng, biểu hiện thành một dòng thơ độc đáo và tuyệt vời nhất mực. Tinh thể thi ca di động qua một vài đỉnh núi chon von cô độc như Nguyễn Du, Holderlin, Heidegger, Nietzsche, càng bát ngát hơn khi chuyển động qua hồn thơ mênh mông của Bùi Giáng. Mỗi chữ, mỗi lời, từng câu từng tiếng đều là thơ. Lời nói thiệt với tinh thể ngôn ngữ là thơ, mà lời nói giỡn dưới chiếc áo dùng dằng của ngôn ngữ cũng là thơ. Ði, đứng, nằm, ngồi, cười khóc, vui đùa đều là thơ. Lúc không điên là thơ, mà lúc điên vẫn cứ là thơ. Ði cho tới cùng cái sâu thẳm nhất của ngôn ngữ, tới đỉnh cao chót vót của nó, sống với nó trong từng mỗi giây mỗi phút, trong từng mỗi sát na, xưa nay có lẽ chỉ mới có Bùi Giáng là một.

Từ Nguyễn Du đến Bùi Giáng, đường bay của thơ thực là kỳ diệu, mênh mông, vô lượng. Ông là chiếc bóng của Nguyễn Du, hay chính ông đã đẩy Nguyễn Du đến cùng thể tính của thi ca, làm lồng lộng, chất ngất một hồn thơ nước Việt.

Sống với thơ, giỡn chơi với ngôn ngữ để tạo nên thơ. Chữ nghĩa của Bùi Giáng lúc nào cũng có một điều gì đó rất dị thường. Ông chỉ cần sắp đặt những đề tựa tư mục lục một tập thơ của một tác giả khác thì đã mang lại cho chúng ta một bài thơ tuyệt đẹp. Nhưng sắp đặt và xô đẩy chữ nghĩa phải là theo cách của ông, chớ không thể của người nào khác được. Hay ông ngắt câu, ngắt đoạn từ bài thơ lục bát của một người làm thơ khác, biến đổi hình thức thành một bài thơ tự do, tức thời bài thơ ấy sẽ trở nên kỳ dị và đẹp đẽ lạ lùng. Rất nhiều người làm thơ đã biến đổi thể lục bát 6/8 thành 3/3/2/6, 4/2/6/2/ hay2/4/8, hay 6/4/4, hay còn biến đổi nhiều hơn nữa thành 1/2/3/2/2/2/2 thì có lẽ là đều bắt nguồn từ cách giỡn chơi của Bùi Giáng

Cuộc đời của Bùi Giáng và thơ của ông, ngay từ khởi đầu dường như đã có nhiều điều bất thường:

Lỡ từ lạc bước chân ra
Chết từ sơ ngộ màu hoa cuối cùng

Gần đây, thân nhân Bùi Giáng xuất bản tập thơ “Chớp Biển”, kỷ niệm Bùi Giáng vừa đúng 70 tuổi, giúp cho chúng ta nhiều dữ kiện để hiểu biết ông hơn. Hiểu một tác giả qua cuộc đời và hoàn toàn sống của tác giả ấy như phương pháp phê bình của Saint Beuve vẫn còn là một trong những cách thẩm thấu với văn chương rất thông tình đạt lý. Bà Bùi Giáng qua đời cách đây nửa thế kỷ, cảnh ly tan đó đã xô đẩy Bùi Giáng đến những đổ vỡ cùng cực. Bóng dáng người nữ ám ảnh ông suốt đời, để rồi từ đó ông sẽ nghiệm ra được một cách vô cùng sâu thẳm về tính nữ, về nguyên lý mẹ. Nói như Nguyễn Xuân Hoàng ai cũng cần một bà mẹ. Bà mẹ đó cũng có thể hiện ra trong một bóng dáng khác là người chị, cô em gái nhỏ hay chính là đứa con gái của mình. Tất cả cái thiêng liêng và tục lụy của mẫu người nữ đã biến hiện chập chùng qua hình ảnh người vợ, để rồi chuyển động nhiều hơn mà trở thành bà mẹ uyên nguyên của đất trời.

Nhiều lúc ông kể lễ nghiêm trang, đạo mạo, có lúc lại đùa giỡn, cười cợt với hình bóng các mẫu thân, tuy vẫn có pha đôi chút ngậm ngùi:

Mẹ về trong cõi người ta
Một hôm mẹ gọi con ra bảo rằng
Trần gian vui sướng lắm chăng
Hay là đau khổ hỡi thằng chiêm bao.

Giữa những vần thơ điên của ông, dôi lúc chúng ta sẽ tìm thấy những câu thơ vô cùng kỳ diệu nói về bà mẹ thiêng liêng ấy, tất cả đều như rạo rực, sinh sôi, triển nở.

Một hôm nào em mở cửa đầu khe
Và bữa đó đến bây giờ cỏ rạ
Thi nhau mọc mặt trời lên lả tả
Bông lúa chín trong rừng kêu tiếng lá
Chóc chim xanh đòi đẻ trứng bây giờ

Nhắc đến các hình ảnh mẫu thân của Bùi Giáng, tôi cũng muốn nhân đây chép thêm mấy câu thơ rất đẹp của ông về cô em gái nhỏ, mà đọc lên hẳn rằng chúng ta dễ liên tưởng ít nhiều đến người vợ cũ năm xưa đã chia lìa với ông quá sớm, khi họ cùng mới nhau bước chân vào đời. Dĩ nhiên, cô em gái nhỏ ấy cũng có thể là một trong những người nữ Bùi Giáng tiếp tục gặp về sau:

Em là em anh đợi khắp nẻo đường
Em có nụ cười buồn mây mọng
Em có là mi khép lá cây rung
Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng
Hồ gương ơi! Sao sóng lục vô chừng!
......
Em ở lại với đời ta em nhé
Em đừng đi cho ta nắm tay em
Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ
Vào trong mơ em mộng rất êm đềm
Ta sẽ đặt mười ngón tay lên mắt
Ðể nhìn em qua khe hở du dương
Vòng theo máu hai vòng tay khép chặt
Ồ thưa em ta thấy mộng không thường

Cái tang bà Bùi Giáng đóng đinh suốt đời ông. Rồi cùng lúc, ông gặp nhiều điều bất ưng ý giữa một thời đại mà bạo lực là phương tiện hàng đầu của con người.

Thời kháng chiến, ông đi chăn bò giữa những đồi sim ở một vùng đồi núi nào đó giữa miền Trung đất nước, để tự thấy mình là một thứ Tô Vũ của thời đại. Ông kết những vòng hoa dại đeo vào cổ bò, cổ dê, và đùa giỡn suốt ngày với đàn thú hiền từ. Cho mình là Tô Vũ, có lẽ đó cũng là một cách Bùi Giáng nói cho chúng ta biết ông là người bị lưu đày ngay chính nơi quê nhà của mình chứ không cần biệt xứ nơi đâu. Sau này, thỉnh thoảng ông cũng nhẹ nhàng vẽ lại cho chúng ta thấy đôi chút cảnh quan rùng rợn, tang thương của những ngày ấy:

Hãi hùng bi kịch đồi tranh
Trùng quan vó ngựa tế nhanh trong mù
Thây người nát ở phía sau
Nhìn thu khép mắt khổ đau khôn hàn

Rồi hòa bình được lập lại, nhưng Bùi Giáng không còn thể nào trở lại sống cuộc đời bình thường như chúng ta nữa, Những chấn động dữ dội của thời tuổi trẻ đã góp phần dồn đẩy ông tới bờ vực chon von. Ðịnh mệnh đã chọn ông là một thiên tài điên của dân tộc, đẩy ông bước theo Nguyễn Du, để ông kết bạn với Gerard de Nerval, Saint Exupéry, Khuất Nguyên, Tô Ðông Pha, Apollinaire, André Gide, Camus, René Char, để đôi khi nghiêm trang đàm đạo với Khổng Tử, Heracleitus, Parmenides, để sống cuộc đời quỉ khốc thần sầu cũa một cuồng sĩ ngoài chợ, và tuyệt vời nhất vẫn là để viết lại cho đất nước những dòng thơ kỳ diệu độc nhất vô nhị.
Cuộc đời Bùi Giáng và thơ Bùi Giáng chỉ còn chập chùng lên nhau giữa những giấc chiêm bao, phù du, mộng mị. Ông sống ở đời lúc tỉnh lúc điên: lúc tỉnh đã là chiêm bao nhưng lúc điên thì càng là chiêm bao quá cỡ. Trước năm 75, thỉnh thoảng ông mới lên cơn điên nhưng sau 75 cơn điên kéo dài lâu quá. Bà Irina, một phụ nữ người Nga có nhiều liên hệ mật thiết với Việt Nam, khi gặp Bùi Giáng, đã lặng lẽ tuôn chảy những dòng lệ nóng hổi cho một thiên tài mà bà nhìn thấy như hình bóng một Diogenes thời đại, cầm cây đuốc đi giữa ban ngày để tìm chân lý. Chân lý đã bị khuất lấp cả hai mươi thế kỷ rồi, chứ phải đâu chỉ là những ngày trước mắt. Vậy nên, nơi chiếc bàn viết lữ thứ, khi cầm bút viết lại để sống đời của một nhà văn lưu vong, Mai Thảo nhắc đến Bùi Giáng, phác thảo đôi nét về Bùi Giáng rất hay, sống động và tài tình, nhưng tôi cho là Mai Thảo rất nhầm lẫn khi qui tội điên của Bùi Giáng cho những nguyên nhân thời đại:

Và ở Sài Gòn vẫn còn Bùi Giáng
Tối tối về chùa đêm làm thơ
Ngày ca múa khóc cười giữa chợ
Kẻ sĩ điên thế kỷ mù rồi
(Mai Thảo, Viết văn trở lại)

Hãy thử đọc lại vài câu thơ Của Bùi Giáng tự nói về mình. Ông gần như sống giữa một lớp sương mù dày đặïc của những giấc mộng chồng chất. Ông sống như một ông đạo, như một trích tiên, như ma quỉ, hay như một đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ cùng cực:

Ði về với gió phù du
Mở trang mộng mị cho mù sa bay

Quê nhà chỉ còn là giấc mộng đã qua, thân thế cũng chỉ là một nỗi đời hư huyễn:

Hỏi tên, rằng biển xanh đâu
Hỏi quê, rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên, rằng một hai ba
Ðếm là diệu tưởng, đo là nghị tâm!
Ông đã tự hỏi tự đáp về tên tuổi và quê hương thực của mình:
Hỏi tên? – Cổ lục phong trần
Hỏi quê? – Mộng tưởng tiền trình bơ vơ
Ông luôn lập đi lập lại ý tưởng ấy khi có dịp:
Hỗn mang về giữa hiên nhà
Bây giờ cố quận tên là chiêm bao

Cái thế giới chiêm bao mộng mị ấy, có lúc ông chợp bắt được thành những câu thơ rất đẹp:

Ta gọi chiêm bao về mộng mị
Chắp ân tình cho nghĩa rộng tinh sương
Về tuế nguyệt bước ngao du tận mỵ
Người có nghe tang hải réo vô thường?

Sống và mơ giữa thế giới đó, ông vác cần đi câu cá hư vô ngoài biển đông:

Tôi làm Nam hải Ðiếu đồ
Ngồi câu con cá hư vô giữa trời
Ông yêu mến, quí trọng từng đốm nhỏ li ti của trời đất và sự sống, từng cây cỏ dại, từng cánh bướm, cánh chuồn chuồn:
Xin yêu mãi và yêu nhau mãi mãi
Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn.

Khi tỉnh táo mà viết được Tôi nói điệu điên rồ / Ấy là vui vậy thì quả là ông đã thoát ra khỏi mọi phiền trược của cuộc đời, chẳng còn câu chấp chi cả, ông sống hoang hỉ như một đứa trẻ với một nguồn thơ tinh khôi, hồn nhiên, đầy hoan lạc.

Ðọc thơ Bùi Giáng để cảm cái tình và ý của nó, để sống cái thâm diệu của tư tưởng đã hé mở và như luôn hứa hẹn một cõi mênh mông bát ngát dị thường sau đó. Ðọc thơ ông cũng là để thưởng thức chữ dùng cực kỳ tài tình của ông. Có những chữ rất thông tục, tầm thường, nhiều khi chúng ta không muốn sử dụng vì không được nhã, nghe hơi nặng tai. Vậy mà khi những chữ ấy rớt vào tai họ Bùi, không cần tỉa gọt, trau chuốt gì cả, chỉ xô đẩy tự nhiên như hít vào thở ra, thì nó sẽ trở thành thơ. Hãy đọc thử bốn câu thơ sau, chúng ta sẽ thấy ngay cái tài hoa lạ lùng của Bùi giáng khi biến đổi một chữ tầm thường thành chữ của thơ như thế nào. Ông phả vào những cái tài hoa ẩn mật của hồn thơ để mang lại cho nó một sức mạnh vô cùng ký bí :

Người con gái lội qua khe
Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau
Nỗi niềm tưởng lại xưa sâu
Bàn chân với nước cùng nhau lại đè

Chữ khe, rồi lại chữ đè thực là đắc địa. Dùng chữ đến như vậy thì không còn là viết văn, làm thơ nữa, mà đã là thợ trời của chữ. Ngay khi ông lên cơn điên, nhưng chưa điên quá độ, mà mới chỉ trôi nổi giữa những cơn điên nhẹ, ông cũng mang lại cho chúng ta những câu vần vè quàng xiên rất vui vẻ. Nhớ lại những ngày đi chăn bò chăn dê giữa núi rừng, thời trai trẻ, rồi liên kết với việc làm thơ và một số hình ảnh khác, tức thời những hình ảnh và các con chữ sẽ xô đẩy nhau. Ông viết mấy dòng sau, như một bức tranh của trẻ con vẽ, không đầu không đuôi, không luật tắc, thấy và thích thì cứ quẹt bừa, cứ bôi bác bừa những vệt màu và đường nét, vậy mà sẽ mang lại cho người xem nhiều điều lý thú.

Làm thơ như thể chăn trâu
Chăn bò, chăn ngựa, ngõ hầu chăn dê
Chăn hùm thiên mệt chán chê,
Chăn beo, chăn gấu, nghiệp nghề chăn voi.

Ði vào cõi thơ Bùi Giáng, bên những cơn điên dài của ông, giữa những cơn chiêm bao mộng mị, đôi lúc thấy ông điên vậy mà nhìn kỷ lại thì ông chẳng điên chút nào. Vậy nên, có nhiều người cho là Bùi Giáng không điên, như Viên Linh cho rằng ông chỉ chọn một thái độ sống như vậy mà thôi. Trước thế giới Bùi Giáng, chúng ta như đứng nơi một ngã ba đường, hay những lối mòn trong rừng thẩm mà cần phải chọn một hướng đi, mỗi người phải tự định hướng cho riêng mình.

Riêng tôi, lúc nào tôi cũng thấy Bùi Giáng là một thiên tài điên. Ðiên nhưng rất hiền hòa, rất thơ mộng, điên như thánh. Giữa những cơn điên kéo dài lâu quá, ông như không còn phân biệt cái thực và hư. Có một bữa, ông đòi tôi chở về một căn nhà nào đó bên miệt Phú Nhuận để ông cho vịt ăn, vì nhiều ngày quá rồi ông chưa trở về chắc là vịt đói lắm. Trên căn gác tôi đưa ông về, ông rào một chuồn vịt khoảng mấy thước vuông, ông ném gạo cho vịt ăn, nói nói cười cười, rất hoan hỉ, nhưng đàn vịt ấy chỉ toàn là một bày vịt bằng nhựa. Trước năm 75, tôi gặp ông rất thường vì mỗi buổi chiều rảnh rỗi tôi thường ghé Ðại học Vạn Hạnh viếng thăm thầy Tuệ Sĩ rồi cũng tạt qua thăm ông. Lúc nào cũng thấy ông làm việc. Nằm ở một góc nhà, chung quanh đẩy sách vở, đọc đọc chép chép không ngừng nghỉ. Ngoài những cơn cuồng, Bùi Giáng rất lặng lẽ, ghét chuyện thị phi, tranh chấp ô trọc. Tôi còn nhớ khoảng năm 1971, tuần báo tìm hiểu của cô Phan Lâm Hương (con gái út cụ Phan Huy Quát) có thực hiện một cuộc nói chuyện với Bùi Giáng rất hay và nghiêm trang, có thể giúp cho người đọc chia sẽ được nhiều điều với Bùi Giáng. Nhưng sau đó thì có vấn đề, vì bài báo ấy mà một thi sỉ khác, cũng là loại cô phong đỉnh của vòm thơ Việt hiện đại gây hấn với Bùi Giáng quá cỡ. Bùi Giáng sau đó rất sợ mấy nhà báo. Ông than phiền hoài, cho rằng mấy ông làm báo đã kéo Bùi Giáng vào việc thi phi ở đời, từ đó ông không còn muốn gặp mấy người ký giả, viết báo thường thích gây chuyện chộn rộn ở đời.

Bùi Giáng tránh né việc thi phi, và ông rất ghét bạo lực, bạo động, bạo quyền. Hơn 25 năm trước, tôi thấy ông nuôi một đàn chó nhỏ, đi đâu cũng dẫn theo làm chúng sủa vang các hẻm đường, có lúc ông cho luôn hết vào bao bố và vác trên vai làm chúng cũng muốn ngất ngư, ngộp thở, chỉ còn kêu hục hục trong bao. Có lần ông để quên đàn chó ở nhà bà Bé Ký cả tuần lễ làm Bé Ký phải nuôi ăn và chăm sóc rất mệt, hở tay ra là chúng sủa vang nhà không ai chịu nổi. Ðàn chó này, mỗi con đều có tên, và tôi rất kinh hoàng thấy ông gọi con chó xấu xí, nhếch nhát nhất trong đám bằng tên nhân vật số 1của lịch sử hiện đại. Và sau năm 75, chẳng lạ gì khi mà cứ những chổ đông người, chợ búa xô bồ, cuồng sĩ họ Bùi thường đứng diễn thuyết, hùng hồn kể tội cụ HCM mà dàn cầm quyền chóp đỉnh hiện nay.

Tôi cũng còn nhớ, có lần nói chuyện với ông, tôi mới chỉ lỡ lời nhắc đến các nhà nho cách mạng đất Quảng, hai cụ Phan Tây Hồ, Huỳnh Thúc Kháng, thì ông rất tức giận, rồi lên cơn điên ngay, chộp lấy cổ áo tôi, gần như muốn xô tôi xuống từ lầu ba trường Vạn Hạnh.

Qua mấy câu chuyện nhỏ này, tôi cảm thấy rằng, Bùi Giáng chỉ muốn sống với mọi người trong một thế giới thái hòa, an lạc. Ðua tranh rồi bạo động chỉ là mầm mống của phân ly, mất quân bình và rối loạn. Ông yêu thích cuộc sống lặng lẽ tự nhiên, như một đôi lần tôi thấy ông len lén chào mấy người đệ tử của ông Ðạo Dừøa với một vẻ hỉ hoan bất tận bộc lộ ra trên khuôn mặt. Ông chào rất kính cẩn mấy ông đạo này, những người đã tự phát nguyện tịnh khẩu vài ba năm, có người quyết tịnh khẩu cho đến khi nào hỏa bình được lập lại mới sẽ mở miệng, cất tiếng với đời.

Bên trên là vài giai thoại về Bùi Giáng bởi vì đề cập đến Bùi Giáng mà không nhắc qua các giai thoại dính dáng đến ông thì quả là thiếu sót. Mới đây, trên việc báo kinh tế số ngày 17 tháng 10 năm 1998, ông La Toàn Vinh, cựu sinh viên trường Mỹ Thuật Gia Ðịnh nhắc lại vài hình ảnh Bùi Giáng mà ông bắt gặp ở Sái Gòn trước đây, đọc rất vui. Ðọc đến chổ Xuân Diệu diễn thuyết trong khuôn viên trường Mỹ Thuật, ông đi tới đi lui ngoài cổng trường và chửi đổng “Mẹ mày Xuân Diệu...Mẹ mày Xuân Diệu”, tôi đã phải cười phì và nhớ ngay đến dáng đi điệu nói, tiếng cười của ông.

Có thể không cần đọc Bùi Giáng, mà chỉ cần nghe những giai thoại về ông thì cũng là đủ để sống được chất thơ và đời thơ của Bùi Giáng. Những giai thoại như thế, nếu cất công đi ghi chép lại nơi bạn hữu, thân nhân của Bùi Giáng và trên khắp đường phố Sài Gòn thì có lẽ chúng ta sẽ có cả một quyển sách dày như tự điển, góp phần phong phú đời sống văn học đất nước trước mắt và cho cả mai sau.

