Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải) 🔒

5 trả lời, 1.839 lượt xem — Trang 1 / 1
Tôi là người đầu tiên trong đám khách được bà chị tôi mời tới ăn bữa cơm cuối năm. Theo chị nói, tết này chị không ăn tết, chỉ làm một mâm cơm cúng tối Ba mươi, ngày mồng một đóng cửa không tiếp khách, ngày mồng hai xoa mạt chược, ngày mồng ba ngủ, từ ngày bốn trở ra mọi sự lại như năm cũ. Cũng chẳng có năm cũ và năm mới, ngày hôm qua và ngày mai, ngày ngày đều giống nhau, người người thì tàn tạ, tiền bạc hiếm hoi dần, tin vui thưa vắng dần, nhưng vẫn cứ phải sống, chẳng có ai chết, họ nội họ ngoại suốt năm năm nay không có một ai chết. Người bảy mươi sắp sang tuổi bảy mốt, người tám mươi sắp sang tuổi tám mốt, như vẫn còn muốn sống thêm cả chục năm nữa, lạ thật, quái quỷ thật, trêu chọc nhau thật.

Tôi nói :

-Nhưng sang ngày mai chị vẫn cứ phải thêm một tuổi, ví như năm nay chị sáu mươi, qua đêm nay tuổi chị sẽ là sáu mươi mốt.

Chị Hoàng vội xua tay :
-Không khiến nịnh, nỡm ạ. Năm nay tao sáu tư, sang năm đã là sáu nhăm.
-Đấy nhé, vẫn cứ là « sang năm ».
-Ừ, ừ,có ai bảo ngày hôm nay không phải là ngày cuối cùng của một năm đâu. Nhưng ngày mai là ngày gì ? Ngày đầu tiên của năm mới à ? Với các anh thì phải, nhưng với tôi vẫn là một năm cũ, mãi mãi là một năm cũ, mỗi năm một cũ đi !

Mỗi năm mỗi cũ đi, có lẽ đúng, với chị là đúng. Người chị mập hơn, các thớ thịt trên mặt như lỏng ra, chảy dần xuống. Tóc chưa bạc nhưng thưa nhiều, nhìn rõ cả da đầu. Cũng là cũ rồi, mỗi năm mỗi cũ, tôi thầm nhắc lại rồi bật cười :

-Bữa cơm tất niên gì mà lạ, không có người mới ra, chỉ có những người cũ đi.
-Mày thì sao ?
-Cũng đang cũ dần đi.
-Năm mươi ngoài thì chỉ có cũ đi chứ mới ra thế nào được.

Tôi trách :

-Một lũ người ọp ẹp, cũ kỹ ngồi cạnh nhau, ngắm nhìn nhau đế đón hy vọng một năm mới ! Cái trò chơi độc ác này chắc là phát minh của riêng chị.

Chị Hoàng nhìn chăm chú những ngón tay mới sơn móng đỏ chót, cười nhạt không nói gì. Bà chủ đã tiều tuỵ tang thương, mà cái nơi để trú nấp, để vào ra cũng tả tơi, lở lói, tan nát, là phòng chờ của nhà ga, là quán trọ của tỉnh lẻ, chứ không thể là nơi ở của một gia đình. Từ hai năm nay chỉ có hai vợ chồng già sống với nhau tại số nhà này, còn con trai, con dâu và các cháu nội đã lần lượt ra nước ngoài bằng nhiều đường bí mật khác nhau, phiêu bạt tại nhiều nơi nhưng đều bình an cả. Người ở lại sống để chờ đến lượt mình cũng sẽ ra đi, tất nhiên là phải đi thật đàng hoàng, có giấy xuất cảnh và nhập cảnh, có tiễn và có đón. Nhưng là bao giờ ? Là tháng sau ? Là năm tới ? Cái đó còn tuỳ ở sự may rủi, ở mệnh trời. Lại mệnh trời ! Bà con trong này mười người có đến chín tin ở mệnh trời. Ông đồng bà cốt nở như sâu. Trong các khoản tiền chị hàng tháng có một khoản chi cho việc xem tướng số, « mua hy vọng » người ta bảo thế, không có hy vọng thì sống làm sao ? Ông anh tôi là một viên chức gương mẫu, là cái đinh, cái vít của một guồng máy hành chính tinh xảo, là giáo sư trường Quốc gia Hành chánh thời chế độ cũ. Tóm lại, là người chỉ tin ở những gì trong phạm vi hiểu biết và tính toán của chính mình, trong tầm tay với của chính mình. Thậm chí đến sự buồn, vui, mừng , giận cũng có thể tự kiềm chế được. Một gương mặt bất động, một dáng đi lặng lẽ, tiếp chuyện ai thì nghe và nhìn, chỉ nói khi rất cần, tiếp nhận chứ không bao giờ phát, thi hành chứ không bàn luận, cần sự chuẩn xác chứ không cần sự bay bướm, là người rất hiền và rất lành như nhận xét của cả họ, là « type » viên chức hoàn hảo nhất, theo nhận xét của riêng tôi.

-Anh đi đâu nhỉ ? – tôi hỏi - Chiều Ba mươi vẫn có người mời xoa à ?
-Đi làm đẹp, hớt tóc, cạo râu, đón xuân mới

Tôi cười ngờ vực.

-Ồ, ông già còn lạc quan nhỉ ?
-Cũng buồn rồi, nóng ruột lắm rồi, có bữa chị để ý thấy mặt anh đỏ bừng, hai bàn tay nắm chặt lại nện khe khẽ lê tay ghế. Muốn điên lắm đấy.
-Còn chị ?

Chị Hoàng nhìn tôi, mắt nhìn như dại đi :

-Chị hả ? Chị đã trải qua các thời kỳ. Bây giờ thì trống rỗng, hoàn toàn trống rỗng. Có thể, chị nói là có thể lát nữa, trước đông đủ mọi người chị sẽ nói rõ cái ý định sắp tới của chị.

Tôi vẫn cười cợt :

-Chị có thể cho em biết trước được không ?

Chị vẫn nhìn tôi chằm chặp :

-Không, không thể cho biết trước được. Tối nay đối với anh chị sẽ là một tối không bình thường.

Chuyện gì thế nhỉ ? Chuyện gì có vẻ nghiêm trọng đến thế nhỉ ? Nhưng phải đợi lát nữa. Những ai sẽ có mặt tại nhà này trong lát nữa ?


***

Người khách đến sau tôi là anh Quý, xuất thân luật sư, sau làm viên chức ở Bộ ngoại giao các chính quyền của chế độ cũ. Một nhà ngoại giao cũng có tên tuổi, nghe người ta bảo thế, bạn thân của hai anh chị tôi từ vài chục năm nay và hiện giờ là khách xoa mạt chược những ngày chẵn của gia đình. Thoạt làm quen tôi không ưa anh lắm. Anh cười đùa như một kẻ vô tâm, tránh né mọi sự bình phẩm và hoàn toàn không có ý kiến gì về thời cuộc. Mỗi lần gặp tôi chỉ trò chuyện vơí anh qua loa, vì cái ông già lễ phép và lãnh đạm chẳng có gì buộc tôi phải chú ý. Nhưng có một bận nghe anh đọc và bình luận một đoạn thơ trong « Ly tao » của Khuất Nguyên, tôi mới nhận ra mình đã hiểu lầm người. Cái ruột trong rất khác với cái vỏ ngoài. Anh cũng có một nỗi niềm, một nhớ tiếc nào đó. Bữa ấy tôi hết lời tán tụng cái giọng đọc thơ của anh vì không tiện đả động tới cái khác. Nhưng chính anh lại gợi : « Cậu chỉ khen cái giọng thôi à ? ». Tôi nóng mặt : « À, còn cả cái khác nữa chứ, cái bên trong, cái tâm tư của anh ! » Anh cười ha hả : « Tôi nhìn vào cậu để đọc đoạn thơ này, cậu phải thế nào tôi mới đọc được hay đến thế chứ ? » Bà chị tôi nòi dằn dỗi : « Còn tôi chỉ là cái túi thịt trong con mắt các người, có phải không ? » Anh vẫn cười : « Thế bà còn muốn gì hơn nào ? » Họ vẫn ăn nói với nhau chớt nhả, suồng sã như vậy, nhưng chẳng ai giận ai cả, bè bạn với nhau những mấy chục năm mà. Rồi anh khoe cũng có làm nhiều thơ lắm, làm cho mình chứ không dám đọc cho ai nghe. « Cái tâm mình thì thật mà chữ nghía sao nó cũ kỹ, khuôn sáo thế. Thì ra, cái sáo của nghề ngoại giao đã thấm nhiễm vào tôi lâu rồi, » anh tự thú nhận như vậy.

