NÉN HƯƠNG THẮP HAI BÀ TRƯNG NGÀY GIỖ NHUẬN
(sơ thảo – còn bổ xung, sửa chữa)
Trương Thái Du
Có lẽ bài học lịch sử đầu tiên với rất nhiều người Việt Nam là những câu thơ nói về Hai Bà Trưng trong Đại Nam quốc sử diễn ca :
Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Tôi đã thuộc nằm lòng cả bài thơ này tự thuở tiểu học, để đến một ngày trung niên mới giật mình khi đọc Keith W. Taylor : “Lịch sử Việt Nam phần lớn là một cuộc cãi cọ về mối quan hệ Hoa – Việt, một câu chuyện với chủ định rõ ràng và khẩn thiết, sự thừa nhận nó là một phần quan trọng trong việc làm người Việt Nam [1]”.
Lời nhận xét thật đáng buồn ! Lịch sử, với tôi, chính là bà mẹ tinh thần của một dân tộc. Dù mẹ nghèo hèn, thấp kém đến đâu đi nữa, thân phận bà cũng không thể qui định tương lai đứa con mình. Chỉ có những đứa con hư hỏng mới mong đẻ ra mẹ của mình. Bằng những kiến thức hạn hẹp, không được đào tạo chuyên môn, tôi vẫn khuyên mình dũng cảm lên đường tìm mẹ. Và việc đầu tiên tôi muốn tự tra xét chính là bài học lịch sử đầu tiên của mình [2].
Rất nhiều sử gia đã đồng tình rằng theo Thủy Kinh Chú, chồng bà Trưng Trắc tên là Thi. Ông không những không hề bị Tô Định sát hại, mà còn sát cánh bên phu nhân của mình trong cuộc nổi dậy năm 40. Khi Mã Viện tấn công, không cự nổi, ông bà bỏ chạy vào Kim Khê. Chuyện tiếp theo như thế nào thì Thủy Kinh Chú không ghi. Chỉ biết dân gian truyền tụng Hai Bà Trưng tuẫn tiết ở Hát giang. Có giả thuyết Hai Bà sau đó bị Mã Viện bắt được và chém đầu, đem thủ cấp về Tàu báo công, cho nên trong đền thờ Hai Bà ở Hát Môn có tục kiêng màu đỏ.
1. Những nghi vấn : Ở đây tôi muốn trả lời hai câu hỏi – Tại sao sử gia phong kiến Việt Nam lại mượn tay tên Thái thú kia khai tử ông Thi – Và lý do gì khiến các văn bản sử chính thống hiện nay của nhà nước Việt Nam vẫn luôn lập lờ hai mặt khi đề cặp tới ông Thi [3].
Ý kiến phổ thông của đa số học giả trong thế kỷ 20 cho rằng các nhà nho xưa khi viết sử phải “giết” ông Thi, vì nếu ông Thi còn sống mà bà Trưng Trắc làm vua thì ngược lẽ… thánh hiền Khổng – Mạnh ! Họ cũng thống nhất rằng cư dân Việt cổ hình như theo chế độ mẫu hệ, bằng chứng là thuộc tướng của Hai Bà Trưng phái nữ rất nhiều, nào là Lê Chân (thánh chân công chúa), Ngọc Lâm (thánh thiên công chúa), Vũ Thục Nương (bát nàn công chúa), Thiều Hoa (đông quân tướng quân), Ngọc Lâm (thánh thiên công chúa), Diệu Tiên, Đào Kỳ .v.v… Giải thích như trên chưa thuyết phục lắm. Theo tôi sự bịa đặt kia còn ẩn chứa một hàm ý sâu xa khác, nó làm người ta không chú tâm đến địa điểm của cuộc nổi dậy.
Rõ ràng Trưng Trắc và em Bà là Trưng Nhị đã tập hợp lực lượng và tuyên chiến với Tô Định tại Mê Linh, với sự ủng hộ mạnh mẽ của mẹ Hai Bà là bà Man Thiện. Khi thành công rồi, Hai Bà Trưng xưng vương và đóng đô cũng tại Mê Linh, nơi chôn nhau cắt rốn của Bà. Giả sử Hai Bà Trưng không có em trai. Khi chồng chết, Trưng Trắc (lúc này đang ở bên chồng) về lại quê cùng giữ quyền thế tập với em gái mình, rồi “hận người tham bạo, thù chồng chẳng quên” phất cờ khởi nghĩa. Chuỗi luận này thật tròn trịa và dễ ru ngủ người đời và thật sự nó đã ru biết bao thế hệ người Việt ngủ ngon hằng ngàn năm.
Quả tình ông Thi chẳng bị ai ám hại. Ông là con Lạc tướng Châu Diên, rất “môn đăng hộ đối” với Trưng Trắc, chứ không phải một anh lực điền tứ cố vô thân được gia chủ nuôi và gửi gắm con gái rượu. Không có ông bên cạnh Trưng Trắc đánh đuổi Tô Định, thì không ai thắc mắc khi lấy vợ ông đi ở rể hay rước dâu về. Nếu lúc ấy người Việt cổ đã theo chế độ phụ hệ, Trưng Trắc phải về nhà chồng. Và nếu hưng binh tất bà sẽ chọn Chu Diên chứ không phải Mê Linh. Do đó ta thấy vai trò của kẻ làm dâu trong một gia tộc danh giá thời ấy hơi khác thường.
Đến đây có lẽ ta nên mạnh dạn kết luận khi phối ngẫu với Trưng Trắc, ông Thi phải theo vợ sang Mê Linh. Vai trò của ông Thi trong cuộc binh biến và cả sau khi binh biến thành công, khá mờ nhạt. Thay vào đó là hình ảnh Trưng Nhị, em gái Trưng Trắc. Đó là điều hiển nhiên, xã hội mẫu hệ cho Trưng Trắc quyền thế tập và Trưng Nhị là hàng thừa kế thứ nhất, thậm chí Trưng Nhị còn có thể thừa kế cả anh rể mình nữa, điều này hoàn toàn không có gì xa lạ với nhiều bộ tộc còn chậm tiến trên thế giới ở thế kỷ 20 vừa qua. Giả thuyết này có thể lấy chuyện hôn nhân của Mỵ Châu và Trọng Thủy trước đó gần 200 năm làm một điểm tựa [4]. Ngay hình ảnh truyền thuyết An Dương Vương cưỡi ngựa mang theo Mỵ Châu bỏ chạy khỏi Cổ Loa, cũng mơ hồ cho thấy Mỵ Châu cần được bảo vệ như một “thái tử” trong cơn nguy cấp.
