Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Những gương mặt nữ trong văn học Việt Nam hôm nay

22 trả lời, 1.143 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-08 20:03:57Ngọc Lý>
.


Trải qua trên nửa thế kỷ,
bao dâu bể sương gió,
có lẽ phụ nữ Việt là vai trò
chịu nhiều thử thách nhất.

Sức sống của người phụ nữ Việt
hôm nay tỏa ngát qua thơ văn,
phả hồn vào con chữ.

Tôi vẫn nghĩ
"thật diệu kỳ"
khi qua các con chữ
chúng ta có thể nhìn thấy
lấp lánh giọt nước mắt
nuốt vào trong
hay những ngước mặt
lạnh lùng tô son đi tới
của người đàn bà Việt.

"Thật diệu kỳ"
khi ngày hôm nay nở ra
bát ngát các đóa hoa
vượt khỏi sự chịu đựng nén xuống
mà hương sắc bung lên
ngổ ngáo nồng nàn
khiến người thưởng thức phải
sửng sốt.

Ngày tám tháng ba
cuối mùa Đông và bước vào Xuân
mời các bạn cùng tôi
gom vào đây các đóa hoa
trên cánh đồng văn học Việt.

Hôm qua, tôi có ngỏ ý
mời Zhang, quản trị viên mục
Bình Luận Văn Học, viết cho
một bài tổng quan, nhưng Zhang
quá bận, hẹn tuần tới.

Trong khi chờ đợi,
mời các bạn cùng tôi làm công việc
bắt đầu góp hoa vào vườn.

Hy vọng chúng ta sẽ gặp nhiều
ngạc nhiên hứng thú.
[/color]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-06 04:51:08Ngọc Lý>
.
.
xin bấm vào tên tác giả
để đọc thêm






Chim Hải[/color]





Đỗ Hoàng Diệu



Lê Thị Huệ






Miêng




.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-08 12:21:22conbo2>


Lê Minh Khuê




Trần Thuỳ Mai




Võ Thị Hảo




Nguyễn Thị Thu Huệ




Nguyễn Thị Châu Giang
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-08 20:07:18Ngọc Lý>
.

Cám ơn Conbo2 đã góp thêm hoa vào đây.
Ngọc Lý xin thêm vào hyperlinks đến tác giả.

Lê Minh Khuê

Trần Thùy Mai

Võ Thị Hảo

Nguyễn Thị Châu Giang

.
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn các bác đã cho nhìn mặt các cây bút nữ của chúng ta. Em "mê" luôn cả văn lẫn người hai cô Trần Thuỳ Mai với Nguyễn Thị Thu Huệ, thích văn của bạn Nguyễn Ngọc Tư...Còn lại mấy vị kia cũng...thích vừa vừa vậy. Riêng cái cô Linh gì đó thì thơ của cô ấy em không hợp gu !
Tâm An
---------------------------------
Sau lưng đất trắng rẻo đồng
Đoạn đường ngắn ngủi đi không tới mình
( Bến Giang Đình - thơ Ngân Vịnh)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-09 18:44:59Ngọc Lý>
Chào Tâm An,

Mừng Tâm An ghé chơi và "điểm hoa" [:)]

Có hoa làm tâm mình an vui, có hương làm mình thấy thanh thoát, có những màu sắc nồng nàn làm tim mình dấy động, và... "bất an"... [:D]

Tôi cũng rất thích văn Trần Thùy Mai và Nguyễn Ngọc Tư, Lynh Bacardi thì ngổ ngáo và như còn đang cố tạo cho mình một nét mới, "xạ hương" nổi trên các hương hoa nhu mì khác, nhiêu khi làm người thưởng thức phải "dị ứng", "đỏ mặt", và "hắt xì"... [:D] [:D]

Các bạn nhớ bấm chuột vào tên tác giả để đọc về tác giả nhé. Nếu các bạn có ý tưởng hay cảm xúc gì về riêng một tác giả nào, xin viết vào đây. Đó là điều mà Ngọc Lý mong đợi. Đóa hoa chẳng thể hiện hữu nếu không có bạn tri âm... [;)]

Từ từ, Ngọc Lý sẽ mang thêm hoa vào đây. Mong các bạn góp sức.

Kính mời,

[;)]

Ngọc Lý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-19 23:53:49Ngọc Lý>
.
xin bấm vào tên tác giả
để đọc thêm



Nguyễn thị Long An






















Nguyễn Thị Ngọc Nhung
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: Ngọc Lý

Chào Tâm An,

Mừng Tâm An ghé chơi và "điểm hoa" [:)]

Có hoa làm tâm mình an vui, có hương làm mình thấy thanh thoát, có những màu sắc nồng nàn làm tim mình dấy động, và... "bất an"... [:D]

Tôi cũng rất thích văn Trần Thùy Mai và Nguyễn Ngọc Tư, Lynh Bacardi thì ngổ ngáo và như còn đang cố tạo cho mình một nét mới, "xạ hương" nổi trên các hương hoa nhu mì khác, nhiêu khi làm người thưởng thức phải "dị ứng", "đỏ mặt", và "hắt xì"... [:D] [:D]

Các bạn nhớ bấm chuột vào tên tác giả để đọc về tác giả nhé. Nếu các bạn có ý tưởng hay cảm xúc gì về riêng một tác giả nào, xin viết vào đây. Đó là điều mà Ngọc Lý mong đợi. Đóa hoa chẳng thể hiện hữu nếu không có bạn tri âm... [;)]

Từ từ, Ngọc Lý sẽ mang thêm hoa vào đây. Mong các bạn góp sức.

Kính mời,

[;)]

Ngọc Lý


Gớm , kính bác, bác mời là em...vào luôn ! Nhưng hôm nay mới đọc được cái bài PV cô Trần Thuỳ Mai và cô Lê Minh Khuê thôi ! Rất ấn tượng với những suy nghĩ và phát ngôn của cô Trần Thuỳ Mai! Thôi, em đang bận, ý kiến tí vậy, lúc khác em lại...ý kiến tiếp! Mong bác đừng bất an để còn đủ tâm trí mang vác về cho chúng em đọc !
Tâm An
---------------------------------
Sau lưng đất trắng rẻo đồng
Đoạn đường ngắn ngủi đi không tới mình
( Bến Giang Đình - thơ Ngân Vịnh)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-15 05:06:14Ngọc Lý>
.

Trích đoạn: Tâm An
Mong bác đừng bất an để còn đủ tâm trí mang vác về cho chúng em đọc !


Người đẹp, văn hay, thơ tình tứ...
thì làm sao "vác"... về đây, bác "Tâm An"?

Hôm nay tại đây trời vào Xuân rồi, đi "rước bóng hồng" về cho bác "tri hương" nhe? [;)]

Bác chờ tí nhé....

Trong khi chờ đợi, kính mời quý vị cùng xem

Túy Hồng - Phụ Nữ và Văn Chương - Hoài Nam phỏng vấn


[;)]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-19 23:59:29Ngọc Lý>
.
.
xin bấm vào tên tác giả
để đọc thêm








Linh Bảo


Nguyễn Thị Thanh Bình






.

Đăng nhập để trả lời
0
Dạ Thảo Phương và quyền làm 'Câi Mù' trên sân thơ Lê Bảo
"Trong không gian thơ của mình, tôi có quyền đặt ra những nguyên tắc riêng, miễn là những nguyên tắc ấy không xâm phạm đến không gian chung. Bạn cũng có quyền đó như tôi. Và thích sử dụng quyền đó hay không cũng là quyền của mỗi người", nhà thơ nữ trẻ nói lên quan niệm của chị.


- Tại Ngày thơ Việt Nam, nhiều người khá sốc trước tuyên bố của chị là "thích thơ mình nhất". Dựa vào đâu mà chị quá tự tin như vậy?

- Tôi không bao giờ khẳng định "thích thơ mình nhất", mặc dù đã là người làm thơ, ai cũng ít nhiều thích những đứa con tinh thần của chính mình. Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Ngô Tự Lập, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Nguyễn Vĩnh Tiến... là một số trong những nhà thơ mà tôi trân trọng. Họ, dù có những phong cách và ở những mức độ khác nhau, đều đã hoặc đang tìm được cho mình một giọng thơ riêng, kiên trì khẳng định nó. Đó là điều rất quan trọng, thể hiện bản lĩnh người sáng tác. Nhiều nhà thơ khác cũng có những bài thơ gây ấn tượng mạnh với tôi, như Bế Kiến Quốc với bài Hoa huệ trắng viết từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước: "Hoa huệ trắng mà bức tường cũng trắng/ Sao bóng hoa trên tường lại đen/ Em nhìn đi đâu thế em...". Còn người có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý thức sáng tác của tôi là nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.


Đó là những gì tôi đã trao đổi với người dẫn chương trình Ngày thơ Việt Nam, nhưng không hiểu sao lên sân khấu nó lại khác hẳn đi như vậy.


- Nhưng "văn mình vợ người", nếu nói mình yêu thơ của chính mình thì điều đó cũng đâu có gì quá sai. Chị thấy sao?


- Câu đó không hợp với tôi. Với tôi, người đàn ông của tôi sẽ là người đàn ông có giá trị nhất (vì vậy mà tôi mới chọn). Còn văn mình hay văn người thì không quan trọng bằng văn ấy có đem đến cho tôi một rung động thẩm mỹ hay không. Tôi rất dị ứng với thái độ hễ thấy ai khác mình là phủ nhận sạch trơn. Anh có quyền nói anh thích hay không thích thơ người ta, nhưng đừng xưng xưng bảo thơ người này không phải là thơ, thơ người kia là "rởm", chỉ thơ mình mới là "xịn nhất quả đất". Ngay cả với thơ tôi, đương nhiên có những bài tôi rất yêu, nhưng có những bài vẫn được một số bạn đọc nhớ mà bản thân tôi lại không thích nữa. Tôi "tiết kiệm" sự xuất hiện đến mức nhiều người đã tưởng lầm tôi không còn làm thơ. Thực tế là tôi vẫn tiếp tục sáng tác. Những bài thơ tôi đăng trong một số tuyển tập thơ gần đây và mang đến Ngày thơ Việt Nam đều là những bài thơ mới.


- Cũng trong ngày Thơ, chị tuyên bố coi báo chí là một nghề phản thơ. Tại sao chị nói thế trong khi bản thân đang giữ vai trò biên tập, phóng viên tại một tờ báo có tiếng?


- Theo kinh nghiệm của riêng tôi, tác động của nghề báo với việc làm thơ có cả hai mặt - tệ và tốt. Tệ, nhất là với những người làm báo ở lĩnh vực văn hoá nghệ thuật như tôi, vì nghề này dễ tạo ảo tưởng là mình đang làm công việc rất gần với nghệ thuật. Ảo tưởng ấy rất có thể trở thành một sự đánh lạc hướng nhu cầu sáng tạo. Những bận rộn triền miên và luôn ở tình trạng "cấp cứu" của việc làm báo đã băm vụn thời gian, làm tâm trí dễ bị mất độ lắng. Nhưng cũng không thể phủ nhận những tác động tích cực của nghề báo với việc sáng tác, nhất là với người viết trẻ. Trước khi đi làm, cuộc sống của tôi rất khép kín, chỉ biết đến sách vở, gia đình và một vài người bạn. Tôi biết ơn quãng thời gian làm báo, chính nó đã cho tôi cơ hội gặp nhiều, thấy nhiều, học nhiều. Mặc dù trong quãng thời gian ấy tôi từng bị thất vọng, thậm chí tổn thương, nhưng tất cả buồn vui đã giúp tôi bản lĩnh hơn, bớt ảo tưởng hơn vào cuộc sống, vào nghệ thuật và chính bản thân mình.