Vừa bước vào nhà, anh Quý đã hỏi :

-Bộ bàn ăn bán rồi, hả ?

Chị tôi trả lời thản nhiên :

-Bán rồi, một bộ bàn ăn, một tủ sách, kèm thêm cái quạt trần, một ngàn đồng. Đắt hay rẻ ?
-Bán cho ai đấy ?
-Cô Hảo ! « Em đưa chị một ngàn chị tiêu tạm, còn bao nhiêu chị cho em xin, », cán bộ miền Bắc ăn nói đến là khéo.

Anh Quý cười nhẹ :

-Mình đã dùng nhiều rồi, nay lại đến lượt người khác. Lọt chị xuống em, mất đi đâu. Một ngàn tiêu được mấy ngày ?
-Một tuần !
-A, hai ông bà già tiêu một ngàn một tuần, cũng đã là dè sẻn lắm.

Chị Hoàng phì cười :

-Nỡm ạ, hai ông bà già nhưng còn cả một đống đầy tớ. Dẫu ngày mai có xách bị đi ăn xin thì hôm nay vẫn phải có đầy tớ. Nói thế thôi, mệnh tôi có Song Lộc thì hết tiền sao được. Hôm nay hết ngày mai lập tức lại có.

Anh Quý nheo mắt hỏi ỡm ờ :

-Tức là vẫn hy vọng sẽ còn có thay đổi ?
-Cái gì thay đổi ?
-Cái tình hình chính trị ấy, nếu thay đổi lập tức chị em bà lại có rất nhiều tiền.
-Còn anh ?
-Tôi, hả ? Tôi đứng ngoài mọi thay đổi. Thời nguỵ tôi là anh thân Cộng, không đủ để tin, thời Cộng sản tôi là một viên chức được ưu đãi của chính quyền nguỵ cũng rất đáng ngờ. Chẳng phe nào chịu nhận mình là người của họ cả.

Chị Hoàng vung tay hét to:

-Vứt mẹ nó chính trị đi! Từ năm năm nay cái nhà này không bàn chuyện chính trị. Thiếu gì chuyện để cứ phải nói chuyện chính trị.

Rồi chị kể lể:

-Mấy bữa trước, cậu công an phường này chạy sồng sộc vào hỏi tôi: “Chiều nào ở đâu cũng tụ tập đánh bài à?”. Tôi trả lời: “Không phải mọi chiều mà chỉ có chiều ngày chẵn thôi!”. Lại hỏi: “Có đánh ăn tiền không?”. “Có chứ, đánh suông thì chán chết, nhưng ít ít thôi, thua được cũng chỉ chục bạc trở lại, còn tiền đâu mà đánh nhiều.”. Nó vẫn nói lằng nhằng: “Tại sao các ông các bà cứ phải giải trí bằng cờ bạc nhỉ?”. Tôi nổi xung lên: “Nếu không cho giải trí bằng đánh bạc thì bọn tôi biết làm gì cho qua ngày? Hay là biểu tình chống chính phủ? Bọn này mà ngồi không thì chỉ có nghĩ cách chống lại các cậu thôi. Cho chúng tôi đánh bạc còn tốt hơn để chúng tôi làm chính trị.”

Người khác không dám nói chứ bà chị tôi có thể nói trắng như thế thật. Ăn nói rất sỗ, rất thô mà nghe được, ấy là cái tài riêng, cái duyên lạ của chị từ ngày còn trẻ. Anh Quý làm ra vẻ sửng sốt:

-Ăn nói bố láo thế mà họ không còng tay nhốt khám kể cũng hi hữu thật!
-Cậu này nó biết đùa, cũng là người có học nên nó chỉ bảo: “Bà phải giữ lời nhá, nếu làm khác đi là tôi sẽ bắt cả đám.” Mình nói ngay: “Cậu đưa giấy bút đây, tôi viết hẳn tờ cam đoan cho cậu yên tâm.”

Rồi chị cười ngặt ngẽo, hồn nhiên như đứa trẻ. Cái mà người ta có thể làm ngơ được, “chịu được” là do chị biết nhân nhượng đúng lúc chăng? Nhân câu chuyện buồn cười về cờ bạc, chị kể tiếp một chuyện buồn cười khác cũng về cờ bạc:

-Thứ bảy tuần trước, bọn này lên xoa tại nhà cô Hảo, bài của mình các phu lên đẹp quá, chỉ hạ xuống là ù, còn ông Chương thì sỉu sường cống (Bài thiếu quân). Anh chàng ngồi ngẩn ra một lúc rồi gạ: “Ván này coi như hoà.” Mình nhìn vào tận mặt hỏi: “Năm năm nay cậu chỉ có nằm với nghĩ mà vẫn chưa phá được cái ngu à?”. Nó hỏi lại: “Chị bảo phá cái gì ngu?”. Tôi mới hét lên: “Khi tôi đã thắng cả trăm phần, cậu sắp thua cả trăm phần, mà cậu dám mở mồm: hoà, hoà, ván này hoà, là phải rất ngu mới dám nói thế. Tôi không đến nỗi ngu như cậu để gật đầu cho cậu hoà, cho cậu hoà hợp dân tộc, cho cậu tham gia chính phủ ba thành phần, cậu đã hiểu chưa?”. Làm chính trị mà ngu như chó, trên một bộ răng, dưới một bộ giái, còn cái cứt khô gì mà buộc người ta phải hạ mã cầu hoà.

Anh Quý vừa cười, vừa hét to:

-Vứt mẹ nó chuyện chính trị đi! Từ năm năm nay tôi không có dự bàn các việc chính trị.

Chị Hoàng nghiêng người, đấm khẽ lên vai ông bạn:

-Nỡm ạ! Tôi chỉ thích bàn chuyện chính trị với riêng thằng Chương thôi. Phải làm cho nó thật nhục nhã, thật chán chường rồi mới hoá nó sang kiếp khác được.

Anh Quý rút tẩu thuốc, cái cách anh nhồi thuốc, mồi lửa, gõ tàn và ngậm lệch cần tẩu khi nghe người khác nói chuyện vừa đẹp mắt, vừa lợi hại, anh có thể né tránh rất tự nhiên, rất lịch sự nhiều câu trả lời bằng cái tẩu ngoại giao của anh.

-Bà còn cay cú cái chuyện năm nọ lắm nhỉ? Cái chuyện quyền lực ấy mà?
-À, à, chính trị của thiên hạ thì tôi mặc xác, tôi chỉ quan tâm có cái quyền lực thôi.

Anh Quý cười xoà:
-Với số rất ít chính trị là quyền lực, với số rất đông chính trị là thái độ. Không bị hút vào đầu này ắt bị hút vào đầu kia, làm sao có thể đứng giữa?

Chị Hoàng trỏ tay vào mình, hỏi:

-Như tôi hiện nay thì bị hút vào đầu nào?

Anh Quý mồi lửa vào tẩu một lúc lâu rồi mới thủng thẳng trả lời:

-Mất hy vọng vào quyền lực thì còn lại cái thái độ. Vẫn cứ là chính trị. Cả mấy năm nay bà vẫn làm chính trị, bằng thái độ chứ không bằng âm mưu giành quyền lực.

Chị Hoàng nhìn cả hai chúng tôi, cái nhìn lại như hơi dại đi một chút :

-Có lý, có lý lắm. Nhưng lát nữa tôi sẽ bảo thẳng với mọi người, có thể nói đủ mọi chuyện trừ chuyện chính trị. Tống cổ nhà chính trị ra khỏi số nhà này.

Anh Quý nói nghiêm trang:

-Lát nữa tôi sợ rằng mỗi chúng ta đều phải bày tỏ cái thái độ chính trị hiện nay của mình. Ở đâu có hai người, ở đó có một nhà chính trị, Chúa đã bảo thế. Này, bữa ăn tất niên tối nay có những ai đấy?

Cái túi thịt trên khuôn mặt chị Hoàng đột nhiên lỏng ra, cái nhìn xa xôi, trống rỗng. Chị ngồi ngây ngô một lúc lâu rồi nói nhỏ, giọng khàn ướt:

-Không một ai có thể sống nổi với cái tâm trạng bị dồn đuổi, bị thua mãi. Tôi đã quyết định đứng hẳn lại, đứng nguyên một chỗ, đứng không xê dịch.