Trả lời cho câu hỏi thứ hai đòi hỏi chúng ta phải làm quen với một khái niệm mới “Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc” : “Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc …. vào những thế kỷ VII đến III TCN, đã trở thành cội nguồn của các nền văn minh tiếp theo của dân tộc [5]”. Tuy không khẳng định chắc chắn ở nền văn minh này xã hội Việt cổ đã theo chế độ phụ hệ chưa, nhưng trong mục “Sự ra đời của nước Văn Lang” người ta chú thích cuối trang : “Thời Hùng Vương chế độ một vợ một chồng dần dần phổ biến, gia đình nhỏ là một tế bào của xã hội. Đây là gia đình phụ hệ, nhưng người phụ nữ vẫn có địa vị quan trọng, được coi trọng ở trong gia đình và ngoài xã hội. [6]”
Trong nỗ lực nghiên cứu khảo cổ kết hợp với các lý thuyết lịch sử, các sử gia của nhà nước Việt Nam hôm nay quyết tâm chứng minh người Việt Nam hiện đại với bản sắc rõ ràng, nguồn cội minh bạch đã có một quốc gia và nhà nước sơ khai vào khoảng thế kỷ VII đến TK VI TCN. Điểm mốc này gọi là mở đầu thời đại dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Thế ra nền văn hiến 4000 năm theo cách gọi cũ đã lùi xuống còn khoảng 2700 năm. Và hình như, theo lối kinh viện mà các sử gia kia áp dụng, hình thái xã hội phụ hệ là một điều kiện cần cho lý thuyết của họ. Khi đã đặt niềm tin sắt đá đến như vậy vào một thời điểm cách cuộc nổi dậy của Hai Bà trưng đến 700 năm, mà lại công nhận thời Hai Bà Trưng người Việt cổ còn duy trì chế độ mẫu hệ, khác nào biến công lao cực nhọc kể trên thành trò cười cho những sử gia nghiêm túc lấy nền tảng khoa học, sự trung thực làm tiêu chí và không bị chính trị chi phối. Điều này nếu không rút ngắn tuổi tác văn hiến Việt Nam xuống nữa, thì cũng tương tự như lời chê trách cái nền văn minh “Văn Lang – Âu Lạc” kia phát triển giật lùi ! Càng cố chứng tỏ tính lên tục và nhất thống của nền văn hóa bản địa Việt cổ từ thời Văn Lang – Âu Lạc đến thời Hai Bà Trưng, các sử gia “quốc doanh” càng đi vào thế kẹt rất tội nghiệp. Họ viết : Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai chị em, con lạc tướng huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc), thuộc dòng dõi “họ Hùng” [7]. Chữ - họ Hùng - được để trong dấu nháy một cách tùy tiện khá vô duyên, và không hề được giải thích là họ Hùng nào, có phải họ của vua Hùng Vương trong truyền thuyết hay không. Hơn thế nữa, có đất nước Văn Lang và dân tộc Lạc Việt thì mới dẫn luận được giá trị cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng : “Đó là ý chí kiên quyết đấu tranh bằng mọi giá để giành lại nền độc lập, tự do cho đất nước và dân tộc [8]”. Đây là hai mặt tương cân của một vấn đề cho nên nó chứa đựng nguy cơ mất ổn định rất cao, và đe dọa sự sụp đổ công trình sáng tác sử học bất cứ lúc nào.
2. Một cách lý giải :
Lần ngược lịch sử [9], ta thấy khi Tây Hán bình định xong nước Nam Việt của họ Triệu, toàn cõi Nam Việt được cải thành Giao Chỉ bộ và chia làm 9 quận. Mỗi quận có Thái thú và Thứ sử trông nom. Ở quận Giao Chỉ (tức Bắc Việt ngày nay) những Lạc tướng, Lạc hầu vẫn được giữ quyền cai trị dân bản xứ. Từ đó đến hết thời Tây Hán (năm 25 sau CN) sử sách không nhắc gì đến Giao Chỉ. Năm 29 có Thứ sử Giao Chỉ triều cống nhà Hán sau loạn Vương Mãng.
Có thể hình dung suốt thời Tây Hán dân Việt và nhóm quan lại ủy trị của triều đình phương Bắc sống khá hòa thuận, chẳng gây điều tiếng gì khiến sử sách lưu tâm. Phải chăng hình mẫu này cũng giống như cảnh thanh bình, háo hức khám phá nhau lúc đầu giữa Kha Luân Bố và các bộ lạc da đỏ tại Tân thế giới. Sử ghi : “Đầu thời Bắc thuộc, triều Tây Hán phải chở thóc gạo vào Giao Chỉ để cung cấp cho bọn quan lại đô hộ và quân lính chiếm đóng” [10]. Suy rộng ra việc thu thuế của Hán quan có thể chưa được áp dụng, hoặc áp dụng lấy lệ, rất hạn chế, không đủ cho nhu cầu sinh sống tối thiểu của chính họ. Hơn nữa chuyện thái thú Cửu Chân Nhâm Diên bắt thuộc lại của quận trích lương bổng giúp những kẻ nghèo lấy vợ lấy chồng, không những rành rành trong nhiều văn bản mà còn được truyền tụng rộng rãi khắp dân gian. Cuối thời Tây Hán, chính trị phương Bắc suy đồi, xã hội mục ruỗng, nông dân bị bần cùng hóa nổi lên làm loạn, giặc giã và thiên tai [11] dồn dập khắp nơi. Năm 23 Lưu Tú dẹp được Vương Mãng tiếm quyền nhưng Trường An đổ nát, hoang tàn trong máu lửa, do đó ông dời đô về phía đông đến Lạc Dương lập nên nhà Hậu Hán. Bối cảnh xã hội như vậy khiến xuất hiện làn sóng di dân tự do ào ạt về phương Nam. Những người đi tìm “đất hứa” đa phần là nam giới đã trưởng thành, có thể họ tị nạn chính trị, trốn lính hoặc mưu cầu đời sống kinh tế dễ thở hơn. Nữ giới và trẻ em chắc chắn rất ít vì chặng đường dài từ Trung Nguyên đến bắc Việt đồi núi chập chùng đầy dẫy hiểm nguy, lam sơn chướng khí sẽ chôn vùi những cơ thể yếu đuối.
Xã hội Việt Nam khi đó hình thành hai cộng đồng dân cư riêng biệt, có hai thể chế cai quản khác nhau về hình thức lẫn bản chất, khoác hai bộ cánh văn hóa không mấy tương đồng nhưng lại chia sẻ cùng một mảnh đất và ít nhiều liên kết với nhau bằng những cuộc hôn nhân và các giao tiếp phổ thông thân thiện. Một hệ thống mâu thuẫn phát sinh là tất yếu : giữa quan lại triều đình nhà Hán với chính nhà Hán ; giữa quan lại bản địa và quan lại triều đình nhà Hán ; giữa người Việt cổ với lạc hầu, lạc tướng ; giữa di dân và Hán quan ; giữa liên minh thống trị Lạc – Hán và nhân dân nói chung .v.v… Tuy các mâu thuẫn trên hiển nhiên tồn tại nhưng con người vẫn sống thanh bình với nó trong một thời gian dài, chứng tỏ tương quan lực lượng giữa hai phe còn cách biệt nhau khá xa.
Nhiều sử gia có cái nhìn đơn giản hóa vấn đề cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng là mâu thuẫn về quyền lợi trong việc sở hữu đất đai của hai cộng đồng Việt cổ và tân Hán. Nhưng theo tôi dị biệt văn hóa mới là căn nguyên của mọi tranh chấp. Nguyên tắc phụ quyền của kẻ ngụ cư và truyền thống mẫu quyền bản xứ là hai mặt hoàn toàn đối lập nhau đã kích thích những mâu thuẫn sẵn có bùng phát thành một biến cố có vai trò như một cuộc binh biến bảo vệ thuần phong, tái lập trật tự cũ. Bản chất biến cố này không hề mang tính cách mạng vì lực lượng đại diện cho cái mới chưa đủ mạnh. Sự xuất hiện của Tô Định vào năm 34 chỉ là nguyên tố xúc tác giúp phản ứng diễn ra, là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước đầy ắp mà thôi.