Chúng ta vừa đi qua một vài nơi giữa khu vườn bát ngát mênh mông của cõi thơ Bùi Giáng. Khi viết bài này, chúng tôi rất tiếc là không có trong tay tài liệu gì về Bùi Giáng, chỉ đành nhặt nhạnh mấy câu thơ nới các bài báo gần đây, tuy nhiên cũng hy vọng là đã vẽ phác được đôi nét về ông, làm sống lại đôi chút hình ảnh một thiên tài của dân tộc.

Bùi Giáng là thiên tài nhưng là một nhà thơ điên, vì vậy ông viết quàng xiên nhiều quá. Nhưng cũng chẳng hề gì, mấy ngàn trang sách của ông chỉ cần lọc lại thành một tập thơ nhỏ, rồi với tập thơ ấy chỉ cần tinh lọc thêm một lần nữa để chỉ còn lại chừng mươi bài, thì với mươi bài thơ ấy ông cũng đã là một nhà thơ lớn bậc nhất của thời hiện đại, một vì sao lấp lánh rạng rỡ mãi hoài trên vòm trời thơ của dân tộc Việt.

Viết xong ở gác nhỏ đường Hồ Tây,
Thành phố Vườn, ngày 19.10.1998

HUỲNH HỮU ỦY


Tái bút: Bài viết trên đây đã gởi đi để kịp chuẩn bị sắp chữ và lên khuôn trong số báo tới vì tình cờ tôi vừa tìm lại được tờ Tạp Chí thơ số ra mắt vào mùa xuân 1994 có in một bài viết rất hay của Thanh Tâm Tuyền về Bùi Giáng cùng với hai bài thơ của Bùi Giáng. Tôi chẳng thể nào không viết thêm mấy giòng tái bút này, dù biết có làm phiền hà tòa soạn trong việc sắp xếp lại trang báo trước khi đưa đi in, để trích lại ở đây một đoạn văn của Bùi Giáng mà Thanh Tâm Tuyền đã trích dẫn cùng một bài thơ của Bùi Giáng mà Tạp Chí thơ đã chọn để in lại.
Ðây là bài thơ Bao Giờ của Bùi Giáng:

Bằng bút chì đen
Tôi chép bài thơ
Trên tường vôi trắng
Bằng bút chì trắng
Tôi chép bài thơ
Trên lá lục hồng

Bằng cục than hồng
Tôi đốt bài thơ
Từng giờ từng phút

Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không

Quả là một bài thơ tuyệt đẹp với những hình ảnh tự động xô đẩy đuổi bắt nhau. Những hình ảnh chuyển động trên một đường biên của hữu thức và vô thức. Ảnh tượng và sắc màu rất cụ thể mà rõ ràng là vô thực và đầy mộng mị. Tất cả là để dẫn đến một dấu hỏi về cuộc đời và ý nghĩa nhân sinh, đầy khúc mắc và nhẹ nhàng, tế nhị, và vô cùng bao dung. Có thể nói đó là một bài thơ siêu thực hiện đại mà vẫn chứa chấp một cái hồn cổ kính thơ mộng.

Và đây là mấy ý kiến về thơ của Bùi Giáng mà Thanh Tâm Tuyền đã dẫn:
“Thơ là một cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn thì được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng thơ. Thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phác động một trận mưa rào, một cơn gió thu. Mà muốn thực hiện sự đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép gì khác. Thế có nghĩa là muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác.

Người xưa am hiểu sự đó, nên họ chỉ vịnh thơ chứ không điên rồ mà bàn luận về thơ. Người đời nay trái lại. Họ buộc phải luận thơ có mạch lạc luận lý không được “bốc đồng”, vịnh lăng nhăng cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghị vậy”.

Thơ tôi làm chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Ði vào giữa trung tâm bão dông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vay áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu, chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên cánh bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm, bay về Sương Hy Lạp, ghé Calvaire viếng một vong hồn bát ngát, rồi quay về đồng ruộng làm mục tử chăn trâu.

... Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vẫn bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao”

Có lẽ chưa từng có ai bàn về thơ với giọng điệu dị thường như vậy. Ông mở ra một cõi mênh mông, thăm thẳm, mà mời gọi ngưòi ta bước vào. Và tôi hết sức đồng ý cũng như thích thú với mấy lời của Thanh Tâm Tuyền:
“Ðừng có nghĩ, hãy buông mặc theo ông, như ông đã từng buông mặc trong trận đồ kẻ trước. Ông luôn luôn nhắc nhở nơi ông là những bóng vang ai khác. Và ta hãy là bóng vang của ông”.

Xin cảm ơn thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, chỉ với bài viết “Bùi Giáng, một hồn thơ bị vây khốn” rất ngắn của ông, đã soi sáng cho tôi nhiều điều về cái sâu thẳm không cùng của nhà thơ Bùi Giáng. Vậy thì, hãy bước vào cõi thơ Bùi Giáng bằng cách trút bỏ tất cả hệ lụy, vứt bỏ những phân tích phê bình, lý luận để mà hít thở và mơ mộng cùng ông, để phiêu bồng cùng ông qua những chân trời không cùng của thơ.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-13 05:26:58TTL>
Bùi Giáng: Một vùng đất hẹp và một thế giới
NGUYỄN HOÀNG VÂN




Nhớ lại cái lần ngược dòng sông Thu năm ấy. Cái lần lạc về đầu rú khe truông mà lòng cứ vẩn vơ mơ về những thị thành thấp thoáng trời xa. Thuyền qua Trung Phước; một bên là Đại Bình với những vườn cam đỏ ối, một bên là chợ que một sớm mai náo nhiệt. Rồi núi Cà Tang sừng sững trước mặt. Dòng sông đã xanh mà hai bờ cũng xanh. Xanh với những bãi ngô, dâu và những rặng tre già lặng lẽ soi mình. Thuyền ngược nữa, ngược nữa. Mỏ than Nông Sơn thấp thoáng bờ xa với những mái ngói nhấp nhô sườn đồi, chói chang dưới ánh tà huy. Và cậu thanh niên mới lớn nhưng lắm mơ mộng phải nhíu mày để hình dung cho ra những phố xá kinh kỳ dọc theo Danube đôi bờ, con sông xanh mơ mộng với những điệu luân vũ rập rờn sóng nước mây chiều…

Rồi cái đêm hôm ấy, cùng người bà con trên chiếc ghe neo dọc triền sông. Ngược lên phía trên, về phía Mưa Nguồn, là Dùi Chiêng, Trà Linh, là Hòn Kẽm, Đá Dừng; những cái tên đã đi vào ca dao: Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng/ Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi. Không gian trầm lại, thoang thoảng mùi rượu nếp chua chua. Tiếng cá quẩy nước. Làn gió vi vu trên những giọt trăng lấp loáng đùa sóng. Khung cảnh êm đềm quá, êm đềm như thể lạc lối thiên thai. Nhưng lòng Lưu Nguyễn vẫn còn vướng nợ trần, không chút tha thiết với cảnh trăng nước bồng lai, cứ mơ tưởng về phía ánh sáng kinh kỳ chốn trời xa; những đại lộ tân kỳ náo nhiệt hay những mái ngói rêu phong già hằng thế kỷ, những tháp chuông cổ kính dọc theo hai bờ con sông xanh chảy qua bảy nước…

Đã mười mấy năm rồi kể từ ngày ấy. Cái ngày mà mái đầu hãy còn xanh ngắt với tâm hồn luôn ấp ủ giấc mơ về đôi cánh bay lên và những phương trời thật xa… Nhưng lúc đó, và cả trước đó cũng như bao nhiêu năm sau đó nữa, có một đôi mắt hun hút chiều sâu, một tâm hồn si dại những hoài niệm luôn hướng về về mãnh đất có con sông mang tên Thu Bồn chảy qua ấy. Thân xác đã phiêu bạt ở một góc trời cách xa. Tâm thức còn phiêu bồng xa hơn nữa. Người ấy đã cùng cậu hoàng con của Exupéry la đà bay qua những tinh tú chi chít trên giải ngân hà. Đã chấp cánh sang tận vòm trời tư tưởng Aâu Châu để băn khoăn cùng những Hiedegger, Holdeline hay Camus v. v…Trong cõi thơ, người ấy đã lui về hai trăm năm trước để thổn thức cùng Tố Như, đã lấn bước về phía trước, vượt lên những bước chân của thời đại khi giờ đây người ta cố công đào xới với những cái nhìn vượt qua khuôn khổ của ý thức hiện đại.

Người đó là Bùi Giáng. Con người với đôi mắt và nguyên khối tâm hồn đăm đăm về nơi đầu rú khe truông; nơi dêm nào cậu trai mới lớn cảm thấy tù túng mà mơ tưởng về những chân trời góc bể xa xăm:

Những trận nào Trà Linh qua Đá Dừng Hòn Dựng
Dùi Chiên về Phường Rạnh ngược Khe Rinh
Bao lần anh cùng chúng em lận đận
Bôn ba băng rú rậm luống rùng mình
Những bận nào Quế Sơn Rù Rì con suối ngược
Nước trôi nguồn nước lũ cuốn phăng phăng
Những bận nào mịt mùng mưa gió ướt
Đẫm thân mình co rúm lạnh như băng
(Nỗi Lòng Tô Vũ)


Mảnh đất đó gắn chặt với Bùi Giáng đến nỗi nửa thế kỷ Sài Gòn không hề làm loãng đi chất giọng Quảng Nam Doáng bô nhiêu tuổi Doáng già. Nơi một Doáng trẻ đã từ giã và một Doáng già đau đáu nhớ nhung:

Nhắm mắt mơ màng thấy viễn vông
Thấy tình rộng biển nghĩa dài sông
Vu vơ khắp ngã nghe chim hót
Ca khúc phì nhiêu đất ruộng đồng
(Nhắm mắt)

Đó, mảnh đất của tình biển nghĩa sông mà nhà thơ đã:
Non nửa thế kỷ xa quê
Mà chưa có dịp về quê một lần
Bảy mươi mốt tuổi tần ngần
Nước non Nam Việt chiếm gần trọn tim
Về Trung biết chốn nào tìm
Lại ngôi nhà cũ láng giềng đã qua?
Giật mình lúc chợt nghĩ ra
Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi…
(Tâm Sự)

Non nửa thế kỷ với biết bao là phù du dâu bể, biết bao là tử biệt sinh ly? Nhưng quê nhà vẫn đợi đứa con lưu lạc Sài Gòn quyến rũ tôi chưa chịu về:

Gió trăng sông núi đợi ta
Chờ sương nhị nguyệt màu hoa dâng mùa
Một mình vào núi đợi mưa
ĐợÏi nghe chớp biển xế trưa mưa nguồn
Phồn hoa co nhớ đèo truông?
………
(Nhớ Mông Lung)

Đèo truông vẫn có đó, trong lòng người phồn hoa. Và cả gió trăng, gió trăng vẫn đợi; nhưng người đi cứ mãi chần chờ:

… Trút đi bất tuyệt triền miên cõi bờ
Thị thành tiên cổ thành thơ
Thôn làng thiên lý chần chờ chiều hôm
Một hôm bất chợt một lần
Rụng rời ký ức bậc tần rong rêu
(Rong Rêu)

Chần chờ bởi cứ mãi nâng niu niềm vui hạnh ngộ, như thế nâng niu như một thứ gì quý giá. Bởi sợ nó sẽ tan biến, sẽ mất đi:
- Ủa! Anh Sáu Giáng! Anh về lúc nào?
- Mới vừa về một phút
- Ở Sài Gòn về chơi, anh đi bằng phương tiện gì? Xe đò? Tàu Bay?
- Anh đi bộ. Đi bằng hai chân
- Đi trong bao lâu mới tới?
- Ròng rã suốt hai tháng trời
………………….
- Sao anh không đi xe đò cho chóng tới nơi?
-Anh muốn tư từ thong thả. Vừa đi vừa ngắm phong cảnh
dọc đường. Và cũng cố ý kéo dài để dành?
- Để dành cái chi?
- Để dành cuộc gặp gỡ sau nhiều năm xa nhau. Đừng gặp vội…
(Thôn Nữ – Chuyện chiêm bao)

Và thế, ngày về Bùi Giáng cũng chỉ là những hẹn hò, những đính ước cùng biển nước mây trời:
Ngày nào có nắng gió mưa
Anh về trở lại làng xưa tỉnh nhà
Gặp em như mới hôm qua…
(Anh Sẽ Về Thăm)

Bao giờ mới có nắng mưa? Khác nào Hồ Dzếnh với những hẹn hò lần lữa “em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé?” Khác nào khúc nhãc dạo cho bản romance một đời người mà những tiểu thư đài các ngồi mơ màng chờ đợi bên cửa sổ? Cái ngày về để dành lần lữa ấy cũng chờn vờn và siêu thực khác nào mộng mị chiêm bao? Khác chăng, là đoạn prelude mở đầu cho khúc romance một đời người của các tiểu thư bao giờ cũng ướt đẫm những hương hoa và loạt soạt những xiêm váy lụa là; với Bùi Giáng, giấc chiêm bao ấy trở nên cụ thể, mộc mạc và chân tình. Mộc mạc và chân tình như chính những đứa con của mảnh đất Quảng Nam:

Đi về làng xóm năm xưa
Viếng thăm quê cũ người chưa quên người
Người hỏi tôi: Từ đâu ông đến đây?
- Thưa cô thôn nữ từ đây tôi về
- Ủa phải anh Sáu Giáng đó không?
- Và cô có phải là cô Bông năm nào?
- Anh còn nhớ rõ ôi chao!
Vợ chồng tôi cũng lúc nào nhớ anh
Anh điên mà dzui-dzẻ thập thành
Chúng tôi tỉnh táo mà đành buồn hiu.
(Đi về làng xóm)

Trong Bùi Giáng, quê nhà vẫn còn nguyên vẹn. Nguyên vẹn như ngày mới cất bước ra đi cho dù bể đời phù du đã đầy vơi mấy chặng. Nguyên vẹn như tấm lòng của vợ chồng cô Bông “cũng lúc nào nhớ anh”. Nguyên vẹn với những địa danh gắn chặt với tình yêu ban đầu:

Điện Bàn Đại Lộc Duy Xuyên
Xiết bao tình nghĩa thần tiên mộng đầu
Vĩnh trinh Lệ Trạch Thanh Châu
Thi Lai Hà Mật nhìn đâu dáng người
Người đầu tiên đã mỉm cười
Nhìn tôi tưởng thấy niêm vui vô cùng…
(Ký Ức)

Vọng về nẻo quê xưa, ấy cũng là vọng về cái thời trẻ dại đã đánh mất:
Xuân xanh về khóc giữa giòng
Tuổi già quá cỡ, tấm lòng quá vui
Chần chờ tôi bước thụt lùi
Tới bao giờ gặp lại thằng tuổi thơ…
(Bé già nua khóc)

Và quê hương đâu chỉ có hình ảnh bến nước cây đa hay tuổi thơ đánh mất? Quê hương còn gợi nhớ cái thuở ban đầu lưu luyến. Một Bùi Giáng thanh niên hay một Bùi Giáng trung niên có thể cười cợt hoang tàn với một Bardot chênh vênh đồi núi, một Monroe ẩn khuất khe mương. Nhưng ở chốn sâu thẳm nhất của tâm hồn đó hẳn phải là hình ảnh người thôn nữ… Chết bên bờ lúa/ Để lại một dấu mòn/ Một dấu chân bước của/ Một bàn chân bé con. Cái chết của người vợ trẻ hẳn đã để lại một vết hằn không thể nào xóa nhòa để rồi ở một Bùi Giáng lão niên, những ký ức dồn nén từ trong sâu thẳm tâm hồn ấy có dịp thăng hoa. Thăng hoa thành những day dứt triền miên bất tận trong lứa tuổi xế chiều (1).

Mỗi giây phút mỗi bất ngờ
Mỗi đêm tưởng tượng thẹn thò cùng em
Tình em bao xiết êm đềm
Tình tôi như thể chênh vênh lạ thường…
(Thôn Nữ)

Đó, là người thôn nữ yểu mệnh đã đi thiêm thiếp trong cõi sa mù. Đi biền biệt. Gặp lại chăng, chỉ là những thoáng chiêm bao “suốt cứ sơn khuê lâm tuyền”. Nhưng khác nào những mộng mị “trông vời quê cũ”, hình ảnh hư ảo dồn nén trong ký ức ấy cũng là những gì dể vỡ, dễ đánh mất:

Bất ngờ gặp lại người quen
Từ muôn năm đã từng quen biết rồi
Giật mình tỉnh giấc than ôi
Trùng phùng trong mộng muôn đời tiếc thương…
(Chiêm Bao)

Khi đã đánh mất, khi đã tình giấc than ôi; còn biết làm gì hơn? Thôi thì lặng lẽ một mình:

…Nàng đi vô tận thời gian
Nàng đi mất hút cuối miền thời gian
Tôi ngồi khóc lóc hoang mang
Một mình cô độc muôn ngàn tương tư…
(Một nàng tiên)

Nếu đã chắt chiu dành dụm ngày về đến cả nửa thế kỷ thì cái cảnh tử biệt sinh ly lúc tuổi chỉ mới chớm đôi mươi ấy còn gắn chặt vào tâm hồn kia si dại kia đến là nhường nào? Năm mươi năm trời đằng đẳng với bao nhiêu chuyện chớp biển mưa nguồn, bao cảnh phù du dâu bể; nhà thơ vẫn lẽo đẽo bên mình một hình bóng. Aâm thầm. Lặng lẽ. Và chung thủy:

Gặp em từ ấy tới giờ
Năm mươi năm chẳn như tờ lặng yên
Biết bao dâu biển nổi chìm
Đôi lần con mắt lim dim nhớ gì

Bảy mươi tuổi quá nặng nề
Còn em đã sáu tám rồi em ơi
Ngày mai vĩnh biệt cõi đời
Trùng lai có lẽ cuối trời biệt ly
(Tặng Gái Quê)

Như thế, giờ đây Bùi Giáng hẳn đã thực sự ra đi để trùng lai trong cảnh cuối trời sinh ly. Còn sống, người ta đã nói nhiều về ông. Ra đi, người ta càng nói nhiều hơn nữa. Người ta thi nhau vẽ những giai thoại mà không ai có thể đoan chắc tính chất xác thực. Họ thi nhau kể những kỷ niệm gặp gỡ. Chỉ có một số ít e dè về cách cảm thụ thơ Bùi Giáng. Và ít hơn nữa với những người ra công khai phá để tìm kiếm từ khối ngôn-ngữ-thơ Bùi Giáng những hạt kim cương lóe nên ánh mới.

Dẫu vậy, Bùi Giáng mà chúng ta được biết, dầu còn mơ hồ, đâu chỉ là một chú hoàng con la đà trên những tinh tú? Đâu chỉ là một tâm hồn vượt qua những biên giới quốc gia? Tâm hồn ấy, khối tri thức ấy còn bước hẳn lên trên những nhịp chân thời gian so với cùng thế hệ.

Tôi nhớ lại những tranh cãi văn chương mới đây, những tranh cãi xoay quanh gốc và thế giới. Cái thiếu và cái thừa. Những tranh cãi mà người ta cứ vô tình lẫn lộn thế giới và phong cách thế giới. Như thể thế giới luôn luôn ngụ ý đoạn tuyệt và vong bản. Nhưng một Bùi Giáng lang thang trên vỉa hè Sài Gòn, đau đáu những nhớ nhung về mảnh đất hẹp Quảng Nam mà vẫn có thể đem triết học Đông Tây về với ca dao lục bát; vẫn có thể quàng vào thân thể của Bardot hay Monroe những xiêm y của Xuân Hương; vẫn thản nhiên đưa thơ vượt qua những rào cản của thú ngôn ngữ mà chưa một quy phạm chuẩn mực nào hình thành là gì? Người đó chẳng đã đường đường tự tại một phong cách rất là thế giới nhưng vẫn không xa rời gốc đó ư? Với mảnh đất chật hẹp cuối cùng quê ấy, Bùi Giáng có cả một vũ trụ dệt nên từ những hoài niệm về thuở ban đầu. Trong một thế giới rộng lớn để thả hồn rong chơi, Bùi Giáng có một mảnh đất đầy kỷ niệm gắn bó để chiêm bao mộng mị.

