Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Truyện ngắn!

10 trả lời, 1.129 lượt xem — Trang 1 / 1
Một số truyện ngắn trên trang web Công An Nhân Dân



Một chuyến vô Nam
Đỗ Kim Cuông




Không sao kể xiết sự vui mừng khôn tả của Tư Minh khi anh ra tận bến xe đò ngồi đón tôi cả buổi. Kể từ mùa thu năm 1973, quân ngụy và quân ta giành nhau đi cắm cờ, nhận đất đến bây giờ tôi mới có dịp gặp lại Tư Minh.


Anh trưởng phòng bảo tôi: “Sở sẽ có văn bản thông báo, sau tết thầy sẽ nghỉ hưu. Phòng đã họp để chuẩn bị công tác bàn giao. Anh em hỏi thầy có nguyện vọng chi?”.

Tôi gỡ cặp kính lão nhìn cậu học trò đã từng dạy cách nay vài chục năm. Cậu ta nay đã là thủ trưởng của tôi nhưng vẫn một điều thưa thầy, hai điều thưa thầy… Tôi bảo: “Đã lâu tôi chưa nghỉ phép, nếu được các em cho tôi một chuyến vô Nam thì sung sướng quá! Đi tàu hỏa cũng được. Từ ngày giải phóng miền Nam tới nay đã ba mươi năm, thầy chưa biết Sài Gòn, chưa tới Nam Bộ”.

Bốn mươi giờ ngồi tàu hỏa, thêm vài giờ chạy xe đò, tôi đã có mặt trong ngôi nhà của vợ chồng Tư Minh nằm lọt thỏm giữa một khu vườn rộng hàng vài công đất bên dòng sông Cổ Chiên. Bạt ngàn nào nhãn, nào ổi, nào cam, xoài, mít… Cây cối ở đây tốt tươi nhờ phù sa của sông Tiền, sông Hậu đổ về. Đang mùa nước nổi, dòng sông đỏ ngầu, cuồn cuộn chảy kéo theo những mảng lục bình xanh ngắt.

Không sao kể xiết sự vui mừng khôn tả của Tư Minh khi anh ra tận bến xe đò ngồi đón tôi cả buổi. Kể từ mùa thu năm 1973, quân ngụy và quân ta giành nhau đi cắm cờ, nhận đất đến bây giờ tôi mới có dịp gặp lại Tư Minh. Nhưng trong ký ức sâu thẳm của tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh chiếc trực thăng cánh quạt có hai cái càng đổ xuống một vạt cỏ rộng cạnh bãi bóng chuyền. Máy bay đến đưa một thiếu úy ngụy đã trúng mảnh lựu đạn bị thương rất nặng và Tư Minh bị thương ở đùi, phải vào Bệnh viện Trung ương Huế cấp cứu.

Vào một buổi sáng ngày mồng 2 tháng 9, gần trăm con người vây chật quanh một khoảng đất rộng ở làng Sơn Quả để xem trận giao đấu bóng chuyền lịch sử - Trong số ấy quá nửa là bộ đội giải phóng, phần còn lại là lính sư đoàn thủy quân lục chiến ngụy. Không một ai nghĩ tai nạn có thể xảy ra.

Đã vài tháng nay, sau những cuộc giao tranh, phòng tuyến sông Bồ đã hình thành. Ranh giới đất của quân giải phóng, đất của chính quyền Sài Gòn có thể chỉ là con suối, mỏm đồi. Chốt gác của đại đội tôi chỉ cách chốt của sư đoàn dù chưa đầy 70 mét. Có chỗ chỉ 30 mét. Trên các đỉnh chốt, chòi canh phấp phới những lá cờ của hai bên.

Hàng ngày chúng tôi ngồi gác nhìn rõ từng gương mặt của người lính ngụy bên kia con suối Thanh Tân. Hai bên cùng ra suối múc nước nấu cơm, những người lính còn có những quan hệ gần gũi nhau hơn. Bắt đầu là từ những ánh mắt nhìn nhau thân thiện. Rồi những câu thăm hỏi tên tuổi, quê quán bâng quơ. Thêm chút nữa bên này ném qua bên kia suối tặng gói trà Hồng Đào, gói thuốc lào Vĩnh Bảo. Bên kia quăng sang tặng lại vài bao rubi xanh quân tiếp vụ, gói trà Blao, gói kẹo mè xửng. Tiến thêm chút nữa là chỉ huy của quân ta và quân ngụy đồng ý cho làm những ngôi nhà “hòa hợp”, mái lợp lá tranh, phên côlô lấy từ sông Bồ.

Một tuần hai buổi, hai phía cử người ra trò chuyện, tranh đấu bảo vệ những điều khoản đã được bốn bên ký kết tại Hội nghị Pari. Những ngày “hòa hợp” êm đềm vùng giáp ranh im tiếng súng đã ba tháng nay, nên mới có cuộc đấu bóng chuyền trên bãi cát Thanh Tân - Sơn Quả của tiểu đoàn tôi với những người lính thủy quân lục chiến. Để chuẩn bị cho một trận đấu bóng chuyền “lịch sử” và một bữa liên hoan mừng quốc khánh, chúng tôi phải huy động những anh em biết đánh bóng chuyền trong cả tiểu đoàn. Họ là sinh viên các trường đại học ở rải rác các đơn vị. Còn chuyện liên hoan, các tay nấu ăn cự phách được điều tới. Làm toàn món ăn xứ Bắc. Ốc Khe Điên nấu với chuối xanh. Thịt heo rừng vừa nướng vừa luộc, vừa làm chả bánh đa. Gạo đem giã làm bún…

Bữa cỗ ấy thực sự đã làm cho những người lính ngụy được mời sang dự liên hoan xúc động. Ba giờ chiều trận đấu bóng chuyền giao hữu mới được diễn ra. Séc thứ nhất bên bộ đội thắng. Séc thứ hai, những người lính thủy quân gỡ hòa ở quả thứ 14. Một cú đập mạnh, bóng văng qua vạch vôi cuối sân, lăn vào đám cỏ tranh bên bờ hói. Một viên thiếu úy ngụy chạy ra nhặt trái bóng. Chỉ thấy chớp lửa lóe sáng và một tiếng nổ đanh gọn của trái lựu đạn US. Khói bụi và đất đá bắn văng. Cả trăm con người theo bản năng của người lính nằm rạp xuống đất… Có tiếng la thét của viên thiếu úy ngụy bị thương. Hai mảnh đạn nhỏ đã cắm vào đùi vào vai Tư Minh, khi ấy anh là một thượng sĩ ngụy giữ ở tuyến chốt hòa hợp Sơn Quả. Tôi đã băng bó vết thương cho anh Tư. Vết thương không hiểm nhưng cũng buộc anh phải đi viện. Trong những lần gặp nhau ở căn nhà “hòa hợp” trao đổi tranh luận, tôi đã được biết Tư Minh quê ở Cần Thơ. Anh đi làm mướn ở Vĩnh Long và cưới vợ ở đó. Tư Minh đã có 4 con nhưng bị bắt đi quân dịch từ sau tết Mậu Thân…

Những kênh rạch phương Nam tôi đã đọc qua sách vở, xem phim chỉ bây giờ mới tận mắt nhìn những ô vườn xanh ngút ngàn dọc theo bờ sông Tiền. Thuyền máy chạy âm vang trên mặt sông. Cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay. Những ngày ở chơi nhà Tư Minh, anh lấy xuồng máy chở tôi đi thăm thú những đình chùa cổ trong vùng. Đi đâu anh cũng giới thiệu tôi là một người bạn thân của gia đình với bà con họ hàng.

Buổi tối, tôi ra ngoài sông ngủ với Tư Minh trong căn nhà nổi. Nhà dựng sát mép sông, lềnh bềnh trên sóng. Nhưng dưới đáy là những hầm nuôi cá tra. Chỉ một nắm thức ăn thả xuống, những con cá tra nặng một, hai ký nhao lên tranh nhau đớp mồi. Cả một dọc dài hai bờ sông Tiền, sông Hậu có cả vạn bè nuôi cá. Người nông dân Nam Bộ một phần giàu lên nhờ tôm cá. “Mỗi năm bè cá này cho vợ chồng tôi cả trăm triệu đồng” - Tư Minh bảo vậy và nâng ly với tôi. Mực một nắng chiên giòn uống với rượu Gò Đen khiến tôi lâng lâng… Gió tràn trề trên mặt sông rộng. Phía bên kia sông thành phố ấm áp ánh đèn.



Đăng nhập để trả lời
0
Tương cầu
Nguyễn Kế Nghiệp


Đồng thanh tương ứng
Đồng khí tương cầu
(Ngạn ngữ)





Nghe thấy tiếng chuông nhà thờ dóng dả báo sắp lễ chiều, anh đẩy chiếc xe ra đến hẻm. Trông thấy ông lão ngồi vá xe ở đó anh cất to tiếng:

- Thế nào bác hai! Hôm nay có khá không?

- Kìa!… Chú! … Nhì nhằng thôi!… Đi trực hả?

Mấy năm sống ở xóm đạo này, anh được bà con yêu mến, “Anh trung úy Cảnh sát của xóm tôi!”.

Họ gọi anh một cách thân mật… nhiệm vụ của anh ở những ngã tư, ngã năm đường phố…

Chỉ nhoáng một cái, trung úy cảnh sát đứng đó, trên vỉa hè, cạnh trạm Công an giao thông bên ngã tư. Chiếc Harley dựng cạnh. Anh âu yếm nhìn chiếc môtô “Con ngựa chiến” hiếm hoi, đen nhánh vẫn bóng loáng.

Thích thật! Không hiểu sao quân mình còn giữ được đồ cổ quý giá này! Con ngựa ô đã giúp mình tóm gọn mấy băng cướp giật…

Chàng trung úy vỗ nhè nhẹ lên yên xe, mắt vẫn dõi theo dòng người cuồn cuộn trước mặt.

Thành phố lên đèn. Những ngọn cao áp ngã tư rực sáng. Hồi này ôtô, xe máy nhiều quá, những ánh đèn đan chéo nhau, những chiếc xe lao vun vút, chóng mặt thật! Anh lẩm bẩm và ngồi lên yên xe. Bỗng thèm một điếu thuốc! Đút tay vô túi!… Nhưng khi chạm vào bao thuốc trung úy rụt lại như phải bỏng! Ý nghĩ lướt trong óc như tia chớp: “Mình đang làm nhiệm vụ!”. Chính lúc đó cách anh hơn trăm mét một tiếng động dữ dội vọng tới.

- Đụng xe!

Do phản xạ nghề nghiệp, trung úy quay phắt lại nhìn, một người đi xe đạp ngã văng ra đường, đã có mấy cánh tay đỡ người bị nạn lên và loáng qua mặt anh là một thanh niên cưỡi trên chiếc Dylan đỏ chói!

Con “ngựa ô” lập tức phóng xuống đường. Anh lách qua các xe; bám sát mục tiêu. Đã nhìn rõ biển số của thằng vô lại. “Thôi được! Hãy cho mày tới chỗ vắng hơn”… Xe anh lao lên trước, quay ngang. Chiếc Dylan dừng lại.

- Quay về trạm! - Anh quát và khoát tay ra hiệu.

Thằng cha mặt tái mét, thọc tay vào túi, lắp bắp:

- Em… E…m… xin anh… Em!

- Quay về trạm! - Giọng anh lạnh băng.

Người bị nạn là một cô sinh viên đi học ngoại ngữ về. May mà chỉ bị chấn thương nhẹ ở chân. Sau khi hoàn hồn, cô đã tự đạp xe về nhà!

Bây giờ thì trong trạm chỉ còn anh với nó. Người Cảnh sát giao thông thay anh đứng bên ngoài với chiếc Harley đen bóng. Trung úy nhìn chằm chặp: nó mới chừng 17, 18 tuổi, cổ đeo chiếc dây chuyền vàng to bự có hình thánh giá!

Anh hất hàm:

- Ở xứ nào?

- Dạ, em ở đường… phường 2, nhà số 129.

- Xứ gì?

Thằng bé lúng túng. Chưa có “ông công an” nào hỏi lạ như ông này.

- Anh có phải là người theo đạo Thiên chúa không?

- Dạ!… Có!…

- Tên Thánh là gì?

- Dạ!… Giuse!

- Vậy không biết xứ nào? Cha xứ là ai sao?

- Anh hỏi thế thì em biết. Em ở xứ Vườn Măng, họ Bùi, cha xứ là cha Tâm.

- Có thuộc các giới răn không?… Đọc!

- Dạ!… “Chớ giết người, chớ gian dâm, chớ trộm cướp, chớ làm dối. Hãy thảo kính cha mẹ, hãy thương yêu anh em như mình…”.

- Anh có biết việc làm của anh vừa rồi là phạm điều bao nhiêu trong giới răn của Chúa không?

Mặt càng tái hơn, nó cúi gằm xuống một lúc rồi ngẩng lên nhìn anh:

- Anh cho em nộp phạt ạ!

Người công an nghiêm khắc:

- Chưa cần thiết! Về xưng tội trước cha xứ, mai trở lại nộp!



Sáng hôm sau, nó đã quỳ trước tòa giải tội. Sau khi nghe nó xưng tội, cha xứ mới nhẹ nhàng bảo:

- Chẳng lẽ con không thuộc luật giao thông sao? Đã gây tai nạn còn định chạy trốn? May mà người ta không chết. Nhưng con hãy cho cha xem bản kiểm điểm và giấy nộp phạt của con ở cơ quan cảnh sát?

- Dạ!… dạ!… Con!

Giọng cha ấm áp:

- Con hãy đi thực hiện nghĩa vụ công dân rồi quay lại đây và đọc cho cha nghe những điều trong luật ấy.

Ngoài nhà thờ, nắng đã bò tới nửa sân, vàng ươm!
Đăng nhập để trả lời
0
Ngày trở về
Hoàng Bình Trọng



Trong cái buổi chia tay tại bến xe thị trấn hôm đó, Hà và Chiến có ngờ đâu phải hai chục năm sau họ mới gặp lại nhau trong nỗi đau khôn tả. Trên ba chục bà con dòng họ Phan Cự của Chiến, bom đạn giặc Mỹ đã cướp đi tới người cuối cùng. Còn lại Hà với đứa con ngoài giá thú.

Vào đến cổng, Chiến đã thấy một người đàn bà ngồi sàng sảy bên thềm. “Ai thế nhỉ?”. Đúng lúc đó thì người đàn bà nghểnh cổ ra:

- Ồ nhà đã về! Cậu ơi! Nhà cháu về rồi!

Chị lật đật chạy đến đỡ chiếc balô con cóc bạc phếch trên vai Chiến, miệng ríu rít hỏi hết câu nọ sang câu kia mà chẳng cần nghe anh trả lời. Chị ra giếng múc nước đổ đầy xô, đầy chậu, giục anh rửa ráy, thay quần áo. Chiến rửa ráy xong, thì một mâm cơm tươm tất đã dọn ra. Vào bữa, chị ăn uống rất ít, cười nói tự nhiên như chẳng có việc gì quan trọng xảy ra, chỉ lấy việc tiếp thức ăn cho Chiến, cho cậu Tảo làm vui. Lát sau, cơm nước xong xuôi, ông cậu tế nhị lẳng lặng đi ra ngoài vườn, cuộc trò chuyện của hai vợ chồng Chiến chuyển qua một hướng khác.

- Nếu chúng mình gặp nhau giữa đường, thì nhà không nhận ra em đâu nhỉ? - Chị hỏi.

Chiến cười buồn. Đúng, Hà thay đổi nhiều thật. Từ một cô gái mặt hoa da phấn, đẹp nổi tiếng thuở ấy, nay chỉ là một phụ nữ bình thường, lẫn vào trăm nghìn người đàn bà khác của xứ đồng chua nước mặn. Duy chỉ có cặp mắt to tròn rực sáng với cái nhìn chan chứa yêu thương và giọng nói ngân nga như hát là không đổi khác.

- Nhà tệ lắm, lần trước về quê, chưa kịp ra mộ cắm cho mẹ que hương, đã đùng đùng ra đi.

Chẳng đợi nghe chồng trả lời, Hà hích khẽ vào vai Chiến:

- Này, thế lá đơn ly hôn với em, nhà đã viết chưa? Chưa hả? Nhà vẫn như xưa, với người khác thì thúc như trống trận, còn bản thân thì… cứ nhởn nha kiểu “xem hoa quỳnh nở”.

Chị móc túi áo, lấy ra tờ giấy gấp tư, đặt vào tay chồng:

- Biết nhà hay quên, em viết sẵn một tờ. Nhà đọc thử coi, nếu thấy được thì ký quách cho xong… Mẹ con em sắp vào hẳn trong Tây Nguyên. Các thứ giấy tờ cần thiết, em đã xin đủ. Do vậy mà ba hôm nay, chiều nào em cũng qua đây hóng xem nhà đã về chưa. Nhà thông cảm cho em. Sở dĩ em vội vội vàng vàng là vì phải vào trong ấy trước mười lăm tháng tám để nhập học cho thằng cu Thắng.