Khi Tô Định đến Long Biên thì những người Hán di cư đầu tiên (từ đầu công nguyên) đã kịp sinh con đẻ cái tạo nên một thế hệ trung gian đã trưởng thành. Chính họ làm trầm trọng thêm mâu thuẫn vốn có, và đưa những mâu thuẫn này đến tận không gian sinh hoạt của nhiều gia đình (tức là tế bào của xã hội) mẹ Việt, cha Hán. Tô Định tiếp quản bộ máy cai trị mang tính hình thức với nhóm thư lại ít nhiều đã bị Việt hóa sau bao năm chung sống với người Việt. Có lẽ sức ép từ triều đình khiến tân thái thú phải củng cố và hoàn bị bộ máy bóc lột nhằm biến Giao Chỉ thành miếng bánh ngon giữa bàn tiệc thực dân, chứ không thể mãi mãi là mảnh đất trang trí trên bản đồ đại Hán và đôi khi là một gánh nặng khó kham. Tuy nhiên hắn hoàn toàn đơn thương độc mã, nếu không kể một nhúm lính Hán hộ tống đã theo hắn từ Trung Nguyên. Tô Định chắc chắn phải giao tiếp với người bản xứ qua thông ngôn, khiến hắn thêm lạc lõng và có một khoảng cách nhất định với thực tế. Có thể hắn đã tiến hành vài cuộc khủng bố lẻ tẻ nhân danh thiên tử Tàu, và dùng áp lực của chính quyền tối cao giải quyết các mối bất hòa trong xã hội liên quan đến hôn nhân, thế tập, thừa kế cũng như quyền sử dụng đất đai.
Lẽ đương nhiên người Việt không thể chấp nhận cách thức ấy. Nhóm dân Hán một mặt âm thầm ủng hộ lối thực thi pháp luật Trung Hoa tại đây, một mặt vì những liên hệ tình cảm gia đình, họ hàng bên ngoại với người Việt, đành hướng sự nổi giận của các lạc hầu, lạc tướng vào cá nhân thái thú. Bọn thư lại cũ chắc luôn tỏ ra vô can, không muốn đứng hẳn về phía nào và chỉ mong Tô Định mau cuốn xéo, để lại cho chúng bộ ấn tín thái thú và cảnh thanh bình giả tạo cũ với bầu trời yên tĩnh lạ lùng trong mắt bão.
Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa năm 40, dân Việt đồng tình hưởng ứng khắp nơi. Tô Định chuồn thẳng về Nam Hải (tức Quảng Châu – Tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay) mà không hề có một trận chiến ra trò nào với Hai Bà Trưng để sử sách hoặc dân gian truyền lại. Chi tiết này thêm một lần nữa xác tín bối cảnh được xây dựng ở trên là hợp lý. Qui mô đội quân chiếm đóng của Tô Định rất nhỏ, chẳng thể đánh đấm gì được, nhóm người Hán có dây mơ rễ má với người Việt đào ngũ, không nghe lệnh viên thái thú chưa xây dựng được cho mình hệ thống tay chân tâm phúc sau hơn 5 năm nhậm chức. Sử gia phương Tây nghiên cứu sách vở một cách máy móc còn gợi mở : “Hãy thử tưởng tượng số phận của những người Trung Hoa bị (Tô Định) bỏ lại, không kịp chạy trốn sẽ như thế nào? [12]”. Nếu có một làn sóng trả thù, thậm chí tắm máu sau đó thì đương nhiên dân gian sẽ rất hứng thú sử dụng nó để làm giàu thêm dữ liệu “chống Tàu”, chứ không dễ gì cho sự kiện mai một hẳn theo năm tháng.
Cuộc hành quân về Long Biên của Hai Bà Trưng nhanh chóng thành công. Điều này là tiền đề thuận lợi cho Hai Bà Trưng tập hợp được thêm nhiều lực lượng ủng hộ, tiến tới xưng vương rồi đóng đô cai trị tại Mê Linh.
Năm 43 Mã Viện mang theo 20 ngàn quân thiện chiến sang đến nước Việt, bằng kinh nghiệm lọc lõi của một tên tướng phong kiến, hắn kiên nhẫn đóng quân tại Lãng Bạc và nghe ngóng tình hình. Hai Bà Trưng sốt ruột, chủ động tấn công trước và đã thất bại, phải rút về Mê Linh rồi Cấm Khê (chân núi Ba Vì). Mã Viện tiếp tục truy kích và bắt được Hai Bà Trưng. Tàn quân Việt chiến đấu được vài tháng nữa mới tan rã. Dân gian Việt Nam có hai ngày giỗ Hai Bà Trưng là 5.2.43 và 8.3.43 , có lẽ ngày đầu là ngày Hai Bà Trưng bị bắt và ngày sau là ngày họ bị hành hình. Ở đây xuất hiện hai khả năng : Một là mã Viện giữ Hai Bà để dụ hàng nhằm kêu gọi nhóm nghĩa quân chưa buông vũ khí ra trình diện. Hai là hắn thuyết phục Hai Bà kêu gọi nhân dân thuần phục nhà Hán và chấp nhận luật pháp Hán. Dù sao ta cũng biết chắc một điều Hai Bà Trưng đã không chịu thỏa hiệp dù phải bỏ mình.
Sự kiện Hai Bà Trưng anh dũng tấn công Mã Viện dẫn đến một liên tưởng hơi ngoài lề một chút. Rõ ràng Hai Bà rất tự tin và có quân số không kém gì Mã Viện. Với lực lượng hùng hậu như thế, tại sao Hai Bà không củng cố thành Cổ Loa cũ để đương đầu với quân viễn chinh. Ngoài thực địa Loa thành chỉ cách Mê Linh trên dưới 20km đường chim bay, không hề bị sông lớn, suối rộng, núi cao, khe sâu ngăn trở, và Hai Bà có gần 3 năm để chuẩn bị một cuộc kháng chiến dài lâu. Như vậy truyền thuyết An Dương Vương và Loa thành có thêm một nghi chứng phủ nhận [13]. Chi tiết này rất quan trọng, nó có thể đánh đổ lập luận về tính liên tục và nhất thống của nền văn hóa bản địa Việt cổ đã nói ở trên. Nếu mai này khảo cổ học chứng minh được hai vòng ngoài của thành Cổ Loa do người Việt xây dựng, thì việc Hai Bà Trưng không biết sử dụng thành trì trong chiến tranh chứng tỏ sự liên hệ văn hóa giữa thời Hai Bà và thời An Dương Vương khá rời rạc, thậm chí đứt đoạn.
Xin tạm che giấu cảm tính dân tộc và tinh thần quốc gia (những khái niệm không thể có ở thời Hai Bà Trưng), để đứng trên bình diện văn minh mà dè dặt nói : kết cục cuộc chiến giữa Hai Bà Trưng và Mã Viện có thể tiên liệu trước, chế độ thị tộc mẫu hệ, hay ít ra là tàn dư của nó phải bị khuất phục trước một mô hình xã hội tân tiến hơn, để giải phóng sức sản xuất xã hội, phân công lại lao động, đưa con người và lịch sử tiến lên phía trước [14]. Sự thật là Hai Bà Trưng đã phải đương đầu với Mã Viện, một tên tướng xâm lăng nên nguyên nhân thất bại cốt lõi của Hai Bà rất khó được chấp nhận đối với hầu hết người Việt Nam, không phân biệt trình độ nhận thức.