Và nhớ về cái đêm trăng sông nước bồng lai trên thượng nguồn của dòng sông Thu năm ấy, dòng sông chảy qua, mảnh đất trong chiêm bao mộng mị của Bùi Giáng; tôi cứ hình dung và nhớ thơ trong phút giây Trùng lai có lẽ cuối cùng biệt ly với người thôn nữ độ nào. Mà không hẳn chỉ là mảnh đất ấy. Nhà thơ sẽ nắm tay cô thôn nữ năm xưa, thung thăêng rong chơi cùng những Hiedegger, Holderlin, Exupéry…La đà bay qua những tháp chuông cổ kính rêu phong hai bên dòng sông Danube hay những vì sao rực rỡ trên dải Ngân Hà:

Mai sau còn dự hội nào
Ngó nhau từ kỷ niệm đầu bão giông…
Chắc là vậy…

Melbourne 6.11.98
NGUYỄN HOÀNG VÂN



(1) Riêng tập Đêm ngắm trăng do NXB Trẻ phát hành tại Sài Gòn, bao gồm 227 bài thơ mới nhất của ông trong đêm 1997, đã có đến 9 bài thơ thực cảm động với tựa đề Thôn Nữ; chưa kể những bài thơ khác tựa đề nhưng cùng phảng phất một hình bóng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-13 09:33:09ct.ly>
Những bài việt về nhà thơ Bùi Giáng &lt;==== clik vào đây

Nhà thơ Bùi Giáng &lt;=== Clik vào đây

Nhà thơ Bùi Giáng là nhà thơ mà mọi người cho là cuồng tâm loạn trí

Nhưng là một nhà thơ tên tuổi một thời và cũng là một dịch giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng của Pháp

Có khi người điên mà tâm sáng

Có người cho mình là người tỉnh, mà tâm chưa chắc đã tỉnh hơn người điên

Nếu muốn được điên như Bùi Giáng, chắc đa số ai cũng...chịu [;)]
Đăng nhập để trả lời
0
Hi Ct Ly,
Cám ơn đã post links lại. Có vài bài đã có trong TV rồi hén.

Happy Easter Hiệp Sĩ Hào Hoa !

Thân mến,
ttl
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-15 07:03:20TTL>
Thân tình gửi anh Bùi Giáng
HUY CẬN


Đôi lời thăm bạn thơ
Thăm tấm lòng tri kỷ
Bao giờ đến bây giờ
Tình thơ không hoen rỉ



Ở chùa

NGÔ CANG
(Kính gởi Đại lão thi sĩ Bùi Giáng)


Con về mượn áo chùa quê
Kính thưa Sư Tổ Bồ Đề Đạt Ma
Ngồi thiền suốt chín năm qua
Cứ đêm tâm tỉnh, sáng ra… động lòng

Cỏ lau thầy vượt biển Đông
Con bơi bơi mãi vẫn không thấu bờ
Gạo tiền cơm áo vật vờ
Thưa thầy, nghỉ, đã tới giờ thọ trai

Ngước lên mắt sáng Phật đài
Xem trong thiên hạ chẳng ai giống mình
Thõng tay vào túi u minh
Con tiêu đến hết đồng chinh cuối cùng

Giấc mơ hóa cội cây tùng
Mở ra công án một vùng cỏ hoa
Con về mượn áo thiền gia
Kính thưa Sư Tổ Đạt Ma Bồ Đề





Bùi Giáng Bốn Mùa
PHẠM THIÊN THƯ



Ta thấy anh là – con dế điên
Cả mùa xuân – hát giữa thanh thiên
Mùa xuân hoa cỏ vương đầy sách
Anh ném thơ ca – xuống võng thiền

Ta thấy anh là – con dế què
Suốt mùa hạ thẫm – hát im nghe
Anh chưa nhảy khỏi bờ nhân ngã
Lại ném tồn sinh tím vỉa hè.

Ta thấy anh – là dế sương mù
Hát ca âm ỉ suốt mùa Thu
Anh mơ hồ cả đêm xòe nguyệt
Vàng cả Kim Cương mở lối tu.

Ta thấy anh là dế nội đồng
Lẫn vào hương cỏ hát mùa Đông
Anh sai ngôn ngữ như phù thủy
Ngôn ngữ đè anh xuống cõi không

Ta với anh – cùng Dế Đá trời
Thượng đế cầm râu ngoáy ngoáy chơi
Chọi với hư vô đầu trụi tóc
Tìm trong đá tảng – cái chơi vơi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-15 08:31:32Ngọc Lý>
.
(xin phép thầy TTL,
cho ké tí nhe)



Tuyệt vời nhất
là sự giao thoa của tâm hồn
nhất là sự giao thoa của những tâm hồn giông bão.

Tình cờ mà Ngọc Lý gặp bài này,
trong lúc TTL đang mở ra cánh cửa về Bùi Giáng,
và trên khắp các văn đàn Việt, đang tiễn Thanh Tâm Tuyền.

Bùi Giáng và Thanh Tâm Tuyền
họ đã gặp nhau từ lúc nào?
mà sau khi cả hai đã ra đi
chúng ta mới lẽo đẽo tìm theo tiếng cười vọng lại




Bùi Giáng và Thanh Tâm Tuyền (1973)



Lời toà soạn:

Trên giai phẩm Văn số đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền ra vào tháng 11 năm 1973, Bùi Giáng có cho in hai bài thơ dưới một cái tựa chung là “Thơ và Thơ”. Dưới hai bài thơ là bức ảnh Bùi Giáng và Thanh Tâm Tuyền chụp chung trước cửa báo quán Văn.

Không có một lời đề tặng hay một chú thích nào cả. Tuy nhiên những ai từng đọc thơ Thanh Tâm Tuyền nhiều đều nhận ra bài “Thức giấc và Về Quách Thoại” chỉ là một hình thức collage từ hai bài “Thức giấc” và “Về Quách Thoại” của Thanh Tâm Tuyền. (xem chú thích)

Tiền Vệ


Đọc Liên Đêm


Một qua đường một qua sông
Một qua bến một qua đồng cỏ xanh
Liên Đêm mộng mị yên lành
Bình tâm chúc phúc một ngành cỏ hoa
Đường vui ký ức giang hà
Đường xa lăng lắc chan hoà lãng quên
Rừng thưa thấp thoáng hiên thềm
Dừng chân khoảng khắc sương ghềnh vi vu

Bùi Giáng


Thức giấc và Về Quách Thoại


Đau như thú dữ cháy rừng
Chỉ còn sương trắng chưa từng nhìn ra
Đập tan hình thể chan hoà
Rưng rưng trời đất trái già trối trăn
Nửa đêm còn lại gì chăng
Tôi ngồi khóc mãi bên hằng thuỷ trôi
Ở trong hồn đất nghìn đời
Người tình muôn thuở chiếc nôi vô cùng
Đau như thú dữ cháy rừng
Trên hằng thế kỷ chập chùng biển xưa
Ta đi
Loài cỏ lạc mùa
Bóng mình không gặp
Mộng thừa lang thang
Vào miền đất lạ hồng hoang
Vì sao rụng xuống bóng vang bên thềm
Tôi bưng mặt khóc bên thềm
Khi người thi sĩ êm đềm ra đi.


Bùi Giáng

-------------

Chú thích:

Nguyên văn bài “Thức giấc” của Thanh Tâm Tuyền như sau:

Nửa đêm, mọi người ngủ ôm lấy mình
Một người khác trong giấc mơ
Trăng vừa xanh, đèn sân khấu, rất buồn
rất buồn, dạ khúc ca
Biển chập chùng hằng thế kỷ xưa
Người lên tiếng khóc
Nô lệ nghìn năm nhân loại gục đầu
Chia tay cho ta đi như một loài cỏ cây điên dại
Như một hồn lang thang không gặp được bóng
mình
Xoá hờn oán ngày ngày sóng ngã cao đầu choáng váng
Rồi trời sáng chỉ còn sương trắng không nhìn thấy mặt nhau
Đau như thú dữ cháy rừng. Ta đập tan hình hài và thức giấc.


Nguyên văn bài “Về Quách Thoại” của Thanh Tâm Tuyền như sau:

Còn gì chăng?
Tôi bưng mặt khóc bên thềm cửa
Trời đất rưng rưng
Em không để cầm tay
Khi người thi sĩ ấy chết trơ trụi
Không một lời trối trăng từ biệt
Mắt khép không đợi vuốt
Nửa đêm
Còn gì chăng?
Tôi ngồi khóc bên bờ sông trôi mãi
Em bỏ đi
Những người thân nhất đều hắt hủi
Giữa xứ sở đau thương tôi chịu đọa đầy
Khi người thi sĩ ấy đã gặp
Người tình ngàn đời là vô cùng
Trong hồn đất

Còn gì chăng?
Tôi bé nhỏ và tôi than thở
Em bỏ đi
Em cũng chẳng trở về
Những vì sao rụng bỗng đầy lệ nhân gian
Người thi sĩ bay vào miền đất lạ
Không nhớ mảy may biển gió cát muôn trùng
Ở đây tôi còn mở mắt
Dìu linh hồn lang thang


người thi sĩ bay vào miền đất lạ
không nhớ mảy may biển gió cát muôn trùng
ở đây tôi còn mở mắt
dìu linh hồn lang thang



http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=327169A467ACB160FFF2C8839AC0D655?action=viewArtwork&artworkId=4574
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-15 09:09:35Ngọc Lý>
.

Bùi Giáng vẽ tranh
Bản tin :Văn hóa. Đăng ngày : 14/03/2006



Bức hý họa độc đáo trích từ cuốn Bùi Giáng trong tôi của nhà thư pháp Hồ Công Khanh

Khi chúng tôi tìm đến nhà của nhà thơ Ngô Văn Tao trên đường Huỳnh Khương Ninh, Q.1, TP.HCM để tìm tư liệu cho bài viết tranh ký họa Trịnh Công Sơn thì bất ngờ phát hiện ra ông Tao còn sưu tập được cả tranh của Bùi Giáng.


Bùi Giáng là một hiện tượng độc đáo của thơ Việt. Cuộc đời ông để lại gia tài thơ đồ sộ có lẽ phải lên tới hàng ngàn bài và không hiếm những giai thoại. Có điều ít có giai thoại, bài viết nào đề cập đến tranh ông. Vậy sự thật ra sao?

Bức tranh ông Tao sở hữu có khổ 1m x 1,5m, vẽ sơn dầu, có tên Quê chàng là Ithaque (ảnh), chữ ký của Bùi Giáng và bút tích của ông ghi năm thực hiện là 63 (có lẽ viết tắt năm 1963) tại Sài Gòn. Bức tranh vẽ chủ đạo 3 gam màu vàng, đỏ và đen. Bố cục nổi rõ lên một chàng thi sĩ tóc bềnh bồng đang ngồi trên một cỗ xe có hai con ngựa kéo.

Theo ghi nhận riêng của chúng tôi thì bức sơn dầu này "ý tại ngôn ngoại", có kỹ thuật và rất độc đáo. Tuy là thể hiện bằng màu sắc nhưng có lẽ nội dung gửi gắm hướng đến một đề tài trừu tượng hơn là thuần túy phản ánh hiện thực. Đó có thể là trạng thái thoát tục của người làm nghệ thuật, đặc biệt là một tâm hồn thi ca thường xuyên thăng hoa như Bùi Giáng. Nhìn bức tranh như hiểu thêm ý một câu thơ ông viết mà nhiều người cho là bí hiểm: "Lạc loài đã rớt đi đâu/Chiếc chìa khóa mộng rực màu so le". Tranh ông như giải thêm nghĩa cho thơ.

Ông Tao cho biết đã mua bức tranh này một cách khá tình cờ của một độc giả yêu tác phẩm thơ Bùi Giáng bán lại: "Tôi cũng không rõ làm sao anh ta có bức tranh này", ông Tao hồi tưởng.

Khi chúng tôi đặt câu hỏi nghi hoặc liệu có phải đúng là tranh Bùi Giáng hay không thì ông Tao quả quyết ngày còn sống, giữa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng và ông Tao là thân hữu. Rất nhiều lần ông Tao hỏi Bùi Giáng về tác giả bức tranh. Bùi tiên sinh đã xác nhận chính là tranh ông vẽ.

Khi làm bìa cho tập thơ chung in song ngữ Việt Pháp của hai ông Vào chung cục thơ - La commune poétique aventure (NXB Hội nhà văn 2004), ông Tao đã chụp hình bức tranh này làm bìa. Kết thúc câu chuyện, ông Tao nói: "Còn bao nhiêu tranh của Bùi Giáng quả là câu hỏi kỳ thú. Từ bấy đến nay, tôi cố ý tìm thêm nhưng chưa thấy".

Nhà thơ trẻ Vương Huy ở Cai Lậy, Tiền Giang - một người mê thơ Bùi Giáng đã sưu tầm gần đầy đủ các tác phẩm thơ, dịch, khảo luận của ông từ trước đến nay vừa thông tin cho chúng tôi biết, anh từng tìm thấy một phiên bản chụp bức tranh Quê chàng là Ithaque với chỉ hai màu đen trắng in trong tác phẩm Heidegger và tư tưởng hiện đại do Bùi Giáng viết và dịch in ở Sài Gòn năm 1963. Tấm hình này minh họa cho mục Heidegger và hình bóng của Nietzsche là một phần quan trọng trong cuốn sách đã kể trên của ông. Như vậy có thể thấy Bùi Giáng là tác giả bức tranh trên là có cơ sở.

Chúng tôi cũng đã tìm được nhiều tư liệu khẳng định Bùi Giáng từng vẽ rất nhiều tranh. Ví dụ cuốn Bùi Giáng trong tôi (NXB Văn nghệ 2005), một cuốn sưu tầm khá công phu của nhà thư pháp Hồ Công Khanh.

Theo lời kể của tộc Bùi ở Vĩnh Trinh, Duy Xuyên - Quảng Nam, cụ thể là ông Bùi Vịnh, một bào đệ thì: "Năm 1950, Bùi Giáng đỗ tú tài II ban văn chương. Năm 1952 vào Sài Gòn dạy học, viết sách và vẽ tranh". Và một người thầy của Bùi Giáng là giáo sư Vũ Ký khi gặp lại ở Sài Gòn thời gian trên thì: "Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ở hẻm Trương Minh Giảng". Đặc biệt, tập sách trên còn tìm được rất nhiều tranh vẽ bằng mực tàu, bút bi khá độc của Bùi Giáng.

Theo Thanh Niên
_________

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-15 08:52:54Ngọc Lý>
.
Đinh Cường vẽ Bùi Giáng



Họa sĩ Đinh Cường và thi sĩ Bùi Giáng.



Gương mặt và vóc dáng đầy ấn tượng của Bùi Giáng đã ám ảnh nhiều hoạ sĩ. Nhân đợt kỉ niệm này, hoạ sĩ Đinh Cường vui lòng cho phép chúng tôi trưng bày bộ 28 chân dung Bùi Giáng mà ông vẽ trong nhiều chục năm, từ 1972 đến 1999. Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

talawas




-------

Nguồn: talawas
http://talawas.org/talaDB/showFile.php?res=339&rb=0105
Đăng nhập để trả lời
0
.

Thanh Tâm Tuyền
Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn



Đối với đa số, Bùi Giáng là một nhà thơ điên. Không nhắc đến bọn tục, bọn tỉnh, bọn khôn suốt cả đời chẳng một giây nào thèm "thơ" đến tuyệt vọng, nói ngay những người quí ông - nhìn được ông như một thiên tài, thiên tài tự huỷ ghê gớm nhất của thi ca Việt nam hiện đại - nhiều khi cũng né tránh, chẳng dám bước hẳn vào cõi thơ ông, hoặc có bước vào thì cũng theo cái lối "chân trong chân ngoài", "mắt trước mắt sau", cười cợt vui đùa hay nghiêm trọng lố bịch, tưởng như thế là làm thuận ý, vui lòng nhà thơ - người bầy trận nghiêm trọng và ta nên chiều người.

Chính thái độ của những kẻ yêu ông, những kẻ ghét ông chẳng đáng nói, càng khiến ông phát "bẳn", càng khiến ông phát "điên" (điên tiết), càng khiến nhà thơ thêm lạc lõng, "một mình một cõi", càng đẩy ông tới chốn hoang vu bờ bãi, chơi với mọi với beo, với gấu, với châu chấu, chuồn chuồn.

Không. Bùi Giáng không điên. Ông là một nhà thơ sáng suốt, cực kỳ. Ông là một nhà thơ "ngộ". Đừng hiểu chữ "ngộ" trong cái nghĩa đơn giản của đạo giáo, Bùi Giáng sẽ nhăn mặt nổi quạu, ông có thể sẽ tông cửa chạy tuốt xuống Biên Hoà ngay lập tức. Hãy để cho tiếng ấy "phiêu bồng" từ Nam chí Bắc qua mọi nghĩa có thể có: (ngộ dại, giả ngộ, ngộ quá ta, ngồ ngộ, ngộ không, ngộ nhận, ngộ độc...)

Từ buổi đầu Bùi Giáng đã nói :


Tôi chấp thuận trăm lần trong thổn thức
Tôi bàng hoàng hốt hoảng những đêm đêm
Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt
Tôi đui mù cho thoả dạ yêu em

Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thuỷ
Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên
Thân xương máu đã đành là uỷ mị
Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh

Em đứng mũi chịu sào có vững
Bàn tay bưng đĩa muối có chấm gừng
Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương

Xin yêu mãi mãi và yêu nhau mãi
Trần gian ôi! cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn.

Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở dưới trăng sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay với kiễng chân cao.

(Phụng Hiến)

Bùi Giáng đó, Bùi Giáng của Mưa Nguồn "bát ngát" mặc dù những "đảo điên" không ngớt, còn nguyên vẹn đến giờ nếu chúng ta gặp Ông đúng lúc.


*

Muốn gặp Bùi Giáng hãy ngao du theo dấu chân Ông để lại, hãy đánh mất mình trong cuộc Lữ, hãy chịu cuồng si để sáng suốt. Nghĩa là hãy "thơ mộng" như Ông.

Chẳng khó khăn lắm đâu.

Hầu như Ông đã mở sẵn những cửa mời gọi kẻ đồng điệu.


"Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn gì được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng lời thơ. Thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào, hoặc một cơn gió thu. Mà muốn thực hiện sự đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép gì khác. Thế có nghĩa là: muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác. Người xưa am hiểu sự đó, nên họ chỉ vịnh thơ, chứ không bao giờ điên rồ gì mà luận bàn về thơ. Người đời nay trái lại, họ buộc phải luận thơ có mạch lạc luân lý, không được "bốc đồng" vịnh lăng nhăng. Cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghị vậy."

"Thơ tôi làm (...) trong mấy cuốn thơ của tôi chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác.
Đi vào giữa trung tâm bão dông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu, chuồn chuồn, đem phó thác thảm hoạ trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cách tay mỏng bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm bay về Sương Hy Lạp, nghé Calvaire viến thăm một vong hồn bát ngát, rồi quay trở về đồng rộng, làm mục tử chăn trâu. Làm mục tử không xong bỏ trâu bò chạy lạc, phá phách mùa màng, khoai sắn, thì tôi chạy về bẩm báo với ni cô cho phép con chuồn chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong linh hồn bao dung phương trượng. Ni cô xua đuổi tôi thì tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao..."

"Hãy để yên cho tôi điên tôi dại. Đừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có bàn đến thơ tôi. Tôi không dám si mê, cũng không dám hoài vọng. Một mai tôi chết. Nghĩa là tôi không còn sống. Tôi sống trong cơn dại cơn điên. Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống... Người yêu đừng bén mảng đến, bạn bè hãy đi xa. Để tôi một mình tha hồ tôi điên tôi dại. Ai có đến gần thì hãy thử điên dại cho như tôi..."

"...Ông Whitman ôi. Tại hạ làm thơ nửa phần giống thơ ông, nửa phần giống thơ ông Dylan Thomas, nhưng giống theo một thể thái bê bối đười ươi, chứ không có được cái phong đọ tiên thiên cốt cách. Vậy bây giờ tôi cố gắng làm một bài thơ rất mực cốt cách tiên thiên để tặng ông chơi một trận. Tuy nhiên càng hì hục bắt chước tiên thiên càng lộ ra cái nết na đười ươi phong thói. Vậy tôi xin ngậm ngùi dừng bút, chẳng dám ký tên dưới tờ thư cay đắng."


Không có ai có thể nói về thơ Bùi Giáng hơn Bùi Giáng, bởi chẳng ai ở đây đã sống thảm hoạ trần gian thu trong thảm hoạ thơ hơn ông. "Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài ấy là đạo vậy".


Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau


Đó là mở phơi hào hứng một thời - như Whitman, "kẻ rỡn như ông già bơi đua cùng lũ trẻ và chịu thua lũ trẻ"


Đường sông bóng đổ cơ trần
Gẫm chông gai ấy ai từng đạp qua
Ghì môi cơn mộng la đà
Tiêu giao suốt cõi mù sa trên rừng
Nửa vời trăng rộng mông lung
Đường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô


Đây là phiêu bông "thơ dại nhất và sầu u nhất" - như Dylan Thomas.