Quyết định gì? Chỗ đứng nào? Khi nãy chị đã nói với tôi một lần, bây giờ nhắc lại nữa, mà nghiêm trang quá, bí hiểm quá. Chính khách bàn vuông, nói cho rõ hơn, chính khách quanh bàn mạt chược, lại có được một dự tính cho nghiêm trang, cho bí hiểm kể cũng buồn cười. Nhưng ông bạn thân của bà chị tôi lại có vẻ không muốn cười, dầu rằng anh rất nhạy bén với cái khía cạnh hài hước của thế sự. Anh nín lặng một cách căng thẳng, khẽ ngọ nguậy thân người trong lòng cái ghế bành nệm lót đã rách tả tơi. Rồi anh thở dài rất khẽ, hừm hè trong cổ họng rất khẽ. Bà chị tôi chợt ngồi thẳng lên, hai gò má thoáng ửng đỏ, mắt long lanh như người nhập đồng, giơ một ngón tay chỉ vào tận mặt chúng tôi, thách thức:

-Lần này tôi có thể nói quả quyết: chắc chắn là tôi thắng! Tôi không cần một ai ủng hộ vẫn cứ thắng!

**

Có tiếng người gọi lanh lảnh bên ngoài cổng sắt: “Bơ ơi! Bơ mở cửa cho em!”. Cánh cửa vừa rít lên, tiếng người đã ồn ào: “Dạ, có hai vợ chồng em đến thôi để chị khỏi bận. Dạ, chẳng có gì, một chai rượu, sâm banh của Pháp hẳn hoi, Bơ nhá!” Chị Hảo bước vào phòng khách, mặc áo dài màu xanh nhạt, thêu bông trắng rất to. Ông chồng theo sau mắt kính lấp lánh, tay cầm một chai rượu bọc trong giấy báo. Một cặp vợ chồng rất là “tết”. Chị Hảo chào chúng tôi, rồi nhìn ngược nhìn xuôi, kêu tướng lên: “Tết nhất nhà bà Bò hay nhỉ. Chẳng có hoa lá gì cả. Ôi giời! Mời bà vào thay quần áo giúp cho. Bà bêu xấu chúng tôi đấy à?”. Lúc này tôi mới để ý bộ quần áo đang mặc của chị Hoàng. Tiếp khách chiều Ba mươi bằng quần áo ngủ, mà lại vá, hai ống quần hai màu khác nhau, một bên hoa xanh, một bên hoa đỏ nhạt, như quần áo hề. Thật ra, cái kho quần áo vô tận của chị cũng rỗng rồi. Phần thì cho chị em con cháu ở ngoài Bắc vào, mỗi người chọn xin một bộ, phần bị lấy cắp, quần áo ngâm trong chậu giặt mà còn mất, xem ra cái giống trộm tinh khôn ấy phải là trộm ở trong nhà. Người bị mất không kêu mà cũng chẳng muốn may sắm lại, có một bà bói bài tây đã bảo chị: “Bà phải mất hết, chỉ còn hai bàn tay trắng mới ra khỏi nhà được.” Việc gì chẳng có tiền định, kể cả cái chuyện bị mất cắp. Chị Hoàng lệnh khệnh đứng lên, người cao mập nhưng bàn chân lại nhỏ xíu, đi lập bập như đứa trẻ, một tay vung vẩy, miệng thì la: “Hương đâu! Hoa đâu! Mời các cô lên giúp tôi một chút đây!” Hai cô bé chạy lên, mỗi người xốc một bên nách, dìu bà lão rất hay làm nũng vào buồng trong. Đến cửa buồng chị còn đứng lại, hỏi anh Quý:

-Sang Pháp có thuê được bonne thay quần áo giúp không, toi?
-Nếu bà có thật nhiều tiền thì vẫn thuê được, thuê giờ, thuê ngày, tuỳ.
-Mình ở lại Việt Nam thôi, nằm ở đây là sướng nhất.

Chị nói thật đấy. Sang Pháp ở với con dâu đầm, chị không thể bắt nó chui đầu vào bếp làm những món ăn Việt Nam với hàng trăm thứ chi tiết rắc rối, lại cũng không thể buộc nó phải ngồi chồm hổm bên cạnh chị cả ngày để lựa lúc mẹ chồng cần thì đưa một viên thuốc trợ tim, một điếu thuốc lá, một tách nước, một cái tăm hoặc tán chuyện gẫu để mẹ khỏi buồn. Và chắc chắn vợ chồng nó không thể bỏ cả ăn cả làm để ngồi trực trước tay lái đưa mẹ đi xoa mạt chược. Cả thế giới không thể tìm đâu ra một mẫu người ăn bám hoàn toàn như tôi, chị vẫn nói bô bô như thế. Thời nay vua chúa còn tự làm cơm đãi khách và đưa con đi học thì tôi hết muốn sống rồi. Vừa lười, vừa ngu mà vẫn ham được cầm quyền, cái sự vô lý ấy đã tới mức khùng dại. Mà bà chị tôi lại biết tất cả, tự nói về mình như nhận xét của mọi người, nên nói chuyện với chị luôn là sự thích thú. Mỗi ngày chị lại giới thiệu với tôi thêm một thói xấu của chị, bình phẩm về cái thói xấu đó, xem nó như cái duyên riêng của mình, bỏ nó đi, giống như mọi người, thì chẳng còn ai muốn yêu chị nữa. Một mẫu người lạ lùng nhất tôi chưa từng được gặp. Còn cô em ruột của chị, chị Hảo, lại là một mẫu người khác, tầm thường hơn, với những cái xấu cái tốt giống như nhiều người. Năm 75, tôi gặp anh chị Hảo lần đầu ở Hà Nội, vì được gặp lại bố và mẹ già tại Sài Gòn vừa được giải phóng sau ba chục năm xa cách tôi mới được biết ngay ở Hà Nội cũng có nhiều người thân. Năm ấy, chị Hảo mặc quần lụa thâm ống hẹp gấu nhỏ, áo cánh, bàn tay đen đủi, gầy guộc, mười năm theo chồng đi kháng chiến, hai chục năm nuôi con trông cháu, làm chủ một gia đình quá đông đảo, phải dè sẻn từng thìa mỡ, từng tấc vải, chị là một trong những bà mẹ phi thường của Tổ quốc Việt Nam. Anh chị vào sống tại Sài Gòn ngay cuối năm 75 để có chị có em, như chị nói, và cũng để hưởng thêm chút ít phú quý còn lại như chị thầm mong. Buổi đầu hai chị em gặp nhau, nghe kể lại cứ ngỡ là chuyện bịa. Bà chị giương mắt nhìn cô em một lúc rồi kêu lên: “Cô Hảo hả? Vợ cán bộ cao cấp gì mà ăn mặc như con vú già!”. Cô em ôm lấy chị, oà khóc: “May nhờ có cách mạng chúng em lại được gặp anh chị”. Bà chị nói khinh khỉnh: “Tôi chẳng mong gặp lại cô chú một tí nào. Gặp lại cô là cái vận tôi ăn mày rồi.” Chị nói thật, cô em từ Việt Bắc về Hà Nội, chị chạy tuốt vào Nam, nay cô em cũng theo chân vào Nam, thì chị chạy đâu bây giờ? Ngay ngày hôm ấy chị Hoàng bắt em phải làm đầu lại, may sắm quần áo lại, rồi sửa cách ăn nói, cách đi đứng cho nó phù hợp. Giữa năm 76, tôi có công việc phải vào thành phố Hồ Chí Minh, đến thăm anh chị Hảo tại nhà riêng ở đường Hồng Thập Tự.