Hai Bà Trưng ra đi khép lại thuở bán khai trên đất Lạc Việt. Thời điểm này chính là hoàng hôn trước đêm dài nô lệ. Người Việt biết chấp nhận nỗi nhục thiếu tự do để học hỏi, tự hoàn thiện mình. Thỉnh thoảng một vài ngọn đuốc lại bừng sáng mang nhiều cái tên anh hùng như Triệu Thị Trinh, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng… Tiếp đến là hơn nửa thế kỷ độc lập của Lý Nam Đế cùng các phụ triều trong giấc mơ Vạn Xuân đầy hiện thực. Đó là những bước tiến vững chắc, không thể phủ nhận của con người và đất nước Việt Nam thời khởi sử, làm bệ phóng cho kỷ nguyên tự chủ bắt đầu với Khúc Thừa Dụ năm 905. Tám trăm năm tròn Bắc thuộc là cái giá quá đắt nhưng không hề vô nghĩa. Dân tộc Việt Nam, văn minh Việt Nam hình thành trong gian khó và thử thách đã lớn mạnh vượt bậc. Từ đó về sau phong kiến phương Bắc không lần nào hoàn toàn khống chế được chúng ta nữa. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đại diện thực dân châu Âu là Pháp Lang Sa, với ưu thế hơn hẳn chúng ta về sức mạnh vũ khí được sản xuất dưới một nền khoa học kỹ thuật tân kỳ, tổ chức xã hội tư bản tiến bộ, cũng chỉ áp đặt sự đô hộ không đồng bộ của chúng trên mảnh đất này tròm trèm 80 năm mà thôi.
3. Kết luận :
Từ quyển hiến sử đầu tiên còn lưu lại đến ngày này là Đại Việt Sử lược (1377 – 1388), sử gia Việt Nam đã chấm bút lông vào nước lã để viết về ông Thi. Năm tháng qua đi, sách sử nối nhau ra đời, Bà Trưng Trắc vẫn phải làm một quả phụ bất đắc dĩ, gồng gánh thêm bao nhiêu khái niệm không cùng thời với Bà như quốc gia, dân tộc, tổ quốc… Lối tư duy nông cạn, chủ quan, đầu óc thủ cựu, phiến diện, tư tưởng áp đặt hẹp hòi, nông nổi, thói ngã tâm tào lao – kết hợp với truyền thống tạo dựng chính sử thiên kiến và không tôn trọng sự thật một cách có hệ thống, vô hình chung đã tô son trát phấn lên Bà mẹ chân đất “vi nhân hữu đảm dũng [15]”. Kết quả là người mẹ vĩ đại của chúng ta chẳng đẹp hơn tí nào. Nó chỉ khiến người đời chạnh buồn cho những đứa con vụng về, xốc nổi và đồng bóng của Bà.
Mảnh đất hình chữ S có tên Việt Nam ngày nay hiện hữu khoảng 200 đền thờ Hai Bà Trưng. Đó là tuyên bố rõ ràng nhất về vai trò lớn lao của Hai Bà trên non sông này. Mọi lý thuyết học thuật cổ kim đều không thể phủ nhận bản chất anh hùng và tinh thần bất khuất của Hai Bà Trưng, những người mẹ vĩ đại của lịch sử Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Hãy trả lại cho mẹ hình hài thực và tâm hồn mộc mạc của người, đó là nhiệm vụ của từng đứa con của mẹ, và của tôi, một người đã được sinh ra trên chính mảnh đất Mê Linh huyền thoại, là cháu, là con của những người phụ nữ nhiều đời an cư lạc nghiệp tại Mê Linh.
…………….
1. Nguyên văn : "Vietnamese history was largely an argument about the Sino-Vietnamese relationship, a story with a clear and urgent purpose, the acceptance of which was an important part of being Vietnamese." Trích trong The early kingdooms – Keith W. Taylor – Trang 152-153 quyển “The Cambridge History of Southeast Asia” , Volume One From Early Times to c. 1800. Cambridge University Press, 1992.
2. Nói chung các bản sử gốc viết về nước Việt cổ thời kỳ trước năm 43 sau CN rất ít, sách vở từ xưa đến nay trích đi, dẫn lại nhiều lần đã khiến các dữ liệu trở thành kiến thức rất phổ thông. Trong phạm vi bài này, tác giả xin miễn chú thích cặn kẽ nguồn sử về Vua Hùng, An Dương Vương và Hai Bà Trưng, để tránh việc liệt kê những tên sách quá quen thuộc. Với những chứng lý mới hoặc chưa thống nhất, sẽ có ghi chú riêng rõ ràng.
3. Tôi dựa theo văn bản mới nhất mang tính pháp lý cao nhất ở VN hiện nay là quyển “Đại cương Lịch sử Việt Nam” – NXB Giáo Dục – Tập I – Trương Hữu Quýnh chủ biên – kỳ tái bản lần thứ 6 – năm 2003. Phần 2 (Thời đại dựng nước) và phần 3 (Thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc) do phó giáo sư Nguyễn Cảnh Minh biên soạn. Tác giả đã tập hợp được hầu như toàn bộ sử liệu đông tây kim cổ liên quan đến hai thời kỳ này và những phát kiến khảo cổ mới nhất. Tuy nhiên bộ khung lý thuyết xây dựng rất chủ quan, hệ thống luận nhiều sai lầm, ý tưởng khiên cưỡng chứa đựng những mâu thuẫn cực kỳ lộ liễu, và nhất là cách xử lý thông tin ẩu tả. Chẳng hạn trang 74 sách dẫn “Đến thời Đông Hán, số thóc thuế mà chính quyền đô hộ đã vơ vét được của nhân dân Giao Chỉ lên tới 13.600.000 hộc, tương đương 272.000 tấn thóc.” Nhẩm tính chỉ với mức thuế “triệt tiêu sản xuất” là 30% trên sản lượng, cộng trừ số khai gian, hối lộ để giảm thuế, quan trưng thuế ăn chặn, mức sản xuất sơ tính của Giao Chỉ phải trên 1 triệu tấn thóc… Một con số khủng khiếp thật khó tin, không chỉ ở thời đó mà còn nối dài hàng ngàn năm nữa !
4. Sách đã dẫn định lại niên đại chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy diễn ra khoảng năm 179 TCN, chứ không phải năm 208 TCN như các sách cũ.
5. Sđd trang 58.
6. Sđd trang 45
7. Sđd trang 85
8. Sđd trang 88
9. Theo Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim
10. Sđd trang 74
11. Năm 11 sau CN ở Trung Hoa có lụt lội rất lớn, nước sông Hoàng Hà tràn bờ và đổi dòng chảy khiến bao nhiêu làng mạc bị chôn vùi, mùa màng hư hại, nhân dân đói khổ vô cùng.
12. Stephen O’ Harrow : Từ Cổ Loa đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – Việt Nam dưới con mắt người Trung Hoa. NXB Trẻ 2001.
13. Theo một số tuyên bố trên báo chí gần đây của GS Đỗ Văn Ninh, nhóm khảo cổ học của ông đã xác định vòng trong cùng của thành Cổ Loa do Mã Viện xây dựng sau khi đánh bại Hai Bà Trưng. Kiểu xây thành, nguyên vật liệu đã dùng và mồ mả khai mở được trong thành đều mang phong cách Đông Hán.
14. Hiện nay rất nhiều quyền lợi xã hội của phụ nữ được khôi phục và bảo vệ, đó cũng là bước tiến lớn của văn minh. Cách ghép họ cha – mẹ thành họ con cái rất phổ thông ở Việt Nam như Lê – Nguyễn , Trần – Trịnh … có thể là nét đẹp được bảo tồn từ thời Hai Bà Trưng, một bản sắc riêng ít thấy ở các nền văn hóa khác.