Whitman kẻ mở, Dylan Thomas kẻ đóng, một chân trời. Kẻ say với "lá cỏ", với "phố thi", với "ta"; kẻ say với cơn chết, giọt sầu, với huyễn hoặc.


*

Nhưng còn chúng ta? Chúng ta nghĩ gì về thơ ông?

Đừng có nghĩ, hãy buông mặc theo ông, như ông từng buông mặc trong trận đồ kẻ trước. Ông luôn luôn nhắc bảo nơi ông là những bóng vang ai khác. Và ta hãy là bóng vang của ông.

Hãy để ông nghĩ cho chúng ta về những gì chúng ta có thể nghĩ tới và cả những gì chúng ta không thể nghĩ tới.


"Chúng ta quen thói ngong ngóng chạy theo đuổi mọi thứ trào lưu chủ nghĩa, chúng ta tuyệt nhiên không còn giữ một chút tinh thể cỏn con nào cả để thể hội rằng lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển ba bảy sông hồ."

"Cái thói học đòi vá víu thông thái đã âm thầm giết chết mất máu me thân thể chúng ta. Hết chạy theo đuổi ông Camus, tới chạy theo đít bà Simone Weil, rồi xô ùa chạy theo giò cẳng ông Krishnamurti... Đó chính là cái cõi của lai rai thượng thừa, của bê bối tối hậu. Tới bao giờ mới chịu đi về giũ áo đười ươi? Hỡi những thằng trung niên thi sĩ, và hỡi những đứa chẳng thi sĩ trung niên..."

"Nghĩ cũng dị kỳ thật. Người Việt nam vốn là người thơ mộng thi sĩ nhất thế giới (chỉ riêng cái màu da vàng Việt nam thôi cũng đã thơ mộng hơn mọi màu da đen hay trắng) thì người Việt nam lại chẳng bao giờ đọc thơ Việt nam, lại luôn luôn chút hết cõi lòng thơ mộng của mình cho những thứ sách vở hổ lốn tạp pí lù ở đâu đâu. Lại chạy đi si mê những da trắng Marilyn, những da đen Phi châu chiêm bao bờ cỏ. Làm bao nhiêu câu thơ thơ mộng lại đem gán hết cho châu chấu chuồn chuồn. Ẩn ngữ gì mà đoạn trường ra như thế".

"Những bài thơ chuồn chuồn châu chấu của ông quả thật là có ý nghĩa. Nó bay nhẹ vi vu quả có đúng như là phận mỏng cánh chuồn. Vào những buổi sáng mùa đông lạnh lạnh ở Trung Việt, vào những buổi chiều mùa thu ở Bắc Hà, hình bóng những con chuồn chuồn bay lượn cuối ngõ, đầu xuân, thật là tha thướt. Đôi phen cái tiết điệu riêng biệt ấy cũng còn tái hiện trong đôi vần phồn hoa, mặc dù ở phồn hoa không bao giờ có chuồn chuồn bay vòng múa lượn".

Chúng ta hãy chịu chói lọi trong tan nát giữa trận đồ của Bùi Giáng. Mọi điều Bùi Giáng đều nói, chẳng bao giờ hết, nhưng chẳng thể ngậm miệng, nên chúng ta cứ việc ngậm miệng, si mê và chúng ta sẽ được nghe. Nghe bát ngát, nghe phiêu bồng, nghe tới cõi im ông trốn lảng, lượn vòng.


*

Đừng tưởng Bùi Giáng điên, cũng đừng tưởng Bùi Giáng rỡn, mặc dầu có lần ông tuyên bố là ông thích bày "cuộc vui".

Bùi Giáng là một nhà thơ trầm trọng:


"...Như Lai rỡn từ bi, Jesus Christ rỡn bác ái, Sophocles rỡn trang nhã, Thâm trầm kỳ nguyệt, Euripide rỡn ẩn ẩn hiện hiện, Ngoạ Long Sinh rỡn u rùng, Kim Dung rỡn bất tuyệt, Hồ Dzếnh rỡn nên thơ chân thiết, Tú Mỡ rỡn như đười ươi, Shakespeare rỡn như Phượng Hoàng, Nietzsche rỡn tan tành xương máu, Gide rỡn lúc giật lúc buông lúc chùng lúc thẳng, Tô Man Thu rỡn não nùng đốt cháy máu tim."

Còn Bùi Giáng?


"Nhe răng cười trong bóng tối... Không bao giờ bắt chuồn chuồn và cứ bảo rằng mình luôn luôn bắt chuồn chuồn... Không thiết chi đọc sách mà vẫn cặm cụi đọc sách hoài... Suốt năm khắc khoải loay hoay mà tự cho mình thanh thoát phiêu bồng... Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài, đêm tối trần gian đau đớn vô cùng mà vẫn bảo rằng trần gian lộng lẫy... chuốc sầu vạn đại thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh..."

Rỡn trầm trọng là Bùi Giáng, rỡn đầy thảm hoạ, rỡn khắp mặt thế giới như Tôn Ngộ Không - Ngộ Không nhảy trên bàn tay của Quan Âm (Quan Âm biến thành Phùng Khánh, Trì Hải, Marilyn, Brigitte, Kim Cương, ba cô mọi bên bờ Phi Châu...) chỉ vì "Người tư tưởng không còn dám viết gì về tư tưởng nữa."

Bởi rỡn trầm trọng nên:


"Chúng ta phải để cho thơ Xuân Diệu rúc vào trong tuỷ xương mình. Vì y đủ thói bông lông thắm thiết của con người thượng đạt. Y trẻ dại, y lăng nhăng, y nói tới nỗi đời rồi y xoá đa đoan dâu biển. Y hồn nhiên giũ áo, nắm lấy cung cầm Tăng Điểm đánh lên giữa mùa Xuân..."

Nói vậy nhưng Bùi Giáng chẳng bao giờ là Xuân Diệu. "Tây Phương, Đông Phương cổ kim không có một nguồn thơ sánh kịp". Cứ chịu khó theo ông "đi vào cõi thơ", đi vào "thi ca tư tưởng" mà nghe ông bình thơ, mà nghe ông "Ngàn thu rớt hột" nghe "Sa mạc trường ca". Và hãy nhớ lời dặn dò này:

"Đi vào cõi tư tưởng, chúng ta luôn luôn phải lưu ý tới cái lối ăn nói nghịch lý của người tư tưởng. Họ nói một đường để ta suy ra một ngả."

Sở dĩ Bùi Giáng trầm trọng, bởi nơi ông cả cái kiếp hoạ của thơ đang diễn: hồn thơ đang bị vây khổn. Bị vây khổn bởi "tư tưởng", bởi "văn". Thơ muốn bay thoát, chấp chới như những cánh chuồn chuồn giữa trời. Nhưng đâu là tổ chuồn chuồn đây? Nào ai biết. Bùi Giáng cố muốn biết, cố săn đuổi tới cùng.

Nhưng chuồn chuồn báo hiệu trời sắp mưa. Một trận mưa nguồn thuở cũ, Bùi Giáng mơ màng chăng? Ông Bùi Giáng ơi, Tang Phượng đâu? Trang Phượng đâu? Sau trận mưa nguồn kiếm nàng giáp cúng trận đồ ông chẳng thấy. Chỉ thấy trở đi trở lại hoài đây đó hai câu của Hồ Dzếnh:


Thơ về nắng sáng lừng bay
Gấp đi cánh phượng cho ngày rạng ra.

Đến đây coi như tạm đủ, nói thêm đến bao nhiêu nữa rồi cũng vẫn là tạm. Tạm với Bùi Giáng. Tạm với chúng ta. Tạm hết.

Chỉ mong một lúc nào bạn "ngộ" cõi thơ kia.


"Đi vào cõi thơ". Thế nghĩa là? Có một cõi và một cuộc đi, cuộc đi có nhiều thể thái. Có thể đi theo lối chu du của ông Khổng Tử. Có thể đi theo lối ngồi yên không rục rịch suốt bao nhiêu diên trường tuế nguyệt dưới một gốc cây bồ đề theo lối Như Lai. Cũng có thể đi theo lối anh lùa bò vào đồi sim trái chín..."

"Đi như vậy dù sao thì dù, cũng là trong ý hướng mở cõi ra chơi. Không ai buộc ai phải theo ý riêng độc đoán của ai."

"Anh lùa bò vào đồi sim trái chín? Một mặt anh lưu tâm đến trái chiếu cố cho những con bò, đừng để chúng lạc lối vào sâu trong rú rậm rồi mất lối trở ra... Anh thong dong ngồi xuống một gốc cây sim. Anh có thể chọn một gốc cây sim già, hoặc sim trẻ, hoặc một cây sim sử lịch nào vốn đã từng chứng giám một u tình của một Hoàng hậu Phèdre xưa kia."

"Rồi anh dần dần mở cõi. Đã gọi là mở cõi thì chẳng nên khép miền. Nghĩa là... tránh cái lối bưng bít..."

"Đó là điều kiện cần và đủ, không ai buộc ai phải đi qua miên bạc bình sinh."

"Ta ngồi dưới gốc cây sim, lắng tai nghe bò đương gặm cỏ, thong dong đưa tay với một cành, hái một trái chín ăn chơi."

"Bỗng dưng? Bỗng dưng nảy ra một sự tình kỳ bí: bàn tay ta vừa chạm với một trái sim riêng rẽ, thì suốt dãy rừng, toàn thể ngàn sim lục bỗng chấn động vang lừng. Đó là bí quyết lạ lùng. Một bí quyết bất khả truyền".



--------------------------------------------------------------------------------
Các đoạn trích dẫn rút từ Mưa Nguồn, Đi Vào Cõi Thơ, Thi Ca Tư Tưởng, Mùa Thu Trong Thi Ca.

Nguồn: Giai phẩm, Văn, Sài gòn 1973

http://talawas.org/talaDB/showFile.php?res=333&rb=0105
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: Ngọc Lý

Tuyệt vời nhất
là sự giao thoa của tâm hồn
nhất là sự giao thoa của những tâm hồn giông bão.

Tình cờ mà Ngọc Lý gặp bài này,
trong lúc TTL đang mở ra cánh cửa về Bùi Giáng,
và trên khắp các văn đàn Việt, đang tiễn Thanh Tâm Tuyền.

Bùi Giáng và Thanh Tâm Tuyền
họ đã gặp nhau từ lúc nào?
mà sau khi cả hai đã ra đi
chúng ta mới lẽo đẽo tìm theo tiếng cười vọng lại


Bùi Giáng và Thanh Tâm Tuyền (1973)





Chân thành cám ơn Ngọc Lý đã "tiếp một tay" để "mở những cánh cửa" về BG ( ở đây) và các văn thi sĩ của văn học VN. Tài liệu của NL rất "hay".

Chúc Ngọc Lý một cuối tuần vui !
Thân mến
ttl

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-22 00:14:09TTL>
Bùi Giáng, Bước chân đi tìm hồn nguyên tiêu và mầu hoa trên ngàn
BÙI VĨNH PHÚC


Người đã bỏ đường kia ở lại
Ðể đi vào đối diện hư không
Bờ thánh thót thu sau về vạn đại
Lời chào kia nức nở lạnh vân mồng
(Lá Hoa Cồn)


.1.

Người thi sĩ ấy đã ra đi. Cho dù người đã yêu thương thắm thiết trần gian và cuộc tồn sinh này. Nhưng giờ hẹn đã đến, và người phải rời bỏ cuộc lữ hiện tại để lên đường đi về một biên giới khác. Cho dù cuộc lữ người vừa bỏ có thể vẫn còn lắm chuyện thiết tha, người đã bỏ con đường kia ở lại. Trước khi đi vào đối diện hư không, giữa những đêm thâu lục nhạt của cuộc đời, người đã nằm suy nghĩ và mơ ước những gì? có phải người mơ được trở lại “một miền quê hẻo lánh, xung quanh có ruộng đồng, sông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy dài suốt cả tuổi thơ” (1). Người muốn trở về đó để tìm kiếm lại một màu xanh không còn nữa của những ngày tuổi nhỏ, hay để tìm lại một ánh tăng châu thổ, một giọt sương tỳ hải, những cánh châu chấu chuồn chuồn mà ai đó đã thả đầy trong mấy vạt nắng mong manh sầu úa một chốn quê nhà? Chốn quê nhà kia, nơi có những bóng tre, một màu rạ, một bờ ruộng, một con đường, một khúc sông...mà lúc nào người cũng mãi gìn giữ trong chính thịt xương thân thể của mình:
Con đường bờ ruộng khúc sông...
Bóng tre, màu rạ như trong ruột rà
(Martin Heidegger và Tư Tưởng) Hiện Ðại 2
Hay là người vẫn còn nhớ mãi bờ lúa cũ, nơi người vẫn còn nhìn thấy in đậm một dấu chân em:
Em chết trên bờ lúa
Ðể lại trên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con

Anh qua miền cao nguyên
Nhìn mây trời bữa nọ
Ðêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya cuốn gió

Mười năm sau xuống ruộng
Ðếm lại lúa bờ liền
Máu trong mình mòn ruỗng
Xương trong mình rã riêng

Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang.
(Bờ lúa, trích nguyên bài)
Hay là người muốn trở lại những ngày xưa để lùa bò vào đồi sim trái chín:
Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh
(...)
Cây lá bốn bên song song từng lứa
Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn
Hạnh phúc trời với đất mang mang
Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ
Với người ngó ngất ngây đương nằm đó
Không biết trời đất có ngó mình không
(Anh lùa bò vào đồi sim trái chín)

Hay người muốn tìm lại những ngày tháng ngao du cũ, những sương bình nguyên, một màu hoa trên ngàn, và những đêm sau đầy màu sử lịch của một khúc sa mạc trường ca? Người đã sống điên dại giữa đời, hay đúng hơn, người đã chọn một cuộc chơi vĩ đại, trầm thống với tất cả “thân thể máu me và da xương” của chính mình mà mẹ cha cũng như trời đất đã ban cho . Chẳng mấy kẻ trên đời này đã dám xông vào trận như thế. Người làm ta nghĩ đến Paul Gauguin, kẻ đã dám từ bỏ thế giới văn minh của con người để đi tìm một sắc màu thơ mộng mới cho chính cuộc tồn sinh mình. Gauguin, cũng như người, đã suốt đời lang thang để đi tìm một màu hoa sơ thủy. Người cũng đã làm ta nghĩ đến Van Gogh, kẻ đã tự ý đánh mất cái khôn ngoan của những con người sống giữa đời thường, để có thề đi sâu vào trong ánh sáng điên cuồng chói lọi của những starry nights, của những đêm sao lồng lộng và nhìn ra ở đó những chính bản của cuộc đời. Cuộc đời như chúng ta đang sống chỉ là những phó bản với thật lắm điều sai lệch. Bùi Giáng đã van xin:
“... Hãy để yên cho tôi điên tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có bàn đến thơ tôi. Tôi không dám si mê, cũng không dám hoài vọng. Một mai tôi chết. Nghĩa là tôi không còn sống. Tôi sống trong cơn dại cơn điên. Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống...”
Hãy nghe lời Cầu Kinh Cầu Nguyện Ca mà thi sĩ đã viết:
Hãy mang tôi tới giữa đời
Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo
Hãy mang tôi tới nắng chiều
Giết tôi chết giữa một chiều khe mương
Hãy mang tôi tới dặm trường
Giết tôi chết giữa con đường bơ vơ
Hãy mang tôi tới bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên
Hãy mang tôi tới diện tiền
Giết tôi chết giữa người thuyền quyên kia
(Sa mạc trường ca)

.2.

Nhắc đến Bùi Giáng, người ta hay nói về thơ của ông. Ðó cũng là điều tất nhiên. Ông là một thi sĩ bát ngát, ngây thơ và cỏ hoa điên đảo. Cỏ hoa điên đảo trong cõi đời cũng như điên đảo trong cõi phi – đời và pha đời. Còn ngây thơ, bát ngát là ở trong cõi bờ tịch lặng của triết lý uyên nguyên mà ông vẫn hằng lui tới. Thơ Bùi Giáng tràn đầy hoa cỏ của một thế giới sơ đầu vẫn còn giữ mãi một hồn nguyên tiêu ẩn mật. Thơ ông đựng đầy ẩn ngữ, mật ngữ, nhưng không trì nặng mà vẫn bay lượn phiêu diêu như những cánh châu chấu chuồn chuồn ở ngoài đồng nội. Ông làm thơ, nhưng không cần biết thơ là gì:
Bắt chước ông Khổng Tử
Con chim thì ta biết nó bay
Con cá thì ta biết nó lội
Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ
Nhưng thơ là gì
Thì đó là điều
Ta không biết
(Sa Mạc Trường Ca)
Kẻ thi sĩ không biết thơ là gì, nhưng ông biết rõ tại sao ông làm thơ:
“Thơ tôi làm (...) chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Ði vào giữa trung tâm bão động môt lúc thì lập tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi. (...) Tôi ra bờ sông nàm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vẫn bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao...”

Có những người đã thử bàn về thơ Bùi Giáng. Tôi cũng đã thử có lần “vạch hai lá cỏ ra nhìn” để rủ một lũ chuồn chuồn châu chấu trở về bay liện trong thơ ông (2). Tôi yêu cái hình ảnh của Bùi Giáng trong một màu trăng châu thổ và trong đìu hiu của hoang vu những lá hoa cồn, hay trong những bài ca quần đảo; nhưng tôi cũng thích cái nét thơ mộng đầy nhiệt tình, nhiệt thú, nhiệt huyết của ông trên cả hơn một ngàn trang sách trong ba tập Tư Tưởng Hiện Ðại (in khổ lớn). Ðể thấy được những nét tìa hoa và cái đọc, cái biết rộng rãi và phơi phới của Bùi Giáng về văn học, tư tưởng và triết lý Tây phương cũng như Ðông phương, tôi nghĩ người ta phải tìm vào những trang sách này. Những trang sách mà Bùi Giáng đã viết trong những năm ngoài ba mươi tuổi của mình, những năm đầu thập niên sáu mươi. Con người này tài hoa rất mực, chu du trong thế giới tư tưởng và ngôn ngữ Tây phương nhưng lúc nào cũng yêu thương thắm thiết một màu hoa bên ngàn của ngôn ngữ Việt.