(còn tiếp)

Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
Tôi bấm chuông, một ông già ra mở cổng : « Thưa ông, ông cần hỏi ai ạ ? »-« Tôi là em bà Hảo, bà có nhà không cụ ? » - « Xin mời ông vào chơi phòng khách, tôi xin lên báo ! ». Vừa lúc ấy có tiếng gọi lanh lảnh từ trên cao : « Việt ! Việt ! Em vào hôm nào đấy ? Chờ chị một chút nhá ! » Tôi ngẩng mặt lên, bà chị trong bộ đồ ngủ màu đỏ chói, đang vẫy tay cười hỏi với tôi. Phòng khách rất sang, có cả thảm lót và bình hoa tươi trên bàn. Thời này phòng khách có thảm trải, có hoa cắm là hiếm lắm, rất hiếm. Ngồi trong cái ghế bành thật sâu, thật êm, hớp một ngụm nước trà thật thơm, thật nóng, chà chà, cái mùi phú quý quả thật là hết sức quyến rũ. Chờ năm phút, mười phút, ngồi đã tê đít mới nghe tiếng dép lẹp kẹp từ thang lầu bước xuống, và bà chị tôi xuất hiện ở khuôn cửa yểu điệu, rực rỡ, khác lạ như một bà quý phái Sài Gòn chính hiệu. Chị mặc cái quần đen thẳng nếp ống rộng, áo cộc cắt theo lối Tàu bằng gấm xanh, điểm chút hoa trắng, tóc uốn thật cao, môi má đánh thật đỏ, cả móng tay cũng sơn đỏ. Và mập ra nhiều, tươi lên rất nhiều, duyên dáng cũng thêm nhiều. Trẻ hẳn ra, như người mới bốn chục tuổi. « Chị sắp đi đâu mà ăn mặc sang trọng thế ? ». Chị ngạc nhiên : « Để tiếp cậu chứ còn đi đâu ? ». Từ lúc ấy chỉ có chị nói, nói ào ào, bao nhiêu cái vui, cái sướng, cái khéo léo, cái khôn ngoan, cả cái cách mạng, cái kháng chiến nữa chưa có dịp nào để nói, nay gặp được thằng em biết nghe và cũng biết tán tụng đúng lúc nên chị nói bằng hết, nói thật thoả thuê. Tôi nghiêng đầu ngồi nghe, mắt nhìn chăm chú những chấm hoa trắng điểm trên áo, cái bàn tay vẫn còn gầy, đen nhưng móng lại sơn đỏ.

-Chị bảo thật cậu : chớ có đưa gia đình vào đây mà khổ. Tiêu pha tốn kém gấp năm, gấp mười ngoài kia, cậu ạ. Ngoài kia có đi đâu chị vẫn đi bộ, đây đó chỉ một đoạn đường có là mấy, trong này một bước là xe, một cuốc xe là bốn năm đồng, một ngày chị tiêu cả chục bạc. Rồi khách khứa, rồi họ hàng, mỗi bữa cơm có tiết kiệm cũng phải cả mươi tờ đỏ. Cậu tính, anh là cán bộ cao cấp, mình ăn ở lúi xùi quá sao tiện. Trưa nay em ở lại ăn cơm với anh chị nhá, anh lên Thành uỷ có chút việc chỉ lát nữa là về, tài xế đánh xe tận nhà đón, các ông lãnh đạo ở đây quý anh lắm, có được một ông làm luật cách mạng như anh là hiếm chứ. Thì anh hưu rồi, nhưng nào có được nghỉ, họp cả chủ nhật, cả tối, như năm còn đi làm, cái gì Trung ương Mặt trận hả cậu ? Đấy, anh làm ở đấy, rồi cả Hội Trí thức, rồi Hội Luật gia ngoài Hà Nội, năm ngoái đi Thuỵ Sĩ họp, năm nay không khéo được đi Pháp. Có đi Pháp chị mới cho đi, hồi trước anh sống ở Pháp mãi, cả chục năm, về nước mới lấy chị, cái ngày anh ngồi ở huyện Kim Động chị mới có mười bảy tuổi, buồn cười chết được cậu ạ, bà lớn trẻ con, dân đến chúc Tết sợ quá đến muốn vãi đái...Hay là em ở hẳn với anh chị, chị mới mướn được một chị đầu bếp đến là khéo, mời khach sang ăn cơm nhà mình nấu nướng nhộm nhoạm họ cũng cười. Sướng được ngày nào cứ sướng, tội gì. À, chị mặc cái áo này có loè loẹt lắm không ? Nhã nhất đấy, hàng gấm mặc mùa này vừa nhã vừa sang. Vừa vặn quá, cậu nhỉ, mập hơn ngoài kia nhiều, phải không cậu ? Lên được sáu cân, ai cũng bảo chị trẻ ra như người bốn mươi, nói chết cười, họ cứ trêu ông thì già quá, bà thì trẻ quá.

Dẫu là thế tôi vẫn rất mến chị, chị khoe khoang cái đầy đủ, cái giàu sang hết sức thành thật, tự nhiên và muốn chia sẻ với mọi người cái vui, cái sướng của gia đình chị. Giữa những người đang sầu não vì lại một cái Tết nữa đã đến, thì chị mặc quần áo thật đẹp, hớn hở đón xuân sang và lấy làm lạ tại sao người khác lại không vui như chị, không tràn đầy hy vọng như chị. Chị khoe với cả nhà năm tới anh Hảo có những hai Thiên Mã, chị thì có Song Lộc. Anh nhất định là đi Pháp rồi, còn chị vẫn chưa rõ tiền của sẽ ùa vào nhà bằng cách nào đây.

Anh Quý ngậm lệch tẩu một bên miệng, mắt nheo lại như cười :

-Bà vào đây học được cách tiêu tiền mà lại không học lấy cách làm tiền à ? Nguy tai !
-Vợ chồng chúng tôi là cán bộ, chỉ biết tháng tháng lĩng lương của nhà nước thôi.
-Chỉ với tiền lương của nhà nước mà mua được phấn sáp, sửa được móng tay, lại chiều chiều ngồi xoa mạt chược, thế thì hơn đứt chế độ nguỵ rồi.

Ông chồng phải vội vàng gỡ bí cho vợ :

-Toàn của đi xin cả, chứ với số lương hưu ăn còn chẳng đủ nói gì may sắm.

Bà vợ lườm nhẹ chồng :

-Một tháng tiêu cả ngàn bạc, ông xin của ai được nhiều thế ?

Anh Hảo vẫn nói toang toang :

-Xin của chị bà, của em tôi, của những người ở nước ngoài. Không xin thì đào đâu ra ?

Chị Hảo có vẻ ngượng nhưng chị không thể ngồi nguyên một chỗ mà không nói, nên lại quay sang hỏi chuyện tôi :

-Chị Đại có biếu vợ chồng cậu bánh Tết không ?

-Ngon không, chị ?

-Con Thảo mang xuống cho hai cặp, bóc một chiếc cả nhà ăn thử, ôi giời, toàn là gạo, có soi kính lúp cũng không tìm ra nhân, mà gói chắc tay quá, cứ như cơm nắm. Chị nói thật, cái thứ bánh ấy có cho đầy tớ nó cũng không thèm ăn.

Tôi vẫn cười :

-Vậy hả ? Cái thứ bánh ấy là của nhà em gói đấy !

-Sao lại nhà cậu ?

-Gói chung mà, gói bánh bằng tiền lương làm sao được thật ngon ?

-Ít tiền thì gói ít vẫn cứ ngon.

-Nhà em đang cần đủ chứ chưa cần phải thật ngon.

Anh Hảo đã nổi cáu thực sự. Anh đập khe khẽ lên tay ghế :

-Cái bà này có cái tính rởm đến là hay khoe. Lúc nghèo thì khoe để người ta khỏi khinh mình. Lúc đủ cũng khoe để người ta phải thèm mình. Năm mới vào, đến chơi nhà cô em, người ta đang rầu rĩ như có đám, con trai lớn đi cải tạo, con trai nhỏ ngồi tù, con dâu thất nghiệp dắt một bầy cháu đến ăn vạ nhà bà nội, mà vẫn ngồi khoe được. Nào là thằng cả nhà tôi đang đi tham quan Liên Xô, con dâu thứ đang nghiên cứu ở Đông Đức, thằng út vừa đi bộ đội về nay sắp lấy vợ. Lại thêm ông chồng cũng sang lắm, cũng to lắm, mỗi năm được đi chơi một nước, rồi những gì nữa, bà nhỉ ? Ngồi nghe ngượng chín cả mặt mà người nói vẫn không biết ngượng.

Chị Hảo trả lời ông chồng hết sức tự nhiên :
-Việc gì tôi phải ngượng. Tôi bỏ nhà cao cửa rộng, theo chồng đi kháng chiến, nằm hầm rúc bụi cả mấy chục năm thì chồng con tôi mới thành ông kia bà nọ, tôi mới được sung sướng thì tôi phải khoe cái sung sướng của tôi. Họ theo Mỹ, đầy đủ chán rồi, rởm mãi rồi, nay họ có phải khổ sở cũng là sự công bằng. Tôi có ngửa tay xin ai cái sung sướng ấy, cái vinh dự ấy mà tôi phải ngượng !

Ồ, chị nói phải quá, đúng quá, giận chị thế nào được, trách chị thế nào được. Các nhà tri thức quá tinh tế, quá nhạy cảm thường hay quên lý sự của các bà vợ, cái lý sự dung tục và trần gian nhưng chính nó lại đang điều hành các mối quan hệ từng giờ.