Một lần nữa tôi rất tiếc là những điều này mình đã trao đổi với MC, thậm chí cẩn thận xem lại văn bản, nhưng không hiểu sao khi ra sân khấu nó lại thành những "tuyên ngôn" như vậy, làm nhiều người hiểu lầm. Việc này đã tạo áp lực tâm lý khá lớn với tôi những ngày sau đó.


- Và chị nghĩ đến việc thanh minh...


- Những gì tôi đang nói đây chỉ là bày tỏ quan điểm của mình chứ không phải thanh minh hoặc tỏ vẻ khiêm tốn. Với tôi, sự thật quan trọng hơn thái độ khiêm tốn. Tôi không sống vì dư luận, nhưng tôi khó chịu khi dư luận dựa trên những tuyên ngôn mà tôi không hề nói, làm phiền lòng những người thân của tôi.


- Với "Câi Mù" trong Ngày thơ Việt Nam, chị là nhân vật khá nổi bật. Vì sao chị lại có ý tưởng lạ này?


- Ngoài góc thơ với bài Họa sĩ mù được trình bày dưới dạng bản thảo chép trên nền giấy dầu xé dán, và một rổ táo ta (vừa để thưởng ngoạn, vừa để thưởng... vị), tôi góp vào Vườn thơ trẻ một "Cây ý tưởng". Cây ý tưởng của tôi tên là Câi Mù, đó cũng là tên bài thơ tôi viết trên bức trướng treo trên “thân cây” (là một chiếc câu liêm đỏ). Trên nền bức trướng là hai vệt dấu chân đỏ choe choét của một nam, một nữ. Tên bài thơ được viết trên một tấm biển kiểu biển tên phố, và dấu chấm hết của bài thơ là một phiên bản thu nhỏ của biển báo giao thông cấm vượt. Khi "trồng" Câi Mù, quả thật tôi không dám nghĩ nó lại được quan tâm đến thế. Hôm đó, giao lưu đầu tiên của tôi với bạn đọc lại là một cú suýt bị “đánh đòn”. Có một bác hỏi tôi tại sao lại viết là Câi Mù. Rồi không cần nghe tôi giải thích, bác chỉ vào mặt tôi: "Cháu không được phép làm như vậy! Cháu viết thế là viết bậy, làm quấy, là bóp méo tiếng Việt...".


Nhiều người xem hôm đó cũng thắc mắc với tôi về chữ Câi Mù. Nhiều người cho là tôi viết sai chính tả, thậm chí là xúc phạm tiếng Việt. Tôi đã có gần 10 năm làm nghề biên tập chữa lỗi chính tả. Trường hợp Câi Mù, tôi chủ định viết khác chính tả thông thường, một việc vốn không mới mẻ gì. Năm ngoái, nhà thơ Dương Tường đã xuất bản tập thơ dày đặc những bài thơ viết theo lối chính tả đó, nhiều bài đã viết cách đây hai, ba mươi năm. Viết như vậy có phải là sự xúc phạm tiếng Việt không?


Tôi xin lấy một ví dụ. Tại sao ra đường chúng ta phải đi giày dép? Khởi đầu, giày dép bảo vệ bàn chân, giúp con người đi nhanh, đi xa hơn. Ngày nay, giày dép còn nói lên hoàn cảnh, quan niệm sống của mỗi người. Khi ra đường, người phải mang giày dép vì điều đó nói lên rằng đó là người có văn hoá, biết tự trọng và tôn trọng mọi người xung quanh. Nhưng khi đến nhiều gia đình hoặc một số đền chùa, đôi khi người ta lại được yêu cầu bỏ dép bên ngoài vì ở những không gian ấy, người ta có một quan niệm khác về việc mang giày dép. Những quan niệm này, không có cái nào sai, cái nào đúng, chúng chỉ đơn giản là những quan niệm khác nhau, có lý và có quyền tồn tại trong hoàn cảnh của nó.


- Nhưng nếu vì cái nguyên tắc ấy mà mọi người không chấp nhận chị thì sao?


- Không sao cả. Nếu họ không chấp nhận được nguyên tắc trong không gian của tôi thì đừng bước vào, còn nếu đã bước vào thì đồng nghĩa với việc "nhập gia tuỳ tục". Khi công bố tác phẩm, cũng có nghĩa là tôi mở cửa chào đón mọi người đến với không gian thơ của tôi. Đón nhận hay từ chối lời mời đó là quyền của khách. Nhưng trên thực tế, những quan niệm của tôi đã được nhiều người nghe khi đó chia sẻ. Thậm chí vào cuối buổi, khi các cây thơ khác đã được dỡ đi thì Câi Mù vẫn chưa thể mang đi được vì còn nhiều người đứng vây xung quanh, tiếp tục "quay" tôi với những câu hỏi khác về thơ, về cuộc sống...


Đăng nhập để trả lời
0
Nguyễn Ngọc Tư: 'Đằng sau thành công là gánh nặng' Nguyễn Thị Hồng Hà

"Cánh đồng bất tận" là một lối viết mới của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư. Người đọc không tìm thấy sự mơ mộng, lãng mạn trên những cánh đồng như người ta tưởng. Cuộc sống người nông dân được “bóc vỏ” trần trụi như nó vốn có - khốc liệt, quằn quại và dữ dội. Sau đây là cuộc trò chuyện với tác giả.

- Đọc “Cánh đồng bất tận”, thấy nhân vật bị “dồn đuổi” ráo riết quá! Vì sao chị không mở cho nhân vật một lối thoát?

- Không có lối thoát nào cho người luôn khép lòng mình vào trong nghèo đói, dốt nát và hận thù. Lối thoát chính là khi người ta mở lòng ra tha thứ cho cuộc đời vốn nhiều phản trắc.

- Nỗi đau không còn gì đau hơn, nỗi buồn không còn gì buồn hơn. Tràn ngập trong những câu văn là nỗi cô đơn “hoang hoải” của số phận con người. Bắt nguồn từ đâu mà chị đã quyết định viết những trang văn như vậy?

- Bắt nguồn từ cảm xúc. Tôi sống trong đầy ắp tình thương yêu của gia đình, đồng nghiệp, bè bạn. Vậy thì rơi vào bối cảnh hoang liêu tiêu điều như thế thì mình có điên không? Chắc có, cô đơn rất dễ sợ.

- Nhân vật trong “Cánh đồng bất tận” có nguyên mẫu không?

- Không, tôi tự nghĩ ra. Tìm đỏ con mắt cũng không thấy người nông dân Nam Bộ nào dữ dằn vậy đâu.

- Có người còn cho rằng “Cánh đồng bất tận” viết về sex còn hay hơn cả một số tác phẩm của các cây bút nữ thời thượng hiện nay. Lúc bắt tay vào viết “Cánh đồng bất tận”, chị có “cố tình” viết sex một tí cho tác phẩm có thêm “gia vị” không?

- Thế bạn thấy tôi có cố tình không? Chuyện tôi có “cố tình” không là suy nghĩ của người đọc, họ cho tôi thế này, thế khác là tùy. Tôi mà nói là “không” thì họ bảo tôi chối bỏ. Nói “có” tôi thấy không đành…

- “Cánh đồng bất tận” là một tác phẩm gây xôn xao dư luận. Vừa mới ra đời đã được độc giả nồng nhiệt đón nhận. Đây là cách viết rất mới của chị. Lần đầu tiên chị chọn cho mình một lối đi riêng. Để tách ra khỏi bút pháp quen thuộc của mình, chị có cần thời gian để lắng lại?

- Không, tôi có bị khuấy động gì đâu mà cần “lắng”. Khi tôi viết nó xong, tức là xao động cũng qua rồi. Lâu rày, chỉ tác phẩm làm cho tôi thấy run rẩy, những việc chung quanh nó thì không.

- Chị nghĩ gì về “cú hích” này đối với quyết định chọn hướng viết cho mình?

- Tôi chỉ coi đây là một vụ "xen canh”.

- Năm 24 tuổi, chị đoạt giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20. Nhưng năm nay, ở độ tuổi 29, chị đã khiến độc giả “giật mình” hơn nhiều. Cảm xúc của chị khi đón nhận thành công của mình lần này có gì khác so với cảm xúc của chị ngày ấy?

- Cảm giác đã thay đổi ít nhiều, lần này tôi thấy đằng sau thành công là gánh nặng.

- Truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” có hơi hướng của tiểu thuyết. Hiện nay, có nhiều nhà văn bắt đầu có hứng thú với tiểu thuyết đề tài lịch sử. Chị có ý định thử sức với đề tài này không?

- Không. Ban đầu tôi định viết “Cánh đồng bất tận” như một tiểu thuyết. Nhưng tôi không đủ sức, nó quá dài mà sự kiên nhẫn của tôi thì ngắn.

***

Nguồn: Công an nhân dân


Đăng nhập để trả lời
0
Dòng chảy yêu thương trong 'Cánh đồng bất tận'
Thanh Hoa
Khi người đọc đã bắt đầu thấy quen thuộc với những câu chuyện dân dã hồn hậu, khi cái tên Nguyễn Ngọc Tư đã không còn gây lạ nữa sau những tập truyện "Ngọn đèn không tắt", "Nước chảy mây trôi"... thì bất ngờ "Cánh đồng bất tận" của cô xuất hiện. Một sự xuất hiện đủ sức gây ngỡ ngàng bằng một câu chuyện man dại và khốc liệt.


Vẫn là chuyện của những dòng sông, những vùng đất dọc ngang kênh rạch nhưng với Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã đưa người đọc đến một thế giới hoàn toàn khác. Không còn hình ảnh của vùng quê Nam Bộ trù phú với những người dân phóng khoáng, giàu nghĩa khí mà chúng ta vẫn gặp ở rất nhiều câu chuyện, rất nhiều bộ phim, rất nhiều cuốn sách. Cánh đồng bất tận đã mở ra trước mắt người đọc một thế giới khắc nghiệt và tàn khốc. Ở đó có người phụ nữ nghèo đến mức một mảnh vải đẹp là cả một giấc mơ và phải đánh đổi nó bằng thân xác của mình. Ở đó có hai đứa trẻ suốt đời theo cha rong ruổi qua những cánh đồng, chúng lạc lõng, cô đơn đến mức quên cả cách giao tiếp với con người. Ở đó có người chồng thù hận người vợ bỏ theo trai đến mức phá hỏng cuộc đời của chính những đứa con ruột thịt.



“Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành. Những cánh đồng đó, đã hắt hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt). Đất dưới chân chúng tôi bị thu hẹp dần. Nhưng ngay từ đầu, chúng tôi đã tự làm quẩn chân mình, vì không thể quay lại những cánh đồng cũ (với người quen cũ). Tôi đã từng trở ngược về những nơi đó theo cách của tôi, bằng mường tượng. Tôi gặp nhiều đứa trẻ tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng. Những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi".



Xuyên suốt câu chuyện của Nguyễn Ngọc Tư là hình ảnh của những cánh đồng. Với một số người trong chúng ta, có thể cánh đồng nào cũng giống nhau, nhưng với hai đứa trẻ, hai nhân vật chính trong truyện, những cánh đồng được phân biệt rất rõ. Cũng dễ hiểu thôi vì cuộc đời của những đứa trẻ đó là một cuộc hành trình từ cánh đồng này sang cánh đồng khác. Những cuộc hành trình kéo dài bất tận và những cánh đồng cũng trải dài bất tận.