Có lần ông nói với Trần Tuấn Kiệt là ông viết về triết học, bàn về tư tưởng hiện đại là để cuối cùng nêu lên mấy câu về Kiều hay của Huy Cận chơi. Quả thật là có thể. Nhưng không phải chì là như thế Bùi Giáng nói chơi đấy thôi. Trong những chuyện này, ông bà về một số những khuôn mặt lớn của tư tưởng hiện đại như Karl Jaspers, Jean Paul Sartre, André Malraux, Saint-Exupéry, Gabriel Marcel, Albert Camus,Paul Claudel, Simone Wiel, Martin Heidegger, William Faulkner, Nietzsche, Kierkegaad... Từ những khuôn mặt này, và đặc biệt là từ Heidegger, Bùi Giáng đã bàn rộng ra về những vấn đề triết lý và tư tưởng hiện đại. Ðọc mấy cuốn này để hiểu Bùi Giáng-trẻ là như thế nào. Ông vẫn luôn là một nhà thơ, một con người hết sức thơ mộng. Nhưng ông lại là một con người của lý luận. Ông sẵn sàng đưa Khổng, Lão, Trang cũng như cả Thúy Kiều, Kim Cương, Phùng Khánh, Brigitte Bardot, Marilyn Monroe, Dương Quí Phi, Atriane, Diane, Nausica, Juliet, Desdemona... vào trong cuộc thảo luận mà ông bày ra với Heidegger, Nietzsche, Sartre, cũng như với những nhà tư tưởng lớn khác của thế giới. Bùi Giáng cho rằng những người con gái đó “phải trở về bủa rộng chiêm bao để thiết lập mộng luân lưu giữa thời gian bay múa: và có như thế thì “cuộc tồn hoạt của tồn sinh [mới] được tiếp xúc trở lại với hương màu vạn cổ...”
Bùi Giáng không thích Sartre vì, trong cái nhìn của ông, Sartre đã quá bất công với Camus, không hiểu Faulkner cũng như kỷ thuật thời gian đồng hiện của nhà văn này trong The Sound and the fury, và không ngay thẳng với Heidegger. Sartre đã tìm cách giết chết Camus trong việc “giải thích“ L’Étranger một cách không đúng tinh thần mã thượng trong bài Explication de l’Étranger của mình. Và Sartre đã bóp méo, xuyên tạc, rồi sau đó tấn công Heidegger, tung hỏa mù về tư tưởng của Heidegger vào thế giới trí thức Tây phương. Trong quyển đầu, Tư Tưởng Hiện Ðại, Bùi Giáng còn khá nghiêm túc, tính chất “vượt biên” trong ngôn ngữ, tư tưởng của ông, phần lớn, còn nằm đàng sau những con chữ, những mặt chữ, chứ chưa lộ hẳn ra ngoài. Những nhận định của ông về Sartre, trong khi bàn về Camus, còn sự quý mến và nể trọng. Qua đến quyền hai, Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Ðại 1, vì giận em Jean Wahl, giáo sư đại học Sorbonne, qua quyển Vers la fin de l’Ontologie của ông này nhằm phê bình quyển Introduction à la Métaphysique ( Einfuhrung in die Metaphysik) của Heidegger, và giận Sartre trong việc ông cho rằng Sartre đã xuyên tạc triết gia này, có những chỗ Bùi Giáng đã “mày tao chi tớ” với họ. Ông cho rằng Jean Wahl đã “bám vào những chi tiết mấp mô mà bỏ quên nguồn thác chảy. Cái phần sâu thẳm trong chiêm niệm viễn tượng siêu hình “dư dục vô ngôn” Heidegger gọi là cái phần Im-pensé [...] hoàn toàn bị Jean Wahl và Sartre hững hờ không dọ tới. Jean Wahl là hình ảnh biểu trưng trọn vẹn cái sa đọa của duy lý thô thiển mài miệt trong cái học công truyền đo đếm quanh năm [...] Cái gì Jean Wahl cũng đòi cho được “tout à fiat”. Ðức Khổng Tử thấy vậy, Ngài bèn lắc đầu: Nếu đòi hỏi mãi cho được cái “tout à fiat” thì than ôi! Còn chi là cái cõi lòng ta nữa [...] Cái phần vô-suy tư là cái phần quý báu ta trao gởi êm đềm cho mỗi mỗi tinh anh. Hãy mở tâm thức mình ra mà đón lấy...”
Bàn về việc Sartre, trong cái nhìn của Bùi Giáng, bóp méo và xuyên tạc rồi tấn công Heidegger trong khái niệm “In-der-Welt-sein” của triết gia này trong cuốn L’Eâtre et le Néant (Hữu Thể và Hư Vô) của mình Bùi Giáng viết:
“Ở đây, rõ ràng ý Sartre muốn triệt để côngkích Heidegger cho tả tơi tan tành trong-hào-ngoài-lũy-bằng cái toán quan quân kỳ dị truy sát đuổi dài. Bởi đâu ta dám bảo như vậy. Bởi rằng: cái tiếng :L’être-au-milieu-du-monde là tiếng của Heidegger. Vật- thể-trong-đời hay tại- thể- trong-thế-gian chính là In-der-Welt-sien-một khái niệm cốt yếu trong tư tưởng Heidegger. Và sở dĩ ta bảo rằng đám loạn quân truy sát của Sartre quả thật là kỳ dị, ấy bởi rằng: Sartre xuyên tạc trước, rồi tra tấn sau. Sartre bóp méo tư tưởng của người ta rồi lên án người ta.
Cái khái niệnm “trong đời” của Heidegger không có nghĩa ù lì, trơ trơ gỗ mục như Sartre bảo. Tại- thể-trong-đời, là xuất võng ngoại tồn phát tiết tinh hoa ra ngoài cõi đời để mở-phô-đời-cõi, thiết lập lại bên dòng cái cuộc đời rời rã cho kết-tụ-tròn-đầy lài liễu soi gương khâm phụng lên đường theo thiết tha phóng hoạt-là thiên chức con người trước tiếng gọi Vô Ngôn.
Sartre đã đẩy Logos Hình Nhi Thượng của Heidegger cho té xuống bình diện Hình Nhi Hạ. Phusis bị dập hết hương màu. Thế còn chi là hồng nhan em Thúy? Tha hồ mà đo đếm đuổi xô. Ðem bụi lầy bết vào thân tiên tử, đem bùn-đen trát vào mình mẩy mềm mại của giai nhân, rồi la to:- Con đĩ kia ơi! Mày hãy đưa tứ chi cho ông xiềng xích lại, rồi vào ngục tối mà nằm. Ông là nhân viên kiểm tục.
Duy có điều: Sartre vẫn đáng được ta mến là ở chỗ: Cái điệu tài-tình-ba-gai của Sartre nghe ra lắm chiều ngộ nghĩnh. Dường như Sartre thử đùa một cuộc chơi-để xem thử thiên hạ sẽ nghĩ như thế nào. Nếu ta nói chơi, mà đời lại nghe theo làm thật, lại ngây thơ hơn con trẻ, cứ lượm đà mà ném mãi vào thân thể giai nhân để tự-biến-mình-làm-quỷ- thì cũng là đáng cho cái kiếp các ngươi lắm đó. Giai nhân chết đi, thì rồi các người sẽ cưới ma-cuồng về mà ôm ấp (...)” (3)
Phong cách diễn tả của Bùi Giáng cho thấy ông có sở học rộng mặc dù ông rất chủ quan. Ở đây, ông là một nhà phê bình; nhưng cái chất nghệ sĩ trong con người ông còn mãnh liệt hơn cái chất phê bình kia. Và nghệ sĩ nào mà không chủ quan. Ông có cái tài hoa trong ngôn ngữ, cái nhiệt tình bênh vực cho lẽ phải trong quan điểm của mình, và cái cao ngạo, “pha” của mọt người coi thường cái học từ chương, trường ốc, khinh thường cái nhóm “trường trại lao xao”. Tự nói về ngôn ngữ chính mình, ông bảo: “Lời mông-lung-cỏ-lá là xen thường hệ-thống-lý-luận-phỉnh-gạt của những phường giá áo túi cơm là ca chậu chim lồng” (M.H và TTHÐ 2) và “đã là người Việt Nam thì chẳng lẽ lại viết triết học bằng chữ. Phải viết bằng lời. Mà lời của biển dâu không thể là văn xuôi. Phải là lời thơ “tái tân thanh” tái tạo. Văn xuôi cũng phải buộc là thơ. Và mở cửa cho thơ rúc vào nằm trong một vòng tròn trịa méo mó ôm nhau.” (M.H và TTHÐ 1).
Bởi vậy, cho dù ngoài thơ ra. Bùi Giáng có dịch một số tác phẩm của văn chương thế giới, có bình luận chú thích về tư tưởng hiện đại, thật sự, tất cả những gì ông viết ra đều nằm trong một bài thơ lớn. Một bài thơ lớn theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Bài thơ đó chính là đời sống của ông, là cuộc tồn lưu kỳ thú mà ông đã chọn lựa để sống trọn vẹn sinh mệnh mình trong cuộc lữ trần gian này:
Tôi đã nguyện yêu trần gian trọn vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương
(Mưa nguồn)
Bùi Giáng viết mấy quyển Tư Tưởng Hiện Ðại chỉ là để, cuối cùng, nêu lên mấy câu của Tố Như trong Kiều hay mấy câu thơ của Huy Cận. Thì thực là như thế đó. Nhưng ông cũng viết những quyển sách ấy để nói lên những vấn đề trầm trọng của sử lịch Việt Nam, của con người Việt Nam giữa mây trời lửa khói:
Bóng mây trời cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài bão dông
Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
Tạ từ tháng chạp quay nghiêng
Ầm trong sử lịch thu triền miên trôi

Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con
(Mắt Buồn / trích nguyên bài trong tập Mưa Nguồn)
Ầm trong sử lịch. Sử lịch. Hình như đây là chữ đặc biệt của Bùi Giáng. Trước ông, hình như chưa có ai dùng từ sử lịch. Và kể từ Bùi Giáng, mỗi khi viết về ông, hoặc mỗi khi viết theo thể điệu của ông, người ta thường dùng từ này để nói lên cái tính lịch sử của đời sống, của con người, của một cuộc lữ, hay của một dòng quay, một dòng vận động. Có thể nhiều người trong chúng ta thấy từ ấy lạ. Ðầy nét Bùi Giáng, và đã tưởng là người thi sĩ cho “nét chữ lên đàng quẩn quanh”. Và chúng ta cũng cho nét chữ của mình quanh quẩn lên đàng đuổi theo nét chữ của người. Ðiều đó cũng là hợp lý khi đi tìm hay khi nói về phong cách của nhà thơ. Có lẽ ít người biết rằng, dù là có một phong cách dùng từ độc đáo, trong việc dùng từ “Sử lịch” này, Bùi Giáng có quan niệm rõ ràng của ông. Ông sáng tạo ra từ “Sử lịch”-hoặc nếu có đã có trước đó, trong văn mạch của ông nó đã được dùng theo một nghĩa đặc biệt-để diễn một khái niệm triết lý của Heidegger. Ở đây không phải chỉ là chuyện “hóa ra nét chữ lên đàng quẩn quanh” mà thôi. Sử lịch là lịch sử nhuốm màu thời gian pha phôi thiên cổ. Ở phần phụ lục cuối sách trong quyển Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Ðại 2, trong phần chú giải về những ngôn từ cốt yếu của Heidegger (vài chục từ) mà Bùi Giáng có nhắn gởi với người đọc là: “Nắm lấy chừng này Ngôn từ, bạn sẽ có cái chìa khóa mở một Cửa Mộng”, ông chú giải về từ Geschichte theo thể điệu Bùi Giáng:
Geschichte: Sử Lịch, Sử Mệnh, Sử Kiếp, Hồng Sử, Thanh Sử... Trên trang sách Heidegger, tiếng Geschichte có âm vang kỳ bí não nùng như những tiếng Cổ Lục Sử Xanh của Nguyễn Du. Trong Ðức ngư õcũng có tiếng Historie như Histoty (Anh), Histoire (Pháp).
Theo thể thông dụng thì trong Ðức Ngữ hai tiếng Historie và Geschichte vẫn không khác biệt gì nhau. Nhưng trong sách Heidegger thì triết gia phân biệt hẳn hai nghĩa. Historie được dùng theo nghĩa sử là sử ký, sử sự, sử kiện, sử chi li biến cố. Tĩnh tữ Historisch. Còn Geschichte thì có nghĩa man mác mênh mông của Thời Gian hòa vào Vĩnh Thể trong tâm thức con người là Tại Thể hoài vọng luân lưu. Âm hưởng Sử lịch phiêu bồng trong chiều hướng quá vãng theo về bờ cõi mai sau.
Những tiếng Geschichte, geschichtlich, Geschichtlichkeit đều mang đủ những gì trầm trọng của Sein und Zeit (4) của Zeitlichkeit chan gội tồn lưu tố chất... Dịch giả Anh, Pháp đã bối rối rất nhiều trước những tiếng này. Việt Nam nhờ có Nguyễn Du nên đỡ sợ.
Tạm đưa một vài thí dụ để dễ nhận nghĩa hơn: khi bàn tới tiếng philosophia của Cổ Hy Lạp, Heidegger bảo: vì tiếng kia là của Hy Lạp ngàn xưa mênh mông, nên lời của philosophia là lời của nghĩa Con Ðường, lời của Ðạo. Ðến bây giờ, theo dấu cỏ, ta đi. Bước trên đường, và ta hiểu dạo philosophia. Nhưng thật ra cái con đường của yêu thương cái sophon đã mất nhiều cỏ hoa vì bàn chân ta thô bạo. Ta bứt trụi lá cây. Và từ đó ta tưởng mình quen biết con đường, nhưng thật ra cũng hầu như không biết. Biết rất mù mờ, dù có nhớ rõ vanh vách những hòn sỏi, những cồn lau. Dù có thuộc làu làu những gì trong Cổ Sử: chuyện trước, chuyện sau, câu đầu, hàng cuối, sử ký, sử ghi, sử sự tràn lan đùn đẩy. Vẫn chưa rõ đạo của đường. Bởi đâu?
[Bỏ một đoạn trích tiếng Ðức của Bùi Giáng để làm bật nghĩa historiche kenntnisse.]
Ấy bởi rằng những Sở Tri Sử Ký chồng chất kia (viele historiche Kenntnisse) nó nằm trong trí óc lao xao, nó xui ta bận trí đếm đo hoài, nên ta không còn tâm linh mà mặc niệm. Ta bỏ lạc tồn lưu và mất trụi cái cốt thiết của Căn Cơ ẩn kín (innerst Grundzug) của Sử Lịch là Geschichte nằm trong Sử-tố-chất của Thể-die Geschichtlichkeit des Daseins.
Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ
Quán thu phong đứng rũ tà huy
Lời cổ độ gây rung động dị thường. Vì Dasein đã nhìn vạn vật trong vẻ kỳ ảo Sơ Khai. U huyền trong cổ độ, huyền mộng trong tà huy, mộng tình trong thệ thủy, tình tữ trong thu phong... Ðứng rũ vì nhớ nhung, ngồi trơ vì thê thiết. Quán và Cầu là hình ảnh của hoài niệm về Sơ Thủy không nguôi...
Ðoạn trích dẫn vừa rồi khá dài. Nhưng, ở đây, tôi chỉ muốn cho người đọc thấy rằng nhiều khi chúng ta cứ tưởng rằng Bùi Giáng chỉ thích đùa cợt gùn ghè giỡn chơi với chữ nghĩa của mình, nhưng thật sự thì chẳng phải vậy. Ông đùa giỡn, điên đảo, quẩn quanh hoa cỏ thật, nhưng ông cũng là một người thật hết lòng nghiêm cẩn với chữ nghĩa của mình. Ta hãy thử đọc vài ba định nghĩa nữa của ông về mấy từ thiết yếu trong sách của Heidegger, người mà Bùi Giáng rất mực tâm đắc và yêu mến.
Sein: Hữu Thể, Tồn Thể, Vĩnh Thể.
Seiende: Hiện Sinh, Hiện Thể, Vật Thể.
Gefrage: Ðiệu hỏi ò e, lao xao, theo lối trường trại ồn ào, làm tan nát màu hương của chiêm niệm u uyên.
Hai từ đầu nghiêm cẩn. Từ thứ ba rất “mông lung cỏ lá”, diễn được cái ý xem thường “lối trường trại” ồn ào của Bùi Giáng.

.3.