15. Nguyên văn sách Thủy Kinh Chú.
(sơ thảo – còn bổ xung, sửa chữa)
Trương Thái Du
Có lẽ bài học lịch sử đầu tiên với rất nhiều người Việt Nam là những câu thơ nói về Hai Bà Trưng trong Đại Nam quốc sử diễn ca :
Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Tôi đã thuộc nằm lòng cả bài thơ này tự thuở tiểu học, để đến một ngày trung niên mới giật mình khi đọc Keith W. Taylor : “Lịch sử Việt Nam phần lớn là một cuộc cãi cọ về mối quan hệ Hoa – Việt, một câu chuyện với chủ định rõ ràng và khẩn thiết, sự thừa nhận nó là một phần quan trọng trong việc làm người Việt Nam [1]”.
Lời nhận xét thật đáng buồn ! Lịch sử, với tôi, chính là bà mẹ tinh thần của một dân tộc. Dù mẹ nghèo hèn, thấp kém đến đâu đi nữa, thân phận bà cũng không thể qui định tương lai đứa con mình. Chỉ có những đứa con hư hỏng mới mong đẻ ra mẹ của mình. Bằng những kiến thức hạn hẹp, không được đào tạo chuyên môn, tôi vẫn khuyên mình dũng cảm lên đường tìm mẹ. Và việc đầu tiên tôi muốn tự tra xét chính là bài học lịch sử đầu tiên của mình [2].
Rất nhiều sử gia đã đồng tình rằng theo Thủy Kinh Chú, chồng bà Trưng Trắc tên là Thi. Ông không những không hề bị Tô Định sát hại, mà còn sát cánh bên phu nhân của mình trong cuộc nổi dậy năm 40. Khi Mã Viện tấn công, không cự nổi, ông bà bỏ chạy vào Kim Khê. Chuyện tiếp theo như thế nào thì Thủy Kinh Chú không ghi. Chỉ biết dân gian truyền tụng Hai Bà Trưng tuẫn tiết ở Hát giang. Có giả thuyết Hai Bà sau đó bị Mã Viện bắt được và chém đầu, đem thủ cấp về Tàu báo công, cho nên trong đền thờ Hai Bà ở Hát Môn có tục kiêng màu đỏ.
1. Những nghi vấn : Ở đây tôi muốn trả lời hai câu hỏi – Tại sao sử gia phong kiến Việt Nam lại mượn tay tên Thái thú kia khai tử ông Thi – Và lý do gì khiến các văn bản sử chính thống hiện nay của nhà nước Việt Nam vẫn luôn lập lờ hai mặt khi đề cặp tới ông Thi [3].
Ý kiến phổ thông của đa số học giả trong thế kỷ 20 cho rằng các nhà nho xưa khi viết sử phải “giết” ông Thi, vì nếu ông Thi còn sống mà bà Trưng Trắc làm vua thì ngược lẽ… thánh hiền Khổng – Mạnh ! Họ cũng thống nhất rằng cư dân Việt cổ hình như theo chế độ mẫu hệ, bằng chứng là thuộc tướng của Hai Bà Trưng phái nữ rất nhiều, nào là Lê Chân (thánh chân công chúa), Ngọc Lâm (thánh thiên công chúa), Vũ Thục Nương (bát nàn công chúa), Thiều Hoa (đông quân tướng quân), Ngọc Lâm (thánh thiên công chúa), Diệu Tiên, Đào Kỳ .v.v… Giải thích như trên chưa thuyết phục lắm. Theo tôi sự bịa đặt kia còn ẩn chứa một hàm ý sâu xa khác, nó làm người ta không chú tâm đến địa điểm của cuộc nổi dậy.
Rõ ràng Trưng Trắc và em Bà là Trưng Nhị đã tập hợp lực lượng và tuyên chiến với Tô Định tại Mê Linh, với sự ủng hộ mạnh mẽ của mẹ Hai Bà là bà Man Thiện. Khi thành công rồi, Hai Bà Trưng xưng vương và đóng đô cũng tại Mê Linh, nơi chôn nhau cắt rốn của Bà. Giả sử Hai Bà Trưng không có em trai. Khi chồng chết, Trưng Trắc (lúc này đang ở bên chồng) về lại quê cùng giữ quyền thế tập với em gái mình, rồi “hận người tham bạo, thù chồng chẳng quên” phất cờ khởi nghĩa. Chuỗi luận này thật tròn trịa và dễ ru ngủ người đời và thật sự nó đã ru biết bao thế hệ người Việt ngủ ngon hằng ngàn năm.
Quả tình ông Thi chẳng bị ai ám hại. Ông là con Lạc tướng Châu Diên, rất “môn đăng hộ đối” với Trưng Trắc, chứ không phải một anh lực điền tứ cố vô thân được gia chủ nuôi và gửi gắm con gái rượu. Không có ông bên cạnh Trưng Trắc đánh đuổi Tô Định, thì không ai thắc mắc khi lấy vợ ông đi ở rể hay rước dâu về. Nếu lúc ấy người Việt cổ đã theo chế độ phụ hệ, Trưng Trắc phải về nhà chồng. Và nếu hưng binh tất bà sẽ chọn Chu Diên chứ không phải Mê Linh. Do đó ta thấy vai trò của kẻ làm dâu trong một gia tộc danh giá thời ấy hơi khác thường.
Đến đây có lẽ ta nên mạnh dạn kết luận khi phối ngẫu với Trưng Trắc, ông Thi phải theo vợ sang Mê Linh. Vai trò của ông Thi trong cuộc binh biến và cả sau khi binh biến thành công, khá mờ nhạt. Thay vào đó là hình ảnh Trưng Nhị, em gái Trưng Trắc. Đó là điều hiển nhiên, xã hội mẫu hệ cho Trưng Trắc quyền thế tập và Trưng Nhị là hàng thừa kế thứ nhất, thậm chí Trưng Nhị còn có thể thừa kế cả anh rể mình nữa, điều này hoàn toàn không có gì xa lạ với nhiều bộ tộc còn chậm tiến trên thế giới ở thế kỷ 20 vừa qua. Giả thuyết này có thể lấy chuyện hôn nhân của Mỵ Châu và Trọng Thủy trước đó gần 200 năm làm một điểm tựa [4]. Ngay hình ảnh truyền thuyết An Dương Vương cưỡi ngựa mang theo Mỵ Châu bỏ chạy khỏi Cổ Loa, cũng mơ hồ cho thấy Mỵ Châu cần được bảo vệ như một “thái tử” trong cơn nguy cấp.