**


Anh Đại đến có một mình. Anh lệnh khệnh chống can bước vào, mặc âu phục đen, thắt nơ, tóc bạc, lông mày bạc, như một ông già qúy tộc của cái thời đã xa xưa lắm. Anh lại gần bà chủ nhà vừa từ phòng trang điểm ra, cầm tay chị, nghiêng đầu hôn nhẹ một cái, rồi mới dựng can vào một cái ghế, nặng nề ngồi xuống. Vẫn là một ông già rất galant, hào hoa phong nhã nhất họ.

Chị Hoàng hất hàm hỏi :

-Toi đến một mình à ? Mụ vợ đâu ?

Anh đáp lại lúng túng :

-À, à, kêu đau lưng cả tuần nay. Bà ấy dạo này yếu tơn, yếu hơn tôi nhiều.

Chị Hoàng cười tủm tỉm :

-Mụ ấy đã thề là không muốn giáp mặt với tôi mà. Người ta sợ dân Ba mươi tháng Tư là phải. Bọn nouveaux convertis là bọn cuồng tín nhất.

Anh Quý hỏi :

-Bà lại mở cửa rước « hắn » vào rồi à ?

-Hắn nào ? Rước ai ?

-Nhà chính trị ấy !

Chị Hoàng phì cười :

-Nỡm ạ ! Lần này thì tống khứ hắn, không nhắc tới nó nữa. Lúc nãy anh Đại phải trả mấy đồng bạc xe ? Chở một thành hai, chắc họ phải đòi đến chục bạc.

-Mình đi bộ, đã đi đâu mình chỉ thích đi cuốc bộ, không tốn tiền mà khoẻ người.

Chị Hảo vỗ tay, kêu một cách yểu điệu :

-Lạy cụ, cụ đã tám mươi mà còn đi bộ được thì bọn con phục quá !

Anh Đại giương cặp mắt đã hơi đục trắng, ra vẻ ngơ ngác :

-Ai bảo với cô là tôi đã tám chục ? Tôi còn nhớ cái năm được nghe Cụ Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết tại toà thị sảnh tỉnh Tours là năm min-nớp-xăng-vanh (1920), tôi mới mười chín tuổi, đang học tú tài ở trường trung học Descartes . Năm nay là bao nhiêu ?

Anh Hảo đáp :

-Thưa bác, một ngàn chín trăm tám mươi.

Anh Đai vẫn tính toán rất thật thà :

-Tức là năm nay mình mới có bảy mươi chín. Mình kém Cụ Hồ mười một tuổi mà. Sao các cô lại nói vu cho tôi là đã tám mươi ?

Cả nhà cười lăn ra. Chị Hoàng hét lên :

-Ông tuổi Sửu, sang ngày mai chẳng tám mươi còn bao nhiêu ? Rút tuổi để lấy vợ bé, hả ?

Anh Đại đưa tay xoa đầu, nói bẽn lẽn :

-À, chẳng là mình sợ chết quá. Mình đang còn rất khoẻ, lại vô bệnh tật mà bảo chỉ vì quá nhiều tuổi nên phải chết thì thật vô lý. Người ta có thể sống được chẵn trăm kia mà !

Rồi anh đột ngột quay sang hỏi tôi :

-Năm Cụ Hồ dự hội nghị ở Tours thì cậu Việt ở đâu ?

Chị Hoàng cười giàn giụa cả nước mắt :

-Thằng Việt ở đâu ư ? Nó ở trong bụng mẹ nó chứ còn ở đâu ?

Anh Đại nhìn tôi ngờ vực :

-Năm ấy cậu chưa đẻ, hả ? Nhưng có quen Hoàng Đình Dong chứ, cùng tù Sơn La với tôi một năm mà. Bây giờ hắn làm gì, bộ trưởng hả ?

Mấy năm trở lại đây anh Đại có già nhiều. Ăn vẫn khoẻ, ngủ vẫn say, đi lại bình thường, nhưng đầu óc không còn minh mẫn như lần tôi mới gặp cách đây đã năm năm. Đôi lúc anh hỏi tôi người này với người nọ, thực ra họ đã chết từ lâu rồi, hoặc bình phẩm có tính cách thời sự một việc đã xảy ra từ những năm đầu thế kỷ. Dầu là vậy, anh vẫn là người nói chuyện rất có duyên, cư xử với mọi người nhã nhặn và tinh tế, biết tìm những lời lẽ thông minh nhất để an ủi mọi nỗi bất hạnh ở đời. Có lần tôi cùng với anh Đại tới thăm một ông anh khác tên là Đặng Tư Tề. Tôi tò mò hỏi : « Thưa anh, tại sao các cụ ngày xưa lại đặt tên anh là Tư Tề ? ».Anh Tề bảo : « Đó là một câu có trong Luận ngữ Kiến hiền tư tề- Kiến bất hiền nhi nội tự tỉnh, nghĩa là : Thấy người hiền nghĩ sao cho bằng người ta. Thấy người xấu tự xét lấy mình » . À, thì ra thời xưa đặt cái tên người không cốt đẹp, mà cốt cái dụng ý sâu xa. Nhân vậy tôi mới hỏi anh Đại : « Vậy cái tên Đại thì có nghĩa gì ? Là mong làm ông to ư ? ». Anh Đại nháy mắt với anh Tề, rồi cười : « Tưởng là thế mà hoá ra không phải thế. Ý nghĩa của nó cao sâu lắm cậu ơi ! Đại là to, là to lắm chứ gì ? Nhưng chỉ nên như vậy thôi, không nên quá tham. Tham một chút là hỏng. Ví như đã là Đại mà còn muốn thêm một chấm ở vai lập tức thành chữ khuyển. Khuyển là chó, tức thị rất không nên rồi. Hoặc giả thêm một chấm khiêm tốn hơn, ở háng chẳng hạn thì lại là thái. Thái quá cũng không tốt. Có sao sống đúng như vậy, đừng có thêm thắt, tham lam ».Năm 1925, anh Đại tốt nghiệp kỹ sư hoá tại trường Đại học Wiesbaden bên Đức, hy vọng được đem cái tài học của mình phụng sự cho nền công nghiệp của nước nhà. Nhưng ở nước nhà người Pháp lại chỉ quan tâm có sự củng cố bộ máy chính trị, cần người làm luật với người làm thuốc, chứ chưa cần người làm hoá học và văn chương. Có bằng nước ngoài không dễ tìm việc, nhưng chắc chắn là được làm rể các cụ lớn. Các cụ lớn rất thích những chàng rể tây học để bày biện trong nhà, cái của hiếm ấy chẳng những sang mà còn hợp thời đáo để. Bằng thì treo trong khung kính, người mỗi ngày một phì nộn, mỗi năm đẻ thêm một đứa con, ăn ở như người Âu Tây, nói năng như người ái quốc, muốn làm cách mạng lắm chỉ hiềm dân trí còn quá kém cỏi nên đành phải chờ. Trong khi chờ không khỏi vẫn phải sống trong cái không khí trưởng giả cũ. Thành thử vẫn có cái để ăn, lại vẫn có cái để nhớ, để tiếc, thân trong vòng nô lệ, chí vẫn bay lượn ngoài cõi tự do. Dân chúng thì mất tất cả, nhưng các nhà trí thức-con rể các cụ lớn hình như lại được tất cả ! Ông anh tôi không đến nỗi bị động như thế, anh ngấm ngầm ủng hộ tiền bạc cho các tổ chức cách mạng trong nước, không phân biệt xu hướng chính trị của họ. Rồi anh bị bắt, đi tù Sơn La một năm, nằm cùng khám với những người cộng sản, sau bị đưa đi an trí tại Mã Đảo với những người bất mãn chế độ cai trị của Pháp vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có ông hộ pháp Phạm Công Tắc, giáo chủ đạo Cao Đài Tây Ninh. Năm 1947, Pháp đưa anh Đại về quản thúc tại Sài Gòn, ở nhà ổ chuột, mở lớp dạy tiếng Pháp và tiếng Anh nuôi vợ con. Ông hộ pháp đạo Cao Đài mời anh ra hoạt động chính trị vì người Pháp đã thức thời, muốn có một nước Việt Nam độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Anh từ chối, viết thư trả lời vị « giáo chủ yêu nước » bằng một câu của cụ Khổng : Đức bạc nhi vị tôn, trí tiểu nhi vi đại, lực tiểu nhi nhiệm trọng, tiển bất cập hĩ. (Đức mỏng mà ngôi cao, trí nhỏ mà lo lớn, sức yếu mà gánh nặng thì ít khi thành công vậy). Nhưng với bạn bè thì anh nói thật : « Cụ Tắc có lòng yêu muốn thêm cho tôi một chấm trên vai, nhưng tên tôi đã là Đại, thêm một chấm không ra Đại Đại mà lại ra khuyển. Tôi muốn làm thằng Đại chứ không ham thành chó săn nên buộc lòng phải từ chối ». Anh Đại thường tự nhận có tật bông lơn từ nhỏ, những lời anh nói vui chớ nên để ý. Ví như có một công tử nọ tuổi còn trẻ mà đỗ cao muốn cầu thân với gia đình, khi nói chuyện với « ông bố vợ có thể » đã phạm sai lầm là nói chữ nhiều quá. Ông già hủ lậu ngồi nghe kiên nhẫn cả giờ, rồi mới hỏi lại : « Các cụ xưa bảo có ba cách học để thành tài : sinh nhi tri, tức là đẻ ra đã biết ; miễn nhi tri,ráng học để mà biết ; khốn nhi tri,chịu gian nan, khốn khó để biết, vậy cậu thuộc loại nào ? ». Anh chàng ngồi ngẩn ra không sao trả lời nổi, bảo rằng mình thuộc loại sinh ra để biết thì khoác lác quá, còn ráng sức học để biết lại tầm thường quá. Anh Đại liền trả lời thay : « Tôi thuộc loại thứ ba cậu ạ, tôi phải vật lộn với chữ nghĩa mới nhét nổi chúng vào đầu, bẩm sinh tôi vốn ngu, học mãi mới sáng ra chút ít ». Vì một câu nói đùa mà mất toi một chàng rể, cô cháu tôi cứ hận mãi, cái thằng công tử ấy có khoe khoang một tí nhưng có thể tha thứ được, nó hiền lành lại là con nuông một tỉ phú.