Con người của Bùi Giáng không chỉ để lộ nét tài hoa trong thơ của mình. Hay trong hằng ngàn trang sách của Tư Tưởng Hiện Ðại, và trong hằng mấy ngàn trang sách nữa của những quyển khảo luận về văn chương, tư tưởng Việt Nam cũng như về văn chương, tư tưởng thế giới. Nét tài hoa ẩn mật mở phơi hào hứng của ông còn được thể hiện rất rõ trong dịch phẩm mà ông đã để lại cho đời. Tùy vào cái tạng của mỗi người mà chúng ta có thể cảm hay không cảm, thích hay không thích cái phong cách dìu ba đào về những chân trời viễn mộng trong những bản dịch của Bùi Giáng. Døù sao, ai cũng phải công nhận đó là những bản dịch đặc biệt, những bản dịch có một không hai trong văn dịch của chúng ta.
Có một lần, Bùi Giáng đã thổ lộ về quan niệm dịch văn của mình trong lời Tựa quyển Cõi Người Ta (5) mà ông dịch từ Terre des Hommes của Saint-Exupéry như sau:
(...) Theo dõi giấc mộng dài của Saint-Exupéry, lại gọi ngôn ngữ Việt Nam về hạ tứ, nhiều phen phải bàng hoàng: Chúng ta đứng trước mấy lần hiểm họa của màu sắc lục hồng cứ trùng điệp rũ nhau bay, tung lên phủ xuống (...)
Dịch văn-sao cứ gọi là dịch?-dịch văn biến thành câu chuyện vừa bay lên, vừa lặn xuống, vừa lẽo đẽo nối liền hai bờ ngôn ngữ quá xa nhau. Thật vừa vui, vừa mệt mỏi.
Ngôn ngữ đa âm đòi hỏi lối phiên dịch như thế nào qua ngôn ngữ đơn âm? Ðó là điều đáng xui chúng ta tự lự đăm chiêu.
Vì lẽ: tiết điệu đa âm có một phong thái dồi dào đương yêu cầu được tái hiện. Ðây là trường hợp: ở bên kia từ ngữ, tiết điệu của ngôn ngữ đương nói rất nhiều.
May sao, Việt ngữ đơn âm lại giàu sang âm vận. Nhưng không phải ở mọi cơ hội đều giản dị giàu sang. Do đó cần thêm một chút chuyển hóa thỏa đáng thì lời dịch sẽ tái lập được “cung bậc” gieo vàng của nguyên ngôn. Mà nguyên ngôn Saint-Exupéry lại chứa chan những thơ mộng khi u trầm, ngậm ngùi lúc lộng lẫy. Cái điệu nói la cà dịu vợi, vừa chát chát vừa hắt hiu, lúc nhắc tình bạn hữu, lúc gợi tiếng U già, lúc chuyện trò với gái trên nhịp cầu hai cõi hoang vu. “Tả nhi nữ tư tình, đãng khí hồi trường. Tả anh hùng sự tích, nghĩa bạc vân tiêu.” (...)
Trong bản dịch, có mấy chỗ thêm vài lời, ấy là gắng đưa ngôn ngữ đơn âm đuổi theo tiết điệu đa âm. Thỉnh thoảng lại bớt vài lời, ấy là bởi: Việt ngữ mang nhiều tính chất parataxique trong khi Pháp ngữ lại triệt để là một ngôn ngữ syntaxique.
Sau đây ta thử đọc một đoạn trong Terre des Hommes của Saint-Exupéry, rồi thử tìm xem cái giọng điệu lãng đãng thơ mộng ấy của Saint-Exupéry ngân vang bồi hồi trong bản dịch Cõi Người Ta của Bùi Giáng ra sao:
J’ai atterri dans la douceur du soir. Punta Arenas! Je m’adosse contre une fontaine et les jeunes filles. A deux pas de leur grâce, je sens mieux encore la mystère humain. Dans un monde òu la vie rejoint si bien la vie, òu les fleurs dans le lit même du vent se mêlent aux fleurs, òu le cygne connait tous les cygnes, les hommes seuls bâtissent leur solitude.
Quel espace réserve entre eux leur part spirituelle! Un songe de jeune fille l’isole de moi, comment l’y joindre? Que connaitre d’une jeune fille qui rentre chez elle à pas lents, les yeux baissés et se souriante à elle-même, et déjà pleine d’inventions et de mensonges adorables? Elle a pu, des pensées, de la voix et des silences d’un amant. Se former un Royaume, et dès lors il n’est plus pour elle, en dehors de lui, que des barbares. Mieux que dans une autre planète, je la sens enfermée dans son secret, dans ses coutumes, dans les échos chantants de sa mémoire. Née hier de volcans, de pelouses ou de la saumure des mers, la voici déjà à demi divine.
Punta Arensas! Je m’adosse contre une fontaine. Des vieilles viennent y puiser; de luer drame je ne connaitrait que ce mouvement de servants. Un enfant, la nuque au mur, pleure en silence; il ne subsistera de lui, dans mon souvenir, qu’un bel enfant à jamais inconsolable. Je suis un étranger. Je ne sais rien. Je n’entre pas dans leurs Empires. (6)
Lời văn của Saint-Exupéry mang tiết điệu trầm buồn, u hoài, đầy nét vợi xa lãng đãng. Và từ đó, Bùi Giáng dịch là:
Tôi hạ cánh giữa tịch mịch chiều vàng. Punta Arenas! Hãy nhìn ta tựa lưng vào bờ giếng mà ngó gái giữa thanh xuân. Cách nhau hai bước, tôi càng cảm thấy rõ cái lẽ huyền nhiệm kiếp người... Trong một thế giới mà sự sống giao tiếp dễ dàng với sự sống, mà những cành hoa giữa lòng gió hồn nhiên hôn phối với những cành hoa, một thế giới mà con thiên nga nào cũng quen biết mọi con thiên nga, trong thế giới đó, chỉ riêng con người là xây dựng căn lầu mộng cô đơn.
Phần tinh anh còn cách biệt nhau nghìn trùng. Một giấc mộng “đầu hoa ngan ngử thắm” của gái xuân càng chia nường biệt lập tôi, biết làm sao mà tìm cái lối vào trong nẻo đó ở trong kia? Làm sao hạnh ngộ, làm sao nghe ra, làm sao ngóng thấy, làm sao biết rõ những cơn man mác trong nhịp bước gái tơ đi lững thững chiều hôm về căn nhà cha mẹ, mắt lim dim khép mở hai hàng, hai đôi má núng đồng tiền mở nụ, một mình mỉm cười với gió ẩy tà xiêm một mình em hay, một mình em biết, một mình rộn lên những trận viễn du khai phá, những mộng tưởng phát minh, những u hương rập rình quân nhạc đối nhau xiêu đình đổ quán... Nàng đã tự thiết lập một điện đài ẩn bí trong một vương quốc rẽ riêng, bằng những gì của riêng ai đem lại, bằng những gì của gã tình nhân đăm chiêu tơ tưởng? Bằng điệu nói của chàng? Bằng lặng lẽ của anh? Từ đó về sau, đối với em, chỉ riêng chàng là hoàng tử chí tôn, ngoài chàng ra, người người trong thiên hạ thảy thảy là bọn lưu manh man dại côn đồ? Em khép thân ngà trong một cõi, kín đáo hơn lối vào một viễn cách hành tinh, em che lấp đời riêng trong những lối đi về kiều diễm, trong những thói nhà băng tuyết, trong những âm thanh dìu dặt của ký ức não nàng lờ lững phỉ phong. Sinh ra từ giữa lòng núi lửa, từ giữa lòng thảo hoa, từ chất muối trùng khơi thổi mặn, mới đó hôm qua, nay em đã hầu thành Tiên Nữ.
Punta Arenas! Tôi tựa lưng vào bờ giếng. Những đàn bà già nua tới đây lấy nước. Trong tấn bi kịch đời họ, ngày mai tôi sẽ biết riêng chỉ một cử động tôi đòi ấy thôi. Một bé con ngửa cổ vào tường, khóc lặng lẽ. Ngày mai trong kỷ niệm của tôi, sẽ chỉ còn ghi riêng hình ảnh một đứa bé lạc loài, sầu khổ không nguôi. Tôi là kẻ lạ tới đây. Tôi không biết, không biết gì hết cả. Thế giới họ, tôi không thể bước vào. Làm sao tôi dám nói.
Ngày còn trẻ, những năm mười tám, mười chín, hai mươi, đọc Terre des Hommes, rồi đọc bản dịch Cõi Người Ta của Bùi Giáng, thú thật, tôi chịu không nổi. Trong những tháng năm tuổi trẻ ấy, cái gì mình cũng muốn đâu vào đấy, cái gì mình cũng muốn thẳng lối ngay hàng. Mình thích sự nghiêm cẩn, thích sự gọn gàng chính xác. Câu văn của Bùi Giáng thêm thắt lòng vòng, ngỏ trước vườn sau, mông lung lá cỏ. Làm sao tuổi hai mươi ngày ấy chấp nhận được. Nhưng rồi thời gian trôi qua lãng đãng. Bây giờ đọc lại câu văn dịch của Bùi Giáng, tôi thấy bập bềnh cái hơi thở u hoài của trần gian thênh thang mà miên man lồng lộng. Trên những câu văn của Bùi Giáng, tôi vẫn thấy còn sót lại một vạt nắng vàng trong man mác chiều tà. Người con gái đầy ấp xuân thì, cúi đầu, tự mỉm cười với chính mình, bước đi lững thững về nhà, trong lòng chất đầy mơ mộng. Những bà già ra giếng kiếm nước. Một cậu bé con ngửa cổ vào tường, khóc lặng lẽ. Câu văn dịch của Bùi Giáng lòng vòng diệu vợi. Thế mà bây giờ, đọc lại, sao tôi lại thấy nó để lại trong lòng mình những ấn tượng thật mạnh và buồn (7)
Một bản dịch khác của Bùi Giáng, cũng là một tác phẩm của Saint-Exupéry, mà tôi rất thích là quyển Le Petit Prince. Bản dịch của Bùi Giáng là Hoàng Tử Bé (8). Ðây là một cuốn sách tuyệt vời. Và bản dịch của Bùi Giáng cũng đạt độ tuyệt vời của nguyên tác. Cuốn sách kể lại câu chuyện của một chú hoàng tử bé, sống trên một tinh cầu xa xăm. Chàng có một đóa hoa và chàng đã ngày ngày tận tâm tưới nước, chăm sóc cho đóa hoa ấy. Ðó là đóa hoa đặc biệt của một chủng tử đặc biệt trên tinh cầu chàng. Ðó là đóa hoa duy nhất của chủng tử nọ, và chính là vì đóa hoa yêu kiều diễm lệ này mà hoàng tử bé đã lên đường phiêu lưu. Chàng đi qua nhiều tinh cầu khác nhau và thấy được nhiều sự lạ lùng trong tính chất của “con người”: một ông vua, một người hay khoe khoang, một chàng thích ăn nhậu, một người làm áp-phe, một người chuyên đi thắp đèn, một nhà địa lý. Tới trái đất sau khi gặp một con rắn, sau khi gặp những đóa hoa hồng, hoàng tử bé kia gặp một con chồn. Và, trong nguyên tác cũng như trong bản dịch của Bùi Giáng, con chồn này quả là phiêu hốt và thơ mộng đáng yêu quá thể.
Sai khi gặp gỡ, chào hỏi nhau, hoàng tử nói chàng muốn con chồn đến ở chơi với chàng, vì chàng buồn quá. Con chồn trả lời là nó không thể chơi đùa với chàng được vì nó chưa được “tuần dưỡng”, bởi thế tính khí chưa thuần. Hoàng tử bé hỏi con chồn “tuần dưỡng” là gì. Nhưng con chồn nói sang chuyện khác. Sau hai, ba lần như thế, hoàng tử bé vẫn không quên câu hỏi của mình. Chàng lại hỏi con chồn” Tuần dưỡng có nghĩa là gì?
- Ðó là một điều bị quên lãng quá nhiều, cho chồn đáp: đó có nghĩa là tạo nên những mối liên lạc...”
-Tạo nên những mối liên lạc?
- Hẳn thế, con chồn nói. Ðối với tôi, chú hiện giờ chỉ là một đứa trẻ giống y như trăm nghìn đứa trẻ bé khác. Và ta không cần thiết gì với chú. Và chú cũng chẳng cần gì với ta. Ðối với chú, ta chỉ là một con chồn lũi lang thang như trăm nghìn con chồn lũi phất phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ thế thôi. Nhưng nếu chú tuần tuần thiện dưỡng ta, thì chúng ta sẽ cần tới nhau. Chú sẽ trở nên duy nhất trong cõi đời, đối với ta. Ta sẽ trở nên duy nhất trong cõi đời, đối với chú...”
- Ta bắt đầu hiểu rồi đó, hoàng tử bé nói. Có một đóa hoa... ta tưởng nàng đã tuần dưỡng ta...(...)
Thế rồi con chồn tâm sự:
Ðời ta tẻ nhạt. Ta đuổi bắt những con gà mái, loài người đuổi bắt ta. Mọi gà mái đều giống nhau, và mọi mọi người đều giống nhau (dù là người phồn hoa rực rở, dù là người phố thị đìu hiu...) Vậy nên ta có u dầu chán ngán đôi chút. Nhưng nếu chú tuần dưỡng ta, cuộc ống của ta sẽ sáng sủa ra, kể như có bóng mặt trời chiếu vào vậy (...) Và này coi kìa! Chú thấy ở đàng xa kia kìa những cánh đồng lúa mì đó chớ? Ta không ăn bánh mì. Lúa mì đối với ta vô dụng. Những cánh đồng lúa mì chả nhắc nhở ta cái gì ráo. Và cái điều đó, thật đáng buồn! Nhưng chú có những sợi tóc màu vàng óng. Vậy nên sự vụ sẽ trở thành huyền diệu, một khi chú đã tuần dưỡng ta xong! Lúa mì, màu vàng óng, từ đó về sau sẽ nhắc nhở ta nhớ tới chú. Và từ đó ta sẽ yêu tiếng gió thổi thánh thót trong lúa mì hiu hiu... (...)
Rồi con chồn thủ thỉ hẹn hò. Cho nhu cầu “tuần dưỡng”, nó yêu cầu hoàng tử bé đến đúng giờ, mỗi ngày. Và nó giải thích rõ lý do vì sao phải đúng giờ như thế:
- (...) Nếu chú đến, chẳng hạn, vào lúc bốn giờ chiều, thì khởi từ klúc ba giờ chiều, cõi lòng ta đã bắt đầu sung sướng. Tới bốn giờ chiều thì, ha! Ta loay hoay, e ngại, ta ngồi đứng không an; ta sẽ khám phá được ý nghĩa vô ngần hắt hiu của phù du mênh mông hạnh phúc! Nhưng chú tới bất kể lúc nào, thì ta chẳng biết đâu vào đâu mà mò ra cho đúng cái giờ phải chuẩn bị cho cái trái tim, cái phút phải vận y phục vào cho cái cõi lòng đón chào tươm tất... Cần phải có những nghi thức thơ mộng, những điển lễ phôi pha. (...)
“Tuần dưỡng”, từ này nghe lạ. Bùi Giáng khéo chọn từ, nó làm cho mình nhớ mãi. Trong những dịp đi lang thang vào các nhà sách bên Âu châu, tôi đã được mua năm sáu bản dịch khác nhau của tác phẩm này. Vì là sách dành cho trẻ con (!) (9), ấn bản của ngôn ngữ nào cũng in thật đẹp với những hình vẽ bằng màu nước của chính Saint-Exupéry. Trở lại với “tuần dưỡng”. Ở đây, xin lấy ra vài bản dịch với những ngôn ngữ thông dụng. Trong nguyên tác, Saint-Exupéry dùng từ “apprivoiser” Bản Anh dịch của Katherine Woods, dùng từ “tame”. Bản Tây-ban-nha, dịch giả Bonaficio del Carril dùng “domesticar”. Những từ này, nói chung, là những từ bình thường, quen thuộc, không đặc biệt tạo ra một ấn tượng rõ nét. Từ của Bùi Giáng dùng, đối với người Việt chúng ta, nghe thấy lạ lẫm. Và nó tạo được ấn tượng sâu sắc làm cho ta nhớ mãi.
Câu con chồn nói, “Ðối với chú, ta chỉ là một con chồn lũi lang thang như trăm nghìn con chồn lũi phất phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ thế thôi” là câu đầy nét Bùi Giáng. Bản chính chỉ là “Je ne suis pour toi qu’un renard semblable à cent mille renards”. Bản Anh dịch là, “To you, I am nothing more than fox like a hundred thousand other foxes.” Bản Tâ-ban-nha, “No soy para ti más que un zorro semejante acien mil zorros.” Cái sự vụ lang thang (...) phất phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ” hoàn toàn là do Bùi Giáng thêm vào. Nhưng sao nó lại làm cho câu văn phiêu bồng phất phơ thơ mộng là vậy! Dịch được một câu như thế có lẽ vì chính Bùi Giáng cũng đã là một con người “lang thang phất phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ” suốt cả đời mình.
Câu “Cần phải có những nghi thức thơ mộng, những điển lễ phôi pha”, trong chính bản, chỉ là, “Il faut des rites”. Bản tiếng Anh, ”One must observe the propre rites...” Bản Tây-ban-nha, “Los ritos son necesarios”.
Câu “Mọi gà mái đều giống nhau, và mọi mọi người đều giống nhau (dù là người phồn hoa rực rở, dù là người phố thị đìu hiu...) Vậy nên ta có u sầu chán ngán đôi chút”, Trong chính bản là “Toutes les poules se ressemblent, et tous les hommes se ressemblent. Je m’ennuie donc un peu”. Bản Anh, “All the chikens are just alike, and all the man are just alike. And, in consequence, I am a little bored”. Bản Tây-ban-nha, “Todas las gallinas se parecen y todos los hombres se parecen. Me aburro, pues, un poco”. Cái phần thêm thắt vào. “dù là người phồn hoa rực rở, dù là người phố thị đìu hiu, của Bùi Giáng, trong cảm nhận của riêng tôi, thật là “đã”. Nó làm cho con chồn lũi ấu phất phơ phiêu hốt hơn những con chồn trong chính bản và trong các bản dịch kia nhiều. Nó làm cho cuộc đối thoại của hoàng tử bé và chú chồn ấy “có da có thịt” thêm. Nó làm cho những “nhân vật” ấy có cá tính hơn.
Như thế, ta thấy rõ là Bùi Giáng đã làm đúng với quan niệm dịch văn mà ông đã đề ra “Dịch văn biến thành câu chuyện; vừa bay lên, vừa lặn xuống, vừa lẽo đẽo nối liền hai bờ ngôn ngữ quá xa nhau (...) Trong bản dịch, có mấy chỗ thêm vài lời, ấy là gắng đưa ngôn ngữ đơn âm đuổi theo tiết điệu đa âm. (...)” Bùi Giáng, trên một số phương diện, quả đã thành công một cách đáng yêu trong những bản dịch của mình.

.4.

Tôi nhớ trong tập Mưa Nguồn, Bùi Giáng có viết:
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
Ta đi gửi lại đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù
Bùi Giáng đã ra đi rồi. Nhưng vầng trăng ông để lại vẫn mãi mãi còn nguyên một màu sơ thủy. Những lá hoa cồn hay những dòng chữ mà ông để lại cho đời vẫn thấp thoáng mãi trong những bóng sương mù của thi ca, của hồn nguyên tiêu ngày cũ. Mãi mãi, chúng sẽ còn để ngân lại trong lòng những người yêu quý ông những tiếng gọi trở về. Trở về bến sơ đầu của những cơn mưa nguồn ngày cũ, của những bài ca quần đảo hoang vu, của những lời cố quận mịt mù gang tấc. Hẳn đã nhiều lần trong cuộc tồn sinh của mình, Bùi Giáng đã nhận thấy rằng quê hương của ông, cố quận của ông đã không còn như xưa. Dù quê hương hay cố quận đó có được hiểu như thế nào đi nữa thì ông cũng đã “chết nhiều lần trong trận sống”, và trong cuộc đời này, hình như nhiều lúc ông đã lạc lối về. Bởi thế, để tìm về đường xưa lối cũ của những hồn nguyên tiêu (Ngõ ban sơ, hạnh ngân dài/ Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua), có lẽ người thi sĩ ấy chỉ còn có thể tìm về và tìm vào trong những cuộc chiêm bao
Hỗn mang về giữa hiên nhà
Bây giờ cố quận tên là chiêm bao
(Rượu Uống)
Một giấc chiêm bao có mang mang thật nhiều nắng lạ:
Người nằm ngủ thấy gì
Thấy thật nhiều nắng lạ
(Mưa Nguồn)
Nắng lạ ấy có lẽ là thứ nắng đã làm cho “trời xanh đỏ chín” trong rừng sim những ngày chăn bò tuổi nhỏ của Bùi Giáng. Và chắc đó cũng là thứ năng làm cho ông thấy “cây lá bốn bên song song từng lứa/ sáng đôi nhau như ứa lệ ngân hàng”, khi ông để cho bò tự do gặm cỏ trong rừng sim, còn mình thì nằm ngó ngất ngây trời đất, nghe “mùi thoang thoảng lách lau sương đượm/ mùi gây gây gấy gấy của hương rừng/ mùi lên men phủ ngập mông lung/ không biết nữa mà cần chi biết nữa”
Bùi Giáng đã yêu trần gian, yêu cuộc sống, yêu cuộc chơi mà ông đã dấn thân vào với tất cả hồn xác, với tất cả “thân thể máu me và da xương” của mình biết bao:
(...) Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ơi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn

Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở với trang sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay với kiễng chân cao
(Mưa Nguồn)
Ðọc Bùi Giáng, biết về cuộc sống của ông sau này, thương yêu và quý mến ông làm có những khi tôi hỏi rằng tuổi thơ của ông đã như thế nào, và ông đã sống với tuổi trẻ ra sao. Ông đã nhìn thấy những gì khi ông vừa biết mở rộng cặp mắt để ngó vào đời. Những viễn tượng nào trong thuở đầu xanh mà ông nhìn thấy đã đẩy ông vào cuộc lữ:
Cũng vô lý như lần kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Ðời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh

Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ
Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng không thành

Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình

Ðường vất vả vó ngựa chồn lảo đảo
Cồn sương đi vào sương lạnh miên man
Bờ bến cũ ngậm ngùi sông nước dạo
Ðêm tàn canh khắc vợi nguyệt gương ngàn

Một lần đứng lên mấy lần ngồi xuống
Ngón trên tay và tóc xõa trên đầu
Tình đếm lại muôn vàn thôi đã uổng
Ðể bây giờ em có biết nơi đâu

Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không
(Hư Vô và Vĩnh Viễn/ trích nguyên bài trong Mưa Nguồn)
Nguyễn Ðức Quỳnh có lần nói Bùi Giáng giống như là Lão Tử. Ông không cần dẫn giải gì thêm. Thật sư, so sánh nào cũng khập khẽnh, nhất là khi ta so sánh những đối tượng xa nhau cả trong thời gian và không gian như thế. Nhưng nếu ta chấp nhận tính tương dối của sự sự so sánh, hẳn nhiên nhận xét ấy có những điểm đích đáng của nó. Lão Tử chống lại và mạt sát lễ. Chương 38 sách Lão Tử (Ðạo Ðức Kinh) chép: “Thất đạo nhi hậu Ðức, thất Ðức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc nhi loạn chi thủ”, có nghĩa là “Ðạo mất rồi sao mới có Ðức, Ðức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là biểu hiệu sự suy vi của trung tín (trung hậu, thành tín), là đầu mối của sự hỗn loạn” (10). Bùi Giáng cũng không thích lễ nghi phiền toái. Ông rất ghét cái thói “lễ nghĩa” của những kẻ từ chuơng, trường ốc mà ông gọi là “bọn trường trại lao xao”. Ông không thích cái giọng mà ông gọi là”bo-bo-lễ-nhượng-hương-nguyện-lưa-thưa” của họ. Ông cũng rất ghét những màn thủ tục lễ nghi rườm rà. Thậm chí, theo Mai Thảo, có những lần Bùi Giáng ra đứng tắm ở cái máy nước trước tòa soạn báo Văn cũ ở đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn, thản nhiên trước bao nhiêu người qua kẻ lại, quần áo lướt thướt đi qua đường, một đám con nít tròn mắt đi theo. Ông mặc quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải trên vai, lại thêm cây gậy chống nữa. Ông lang thang đây đó, nhủ bất cứ ở đâu, dưới trời cao, dưới một gầm cầu, hay dưới một mái hiên. Có những lúc lại thấy ông đeo một xâu chuỗi toàn giày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ. Trẻ con và người lớn đều xem ông là một người điên. Bùi Giáng điên vì đời. Nhưng, ở một mặt nào đó, ông lại là một người rất sáng suốt. Lão Tử dấu mình, ẩn danh. Bùi Giáng sống với đời, thiết tha với cuộc chơi mà ông đã chọn với tất cả “thân thể máu me và da xương” của mình. Tôi nghĩ, trong nhiều khía cạnh, có lẽ Bùi Giáng giống Trang Tử hơn. Trang Tử chọn lối sống tiêu dao, lại thích lý luận, tranh cãi hào hứng với mọi người, đặc biệt với bạn thân là Huệ Tử. Một cá tính của Trang là Vui sống, thiết tha với cuộc sống (11). Tất cả những điều này ta đều thấy thể hiện nơi con người Bùi Giáng. Ông là con người của tiêu dao, lang thang phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ, không chấp nhận bất cứ hình thức gò bó nào. Và ông chấp nhận trả giá cho cuộc chơi, cho cuộc tồn sinh của mình.
Nói mà chơi chứ Bùi Giáng chẳng phải Trang mà cũng chẳng phải Lão. Ông là một con người Việt Nam, yêu truyện Kiều, yêu Nguyễn Du, Huy Cận, và yêu luôn ca dao chuồn chuồn châu chấu. Ông yêu ngôn ngữ quê hương, và ông đã cả đời ăn nằm, chơi nghịch nghiêm trang với nó. Bùi Giáng là một người đã đi lang thang trong chốn tư tưởng của nhân loại, trong cõi thi ca của thế giới, nhưng lúc nào ông cũng chỉ muốn cuộn mình “tròn trịa méo mó” để nằm trong vòng nôi của ngôn ngữ dân tộc. Hôm nay, ông đã bỏ đi. Bỏ đi để tìm lại một màu hoa cũ. Một màu hoa trên ngàn. Một hồn nguyên tiêu. Một giấc mộng ban đầu đã bao năm khuất bóng. (Hỏi tên rằng biển xanh dâu/ Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa). Xin chúc ông lên đường phơi phới. Xin chúc ông tìm lại một bầy nắng lạ. Và nguyên sơ một vầng trăng cũ. Một vần trăng châu thổ. Cùng những sắc màu thiên thu cổ độ. Và xin bẻ tặng ông một nhành mai ngày cũ.
Những nhành mai sớm sương bên lá
Những nhành liễu chiều gió bên cây
Cũng lay lắt bởi đời xuân em ạ
Thế nên chi anh cũng viết dòng này

Hồng vạn tụ bữa kia em có thấy
Nước xuôi dòng là cổ độ nhìn theo
Tuổi mười sáu bây giờ lên gấp gảy
Mộng miên man là mây phủ lưng đèo

Buồn phố thị cũng xa bay như gió
Cộ xe nhiều cũng nhảy bổng như hươu
Bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó
Bến đào nguyên anh khoát áo khinh cừu

Tìm theo dấu chân người xưa tư lự
Ở bên đường ngóng dõi khánh vân bay
Mờ con mắt một lần lên tiếng thử
Em ồ em, anh nói một lời này
(Những nhành mai/ Trích nguyên bài trong Mưa Nguồn)
Bùi Giáng, có lẽ đã đến lúc ông lên đường trở về cố quận. Chúng ta phải chia tay. Lần cuối, xin tiễn ông một bài thơ cũ. Một bài thơ năm nào. Tôi vẫn tin rằng, một ngày nào đó, ông sẽ trở về. Và, ở đây, tôi xin phép được không nói lời vĩnh biệt.
Người đã bỏ đường kia ở lại
Ðể đi vào đối diện hư không
Bờ thánh thót thu sau về vạn đại
Lời chào kia nức nở lạnh vân mồng

Bóng trắng như sương vàng bay pha hạc
Quanh Trường Thành bờ cõi đất in rêu
Dòng trở lại ngậm ngùi khe bến cát
Gió mông lung vì mây nổi lưng dèo

Xuân đi đến đi về nằm ở giữa
Hẹn một kỳ bấn loạn mấy mùa đông
Màu tuyết bạch mơ màng trang lệ ứa
Rớt chung quanh là đú đỡn cầu vồng

Từ vĩnh biệt một lần đi từ đó
Nước xuôi dòng cổ độ chẳng nhìn theo
Lòng lây lất bên trời phương hướng nọ
Mắt ngu ngơ nhìn bọt nước sa bèo
(Từ Thức/ Trích nguyên bài trong tập Lá Hoa Cồn)

BÙI VĨNH PHÚC
Irvine, California


Chú Thích:

(1)Trong Ngày Tháng Ngao Du, Bùi Giáng thổ lộ: “(...) Hồi nhỏ tôi đã được sanh ra và lớn lên trong miền quê hẻo lánh, xung quanh có ruộng đồngsông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy suốt cả tuổi thơ (làng tôi có xưa kia có nhiều cỏ mọc. Cỏ mọc từ trong làng ra ngoài ruộng, tới những cồn, gò, đồi núi thật xanh. Từ đó về sau, tôi tìm kiếm mãi một màu xanh không còn nữa vì những trái bom và hòn đạn thiêu nướng khổng lồ...”