Chiến vẫn nhìn Hà với đôi mắt dửng dưng:

- Thế lỡ hôm nay tôi vẫn chưa về thì sao?

- Thì em vẫn đi. Và em sẽ gửi lại cho nhà lá đơn này kèm theo vài tờ giấy có tên em ký sẵn. Bao giờ có giấy gọi, nhà ra hầu tòa một mình. Thời buổi này, chuyện ly hôn tòa xử dễ ợt. Có rắc rối đâu mà lo… Ồ chết, suýt nữa em quên mất!

Hà lục lại túi áo, lôi ra một chùm chìa khóa:

- Nghe em dặn đây này. Chiếc chìa to nhất là của ổ khóa nhà ngoài. Chiếc vừa là của ổ khóa buồng, chiếc bé nhất là của ổ khóa tủ. Mình cứ ở nhà này đi, em có dự trữ sẵn cho nhà một số gạo, đỗ, lạc vừng… ăn cũng được vài tháng. Các thứ thức ăn vật dụng để đâu, em ghi sẵn ở cuốn sổ bìa đỏ đặt trong tủ. Ngày kỵ giỗ ông bà nội, ba, mẹ, chú tư, cô út, em cũng ghi trong đó, nhà nhớ hương khói.

Chiến giơ tay một cách vô thức, rồi rụt ngay lại. Trên khuôn mặt của anh chợt xuất hiện những mảng tím tái đến khó coi:

- Hà này… Tôi nghĩ… chúng mình có thể ly… ly hôn, nhưng mẹ con em vẫn… vẫn ở lại ngôi nhà ấy… cũng được…

- Ồ không, không! - Hà lắc đầu nguầy nguậy - Sao nhà nói thế? Đó không chỉ là nơi ở, mà còn là chốn phụng thờ tổ tiên. Nếu nhà hy sinh thực rồi thì thôi, chứ trời còn để sống, thì phải quay về đó để gánh vác phận sự thiêng liêng của người con trai duy nhất còn lại của dòng họ Phan Cự chứ.

- Trời ơi! Hóa ra nếu tôi chết thật thì em chỉ mất một mình người chồng, nhưng tôi lại lù lù quay về, thì em chẳng những vẫn mất chồng, mà còn mất luôn cả bố mẹ, em út họ hàng, mất nhà mất cửa.

- Nhà đừng nói thế! Giá nhà biết được em sung sướng đến mức nào khi nghe tin nhà còn sống, mặc dù em cũng lường trước được cuộc ly hôn của hai ta là không tránh khỏi. Em mừng là mừng cho họ Phan Cự nhà ta không phải tuyệt tự. Em mừng là mừng cho mẹ. Chao ôi! Nếu người chết mà có linh hồn thật, thì dưới suối vàng, giờ phút này mẹ vui biết bao nhiêu. Nhà sắp xuất ngũ rồi phải không? - Minh Hà bất chợt lái câu chuyện qua hướng khác, không một chút chần chừ, chẳng mảy may rào đón - Về đi thôi, về quê mà cưới vợ ngay đi để kiếm một đứa chống gậy.

- Trời ơi! Tôi thực tình không hiểu sao lúc này em còn đùa cợt được?

- Thế nhà muốn em khóc à? Em đã khóc đến khô kiệt nước mắt rồi. Từ giờ đến chết, em chỉ cười thôi.

*

* *

Chiến với Hà là người cùng xóm. Hồi còn học ở trường làng, mỗi dịp hè, hầu như trưa nào Chiến cũng trốn bố lẻn vào cái lùm cây có miếu thờ Thành Hoàng phía đầu làng để bắt loại chim sáo chưa kịp ra ràng về nuôi. Nuôi chán, Chiến đem cho đám bạn bè lối xóm. Tất nhiên, Hà, cô bé kém Chiến hai tuổi, có hai bím tóc đuôi chuột, có cặp má lúm đồng tiền, và đặc biệt, có giọng nói ngọt như mía, bao giờ cũng được chọn những con đẹp nhất. Thấy đôi trẻ chơi thân với nhau, bà mẹ Hà có lần buột miệng: “Bọn bây sau này lớn lên dễ thành vợ chồng lắm đó”. Không ngờ lời nói nửa đùa, nửa thật ấy đã thành lời tiên tri. Sau này lớn lên họ thành vợ thành chồng thật.

Nhưng họ chỉ sống với nhau trên dưới chục ngày thì Chiến lên đường ra trận. Trong cái buổi chia tay vào một ngày đầu thu tại bến xe thị trấn hôm đó, Hà và Chiến có ngờ đâu phải hai chục năm sau họ mới gặp lại nhau trong nỗi đau khôn tả. Trên ba chục bà con dòng họ Phan Cự của Chiến, bom đạn giặc Mỹ đã cướp đi tới người cuối cùng. Và rồi, do một tờ giấy báo tử nhầm Chiến đã hy sinh, mà Hà, mặc dù không nỡ bỏ mặc mẹ chồng sống bơ vơ không nơi nương tựa để đi bước nữa, nhưng hết tang chồng, cô đã sinh một đứa con ngoài giá thú.

Lần về phép ấy, Chiến chỉ ở quê một đêm, và cũng chỉ nằm lì ở nhà cụ Tảo mà khóc cho cạn khô nước mắt. Hôm sau, Chiến đùng đùng ra đi như một kẻ chạy trốn với một hy vọng: Rồi thời gian nơi đất khách quê người sẽ giúp lãng quên những nỗi đau cắt ruột đó.

Nhưng Chiến đã nhầm, thời gian không giúp anh quên được chuyện gì, hầu như đêm nào Chiến cũng chiêm bao thấy bóng dáng Hà lẩn khuất đâu đó trong căn phòng của anh. Có lúc anh nghĩ: “Hay quay về đoàn tụ với Hà? Suy cho cùng, cô ấy chẳng có lỗi với mình trong việc có con riêng”. Nhưng rồi anh lại gạt đi và tự nhủ: “Không đời nào, mình là một thằng đàn ông có chữ nghĩa, chẳng đui què mẻ sứt, chẳng nhẽ lại làm bố dượng của một đứa con hoang!”.

Suốt mấy tháng trời, hai luồng suy nghĩ thuận nghịch ấy đã làm tình làm tội đầu óc Chiến. Cuối cùng Chiến đã viết một lá thư thuyết phục cô đồng ý cho anh ly hôn. Chỉ mười hôm sau, Chiến nhận được thư trả lời với mấy lời ngắn gọn: “Nhà thu xếp về ngay, càng nhanh càng tốt để giải quyết công việc gia đình”.

Chiến ước sao được vậy. Chẳng những chỉ nội dung lá thư trả lời kia, mà ngay cuộc trao đổi giữa hai người hôm nay thì rõ ràng Hà đã tạo cho Chiến cơ hội hết sức thuận tiện để anh chia tay với cô một cách êm thấm.

- Nhà này, hình như chúng ta chẳng có gì để nói nữa. Em xin xuôi thị trấn kẻo lỡ chuyến đò chiều nhé.

Giọng nói nhỏ của Hà, nhưng với Chiến bây giờ lại như sét đánh ngang tai.

- Sao? - Chiến quay phắt lại, cười mếu máo - Hà định đi luôn bây giờ à? Ít ra… em… em cũng chỉ cho tôi phần mộ của ông bà, cha mẹ, em út tôi nằm chỗ nào ngoài đồng đã chứ.

- Ừ nhỉ? Trời ơi! Sao em không nghĩ ra điều này. Nhưng mà em chỉ biết mấy ngôi mộ của bố mẹ, của chú Tư với cô út. Còn những ngôi khác thì chỉ… chỉ có… thằng cu Thắng, con em biết mà thôi.

- Thằng cu Thắng biết hết à?

- Vâng - Hà vừa nói vừa cắn vào mu bàn tay - Hồi còn sống, mẹ quý cu Thắng lắm, một điều “cháu đích tôn bà”, hai điều “cháu đích tôn bà”. Đến lúc thằng bé lên năm, lên sáu, mỗi tháng hai lần, rằm và mồng một, mẹ dẫn cháu ra đồng thắp hương lên các phần mộ.

- Nếu vậy thì để cu Thắng giúp tôi…

- Ồ không, xin nhà thông cảm cho em - Hà nuốt khan nước bọt, giọng trở nên hấp tấp - Sở dĩ em… quyết bỏ làng ra đi chính là… để cho con em khỏi phải nhìn thấy nhà đó thôi. Chẳng là… từ lâu… cu Thắng vẫn nghĩ cha nó là liệt sĩ Phan Cự Chiến, cụ cố nó là quan nghè Phan Cự Hoàn. Nó rất tự hào về dòng họ Phan Cự của mình. Bây giờ đùng một cái, ông Phan Cự Chiến trở về và sẽ li dị với mẹ nó vì nó là con hoang! Sinh nó ra, em biết, cu Thắng sẽ không chịu nổi khi biết rõ chuyện này đâu!

Hà giọng chùng hẳn xuống:

- Vì vậy… khi biết chắc, chúng mình không thể đoàn tụ được, em vì con mà quyết định phải đi thật xa, và sẽ mãi mãi không trở về, để cu Thắng vẫn đinh ninh mình là giọt máu của dòng họ Phan Cự. Hãy vì tình cũ nghĩa xưa, em xin nhà, hãy cho cu Thắng được mãi mãi ghi vào lý lịch của nó như trước. Bố nó vẫn là liệt sĩ Phan Cự Chiến, hy sinh năm 1971 tại chiến trường Tây Nguyên như trong cái tờ giấy báo tử nhầm mà em với mẹ nhận được cách đây mười năm.

Chiến chợt thấy bàng hoàng như bị say sóng, muốn nói lắm, nhưng cứ như bị nuốt mất lưỡi, không sao cắt được thành lời.

- À, em vừa nghĩ như thế này - Hà bỗng cất cao giọng, sắc mặt tươi hẳn ra - Em sẽ nói với cu Thắng là nó có một ông bác họ tên là… từ Sài Gòn mới về thăm quê, muốn thắp hương lên mộ cho ông bà, nên cần nó quay về chỉ dẫn. Nhà nên chuẩn bị sẵn một bó tre, viết sẵn tên họ từng người đã mất, để cu Thắng chỉ đến đâu, nhà cắm ngay đến đó cho khỏi quên. Nhớ là cắm xong thẻ, nhà phải giục cháu xuôi về thị trấn ngay để mẹ con em còn phải đi vào thị xã kẻo nhỡ tàu…

Nói rồi, Hà chắp tay vái Chiến hai vái trong lúc Chiến cứ đứng ngây ra như hóa đá…

*

* *

Dựng bó tre vào cây chuối bên đường, Chiến rút mùi xoa lau mặt, nhìn ra khu đồng mộ. Hồi Chiến còn bé, đây là cái gò hoang với vô vàn ngôi mộ hình bát úp nằm rải rác bên những cây dứa dại. Một chú bé ăn mặc sách sẽ, như vừa trên trời mới rơi xuống, đến đứng sau lưng Chiến.

- Có phải bác Phan Cự Ngân từ Sài Gòn mới ra hôm qua không ạ? - Chú bé rụt rè hỏi rồi tự giới thiệu:

- Cháu là Thắng, con bố Chiến đây mà. Mẹ cháu nói bác với bố cháu là bà con mới cách nhau bốn đời. Hôm qua, nghe vậy cháu mừng rơn, muốn đến đây gặp bác ngay, nhưng đò không chèo… Bác tệ lắm, hòa bình lâu lắm rồi mà đến nay mới chịu về thăm quê.

- Cháu trách bác vậy, sao nay cháu lại sắp bỏ quê ra đi?

- Đâu có, trong chuyến đi này mẹ con cháu đặt ra hai mục đích. Thứ nhất, mẹ con cháu phải tích cóp đủ một số tiền, để khi về có thể xây cho nhánh họ Phan Cự một cái lăng to đẹp như lăng họ Phan Nho, họ Lê Quốc, họ Trần Hữu kia kìa.

- Mẹ cháu bảo với cháu thế à? - Giọng Chiến lạc hẳn đi - Vậy còn mục đích thứ hai?

- Mục đích thứ hai quan trọng lắm bác ơi. Theo mẹ cháu nói thì trong giấy báo tử của bố cháu có ghi: “Liệt sĩ Phan Cự Chiến hy sinh tại chiến trường Tây Nguyên”. Vì vậy vào đó cháu sẽ có điều kiện thuận lợi tìm mộ bố cháu. Tìm được, cháu sẽ rước bố về quê. Người ta có con, bố cháu cũng có con. Con người ta xây mồ xây mả cho cha mẹ nguy nga thế chả nhẽ cháu lại cam chịu bỏ mặc bố cháu nằm mãi ở một bìa rừng nào đó sao?

- Cháu là một đứa con hiếu thảo!

- Dạ, không! Cháu chưa đáng được nhận lời khen đó đâu. Hồi còn sống bà cháu vẫn dạy: Đã làm con mà không biết đền công cha nghĩa mẹ thì chỉ là loài cầm thú.

- Cháu! - Chiến kéo cu Thắng vào lòng, đặt vô vàn chiếc hôn lên vầng trán vuông vức, lên cặp má phúng phính có đôi lúm đồng tiền của nó.

Cu Thắng nhìn chằm chằm vào mặt Chiến rồi thốt lên:

- Ồ sao bác giống bố cháu thế nhỉ?

- Cháu thấy bố cháu bao giờ mà biết giống?

- À, cháu chỉ thấy tấm hình bố mẹ cháu chụp chung hồi mới cưới nhau thôi. Sau này, mẹ cháu thuê họa sĩ theo đó vẽ riêng ra cho bố cháu một bức chân dung to rồi lồng vào khung khảm xà cừ, đặt lên bàn thờ. Nhưng bây giờ vào Tây Nguyên, mẹ con chúng cháu phải rước bố đi theo. Bác với bố cháu giống nhất ở cặp mắt xếch.

- Chỉ giống mỗi cặp mắt thôi à?

- Ngoài ra còn cái miệng rộng, cái mũi hếch hếch, đôi tai to quá cỡ... Mỗi tội bố cháu thì trẻ, bác thì già - Cu Thắng ngước nhìn xa xôi, một lát, giọng chùng hẳn xuống – Bố cháu đi bộ đội từ năm nảo năm nào cơ, nhưng hy sinh năm 1971, trước lúc hy sinh một năm, bố cháu được về nghỉ phép trong một lần ra Bắc an dưỡng, thế mới có cháu chứ. Đó là nhờ có mẹ cháu, bà nội cháu, với bà con chòm xóm nói lại chứ cháu biết đâu chuyện “ma ăn cỗ lúc nào”...

*

* *

Sự xuất hiện đột ngột của Chiến ở bến xe thị trấn trưa hôm đó làm Hà luống cuống như gà mắc tóc. Chị giả vờ kêu khát nước và sai cu Thắng ra chợ mua bưởi. Đợi con trai đi khuất, chị vẫy Chiến ra chỗ vắng, nhìn anh với cái nhìn thủ phận, nom rất tội:

- Chắc vì nội dung lá đơn em trao nhà hôm qua, còn điều gì chưa vừa ý, phải không?

- Lá đơn em viết chuẩn quá còn gì - Chiến trả lời khô khốc, móc túi lấy ra một tờ giấy đã bị vò nhàu – Có phải nó đây không?

- Ơ nhà chưa ký à?

- Ký này! Ký này! Ký này!- Lá đơn lập tức được xé thành hai, thành bốn... thành mười sáu, và tung ra trước gió như một đàn bướm trắng. Sắc mặt Chiến đỏ gay gắt:

- Tôi ký rồi đấy! Cô nhặt lại mà gửi cho tòa án!

Hà bối rối:

- Vậy em phải làm gì bây giờ?

- Quay về! – Chiến xót xa đến cùng cực, hạ thấp giọng – Sở dĩ tôi tức tốc lao ngay xuống đây là vì không muốn mất em một lần nữa. Chúng ta đã mất nhau hai mươi năm trời đằng đẵng. Hơn nữa, điều này mới là chủ yếu: Tôi quyết không để mất thằng Thắng, đứa con hiếu thảo của tôi.

Chợt có tiếng thằng cu Thắng gọi: “Mẹ ơi!”, Chiến quay ra dang rộng hai tay:

- Lại đây! Con trai của bố! Người ta báo tử nhầm, chứ bố Chiến còn sống về với con đây kia mà. Lúc nãy bố muốn thử xem con có nhận ra bố không đó thôi – Chiến đánh mắt qua Hà - Ơ kìa! Mẹ nó phải nói câu gì với con đi chứ? Nhanh lên đi!

Hà nhìn quanh như tìm người để cầu cứu, trong lúc đó thì cả cu Thắng lẫn Chiến nhìn chị với ánh mắt khao khát, đợi chờ. Chị biết rằng, bây giờ mình bị đặt vào một chuyện đã rồi.

- Đúng là bố Chiến đã về rồi đó – Chị âu yếm bước đến hôn lên tóc con – Chẳng lẽ con không thấy bố giống như trong ảnh sao?