Anh Đại nghiêng người hỏi nhỏ cô em họ :

-Bữa cơm tối nay có những ai ?

Chị Hoàng nói toang toang :

-Có mấy anh em trong nhà thôi. Cái nhà này cả năm là quán trọ, riêng tối nay chỉ mời mấy người mà tôi rất quý !

Anh Đại làm ra vẻ ngớ ngẩn :

-Tôi vẫn được cô xem là rất quý ư ?

Chị Hoàng nhướng cặp lông mày vừa kẻ vẽ thật đen, thật đậm :

-Toi không dám tin à ?

-Mình ngờ rằng cô đang cần một anh hề. Mình làm anh hề già cho bà em xem chừng không thạo lắm.

Chị Hoàng giơ một bàn tay có hơi thoa một chút phấn, một bàn tay thật đẹp, khẽ véo má ông anh đã già mà còn lẳng :

-Thì vẫn phò tá nữ hoàng tại các bàn tiệc suốt hai chục năm qua mà còn chửa thạo việc ư ?

Anh Đại khẽ nháy mắt, một tay xoa má, miệng tủm tỉm rất hóm :

-Hôm qua mình còn trẻ, hôm nay đã quá già. Người già ngồi bàn tiệc chỉ nhằm có miếng ăn chứ ít nghĩ tới cách làm vui vì người khác.

Chị Hoàng ngửa cổ, kêu ảo não :

-Trời ơi ! Mình ước gì cái giây phút dịu dàng này ngừng lại mãi. Mọi người đều yêu tôi, tôi cũng yêu quý tất cả mọi người. Chú Hảo, mở sâm banh đi, không uống lúc này còn lúc nào ?

Anh Hảo giơ cao hai tay :

-Chúng ta chỉ có một chai rượu, phải đợi cái phút đầu tiên của một năm mới.

Chị Hoàng giương to mắt, hỏi lại :

-Chú vừa nói cái gì ?

-Chúng ta chỉ có một chai rượu, không thể mở vào lúc này được.

Chị Hoàng nín lặng, miệng đã hơi méo đi :

-Ai mà tin được sẽ có ngày những người ngồi đây chỉ có một chai rượu mừng năm mới.

Anh Đại pha trò :

-Cái giây phút dịu dàng đã qua rồi. Lại muốn ghét rất nhiều người rồi.

Không một ai hưởng ứng câu nói đùa của anh Đại. Lẽ ra anh không nên nói câu ấy, quả nhiên anh đã già, nếu anh trẻ hơn, anh sẽ không nói đùa vào lúc này. Con người ta vì nghĩa khí có thể từ bỏ một gia sản, một ước vọng, một lai lịch, để trở thành kẻ vô danh giữa đám đông. Nhưng có một lúc nào đó, không nhiều, thi thoảng thôi, thiếu một chai rượu vốn thích nhất, lại vào cái lúc cần có một chai rượu nhất, cái lúc ấy là cái lúc nên nín lặng, không nên đùa đã đành mà cũng không nên nói, thậm chí cũng không nên nhìn vào mắt nhau nữa, cho nó qua đi, cho nó nhanh chóng qua đi, thông thường nó đã đi qua cũng dễ dàng và tự nhiên lắm. Cái đó gọi là « giây phút nổ bùng ». Nhiều quyết định nghiêm trọng và ghê gớm thường loé lên từ cái giây phút nổ bùng.

Chị Hoàng hỏi tôi :

-Việt hút thuốc gì ?

-Thuốc em hút nặng lắm, khét lắm !

-Em châm cho chị xin một hơi.

-Chị không được hút thuốc kia mà.

-Không sao, một vài hơi thôi, cái loại thuốc của cậu chị hút sao được cả điếu.

Tôi châm một điếu Vàm Cỏ, chị hút một hơi, nhăn mặt, che miệng ho sặc sụa nhưng vẫn hút tiếp một hơi nữa, rồi trả lại tôi :

-Rót cho chị một ly nước vối.

Nhà này đã sống ở miền Nam trên hai chục năm nhưng không ăn cá biển (trừ cá thu), không nấu canh chua cá lóc, không ăn rau diếp cá, không bỏ bột ngọt hay nước cốt dừa vào các món ăn, vẫn gọi quả roi là quả roi chứ không gọi mận, dọc mùng là dọc mùng chứ không bạc hà, cá quả chứ không cá lóc, đỗ lạc chứ không đậu phộng. Và mời khách uống chỉ có hai thứ : hoặc là rượu hoặc là nước vối đã phơi ủ hết sức công phu. Chị nhấp một ngụm nước vối pha đặc, nói với anh Đại :

-Tối cuối năm mời anh đến chơi với em không phải để ăn một bữa cơm ngon. Thực đơn tối nay rất là xoàng, không phải vì muốn làm ra vẻ xoàng, mà vì hết tiền rồi. Lại chỉ có một chai rượu của chú Hảo, chú ấy chỉ muốn mở khi đã sang năm mới. Bọn ta không thể chờ đến lúc giao thừa để ăn cơm, đói quá chịu sao nổi, mà phải ăn từ vài giờ trước, ăn chay với một chai sâm banh đặt trên bàn nhưng không ai có quyền mở. Nói tóm lại, không có ăn ngon, không có cả uống nữa,nếu anh cần một bữa cuối năm như thời xưa, xin mời anh tới nhà khác hoặc về nhà. Nhà anh vẫn ăn ngon hơn nhà em, em biết. Anh chị vẫn làm cách mạng lại vẫn có miếng ăn ngon, còn nhà này đã phản cách mạng lại không có gì để ăn, thua thiệt đủ đường, tuỳ anh chọn.

Anh Đại khổ sở thật sự, anh không thể hiểu vì lẽ gì cô em anh vốn chiều quý lại nói năng với anh bỗ bã đến thế. Người ta chị nên nói tới miếng ăn một cách vui đùa, chứ không nên nói về nó một cách nghiêm trang. Ngày nào cũng phải ăn, nhưng không nên nhắc tới nó nhiều, nhất là trong cái hoàn cảnh ai ai cũng thiếu thốn.

-Không, không, cô cho gọi chúng tôi đến là chúng tôi đã hết sức vui mừng rồi. Uống một ly nước vối, ngắm nhìn cô, rồi nghe cô nói chuyện là bữa ăn thịnh soạn nhất theo ý tôi.

Chị Hoàng cười nhẹ :

-Cảm ơn ông anh. Anh luôn luôn là thằng đàn ông rất galant. Nếu anh trẻ lại khoảng hai chục tuổi thì tôi có thể yêu anh được, tôi nói thật đấy. Tối nay tôi mời anh tới đây cốt để chứng kiến một chuyện quan trọng.

Anh Đại càng khó hiểu :

-Việc nhà hay việc nước ?