Một câu chuyện mà từ đầu đến cuối là những đau khổ, những hằn học, những sự bội phản và những cuộc trả thù. Ở đó chỉ có đói nghèo và bất hạnh. Con người không nhận được gì khác ngoài sự trả giá. Ở đó, khái niệm "ở hiền gặp lành" là một cái gì đó quá mơ hồ, quá xa vời. Một câu chuyện như vậy sẽ làm người ta thấy mệt mỏi, thấy buồn bã và bi quan. Nhưng, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, lại không đem đến cho người đọc cảm giác ấy. Bởi vì, có một dòng chảy yêu thương len lỏi khắp câu chuyện, kéo dài theo những cánh đồng. Dòng chảy yêu thương đó lớn dần lên và trở thành chủ đạo khi sau tất cả những bất hạnh mà một con người có thể gánh chịu trong cuộc đời, người ta vẫn ko thôi nghĩ tới những điều tốt đẹp.



"Nó hơi sợ hãi. Cảm giác một cái gì, nhỏ xíu nhưng lanh lợi như con loăn quăn đang ngụp lặn trong nó. Đứa con gái thoáng nghĩ, rớt nước mắt, trời ơi, có thể mình sẽ sinh con. Nhưng nó chấp nhận việc ấy, dù phũ phàng (với nó, chấp nhận cũng là một thói quen). Đứa bé đó, nhất định nó sẽ đặt tên là Thương, là Nhớ hay Dịu, Xuyến, Hường... Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh và vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn".



Đoạn kết của câu chuyện mở ra một chân trời mới. Những "cánh đồng" có thể vẫn kéo dài bất tận, nhưng sự hận thù sẽ không bất tận, sự bất hạnh sẽ không bất tận, nỗi khổ đau sẽ không bất tận nếu người ta biết yêu thương, biết hy vọng và biết tin tưởng ở những điều tốt đẹp của cuộc đời này. Bạn sẽ thấy nhiều điều khác nữa nếu bạn để trí tưởng tượng của mình bay cao ở Cánh đồng bất tận.



***

Nguồn: Thế giới sách

Em bẻ cong hành trình ánh sáng.
Trái đất quay tròn nửa tỉnh nửa mê.
Đăng nhập để trả lời
0
.


Chào KHHA và giolaodatme,

Cám ơn hai bạn đã mang vào đây nhiều bài viết hay.
Ngọc Lý cũng rất thích Nguyễn Ngọc Tư, và trong diễn đàn chúng ta có mở riêng một chủ đề về Nguyễn Ngọc Tư và tác phẩm "Cánh đồng bất tận". Ngọc Lý đã mang bài các bạn góp vào sang để thêm tại khu vườn này. Các bạn nếu thích thêm bài nào về chủ đề này thì có thể vào đây:

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=115032&mpage=1&key=&#129401

Mong các bạn vào đây chơi thường và mang bài vào thường nhé,

Chúc các bạn vui nhiều,

[;)]

Ngọc Lý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-06 04:58:07Ngọc Lý>
.





Nhã Ca
Giải khăn sô cho Huế










Phạm Thị Nhung







Đăng nhập để trả lời
0
.

Hà Thục Chi, Nguyễn Bích, Trần Thanh Thúy, Alec Holcombe
Trò chuyện qua mạng với nhà văn Lê Thị Thấm Vân





Nhà văn Lê Thị Thấm Vân trong thời gian viết Bóng gẫy của thần tích

Hỏi: Trước hết, xin nhà văn kể đôi chút về tiểu sử của mình. Nhà văn sinh ra và lớn lên ở đâu? Hồi nhỏ có thích đọc văn chương không?

Ðáp: Tôi sinh ở Quy Nhơn, nhỏ ở Ðà Lạt, tốt nghiệp trung học và đại học tại Hoa Kỳ. Bố mẹ tôi từ Bắc di cư vào Nam năm 1954. Thuở bé tôi ưa tưởng tượng ra nhiều câu chuyện thú vị rồi kể cho mọi người nghe. Tôi (tin tôi) có khả năng bịa chuyện giỏi và có khiếu kể chuyện. Bố tôi cho tôi biết điều này lúc tôi 7 tuổi. Nhà tôi có một tủ sách rất lớn. Tôi nhớ hồi nhỏ tôi ưa luẩn quẩn gần đấy. Có cuốn tôi đọc say mê thích thú, có cuốn tôi đọc xong không hiểu gì cả, cứ như đọc sách ngoại ngữ mình chưa học qua. Nhưng tôi vẫn đọc, vì bản tính tò mò muốn biết.

Hỏi: Ngày 30 tháng 4 nhà văn đang ở đâu, làm gì? Biến cố 30/4 thay đổi cuộc sống của nhà văn như thế nào?

Ðáp: Ngày 30/4/75 tôi cùng gia đình tất tả chạy loạn ngược xuôi. Ngày 10/5/75 tôi rời gia đình (bố & chị, em) vượt biển sang Thái Lan. Ở trại tị nạn Thái Lan 2 tháng, sau đó tôi sang Hoa Kỳ. Tôi rời Việt Nam vì tò mò, phiêu lưu, mạo hiểm chứ lúc đó tôi không có chút ý thức chính trị hay kinh tế nào. Một năm sau, tháng 6/1976 bố tôi mất ở Việt Nam.

Hỏi: Nhà văn bắt đầu viết văn từ bao giờ? Tác phẩm đầu tay là tác phẩm nào? In ở đâu?

Ðáp:
10 tuổi tôi đã làm hơn hai chục bài thơ về mẹ sau khi mẹ tôi mất. Truyện ngắn đầu tiên của tôi đăng trên tạp chí Văn, tháng 10 năm 1992, ấn hành ở nam California. Tập truyện Ðôi bờ là tác phẩm đầu tiên, do Anh Thư Xuất bản năm 1993.

Hỏi: Quá trình viết văn sau khi in tác phẩm đầu tiên có những thay đổi gì?

Ðáp: Càng viết tôi càng thấy khó. Kinh nghiệm viết lách chẳng giúp gì cho tôi trước tác phẩm mới. Tôi luôn tự đặt tiêu chuẩn rất cao. Tuyệt đối tránh lặp lại nội dung lẫn hình thức. Mỗi tác phẩm là một nỗ lực, thách thức. Giờ đây tôi không còn cái hồn nhiên và dễ dãi như thuở ban đầu, nhưng càng viết càng yêu thích. Viết với tôi như một nỗi đam mê lớn lao. Và tôi rất vui là có và thực hiện được nỗi đam mê của mình. Trong thời gian viết tiểu thuyết, tôi tự khép mình vào kỷ luật rất nghiêm.

Hỏi: Tại sao nhà văn lại thấy mình cần phải viết văn bằng tiếng Việt trong hoàn cảnh sống lưu vong?

Ðáp: Tôi đến với văn chương là vì yêu thích ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ Việt. Viết tiếng Việt ban đầu với tôi như là tự thách thức cho sự tìm kiếm hay tìm về. Giờ đây, viết tiếng Việt đối với tôi dễ dàng hơn viết tiếng Anh. Viết tiếng Việt giữa lòng một ngôn ngữ khác, tiếng Anh chẳng hạn, là một lý thú, hấp dẫn, tự do, giữ được độc lập, bởi không dễ bị rơi vào công thức nhận diện hay đặt để của thế giới phương Tây. Trong khi đó, là một người viết ở hải ngoại, tôi có tự do hơn những người viết hiện đang ở trong nước, nơi mà họ vẫn còn bị chỉ đạo, kiểm soát bởi những nhà cầm quyền. Tuy nhiên viết văn, nhất là viết tiếng Việt ở hải ngoại thường rất cô đơn, cô độc vì độc giả không nhiều, không có lợi nhuận, không có danh tiếng, không có chỗ đứng trong xã hội. Tôi mở nhà xuất bản Anh Thư để in sách, tự bỏ tiền túi in, tự gửi mẫu quảng cáo sách mình mới xuất bản cho các tạp chí đăng, tự mang sách đến gửi ở những nhà sách để bán, rồi tự gửi sách đến cho độc giả ở xa. Những công việc tôi chán ghét vô cùng, nhưng vẫn phải làm.

Hỏi: Sau khi các tác phẩm của nhà văn in ra, nhà văn có nhận được nhiều phản hồi của độc giả không? Nhà văn nghĩ thế nào về môi trường phê bình văn học hiện nay?

Ðáp: Theo tôi, môi trường phê bình hiện nay vẫn còn yếu kém. Ða phần phê bình tác phẩm hoặc dựa trên cảm tính, hoặc viết về tác giả, hoặc bàn chuyện ngoài lề hơn là đi sâu vào văn bản. Riêng với tác phẩm của tôi, độc giả chê hoặc khen đều cực đoan. Nghĩa là ai thích rất thích hoặc ai ghét rất ghét, không ở lưng chừng. Những tác phẩm của tôi đa phần được giới phê bình quan tâm. Một số độc giả cho biết tác phẩm của tôi khó hiểu, muốn hiểu được thì phải đọc kỹ 2-3 lần, mỗi lần đọc lại khám phá ra điều thú vị và mới mẻ. Một số khác nhận xét tôi viết táo bạo quá! Thật ra, khi viết bao giờ tôi cũng cố gắng với cao, vượt lên trên khả năng, sức lực của tôi rất nhiều. Vì thế người đọc cũng phải với lên để thưởng ngoạn tác phẩm của tôi. Tôi viết không phải để làm vừa lòng độc giả.

Hỏi:
Theo nhà văn thì độc giả phải đặc biệt chú ý đến những chi tiết nào khi nghiên cứu những tác phẩm của nhà văn để họ có thể hiểu rõ hơn về tác phẩm của nhà văn?

Ðáp: Tôi viết về thời đại di dân. Căn cước đôi. Ðịnh mệnh, thân phận của những kẻ luôn đứng dạng hai chân ở hai nền văn hóa khác biệt. Sự bị bôi xóa. Những kẻ vất vưởng bên lề, mép rìa. Ðồng thời tôi đặc biệt chú trọng đến vấn đề nữ quyền.

Hỏi: Trong các tác phẩm của mình, nhà văn có đề cập đến nhiều tác phẩm văn chương nổi tiếng của miền Nam, chẳng hạn Tình ca trong lửa đỏ của Nhã Ca. Tôi cũng thấy truyện ấy rất hay. Nếu một người không biết nhiều về kinh nghiệm của người Việt ở miền Nam thời 54-75, nhà văn khuyên người ấy đọc tiểu thuyết nào trong tất cả tiểu thuyết về/ở miền Nam Việt Nam?

Ðáp: Hỏi tôi đề nghị đọc tác phẩm nào thì thú thật rất khó trả lời. Có lẽ bạn thử tìm đọc Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca, Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền, Xóm cầu mới của Nhất Linh...

Hỏi: Nhà văn nghĩ mình có chịu ảnh hưởng của tác giả nào khác không (kể cả nhà văn Việt Nam và nước khác)? Là những tác giả nào?

Ðáp: Tôi chịu ảnh hưởng bút pháp, mỹ quan, ý tưởng của một số tác giả ngoại như Kazuo Ishiguro, Monique Wittig, Arundhati Roy, Susan Sontag, Hélène Cixous, James Joyce, Willam Faulkner, Alice Walker... Tôi cũng đọc nhiều tác giả Việt, nhưng họ không gây ảnh hưởng tới kỹ thuật dựng truyện của tôi.

Hỏi: Trong tác phẩm Xứ nắng, người kể chuyện đề cập đến nền văn hóa Mỹ lẫn Việt, chẳng hạn như Jack Nicholson, Nhất Linh, v.v... Ở trang 11 người kể chuyện nói: “Giấc mơ Mỹ, màu trắng, liệu còn đứng vững được bao lâu?” Theo tôi, cảnh này rất thú vị và quan trọng, vì hiện nay, các nhà phê bình văn học Mỹ đang xem xét lại cách mô tả chủ nghĩa dân tộc và “citizenship” [tạm dịch là: tư cách công dân] trong văn chương Mỹ. Nhà văn có ý kiến gì về vai trò văn chương Việt hải ngoại tại Mỹ (viết bằng tiếng Việt) trong cuộc thảo luận này?