- Giống, giống lắm! – Cu Thắng ôm lưng mẹ, lấm lét nhìn Chiến – chỉ khác già hơn trong ảnh thôi. Mẹ... mẹ ơi! Chẳng lẽ con còn bố thật ư? Lạy trời đây không phải nằm mơ... Hơn một năm nay, nhiều đêm con mơ thấy bố về, nhưng tỉnh ra thì...




Đăng nhập để trả lời
0
Bức chân dung không tên
Vương Tâm



Lớn lên và đặc biệt khi được vào Trường Mỹ thuật, hình ảnh người cha luôn luôn ám ảnh Huệ. Mặc dù vẽ hàng ngàn bức chân dung mẹ, nhưng Huệ vẫn thường mơ ước đến một thời điểm nào đó sẽ vẽ chân dung người cha của mình.


..."Xin thưa các quý vị và bạn bè thân mến. Đây là mẹ tôi. Người đã đem lại nguồn cảm xúc bất tận cho tôi để hoàn thành hàng chục tác phẩm về người mẹ trong cuộc triển lãm này"...

Tiếng vỗ tay cùng những tiếng chúc tụng vang lên làm hai mẹ con Kim Huệ mừng rỡ ôm lấy nhau trong niềm hân hoan vô bờ bến. Kết thúc phần khai mạc, mọi người tản ra xem các bức tranh được treo rải rác khắp bốn bức tường. Nhiều tiếng ồn ào bàn tán khi đứng trước các bức vẽ chân dung mẹ của họa sĩ trẻ Kim Huệ.

Quả đây là một cuộc triển lãm độc đáo. Bởi lẽ lần đầu tiên một họa sĩ trẻ thâm canh một đề tài duy nhất. Đó là người Mẹ. Tên của cuộc triển lãm này cũng thể hiện sự độc đáo: Mẹ tôi.

Có người xem suýt bật khóc vì như vừa được gặp những nếp nhăn hằn sâu như vết dao khía trên vầng trán đầy ưu tư của chính mẹ mình qua tác phẩm của Kim Huệ. Lại có người ồ lên vì hình ảnh người mẹ dang tay đón con ở cổng trường với nụ cười sung sướng. Hơn ba chục tác phẩm được treo với nhiều góc độ và những tình cảm hết sức đa dạng. Khi là người mẹ đọc sách bên ngọn đèn được che khuất cho con gái ngủ. Cạnh đó là hình ảnh mẹ đang ngồi đan chiếc mũ len màu hồng cùng với con búpbê nom thật ngộ nghĩnh và cả chân dung mẹ đang khóc thầm vì nỗi nhớ mong trong sự cô đơn… Tất cả chỉ một gương mặt mẹ ở vào cái lứa tuổi khác nhau, từ trẻ đến già với các tiêu đề thật độc đáo: Mẹ và cún; Mẹ buồn; Mẹ đọc sách; Mẹ vui; Mẹ và hoa…

Bất ngờ có tiếng xì xào ở cuối phòng. Một số người đang bàn tán về một bức tranh lạ khổ lớn được đặt trịnh trọng trên một giá gỗ để ngay dưới chân tường. Huệ chủ ý không treo lên tường có lẽ trước hết bởi bức tranh khá nặng và cũng bởi muốn làm mọi người phải bất ngờ. Vì đây là bức chân dung một người đàn ông duy nhất được bày vào một góc khuất khiêm tốn nhất. Một người đàn ông toát lên nỗi buồn thật cô độc. Khóe mắt như gửi gắm mọi người sự khắc khoải về những mất mát trong cuộc đời. Hai bên bờ vai nhô lên gầy guộc thật tội nghiệp, còn hai bàn tay ôm lấy ngực như cố nén một tiếng thở dài… Nhiều người dừng lại, ồn ào một lúc, rồi ngay sau đó tất cả đều im lặng như cũng muốn nén tiếng thở dài của chính mình trước bức chân dung người đàn ông. Bức tranh không có tên.

Lúc này Kim Huệ đứng thu mình ở góc căn phòng để quan sát mọi người. Cô muốn đo lại những cảm giác được bật ra từ ánh mắt người xem. Đột nhiên bà mẹ bước đến cầm tay Huệ. Chợt thấy những ngấn lệ còn vương trên mắt mẹ, Huệ hỏi:

- Mẹ thấy thế nào?

- Thật khó tả, con ạ, nhưng tại sao con lại treo chân dung bố ở đây. Ông ta có đáng để con vẽ sau gần ba chục năm bỏ lại hai mẹ con mình sống lận đận với bao nhiêu cực nhọc.

Huệ im lặng một lát, rồi nghẹn ngào nói:

- Con muốn gặp lại bố con, mẹ ạ. Có lẽ bố con cũng tội nghiệp như nhiều người đàn ông khác khi phải chia lìa những người thân yêu nhất.

Một số người bước tới chúc mừng Kim Huệ về những chân dung người mẹ. Tất nhiên cũng khá nhiều người khen bức tranh không tên về người đàn ông cô độc kia. Hai mẹ con Huệ ríu rít cám ơn những người đến dự. Và thật bất ngờ, ngay trong cuộc khai mạc này có hai người đặt mua liền bốn tác phẩm về chân dung người mẹ. Huệ mừng quá ôm chầm lấy mẹ và nói:

- Đó là phần thưởng của mẹ dành cho con đó. Xin cám ơn mẹ.

Huệ vừa chợp mắt được một lúc thì có tiếng chuông điện thoại reo lên. Huệ định không nhấc máy và không muốn nói chuyện với bất kể ai nữa, nhưng chỉ một lát sau tiếng chuông lại reo lên và lần này kéo dài. Huệ đành cầm lấy ống nghe:

- Alô! Huệ đây!

Tiếng nói ở đầu dây bên kia thật vội vã:

- Này, cô họa sĩ trẻ. Bức chân dung người đàn ông định giá bao nhiêu đấy? Có người đàn ông giống hình trong bức tranh lắm. Ông ta vừa hỏi cô nhưng lại đi rồi. Và có để lại bức thư - Huệ đã nhận ra tiếng người quản phòng triển lãm.

Huệ bật ngay dậy nói:

- Sao không gọi tôi ngay?

Huệ vội mặc quần áo và chạy ra khỏi nhà.

Huệ run hết cả chân tay khi đọc lá thư với những dòng chữ ngoằn ngoèo hơi khó nhìn:

Kính gửi họa sĩ Kim Huệ

Tình cờ theo dõi truyền hình tôi được biết đến phòng triển lãm tranh “Mẹ tôi” của cô. Thật đặc biệt, cả phòng tranh cô chỉ vẽ có một người mẹ. Tôi xin hỏi có phải đó là những bức chân dung bà Thuận không? Và bức tranh người đàn ông duy nhất trong phòng ấy đã được họa sĩ vẽ trong hoàn cảnh nào. Tôi rất mong muốn có dịp gặp họa sĩ trong thời gian gần đây. Xin kính chúc họa sĩ khỏe và sáng tác được nhiều hơn nữa.

Kính thư
Mạnh Dư


Một linh cảm lạ lùng ập đến trong tâm hồn Huệ. Cô đoán chắc rằng người cha của cô đang tìm đến. Người cha mà hơn hai chục năm nay cô hằng khao khát gặp mặt. Huệ không cầm được nước mắt, vội chạy lên phòng khách của trung tâm triển lãm.

Huệ chợt nhớ lại từ khi bắt đầu cầm bút vẽ. Những bài tập đầu tiên và trong suốt quãng đời thơ dại ấy là những nét chân dung mẹ. Hàng trăm bản thảo ấy dần dần lớn lên trong tâm hồn của một họa sĩ tí hon. Hình ảnh người cha thật xa lạ với Huệ. Chưa bao giờ bé Huệ tưởng tượng ra mặt người cha của mình. Đến khi học lớp 1, Huệ mới nhận ra rằng vì sao các bạn có cha đến đón mà mình thì chưa bao giờ được như thế. Nhìn các bạn hồ hởi ríu rít chào bố mà Huệ thẫn thờ ngơ ngác không hiểu vì sao.

Lớn lên và đặc biệt khi được vào Trường Mỹ thuật, hình ảnh người cha luôn luôn ám ảnh Huệ. Mặc dù vẽ hàng ngàn bức chân dung mẹ, nhưng Huệ vẫn thường mơ ước đến một thời điểm nào đó sẽ vẽ chân dung người cha của mình. Nhiều người có nhận xét Huệ không giống mẹ mấy. Có chăng chỉ có mái tóc dài và vẻ người đậm chắc, còn đôi mắt, cái miệng thì lại thật khác xa. Từ đó Huệ luôn chú ý tới gương mặt mẹ và tự soi gương để phát hiện những nét giống cha của mình. Cứ thế Huệ lấy chính gương mặt mình để tưởng tượng ra hình ảnh của người cha. Ngày ngày, ngoài những bức vẽ khi đi thực tế, bao giờ Huệ cũng ngồi trong phòng phác họa chân dung người cha mà mình hằng mong mỏi gặp mặt bấy lâu nay.

Từ đó không ngày nào Huệ không có mặt tại phòng tranh từ sáng đến khi đóng cửa. Huệ hồi hộp chờ đợi người đàn ông ấy đến. Niềm hy vọng được gặp lại cha của mình đang trào dâng. Nhất là sau khi cho mẹ xem lá thư bất thường gửi cho mình, Huệ đã đọc được nét thảng thốt trong ánh mắt buồn của mẹ. Sau khi đọc lá thư, bà Thuận chỉ ôm con gái vào lòng như ngày thơ dại. Hình như bà muốn khóc mà không thể khóc. Nước mắt đã lặn trong con tim bấy nhiêu năm, bà chỉ nấc khẽ như cố nén xúc động đang làm nghẹt thở tâm hồn. Đêm ấy, bà kể hết về mối tình đau khổ giữa bà với ông Dư và những cuộc oán hận, chạy trốn của hai mẹ con để thoát khỏi những dư luận không hay về câu chuyện người đàn bà chửa hoang. Từ đó hai mẹ con cứ lang thang nay đây mai đó mãi mới định cư được ở thành phố nhỏ bé này.

*

* *

Ba ngày sau, Huệ còn bán được hai bức chân dung người mẹ nữa. Ai hỏi mua bức chân dung người đàn ông, Huệ cũng lắc đầu vì cô hy vọng chắc chắn người đàn ông bí mật kia sẽ đến. Bởi lẽ cô trưng bày bức tranh này chỉ cốt hy vọng tìm lại được người cha thân yêu của mình.

Vừa hay, một xe ôtô xịch đến. Người phụ trách trung tâm triển lãm nhanh chân đến bên Huệ nói:

- Thưa cô, người đàn ông gửi thư cho cô đã đến. Ông ta đã cho người đến đặt tiền mua bức chân dung người mẹ đẹp nhất rồi đấy ạ. Có lẽ hôm nay ông ta đến ngã giá về bức chân dung người đàn ông duy nhất trong phòng tranh.

Huệ hồi hộp nhìn người đàn ông ra khỏi xe. Bên cạnh là một thiếu phụ xinh đẹp. Huệ giật mình vì gương mặt của người đàn ông ấy. Gương mặt rắn rỏi đúng như Huệ tưởng tượng ra. Đôi mắt ấy đúng như của mình. Nụ cười tươi tắn với hàm răng đều đặn mà mình đã từng bao ngày đêm soi gương để phác họa lại. Người đàn ông bước tới giơ tay ra trước mặt Huệ nói:

- Tôi là “Rư” đây. Nguyễn Mạnh “Rư”. Xin hân hạnh gặp cô.

Huệ giật mình bừng tỉnh. Đúng là cái âm “Rư” ở quê mình đây. Cả huyện ai cũng không nói đúng phụ âm D và Gi đều bị nhầm là R. Thật sự là ông Mạnh Dư được mẹ xác nhận đúng là cha mình đây ư? Người đàn bà sang trọng hết sức rạng rỡ vì son phấn đi bên cạnh ông Dư mà Huệ cảm thấy thật trớ trêu cho giây phút mong mỏi này của mình. Huệ cố nén đừng để bật ra hai tiếng gọi “Cha ơi!” mà bấy lâu nay hằng chờ đợi. Huệ gượng gạo giơ hai tay ra bắt tỏ ý kính trọng người lớn tuổi, chứ không còn những cảm xúc thiêng liêng mà Huệ đang hồi hộp chờ đợi. Ngay sau đó, ông Dư dắt tay vợ bước tới bức tranh chân dung người đàn ông không tên. Ông ta hồ hởi nói:

- Này mình xem, người đàn ông trong tranh này có “rống” tôi không. Bức tranh thật có hồn và đẹp biết chừng nào. Tôi định mua nó treo ở phòng khách rồi đấy. Hà! Hà!

Nghe ông ta cười, Huệ không còn giữ được bình tĩnh nữa. Cô chạy khỏi phòng triển lãm với những cảm xúc bức bối trong lòng. Sự tuyệt vọng về người cha lại trở về như vậy ư? Không! Ta không chờ đợi những điều cay đắng ấy mà. Tất cả còn cuộc sống lớn lao ở phía trước. Huệ chạy như ngày thơ dại mỗi lần hướng về phía mẹ. Vừa chạy cô vừa cố nén tiếng khóc và gọi to:

- Mẹ ơi! Mẹ ơi!...





Đăng nhập để trả lời
0
Bài học nhập môn
Hiền Mai



Cú va đập bất ngờ khiến ông già mảnh khảnh, sức yếu không thể giữ nổi chiếc xe trong tay. Cả ông và chiếc xe đổ vào xe đạp của người phụ nữ đứng bên đường khiến người phụ nữ cùng chiếc xe đạp ngã chúi rồi lăn kềnh ra. Chiếc bao tải trên giá đèo hàng xe đạp bị đứt dây, hàng chục củ khoai sọ lăn ra lông lốc.


Xế trưa. Lối rẽ vào cổng trường bỗng trở nên chật chội. Sinh viên chuẩn bị học ca chiều lục tục kéo vào. Người chen người, xe chen xe, chẳng ra hàng lối. Một người phụ nữ chạc ngoài năm mươi, đạp xe đến nơi đông đúc ấy đành phải xuống xe đứng nép vào bên đường nhường lối cho bọn trẻ. Một ông già tuổi ngoài bảy mươi đang đi xe đạp điện cũng phải tắt máy xuống dắt bộ.

Có hai chàng trai mặc đồ hiệu, đội mũ thời trang, đeo kính râm gọng lớn, ngạo nghễ cưỡi chiếc @ luôn tay bấm còi inh ỏi và tìm cách lách lên phía trước. Một vài cô cậu đi xe đạp hay xe máy cà tàng sợ đụng vào con @ sẽ cong vành, mẻ yếm, đành dạt sang hai bên nhường lối. Được thể, anh chàng lái @ lúc lách sang bên trái, lúc lách sang bên phải, khi rú ga vọt lên, khi đạp phanh cho xe khựng lại một cách điệu nghệ.

Và trong chuỗi những pha như thể biểu diễn ấy, bánh trước của chiếc @ đã đụng vào bánh sau chiếc xe đạp điện của ông già. Cú va đập bất ngờ khiến ông già mảnh khảnh, sức yếu không thể giữ nổi chiếc xe trong tay. Chiếc xe đạp điện của ông già đổ vào xe đạp của người phụ nữ đứng bên đường. Đến lượt người phụ nữ cùng chiếc xe đạp ngã chúi rồi lăn kềnh ra. Chiếc bao tải trên giá đèo hàng xe đạp bị đứt dây, hàng chục củ khoai sọ lăn ra lông lốc. Trong khi gã cầm lái chiếc @ thản nhiên tiếp tục cuộc lạng lách vượt lên thì gã ngồi phía sau đánh mắt về phía ông già, giọng khôi hài:

- Bố già ơi, chúng con đã “còi to” mà bố già không “cho vượt”, mới đến nỗi ấy.

Một vài cô cậu sinh viên lên tiếng:

- Đụng xe như thế mà không xuống xin lỗi và dựng xe lại cho người ta. Thật kém văn hóa.

Gã cầm lái @ quay lại, nhếch mép trêu chọc:

- Khất lỗi nhá. Moa cũng đầy bồ chữ trong đầu. Moa vội đến lớp.

Mấy phút sau, trên giảng đường, sau khi bỏ mũ, kính, chải đầu nghiêm ngắn, hai gã tay chơi đã trở thành hai chàng sinh viên khá chu chỉnh. Trống báo giờ thứ nhất điểm. Thầy chủ nhiệm khoa vào lớp bắt đầu buổi thuyết trình của mình. Chừng năm phút, ông già bị ngã xe ban nãy bỗng xuất hiện ngoài cửa. Hai gã cưỡi @ nhìn ra, vẻ mặt thất sắc, quay sang nói với bạn:

- Phiền phức rồi. Ông già tìm đến tận đây sinh sự.