Trả lời cho câu hỏi thứ hai đòi hỏi chúng ta phải làm quen với một khái niệm mới “Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc” : “Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc …. vào những thế kỷ VII đến III TCN, đã trở thành cội nguồn của các nền văn minh tiếp theo của dân tộc [5]”. Tuy không khẳng định chắc chắn ở nền văn minh này xã hội Việt cổ đã theo chế độ phụ hệ chưa, nhưng trong mục “Sự ra đời của nước Văn Lang” người ta chú thích cuối trang : “Thời Hùng Vương chế độ một vợ một chồng dần dần phổ biến, gia đình nhỏ là một tế bào của xã hội. Đây là gia đình phụ hệ, nhưng người phụ nữ vẫn có địa vị quan trọng, được coi trọng ở trong gia đình và ngoài xã hội. [6]”
Trong nỗ lực nghiên cứu khảo cổ kết hợp với các lý thuyết lịch sử, các sử gia của nhà nước Việt Nam hôm nay quyết tâm chứng minh người Việt Nam hiện đại với bản sắc rõ ràng, nguồn cội minh bạch đã có một quốc gia và nhà nước sơ khai vào khoảng thế kỷ VII đến TK VI TCN. Điểm mốc này gọi là mở đầu thời đại dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Thế ra nền văn hiến 4000 năm theo cách gọi cũ đã lùi xuống còn khoảng 2700 năm. Và hình như, theo lối kinh viện mà các sử gia kia áp dụng, hình thái xã hội phụ hệ là một điều kiện cần cho lý thuyết của họ. Khi đã đặt niềm tin sắt đá đến như vậy vào một thời điểm cách cuộc nổi dậy của Hai Bà trưng đến 700 năm, mà lại công nhận thời Hai Bà Trưng người Việt cổ còn duy trì chế độ mẫu hệ, khác nào biến công lao cực nhọc kể trên thành trò cười cho những sử gia nghiêm túc lấy nền tảng khoa học, sự trung thực làm tiêu chí và không bị chính trị chi phối. Điều này nếu không rút ngắn tuổi tác văn hiến Việt Nam xuống nữa, thì cũng tương tự như lời chê trách cái nền văn minh “Văn Lang – Âu Lạc” kia phát triển giật lùi ! Càng cố chứng tỏ tính lên tục và nhất thống của nền văn hóa bản địa Việt cổ từ thời Văn Lang – Âu Lạc đến thời Hai Bà Trưng, các sử gia “quốc doanh” càng đi vào thế kẹt rất tội nghiệp. Họ viết : Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai chị em, con lạc tướng huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc), thuộc dòng dõi “họ Hùng” [7]. Chữ - họ Hùng - được để trong dấu nháy một cách tùy tiện khá vô duyên, và không hề được giải thích là họ Hùng nào, có phải họ của vua Hùng Vương trong truyền thuyết hay không. Hơn thế nữa, có đất nước Văn Lang và dân tộc Lạc Việt thì mới dẫn luận được giá trị cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng : “Đó là ý chí kiên quyết đấu tranh bằng mọi giá để giành lại nền độc lập, tự do cho đất nước và dân tộc [8]”. Đây là hai mặt tương cân của một vấn đề cho nên nó chứa đựng nguy cơ mất ổn định rất cao, và đe dọa sự sụp đổ công trình sáng tác sử học bất cứ lúc nào.
2. Một cách lý giải :
Lần ngược lịch sử [9], ta thấy khi Tây Hán bình định xong nước Nam Việt của họ Triệu, toàn cõi Nam Việt được cải thành Giao Chỉ bộ và chia làm 9 quận. Mỗi quận có Thái thú và Thứ sử trông nom. Ở quận Giao Chỉ (tức Bắc Việt ngày nay) những Lạc tướng, Lạc hầu vẫn được giữ quyền cai trị dân bản xứ. Từ đó đến hết thời Tây Hán (năm 25 sau CN) sử sách không nhắc gì đến Giao Chỉ. Năm 29 có Thứ sử Giao Chỉ triều cống nhà Hán sau loạn Vương Mãng.
Có thể hình dung suốt thời Tây Hán dân Việt và nhóm quan lại ủy trị của triều đình phương Bắc sống khá hòa thuận, chẳng gây điều tiếng gì khiến sử sách lưu tâm. Phải chăng hình mẫu này cũng giống như cảnh thanh bình, háo hức khám phá nhau lúc đầu giữa Kha Luân Bố và các bộ lạc da đỏ tại Tân thế giới. Sử ghi : “Đầu thời Bắc thuộc, triều Tây Hán phải chở thóc gạo vào Giao Chỉ để cung cấp cho bọn quan lại đô hộ và quân lính chiếm đóng” [10]. Suy rộng ra việc thu thuế của Hán quan có thể chưa được áp dụng, hoặc áp dụng lấy lệ, rất hạn chế, không đủ cho nhu cầu sinh sống tối thiểu của chính họ. Hơn nữa chuyện thái thú Cửu Chân Nhâm Diên bắt thuộc lại của quận trích lương bổng giúp những kẻ nghèo lấy vợ lấy chồng, không những rành rành trong nhiều văn bản mà còn được truyền tụng rộng rãi khắp dân gian. Cuối thời Tây Hán, chính trị phương Bắc suy đồi, xã hội mục ruỗng, nông dân bị bần cùng hóa nổi lên làm loạn, giặc giã và thiên tai [11] dồn dập khắp nơi. Năm 23 Lưu Tú dẹp được Vương Mãng tiếm quyền nhưng Trường An đổ nát, hoang tàn trong máu lửa, do đó ông dời đô về phía đông đến Lạc Dương lập nên nhà Hậu Hán. Bối cảnh xã hội như vậy khiến xuất hiện làn sóng di dân tự do ào ạt về phương Nam. Những người đi tìm “đất hứa” đa phần là nam giới đã trưởng thành, có thể họ tị nạn chính trị, trốn lính hoặc mưu cầu đời sống kinh tế dễ thở hơn. Nữ giới và trẻ em chắc chắn rất ít vì chặng đường dài từ Trung Nguyên đến bắc Việt đồi núi chập chùng đầy dẫy hiểm nguy, lam sơn chướng khí sẽ chôn vùi những cơ thể yếu đuối.
Xã hội Việt Nam khi đó hình thành hai cộng đồng dân cư riêng biệt, có hai thể chế cai quản khác nhau về hình thức lẫn bản chất, khoác hai bộ cánh văn hóa không mấy tương đồng nhưng lại chia sẻ cùng một mảnh đất và ít nhiều liên kết với nhau bằng những cuộc hôn nhân và các giao tiếp phổ thông thân thiện. Một hệ thống mâu thuẫn phát sinh là tất yếu : giữa quan lại triều đình nhà Hán với chính nhà Hán ; giữa quan lại bản địa và quan lại triều đình nhà Hán ; giữa người Việt cổ với lạc hầu, lạc tướng ; giữa di dân và Hán quan ; giữa liên minh thống trị Lạc – Hán và nhân dân nói chung .v.v… Tuy các mâu thuẫn trên hiển nhiên tồn tại nhưng con người vẫn sống thanh bình với nó trong một thời gian dài, chứng tỏ tương quan lực lượng giữa hai phe còn cách biệt nhau khá xa.
Nhiều sử gia có cái nhìn đơn giản hóa vấn đề cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng là mâu thuẫn về quyền lợi trong việc sở hữu đất đai của hai cộng đồng Việt cổ và tân Hán. Nhưng theo tôi dị biệt văn hóa mới là căn nguyên của mọi tranh chấp. Nguyên tắc phụ quyền của kẻ ngụ cư và truyền thống mẫu quyền bản xứ là hai mặt hoàn toàn đối lập nhau đã kích thích những mâu thuẫn sẵn có bùng phát thành một biến cố có vai trò như một cuộc binh biến bảo vệ thuần phong, tái lập trật tự cũ. Bản chất biến cố này không hề mang tính cách mạng vì lực lượng đại diện cho cái mới chưa đủ mạnh. Sự xuất hiện của Tô Định vào năm 34 chỉ là nguyên tố xúc tác giúp phản ứng diễn ra, là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước đầy ắp mà thôi.