Ðáp:
Anh ngữ vẫn là một trong vài ngôn ngữ bá quyền hiện nay. Nó có khả năng lấn át những tiếng nói khác, thậm chí biến những tiếng nói khác trở thành tiếng động. Tôi chọn lựa viết tiếng Việt trong thế giới tiếng Anh là (cố gắng) tạo nên tiếng nói thực tế, như nó là, tạo sự có mặt bình đẳng qua văn bản. Ðồng thời tôi muốn đẩy tiểu thuyết Việt Nam vượt khỏi rào cản, sức ép, ám ảnh bởi chủ nghĩa quốc gia, dân tộc hoặc tự/bị xếp vào vị trí thế-giới-thứ-ba mà bao nhiêu năm nay vẫn cố bảo bọc, ôm giữ.

Hỏi: Nhà văn có ý kiến gì về quan hệ giữa văn chương Việt tại Mỹ và văn chương Mỹ?

Ðáp: Văn chương Việt tại hải ngoại và văn chương Mỹ (hiện nay) như nước sông và nước hồ. Cả hai hoàn toàn độc lập, riêng biệt. Tôi nghĩ không cần thiết phải quan hệ, bởi nghệ thuật hay là ở tự thân tác phẩm. Quả cam hoặc quả táo đều là trái cây nhưng có vị ngon khác biệt. Ai thưởng thức được cả hai loại trái cây, tôi cho là người may mắn. Trong tương lai những tác phẩm hay viết bằng tiếng Việt ở hải ngoại sẽ được chuyển ngữ sang tiếng Anh. Ðấy là một điều cần thiết.

Hỏi: Âm vọng kể về cuộc đời của bốn người đàn bà, mỗi người tượng trưng cho một mùa trong năm. Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa (Tây Thi, Chiêu Quân, Ðiêu Thuyền và Dương Quý Phi) có gợi cảm hứng cho nhà văn khi viết cuốn tiểu thuyết này không?

Ðáp: Khi viết Âm vọng, tôi hoàn toàn không nghĩ đến “Tứ đại mỹ nhân” của Trung Hoa. Tôi chọn 4 nhân vật huyền thoại trong Lĩnh nam chích quái, bản dịch của Ðinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San rồi dựa vào thời tiết 4 mùa trong năm xếp không thứ tự: Tiên Dung - Nhất Dạ Trạch, (mùa hạ); Mỵ Châu - Truyện Rùa Vàng, (mùa thu); Âu Cơ – Họ Hồng Bàng, (mùa xuân); và Man Nương – Man Nương (mùa đông). Bốn bà biểu tưởng cho thân phận, định mệnh, tiếng nói, trí tuệ, cá tính, bản năng, quyền lực, yếu kém, thiếu hụt, bất hạnh, oan khiên... của người phụ nữ.

Hỏi: Đọc Âm vọng, tôi rất ngạc nhiên thấy những tranh vẽ của một đứa trẻ, những mẩu đơn, giấy chuyển tiền, giấy chép tay ghi lại công thức nấu món ăn… Tất cả những cái đó làm truyện giống một tác phẩm hội họa “collage” (tạm dịch: “nghệ thuật cắt dán”). Vì vậy, câu chuyện mang đậm chất thực. Cuộc sống thực được phơi bày qua từng trang sách. Theo nhà văn, những tác phẩm văn học hiện đại có nên kết hợp nhiều hơn với hội họa để tạo nên những tác phẩm mang tính chất tổng hợp?

Ðáp: Những bức tranh, bài thơ, notes... là của con tôi, tôi đưa vào để lưu giữ kỷ niệm tuổi thơ của chúng. Truyền đơn, thư nặc danh, chụp mũ, hóa đơn gửi tiền về Việt Nam, công thức nấu ăn... là dấu ấn, chứng tích giai đoạn đầu của người Việt tị nạn, lưu vong. Ðồng thời tôi cũng muốn đóng góp một hình thức mới mẻ vào tiểu thuyết Việt Nam.

Hỏi:
Theo Việt Nam ngày tôi trở về [VNNTTV], nhà văn đã về Việt Nam năm 1995. Vậy xin hỏi, sau chuyến đó, nhà văn đã về Việt Nam lần nào nữa chưa? Nếu có, xin nhà văn cho biết lần về sau này có thay đổi cái nhìn của nhà văn với Việt Nam so với cái nhìn của năm 1995 không?

Ðáp:
Lần đầu tiên về lại Việt Nam sau 20 năm xa cách, tôi bị khủng hoảng, bức xúc khiến tôi viết cuốn Việt Nam ngày tôi trở về. Lần thứ nhì tôi đưa bố chồng về thăm làng Hưng Yên ở miền Bắc sau 50 năm ông rời xa. Chuyến đi này tạo cho tôi cảm hứng viết cuốn Xứ nắng, và sáng tác một số bài thơ (tình).

Hỏi: Nhà văn lên án chính phủ Cộng sản, qui cho họ trách nhiệm về sự suy thoái của xã hội Việt Nam hiện nay. Vậy theo nhà văn, chính phủ Cộng sản nên giải quyết như thế nào với các tệ nạn xã hội? Và theo nhà văn nếu chính phủ Việt Nam Cộng hòa còn tồn tại cho tới ngày hôm nay, liệu các tệ nạn xã hội có xảy ra không?

Ðáp: Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã không tồn tại, thì không còn giả như... nếu… Tôi để đầu óc suy nghĩ chuyện khác thú vị hơn.

Tuy nhiên xã hội Việt Nam hiện nay cho ta thấy rõ sự chênh lệch giàu nghèo quá rõ. Tham nhũng hối lộ trắng trợn. Tệ nạn xã hội càng ngày càng gia tăng. Ðạo đức suy đồi. Là nhà văn, tôi chỉ viết điều tôi chứng kiến và suy tư, trăn trở. Còn giải quyết như thế nào là việc của các nhà lãnh đạo.

Hỏi: Nhà văn phê bình chính sách của chính phủ Mỹ đối với những người Việt miền Nam đã bị bắt vào trại cải tạo. Tôi cũng cho rằng cách kết thúc chiến tranh Việt Nam năm 1975 là một vết nhơ trong lịch sử Mỹ. Theo nhà văn, chính phủ Mỹ lẽ ra phải có chính sách nào đối với Việt Nam sau 1975? Còn ngày nay, chính phủ Mỹ nên có chính sách ra sao đối với Việt Nam?

Ðáp: Trước hết, sau 30/4/1975, việc chế độ mới dựng lên các trại cải tạo là việc làm phản dân chủ, nhân quyền. Không ai có quyền nhân danh bất cứ gì để cải tạo sự suy nghĩ trong đầu của người khác. Việc Mỹ đã đem quân, súng đạn sang can thiệp vào Việt Nam cũng hết sức sai lầm. Giờ đây Mỹ cần phải tỏ thiện chí và sòng phẳng hơn nữa trong vấn đề bắc cầu giao hảo với Việt Nam.

Hỏi: Nhà văn nghĩ vai trò của văn chương trong lịch sử là gì?

Ðáp: Văn chương biểu lộ ý thức lịch sử. Con người không từ cõi không mà là một phần sản phẩm của lịch sử. Nhà văn sống với lịch sử và không nhất thiết phải hiểu lịch sử như người nghiên cứu lịch sử.

Hỏi: Trong VNNTTV, nhà văn có nhắc tới các bổn phận và trách nhiệm của người phụ nữ Việt Nam. Vậy theo nhà văn, các trách nhiệm và bổn phận đó có còn ràng buộc phụ nữ Việt tại hải ngoại không?

Ðáp: Trong thời chiến, phụ nữ Việt Nam phải gánh vác vai trò làm cha, làm mẹ lo cho gia đình, con cái. Chồng trong quân/bộ đội, tử trận, tù cải tạo. Nay sống ở hải ngoại, trách nhiệm & bổn phận người phụ nữ Việt Nam vẫn thế: lo cho gia đình, con cái, nhưng họ được tự do hơn, có cơ hội hơn, nhiều lựa chọn hơn. Nhiều người vì được học hành và độc lập kinh tế nên tự chủ hơn. Ðồng thời họ ít con nên có thời gian chăm sóc bản thân và theo đuổi ý thích riêng của mình.

Hỏi: Có nhiều nhà phê bình cho rằng khi một nhà văn ngồi xuống viết thì họ đang tạo ra trên trang giấy một không gian mới, một không gian lý tưởng, có thể nói là ngoài luật lệ, ngoài chính trị [theo tôi, cách nghĩ này không hoàn toàn đúng]. Khi viết, nhà văn có nghĩ là mình đang tạo lên một không gian ngoài luật lệ không? Hay là nhà văn cảm thấy là việc viết bị những điều trong thực tế ảnh hưởng nhiều, và viết là một cách để trả lời, để chống cự những điều đang xảy ra trên thế giới?

Ðáp: Tác phẩm (có thể) dựa trên dữ kiện thực tế để sáng tạo một cách riêng của chính nó, nghĩa là tự tạo luật lệ riêng. Nhà văn nhào nặn biến cố, sự việc theo ngôn ngữ của nhà văn. Tuy nhiên, tưởng tượng, hư cấu hay sáng tạo bất cứ gì cũng không thể dựa vào khoảng không hay cõi hư vô mà phải bắt rễ, vay mượn, học hỏi, ăn cắp ý tưởng, hình ảnh của rất nhiều người. Viết là hành động nói lên sự có mặt của mình trong cõi nhân gian này, và đúng/sai không phải là điểm thiết yếu trong văn chương. Văn chương là chủ quan, là tiếng nói của cá nhân.

Hỏi: Câu hỏi cuối cùng: nhà văn nghĩ thế nào về tình hình văn chương trong nước và hải ngoại hiện nay? Nhà văn lạc quan hay bi quan?

Ðáp: Văn chương trong nước đang hé mở khía cạnh tự do tính dục, bất đồng quan điểm chính trị, xã hội, có lẽ nhờ vào internet một phần. Hải ngoại cũng nhờ internet nên tác phẩm được độc giả trong nước đón nhận nhanh chóng và dễ dàng hơn. Nhưng phải thực tế rằng ngày càng bớt dần độc giả. Internet, phim ảnh, nhạc, TV, games.... chiếm quá nhiều thì giờ trong ngày của con người hiện đại, và nhu cầu đọc không còn là điều thiết yếu. Không đọc tiểu thuyết cũng chẳng thiệt thòi hay mất mát gì (nhiều). Ý thức được điều này, nhưng người viết vẫn cứ viết, vì viết là đam mê, cũng là sự lựa chọn.

Viết lách, với tôi là một may mắn, hạnh phúc trong đời tôi có được, dù sự lựa chọn này mang lại cho tôi mệt mỏi, mâu thuẫn, phức tạp, khó khăn, đơn độc và cả những thiệt thòi.

© 2006 talawas

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6660&rb=0102

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-19 23:52:11Ngọc Lý>

.
xin bấm vào tên tác giả
để đọc thêm



Quế Hương







Đông Hà





Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-12 06:01:35Ngọc Lý>
.

.
xin bấm vào tên tác giả
để đọc thêm




Thu Thuyền










Trần Diệu Hằng














.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-13 16:09:04Ngọc Lý>
.
xin bấm vào tên tác giả
để đọc thêm










Trần thị Laihồng



















Trần Thùy Mai


.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-25 06:59:25Ngọc Lý>
.
xin bấm vào tên tác giả
để đọc thêm




Trịnh Thanh Thủy























.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-20 08:48:49Ngọc Lý>
.
Inrasara
Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi suffix “nữ”



Khi anh gần chạng vạng
Thì có người bình minh
Đừng lấy hoàng hôn anh ngăn cản
Ban mai của họ sinh thành

(Chế Lan Viên, Di cảo thơ II)


Một hiện tượng xã hội hay văn chương bất kì, không thể bị dập tắt bởi khước bác hời hợt hay phủ nhận thô bạo; nó chỉ bị vượt qua, khi các cạnh khía vi tế nhất của nó được phơi mở.