Trong khi hai gã đang lo lắng, thì thầy chủ nhiệm khoa bước ra cửa. Lát sau ông già theo chân thầy chủ nhiệm khoa cùng bước lên bục giảng. Thầy chủ nhiệm khoa giới thiệu:

- Đây là giáo sư Vũ. Giáo sư Vũ là tác giả của hơn 50 công trình khoa học và 20 tác phẩm đã xuất bản. Cuốn giáo trình môn học đang có trong tay tôi là do giáo sư Vũ biên soạn. Giáo sư nghỉ hưu đã lâu, nhưng năm nào Khoa cũng mời giáo sư đến để các thế hệ sinh viên mới có được những bài giảng lý thú và bổ ích nhất.

Cả lớp đứng lên vỗ tay chào đón giáo sư. Giáo sư đặt cái cặp khá to lên bàn, vẫy tay ra hiệu cho cả lớp ngồi xuống rồi chậm rãi:

- Xin lỗi cả lớp vì hôm nay tôi đến muộn sáu phút. Tôi lại muốn xin thêm cả lớp bốn phút nữa để kể một câu chuyện thay cho lời chào hỏi làm quen. Ban nãy, đến cổng trường, không may xe tôi bị va quệt làm đổ xe của một người phụ nữ. Sau khi giúp người “cùng cảnh ngộ” nhặt số khoai tung tóe ra đường, hỏi chuyện cô ấy, tôi thực sự cảm động. Đó là một giáo viên người Mường, dạy tiểu học ở một huyện miền núi xa xôi của tỉnh Hòa Bình. Chồng cô là một thương binh nặng. Lương thấp, nhà nghèo, lại đang nuôi hai người con học đại học, thành thử mỗi lần xuống Hà Nội thăm con, cô ấy lại phải đèo thêm bao sắn, bao khoai bán lấy tiền lộ phí. Chuyến đi của người giáo viên ấy bắt đầu từ ba giờ sáng, đến cổng trường ta đã gần một giờ chiều. Nghĩa là cô ấy đã đạp xe liên tục gần mười tiếng đồng hồ. Khi bao tải đứt dây bung ra, ngoài những củ khoai, còn có nắm cơm, ống nước suối và một ít muối ớt văng ra. Tôi đã phải xé những trang cuối của cuốn giáo trình để gói ghém lại chút đồ ăn ấy giúp cô giáo. Khi biết tôi cũng là giáo viên về hưu, cô ấy nằng nặc được gửi biếu mấy củ khoai sọ vườn nhà. Tôi từ chối, cô ấy đã khóc. Vậy là trong cặp của tôi, ngoài tập giáo trình đã mất mấy trang cuối, còn có cả những củ khoai…

Trong khi giáo sư Vũ lấy từ trong túi ra những củ khoai còn vương đất núi thì tiếng vỗ tay của sinh viên lại nổ ra vang dậy. Giáo sư vẫy tay cho mọi người yên lặng rồi giơ củ khoai lên, nói tiếp:

- Giống khoai này quê tôi gọi là khoai môn. Ngày trước, giống khoai môn “Lệ Phố” đã đi vào sử sách và từng được coi là sản vật quý để tiến vua. Các bạn thấy không, củ khoai có hình thù không bắt mắt, có xuất xứ từ rừng sâu núi thẳm, cũng có đời sống riêng, có giá trị văn hóa riêng. Và nếu không nhờ có những củ khoai này rơi ra đường, tôi đâu biết người phụ nữ kia có nghị lực và tấm lòng đáng quý như vậy. Người phụ nữ ấy còn là chủ nhân của cả một kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể rất độc đáo. Đó là trường ca “Đẻ đất, đẻ nước”, những điệu múa, đặc biệt là hoa văn trên các tấm thổ cẩm và trang phục Mường độc đáo làm say lòng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, trong đó có tôi. Và như thế, câu chuyện tôi vừa kể là thay cho lời mở đầu, thay cho bài học nhập môn của một chuyên đề lớn mà tôi có nhiệm vụ trình bày với các bạn từ hôm nay.

Trong khi giáo sư Vũ tiến đến tấm bảng xanh lấy phấn viết lên bảng những dòng chữ “Dân tộc học đại cương” thì tiếng vỗ tay của cả lớp lại vang lên, vang mãi như không thể dứt.

Giáo sư Vũ nhìn xuống lớp và dừng mắt ở hai chàng sinh viên ăn chơi ngồi bên cửa sổ. Họ vừa vỗ tay vừa ghé tai nhau thì thầm điều gì đó. Lát sau, anh chàng lái @ cúi đầu nắn nót viết vào đầu trang vở: “Bài học nhập môn nhớ đời”


Đăng nhập để trả lời
0
Phía cuối con đường
Ngô Phương Hạnh



Ngôi nhà của bốn anh em chỉ chung một nửa dòng máu với Thủy như nơi quán trọ. Mẹ về rồi lại đi. Mỗi lần về, mẹ để lại cho mấy anh em một số tiền kha khá và gửi người dì chăm sóc. Một lần đấu khẩu với người anh cả, bị mấy cái bạt tai, Thủy bỏ đi bụi.

- Mẹ , mẹ ơi! Mẹ đừng bỏ chúng con, mẹ ơi…

Cả Hội trường lặng phắc, trên sân khấu Thủy gục đầu. Đôi hàng nước mắt của cô bé nhạt nhòa tuôn chảy.

Chị Nghi ngồi bên dưới không thể cầm lòng. Hai giọt nước trong khóe mắt chực vỡ oà. Chị khóc, chị biết cô học trò bé nhỏ đang thổn thức kể câu chuyện của mình.

Tiết mục của Thủy được trao giải nhất tại Hội diễn Văn nghệ chào mừng ngày 20-11. Bọn trẻ vỗ tay rầm rầm cổ vũ. Mấy đứa tấm tắc với cô giáo chủ nhiệm:

- Cừ quá, cái Thủy cừ như diễn viên xịn ấy, cô nhỉ!

Chị Nghi lén lau nước mắt, gật đầu đồng tình với bọn trẻ. Nhưng chị hiểu rằng, đêm nay, trong căn phòng của mình, Thủy lại viết nhật ký, hoặc thư cho mẹ mà không có địa chỉ để gửi đi.

*

Chị Nghi vẫn nhớ hôm đầu tiên đến trường, tiếng la hét lanh lảnh của Thủy làm cho khu nhập sinh như nổ tung, con bé không chịu vào làm thủ tục. Ngót hai chục năm làm việc ở trường giáo dưỡng này nhưng chị chưa thấy đứa nhỏ nào như Thủy. Nó ra sức dùng chân đạp tất cả những ai muốn lại gần nó. Nó lăn lộn trên mặt đất nóng bỏng. Nó gào thét, lăn toài ra đất mà khóc, mà la, mà cào cấu những ai lại gần để đưa nó vào phòng nhập sinh. Nó rền rĩ: “Thả tôi ra, tôi không muốn vào đây, tôi sẽ chết cho mà xem”. Nó cắn chị khi chị chạm bàn tay lên vai nó. Mạnh mẽ và dứt khoát, chị Nghi xốc Thủy dậy và đưa nó vào phòng làm thủ tục nhập sinh.

Thủy lầm lì, không nói, không rằng. Thủy không thèm ngẩng mặt nhìn cô giáo. Chị Nghi dẫn Thủy đến giường dành cho nó. Mọi đôi mắt đổ dồn nhìn Thủy, con bé chẳng thèm để ý, ngồi phịch xuống, bất động.

Thực ra chị Nghi hiểu, bọn trẻ vào đây đứa nào cũng có ít nhiều tì vết và đứa nào cũng ngang ngược, lì lợm. Nhưng trẻ con vẫn là trẻ con. Chẳng tự dưng bọn trẻ ra cơ sự ấy. Đứa nào cũng đáng thương. Chúng nó như tờ giấy trắng, nhưng do hoàn cảnh sống xô đẩy. Chị Nghi cứ gần gũi, tâm tình với Thủy và hiểu những nỗi buồn trong đôi mắt con bé.

Tội nghiệp Thủy, vào trường được mấy hôm thì nó “trở thành thiếu nữ”. Nó cứ bối rối, không biết phải làm sao. Đám bạn gái cùng phòng xì xào. Chị Nghi hiểu ra ngay. Chị gọi riêng Thủy, hỏi han. Con bé có vẻ e ngại nhưng rồi được trấn an, nó lí nhí bảo với cô chủ nhiệm “Em…em… bị bệnh… bệnh… ”. Bây giờ nghĩ lại chị vẫn bụm miệng cười vì sự trẻ con của nó. Cười mà xa xót. Cười mà lòng chị nhói đau. Con bé ngần ấy tuổi đầu mà không có mẹ ở bên để sẻ chia, để nói cho nó nghe những điều bình thường của một cô gái đang vào độ xuân thì. Chị mang tập băng thấm cho con bé, hướng dẫn nó cách tự chăm sóc cho mình trong những ngày đặc biệt ấy. Con bé xem chừng cảm động lắm. Hôm ấy nó viết cái thư tay cho chị, xin lỗi vì sự bướng bỉnh mấy hôm trước. Lần đầu tiên chị ôm Thủy vào lòng, một nỗi ao ước, một tình yêu như tình mẹ trong chị lại dâng lên. Con bé lặng đi nép mình trong vòng tay của chị. Chị nghe được nhịp tim con bé, phập phồng, phập phồng… Chị không thể nén lòng, giá chị có một đứa con như Thủy mà ấp ôm, mà dịu dàng ve vuốt.

*

Gần ba mươi năm trong ngành Công an, chị Nghi đã đi nhiều nơi, nhận nhiều nhiệm vụ. Mười tám tuổi, nặng hơn bốn chục cân nên chị cứ thùng thình trong bộ quần áo của ngành như người đi mượn. Nơi đầu tiên chị đến là một vùng núi cao phía Tây Bắc với nhiệm vụ áp giải phạm nhân đi sơ tán. Sau đó, chị được điều chuyển về công tác tại trường giáo dưỡng nơi vùng đồi đất đỏ ngợp nắng này. Ngôi trường, những đứa trẻ với những vết trầy xước của cuộc đời cuốn chị đi. Và hàng tháng, hàng năm bọn trẻ lại chia tay chị để ra trường. Niềm vui đọng lại trong chị là những lá thư, những dòng chữ mộc mạc bọn trẻ gửi về thăm chị, đứa khoe được học tiếp nghề may, giờ đã là công nhân cho một công ty liên doanh, đứa là thợ làm đầu, đứa đã thi đỗ vào đại học...

Cuối cùng tình yêu cũng đến với chị từ ngôi trường này. Đám cưới giản đơn, đạm bạc với nước chè, bánh ngọt và tiếng vỗ tay như pháo nổ của bạn bè, đồng nghiệp. Bốn mươi tuổi làm cô dâu, chị ngượng ngập hưởng hạnh phúc của ngày cưới trong bộ áo dài của người bạn thân cho mượn và trong vòng tay của người chồng đã ngoài tuổi năm mươi.

Chồng chị là một người đàn ông góa vợ đã hơn chục năm. Cuộc sống của anh trước đây là những tháng năm chăm sóc người vợ ốm đau và chuỗi ngày gà trống nuôi con. Dạo ấy, thằng bé con anh lên mười nhưng đã phải tự lo cơm canh hai bữa vì mẹ không còn và anh thì từ sáng sớm đến đêm khuya đều ở ngoài trường với học sinh. Cùng khu tập thể lại chỉ có một mình nên cứ rảnh rang là chị sang giúp việc nhà cho anh và thằng bé. Âu cũng là cái tình đồng nghiệp, tình hàng xóm, tình người. Thế rồi tình yêu gõ cửa con tim chị. Hạnh phúc muộn mằn đến với anh chị khi cậu con trai của anh đã học xong đại học.

Hạnh phúc của chị tưởng sẽ tiếp tục trổ nụ, nở hoa, kết trái trong ngôi nhà tập thể cũ kỹ của hai vợ chồng. Nhưng số phận đã không cho chị được hưởng niềm vui trọn vẹn. Chị không có khả năng sinh con. Anh càng thương chị hơn. Anh bảo, thằng Tú con riêng của anh cũng là con của chị, mà anh chị còn có bao đứa trẻ khác ở trong ngôi trường này.

Bọn trẻ ở đây đứa này ra trường, đứa khác lại vào. Mỗi đứa một hoàn cảnh, giàu - nghèo, thành thị hay nông thôn chị Nghi đều cảm thấy xót xa vì bọn trẻ đều có một hoàn cảnh chung là không nhận được sự quan tâm thật nhiều từ cha mẹ. Con bé Thủy từng kể chuyện cuộc sống gia đình cho chị nghe. Nhà Thủy giàu có. Mẹ Thủy là một phụ nữ tháo vát và giỏi bán buôn, nhưng số phận đa đoan. Bốn người đàn ông đã lần lượt đánh đu qua cuộc đời mẹ cô bé và kết quả cuối cùng đều là buổi xét xử ly hôn của Tòa án. Thủy không bao giờ nhìn thấy mẹ khóc. Chỉ thấy mẹ lao vào làm việc, sau khi ly dị người chồng thứ tư mẹ làm việc nhiều hơn. Ngôi nhà của bốn anh em chỉ chung một nửa dòng máu với Thủy như nơi quán trọ. Mẹ về rồi lại đi, sau những chuyến đi dài cả tháng, mẹ để lại cho mấy anh em một số tiền kha khá và gửi người dì chăm sóc. Trong sự quản lý lỏng lẻo của người dì mấy anh chị em Thủy tha hồ quậy phá. Một lần đấu khẩu với người anh cả, bị mấy cái bạt tai, Thủy bỏ đi bụi. Thủy muốn theo đám trẻ bụi đời để quên, để thử những cảm giác khác ngoài nỗi đau luôn gặm nhấm tâm hồn nó. Để rồi, cuối cùng Thủy được gửi vào ngôi trường này.

Những buổi được học nữ công, Thủy thích lắm. Nó bảo với chị chẳng bao giờ được mẹ dạy cho cách nấu ăn, cắm hoa hay may vá thêu thùa. Thức ăn thì đã có đồ hộp trong tủ lạnh, áo quần sứt chỉ, đứt cúc thì nhét vào đáy tủ, hoa thì mẹ làm gì có mặt ở nhà mà cắm, mà ngắm… Thế mà ở đây Thủy được học hết. Hôm trước, ngày nghỉ cả cô và trò làm bánh trôi. Chị Nghi cầm tay Thủy dạy cách nhào bột, làm bánh. Vụng về là thế nhưng cuối cùng những cái bánh của Thủy cũng ra hình hài, viên nào viên ấy tròn đều tăm tắp. Mắt Thủy long lanh. Chị Nghi xót lòng nghe Thủy nói: Giá như mẹ con cũng gần con như cô thế này...

*

Thấm thoắt đã đến ngày Thủy ra trường. Hôm rồi con bé đã được nhận bằng tốt nghiệp Trung học cơ sở và chứng chỉ học nghề may. Chị Nghi cứ thấy buồn buồn, bịn rịn. Hơn hai năm trời con bé gần gũi với chị, chị thương nó, nhiều lúc quên đi cảm giác chống chếnh vì thiếu một đứa con. Con bé tình cảm nhường ấy! Lại nhớ năm trước, nó hái hoa trong vườn trường tặng chị nhân ngày 20-11, ngày mà bản thân chị và các đồng nghiệp chỉ hiểu trong khái niệm! Nhưng vì hái hoa trong vườn trường nên Thủy bị đội thi đua trừ điểm. Nhưng con bé vẫn cười toét: 20-11 phải có hoa cho cô! Chị Nghi nâng niu bó hoa, ngày nào cũng thay nước để giữ lọ hoa mào gà tươi cả tuần.

Trước ngày Thủy ra trường, người dì đến thăm và òa khóc trước con bé. Dì kể, mẹ Thủy đang bị tạm giam vì dính dáng đến một vụ buôn bán hàng lậu. Thủy chết lặng người, con bé không thể khóc. Chị Nghi ôm con bé. Thủy gục vào bờ vai gầy của chị: “Con không có chốn về rồi!”. Dì Thủy vẫn nước mắt ngắn, nước mắt dài, nhưng phận gái đã có chồng, thương cháu có bố mẹ mà như mồ côi có muốn chăm lo cho nó cũng chỉ được phần nào.

*

Chị Nghi muốn Thủy ở lại với vợ chồng chị và anh cũng ủng hộ điều này. Con bé sẽ tiếp tục đi học, sẽ lớn và chao ôi… chị muốn nó như đứa con của chị, gọi chị bằng mẹ… Hơn cả, chị muốn nó sẽ có một chốn về, nó sẽ có chị để ôm ấp, chở che. Biết được điều này, con bé quay đi, cố giấu sự tủi thân và xúc động. Nó cố ghìm tiếng nấc: “Con phải trở về…” và nó ôm chị, giọng run run gọi “Mẹ”. Chị Nghi cũng cố giấu đi nước mắt. Chị biết rằng lúc này đây, điều tốt nhất dành cho nó là tiếp thêm nghị lực. Chị động viên Thủy và nói với con bé: ngôi nhà của chị dưới rặng tràm xanh là nơi luôn chờ đón Thủy bất lúc nào.