Khi Tô Định đến Long Biên thì những người Hán di cư đầu tiên (từ đầu công nguyên) đã kịp sinh con đẻ cái tạo nên một thế hệ trung gian đã trưởng thành. Chính họ làm trầm trọng thêm mâu thuẫn vốn có, và đưa những mâu thuẫn này đến tận không gian sinh hoạt của nhiều gia đình (tức là tế bào của xã hội) mẹ Việt, cha Hán. Tô Định tiếp quản bộ máy cai trị mang tính hình thức với nhóm thư lại ít nhiều đã bị Việt hóa sau bao năm chung sống với người Việt. Có lẽ sức ép từ triều đình khiến tân thái thú phải củng cố và hoàn bị bộ máy bóc lột nhằm biến Giao Chỉ thành miếng bánh ngon giữa bàn tiệc thực dân, chứ không thể mãi mãi là mảnh đất trang trí trên bản đồ đại Hán và đôi khi là một gánh nặng khó kham. Tuy nhiên hắn hoàn toàn đơn thương độc mã, nếu không kể một nhúm lính Hán hộ tống đã theo hắn từ Trung Nguyên. Tô Định chắc chắn phải giao tiếp với người bản xứ qua thông ngôn, khiến hắn thêm lạc lõng và có một khoảng cách nhất định với thực tế. Có thể hắn đã tiến hành vài cuộc khủng bố lẻ tẻ nhân danh thiên tử Tàu, và dùng áp lực của chính quyền tối cao giải quyết các mối bất hòa trong xã hội liên quan đến hôn nhân, thế tập, thừa kế cũng như quyền sử dụng đất đai.
Lẽ đương nhiên người Việt không thể chấp nhận cách thức ấy. Nhóm dân Hán một mặt âm thầm ủng hộ lối thực thi pháp luật Trung Hoa tại đây, một mặt vì những liên hệ tình cảm gia đình, họ hàng bên ngoại với người Việt, đành hướng sự nổi giận của các lạc hầu, lạc tướng vào cá nhân thái thú. Bọn thư lại cũ chắc luôn tỏ ra vô can, không muốn đứng hẳn về phía nào và chỉ mong Tô Định mau cuốn xéo, để lại cho chúng bộ ấn tín thái thú và cảnh thanh bình giả tạo cũ với bầu trời yên tĩnh lạ lùng trong mắt bão.
Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa năm 40, dân Việt đồng tình hưởng ứng khắp nơi. Tô Định chuồn thẳng về Nam Hải (tức Quảng Châu – Tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay) mà không hề có một trận chiến ra trò nào với Hai Bà Trưng để sử sách hoặc dân gian truyền lại. Chi tiết này thêm một lần nữa xác tín bối cảnh được xây dựng ở trên là hợp lý. Qui mô đội quân chiếm đóng của Tô Định rất nhỏ, chẳng thể đánh đấm gì được, nhóm người Hán có dây mơ rễ má với người Việt đào ngũ, không nghe lệnh viên thái thú chưa xây dựng được cho mình hệ thống tay chân tâm phúc sau hơn 5 năm nhậm chức. Sử gia phương Tây nghiên cứu sách vở một cách máy móc còn gợi mở : “Hãy thử tưởng tượng số phận của những người Trung Hoa bị (Tô Định) bỏ lại, không kịp chạy trốn sẽ như thế nào? [12]”. Nếu có một làn sóng trả thù, thậm chí tắm máu sau đó thì đương nhiên dân gian sẽ rất hứng thú sử dụng nó để làm giàu thêm dữ liệu “chống Tàu”, chứ không dễ gì cho sự kiện mai một hẳn theo năm tháng.
Cuộc hành quân về Long Biên của Hai Bà Trưng nhanh chóng thành công. Điều này là tiền đề thuận lợi cho Hai Bà Trưng tập hợp được thêm nhiều lực lượng ủng hộ, tiến tới xưng vương rồi đóng đô cai trị tại Mê Linh.
Năm 43 Mã Viện mang theo 20 ngàn quân thiện chiến sang đến nước Việt, bằng kinh nghiệm lọc lõi của một tên tướng phong kiến, hắn kiên nhẫn đóng quân tại Lãng Bạc và nghe ngóng tình hình. Hai Bà Trưng sốt ruột, chủ động tấn công trước và đã thất bại, phải rút về Mê Linh rồi Cấm Khê (chân núi Ba Vì). Mã Viện tiếp tục truy kích và bắt được Hai Bà Trưng. Tàn quân Việt chiến đấu được vài tháng nữa mới tan rã. Dân gian Việt Nam có hai ngày giỗ Hai Bà Trưng là 5.2.43 và 8.3.43 , có lẽ ngày đầu là ngày Hai Bà Trưng bị bắt và ngày sau là ngày họ bị hành hình. Ở đây xuất hiện hai khả năng : Một là mã Viện giữ Hai Bà để dụ hàng nhằm kêu gọi nhóm nghĩa quân chưa buông vũ khí ra trình diện. Hai là hắn thuyết phục Hai Bà kêu gọi nhân dân thuần phục nhà Hán và chấp nhận luật pháp Hán. Dù sao ta cũng biết chắc một điều Hai Bà Trưng đã không chịu thỏa hiệp dù phải bỏ mình.
Sự kiện Hai Bà Trưng anh dũng tấn công Mã Viện dẫn đến một liên tưởng hơi ngoài lề một chút. Rõ ràng Hai Bà rất tự tin và có quân số không kém gì Mã Viện. Với lực lượng hùng hậu như thế, tại sao Hai Bà không củng cố thành Cổ Loa cũ để đương đầu với quân viễn chinh. Ngoài thực địa Loa thành chỉ cách Mê Linh trên dưới 20km đường chim bay, không hề bị sông lớn, suối rộng, núi cao, khe sâu ngăn trở, và Hai Bà có gần 3 năm để chuẩn bị một cuộc kháng chiến dài lâu. Như vậy truyền thuyết An Dương Vương và Loa thành có thêm một nghi chứng phủ nhận [13]. Chi tiết này rất quan trọng, nó có thể đánh đổ lập luận về tính liên tục và nhất thống của nền văn hóa bản địa Việt cổ đã nói ở trên. Nếu mai này khảo cổ học chứng minh được hai vòng ngoài của thành Cổ Loa do người Việt xây dựng, thì việc Hai Bà Trưng không biết sử dụng thành trì trong chiến tranh chứng tỏ sự liên hệ văn hóa giữa thời Hai Bà và thời An Dương Vương khá rời rạc, thậm chí đứt đoạn.
Xin tạm che giấu cảm tính dân tộc và tinh thần quốc gia (những khái niệm không thể có ở thời Hai Bà Trưng), để đứng trên bình diện văn minh mà dè dặt nói : kết cục cuộc chiến giữa Hai Bà Trưng và Mã Viện có thể tiên liệu trước, chế độ thị tộc mẫu hệ, hay ít ra là tàn dư của nó phải bị khuất phục trước một mô hình xã hội tân tiến hơn, để giải phóng sức sản xuất xã hội, phân công lại lao động, đưa con người và lịch sử tiến lên phía trước [14]. Sự thật là Hai Bà Trưng đã phải đương đầu với Mã Viện, một tên tướng xâm lăng nên nguyên nhân thất bại cốt lõi của Hai Bà rất khó được chấp nhận đối với hầu hết người Việt Nam, không phân biệt trình độ nhận thức.