1. Từ khủng hoảng… [1]

Làn sóng thơ nữ Sài Gòn, một định danh báo điện tử eVăn gán cho loạt cây bút thơ mới, đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh, vài năm qua. Tuổi đời ngót nghét 25, tuổi viết không quá 2-4 năm. Sáng tác của họ chủ yếu xuất hiện trên báo điện tử. Họ viết một lối thơ đa phần đi chệch khỏi dòng chủ lưu, chính thống.

Khủng hoảng – khi đất nước mở cửa, người viết trẻ học được cái khác lạ với những gì họ từng được dạy ở đại học; kĩ thuật vi tính phát triển làm bùng nổ thông tin, thêm lưng vốn ngoại ngữ, họ cơ hội tiếp cận trào lưu văn chương thế giới trùng điệp nẩy nở, lớn mạnh và tàn lụi. Khủng hoảng – khi không ít người trong số họ may mắn nhìn tận mắt nhân loại phát triển như thế nào, ở bên kia đại dương. Khi được mở mắt, mở trí và mở hồn, thế hệ trẻ hậu hiện đại [không riêng gì Việt Nam] hết còn tin vào những “đại tự sự”, các giá trị mới hôm qua ông bà chú bác họ từng tin và cật lực xây dựng, bảo vệ.

Ảo tưởng cũ đã mất, tàn lụi cùng buổi hoàng hôn của các thần tượng, họ ngồi đó mà thương tiếc chăng? Không? “[Họ] không than khóc cho tư tưởng về tình trạng phân mảnh, tạm bợ hay rã đám, mà lại tán dương những cái đó. Thế giới vô nghĩa ư? Vậy thì đừng giả vờ là nghệ thuật có thể tạo ra nghĩa ở đó, hãy chơi với cái vô nghĩa”. [2]

Thế hệ mới không còn tin thứ thơ ca của hôm qua!



*


Đây là thời văn chương [của sự] cạn kiệt (the literature of exhaustion, chữ dùng của John Barth) [ít ra, với văn chương Việt Nam hôm nay], dù người viết ý thức hay không, mỗi văn bản sáng tác chỉ như một “tấm khảm của những trích dẫn” (mosaic of quotations); nhiều/ít, đậm/nhạt,… Nên, thật ngây ngô khi mãi hôm nay chúng ta còn tự huyễn: độc sáng!

Người viết luôn viết trong tâm thế vướng kẹt.

Rộng ra thế giới, các nhà thơ trẻ chúng ta đụng các trào lưu. Bao nhiêu là trào lưu như cuộn sóng vỗ bờ rồi tan mất, dài/ngắn hạn tùy nó đáp ứng tinh thần thẩm mĩ ở thời đoạn lịch sử. Nhưng hầu như tất cả đều bị/được các tên tuổi lớn vắt cạn. Nên, chúng ta luôn làm kẻ trễ tàu!

Trong nước, riêng về thể thơ: Đường luật thì coi như đã kết sổ rồi. Lục bát, ta đã có Nguyễn Bính, Huy Cận,… ở phía trước; rồi thì Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, hay sau nữa: Nguyễn Duy; phá cách đến nát bấy thể thơ nhịp nhàng được coi là thuần Việt này, ta biết mình không thể khác hơn Du Tử Lê.

Ta quay sang thơ tự do. Nhưng nơi bậc cửa này, cái bóng một Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền hay Đặng Đình Hưng đã án ngữ từ lâu lắm! Vài thập niên qua: những Thanh Thảo, Trúc Thông, Nguyễn Quang Thiều, Trần Tiến Dũng,… đã có các thành tựu đến nản lòng. Không còn cái gì mới dưới ánh mặt trời. Câu nói tưởng nghe nhàm tai này bỗng vang lên như tiếng kêu thảng thốt.

Cả trong hình thức thể hiện lẫn chất liệu đề tài – ví mãi còn tách bạch hai món này –, ta cứ là kẻ đến sau.

Ngay khi khoanh vùng nhỏ hẹp nhất, thơ tình chẳng hạn, chúng ta vẫn Tagok gauk yuw, kadun gauk paraik/Tiến thì đụng ách, lui thì vướng thanh ngang, như lối nói của dân quê Chăm! Mượt mà và kĩ tính, chúng ta gặp mặt Trương Nam Hương; sôi nổi mà tha thiết, chúng ta đụng hàng Hữu Thỉnh. Như Đoàn Tú Anh trong “Nếu em lừa dối anh”, chẳng hạn:


Nếu em lừa dối anh
Trời vẫn xanh
Mây vẫn bay
Những hò hẹn thương yêu
Chẳng bao giờ thay đổi
Đến một ngày mưa chẳng biết buồn
Rơi rất vô tư…

Nếu em lừa dối anh
Hạnh phúc như mây
Tình yêu là gió
Em yếu mềm và nhỏ nhoi như cỏ
Sao níu mây cao, giữ gió xa vời? [3]


Viết câu thơ ngắn/dài với cách gieo vần lỏng, chúng ta không ít lần giẫm phải dấu chân Nguyên Sa. Trương Gia Hòa với "Bàn chân của em", là một ví dụ:

Những dòng nước em đi không hết
Có ai chạm vào vai anh không?
Có đặt tay trên vai anh những ngày nắng ấm
Có ai ngả đầu trên vai anh những đêm café? [4]


Chịu chơi ba gai, ta không thể qua mặt đàn anh Bùi Chí Vinh. Tôi gọi đó là lối đụng hàng lẻ. Lớn hơn, ta đụng thơ Cách mạng, thơ Sáng tạo, thơ Nhân văn-Giai phẩm, thơ Đổi mới và Hậu-đổi mới với những nhánh vụt hiện, siêu hình, dục tính (chữ không chuẩn lắm), cả thơ ngoài lời,… Thế là khủng hoảng.

Khủng hoảng tiềm tàng đâu từ Gieo & Mở đầu những năm chín mươi, lộ rõ hơn vào những năm cuối thế kỉ trước với Thơ Tự Do, rồi Viết Thơ, [5] để đến khi báo điện tử văn chương xuất hiện, nó nổ tràn không ma nào níu lại kịp.

Có mặt ở Sài Gòn, họ từ chối lối mòn quen thuộc: tụ tập quanh tòa soạn báo chí, nhà xuất bản hay các cơ quan nhà nước có dính dáng đến chữ nghĩa – ổn định và an ninh. Họ chọn [hay cuộc thế chọn] cách thế sống, đủ cho họ tự do khỏi mọi lệ thuộc.

Các bạn thơ nữ thời đại toàn cầu hóa quyết tháo tung cương ngựa non mà kỉ cương cũ [toan] buộc ràng chúng, cho chúng mặc sức tung vó, hí vang. Không còn kiêng nể gì nữa, sex hay không sex, bản năng hay không bản năng, truyền thống với định kiến xã hội: bất chấp tất! Họ thể hiện mình, phơi mở và phô bày cái Tôi chủ quan của mình, không che giấu. Không cần qua trung gian ẩn dụ hay nhờ cậy sự đánh tráo của ngôn ngữ để gợi mà, trực tiếp, đẩy tới, nâng cao, phóng đại. Từ tâm tình, thái độ hay cả hành cử của thân xác trong sinh hoạt dục tính. Ngay cách xuất hiện của họ cũng đúng a-la-mốt của cư dân mạng: họ chọn eVăn hay Tiền Vệ để kí sinh thơ. Bởi thế, chưa ai [chịu] ra tập thơ cả!

Mươi, mười năm trước thôi, đàn chị Phạm Thị Ngọc Liên dẫu có “giang tay giữa trời mà hét” cũng biết dừng lại ở đường biên tự vạch: “Tôi đi giữa sóng như loài ngư nữ / Lời thở than trôi về phía sau / Mặt trời trên tóc tôi là nụ hôn của chàng / Lời chúc ngủ ngon mỗi tối / Tôi bồng bềnh trong mơ”.

Vẫn còn hiền lành quá, hôm nay – Trần Lê Sơn Ý:


Nào thức dậy đi, hỡi những tháng ngày cô quạnh nhất
Thức dậy đi hỡi chú ngựa non của đồng ngực trẻ
Thức dậy và tung bờm cất vó
Phóng như điên
Chỉ cơn điên mới cứu khỏi nỗi sợ hãi
Hèn nhát
Trước khi băng qua bờ vực
Chỉ cơn điên mới vượt khỏi nỗi đau…
Thức dậy, dẫm chân và lắc đầu kiêu hãnh
Trước những yên cương rực rỡ sắc màu
Thức dậy để đón sương mai
Đón mặt trời mỗi sớm
Thức dậy đi ơi chú ngựa
Đã ngủ sâu trong đáy tim nhiều năm tháng. [6]


Cả vài giọng thơ nữ ở phía Bắc, Vi Thùy Linh chẳng hạn, được/bị cho là bạo.


Bởi vì trong đêm
Em bùng lên nỗi nhớ, khát khao và cả những điều thầm kín nhất
Bởi vì trong đêm, em là em toàn vẹn nhất
Anh hiểu không?
Cái lạnh ngấm dần, em tự ôm em
Em tự sát thương vết thương đau đang rỉ ra
nơi cắt rốn cô đơn bằng những giọt lòng
và lần cởi từng chiếc cúc … [7]


Vi Thùy Linh mới “Khỏa thân trong chăn / Thèm chồng” thôi mà đã bị dè bỉu; còn những “lần cởi từng chiếc cúc”… nữa, bạo gì đâu! Phương Lan đã khác, khác lắm:


Rướn cong mùa chín mọng trong đêm
Chờ một linh tín để hân hoan giờ khai mở,
Dưới em là rầm rì cỏ mềm
Và những phôi mầm phập phồng cố nén cơn phấn khích
trong viễn tượng đồng loạt đội lên
Và rồi êm lịm
hơi thở phủ xuống em
Giấc mơ khoan thai bay đến
khe rãnh róc rách khơi chảy
Cơn gió hoang phiêu mát lạnh trườn ngược lên đỉnh đồi…

(“Đỉnh hoa’’, eVăn)


Cả lối đặt tít bài thơ cũng khác. Không còn vụ: “Giấc mơ của lưỡi’’, “Thất vọng tạm thời’’, “Hè lỗi hẹn’’, “Lãng mạn giải lao’’,… (Phan Huyền Thư) hay: “Anh còn cho em’’, “Em – bí mật’’, “Nói với anh”, “Mùa anh’’, “Thung lũng anh và em’’,… (Vi Thùy Linh) nữa. Phương Lan bộc trực hơn, nếu không nói là đanh đá đầy khiêu khích: “Lỗ rỗng’’, “Mùa căng’’, “Đào thoát’’, “Nẻ”, “Lên cao”, “Chờ mưa’’, “Vọng kinh”,…

Cùng thế hệ Tú Trinh, Ngô Thị Hạnh, Nhật Quỳnh… nhưng Thanh Xuân, Lynh Bacardi, Nguyệt Phạm, Phương Lan, Khương Hà Bùi,… hết còn nền nếp khép mình trong khuôn phép, họ “quậy” hơn, phá phách táo tợn hơn. Để có mặt.