Thủy lên xe, còn cố ngoái lại nhìn cô chủ nhiệm. Chiếc xe trôi đi và dần khuất vào hàng tràm xanh ngút mắt. Phía cuối con đường, chị Nghi vẫn đứng đó, chị cố nhìn theo chiếc xe, nhìn theo cái bỏng nhỏ nhoi của Thủy khuất dần.



Đăng nhập để trả lời
0
Người ở Cồn Thương
Nguyễn Thế Hùng



Sang ngày thứ ba, qua không thể tin vào mắt mình, một mình xác cổ nổi dạt vô mé dưới của cồn. Ba ngày dưới nước vậy mà cổ vẫn đẹp, vẫn trắng, môi mọng như thoa son… Qua không nỡ chôn cổ xuống đất. Đến khi có người trong thành ra, họ mới giúp qua làm việc đó…

Ghe chạy chưa đầy nửa tiếng đã ghé cồn. Mới bước lên bờ, đập vào mắt tôi vẫn là ngôi mộ và dáng ngồi muôn thuở của ông. Vẫn đôi mắt lim dim vô tư lự, vẫn khuôn mặt vuông với những đường nét tạc vội của nhà điêu khắc tài hoa nhưng có tính phóng khoáng, vẫn cái lưng rù rù lên nước bóng loáng. Và vẫn dáng ngồi chồm hổm chân co chân duỗi, một tay gác lên thành mộ xây, một tay hờ hững cầm ly rượu. Cầm để mà cầm, cầm mà hồn như đang hướng về một nơi nào xa lắm.

Tôi lặng lẽ kéo cái ghế làm bằng gộc cây ngồi sát bên mộ, nơi đối diện với ông. Phải một lúc rất lâu sau, ông mới với tay lấy cái bình, chiết rượu vô cốc rồi vẫn với cái nhìn đó, ông trao cho tôi ly rượu đế và nói:

- Uống với qua ly. Ừ! Rồi rượu hết thì bình khô cạn, qua cũng cạn khô quắt khô queo, rồi đèn này nữa, nó cũng sắp tắt. Cái cồn Thương này…

- Một mố cầu sẽ đáp xuống đây, cầu thế kỷ, cầu vĩnh cửu… Có bêtông cốt thép cồn sẽ không còn trôi, ông cũng đỡ phải kè, phải đắp…

- Qua biết, kè đắp mãi sao được, sức người có hạn… nhưng mấy bữa rày qua xin hoài mà cổ chưa chịu, cổ muốn nằm ngoài này mát hơn.

Ông nhìn tôi rồi lại nhìn ngôi mộ, ngôi mộ trông cũng già như ông. Hai chúng tôi lại chìm vào yên lặng. Vì tôi biết giờ này có muốn hỏi gì ông cũng không nói nữa. Tôi ngồi bên ông, một già, một trẻ, cảm xúc của mỗi người chỉ có một mình mình biết, một mình mình hay. Tôi không biết ông đang nghĩ gì nhưng tôi đoán suy nghĩ của ông không vượt ra chuyện ngôi mộ. Dưới mộ là người vợ chưa cưới của ông. Bà trẻ mãi tuổi đôi mươi.

Có thể nói cuộc chia tay của chúng tôi có sự góp mặt của ông. Hay nói đúng hơn, ông là cái cớ để dẫn đến cuộc chia tay. Số là hôm đó hai đứa đang ngồi tự tình trong “Quán Gió”. Quán nằm ngay mé sông, mặt quay về hướng cồn Thương. Ánh mặt trời cuối ngày đang cố quét một lần nữa trên sông Hậu cho xong phận sự của mình rồi lui về ngủ vùi trong đêm. Lúc này, ngọn đèn cồn Thương như sáng hơn để chứng tỏ sự hiện diện của mình. Buột miệng, tôi nói:

- Cả cái thành phố này chắc ông già Tám là người chung tình nhất!

Thy đốp lại ngay như phải bỏng:

- Chung gì mà chung, tình gì mà tình. Mấy mươi năm ôm nấm mộ khô, một mình thắp đèn giữa cồn… Khùng!

- Anh lại không nghĩ vậy, thực sự già Tám ở lại giữ cồn không phải chỉ vì ngôi mộ. Mà kể ra chung tình vậy thì đáng khen chớ, sao em kêu người ta là khùng…

- Chiến công đã có tượng đài, liệt sĩ đã có những nghĩa trang…

- Im! Im ngay! Cô… cô… tôi … tôi…

Tôi thực sự kinh ngạc và đã vung tay lên nhưng kịp kềm chế. Không lẽ tôi lại hạ một cái tát vào chính cái miệng mới lúc nãy đây thôi đã thề thốt yêu thương, vung cái tát vào cặp má bầu bầu có hai lúm đồng tiền làm bao đêm tôi mất ngủ, vung cái tát làm rối mái tóc dài đen tôi thường trốn mặt vào trong đó. Tôi kinh ngạc nhìn Thy sao thấy lạ hoắc lạ huơ. Chẳng lẽ đây là người không lâu nữa tôi và em sẽ thành chồng vợ, sẽ chung sức chung lòng, sẽ nhìn về một hướng và đi tới một đích? … Thy không khóc cho việc tôi ra đi. Em không khóc, em không giữ tôi vì em không tin trên cuộc đời này có tình yêu, sự hy sinh, lòng thủy chung và cả những tấm lòng cao cả.

...- Qua kêu chú ra đây là có chút việc muốn nhờ - Trầm ngâm cả tiếng đồng hồ rồi ông bắt đầu nói - Nghe nói trước ở đây không có cồn lục chi hết, ngày ta đánh tây, cả tàu ta, tàu tây chìm. Xác tàu, xác người cản nước, tụ cát lâu thành cồn. Nhưng cứ mỗi mùa nước, cồn lại lở mạn trên và trôi về xuôi một ít, trông cồn cứ như giọt lệ xanh giữa sông bạc. Cồn trôi, vì vậy chỗ tàu chìm chắc không còn là ở đây.

Ngày qua còn nhỏ, cồn vốn không có người ở. Rồi một buổi sáng bọn qua mới vô học tiết đầu thì cả trường được thông báo nghỉ và có tàu chở ra cồn coi tây bắn người. Qua nhớ mãi cái buổi sáng hôm đó, mười lăm người, trong đó có hai chị đang mang bầu, bị tây trói giật cánh khủy vào mười lăm chiếc cọc, mặt hướng vô cồn, lưng hướng ra sông. Trong mười lăm người đó qua nhận ra một người, chú Mười Dung chạy xe kéo. Chú Mười nói giọng miền ngoài, hiền khô, thỉnh thoảng về xóm, chú còn cho mấy đứa nhỏ kẹo mút, tò he. Qua đang ngẩn người nhìn chú Mười thì bỗng chú lên tiếng: “Hỡi đồng bào, đồng bào hãy nhìn cho rõ, nhớ cho kỹ ngày hôm nay, súng bắn vào chúng tôi là súng tây, chỉ huy người bắn chúng tôi là người tây… Hỡi các em học sinh hãy nhớ lấy mà tìm đường đi cho đúng… Súng tây không đủ nhiều để bắn hết dân Nam đâu… các em hãy tiếp… bước…”. Chú Mười nói nhanh như sợ không kịp. Mà đúng là không kịp, đạn nổ, tiếng trẻ con rú lên, rồi chúng bỏ chạy tán loạn, hình như miệng chú Mười vẫn đang nhép nhép, nhưng tiếng náo loạn nên không ai còn nghe được gì. Mười lăm người thành mười bảy, hai người đang mang bầu mà. Tây nó cắt dây, đạp xuống sông Hậu, máu loang đỏ cả một vùng, lúc sau, máu trộn với phù sa chảy xuôi… ở cồn về, lớp qua có mười đứa được giác ngộ, trong đó có qua và Thương. Cổ con nhà đài các lắm, cứ nghĩ khó mà hoạt động, vậy mà cổ làm việc gì cũng khá… Sau một vài lần bị bắt lên bót, tụi qua bị đuổi học hết, riêng Thương nhờ con nhà gia thế nên vẫn được học. Chiều nào cũng vậy, qua đón Thương nơi cổng trường, trong cặp sách, sau làn áo dài trắng của Thương khi thì lựu đạn, khi thì thuốc nổ. Thú thực ban đầu qua không nghĩ là cổ thương qua đâu, con gái họ kín lắm. Chỉ đến khi tổ của qua đánh đồn Tạ, trận đánh đã hết biết, gần như xóa sổ hoàn toàn bọn ác ôn. Nhưng trên đường rút bọn qua bị chặn. Qua với cổ chạy một hướng, chúng rượt rát quá, qua bắn cầm chân cho cổ chạy, cuối cùng qua bị bắt.

Qua bị nhốt gần ba năm, tháng nào cổ cũng vô thăm nuôi, khi đó qua mới biết cổ thương qua lâu rồi. Ngày qua được thả, cái chân này đi lết, nó đánh phạm quá mà. Biết vậy nhưng cổ vẫn thương. Qua không còn ở tổ diệt ác được nữa. Luây quây ký ức xưa hiện về, cồn Tàu Chìm hiện về. Qua bàn với tổ chức và tổ chức đồng ý. Qua ra cồn sống một mình. Ngày cũng như đêm thắp lên ngọn đèn bốn mặt này. Hễ qua báo yên là giấc gần sáng, tổ diệt ác lội ra ngủ bù. Đó - Già Tám chỉ tay về phía mấy cái lu đại sắp bên chái lều - Mười mấy cái lu đó xưa qua làm hầm, khi có động anh em rút tạm xuống ngồi trong lu, hết động lại trải nóp xuống đất mà nằm, qua ngồi canh. Cũng có nhiều đêm, tụi nó đi tuần căng, qua phải quay mặt đèn đỏ báo động. Tay quay mặt đỏ mà bụng không muốn chút nào. Qua muốn anh em ra, muốn út ra. Dạo đó út đã thoát ly hẳn gia đình. Tổ chức cũng biết chuyện qua với út, ai cũng thương và muốn tác thành, Chi bộ Đảng cũng đã đồng ý. Hai đứa chọn đêm cuối tháng sẽ làm đám cưới trên cồn. Nhưng đám cưới mãi … không đến… Cổ chưa được làm vợ ngày nào đã phải ra đi…

Già Tám nhìn về hun hút bên kia sông. Không bao lâu nữa, cầu Cầm Thi sẽ vươn đến cồn Thương, vươn qua cồn Thương để nối liền hai bờ thương nhớ. Tiếng phà đạp nước đêm đêm sẽ đi vào miền cổ tích. Và cồn Thương sẽ không còn là cồn Thương khi già Tám đưa mộ cô Thương vào nghĩa trang liệt sĩ thành phố. Rồi già Tám nữa, già cũng sẽ vô bờ, sẽ nhận một ngôi nhà tình nghĩa nào đó. Và biết ai còn nhớ đây xưa là cồn Tàu Chìm, cồn Thương? Chắc nó sẽ có tên mới, cồn Mố Cầu chẳng hạn!

…Qua chuẩn bị bánh trái nhiều lắm, có cả bộ quần áo nhung cho cổ mặc trong lễ vu quy nữa đó… Trăm lần qua báo đều trúng, anh em đều vượt sông an toàn… Vậy mà đêm đó… Tụi nó rải người nhái. Qua không phát hiện ra. Anh em thấy qua báo yên… Rồi súng nổ. Anh em mình chủ yếu là súng ngắn, lựu đạn lại bất ngờ… - Giọng già Tám như nghẹn lại - Già ngồi đó, đầu gục xuống, lưng còng như muốn ôm lấy ngôi mộ xây vào lòng. Và ngọn đèn bốn mặt vẫn sáng từ bấy cho đến nay. Ngọn đèn đã bao lần báo yên cho những đoàn quân vào ra thành phố. Ngọn đèn sau hòa bình vẫn sáng nhắc cho bao người, đã có một thời, những người con trung kiên đã sống, chiến đấu và hy sinh ở đây.

… Sáng hôm sau, qua đem trái cây, hương hoa chuẩn bị cho đám cưới thả xuống dòng sông. Qua bơi xuồng như người mộng du ngang dọc theo sông nhưng tuyệt nhiên không thấy xác một ai… Sang ngày thứ ba, qua không thể tin vào mắt mình, một mình xác cổ nổi dạt vô mé dưới của cồn. Ba ngày dưới nước vậy mà cổ vẫn đẹp, vẫn trắng, môi mọng như thoa son… Qua không nỡ chôn cổ xuống đất. Đến khi có người trong thành ra, họ mới giúp qua làm việc đó… Qua dài dòng quá phải không?! Đây chắc là lần đầu mà cũng là lần cuối qua kể mà. Ráng ngồi nghe, chiều người già chút nhé. Còn việc qua muốn nhờ chú. Qua đã đắn đo kỹ, chỉ có chú mới làm được, chú là người cũng hay hoài cổ lắm. Qua coi dự án rồi, coi cả thiết kế cầu nữa. Thế là vĩnh viễn cồn Thương không còn trôi nữa, trước tới giờ qua đang lo, khi qua chết… giờ được vậy qua mừng. Còn việc này, chú đừng từ chối nhé, tất cả qua ghi trong này, chú có thể thêm bớt cho nó thẩm mỹ, còn đại ý là vầy, chú đọc coi được không?

Tôi mở tờ giấy già Tám đưa, trong đó chỉ có duy nhất một dòng chữ già Tám viết nắn nót: “Nhắn những ai đi trên cây cầu này hãy nhớ, dưới chân cầu bao người con trung kiên đã ngã xuống!”. Già Tám nhìn tôi đọc và hy hóp chờ đợi. Già muốn khi cây cầu khánh thành, bằng uy tín và mối quan hệ của mình, tôi xin các cơ quan chức năng cho in hàng chữ này lên thành cầu, phía trên cồn Thương. Tôi biết làm được việc này không phải là giúp già Tám mà giúp cho bao thế hệ con cháu nhớ về một thời máu lửa. Đây là bài học về truyền thống hết sức sâu sắc. Già Tám nhìn tôi tin tưởng. Mặt xanh của ngọn đèn bốn mặt quay về phía tôi báo hiệu bình yên…




Đăng nhập để trả lời
0
Khi Sếp mê bóng đá
Thanh Quế



Từ ngày có sếp mới, những người lâu nay vẫn xem bóng đá, coi kẻ say mê bóng đá là "bọn kém trí tuệ" cũng góp lời bàn tán về bóng đá. Những buổi giao ban đầu tuần bỗng trở nên sinh động hơn khi thêm phần bình luận về các trận bóng. Đúng là, sếp mới mê bóng đá.

Sếp cũ vừa nghỉ hưu. Ông vốn là một người dễ chịu, ưa nhậu nhẹt vào cuối mỗi chiều, nhưng tính xuề xòa. Ai có gì sai phạm, mời sếp một chầu, xin bỏ qua là xong chứ không ghim guốc, trù dập trong chuyện như lên lương, lên chức... Sếp lại thoáng, dễ ký vào những giấy tờ mà cấp dưới vận dụng để rút tiền ra, cho thêm anh chị em vào những ngày lễ tết, cho phép tài vụ thanh toán nhẹ tay cho những người đi công tác để họ dễ thở khi xa cơ quan, gia đình.

Nhưng sếp mới thì nghe nói nghiêm lắm, ai sai phạm hay bê trễ trong công việc một chút là ông xét nét, cứ nhắc đi nhắc lại làm người ta muốn tìm chỗ khác mà đi. Ông lại cứng nhắc trong công tác tài chính nữa. Ở cơ quan hành chính sự nghiệp không có khoản thu nào ngoài lương mà không thoáng, không gượng nhẹ thì nhân viên “hết nhờ”. Vậy nên, sáng nay mọi người túm tụm ở văn phòng bàn bạc tìm hiểu sếp ưa gì để làm vừa lòng sếp, mới dễ cho việc “mần ăn” sau này…

- Ai cũng là người chứ có phải gỗ đá gì đâu, cứ lo qua phu nhân là xong hết.

- Ngày sinh nhật, ngày tết ai chẳng thích cơ quan mang quà đến thăm.

Vừa lúc ấy, ông trưởng phòng tổ chức cán bộ, một người khoảng 50 tuổi, gầy lòng khòng, có bước đi nhẹ nhàng rỉ tai nói với trưởng phòng hành chính, một người vui tính có dáng to béo, trẻ hơn ông một chút:

- Mình dò ra rồi. Sếp ưa bóng đá. Cứ có trận nào hay, chạy cho sếp một vé hạng nhất là xong.

Người này rỉ tai người kia, thế là cơ quan nọ, một nơi toàn những người “ngâm cứu” ưa cái đầu hơn đôi chân, chuyên thắc mắc các ông lãnh đạo chỉ lo đầu tư bóng đá mà không nghĩ đến việc khác bỗng rộn lên bàn tán về bóng đá:


- Bóng đá là môn thể thao vua, ai không say mê bóng đá là không hiểu gì về thể thao cả.

- Xem bóng đá làm cho đầu óc người ta thông thoáng, có lợi cho nghiên cứu…

Mọi người say mê bàn luận đến nỗi không nghe tiếng còi xe và tiếng bước chân giày lộp cộp của người cao to, đầu hơi hói, mặt nghiêm nghị đang đi vào văn phòng. Đó là sếp mới.