Chị Hoàng bỡn cợt :

-Việc của gia đình nhưng cũng là việc của « quốc gia ».

Anh Đại lần lượt nhìn chúng tôi với cái ý cũng bỡn cợt :

-Có đảo chính à ? Phe « quốc gia » mạnh lên từ bao giờ thế ?

Chị Hoàng cười nhợt nhạt :

-Làm gì có phe « quốc gia » hả anh ? Mấy thằng trốn ra ngoại quốc, mấy thằng đi tù về, mưu độ thân còn chẳng xong nói gì những chuyện cao xa.

Anh Hảo :

-Dẫu họ có mưu lược hơn thế cũng chẳng thể đảo ngược được tình hình. Quần chúng đã đi với cách mạng thì họ còn biết dựa vào ai.

Chị Hoàng nói khinh khỉnh như một chiến sĩ rất từng trải ở chính trường :

-Quần chúng chẳng là cái quái gì cả. Chỉ là vai phụ của một vở diễn, theo quan niệm tư sản của chúng tôi. Cũng có lúc dân chúng nổi lên như một vai chính, nhưng không lâu, chỉ là giây phút với toàn bộ vở kịch. Một màn kịch chỉ có đám đông thì buồn lắm, lộn xộn bỏ mẹ, xem làm sao nổi. Cái đáng chú ý nhất vẫn là số phận lâm ly hay hào hùng của mấy vai chính.


Anh Hảo cười nhăn nhó vì cách lý lẽ bát nháo của bà chị :

-Theo ý bà, mấy vai chính của Sài Gòn năm 75 thì thế nào ?

Chị Hoàng cười rất to :

-Hiển nhiên là tầm thường quá, đã diễn cương lại còn diễn dở thì thối bằng cứt. Tôi là người được thuê tiền để vỗ tay mà còn phải đánh bài chuồn. May mà họ đã hạ màn sớm.

Anh Quý lặng lẽ nhồi thuốc vào tẩu, dáng điệu chăm chú, thận trọng, nhưng chưa mồi lửa, tần ngần một lúc mới nghiêng mặt hỏi chị Hoàng:

-Ví như có cơ hội mới, liệu “họ” có làm nên trò trống gì hơn không?

-Đã có một cơ hội để họ làm tổng thống, nhưng lời tuyên cáo nhậm chức của ngài tổng thống là kêu gọi quốc dân đầu hàng. Đã có một cơ hội để họ nắm lấy quân đội, nhưng mệnh lệnh đầu tiên cho quân đội là hãy nộp vũ khí cho đối phương. Tại sao lại là mấy thằng khùng ấy nhỉ, chứ không phải là tôi? Nếu là tôi...

Anh Quý duỗi chân, ngửa cổ vào lưng ghế, nói sõng sượt:

-Tuyệt vọng hoàn toàn à?

Chị Hoàng trỏ thẳng tay vào mặt tôi, một bên mép nhếch lên độc ác:

-Từ nay đào kép chính là mấy ông này, vở diễn chính cũng là của mấy ông này. Bọn ta hãy yên lặng đón xem.


(còn tiếp)
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
Thoạt nhìn anh Chương tôi không khỏi bật cười. Anh giống như một kép hát đã về già, nhiều xương quá, nhiều trán quá, lại mặc cái quần nhung kẻ màu vàng vừa rộng vừa dài, một cái áo len cũng rộng thùng thình đã cũ, đi đôi dép lê. Chỉ riêng cặp mắt và cái miệng là còn trẻ, khi nói chuyện anh vẫn trẻ như cách đây mấy năm. Cùng đến với anh có Bình, gọi bố tôi là cậu, tốt nghiệp kỹ sư hoá học tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, vào thành phố Hồ Chí Minh nhận công tác từ cuối năm 75. Chẳng hiểu vì lẽ gì cặp bác cháu này lại rất quý nhau. Họ khác nhau hoàn toàn mà lại nói chuyện với nhau được, tâm sự với nhau được cũng là lạ. Năm nay Bình hăm chín tuổi, sang năm mới tính theo tuổi ta là ba mươi, tam thập nhi lập, tức thị không còn là trẻ con nữa. Hiện nay hắn là trưởng phòng kỹ thuật của một liên hợp xí nghiệp, nghe nói Sở công nghiệp thành phố sắp bổ nhiệm hắn làm phó giám đốc một xí nghiệp hoá chất. Chị Hoàng biết tin này đã nói đùa : « Thời nào cái nhà này cũng có người đi xe hơi, màu có xe nhớ đón bác đi chơi Cáp với nhé. » Bình mặc chiếc quần jean nhung màu tím sẫm, áo sơ mi màu xanh nhạt kẻ chỉ trắng, gót giày đóng hơi cao, dáng dấp thanh tú, mềm mại, là người đẹp nhất giữa cái đống xương thịt hư mục, đổ nát. Anh Hảo chặt nắm lấy tay Bình, nói hể hả :

-Ai dám bảo Việt cộng chúng tôi không có người đẹp nào ?

Chị Hoàng vít đầu Bình xuống, hôn nhẹ lên hai má :

-Nếu thằng Việt cộng nào cũng đáng yêu như con thì má tình nguyện ở lại Việt Nam ăn cháo suốt đời.

Trong họ thường đồn rằng chị Hoàng rất thích những chàng trai xinh đẹp bất kể họ là Quốc gia hay Cộng sản. Với thằng Bình thì chẳng riêng một chị Hoàng yêu nó, mà cả họ đều yêu nó. Thằng bé đã đẹp lại ăn ở rất mực đàng hoàng. Bình hỏi bà bác nũng nịu :

-Tết này má Bò có lì xì cho con được vài trăm đi chơi với bạn không ?

-Tết với mày chứ không với tao, tao không lì xì cho ai cả. Nói thế thôi, khi nào con được lên chức phó giám đốc má sẽ tặng con một món quà.

Anh Chương cười hì hì :

-Thế thì sẽ chẳng bao giờ bà phải mất cho nó một xu quà. Tính nó khó chịu lắm, rất khó chịu, lên thế nào được chức phó giám đốc !

Chị Hoàng trợn mắt :

-Nó ngoan như thế mà lại bảo là rất khó chịu ? Việt công không biết dùng người rồi.

-Bà vuốt ve nó nên nó có vẻ ngoan. Thử là cấp trên nó xem, sẽ rất khó chịu, tính nó hay xét nét, lại không chịu nhân nhượng.

Chị Hoàng kéo dài giọng đầy ý tứ :

-Nó giống tính ai ở cái nhà này thế nhỉ ?

Anh Chương lại cười, nhưng môi cứ mím chặt lại như e sợ bong mất hàm răng giả :

-Giống tôi, tôi nhận là nó rất giống tôi. Cái tính ấy ở đâu cũng gây khó cho người khác.