Nếu lãng mạn-trữ tình của thế hệ Hậu-đổi mới còn muốn giữ lại cọng hành an toàn, những buông thả mang tính bản năng còn cuộn mình trong kén ý định:

Em sẵn sàng chết vì anh, nhưng không phải là cái chết đau đớn.
Nếu anh không của em
Em sẽ vắt mình đến giọt sống cuối cùng, làm nghiêng ngả mọi ổn định. [8]


thì lãng mạn của cư dân mạng đã khác hẳn. Nó tung hê tất, dám nói tất! Đây là thế hệ say đắm yêu, nhưng say đắm với con mắt mở lớn đầy ý thức, từ/qua ý thức đòi hỏi bình đẳng giới tuyệt đối.

“Tôi nghĩ thái độ hậu hiện đại cũng tương tự như thái độ của một người đàn ông yêu một phụ nữ học thức cao; anh ta biết rằng anh không thể nói với cô kiểu “anh yêu em mê mệt”, bởi vì anh thừa hiểu là cô ta biết (và cô ấy cũng biết là anh biết) những chữ ấy đã được Barbara Cartland viết ra rồi. Tuy nhiên, vẫn còn có cách khác. Anh có thể nói thế này: “Như Barbara Cartland đã từng nói, anh yêu em mê mệt.” Như thế, vừa tránh được sự ngây thơ vờ vĩnh vừa có thể nói được rõ ràng những gì vốn không còn có thể được nói một cách ngây thơ, đồng thời, anh lại vừa nói lên được những gì anh muốn nói với người phụ nữ: anh yêu cô, nhưng anh yêu cô trong một thời đại đã mất sự ngây thơ.” [9]

Nguyệt Phạm cũng yêu, cũng say, nhưng đã khác nhiều. Song hành với “chết cóng vì sự nổi loạn nửa mùa của những cơn mê”. [10] là cái tỉnh táo của ý thức để nhận rõ “đôi mắt giấy” của người yêu, nhiều lần (Nguyệt Phạm, “Những đàn bà trong thành phố”, eVăn). Khương Hà Bùi nữa, cũng không chịu thua kém:


Xin anh giữ chặt vai em
cùng quay những vòng xoay chóng mặt
Thảo nguyên rỉ máu từ những hố sâu rền rĩ đòi trở lại là hoang mạc
Quằn quại nỗi đau tìm về khởi thủy
Một vòng xoay
Hai vòng xoay
Vũ trụ sinh sôi từ những vòng xoay đơn giản nhất
Từ xưa và rất xưa…
Hỡi cơn gió mấy ngàn năm vọng tưởng sóng cồn
Xin gài vào đêm những giấc mơ tình yêu nồng nàn môi ngọt
Em và anh
Say đắm tìm, say đắm yêu, say đắm tin
Say đắm điệu múa thảo nguyên mộng mị đường về

(“Thụỵ Du”, eVăn)


Từ “em thuộc về anh” hay “anh của em’’ đến “em và anh” là cả một hố thẳm ý thức!

Và, trong lúc lối quan sát của Phan Huyền Thư – dẫu tinh tế, một tinh tế không thiếu cái cười tinh nghịch – vẫn còn chịu khuôn định bởi suy nghĩ đơn tuyến:


Tôi đi
tiếng còi hú dẹp đường
xe đi họp lao như tia chớp
để lại đàng sau phố xá nườm nượp
người người chẳng hiểu mình sẽ về đâu

Tôi đi
những thằng bé lau nhau
chạy long đường bán vé số
đánh giày, tử vi và “kết quả”
thành phố của tôi
mọi người sống và biết kết quả từng ngày
… [11]


thì cuộc sống đô thị dưới mắt Thanh Xuân đã ngổn ngang, bề bộn với những chuyển động đa chiều khó nắm bắt:


… Ngày tân cảng cuốn hút dòng người vào vòng xoáy trách nhiệm
Con thoi chính mình và mai một những đam mê
Đôi bàn tay chạm vào nhau, ngổn ngang vô số hoài nghi có thật
Bí mật có phanh phui?
Rồi tự phỉ báng vào sự hèn nhát vô nghĩa

Trưa tân cảng mang con người vào khói bụi
Vào sự thiếu kiềm chế của hai-mươi-tư giờ nhân bản
Khẽ khàng quay lưng như sợ tâm hồn vỡ tung
Chẳng muộn màng cho những khát khao
Nhưng vẫn thấy kiệt sức nếu bắt đầu lại những đấu tranh thần thánh

(Thanh Xuân, “Chưa phải ngày cuối cùng’’, eVăn)
*


Thanh Xuân: “Tôi đi bằng những bức họa ở EL rời khỏi bầy đàn âm thầm như cơn bão” (“Bão cấp’’, eVăn). Tôi thực sự thích phát biểu này, và chờ cơn bão tới. Thế nhưng, tôi cứ nơm nớp rằng: không ít những bước được coi là đột phá dũng cảm của các bạn trẻ hôm nay nguy cơ dẫm lên dấu vết người đi trước, không thể nói là không hay, nhưng đã là cái hay hơi cũ rồi! [12]

Về nghệ thuật, phát ngôn chỉ là những phát ngôn, dẫu chúng táo bạo hay táo tợn đến đâu đi nữa. Đầy cảm tính, chúng ta hay nhầm lẫn lối phát ngôn ngổ ngáo hay gân guốc với sự cách tân thơ! Nhầm lẫn kéo dài gần mươi năm qua, từ thuở hiện tượng thơ trẻ xuất hiện và gây ồn ào. Sự nhầm lẫn ấy, đến hôm nay, vẫn chưa có dấu hiệu ngưng lại!

Câu hỏi đặt ra: Đây là một khủng hoảng bởi ức chế xã hội hay chỉ thuần là một bế tắc về thi pháp? Hoặc, tệ hơn: nó chỉ là một cách làm dáng, thời thượng? Bởi không ít người, mượn cớ cách tân, đã sa bước và chìm nghỉm trong cõi hỗn mang mà không tự biết, hoặc biết nhưng tự đánh lừa, nói cách khác: không nhập cuộc chịu chơi mà bị lôi cuốn vào cuộc chơi, nên chẳng khám phá được gì. Để cuối cùng tự đánh mất mình và đánh mất luôn sự liên lạc với thế giới xung quanh.

Vẫn còn cả khoảng trắng phía trước cho kẻ sáng tác và, cho cả các thẩm định.

Làn sóng thơ nữ trẻ Sài Gòn, tách ra từng người viết, chưa đủ định hình. Chưa tạo phong cách rõ nét, chưa báo hiệu cuộc đổi mới thơ, như chúng ta mong đợi. No problem! Bù lại, nó có đó, như một hiện tượng: nó là cuộc khủng hoảng. Chúng ta chấp nhận nó hay không, hoàn toàn không quan trọng.

Lâu nay, tâm lí cầu an, ngại mạo hiểm trong sáng tác lẫn thái độ mang màu sắc gia trưởng hay xu phụ trong phê bình - nhận định thơ góp sức không nhỏ đẩy thơ Việt rơi tõm vào cõi trung bình tai hại. Cõi trung bình, và ta yên vị. Trấn an mình và người xung quanh rằng thơ chúng ta đang chuyển động. May, thơ thế hệ trẻ hôm nay đang khủng hoảng. May hơn nữa: họ biết thế!

Đeo vào bộ mặt cực đoan đến quá khích, làn sóng thơ nữ trẻ Sài Gòn cùng với sản phẩm thơ của họ vừa làm nên một cơn gió xiết: mới, mạnh, rát và bừa bộn thổi vào không khí thơ phẳng lặng hôm nay. Bản thân nó là khủng hoảng. Nó đột ngột xuất hiện và gây sốc, cố tình lôi kéo sự chú ý của chúng ta về khủng hoảng chung của thơ Việt, một khủng hoảng cần được nhìn nhận như tín hiệu tốt lành.


2. … tới nỗ lực cắt đuôi suffix “nữ”


Thật nguy hiểm cho nhà văn nào khi viết lại nghĩ về giới tính của mình. (Virginia Woolf)


Qua click chuột xem thơ, ta thấy lối nhìn, nghĩ, cảm và cả việc chọn cách xuất hiện của các cây viết nữ Sài Gòn đợt sóng mới đã khác, rất khác. Nhục cảm trần trụi đến bất chấp của Phương Lan; ở cấp độ khác: Lynh Bacardi; hoặc sôi nổi hồn nhiên nhưng không kém buông thả ở Khương Hà Bùi; cảm nhận cuộc yêu tinh tế mà lạnh lùng của Nguyệt Phạm hay cái nhìn sắc lạnh ném vào cuộc sống đương đại ảo/thực chồng chéo đầy bất trắc như Thanh Xuân,… là những gì chúng ta ghi nhận từ sáng tác còn chưa nhiều của các cây viết này, từ hơn một năm qua.

Thế nhưng, mọi phô bày chỉ mới dừng lại ở phát ngôn về/cho cái Tôi chủ quan, chưa vươn ra ngoài, ngoại trừ một Thanh Xuân có vươn ra nhưng chưa thoát hẳn. Nỗ lực phát ngôn mới ở “thời kì quá độ”, còn gồng mình phá vòng vây phân cách giới. Có cảm tưởng như các bạn đang mặc tấm áo chật, lại ướt nữa, và vẫn loay hoay tìm cách cởi bỏ. Vẫn còn lúng túng trong tìm lối, chưa đáo bỉ ngạn để làm cuộc tương thoại thích đáng với giới kia. Do đó, vẫn chưa thể đối thoại sòng phẳng với xã hội, như là một thực thể tự do và tự tại. Chỉ khi nào chúng ta để cho giới tính như là thế, giới tính mới hết còn là vấn đề!

Đó là những khuôn mặt đang nỗ lực phá giới.

Còn thì đại bộ phận các bạn thơ nữ chưa vượt thoát khỏi mặc cảm “nữ nhi thường tình” trong sáng tác thơ, chấp nhận và an phận. Có lẽ bởi thói quen thơ của chúng ta, thói quen bắt nguồn từ truyền thống nam quyền thống ngự lâu đời: nỗi mặc cảm thân phận mình là phái yếu, tam tòng đầy lệ thuộc. Dù thế giới hiện đại bày ra trước mắt chị em bao nhiêu ý tưởng, sự kiện lồ lộ về/của sự bình đẳng giới, và dù họ cũng nhiều lần thử vươn ra, vượt lên nhưng rồi đâu vẫn vào đấy: luôn chịu khép mình sắm vai phụ, rất phụ:


Người đàn bà làm thơ
Người đàn bà ngồi khóc
Người đàn bà muốn làm trẻ nhỏ
Dù sao đi nữa
bàn tay ấy trong chiêm bao
đã tan vào
nghìn điều không có thật!


(Lê Thị Thanh Tâm, “Gởi một người đàn bà làm thơ” trong Thơ trẻ Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2002, tr. 106.)

Em lặng lẽ yêu
để hồi sinh người đàn bà trong em bấy lâu yên ngủ
thắp giấc mơ tìm kiếm chính mình
hát ru thầm một kiếp vùi quên


(Lê Khánh Mai, Đẹp, buồn và trong suốt như sương, Nxb Hội Nhà văn, 2005, tr.56)


Mặc cảm liễu yếu, tòng thuộc thì rõ rồi. Nhưng theo tôi, với nhà thơ nữ Việt, điều bất khả vượt này còn có nguyên nhân trực tiếp hơn và, có thể nói, nguy hiểm hơn: tiếng Việt. Tiếng Việt với các chủ từ không trung tính. Vừa mở miệng xưng hô, cán cân thiên lệch nghiêng ngay về phái mạnh.