Hai Bà Trưng ra đi khép lại thuở bán khai trên đất Lạc Việt. Thời điểm này chính là hoàng hôn trước đêm dài nô lệ. Người Việt biết chấp nhận nỗi nhục thiếu tự do để học hỏi, tự hoàn thiện mình. Thỉnh thoảng một vài ngọn đuốc lại bừng sáng mang nhiều cái tên anh hùng như Triệu Thị Trinh, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng… Tiếp đến là hơn nửa thế kỷ độc lập của Lý Nam Đế cùng các phụ triều trong giấc mơ Vạn Xuân đầy hiện thực. Đó là những bước tiến vững chắc, không thể phủ nhận của con người và đất nước Việt Nam thời khởi sử, làm bệ phóng cho kỷ nguyên tự chủ bắt đầu với Khúc Thừa Dụ năm 905. Tám trăm năm tròn Bắc thuộc là cái giá quá đắt nhưng không hề vô nghĩa. Dân tộc Việt Nam, văn minh Việt Nam hình thành trong gian khó và thử thách đã lớn mạnh vượt bậc. Từ đó về sau phong kiến phương Bắc không lần nào hoàn toàn khống chế được chúng ta nữa. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đại diện thực dân châu Âu là Pháp Lang Sa, với ưu thế hơn hẳn chúng ta về sức mạnh vũ khí được sản xuất dưới một nền khoa học kỹ thuật tân kỳ, tổ chức xã hội tư bản tiến bộ, cũng chỉ áp đặt sự đô hộ không đồng bộ của chúng trên mảnh đất này tròm trèm 80 năm mà thôi.
3. Kết luận :
Từ quyển hiến sử đầu tiên còn lưu lại đến ngày này là Đại Việt Sử lược (1377 – 1388), sử gia Việt Nam đã chấm bút lông vào nước lã để viết về ông Thi. Năm tháng qua đi, sách sử nối nhau ra đời, Bà Trưng Trắc vẫn phải làm một quả phụ bất đắc dĩ, gồng gánh thêm bao nhiêu khái niệm không cùng thời với Bà như quốc gia, dân tộc, tổ quốc… Lối tư duy nông cạn, chủ quan, đầu óc thủ cựu, phiến diện, tư tưởng áp đặt hẹp hòi, nông nổi, thói ngã tâm tào lao – kết hợp với truyền thống tạo dựng chính sử thiên kiến và không tôn trọng sự thật một cách có hệ thống, vô hình chung đã tô son trát phấn lên Bà mẹ chân đất “vi nhân hữu đảm dũng [15]”. Kết quả là người mẹ vĩ đại của chúng ta chẳng đẹp hơn tí nào. Nó chỉ khiến người đời chạnh buồn cho những đứa con vụng về, xốc nổi và đồng bóng của Bà.
Mảnh đất hình chữ S có tên Việt Nam ngày nay hiện hữu khoảng 200 đền thờ Hai Bà Trưng. Đó là tuyên bố rõ ràng nhất về vai trò lớn lao của Hai Bà trên non sông này. Mọi lý thuyết học thuật cổ kim đều không thể phủ nhận bản chất anh hùng và tinh thần bất khuất của Hai Bà Trưng, những người mẹ vĩ đại của lịch sử Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Hãy trả lại cho mẹ hình hài thực và tâm hồn mộc mạc của người, đó là nhiệm vụ của từng đứa con của mẹ, và của tôi, một người đã được sinh ra trên chính mảnh đất Mê Linh huyền thoại, là cháu, là con của những người phụ nữ nhiều đời an cư lạc nghiệp tại Mê Linh.
…………….
1. Nguyên văn : "Vietnamese history was largely an argument about the Sino-Vietnamese relationship, a story with a clear and urgent purpose, the acceptance of which was an important part of being Vietnamese." Trích trong The early kingdooms – Keith W. Taylor – Trang 152-153 quyển “The Cambridge History of Southeast Asia” , Volume One From Early Times to c. 1800. Cambridge University Press, 1992.
2. Nói chung các bản sử gốc viết về nước Việt cổ thời kỳ trước năm 43 sau CN rất ít, sách vở từ xưa đến nay trích đi, dẫn lại nhiều lần đã khiến các dữ liệu trở thành kiến thức rất phổ thông. Trong phạm vi bài này, tác giả xin miễn chú thích cặn kẽ nguồn sử về Vua Hùng, An Dương Vương và Hai Bà Trưng, để tránh việc liệt kê những tên sách quá quen thuộc. Với những chứng lý mới hoặc chưa thống nhất, sẽ có ghi chú riêng rõ ràng.
3. Tôi dựa theo văn bản mới nhất mang tính pháp lý cao nhất ở VN hiện nay là quyển “Đại cương Lịch sử Việt Nam” – NXB Giáo Dục – Tập I – Trương Hữu Quýnh chủ biên – kỳ tái bản lần thứ 6 – năm 2003. Phần 2 (Thời đại dựng nước) và phần 3 (Thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc) do phó giáo sư Nguyễn Cảnh Minh biên soạn. Tác giả đã tập hợp được hầu như toàn bộ sử liệu đông tây kim cổ liên quan đến hai thời kỳ này và những phát kiến khảo cổ mới nhất. Tuy nhiên bộ khung lý thuyết xây dựng rất chủ quan, hệ thống luận nhiều sai lầm, ý tưởng khiên cưỡng chứa đựng những mâu thuẫn cực kỳ lộ liễu, và nhất là cách xử lý thông tin ẩu tả. Chẳng hạn trang 74 sách dẫn “Đến thời Đông Hán, số thóc thuế mà chính quyền đô hộ đã vơ vét được của nhân dân Giao Chỉ lên tới 13.600.000 hộc, tương đương 272.000 tấn thóc.” Nhẩm tính chỉ với mức thuế “triệt tiêu sản xuất” là 30% trên sản lượng, cộng trừ số khai gian, hối lộ để giảm thuế, quan trưng thuế ăn chặn, mức sản xuất sơ tính của Giao Chỉ phải trên 1 triệu tấn thóc… Một con số khủng khiếp thật khó tin, không chỉ ở thời đó mà còn nối dài hàng ngàn năm nữa !
4. Sách đã dẫn định lại niên đại chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy diễn ra khoảng năm 179 TCN, chứ không phải năm 208 TCN như các sách cũ.
5. Sđd trang 58.
6. Sđd trang 45
7. Sđd trang 85
8. Sđd trang 88
9. Theo Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim
10. Sđd trang 74
11. Năm 11 sau CN ở Trung Hoa có lụt lội rất lớn, nước sông Hoàng Hà tràn bờ và đổi dòng chảy khiến bao nhiêu làng mạc bị chôn vùi, mùa màng hư hại, nhân dân đói khổ vô cùng.
12. Stephen O’ Harrow : Từ Cổ Loa đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – Việt Nam dưới con mắt người Trung Hoa. NXB Trẻ 2001.
13. Theo một số tuyên bố trên báo chí gần đây của GS Đỗ Văn Ninh, nhóm khảo cổ học của ông đã xác định vòng trong cùng của thành Cổ Loa do Mã Viện xây dựng sau khi đánh bại Hai Bà Trưng. Kiểu xây thành, nguyên vật liệu đã dùng và mồ mả khai mở được trong thành đều mang phong cách Đông Hán.
14. Hiện nay rất nhiều quyền lợi xã hội của phụ nữ được khôi phục và bảo vệ, đó cũng là bước tiến lớn của văn minh. Cách ghép họ cha – mẹ thành họ con cái rất phổ thông ở Việt Nam như Lê – Nguyễn , Trần – Trịnh … có thể là nét đẹp được bảo tồn từ thời Hai Bà Trưng, một bản sắc riêng ít thấy ở các nền văn hóa khác.
15. Nguyên văn sách Thủy Kinh Chú.
![[;)]](/images/smiley/s4.gif)
![[:D]](/images/smiley/s2.gif)