(2)Xem bài Bùi Vĩnh Phúc. Vấn đề thẩm thức một tác phẩm nghệ thuật. Văn Học số 10 tháng 11, 1986). Ðang lại trong Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại, 1975 – 1995 (California: Ðại Nam, 1995) và Lý Luận và phê bình. Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước, 19975 – 1995 (California: Văn Nghệ, 19996).

(3)Trong Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Ðại 2 (Sài Gòn: Bờ Cửu Long Nam Việt), 1963. [Ðề tên nhà xuất bản như thế, nhưng tôi nghĩ đây là nhà xuất bản An Tiêm của thầy Thanh Tuệ]. Ở đây, phê bình Sartre nhưng Bùi Giáng phần nào vẫn còn lòng quý mến Sartre ; bởi thế, ông áp dụng chiến thuật vừa đánh Sartre lại vừa đỡ dòn cho triết gia này. Tôi nghĩ, dù sao đi nữa, Bùi Giáng vẫn còn lòng quý mến Sartre, đặc biệt qua vở kịch Les Mouches.

(4)Ein und Zeit, Hữu Thể và Thời Gian, một tác phẩm cốt yếu của Hiedegger.

(5)A. de Siant-exupéry, Terre des Hommes. Bản dịch Cõi Người Ta của Bùi Giáng. Sài Gòn: Quế Sơn Võ Tánh. 1960, trang 77-9

(6)A. de Siant-exupéry, Terre des Hommes. Paris: Gallimard, 19963 (trang 71-2) (theo bản in năm 1939)

(7)Ðể thấy rõ phong cách dịch văn của Bùi Giáng, có lẽ sẽ không thừa trong việc ghỉ lại ở đây phần dịch Anh văn của cùng một đoạn văn trên trong bản dịch Terre des Hommes của Lewia Galantière dưới tựa dề Wind, Sand and Stars (San Diego, NewYork, London: Harcourt Brace Jovanovich, Publishers, 1976):

I landed in the peace of evening. Punta Arenas! I leaned against a foutain and looked at the girls in the square. Standing there within a couple of feet of their grace, I felt more poignantly than ever the human mystery.

In a world in which life so perfectly responds to life, wher flowers mingle with flowers in the wind’s eye, where the swan is the familiar of all swans, man alone builds his own isolation. What a space between men their spiritual natures create!

A girl’s reverie isolates her from me, and how shall I enter into it? What can one know of a girl who passes, walking with slow steps homward, eyes lowered, smiling to herself, filled with adorable inventions and with fables? Out of the thought, the voice, the silences of a lover, she can from an empire, and thereafter she sees in all the world but him a people of barbarians. More surely than if she were on another planet, I feel her to be locked up in her language, in her secret, in her habits, in the singing echoes of her memory. Born yesterday of the volcanoes, of geenswards, of brine of the sea. She walks here already half divine.

Punta Aranas! I lean against a fountain. Old woman come up to draw water: of their drama I shall know nothing but these gestures of farm servants. A child, his head against the wall, weeps in silence: there will remain of him in my memory only a beautiful child forever inconsolable. I am a stranger. I know nothing. I do not enter into their empires. [ Man in the presence of man is as solitary as in the face of a wide winter sky in which there sweeps, never to be tamed, a flight of trumpeting geese].

Phần trong dấu ngoặc đứng là phần được Saint-Exupéry thêm vào trong những ấn bản sau. Phần này không có trong nguyên bản tiếng Pháp xuất bản năm 1939 và tái bản trong tủ sách Le Livre de Poche năm 1963. Trong bản sửa chữa và thêm chương của những lần in sau, có những đoạn và những chương Saint-Exupéry thêm vào mà bản đầu tiên không có. Bản tiếng Anh, dịch giả Galantière lấy lại tựa đề cũ Sain-Ex cho Terre des Hommes là Du vent, des sable et des étoiles/ wind, sand and stars, có đủ tất cả những thay đổi, thêm thắt và sửa chữa mà Saint-Ex đa thực hiện về sau Bản Bùi Giáng dịch là bản cũ.

(8)A. de Siant-exupéry, Le Petit Prince. Bản dịch Hoàng Tử Bé của Bùi Giáng Paris, California: An Tiêm (in lần ba),1990.

(9)Quyển Le Petit Prince của Saint-Exupéry đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Bùi Giáng có lẽ rất thích thú khi nó được coi là sách của trẻ con. Tôi nghĩ khi dịch quyển này, Bui Giáng cũng có được cái hạnh phúc rất là con trẻnhư Saint Exupery khi viết nó vậy. Cuốn sách thật thích hợp với con người Bùi Giáng. Nó là sách kể chuyện cho trẻ con, nhưng người lớn xem vào lại còn thích thú hơn là con trẻ nữa. Cái tuyệt vời và đáng yêu của Saint-Exupéry là ở đây. Viết truyện trẻ con để nêu ra mấy câu hỏi triết lý vừa trầm trọng vừa thơ ngây về con người, về đời sống chơi. Trẻ con tha hồ đọc mà không hề hấn gì. Người lớn cũng tha hồ đọc để sung sướng tìm lại một đứa bé con trong tâm hồn mình.

(10)Xem Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử, Ðạo Ðức Kinh. Hà Nội: Văn Hoá, 1994. trang 17.

(11)Xem Nguyễn Hiến Lê, Trang Tử, Hà Nội: Văn Hóa. !994.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-25 11:32:56TTL>
Công Án Tử Sinh
HOÀNG NGUYÊN NHUẬN


Với Tôi, đời anh là một công án. Tôi không ngừng tra hỏi về anh, càng hỏi tôi càng xa những câu trả lời. Những điều tôi sắp nói chỉ là viên đá dò đường ném vào hư không hoặc chỉ như người chạy bắt bóng... Thôi thì tới đâu hay đó, như một lời lắp bắp tạ từ thấn tượng.

Những Ấn Số Linh Ðộng

Tôi có tật ưa ca na cúp núp một vài ẩn số, một vài công án tôi cho là hấp dẫn linh động để khi buồn hay rảnh rỗi tôi lại lôi ra chơi như hồi còn bé những ngày nghỉ học vắng bạn thì đem đồ chơi ra chơi một mình.
Hồi bốn năm tuổi, quý những viên bi chai hay bi thủy tinh còn hơn sinh mạng. Lên sáu, bảy tôi mê thổi sáo. Hết thời mê bi, mê sáo đến mê những tờ Programme hay chương trình giới thiệu các tuồng hát bóng, nhất là các tờ chương trình in ở ngoại quốc. Ðến bây giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn còn mơ thấy tờ Programme của phim Singing In The Rain hay Les trois Mousquetaires dop Gene Kelly thủ vai chính tôi phải chịu mất số tiền gần bằng cả tháng tiền học để tậu cho được ! Hết mê các tờ chương trình thì mê thơ chép tay, rồi sách...
Không biết đến tuổi nào thì tôi phụ những báo vật ấy và đến tuổi nào thì những báo vật ấy được thế bằng Lê Long Ðĩnh, Diogène, Trang Tử, Cao Bá Quát, Socrate, Quang Trung, Sartre, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Jean Baptiste, Mishima, Phật Thích Ca, Empedocle, Jesus, Hồ Chí Minh, Huệ Năng, Thầy Thiện Minh, Mao Trạch Ðông, Pol Pot... Và anh. Mặc dù anh nhập kho công án của tôi hơi chậm.

Công Án Tử Sinh

Ðời anh là một công án tử sinh, một bí ẩn về sống chết. Tôi được nhiều dịp sợ chết và thấy người khác sợ chết, tôi có dịp chán sống và thấy người khác chán sống nhưng tôi chưa thấy một người nào không ham sống và cũng không sợ chết như anh.
Ðấng Tạo Hóa có hay không, và nếu có thì Tạo Hóa có khôn ngoan thật không, tôi không dám chắc. Tôi cũng kông dám chắc đời người la một sản phẩm Tạo Hóa không ngoan bày thêm vào triệu triệu thứ khác trong vũ trụ, hay là một ân sủng Tạo Hóa tặng cho cặp đàn ông đàn bà yêu nhau.
Saint- Exupéry bảo tình yêu đích thực không phải là nhìn nhau mà nhìn về một hướng. Về hướng nào đây, tiền bạc, danh vọng, con cái? Nếu như thế thì người yêu chỉ là phương tiện! Trái lại, yêu là để mà yêu-nghĩa là nhìn nhau, nhìn vào người yêu chứ không nhìn về gì khác cả, thì con cái, tiền bạc, danh vọng không phải mục tiêu của yêu. Con cái chỉ là kết quả là tương tự như trúng lotto. Có vé số là có người trúng cả. Ðời mỗi người bắt đầu từ sự gặp gỡ giữa một con tinh trùng hay một tý tẹo tế bào và một cái trứng. Sự gặp gỡ đó là khởi điểm hóa thân của một sinh thể đang “lang thang từ độ luân hồi”. Trừ những vị cha mẹ nuôi, chỉ có vua quan ngày xưa mới đòi làm cha mẹ mà không cần đẻ con, cha mẹ dân! Hoặc chỉ có mấy tu sĩ quyết giữ lời khấn hứa đồng chơn mới đòi làm cha mà không cần đẻ con, cha thiên hạ! Chứ người thường cha mẹ phải có con và con phải có cha mẹ. Cha mẹ “sinh” con, mà con cũng “sinh” cha mẹ, vì không có con thì làm gì có cha mẹ. Gọi đó là một sáng tạo, một ân sủng của Tạo Hóa thì có oan Tạo Hóa quá không? ! Ôn Như Nguyễn Gia Thiều gọi Tạo Hóa là trẻ tạo hẳn cũng có lý do nào đó. Ân sủng hay tai nạn, muốn hay không muốn thì, cho đến ngày chết, mỗi người cũng chỉ có một đời để sống thế nhưng, cho đến ngày nhắm mắt suôi tay, có thể có người chẳng biết mình đã sài cạn lán đời mình như xe dùng hết bình xăng hay chưa. Vũ Hoàng Chương đã chẳng từng hỏi:
Ta đã làm gì đời ta chưa
Ta đã làm gì đời ta xưa?
Hình như anh không hề thắc mắc như Vũ Hoàng Chương vì anh không có đời xưa mà cũng chẳng có đời nay.

Quái Tượng Thứ Nhì

Trong ngày 30.4.1975 ở Sài Gòn, nếu hình ảnh lá cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam phấp phới trên dinh Ðộc Lập là hiện tượng lạ thứ nhất thì anh chính là quái tượng thứ nhì vậy.
Lạ vì trong ngày đó anh là người duy nhất mặc đồ trận của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với áo quần treillis và nón nhựa, tức lớp trong của nón trận. Anh nhởn nhơ trong nhung phục ấy với một bày chó năm bảy con cột dính chùm quanh lưng, đi đâu kéo chúng ăng ẳng theo đó thấy mà phát thương! Ðồ trận và nón nhựa anh nhặt ngoài đường, bầy chó anh mua ngoài chợ chó Hàm Nghi. Trước ngày đổi đời anh nhận được một số tiền nhuận bút. Anh ra phố rủ đám trẻ đánh giày, đám trẻ cầu bơ cầu bất trôi sông lạc chợ cùng anh ăn nhậu, còn bao nhiêu anh mua chó để... phóng sanh!? Nhưng thay vì thả chúng tự do, anh lại cầm tù chúng theo cách của anh như thế. Mới đầu, bầy chó đông đến mấy chục con nhưng lúc tôi gặp anh trên đường Trương Minh Giảng kế Đại Học Vạn Hạnh thì chỉ còn năm bảy con, có lẽ vì một số đã thoát khỏi xiềng xích, hoặc có người lén giải thoát... Tôi kẹt đi học tâp cải tạo từ ngày Phật Ðản năm đó nên không biết đến lúc nào anh mới lạc mất con chó thân yêu cuối cùng? Thời buổi một đồng còn quý huống nữa là mấy chục ngàn, nói chi là mấy trăm ngàn, thế mà anh tiêu như vậy đó. Anh tự gọi anh là kẻ chịu chơi, kể cũng còn khiêm tốn lắm!

Chiếc Lá Vàng Rơi Bên Trời Cố Quận

Vật đổi sao dời, lịch sử sang trang mới hay còn trang cũ, thời cuộc quẹo mặt quẹo trái hay còn trên đường thẳng... anh không quan tâm. Anh không cần biết. Anh không lo, không sợ vì anh không có gì để mất, ngay cả sinh mạng của anh. Chính anh không sợ chết thì sao tôi phải đau khổ vì cái chết của anh? Chính anh không ham sống thì sao tôi phải tiếc thương cho số kiếp của anh? Anh chẳng cần ai cả và có để ai cần anh đâu mà phải thương hại cho người còn sống! Thế nên, dù mến phục anh, khi hay tin anh qua đời, tôi thản nhiên như nghe ai kể vừa thấy chiếc lá vàng rơi, hay quả sầu riêng chín rụng đâu đó bên trời cố quận.
Có người hiểu chết là một kết thúc khủng khiếp, một hoàn tất tuyệt đối. Sống chưa biết sống, nói chi chết. Và chưa chết thì biết gì về chết mà nói nên đó có thể chỉ là những giả định của người sống để khủng bố hay ru ngủ người sống. Cứ đọc mấy cáo phó là thấy. Chết là về chầu Thượng Ðế, là được Trời gọi về, là vãng sanh lạc quốc, là về đất Phật thế mà cả người báo tin lẫn người nhận tin đều... đau buồn, đau đớn, xin chia buồn! Không buồn, không khóc được thì phải mướn người khóc, thuê ban nhạc thổi điệu bi ai. Người khác hiểu chết một cách nhẹ nhàng hơn. Khóc Lưu Kim Cương, Trịnh Công Sơn đã tự vỗ về mình rằng chết là tàn cuộc chơi phương xa:
Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Ðã rong chơi trong cuộc đời này...
Nhưng với anh, chết là bắt đầu một cuộc chơi phương xa mới, chết chỉ là một lần đổi sân ga, một lần thay bến để tiếp tục hành trình bao la vô định. Ra đi anh buồn, vấn vương vì phải bỏ lại đàng sau nụ cười và nước mắt:
Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và không biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
VÌ nơi đây tôi sống đủ vui sầu
(Phụng Hiến)
Buồn nhưng chẳng có gì là khủng khiếp vì chết chỉ là từ tạ một nhịp đời, chỉ là đổi màn chuyển cảnh, chỉ là quay lại chính mình để sống một cách khác:
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sống giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con
(Mắt Buồn)

Có Sống Ðâu Mà Chết

Như thế đó, với anh chết không phải là hết. Mà quả thật, anh có sống bao giờ đâu mà phải chết! Nếu hiểu sống không phải chỉ là những hoạt động của cái bị thịt hít thở, ăn uống vào bài tiết ra, nếu hiểu sống là sống với, với địa vị, hoài bảo, hận thù, lo sợ, với tiền bạc, danh vọng, vợ con, cha mẹ v.v. và v.v. thì hình như anh không hề sống. Tôi không thấy anh bận tâm với những thứ ấy, và cũng chẳng nghe ai xác quyết anh từng bận tâm với những thứ ấy. Ðời với tất cả "của nợ" từng gây mưa bão cuốn trôi dìm ngập bao nhiêu người chết lên chết xuống thì anh lại chỉ như tàu lá môn, như cái đầu vịt, mưa bão bao nhiêu cũng trơ trơ. Không bận tâm với cái sống nên anh cũng chẳng bao giờ bận tâm với cái chết nên anh sống thiên thu, anh sống vĩnh viễn. Và nói cho cùng, thiên thu vĩnh viễn cũng không là gì cả vì với anh thời gian chỉ là vô thường sắc không:
Trong vĩnh viễn không có thiên thu
(Em Quên)
Vì anh tốp được thời gian đi đường thẳng, và ép được thời gian đi vòng vòng như thế nên anh mới có thể hỏi người yêu:
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
(Mai Sau Em Về)
Một trăm, hai trăm hay ngàn năm sau thì trăng vẫn là trăng hôm nay, anh vẫn là anh hôm nay nên anh có thể quả quyết mối tình phù du mà thiên thu của anh với người yêu như Vũ Hoàng Chương:
Anh vẫn còn thơ về Giáng bút
Em còn hoa đủ kết hoa đăng
Có người bảo Bùi Giáng chịu ảnh hưởng nặng nề của Nguyễn Du. Tôi không biết nặng nề về điểm nào, nhưng chắc chắn không phải là điểm "Ba trăm năm sau ai là người khóc Tố Như." Bởi với kẻ đã hiểu được "trong vĩnh viễn không có thiên thu", thì ba giây còn chưa biết có không, nói gì ba trăm năm? Và nếu có ai bám vào ảo tưởng đó thì bị chính Nguyễn Du quại đau điếng ngay là "khéo dư nước mắt khóc người đời xưa" cho mà coi! Chẳng lẽ anh không thấy cái mâu thuẫn đó:

Ai Tỉnh Ai Ðiên

Có người bảo anh điên, nhưng thế này là điên hay tình? Giữa chợ trời đông như hội cuối đường Trương Minh Ký Sài Gòn sau ngày lịch sử 30.4. 1975, đến trước một hàng bán phụ tùng xe đạp cũ, anh nhẩn nha vớ lấy một cái guidon - hay cái cần lái rồi tỉnh bơ bỏ đi. Bà chủ quán chạy theo la oai oái nhờ thiên hạ bắt giùm thằng ăn cắp. Chẳng đợi ai bắt, anh quay lại trả cái guidon vào chỗ cũ và từ tốn phân bua đại để rằng bà con thấy ngụy chưa, mất cả nước chẳng ai than một tiếng, mất cái guidon thì la ầm lên như bị thọc huyết vậy. Kỳ khôi chưa?
Câu nói ấy là điên hay tỉnh? Hay khi nói câu đó thì không, nhưng trước đó và sau đó thì anh điên? Có phải anh tỉnh trong lúc điên, và điên trong lúc tỉnh? Nói sao cũng được, nhưng với tôi, câu nói của anh hôm ấy không phải là điên, tiếng cười của anh hôm ấy là thiên tài.