Phạm Thị Hoài đùa đại ý rằng các nhà văn viết tiếng Việt không thể sáng tác nổi truyện trinh thám hay. Lí do đơn giản là các chủ từ tiếng Việt thiếu tính khách quan. Mới vào trang đầu, “hắn” xuất hiện thì người đọc đã biết ngay kết cục truyện thế nào rồi. “Hắn” chắc chắc phải là đồ phản diện, xấu, đáng lên án rồi. Chứ không lương thiện, anh hùng như nhân vật “anh”, “ông ấy” được! Thì còn kịch tính với nút thắt đâu để mà trinh với thám? [13]

Trở lại với thơ, thói quen “em” từ thời Thơ Mới vẫn bám dai dẳng không dứt ra được: chị em làm thơ đặt bút xuống là EM có mặt, to tướng, không thể bôi xóa. Hơn thế, nó lại đầy... chất thơ, mới phiền! Quan hệ máu mủ, “em” so bì với “anh”, chịu lép vế là cái chắc; quan hệ gái/trai, vợ/chồng thì càng. Núp bóng “anh”, người nữ lúc nào cũng phải “dựa vào nam giới mới có thể định nghĩa chính mình”. Các nhà thơ nữ rõ sự vụ ấy quá chứ! Xưa, đã có tấm gương sáng Hồ Xuân Hương [cứ cho tác giả này là nữ] xưng “chị” ngang tàng ngang dọc. Thời gian qua, cũng có vài nhà thơ thử làm cuộc đảo chánh nhỏ: sử dụng chủ từ “tôi” cách sòng phẳng trong các sáng tác của mình. Thu Nguyệt nhuần nhị “tôi” hay “ta”. Nhã Ca còn đẩy chủ từ tới cùng hơn nữa: “tui”! Hy vọng thoát khỏi kiếp tòng thuộc! Nhưng đại đa số nhà thơ nữ của ta mặc cảm vẫn hoàn mặc cảm. Nói như Lê Khánh Mai: “oan nghiệt ngày thường” trở thành “oan nghiệt phận thơ”. Có nỗ lực “tìm mình” thì cứ lại thấy một mình-phụ tùng! Có gắng gượng làm cuộc bứt phá tới đâu, sáng tác phẩm của mình vẫn rơi tõm vào cõi giới tính thứ hai (le deuxième sexe ) tệ hại:


lọt qua kẽ tay
tôi muốn nhoài người ra biển lớn
tìm mình.

(Trương Gia Hòa, Sóng sánh mẹ và anh, Nxb Văn Nghệ, 2005, tr.88)

bạn cùng ta “bứt phá”
lang thang quên mình là đàn bà

…bao đền đài thơ sừng sững
ta gieo xác chữ ích gì

…ta ru oan nghiệt ngày thường
oan nghiệt phận thơ – tiếng kêu máu vỡ


(Lê Khánh Mai, Đẹp, buồn và trong suốt như sương, sđd., tr.61)




*


Vậy, làm sao thoát khỏi hạn chế của sự trói buộc của ngôn ngữ?

Thật sự không cần thiết phải chống lại thói quen thơ hay qui ước ngôn ngữ, vài nhà thơ nữ đã có cách khác, trực diện hơn và hiệu quả hơn, có lẽ. Và họ tin thế. Tự do tình dục là tâm điểm của các lí thuyết nữ quyền. Vậy tại sao chúng ta không sử dụng vũ khí sẵn có ấy vào cuộc?

Nếu không kể các nữ thi sĩ ở hải ngoại như Lê Thị Thấm Vân, Trân Sa, Miên Đáng,… thì về tiết mục này, Vi Thùy Linh đáng mặt đại biểu lá cờ đầu! Say mê yêu, tự do biểu lộ và mạnh dạn viết. Mạnh bạo, quyết liệt và, sẵn sàng dung tục nếu cần. Để chống lại sự vụ lâu nay bị đè nén, áp bức, để phản kháng định kiến cũ lỗi thời, để giải tỏa những ẩn ức ngàn năm bị nhìn một chiều từ phía bên kia nơi nền “văn hóa dương vật” thống ngự. Đây là thân xác của tôi, tôi có toàn quyền trên nó, phô bày nó ra trong trang viết của tôi.

Thì đã sao nào? Thanh Xuân nói thế!

Và, Thanh Xuân cùng các nhà thơ trẻ thuộc làn sóng thơ nữ trẻ Sài Gòn đã đẩy nó tới đầu mút bên kia của tự do phơi bày.

Nhưng dù gì thì gì, sự cách tân thơ ca cần được xem xét từ góc độ quan hệ của thơ với người đọc. Trong bầu khí quyển văn hóa Việt Nam hiện đại, mưu toan giải phóng kia đã tạo cú sốc. Cho cả người đọc nam giới lẫn nữ giới. Người ta vội vã chụp cho nó cái mũ văn chương khiêu dâm rẻ tiền hoặc ngược lại, cũng không ít người – không phải không trí thức, trong nỗi hào hứng cổ vũ cái mới – đã hối hả kêu nó đích thị là biểu tượng giải phóng phụ nữ trong văn học!

Hãy thật bình tĩnh và tinh tế trong thẩm định cái mới, hoặc cái mơi mới! Bởi, không có cái mới nào giống cái mới nào. Làn sóng thơ nữ trẻ Sài Gòn khác hẳn Khát và Linh [14] . Vi Thùy Linh có được hơi thơ khá lạ; nhờ sự hà hơi tiếp sức của thông tin đại chúng, ít nhiều nó đã thổi được làn gió hiu hắt vào khí hậu thơ đang tù đọng của chúng ta. Nhưng đòi hỏi nó gồng gánh “tinh thần nữ quyền” (feminism) [15] , hay là “biểu tượng giải phóng phụ nữ trong văn học” [16] là yêu cầu quá tải. Rất không nên! Còn quá đậm đặc ở đó khí hậu thơ hậu lãng mạn, tính chất nghiêm cẩn (seriousness) đến nghiêm trọng của giọng thơ, chiều hướng coi “đực tính” là trung tâm nơi miền sâu tiềm thức của ngôn ngữ thơ. Ngăn cách cả một vực thẳm với tinh thần hậu hiện đại.

Có thể nói thơ Vi Thùy Linh như thể tiếng kêu gào khản cổ đòi được yêu, được âu yếm chứ không thăng hoa tình yêu; khao khát tình dục chứ không giải phóng tình dục: “Về đi anh! / Cài then tiếng khóc của em bằng đôi môi anh”, “Khi em tựa cửa / Là khi em cần anh”. Ở đó lộ thiên tinh thần “nữ tính” yếu đuối đầy tòng thuộc đồng thời phơi bày một trái tim dễ tổn thương, trầy xước khi bị bỏ rơi, ruồng rẫy: “Em khóc sập trời, anh vẫn cứ đi”, “Bị đánh mất khỏi anh / Em sẽ mất em / Khi thuộc về người đàn ông khác”, “Em có thể chết vì anh”. Khác với Căn phòng 2.2-âm thanh sóng của Lê Thị Thấm Vân: “mới mẻ hơn trong cách viết, dữ dội mấy lần trong diễn tả, đồng thời nó sòng phẳng trong quan hệ hai giới: tinh nghịch, lành mạnh và sạch sẽ! Còn “khỏa mình trong chăn”, “thèm chồng”, “em đã khóc trên hai bàn tay trầy xước” [17] ... Tất cả không gì hơn phơi bày cái thê thảm của một hiện tượng bị “choáng ngợp trước nghệ thuật, tự do bùng mở để đi lùi hay bị rơi vào… lãng mạn, trữ tình, hơi lỗi thời” [18] . Nơi Căn phòng…, người đọc tìm thấy sức mạnh nội tại có khả năng lay chuyển truyền thống, đánh đổ thành trì định kiến về giới tính cũ kĩ.

Từ đó, để cho giới tính như là thế.

Như vậy, câu hỏi cốt tủy đặt ra là bà/chị đã xử lí nghệ thuật như thế nào, chứ không phải bà/chị đã mạnh bạo dùng đề tài nào hay, hô to cỡ nào!



*


Cùng thế hệ, chúng ta bắt gặp vài khuôn mặt “khôn ngoan” và tỉnh táo hơn. Phan Huyền Thư chẳng hạn. Thúy Hằng hay Thanh Xuân,… nữa. Bỏ rơi đề tài “nóng” sau lưng [cần thiết họ vẫn cứ dùng tới], không gồng mình dùng các hạn từ bạo phổi (mãnh liệt, tuyệt đích, trầm trọng, dữ dội, miên viễn, vĩ đại, hệ lụy, bão tố, nồng cháy,… là các từ Vi Thùy Linh khoái dùng), họ đường hoàng đi tới. Chuyển hóa tư duy thơ, từ đó, rất lặng lẽ – cắt đuôi suffix [hay prefix] “nữ” (trong cụm từ nhà thơ-nữ hay nữ-thi sĩ) đầy tai ương, bất trắc. Với sự nhạy cảm nghệ thuật, các nhà thơ này lặn sâu vào dòng sống hiện đại. Và bằng lao động thơ, họ bắt gặp giọng điệu của mình.

Thế hệ mới, giọng thơ cũng phải mới. Có thể ít mới ở vần hay không vần, ở thể thơ, cách xếp đặt ngôn từ; nhưng tuyệt đối phải mới ở giọng điệu-nhịp điệu. Nó là yếu tố quyết định.

Giọng thơ tình chẳng hạn. Cái sự vụ người yêu bỏ đi (chia ly, biệt ly, chia tay, dứt áo hay đội nón ra đi, bái bai…), thời nào và ở đâu cũng có. Nhưng giọng điệu mỗi thế hệ phải khác nhau. Ví dụ gần nhất, thời tiền chiến, Huy Cận:


Thuyền người đi một tuần trăng
Sầu ta theo nước, tràng giang lững lờ
Tiễn đưa dôi nuối đợi chờ
Trông nhau bữa ấy; bây giờ nhớ nhau
.

(“Thuyền đi” - Lửa thiêng) [19]


Qua những năm 50, 60 ta có Hoài Khanh đã từ bỏ cái nhẹ nhàng, vu vơ hay man mác, lững lờ và chầm chậm:

Rồi em lại ra đi như lại đến
Dòng sông kia vẫn cứ chảy sa mù
Tôi ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc âm u.


Sang đến Tô Thùy Yên, ngay cả âm u, sa mù cũng không còn: tốc độ câu thơ đi nhanh hơn, dứt khoát hơn ở giọng điệu, cường độ của bỏ đi, chờ và nhớ quyết liệt hơn, sôi bỏng hơn nên có thể nói – chông chênh và nguy hiểm hơn:


Rồi một ngày em bỏ đi không cầm lại được
Tương lai ùa đến rít gào như trận cuồng phong
Ta xây xẩm giữa đất trời như cái xoáy nước
Nghe bên trong cuồn cuộn khói xe.


Nhà thơ bị đẩy vào cái cô đơn cùng cực không nơi bấu víu. Không thể tìm giải thoát hay an ủi ở thiên nhiên (con nước tràng giang). Thiên nhiên không những vô tình (dòng sông kia, cây cỏ mọc) mà nó chống lại con người (rít gào như trận cuồng phong, xây xẩm giữa đất trời, xoáy nước), đẩy thi sĩ vào môi trường nhân tạo (cuồn cuộn khói xe) buộc hắn phải sống trong và chịu đựng nó.

Đừng nghĩ thế hệ trước yêu kém táo bạo hơn, ít say đắm hay dằn vặt kém dữ dội hơn. Ở đây chúng ta đang nói về văn chương, về giọng thơ, cách thể hiện. Bởi ngay vào cuối thế kỉ này, giọng thơ tình “ra đi” cũng đã khác, khác rất nhiều. Hãy đọc thử Phan Huyền Thư:


Tôi nằm mơ một đám ma mà người chết là tôi, tôi là người đã chết.