- Chào các đồng chí. Các đồng chí đang bàn bạc gì say mê thế - Sếp hỏi.

- Dạ - mọi người như sực tỉnh - Chào thủ trưởng. Thủ trưởng mới đến ạ.

Chúng tôi đang bàn về trận bóng giữa đội X và đội Y hôm qua ạ.

Mắt sếp sáng lên:

- Các đồng chí thấy đội X của ta thua có đáng không?

Mọi người lúng túng một chút. Trưởng phòng tổ chức nhanh nhảu:

- Dạ, đáng lắm ạ. Anh em ta bố trí đội hình chuệch choạch quá.

Sếp hơi nghiêm mặt:

- Đồng chí thấy thế chứ tôi thấy họ bố trí đội hình được đấy chứ, chỉ có thể lực yếu quá, sút không chắc.

- Dạ - Trưởng phòng tổ chức nói theo -đúng rồi ạ. Đúng là thể lực họ yếu quá, nên sút không chính xác.

Sếp lại hỏi:

- Các đồng chí có xem đá bóng thường xuyên không?

- Dạ, xem đều lắm ạ. Cả cơ quan mê bóng đá ạ - Trưởng phòng hành chính xen vào.

- Thế thì tốt quá. Tôi rất mê bóng đá - Sếp nói rồi tiếp - Đồng chí đưa tôi lên phòng…

Từ đó bóng đá thành đề tài bàn bạc của cơ quan từ sáng sớm cho đến chiều tối. Ngay cả những người lâu nay vẫn xem bóng đá, coi kẻ say mê bóng đá là “bọn kém trí tuệ” cũng xen vào bàn tán về bóng đá. Những buổi giao ban đầu tuần bỗng trở nên sinh động hơn vì xen vào giữa cuộc bàn công việc là những lời bình luận về các trận bóng đá trong các ngày nghỉ. Lúc ấy sếp vui ra mặt, ông ban phát những lời dạy dỗ mọi người về môn thể thao vua này.

Trong một lần giao ban, trưởng phòng tổ chức có sáng kiến là ngày nào có bóng đá thì mọi người góp tiền mua vé đi xem tập thể cho vui, cho cơ quan có khí thế. Ban đầu cũng có người khó chịu, không muốn nộp tiền vì họ “yêu vờ” bóng đá cho vừa lòng sếp thôi. Nhưng trưởng phòng tổ chức bấm nhỏ: “Ông đừng làm mất hứng sếp, sếp không vui đâu” nên họ cũng xuôi theo.

Một buổi sáng sau trận bóng đá nảy lửa giữa đội tỉnh nhà và đội Sao Hỏa của tỉnh bạn xảy ra. Đội nhà thắng 1- 0, mọi người đang râm ran ca ngợi đội nhà thì trưởng phòng tổ chức nói:

- Các vị buồn cười thật. Các vị đi xem bóng đá mà cứ như đưa đám. Thấy đội nhà đá hay, sếp chồm lên vỗ tay bôm bốp mà chẳng ai hưởng ứng gì cả, cứ ngồi êm re. Tôi thấy sếp nghiêm mặt khó chịu lắm đấy.

- Ông làm gì mà ghê thế. Thực ra lâu nay tụi tôi có biết đá hay đá dở là sao đâu, làm sao vỗ tay hưởng ứng cho kịp - Một ông tóc bạc bạc, có dáng ngồi gù gù nói.

- Thì thấy sếp vỗ tay ta cũng vỗ tay theo chứ. Bữa sau ông nhớ đấy - Trưởng phòng tổ chức dặn.

Vừa lúc đó sếp bước vào. Sếp nhìn mọi người vẻ không vui rồi đi thẳng lên phòng chứ không bàn tán về bóng đá như mọi bữa. Trưởng phòng tổ chức nháy ông tóc bạc:

- Thấy chưa?

Trưa đó, trong giờ ăn, bà kế toán, người gầy như que củi, mắt đeo kính cận nói với mọi người:

- Có lẽ ông trưởng phòng tổ chức nói đúng đấy. Hồi nãy tôi đem hóa đơn giả vờ tiếp khách để rút tiền cho anh chị em nhờ sếp ký, sếp có vẻ bực, bảo “để đấy xem đã, làm kiểu này mãi không tiện” chứ không ký ngay như mọi bữa. (Họ đâu biết, hồi sáng sếp cãi lộn với sếp bà khi bà này đổ cho sếp chỉ biết xem bóng đá mà không chú ý gì đến việc học hành của con cái).

Thế là mọi người lại im lặng nhai. Ai cũng cho mình làm sếp không vừa lòng.

Rồi một trận đấu bóng nữa ở sân nhà. Cả cơ quan kéo nhau đi xem. Trong khi xem, ai cũng vỗ tay, hò reo cổ vũ làm cho những người ngoài cơ quan phải ngạc nhiên. Hôm sau, giữa lúc mọi người đang bàn tán sôi nổi về trận bóng đá thì sếp hầm hầm bước vào:

- Trận hôm qua dở ẹc có gì mà mọi người vỗ tay hò reo với bàn tán dữ thế. Có lẽ chúng ta bớt xem những trận bóng đá vô bổ để lo chuyên môn. Tôi thấy công việc hơi ì ạch rồi đấy. Thế mà cứ đòi lên lương, lên chức…

Nói xong, ông bước thẳng lên phòng. Mọi người nhìn nhau ngơ ngác. Còn trưởng phòng tổ chức thì đứng sững như trời trồng, miệng cứ há ra…


Đăng nhập để trả lời
0
Bé con ngơ ngác
Lê Bích Phượng



Chị như tàu cải non gặp trời mưa, nát nhũn. Thật tình, quãng thời gian chờ đợi ấy chị cũng hiểu ra mọi điều. Nhưng dù sao câu nói của Yến cũng khiến chị thêm một lần nữa để biết chắc rằng, chẳng ai muốn nhận ra ở người đàn bà bán hoa như chị nửa cuối cuộc đời cũng muốn có được một gia đình như bao người bình thường khác…


Gian phòng chật chội, sáu chiếc giường một kê song song với nhau, giữa hai chiếc có khoảng trống rất nhỏ để đi lại. Chị khép chặt hai chân, gồng mình ngồi dậy, mỗi cử động lúc này đều làm cho chị cảm thấy đau buốt. Bên chị, sinh linh bé bỏng đang ngủ say sưa, từng nhịp thở non nớt…

Chị muốn uống nước. Xung quanh chị lúc này chẳng có ai. Mấy cô, mấy bà cùng phòng đang say ngủ. Con bạn thân tên Yến chẳng biết chạy đâu. Thú thực, không có nó chị chẳng biết phải làm gì. Sinh lần đầu, chị lóng ngóng như gà mắc tóc.

Con Yến đi một loáng khuân về cho chị một lô xích xông quần áo. Mới có, cũ có. Cái cũ thì gói mấy lần trong túi nilon, cái mới thì còn nguyên cả hồ, nó bảo:

- Cũ là xin, mới là mua. Chẳng kịp giặt giũ gì đâu, tao sợ mày trở dạ lại không có ai chăm sóc…

Chị chống tay, lết người về phía chiếc tủ cá nhân, với lấy ca nước. Chợt nhìn ra ngoài cửa sổ. Một con bé với chiếc quần hoa và cái áo phông bạc phếch. Cả quần và áo đều không rõ được màu sắc ban đầu. Con bé đang cúi nhặt mấy vỏ Lavie ai đó ném ra ngoài cửa sổ. Suýt nữa chị đã hất ca nước còn lại vào nó. Nó ngẩng lên nhìn chị cười nhoẻn. Cặp mắt to và đen, hàng lông mày thưa vàng mờ, hàm răng đang thay không được chăm sóc kỹ lưỡng, mọc khấp kha khấp khểnh, nhưng điệu cười thì cực dễ mến:

- Cô đẻ em bé à?

- Ừ! Nhặt mấy cái đó làm gì?

- Cháu bán.

- Được nhiều không?

- Một nghìn một cân. Một ngày cháu cũng nhặt được vài cân.

- Bệnh viện họ cũng cho cháu vào à?

Cô bé cười, tiến lại gần hơn phía cửa sổ:

- Cô cho cháu vào trong nhé!

Nói rồi, không cần biết phản ứng của chị, nó lon ton đi vòng qua cửa lớn, hé cửa chui vào phòng. Mấy cô, mấy bà hé mắt nhìn rồi lại chìm vào giấc trưa. Nó đưa tay đặt lên miệng, khẽ suỵt ý chừng ra hiệu cho chị giữ trật tự.

- Cháu nói cô nghe nhé, cháu cứ trèo qua tường rào bệnh viện. Chỗ kia kìa. Đấy, chỗ có mô đất cao ấy. Chỗ ấy tường thì thấp lại có mô đất nên cháu trèo vào ngon ơ…

Nói rồi, nó hãnh diện:

- Cháu bị bảo vệ bắt vài lần rồi đấy, nhưng mà không ăn thua, cứ thả ra cháu lại trèo vào. Lâu dần quen mắt, cháu chẳng thấy ai đoái hoài gì nữa. Thế là cháu thoải mái làm ăn.

Từ “làm ăn” của nó làm chị buồn cười. Bé con tuổi đang thay răng sữa, ăn nói như bà cụ non. Chị hỏi:

- Cháu tên gì?

- Na, dì cháu bảo thế. Nhưng ở đây mọi người toàn gọi cháu là Lavie thôi.

Lavie trèo lên giường, vuốt má em bé hỏi:

- Em bé được mấy cân hả cô?

- Hai cân rưỡi.

- Thế hơi nhỏ rồi. Cái cô ở phòng bên kia hôm qua đẻ con những bốn cân. Thế mới ác chiến chứ… Ơ, mà cô nằm xuống đi, đẻ xong người ta không ngồi thế này đâu, sau già là đau lưng.

Lavie tụt xuống giường, ra hiệu cho chị nằm xuống. Từ chỗ thấy ngồ ngộ, chị bị hút vào những câu chuyện không đầu không cuối của Lavie lúc nào không hay. Chị từ từ nằm xuống. Con bé Lavie xán lại gần. Cặp mắt to đen và hàng lông mày thưa như xoáy vào gương mặt chị. Chị thoáng khó hiểu. Một lúc nó ngồi thẳng dậy hỏi:

- Cô ơi, cô xăm môi với xăm mắt hả cô?

Tưởng gì, hóa ra chuyện ấy. Chị bảo:

- Ừ! Thế thì sao?

- Không, cháu hỏi thế thôi, Thôi, cháu phải đi đây.

Nhanh như lúc lẻn vào, bé con Lavie luồn ra cửa biến mất. Chị bị cụt hứng, quay lại ôm con. Không ngủ được, chị nghĩ mông lung…
Chị quen anh trong một lần anh vào quán cùng với mấy người bạn. Anh là kỹ sư xây dựng đang thi công một công trình nào đó ở huyện nghèo này. Tuổi 55 trông anh đẹp và lịch lãm. Vẻ đẹp của một người đàn ông có quyền thế và cứng cỏi lọc lõi, nếm trải đủ mùi đời nhưng lúc nào cũng thản nhiên xem sự đời như một cuộc chơi. Chị được bà chủ phân công phục vụ nhóm khách ấy cùng con Yến, con Lan. Chị ngồi cạnh anh, chăm sóc cho anh từng ly từng tý. Ngược lại, cái vẻ thản nhiên ấy, anh bảo chị:

- Hôm nay anh mệt lắm đấy. Em làm sao cho anh cảm thấy hết mệt là anh cảm động nhất.

Chị cười tình tứ. Đã chục năm “trong nghề” chị hiểu những hạng đàn ông này. Chỉ cần ân cần và ánh mắt trìu mến là OK… chị sẽ được hưởng tiền boa hậu hĩnh. Chị lần tay lên vai anh, xoa bóp nhẹ nhàng. Anh có vẻ khoan khoái. Tất cả những thao tác đó chị đã quen. Cả hơi thở nhiều loại đàn ông khác nhau, mùi hành tỏi, mùi rượu bia, mùi thuốc lá… vì cuộc mưu sinh, chị cũng đã quen. Chị thẽ thọt vào tai anh:

- Vợ anh lại làm gì anh rồi phải không?

- Chẳng làm gì cả. Chỉ chăm son phấn và đi bộ thể dục thôi. Đi tập thể dục mà cũng son phấn, thật chịu.

Anh kéo tay chị đặt lên bả vai phải, ý chừng ra hiệu để chị xoa bóp chỗ ấy rồi bảo:

- Lấy nhau hàng chục năm trời chỉ có việc đẻ mà cũng không xong. Sản xuất một lũ vịt giời suốt ngày a-còng với di động bát phố phường…

Anh ngửa cổ ra sau buông thõng một câu:

- Khéo em đẻ cho anh một thằng cu được đấy.

Câu nói tưởng chừng vu vơ ấy lại gieo vào lòng chị niềm hy vọng. Nửa đời phấn hương nhan sắc đã xuống cấp nhiều, chị thấy mình rệu rã quá đỗi. Nhiều lúc muốn thoát khỏi cảnh sống này để xây dựng một gia đình trọn vẹn mà không được. Xung quanh chẳng có ai thân thiết. Hai lần vào trại, hai lần trở ra, chị cứ quyết tâm, quyết tâm mãi mãi mà không thoát ra khỏi cái nợ đời đeo đẳng. Sau lần ra trại thứ hai, chị trôi dạt về nơi khỉ ho cò gáy này, phục vụ trong một quán cà phê… Chị ghé sát vào tai anh:

- Nếu em đẻ cho anh một thằng cu thật thì sao?

- Thì em muốn gì cũng có…

Cả hai cùng cười. Sau lần ấy, chị thấy anh qua lại chỗ chị nhiều hơn. Anh bảo thi công xong công trình anh sẽ xây cho chị một căn nhà, kiếm cho chị một công việc tử tế. Chị cũng thấy yêu anh, không phải sự giả vờ chiều chuộng như đối với những người đàn ông khác. Chị yêu và hy vọng… Có thể lắm chứ, nếu chị sinh con trai…

*

Chị ở bệnh viện năm ngày. Bé con Lavie với đôi mắt to đen và hàm răng khấp khểnh hôm nào cũng đến nhặt vỏ Lavie ngoài cửa sổ và chui vào phòng trò chuyện cùng chị. Chị có một người bạn nhỏ tuổi kháu khỉnh và biết nhiều kinh nghiệm chăm sóc trẻ con mà Lavie thu thập được ở khoa sản để về phổ biến cho chị. Chẳng hiểu vì lý do gì, chị tin Lavie như tín đồ tin đạo. Ngày thứ tư trong bệnh viện, Lavie hỏi chị:

- Cô ở bệnh viện lâu không?

- Mai cô được về.

- Về đâu?

- Về nhà

- Nhà đâu?

Chị thoáng lúng túng trước sự tò mò của trẻ. Chị còn có thể về đâu ngoài cái phòng trọ ẩm thấp và trước sân đầy rêu. Về đâu khi chị - người đàn bà gần bốn mươi tuổi, lại kém nhan sắc, kinh doanh thân xác chục năm trời vẫn không đủ tiền trang trải những vất vả trong cuộc sống thường nhật, những phấn son, những quần áo, những bệnh tật, những đòi hỏi tên và không có tên. Ở cái huyện nghèo và hẻo lánh này, chị như viên sỏi nhỏ trên miền đất cằn, sống gần như quên hết giá trị của bản thân. Cái huyện heo hút chỉ có sắn có ngô, những quán cà phê và không ít những người đàn bà như chị.

- Thế chỗ cô ở có nhiều người như cô không? - Tiếng của Lavie kéo chị về với hiện tại.

- Như cô là như thế nào?

- Là… là cave á!

“Cave” - lời của con bé Lavie như gáo nước giội vào chị. Tại sao chị lại là cave? Tại sao một con bé như thế này mà cũng biết chị là cave? Nó mới hơn chục tuổi đầu, một đứa bé đi nhặt phế liệu nuôi thân cũng biết chị là cave thì có lẽ tất cả mọi người trong phòng này đều biết. Thảo nào người ta cứ nhìn chị vừa tò mò, vừa khinh bỉ… Chỉ nghĩ được có thế người chị như bốc hỏa, chị hét lên với giọng điệu của một cave thật sự:

- Cút mẹ mày đi! Tao là cave thì mày làm gì được tao?…

Lavie giật nảy mình. Nó biết mình vừa sờ tay vào lửa. Mắt tròn xoe, nó lùi ra xa chị rồi cứ thế, cứ thế, giật lùi ra phía cửa.
Khi về lại nhà trọ, chị đã điện thoại cho anh mấy lần. Thế nhưng vài lần anh bảo công việc ở công trường quá bận rộn. Sau này, tự dưng điện thoại mất liên lạc. Cuộc đời chị quan hệ với nhiều loại đàn ông, chẳng bao giờ chị hỏi đến địa chỉ của họ. Với anh cũng vậy.

Chị bảo Yến:

- Mày tìm cách liên hệ một lần nữa với lão ta để tao biết lão là hạng người nào.