Lò Vạn Hạnh

Hồi thập niên 70 ở Ðại Học Vạn Hạnh, thỉnh thoảng ghé thư viện mượn sách hay thăm anh em, tôi có duyên may dự những buổi đấu láo hay tọa đàm bất chợt của các bậc đàn anh về cả tuổi đời lẫn tâm tư.
Vạn Hạnh là một trung tâm trí thức tân lập nhưng sinh động qui tụ nhiều chiều hướng tư tưởng dị biệt phản ánh cơn khủng hoảng chung diễn ra lâu nay ở miền nam. Một số khoa bản bảo cựu như Nguyễn Ngọc Huy, Tôn Thất thiệt, Bùi Tường Huân, Trần Ngọc Ninh, và có lẽ cả Nguyễn Long, Ðoàn Viết Hoạt đang tấp tễnh nhập cuộc. Bùi Tường Huân và Nguyễn Long cũng từng là người suy nghĩ bằng tay chân như chúng tôi. Nhưng Bùi Tường Huân Ðã kẹt vào canh bạc quyền lực mà Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn là tay hồ lỳ. Nguyễn Long mới ở Mỹ về đang ngầy ngật choáng váng với những thần chú ý thức hệ của Ðại Học Berkeley. Nguyễn Long có thể liều trở lại nếu có cơ duyên nhưng Ðoàn Viết Hoạt chỉ là một thư lại học chánh. Anh em sinh viên Sài Gòn hồi 1963 – 1964 ai cũng biết nếu nói về liều thì Trần Thị Thức, người bạn đời của Hoạt, mới là nói liều. Vạn Hạnh cũng là nơi chứa trái mìn nổ chậm hiệu Lê Tôn Nghiêm, Phạm Công Thiện, Nguyễn Ðăng Thục, Vệ Sĩ, Ngô Trọng Anh. Với chúng tôi, họ là những "cái đầu" và chúng tôi tự xem mình là tay chân. Họ tư tưởng để mà tư tưởng, chúng tôi tư tưởng để dấn thân, để xếp bút nghiên xuống đuờng giải nghiệp.
Anh thỉnh thoảng cũng tham dự những buổi mạn đàm bất chợt này nhưng không tranh cãi, không bốc mà chỉ cười vu vơ theo nghĩa "yên chí, không sao, đâu lại vào đấy cả mà”". Anh sâu sắc, tài hoa, đọc nhiều, nhớ nhiều và cà khịa dí dõm nhưng không "nổi loạn" như Lê Tôn Nghiêm, không “đập phá” như Phạm Công Thiện, không “dân tộc quá khích” như Nguyễn Ðăng Thục, không trào lộng như Ngô Trọng Anh, không là “trái bom nổ chậm” như Tuệ sĩ. Anh với đám này có một điểm chung là thấy rõ những thái hóa của gia tài tư tưởng tây phương đang tác hại tâm tư và xã hội Việt Nam, nhưng lối thoát của anh không phải là triết lý, thần học, tín ngưỡng, văn hóa như đám kia, lối thoát của anh là văn học, là thơ văn . Và với thơ văn, anh cũng không đi sâu vào thơ văn triết lý kiểu như Phạm Công Thiện với Holderlin, Rilke hay Tuệ Sĩ với Tô Ðông Pha chẳng hạn. Anh theo con đường riêng của anh...

Tự Tại Quay Cuồng

Thời này thiên hạ nói nhiều đến ngộ và tẩu hỏa nhập ma. Ngộ là đã nhảy qua bờ bên kia. Bờ giác. Nhưng ngộ không đi liền với lánh đời tỵ thế, ngộ đi liền với dấn thân nhập cuộc, nghĩa là đến bờ bên kia rồi thì phải nhảy về. Có người nhảy về an toàn và tiếp tục sống với một tâm tư mới. Có người “nhảy hụt” và loay hoay lần thần giữa ngộ và mê. Có một từ ngữ kiếm hiệp đã được mượn tạm để diễn tả tình trạng lợn cợn tâm linh đó: tẩu hỏa nhập ma.
Anh em chúng tôi có người nghĩ đôi lúc anh cũng hơi tẩu hỏa nhập ma. Thảng hoặc nghĩ đến Tam Ích đã tự tử, chúng tôi cũng ái ngại cho anh và lưu ý nhau trông chừng anh. Nếu hiểu tự tử là tự chấm dứt hiện hữu vì chán hay không chịu đựng nỗi cuộc sống thì chết không phải là tự tử và tôi không tin vào lập luận của tự tử. Chết như Trần BìnhTrọng, Nguyễn Thái Học, Phan Thanh Giảng hay cảm tử như Phạm Hồng Thái “một lần đi là không trở về” không phải là tự tử. Ðã làm thì phải để-làm-gì, ngay cả chẳng để làm gì cả như chơi chẳng hạn. Tự tử thì không thể để-làm-gì, không thể chẳng-để-làm-gì-cả, và cũng không thể để-chơi-thôi! Thế thì tự tử làm gì cho vô ích? ! Sau này tôi mới thấy nỗi lo của anh em chúng tôi là lo con bò trắng răng, vì anh có sống đâu và có ham sống đâu mà phải chán sống. Anh sống như không sống, anh sống như đã chết. Anh như như tự tại rồi.
Anh tự họa chân dung bằng những tiếng dễ thương:
Những người bạn xem tôi là cà gật
(Phụng Hiến)
Hay
Nửa đời bê bối thân anh
(Thiếu phụ trở về)
Cũng có khi anh tự gọi mình là kẻ chịu chơi nữa. Anh tự gọi anh như thế thì ma nào cãi nỗi. Nhưng tôi thấy chẳng có chữ nào đúng với anh cả, có lẽ vì anh khiêm cung, có lẽ vì anh không muốn tỏ ra hơn ai. Tôi chỉ thấy anh là người có được câu trả lời về ý nghĩ cuộc đời này và hiện hữu cũa riêng anh:
Ngày tháng ám vong hồn về đô hộ
Nhịp thay vần là mộng giữa chiêm bao
(Thưa)
Ðời chỉ là mộng giữa chiêm bao nên hiện hữu của anh rốt cuộc là gì, anh không thắc mắc. Là người cũng được, bằng không:
Con ruồi con kiến con châu chấu
Bươm bướm chuồn chuồn cũng thế thôi
(Nhe Răng)
Anh không cần thắc mắc con người hay con gì? Con nào cũng là con, con nào cũng thế thôi nên anh chẳng hơi đâu băn khoăn. Tâm linh anh đã đạt đến mức không cần phải có một băn khoăn một suy tư nào về bất cứ một chuyện gì:
Không biết nữa mà cần chi biết nữa
(Anh Lùa Bò Vào Ðồi Sim Trái Chín)

Bẫy Yêu

Thế đó mà anh vẫn không thoát được bẫy sập của yêu thương. Không những không né mà anh còn ngây thơ hăm hở nhảy vào:
Ðời dại khờ như một giấc chiêm bao
- Ừ thế sao? em hãy rũ ta vào
(Và Màu Xuân Ðó)
Vì nghĩ mộng là thực nên anh tự nguyện làm người yêu ngu ngơ nhảy từ đỉnh mơ này sang chóp mộng khác:
Thưa em từ bữa xa nào
Nhìn nhau mộng đã bước vào trong mơ
(Thưa Em Sài Gòn)
Hay long nhong từ mê đắm nọ đến cuồng si kia:
Và luyến ái như tơ vàng bốn ngả
Bủa vi vu như thoáng mộng la đà
(Ly Tao)
Tình yêu là một hóa thân vì hạnh phúc, chẳng còn ngã-tha, chẳng còn thời gian và không gian, chẳng còn bây giờ và thiên thu:
Em sẽ thành con kiến
Tôi thành con chuồn chuồn
...
Ta sẽ tạo lại mối tình sâu bọ
Về hư vô vĩnh viễn bóng buông màn
(Trò Chuyện)
Tình yêu biến thực thành mộng, và biến mộng thành thực. Anh đã một lần tính chuyện sống với sự thực như mộng ấy:
Giã từ cõi mộng điêu linh
Tôi về buôn bán với mình phôi pha
(Về Buôn Bán)
Anh nghĩ mình có thể đầu hàng cuộc đời để thực hiện giấc mộng lớn:
Dựng càn khôn giữa loạn cuồng si mê
(Tượng Số Thiên Nhiên)
Nhưng lúc mộng thành sự thật thì sự thật đó lại không hồng như mộng vì tình yêu có thể vô hạng nhưng sức người yêu thì có hạn:
Em quốc sắc em thiên hương đã uổng
Làm sao khuây khỏa hận của thiên tài
(Hận)
Hay nói như Huy Cận:
Ðời nghèo thế không dành cho chút lại
Ðến ái ân cũng hết cả đợi chờ
Và những ngày sau giấc ngủ trưa
Mùng buông xuống không che sầu vũ trụ
Quanh quẩn trong trùng vây đó, anh hết biết đường ra vì trong mộng hay ngoài mộng cũng chỉ là thực, nghĩa là mộng mà thôi:
Anh nằm im nhắm con mắt mơ màng
Mở con mắt cũng mơ màng cỏ lá
(Không Ðủ Gọi)
Yêu thương mộng ước chỉ còn là bi đát, nỗi bi đát do chính con người tạo ra cho mình và cho người mình yêu:
Bàn chân bước lệ buồn em có nhỏ
Xuống điêu tàn em khóc mộng tiêu ma
(Màu Trời Ðó)
Ước mộng cũng chỉ là ảo mộng nên tình yêu chỉ là lầu đài trên cát, chia ly ray rứt thật nhưng cũng chỉ là chuyện đương nhiên:
- Ly Biệt tơi bời lảo đảo
Em ra đi - đời bưng mặt khóc òa
(Chiêm Bao)
Ðau đớn hay không cũng là ly biệt, và người yêu lại lên đường với con tim tan nát:
Thuyền ngao ngán bến lại bồng bềnh trôi
(Người Hải Nội)
Hai tiếng "ngao ngán' nhắc tôi nhớ đến mấy chữ "thôi thì thôi" của Phạm Thiên Thư. Khởi điểm cũng cũng chính là kết điểm. Cho nên Hồ Dzếnh mới cầu mong đừng bắt đầu để không bao giờ chấm dứt, đừng hy vọng để không thất vọng:
Thu viết đừng xong, thuyền trôi chớ đổ
Cho nghìn sau lơ lững với nghìn xưa...
Trong biển tình, thuyền chỉ trôi bồng bềnh và người chỉ bơi vòng vòng, nhiều khi là cho đến tận... mai sau! Nên khi gặp nhau anh có thể nói mà không sợ mang tiếng cà khịa cà gật:
Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm
(Ly Tao)

Hí Lộng Ngôn Từ

Có người bảo những đau khổ vì tình đã làm anh hẫng hụt, tẩu hỏa nhập ma, tàn tạ... Anh như người võ sĩ bị đòn nằm mọp, trọng tài đếm chín, đếm mười cũng mặc. Có chết vì tình thì có điên vì tình, đã hẳn. Nhưng tôi không nghĩ tình đau tình hận làm cho anh hụt bước tâm linh.
Câu hỏi quay cuồng bám lấy tôi là anh làm thơ như một người điên hay thơ anh điên vì đã diễn đạt được trạng thái tâm linh của anh? Thơ dẫn anh vào đường tẩu hỏa nhập ma hay thơ là rào cản ngăn anh hụt bước rơi vào vực thẳm? Vũ Hoàng Chương từng muốn “lấy thơ làm Ðạo. Có ngộ Ðạo mới có duyên tiếp nhận ‘Hồn Thơ’ (vì) Thơ mới là chỗ nương tựa vững vàng nhất...” (Ta Ðã Làm Chi Ðời Ta, tr,114) Nhưng thơ là gì?
Câu trả lời xin để cho những nhà lý luận và phê bình văn học, chỉ xin tạm hiểu Thơ là trò chơi vô cầu với ngôn ngữ và vần điệu. Thơ chỉ là một trò chơi, có thể giết người, có thể cứu người nhưng cũng chỉ là một trò chơi.
Có những truyền thống văn minh, văn hóa xem ngôn từ là chân lý. Ngôn từ là Ngôi Lời tối thượng, là chân lý vĩnh hằng. Thượng Ðế hiện đến và ở lại trần gian bằng ngôn từ. Thánh Kinh Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo. Nhưng cũng có những truyền thống văn hóa xem ngôn từ chỉ là dấu hiệu chỉ đường, là chiếc thuyền đưa người sang sông, đến bờ thì phải “bỏ thuyến, bỏ lái, bỏ dòng sông”. Ý nghĩa của ngôn từ chỉ có giá trị cho những người chấp nhận trước ý nghĩa của ngôn từ đó. Nghĩa là chỉ có ý nghĩa vả giá trị giữa những người đồng thuận. Lão giáo nói đến những cái không thể nói. Khổng giáo cảnh cáo chớ mê muội bám vào sách vở. Phật giáo bảo gần nửa thế kỷ lang thang giảng đạo, Phật chẳng nói “lời nào”.
Nhân loại nhiều khi hết trò chơi nên bày trò giết nhau vì ngôn từ và bằng ngôn từ như tuyên ngôn, thông điệp, giáo lệnh, nghị quyết, chiếu chỉ,... cho ai đúng là kẻ đúng, bảo ai sai là kẻ ấy sai, cho sống là được sống, bảo chết là phải chết. Nhưng nếu tôi viết hay nói rằng: “Tôi nói dối” thì đúng chỗ nào sai chỗ nào? Thử trả lời câu hỏi đó rồi sẽ thấy rằng bám vào chân lý của ngôn từ nhiều khi cũng chẳng khác gì con mèo đùa giỡn với cái đuôi của chính nó.
Thiền của Phật giáo là khuynh hướng đánh đổ chủ trương chấp vào ý nghĩa của ngôn từ đến triệt để. Thơ thiền, thơ Ba Tiêu, những công án của Vô Ngôn Quan, Bích Nham Lục là thành quả của những đập phá ngôn từ nầy. Anh không thừa nhận là đi theo khuynh hướng nầy nhưng quả thực anh đã vờn chữ nghĩa như con chó vờn trái banh hay con mèo vờn con chuột khi chúng đùa nghịch. Vì anh không tin ngôn từ có thể giải bày hết tâm tư và thực tại. Ngôn từ bất lực là một ám ảnh không nguôi đối với anh. Không viết, không nói không được nhưng nói viết rồi cũng chẳng đến đâu:
Thưa rằng : nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào
(Chào Nguyên Xuân)

Xin lời nói ở trên môi
Là ở lại bên đời quên nhau
(Lời Xuân)

Lời sai trên miệng sẽ không là lời
(Lời Xuân)

Nói nữa là thôi, lời là lở dở
(Thưa)

Ðể thấy rằng thơ không đủ gọi
(Không Ðủ Gọi)

Lời chưa nói cũng như lời đã trao
(Nausicaa)
Anh đùa với thơ và anh đùa bằng thơ. Tôi không nhớ ai đã gọi Jacques Prévert là le jongleur spirituel. Tôi mong ước được mượn tiếng đó để tạm gọi anh. Kẻ hí lộng với chữ nghĩa.
Ðọc thơ anh có khi phải trồng chuối như một đạo sĩ yoga, bởi vì anh cũng đã lộn đầu xuống đất chổng chân lên trời khi làm thơ. Anh có những bài thơ không biết kết chỗ nào, bởi vì câu kết là câu mở đầu cho bài thơ vừa đọc hay một bài thơ khác. Câu kết của bài thơ sau đây là ví dụ:
Em nghiêng tai ta nói nhỏ chuyện nầy
(Bữa Hôm Nay)

Biết răng chừ đây nói nữa
(Kim Trọng Tại Sao)

Vòng ma nghiệt mấy lần ta rất sợ
Giờ xin em đếm lại một hai và
(Không Nói Nữa)

Phút trùng lai là ngó vội nhau và...
(Thưa)

Mai sau dù có đi về
Xin nhìn gió rụng nghành tre thưa rằng
Em về)

Ta người viễn khách đưa tin
Bỗng đờ đẫn đứng chợt nhìn nhận ra
(Xuân Thôn Nữ)
Thơ của anh giống như một điệu nhạc cổ của Ấn Ðộ, Trung Hoa hay Việt Nam. Chơi liền tù tì cả ngày cả tháng cũng được hay dừng lại một “bài” cũng xong. Ðọc thơ anh mà nghĩ rằng mình biết rõ anh muốn nói gì thì cũng liều như là nghĩ rằng mình chẳng hiểu anh nói gì cả. Bỏ thương vương nặng, thơ của anh là một chén thuốc đắng dịu dàng chỉ dành cho những kẻ liều ham thắc mắc vấn nạn.
Và liều nhất có lẽ là câu hỏi: "Anh là ai, thưa anh Bùi Giáng?" Bởi vì người hỏi có thể nghe câu trả lời đồng vọng từ vô biên: "Bùi Giáng là ai, thưa anh?"

HOÀNG NGUYÊN NHUẬN
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-11 04:01:16TTL>
Trích đoạn: Ngọc Lý

.


Đem tôi đến giữa màu đêm
Giết tôi chết giữa người quên mặt người

Bùi Giáng


Cám ơn TTL đã mang vào đây nhiều bài viết về Bùi Giáng.

Trong một cõi đời, mà một chút tỉnh táo bị lên án,
thì người nghệ sĩ khao khát sự tỉnh thức
sao tránh khỏi không điên?

Tạo ra cho mình
riêng
một vũ trụ,
để được tự do sáng tạo theo đúng cảm xúc, tâm ý của riêng mình
để thực sự
sống

"cho vui thôi mà"

"như một ông trời
bơ vơ"


đã có ai làm được điều này
ngoài Bùi Giáng?

Thản nhiên mở ra những cánh cửa

…Hãy mang tôi đến bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên


Thản nhiên bước vào đêm
để chụp bắt nhiều nắng lạ

Ghé thăm trái mận ban đầu
Bình minh bắt gặp nguyên màu ban mai


Một ngày mùa của văn học Việt
sẽ là ngày mỗi người cầm bút hoàn toàn tự do
trong cõi sáng tạo của
riêng
hồn bút.


Có phải đó là âm vọng từ một cánh chim vừa bay qua đời?


Chim xa cất cánh bay vù
Nhớ Lâm Tuyền Mộng đất phù du hoa
(Hồi sinh hồng lệ trao quà
Từ bình nguyên rộng lại nhà thăm nhau)
(Em về mấy thế kỷ sau)
Ngồi bên gốc cây
Ngủ trên ngọn sóng
Ði giữa trời mây
Tần ngần nghe ngóng
(Buồn vui như thể thân mình
Ai chia nửa máu ai giành nửa xương)
Bùi Giáng



.


Ngọc Lý "viết" rất hay (- văn phảng phất thơ - văn phong rất quen... dường như ttl đã có đọc ở đâu rồi - nhưng chưa "nhớ" ra được [:D])

"đã có ai làm được điều này
ngoài Bùi Giáng?".... (NL)

Vâng, có lẽ chưa có Ai ở VN trong thế kỷ 20 làm được như Bùi Giáng.

Nhưng chợt nghĩ lại, thì Bùi Giáng cũng chỉ đã may mắn cũng như chúng ta đã may mắn (được thưởng thức những vần thơ Bùi Giáng) thôi . Nói chung, văn học VN cũng đã may mắn. Vì nếu...

Nếu như Bùi Giáng, sống ở miền Bắc...
Nếu không có sự "liên tài" của Thanh Tuệ...
Dĩ nhiên Bùi Giáng vẫn là Bùi Giáng nhưng tài hoa của BG có "phát tiết" được như vậy chăng? Và chúng ta có cơ hội để thưởng thức thơ Bùi Giáng không?

Và cả nhạc Trịnh Công Sơn nữa.

Dám cả 2 thiên tài thơ và nhạc này đã chết tức tưởi (mai một) lắm a!

Dù đã cố gắng suy nghĩ, biện luận... nhưng ttl nhận thấy không thể nào bác bỏ được sự nhận xét đúng đắn trong câu nói.

Nhân sinh chính vi đại

Và thực tế, trong đời sống không có việc gì là "phi chính trị" được hết. Dù cho có cố nghĩ như vậy và dùng mọi lý lẽ để bào chửa thì cuối cùng bất cứ một hành vi, một chọn lựa... nào của mình, ttl thấy cũng có nguồn gốc và dính dáng đến chính trị hết ( ie "phi chính trị" chỉ là "ngụy biện" để tự dối mình và dối người thôi...)[:D]
Đăng nhập để trả lời
0