Những người tình của tôi xếp hàng lần lượt, những người không hề biết nhau và những người đã từng định giết nhau. Họ đến xếp hàng rồi gật đầu chào mời nhau hút thuốc, đồng loạt thở dài rồi lần lượt đi vòng quanh tôi. Từng người vòng quanh, họ cam đoan không bao giờ quên tôi được. Rồi nghe chừng hơi sốt ruột trong khi xếp hàng họ hỏi nhau xem hoa hậu năm nay mới đăng quang là ai… Mua phim sex lậu ở đâu rẻ nhất…

(Phan Huyền Thư, “Giấc mơ” Nằm nghiêng)


Nó lơ đễnh, vô tư gần như đến vô tình. Nhưng ai dám bảo Phan Huyền Thư không biết yêu!? Nói như Lê Đạt, thi sĩ thường nòi tình nên ít nhiều Trương Chi. Cách đây không lâu, ông đã có Bóng chữ hay tuyệt:


Chia xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu.
Chiều Âu Lâu bóng chữ động chân cầu.


Dẫu vậy, cái hay của Bóng chữ là hay ở chỗ khác chứ tuyệt không ở giọng điệu. Chỉ có điên mới cho đó là bài thơ dở, nhưng với giọng điệu – nó là cái hay đã cổ điển rồi. Còn của Phan Huyền Thư: rất hậu hiện đại!

Dẫu đó là loại thơ tâm tình, thứ thơ “giãi bày nỗi lòng”, thành thật phơi hồn mình ra trang giấy, như người đời thường đòi hỏi thơ phải thế; hay nói to hơn, thơ “vắt mình đến giọt sống cuối cùng”. Là lối viết dễ đụng hàng. Vậy mà Phan Huyền Thư đã tìm được chất giọng rất đặc thù [tiếc rằng đoạn thơ như thế trong Nằm Nghiêng không nhiều]. Riêng thơ khách quan, không ít nhà thơ hôm nay đạt đến độ chín.

Các sáng tác của nhà thơ nữ trước đó không phải không có ví dụ [thừa nữa là khác] để đối chứng, nhưng tôi đã cố ý trích dẫn thơ của quí ông. Có lí do chính đáng của sự lựa chọn này.

Thuở còn bé, tôi thường đi đưa tang người chết, già có trẻ có, người thân lẫn kẻ hàng xóm. Những tiếng khóc kể não lòng, dành cho người vừa mất … Tiếng khóc như ngân: du dương, trầm bổng đầy ai oán. Người này rồi đến người khác, tuần tự; hoặc đôi lúc cả nhóm. Tiếng khóc than làm xao động lòng người, khiến kẻ thần kinh chai cứng đến đâu cũng muốn rưng rưng. Khóc có vần điệu, khóc có bài, khóc như hát là vậy. Đố ai dám bảo họ khóc giả! Đau khổ của người cha mất con, vợ mất chồng (Khóc như chồng chết – tục ngữ Chăm) … thì không thể nào giả được. Giọng khóc kể đó phát nguyên từ chiều sâu văn hóa, trong một môi trường văn hóa tương ứng. Có thế, nó mới gây cho người nghe một xúc động chân thật.

Còn hôm nay, nếu gặp hoàn cảnh không may, chúng ta lại ngân lên như thế, thì chắc chắn sẽ nhận lấy những tiếng cười bị nén lại, tiếng cười rất bất lịch sự bật ra không phải lúc, từ những kẻ vì yêu thương mà đi tiễn người thân của chúng ta vừa sang cõi khác.

Giọng khóc hôm nay đã khác. Thơ cũng vậy.

Nhà thơ hôm nay đã đánh mất sự ngây thơ – ngây thơ trong tình yêu, trong niềm tin… Nói như một nhà văn Tây phương đương đại, chúng ta đang sống trong một thời đại mà văn chương đã đánh mất sự ngây thơ của mình. Một tin lành chăng!?

Tin lành – chắc chắn thế!

Do đó, mặc dù tôn trọng phân tích của Nguyễn Hòa, nhưng tôi không đồng ý với lối nhìn hơi bi quan của anh: “Vào lúc các lý thuyết gia đang quảng bá cho một nền văn học "hậu hiện đại", tôi vẫn không tin lúc này văn học của chúng ta đã bước vào giai đoạn "hậu hiện đại", bởi liệu nền tảng là trình độ tư duy đã đi hết con đường "hiện đại" hay chưa. Phân tích kỹ lưỡng, chưa biết chừng trình độ tư duy của chính những người đang say mê quảng bá vẫn còn ở trong giai đoạn "tiền hiện đại" cũng nên!” [20]



*


Từ ý thức-thơ đến hành động-thơ, từ cựa quậy đập phá đến tìm đường, hay nói như Nguyễn Thị Hoàng Bắc: từ “Chúng tôi vì đàn ông” đến nổi loạn cướp ngọn cờ “Tuyên dương” [21] để rốt cục bình tĩnh miệt mài đi tìm và tìm thấy vị thế cùng giọng điệu mình, là một hành trình dài, gian nan và bất trắc. Như thể từ một biện chứng đời chuyển sang biện chứng thơ. Trên con đường khổ ải đó, không ít chị em đã thất bại, ngã lòng, chiêu hồi làm thứ “Em vẫn thuộc sự sống của anh, trọn vẹn” (Vi Thùy Linh) an phận đầy tòng thuộc. Còn nhìn chung, có nhiều dấu hiệu đáng mừng. Tin lành khắp nơi bay đến.


tiếng nước đái
nhỏ giọt
trong bồn cầu tí tách
thứ nước ấm sóng sánh vàng
hổ phách
trong người tôi tuôn ra
phải rồi
tôi là đàn bà
hạng đàn bà đái không qua ngọn cỏ
bây giờ
được ngồi rồi trên bồn cầu chễm chệ
tương lai không chừng tôi sẽ
to con mập phệ
tí tách như mưa
ngọn cỏ gió đùa [22]


(Nguyễn Thị Hoàng Bắc – “Ngọn cỏ”)


Thế giới hôm nay cung cấp cho nữ giới bao nhiêu là tấm gương chói lòa, với đủ đầy phương tiện hiện đại [“bồn cầu” là một trong những tấm gương ấy]. Họ ý thức sâu thẳm và mãnh liệt rằng mình là một nửa nhân loại. Chính họ đã và đang góp phần tạo nên lịch sử thế giới. Chứ không bị đẩy ra bên mép rìa xã hội hay đứng ngoài lề văn học như đã từng nữa.

Trong văn học nghệ thuật, chủ nghĩa hậu hiện đại chủ trương giải-khu biệt hoá (de-differentiation) và phi tâm hoá (de-centring), dẫu trung tâm đó là Âu Mỹ nay hay Trung Hoa xưa; ở đây: vị thế đàn ông trong văn hóa phụ hệ, đã tạo đà cho nhà văn nữ tự tin dấn tới. Không còn thái độ xốc nổi con nít thuở tiền-hậu hiện đại: phủ định, phản kháng và hô hào nổi loạn (tôi gọi đó là thứ thơ-nói to, thơ-la làng) – cần, nhưng không đủ, mà là: nhắm tới việc cắt đuôi suffix “nữ” trong chính sáng tác phẩm của mình.

Từ chối giọng điệu cải lương yểu điệu thục nữ, hết còn căng thẳng bật máu với cánh đàn ông, với truyền thống, cũng không thèm đóng thùng trịnh trọng mô phạm dạy đời (Lê Thị Thấm Vân), biết cười mình (Nguyễn Thị Hoàng Bắc) và cười người (Phan Huyền Thư), nhà thơ nữ hôm nay đang vượt thoát khỏi mặc cảm thân phận, khỏi trở lực nếp nhà đầy quy ước gò bó của ngôn ngữ Việt, sẵn sàng vươn đến nơi chốn sự sự vô ngại trong cõi sáng tạo.

© 2006 talawas



----------------------------------------------------------------
[1]Phần 1 của tiểu luận này nguyên là phần đầu của bài “Khủng hoảng thơ trẻ Sài Gòn” (Tham luận tại Đại hội Nhà văn Tp. HCM, tháng 3.2005), được viết lại.
[2]Mary Klages, “Chủ nghĩa hậu hiện đại", trong Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lí thuyết, Nxb. Hội Nhà văn & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây , H., 2003, tr. 199.
[3]Thơ văn trẻ Tp. Hồ Chí Minh, Nxb. Trẻ, 2003, tr. 7.
[4]Sđd, tr. 16.
[5]Gieo & Mở, Thơ và tiểu luận, Nxb. Đồng Nai in được 2 tập, 1995-1996. Thơ tự do, thơ in chung, Nxb, Trẻ, 1999. Tuyển tập văn chương, Nxb. Thanh Niên, ra tập đầu tiên vào 1999, được 8 tập. Viết thơ, thơ in chung, Nxb. Thanh Niên, 2001. Thơ hôm nay, thơ in chung, Nxb. Đồng Nai, 2003.
[6]“Bài ca ngựa non” trong Thơ hôm nay, Nxb. Đồng Nai, 2003.
[7]Vi Thùy Linh, “Tiếng đêm” trong Khát, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 1999.
[8]Vi Thùy Linh, “Không thanh thản” trong Khát , Nxb Thanh Niên, Hà Nội,1999.
[9]Umberto Eco, dẫn lại theo: Nguyễn Hưng Quốc, Văn học Việt Nam, từ điểm nhìn h(ậu h)iện đại, Văn Nghệ, Hoa Kì, 2000, tr.192
[10]Các đoạn thơ được trích dẫn từ trang mạng eVăn 2004-2005.
[11]Phan Huyền Thư, Nằm nghiêng, Nxb. Hội Nhà văn,Hà Nội, 2002, tr.16
[12]Ví dụ đọc “Đỉnh hoa” của Phương Lan, chúng ta không thể không nhớ tới Lê Thị Thấm Vân: “Căn phòng 2.2-âm thanh sóng”, tạp chí Thơ, số mùa Đông 1999; hay Trân Sa, “Động tác yêu”, nhanhnho.org, 2001.
[13]Phạm Thị Hoài, “Văn và số”; www.tienve. org
[14]Vi Thùy Linh, Khát, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1999; Linh, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2000.
[15]Phạm Xuân Nguyên trong: “Phê bình văn học hiện nay: cái thiếu và cái yếu”, Tham luận tại Toạ đàm "Phê bình văn học - Bản chất và đối tượng" do Viện Văn Học tổ chức tại Hà Nội ngày 27.5.2004.
[16]Dương Tường, “Mười năm trên giá sách văn chương”, talawas, 2004
[17]Xem thêm: Trần Wũ Khang, “Nhà phê bình chuyên-nghiệp dư”, talawas, 2005
[18]Nguyễn Vy Khanh, “Thơ hôm nay”, demthu.lonestar.org, 10.2003
[19]Thơ mới 1932-1945, Tác giả và tác phẩm, Lại Nguyên Ân biên soạn, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1999.
[20]Nguyễn Hòa, “Văn chương 2004 - oằn mình giữa ‘nhập nhòa’ cũ - mới”, eVăn, 21.01.2005.
[21]Tên hai bài thơ của Nguyễn Thị Hoàng Bắc, 26 nhà thơ Việt Nam đương đại, Tân Thư xuất bản, Hoa Kì, 2002.
[22]Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Sđd, tr.27.


http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6990&rb=0101
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-06 05:05:34Ngọc Lý>
.
xin bấm vào tên tác giả
để đọc thêm









Tú Trinh











.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-02 07:41:40Ngọc Lý>
.
.
xin bấm vào tên tác giả
để đọc thêm





.
Đăng nhập để trả lời
0