Con Yến đang chải mớ tóc rối bù do vừa chạy xe ôm về. Nó nhíu mày nhìn chị:

- Mày ngây thơ như thế thật hả Oanh?

Chị tỏ vẻ khó hiểu. Nó chậm rãi tiếp:

- Tao đã bảo với mày rồi, đó chỉ là một cái cớ thôi. Một cái cớ thôi mày hiểu chưa. Từ khi mày đẻ trong bệnh viện lão ậm ừ là tao biết. Bây giờ thì nghi ngờ gì nữa. Lão a-tếch rồi. Cái lừa của một thằng có học còn đểu gấp trăm lần đứa vô học mày hiểu chưa?

Chị như tàu cải non gặp trời mưa, nát nhũn. Thật tình, quãng thời gian chờ đợi ấy chị cũng ngờ ngợ ngộ ra mọi điều. Nhưng dù sao câu nói của Yến cũng khiến chị thêm một lần nữa để biết chắc rằng chẳng ai muốn nhận ra ở người đàn bà bán hoa như chị nửa cuối cuộc đời cũng muốn có được một gia đình như bao người bình thường khác…

Con Yến chải xong mớ tóc rối, tong tẩy lấy chậu và khăn ra giếng trước nhà rửa mặt. Chị ôm con lên giường, nhận ra xung quanh mình không gian im lặng bao trùm. Đứa con gái đang thiêm thiếp ngủ trong tay mẹ yên lành.

Đang ôm con, chị giật mình nghe tiếng quát của con Yến rồi sau đó là tiếng trẻ con khóc lóc van xin. Chưa hiểu chuyện gì thì con Yến đã xộc vào, khăn mặt vắt vai, tay túm tóc một con bé rúm ró trong bộ quần áo hoa nhàu nhĩ. Chị sững sờ nhận ra nó - bé con Lavie.

- Mày khai ngay, lớ vớ ở đây định ăn trộm phỏng?- Yến quát.

Lavie sợ sệt thực sự. Nước mắt ngắn dài, nó van lơn:

- Cháu xin, cháu lạy các cô, cháu không ăn trộm. Hu… hu…

- Thế mày rình mò ở đây làm gì. Nói!

- Cháu tìm mẹ cháu, hu … hu…

Chị giằng tay con Yến ra khỏi mớ tóc hoe vàng của bé con Lavie:

- Mày cứ buông ra, con bé này tao quen…

Con Yến buông tay, lấy khăn mặt lau quấy quá:

- Giời ơi là giời! Hôm nay là ngày gì mà lắm chuyện dở hơi thế? Thôi, con lạy các bà, các bà im cho con ngủ.

Con Yến leo lên giường, không quên vứt lại khăn mặt. Chị đưa khăn cho Lavie rồi lấy nước cho nó uống.

- Sao cháu lại đến rình ở đây? - Chị hỏi.

- Cháu… tìm mẹ cháu.

- Mẹ cháu là ai?

- Là... cave.

- Cave á? Sao lại đến đây tìm? - Chị dồn dập hỏi.

- Hôm cô ra viện, cháu đi theo. Cô là cave, cô biết mẹ cháu ở đâu không?

- Mẹ cháu tên là gì?

- Tên Cải. Hồi xưa, tối nào mẹ cháu cũng dắt cháu lên đồi cây. Mẹ cho cháu ngồi với bà bán hàng nước rồi mẹ đi. Cháu đợi ở quán nước rồi ngủ luôn với bà già. Đêm mẹ lại đón cháu về. Một lần cháu ngủ dậy mà chờ mãi chẳng thấy mẹ cháu đâu. Một lần cháu thấy có chú nào ấy gọi mẹ cháu là cave. Cô cũng là cave, cháu tưởng cô ở cùng mẹ cháu.

- Bây giờ cháu ở đâu?

- Ở với dì, cháu nhặt vỏ chai giúp dì. Bà già mất rồi.

Chị như bị điện giật. Ngỡ lâu nay chỉ mình chị lặng lẽ đi bên lề những nỗi buồn thường trực. Chị không biết giải thích sao cho Lavie hiểu về nghề “cave”. Chị bảo với Lavie rằng, không có người đàn bà nào tên là Cải làm nghề cave ở đây cả. Chỉ có thế. Lavie khóc. Nó bảo mẹ nó hứa sẽ không bao giờ bỏ nó. Mẹ nó muốn nuôi nó lớn lên thành người, có công ăn việc làm, có tấm chồng tử tế. Mẹ còn bảo sẽ cho nó đi học như các bạn khác, như những đứa trẻ nó vẫn thấy. Như hôm qua thôi, nó đi nhặt vỏ chai qua một trường học, nhìn thấy một cô đi đón một bạn nhỏ, đưa cho bạn hộp sữa và một cái bánh rõ ngon. Nó thèm quá, và nhớ mẹ cồn cào. Nó không hiểu sao mẹ lại bỏ nó. Mẹ đi đâu?

Lavie ở lại với chị một ngày rồi xin về nhà. Chị không có cách nào khác là đồng ý…

*

Được ba tháng, con Yến thông báo chị phải đi làm ngay nếu không muốn mất chỗ. Một đứa lạ hoắc từ đâu xuất hiện, già rồi nhưng cực kỳ bốc lửa. Chị tất tưởi gửi con rồi đến quán cà phê. Bà chủ đón chị với vẻ thờ ơ:

- Em thông cảm cho chị. Em đang có con nhỏ làm sao làm nổi nghề.

- Không, em làm được. Nếu cần em sẽ cai sữa. Chị không cho em đi làm em biết trông cậy vào đâu.

- Thế “sếp” của em đâu, cái ông kỹ sư lịch lãm ấy?

- Chị biết rồi còn gì, em bị lừa, chị ơi em bị lừa.

Chị bật khóc. Bà chủ quán vẫn đủng đỉnh. Không phải bao giờ người ta cũng dễ dàng đứng về “phe nước mắt”.

- Chị cũng muốn thương em, nhưng sức chị cũng có hạn.

Chị gạt nước mắt vòng quanh, thất thểu rời quán. Con Yến chạy theo thì thào:

- Mẹ kiếp, vắt chanh rồi vứt vỏ. Mày thuê mấy thằng xử lý luôn cái con bé nhà quê ấy đi! Khốn nạn hết chỗ nói.

- Nó là con nào?

- Con Cải. Đến đây bà chủ cho đổi tên là Ngọc.

Chị giật mình:

- Trước kia nó đứng đường đúng không?

- Phải, sao mày biết? Nó vừa ở trại về đấy.

Chị xuống giọng:

- Thôi, không nói nữa. Tao muốn gặp nó. Nhanh lên!

*

Chị đã kể cho người đàn bà tên Cải ấy nghe về chuyện của bé con Lavie rồi sau đó cả hai cùng đến khu nhà ổ chuột. Bà già bán quán mất, người đàn bà tên Cải đang không biết tìm con nơi đâu. Cả hai tìm đến khu nhà mà lần trước Lavie đã kể cho chị nghe. Đón chị và Cải là một người đàn ông gầy gò, trắng bệch với những móng tay dài, cáu bẩn cùng cái xích bạc to đeo trên cổ. Hắn hất hàm:

- Hỏi ai? Con Lavie á? - À con Na ấy gì? Biến rồi…

Cải đâm bổ vào gã đàn ông:

- Đi đâu, nói đi?

- Chậc, ai mà biết được. Nó mà về đây tao oánh cho tan xác, dám bênh con vợ đểu của tao à. Một lũ mất dạy, cơm không ăn lại muốn ăn đất…

Người đàn ông cứ thế chửi. Cải gục mặt xuống gối như người mất hồn. Còn chị thấy nhói đau nơi tim. Lavie ơi… Giờ này Lavie ở đâu?…
Đăng nhập để trả lời
0
Tiền lời
Tác giả: Hoàng Quả Tâm (Trung Quốc)
Người dịch: Trà Ly



Một năm trôi qua, thím Phát nhớ chuyện Thế Hồng mượn tiền hứa trả lãi đúng vào mùa xuân này. Nhưng rồi mùa xuân qua đi, mùa hạ cũng qua luôn, vẫn không thấy ông ta; rồi mùa thu cũng không thấy tăm hơi đâu cả! Cho đến mùa đông, thím Phát giận lắm vì thấy mình bị lừa và quyết định đến nhà ông ta xem sự thể ra sao.


Nhà họ Chu ở thị trấn, người chồng tên là Chu Trần Phát, còn vợ được mọi người gọi là thím Phát. Mùa đông năm năm trước Chu Trần Phát bị bệnh hen qua đời để lại người vợ hơn ba mươi năm chung sống và đứa con gái Nguyệt Vinh. Thím Phát đau khổ khóc than thảm thiết, sau đó cùng con gái làm lụng nuôi nhau. Khi Nguyệt Vinh lớn lên, cô nhận thầu một cửa hàng ăn uống, sau năm năm dành dụm được gần một vạn tệ. Từ bàn tay trắng, hai mẹ con ngày nay đã có của ăn của để.

Một hôm thím Phát đang dọn hàng, nghe có tiếng xe dừng lại trước nhà. Từ trên xe, một người đàn ông béo lùn bước xuống khiến thím hết sức ngạc nhiên.

Đó là người anh họ bên nhà chồng tên là Chu Thế Hồng đang là Phó huyện trưởng. Vì năm Chu Trần Phát mất, nhà rất cần tiền, thím Phát đã đến nhà Chu Thế Hồng hỏi mượn tạm, ông ta bảo không có, dứt khoát không cho mượn. Từ đó, hai nhà không đi lại với nhau nữa. Hôm nay, ngọn gió nào đưa Thế Hồng đến đây?

Thế Hồng đã bước vào nhà tươi cười chào hỏi: “Thím khỏe chứ?”. Thím Phát lặng lẽ mời Thế Hồng ngồi. Vì chưa hiểu ý tứ của Thế Hồng ra sao nên thím im lặng.

Chu Thế Hồng hỏi thăm gia cảnh, khen tòa nhà mới xây, vòng vo một lát rồi chuyển chủ đề: “Thím Phát này, nghe nói thím buôn bán phát đạt lắm phải không?”.

Nghe thế thím Phát chợt thấy rất giận, nói kháy:

- Cảm ơn anh! Cũng không đến nỗi nào! Nhớ cái đận cha Nguyệt Vinh mất, một đồng cũng không có, chẳng biết vay mượn ai, đành phải dắt con đi làm thuê kiếm sống!

Chu Thế Hồng có phần lúng túng “ờ” lên một tiếng, nói:

- Mọi chuyện dù sao cũng đã qua rồi. Thực ra hồi đó tôi không cho thím mượn tiền cũng là chuyện bất đắc dĩ, tôi áy náy lắm chứ! Nay thì thím khá giả rồi. Nói thím đừng cười, chứ hiện giờ tôi túng bấn quá, hôm nay đến mượn tiền thím đây.

Cái gì? Thím Phát dường như không tin vào tai mình. Mượn tiền ư? Một Phó huyện trưởng đương chức như Chu Thế Hồng lại phải mượn tiền thím sao? Chu Thế Hồng nhận ra vẻ nghi ngờ của thím Phát liền giải thích ra vẻ khá thành thật. Ông ta nói, mặc dù đang là Phó huyện trưởng thật nhưng chỉ là danh vị thế thôi, chứ thực ra thu nhập chẳng đáng là bao; bà vợ gần đây lại đau ốm luôn, tháng nào cũng phải chích kim, uống thuốc, rồi khách khứa ở quê ra… túng bấn lắm. Ông giơ hai ngón tay làm hiệu, hỏi mượn hai vạn tệ.

Thím Phát giật mình khi nghe Thế Hồng hỏi mượn số tiền đó. Chưa nói gì đến chuyện thím không thể có số tiền lớn như vậy, mà giả dụ có đi nữa, thím cũng không cho ông ta mượn. Loại người như thế, thím không muốn quan hệ gì nữa. Thím lạnh lùng nói:

- Anh muốn mượn tiền, em thấy anh nhầm cửa rồi! Anh cũng biết là mẹ con em chỉ buôn bán lặt vặt kiếm sống qua ngày lấy đâu ra số tiền lớn như vậy?

Chu Thế Hồng nhìn ra cửa, nháy mắt ra hiệu cho lái xe, hạ giọng:

- Thím Phát à, tôi mượn tiền không giống như người khác đâu. Tôi không cần thím đưa tiền, chỉ cần thím cho mượn con số trên danh nghĩa thôi, một năm sau, tôi sẽ trả lãi cho thím cao hơn cả lãi suất tiết kiệm của ngân hàng nữa kia.

Thím Phát cho là chuyện lạ. Trên đời này làm gì có chuyện mượn tiền mà không lấy tiền, lại còn trả lãi cao? Thím cho là Chu Thế Hồng muốn thử mình, nhưng Chu thì rất thành thực: “Nói chắc nhé, một năm sau thím sẽ được trả lãi 1.600 tệ”. Nói xong, ông ta rút từ túi áo ra một tờ giấy đưa cho thím Phát. Tờ giấy viết: “Mượn của vợ Chu Trần Phát hai vạn tệ, viết giấy này làm bằng”, bên dưới ký tên Chu Thế Hồng.

Thím Phát đâm ra nghi ngờ, nhìn Thế Hồng hỏi:

- Anh nói, anh đang túng quẫn cần tiền tiêu, vì sao lại chỉ mượn mấy con số trên danh nghĩa thế này? Vậy, anh lấy tiền đâu chữa bệnh cho chị dâu?

Chu Thế Hồng ra vẻ bí mật, nói:

- Chuyện đó thím không phải lo. Chuyện hôm nay chỉ có trời, đất, thím và tôi biết! Sau này có ai hỏi, thím chỉ cần nói là thím đã cho tôi mượn hai vạn tệ là được! Đương nhiên, do tôi không lấy tiền của thím nên khi đến hạn tôi không phải trả gốc mà chỉ trả lãi thôi!

Tối hôm đó Nguyệt Vinh từ huyện về, thím Phát định đưa tờ biên lai mượn tiền và nói cho con gái biết chuyện, song lại thôi. Thím nghĩ bụng, vội gì, đợi đến lúc cầm được đồng tiền lời hẵng nói, chắc Nguyệt Vinh ngạc nhiên lắm đây

Một năm trôi qua, thím Phát nhớ chuyện Thế Hồng mượn tiền hứa trả lãi đúng vào mùa xuân này. Nhưng rồi mùa xuân qua đi, Chu Thế Hồng không đến; mùa hạ cũng qua luôn, vẫn không thấy ông ta; rồi mùa thu cũng không thấy tăm hơi đâu cả! Cho đến mùa đông, thím Phát giận lắm vì thấy mình bị lừa! Chẳng lẽ tờ biên nhận này không có giá trị gì sao? Thím nhớ lại thói lạnh lùng không tình không nghĩa của họ Chu dạo thím đến mượn tiền ông ta, nên quyết định nhân chuyến đi lấy hàng sẽ đến nhà Chu Thế Hồng đòi cho bõ ghét!

Đang lúc ông Chu ở nhà, thím Phát nói toẹt ý định của mình, không ngờ Chu Thế Hồng ngơ nhác nhìn thím, hỏi: “Tôi mượn tiền của thím ư?”. Thím Phát liền nhắc lại: “Thì anh mượn của em hồi mùa xuân năm ngoái, anh còn viết cả biên lai đây này, anh xem đi!”. Nói xong thím đưa tờ biên lai cho ông Chu. Chu Thế Hồng vỗ vào trán, nói: “À, tôi nhớ ra rồi, đúng là có chuyện đó thật. Hồi đó tôi gặp chuyện rắc rối, không thể không viết cho thím tờ giấy ấy được. Nhưng tôi không lấy tiền của thím phải không nào?”. “Đúng vậy. Thì chính anh bảo chỉ cần danh nghĩa thôi mà!”. Thím đã giúp tôi qua cơn hoạn nạn, tôi nói lời cảm ơn thím là được chứ gì? Thím cũng coi như người trong nhà, tôi nói thật, hiện nay tôi cũng không dư dả gì”. Nói xong, Chu Thế Hồng rút trong ví ra tờ bạc 10 đồng đưa cho thím Phát: thím cầm lấy mua vé xe mà về!

Thím Phát không nhận:

- Chúng ta đã có giao hẹn hẳn hoi, em không cần số tiền này!

- Thế thì bao nhiêu?

- Anh đã chẳng nói rồi sao, 1.600 tệ.

Chu Thế Hồng cười ha ha:

- Thím ơi, thím nằm mơ chắc? Tôi không mượn tiền của thím, lại có thể trả cho thím 1.600 tệ sao? - Ông Chu xem đồng hồ tay, nói: “10 giờ rồi, tôi phải đi họp đây”.

Thím Phát còn định nói gì nữa nhưng ông Chu đã đứng lên tiễn khách.

Về đến nhà, thím Phát tức lắm. Càng nghĩ càng bực, bực đến phát ốm. Hôm đó Nguyệt Vinh lại về thăm mẹ. Không chờ con kịp ngồi, thím Phát kể ngay mọi chuyện. Nghe xong Nguyệt Vinh kêu lên: “Mẹ ơi, ông bác họ này đang là Phó huyện trưởng, xưa nay ông ta không cho ai đồng xu cắc bạc nào bao giờ, cũng không hề nhận ai là bà con thân thích, bỗng dưng lại bảo trả khống cho mẹ những 1.600 tệ tiền lãi, chắc chắn là có vấn đề rồi! Được, con sẽ làm rõ mọi chuyện xem sao. Con sẽ buộc ông ta phải mang tiền lời đến trả cho nhà mình mới được!”. Đoạn, cô thầm thì vào tai mẹ một hồi. Thoạt nghe thím Phát rất lo lắng, nhưng rồi thím lại tươi cười, gí ngón tay trỏ vào trán con gái: “Lẽ ra mày phải là một thằng con trai mới phải!”.

Và, thím Phát hồi hộp chờ đợi. Quả nhiên, một tháng sau Chu Thế Hồng đi ôtô đến, vừa bước vào nhà đã thấy ngay một cỗ quan tài, trên nắp khói hương nghi ngút. Chu Thế Hồng lặng người. Mãi sau mới lắp bắp: “Chết tôi rồi! Chết tôi rồi!” và toàn thân run lên. Ông ta sụp xuống trước quan tài vừa đưa chiếc túi da lên vừa nói: “Thím Phát! Thím thấy không, tôi mang tiền đến trả thím đây. Thím không nên chết, càng không nên chết vào lúc này!”. Ông ta tuyệt vọng cào cấu vào cỗ áo quan một hồi rồi ngửa mặt cười như kẻ phát rồ. Cười chán, Chu Thế Hồng lảm nhảm kể: “Thím Phát, thím hại chết tôi rồi! Thím không biết đấy thôi, chứ tôi đâu cần tiền của thím, chẳng qua là tôi trót lấy tiền công quỹ xây nhà mới, cấp trên nghi ngờ về nguồn tài chính bất minh, buộc tôi phải khai báo số tiền xây nhà lấy ở đâu ra. Bất đắc dĩ, tôi phải khai hầu hết là tiền đi mượn…”.

Sau đó, Chu Thế Hồng nói là thành phố cử một tổ cán bộ điều tra, thẩm vấn việc này buộc ông khai báo ai là người cho mượn, phải có tên họ hẳn hoi. Ông ta bèn ghi tên hàng loạt những người quen biết, kẻ “cho mượn” một vạn, người “cho mượn” mấy ngàn. Cuối cùng vẫn còn hai vạn không có người “cho mượn”, nghĩ đi nghĩ lại, chợt nhớ tới thím Phát, vì vậy mới có tờ biên lai mượn khống đó. Mới đây thành phố lại cử một đoàn công tác về phúc tra chuyện cũ do có người tố giác. Vì vậy hôm nay ông phải mang tiền đến trả cho thím Phát để thím làm chứng cho rằng ông có mượn của thím hai vạn tệ, vậy mà…

Chu Thế Hồng vừa kể vừa lay lay cỗ quan tài, chợt ông ta nhận thấy nắp quan tài động đậy thật! Mặt ông Chu tái mét, kinh hoàng! Ngay lúc đó nắp quan tài bật tung rơi đánh rầm xuống đất. Từ trong quan tài một người đứng dậy, bước ra tiến đến trước Chu Thế Hồng. Chu Thế Hồng kêu ré lên: “Ma quỷ! Ma quỷ! Cứu tôi với!”. Người này nói: “Phó huyện trưởng Chu, tôi không phải là ma quỷ, ông hãy nhìn lại xem tôi là ai nào?”. Nghe tiếng nói rất quen, Chu Thế Hồng định thần nhìn lại, trước mắt ông ta là một thanh niên 27, 28 tuổi mặc áo sơmi trắng, quần dài xám, tay cầm chiếc máy ghi âm, nhìn thẳng vào Chu Thế Hồng. Trời ơi, đây chẳng phải là Tiểu Giang, người đã được Ủy ban Kiểm tra Thành ủy phái về phúc tra việc xây dựng nhà mới của ông ư?

Tiểu Giang điềm tĩnh nói: “Phó huyện trưởng Chu, chúng tôi đã mất nhiều thời gian và công sức kiểm tra nguồn gốc tài chính của tòa nhà; không ngờ hôm nay, nhờ sự phối hợp khá tốt của ông, những điều ông bộc bạch trước quan tài, tôi đã ghi âm lại tất cả. Xin cảm ơn ông!”. Nghe những lời này, mặt Chu Thế Hồng không còn một giọt máu, mồ hôi trán vã ra như tắm.

Vừa lúc đó, từ phòng trong thím Phát và Nguyệt Vinh bước ra.

- Kìa thím Phát, thím… - Chu Thế Hồng thốt lên rồi đột nhiên im bặt.

- Tôi đâu đã chết! Chuyện này chỉ để cho anh một bài học thôi mà…

Kế hoạch của Nguyệt Vinh và Tiểu Giang không ngờ lại có kết quả đến như vậy?

Thì ra, hôm đó, sau khi thím Phát kể chuyện cho Nguyệt Vinh nghe, cô đoán là bên trong dứt khoát có chuyện khuất tất liền viết thư cho người yêu là Tiểu Giang đang công tác ở Ủy ban Kiểm tra Thành ủy, hai người cùng với thím Phát vạch kế hoạch, quả nhiên Chu Thế Hồng sa bẫy. Ông ta chỉ còn biết lặng lẽ cúi đầu…

Đăng nhập để trả lời
0
Mối tình câm
Vũ Bão



Tay Sông Tương này tên thật là gì, Tương không hề biết. Sự thật, anh ta là Trưởng ban văn nghệ của tờ tạp chí Văn nghệ của tỉnh nên mỗi số anh ta nhất định xí phần một suất. Một năm trời, Tương phải nghiến răng chi hai mươi tư suất đặc sản để thuê cái tiếng tác giả truyện ngắn. Thật oan gia.

Tên theo giấy khai sinh của cậu ta là Tưởng, Nguyễn Văn Tưởng. Biết chuyện đó, con cháu nhà họ Lê kéo nhau đến đầu ngõ réo tên ông tam đại nhà cậu ta mà chửi vì bố mẹ cậu ta dám lấy tên ông tam đại nhà họ Lê ra đặt tên con trai mình. Bố mẹ cậu ta phải đổi tên con là Tường. Mấy ngày sau, ông trưởng tộc đến khẽ rỉ tai: “Tường là tên cụ ngũ đại dòng họ Nguyễn Văn nhà ta đấy”. Thế là bố mẹ cậu ta đành đổi tên con là Tương.

Đầu tiên Tương cũng hậm hực với cái tên Tương ấy nhưng khi lớn lên nghe bà hàng xóm ru cháu: “Gánh vàng đi đổ sông Ngô/ Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Tương”, cậu ta tự dưng thấy Tương có giá, được đi vào kho tàng văn hóa dân gian.

Hồi ấy báo ngành yêu cầu mỗi đơn vị trong Bộ cử một người vào mạng lưới cộng tác viên của báo nhằm kịp thời đưa thành tích sản xuất kinh doanh của đơn vị lên báo. Công ty cử Tương ra làm cộng tác viên của báo. Từ đấy cả Bộ lần lượt biết tin “Công ty Thái Dương hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất - kinh doanh của Bộ giao”, “Công ty Thái Dương phát động chiến dịch Thi đua nước rút mừng Đảng, mừng Xuân”, “Công ty Thái Dương làm nhà tình nghĩa”… của Sông Tương. Cả đến tin “Công ty Thái Dương nuôi dưỡng trọn đời một Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, người viết bài chỉ ký tắt là S.T.

Dần dần, Sông Tương viết bài “Phụ nữ Công ty Thái Dương với phong trào sinh đẻ có kế hoạch”, rồi đến bài “Công đoàn Công ty Thái Dương 4 năm liền đạt danh hiệu Công đoàn bốn tốt” trên báo Công nhân thủ đô đều ký dưới bài hai chữ S.T. Cả công ty cứ ngỡ ngàng hỏi nhau cái tay S.T ở đâu mà Công ty có chuyện gì tay ấy cũng biết, cứ như ma xó ấy. Thanh, cô đánh máy tính ở Văn phòng Công ty nói ngay: “S.T là Sông Tương, tức là anh Tương ở bên Kế hoạch”. Một người “phì” một tiếng rồi nói tiếp: “Sông Tương là tên một nhà thơ trên nhà đài”. Thanh vội khoát tay ra trước mặt: “Anh ấy viết cái gì đều nhờ mình đánh máy tính, mình biết hết”.

Được cái Tương cũng là người biết điều. Mỗi lần đi lĩnh nhuận bút về, thế nào Tương cũng mua món quà nhỏ cho Thanh. Lắm lúc Thanh phát bực mình phải kêu lên: “Thế ra em đánh vi tính thuê cho anh đấy à?”. Tương lắc đầu: “Lộc bất tận hưởng. Nhận đi cho anh được may mắn. Em cứ làm khó khăn thế thì lần sau anh không dám làm phiền em nữa đâu”. Thanh cười: “Em chỉ thích được anh làm phiền nhưng không thích nhận quà cáp”.

Tuy Công ty đã đặt mua khá nhiều báo nhưng giám đốc đi họp thấy ai bàn đến bài báo “có gai, có ngạnh” ở tờ báo nào, ông lại sai nhân viên văn phòng đi mua bằng được. Đầu tiên anh chị em trong Công ty cũng chỉ đoán già đoán non rằng ông chịu khó đi tăm tin trên báo chỉ để thăm dò những “đồng chí chưa bị lộ” của ông đã có ông nào bị sờ gáy, nhưng dần dần anh chị em mới hiểu bà giám đốc có cái tật thích nghe đọc báo nên ông phải chọn những chuyện lạ đó đây đọc cho bà.

Trong mớ báo ấy, Thanh thoáng thấy “Mối tình câm” - truyện ngắn của Sông Tương. Thanh đứng ngay ở quầy báo đọc một hơi. Sao truyện ấy giống như mình với anh Tương thật: Hai người ở cạnh nhà nhau, mỗi lần ra ra vào vào gặp nhau. Cô nàng trông đôi môi anh chàng như mấp máy định nói điều gì. Cô nàng vẫn kiên tâm nhìn thẳng vào mắt anh chàng như muốn thúc giục: “Anh cứ nói đi”. Anh cứ im lặng bước qua. Có lần cô nàng định nói nhưng không tài nào thốt lên lời. Mối tình câm ấy đang chờ đợi một lời tỏ tình của bất cứ bên nào. Càng đọc Thanh càng thấy câu chuyện ấy đang vận vào chính cuộc đời mình. Anh ấy không dám nói lên lời đành nhờ trang viết nói hộ. Thảo nào lâu nay viết được cái truyện nào anh ấy đã nhờ người khác đánh máy tính cho đỡ lộ những tâm sự thầm kín của mình.

Thanh giấu kín tờ báo in “Mối tình câm” vào ngăn kéo, chờ đến lúc Tương đi qua phòng máy tính, Thanh mới gọi: “Ai đánh rơi tờ báo thì vào mà nhận này”. Tương quay lại thật. Thanh giơ trang in cái truyện ngắn cho Tương nhìn thấy: “Truyện của mình mà dám cố tình quên à?”. Tương trố mắt nhìn vào dòng chữ “Truyện ngắn của Sông Tương”, bèn “ô” một tiếng rồi mới nói: “Thế à?”. Thanh giúi tờ báo vào tay Tương: “Lần này anh có cái lộc to, anh phải khao đấy nhé”. Đang cơn hăng máu vịt, Tương vỗ ngay vào chiếc ví da cất ở túi sau: “Có ngay! Tan tầm mời em đi luôn nhé”. Thanh ngần ngừ mãi rồi mới nói: “Em còn con bạn nữa, đi cả hai cho vui”. Tương cũng nói luôn: “Thì cả bốn cũng được chứ sao”.

Thế là vừa hết giờ làm việc, Tương đưa Thanh và cô bạn ra cửa hàng đặc sản gọi ba vại bia, một lẩu cá bông lau, rồi quay nói với hai cô: “Em nào thích món gì cứ gọi tiếp”. Thanh xua tay: “Thôi, thế này đã gần hết cái truyện ngắn của anh rồi còn gì”. Tương xua tay: “Có ai viết văn để làm giàu bao giờ. Vui là chính! Gọi đi em!”.

Buổi ra mắt ấy, Tương phải nghiến răng rút ví lấy một tờ nâu, để rồi lấy cái sĩ: Ta đây là tác giả truyện ngắn “Mối tình câm”. Thời buổi nào ăn chơi mà chẳng tốn kém!

Tay Sông Tương này tên thật là gì, Tương không hề biết. Sự thật, anh ta là trưởng ban văn nghệ của tờ tạp chí Văn nghệ của tỉnh nên mỗi số anh ta nhất định xí phần một suất. Trên bìa cuốn tạp chí số này có dòng chữ in đậm: “Tình mơ” của Sông Tương. Thanh lại chờ Tương đi qua phòng máy tính mới gọi: “Anh Sông Tương, truyện ngắn “Tình mơ” in rồi anh không biết à?”. Tương quay lại ngơ ngơ ngác ngác: “In khi nào, hả em?”. Thanh giơ tờ tạp chí lên: “Tình mơ” - truyện ngắn của Sông Tương đây. Em mua tặng anh đấy”. Tương cầm tờ báo, tay nóng bỏng như đang nắm lấy hòn gạch vừa hong trên bếp than hồng. Thanh liền hỏi: “Lần này hai chúng em chỉ xin anh một trang thôi”. Tương sướng tê cả người, chỉ có hơn một trang mà mình đã đưa được hai người đẹp ra quán đặc sản. Tương gật đầu: “Xin mời”.

Lần này, Thanh gọi một con chép cân rưỡi với một đĩa bò xào. Tương mời cô bạn gọi. Cô bạn còn thương Tương được in một truyện ngắn ở tạp chí Văn nghệ của tỉnh mà con Thanh đã hét như thế thì nhuận bút nay còn đâu. Được thể, Tương càng lên nước vung tay ra phía trước: “Vui là chính, có ai làm giàu bằng viết văn đâu. Cứ xả láng đi!”.

Tháng sau, Tương đi qua phòng máy tính, chợt nghe tiếng Thanh gọi. Lần này thì giật mình thật sự. Lại cái thằng Sông Tương khỉ gió kia lại in thêm cái truyện ngắn nữa rồi. Thanh chạy lại dúi cái tờ Văn của Trung ương vào tay Tương. Anh ta vừa nhìn dòng chữ: “Tình mơ” - truyện ngắn của Sông Tương, tay đã nóng bỏng như cầm phải cục than hồng, nhưng vẫn gượng cười: “Cảm ơn em”. Thanh cười: “Anh cho hai chúng em xin một cột báo nhé”. Tương vội hỏi: “Sao khiêm tốn thế?”. Thanh vẫn cười: “Báo trung ương chỉ một cột thôi, chúng em đã ăn toái loái”. Tương gượng cười: “Chẳng ai đi viết văn mà làm giàu được. Ta cứ xả láng”. Miệng nói thế nhưng Tương oán cái thằng Sông Tương kia vô cùng. Có mỗi cái truyện ngắn nó "luộc" đi, "luộc" lại, chỉ khổ cái thân mình. Chẳng nhẽ không ra đặc sản lại mang tiếng là thằng ki bo. Thế là Tương cứ phải è cổ ra đóng tiền thuế thuê tên.

Cái tay Sông Tương đã thấm nhuần phương châm “thâm canh, tăng vụ” của các nhà quản lý nông nghiệp. Mỗi tháng, hắn viết một truyện ngắn, ăn một chầu ở tạp chí Văn nghệ của tỉnh chưa đủ, hắn còn thâm canh trên các báo văn nghệ trung ương. Nó đi bước nào cứ làm Tương phải gằn chân chạy theo ra cửa hàng đặc sản đến đấy. Một năm trời, Tương phải nghiến răng chi hai mươi tư suất đặc sản tôm, cua, ốc, ếch, lươn, ba ba, dê tái, bê thui để thuê cái tiếng tác giả truyện ngắn. Có người vỗ vai Tương khen: “Cậu thành nhà văn đến nơi rồi”. Tương chỉ thở dài: “Người ta thì nhà mái bằng, còn tôi chỉ là cái lều vịt”.

Sang năm mới tự dưng trên báo Văn nghệ của tỉnh vắng bóng truyện ngắn của Sông Tương. Chắc tay này đã chuyển công tác. Tương thấy nhẹ cả người. Tương không phải è cổ trả tiền khao ở các nhà hàng đặc sản.

Gần cuối tháng, tự dưng Thanh cầm cuốn sách đến tận nhà đưa cho Tương: “Anh ơi, truyện của anh in trên các báo, nhà xuất bản dồn lại thành cuốn sách đây này”. Tương đưa mắt nhìn bìa sách: “Sông Tương - Mối tình câm - tập truyện ngắn”.

Tình cảnh này, không biết Tương nên khóc hay nên cười?


Đăng nhập để trả lời
0