Trong gia đình vẫn thường nói, từ sau ngày giải phóng, tính nết anh Chương thay đổi khác hẳn. Bây giờ anh đã biết chào hỏi, biết nói chuyện với người này người kia trong gia đình, ăn thế nào cũng được, mặc thế nào cũng xong. Là người bình dân hoàn toàn. Xưa kia tính nết anh chẳng những kiêu kỳ mà còn rất khó chịu. Bố là quan đầu tỉnh, cậu ấm ngồi trong lớp ngủ gục trên bàn, bạn học mách thầy, thầy xua tay : « Lặng im để cậu ngủ ! » Sang Pháp ở cả chục năm nửa chơi nửa học, về nước cầm hai bằng tiến sĩ vừa luật vừa văn chương, được giới Phật giáo ủng hộ, làm Viện trưởng Viện Đại học Huế, thay vị linh mục nổi tiếng Cao Văn Luận, rồilàm chính khách chống chế độ gia đình trị của Ngô Đình Diệm, bị cậu Cẩn nhốt hầm cả mấy chục ngày, tiếng tăm lan khắp « toàn quốc ». Diệm đổ, tướng Khánh lên cầm quyền vời anh ra nhậm chức Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, rồi làm thượng nghị sĩ trong nhóm đối lập, đọc diễn văn, đi biểu tình, trả lời phỏng vấn, là một nhân vật nổi tiếng của nền đệ nhị cồng hoà, được ông Minh lớn để vào mắt xanh mời tham gia nội các chấm dứt chiến tranh, tái lập hoà bình, liên minh với Cộng sản. Cuộc đời hoạt động chính trị của anh cho đến trưa ngày Ba mươi tháng Tư năm 75, phải nói là vui vẻ và thuận chiều, muốn gì được nấy. Tiền tiêu đã có gia đình lo, sinh mệnh chính trị đã có giới Phật giáo lo, riêng anh chỉ lo có tương lai của đất nước. Tương lai của đất nước chưa biết chắc ra sao, nhưng tương lai của anh nhất định phải ở dinh Độc lập. Chị Hoàng đã phát nguyện : « Thằng Chương phải làm tổng thống một nhiệm kỳ, tôi có chết mới nhắm được mắt ! ». Làm dân thường khó, chứ làm tổng thống có gì là khó. Lính lái máy bay còn làm được thủ tướng huống hồ một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp lại không làm được ông tổng thống ! Lần đầu tôi được gặp anh thì anh đã khác trước nhiều, là người dân thường, lại là thứ dân thường có phấp phỏng lo sợ chút ít, nên anh nhũn nhặn lắm, câu hỏi đã nhũn nhặn mà cái cách nghe tôi trả lời lại càng nhũn nhặn. Vì anh hiền lành và tuân phục nên sự nói năng của tôi cũng sổng sểnh, không gìn giữ. Có lần tôi giới thiệu với anh những món ăn ngon tại những khách sạn lớn ở Bắc Kinh, thấy anh gật gù ra dáng tán thưởng, liền nói ngay : « Cái thứ đầu bếp ở Chợ Lớn không sánh được với Bắc Kinh đâu. Bên ấy mới là bếp Tàu chính hiệu ! ». Anh nói rất tự nhiên : « Đúng là thế, tôi đã ở Đài Loan ít tháng tôi biết, họ nấu ngon lắm, các nhà hàng ở Hồng Kông cũng nấu rất ngon. » Chết tôi, tôi đang nói chuyện với một chính khách có cỡ lắm, chứ đâu phải anh dân thường. Lại phải gìn giữ một chút, đắn đo một chút, cái gì biết rõ thì nói, cái gì biết lờ mờ cứ nói thẳng là không được biết. Lại có lần tôi dám cao đàm với anh về Kissinger và chủ thuyết của Kít theo những sách vở tôi được học. Tôi hỏi anh : « Mấy lần Kít đến Sài Gòn anh có được tiếp xúc không ? ». Anh trả lời nhỏ nhẹ : « Không, nhưng tôi có nói chuyện với ông ấy nhiều lần khi tôi tu nghiệp tại Harvard, năm ấy ông ta còn là giáo sư xếp sòng một dortoir có cả ngàn sinh viên và đã là tác giả cuốn sách nổi tiếng Vũ khí hạt nhân và đường lối đối ngoại. » Rồi anh nói cho tôi nghe về các tôn sư của Kít trong ngành ngoại giao, về cái cương và cái nhu trong chính sách ngoại giao của Mỹ thời Kít đang còn là một thần tượng. Anh kết luận : « Theo riêng ý tôi Kít đã kiếm được cho Mỹ một người bạn khổng lồ là Trung Quốc, nhưng lại mất toi một sự nghiệp vì cái kết thúc bất ngờ ở Việt Nam ». Về phương diện này, nói cho thật, cái biết của anh vẫn hơn tôi nhiều lắm. Nhưng khi tôi nói với anh về cuộc kháng chiến chống Pháp ở quê ngoại tôi, một tỉnh nhỏ thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, cái đói cái khổ, lúc thua lúc thắng của một đại đội địa phương, những miền đất xa xôi tôi đã đi qua và ở lại một ít ngày, những bà mẹ chiến sĩ, những ông già gánh gạo cả tháng theo bộ đội đi chiến dịch, bộ đội ở đảo Cồn Cỏ năm đầu chống chiến tranh phá hoại, Hà Nội tháng 12 năm 1972, các con tôi đi sơ tán với bà nội, bố mẹ ở lại làm việc giữa tiếng bom nổ ở các góc phố thì anh lạ lùng và kinh ngạc hoàn toàn, như chuyện của một hành tinh khác. Quả nhiên anh không hiểu bao nhiêu về cuộc cách mạng ở Việt Nam, về hai lần kháng chiến ở Việt Nam. Anh ít biết những gì đã xảy ra ngoài cái Sài Gòn đã đành, ngay những chuyện của chính quyền Sài Gòn anh cũng chỉ biết đại khái, cái biết qua báo chí, qua lời đồn, chứ không phải cái biết qua tiếp xúc. Anh vốn e ngại mọi sự tiếp xúc với dân chúng, vì anh không biết cách hỏi, lại càng không biết cách trả lời. Anh chỉ có thể nói một cách thuyết phục với những người cùng làm chính trị như anh, thuộc các phe nhóm khác nhau trong thượng nghị viện. Cái thượng nghị viện ở trong này, nhìn cho kỹ, phảng phất giống như một khoa của trường đại học Harvard, giáo trình do giáo sư-đại sứ Mỹ tại Việt Nam soạn thảo, được giáo sư-tổng thống Mỹ duyệt y. Ở đó các sinh viên- nghị sĩ có quyền chửi Mỹ, chửi chính phủ đang cầm quyền, kiến nghị các đạo luật dân chủ, và cứ bốn năm một lần có cái vốn chính trị để ra ứng cử tổng thống hoặc trong một liên danh với tổng thống.

Bình ngắm bà bác một lúc, nói với tôi :

-Bác Hoàng mặc thế nào cũng đẹp, chú Việt nhỉ ?

Chị Hoàng múm mím môi, khuỳnh tay ưỡn ngực, nói uốn éo :

-Bác cũng như chủ nghĩa cộng sản của cháu ấy, không bao giờ già, không bao giờ xấu, vĩnh viễn là mùa xuân.

Anh Chương cau mặt :

-Cái bà này bất cứ lúc nào cũng nói chọc được.

Chị Hoàng nói đanh đá :

-Tôi nói chọc cộng sản hàng giờ, nhưng mấy cha cộng sản vẫn cứ yêu tôi. Cậu tuyên bố bắt tay với cộng sản, hết sức khâm phục cộng sản nhưng cộng sản vẫn cứ mời cậu đi cải tạo, tại sao thế ?

Anh Chương ngả người, co một chân lên ghế, giọng mệt mỏi, chán nản :

-Bà đúng là ngôi sao xấu của tôi thật, tại sao tôi cứ phải sống mãi mãi bên cạnh bà nhỉ ?

Anh Đại hỏi :

-Cậu Chương tuổi gì, tuổi Tý phải không ?

-Tôi cùng tuổi với lão Thiệu, năm Ất Mão là năm xung của tuổi Tý. Hắn mất quyền nhưng không mất của, mại thoát được cả người. Mình thì coi như mất tất cả.

Anh Quý quay cần tẩu trỏ vào chị Hoàng :

-Bà này tuổi Mão, anh Chương tuổi Tý, thảo nào chị em xung khắc nhau. Tý Ngọ Mão Dậu là tứ hành xung.

Chị Hoàng vẫn thích chọc ghẹo ông em như mắc ghiền vậy :

-Cậu Chương đâu có mất tất cả. Ba năm đi cải tạo ngoài Bắc, mất một bộ răng nhưng học được cái thiền. Sang Mỹ ăn thịt bò, uống whisky thì thiền làm sao ?

Anh Chương hỏi tôi :

-Hình như Việt đang nghiên cứu thiền phải không ?

Tôi cười :

-Muốn biết tí chút thôi, em là người của kẻ chợ, thiền sao được ?

Nói đến Phật học, thiền học, tướng số học là anh Chương có thể giảng giải, tranh cãi cả buổi, anh đang say mê môn huyền học cũng như xưa kia anh từng say mê môn chính trị học vậy. Anh ngồi dịch ra mép ghế cho được gần tôi hơn, để có sức thuyết phục nhiều hơn.

-Cậu nói thế là không hiểu gì về thiền rồi. Ai cũng thiền được, người đã xuất gia cũng như người đang hoạt động xã hội. Cái động cái tĩnh bên ngoài chẳng có liên quan gì đến thiền. Tôi nói thật, mấy năm đi học ngoài kia nếu không thiền thì tôi đã chết rồi, chết vì nhiều thứ lắm, buồn chán cũng có, tuyệt vọng cũng có, nhớ tiếc những cái đã qua cũng có. Tôi đã thiền, đã tìm được sự thăng bằng, từ đó cảm thụ được một sự tự do rất mênh mông, một thứ tự do tuyệt đối nếu có thể nói là như thế.

Tôi chưa kịp trả lời, anh Đại đã vội vàng nói xen :

-Xin lỗi, tôi muốn nói một chút về cái kinh nghiệm của tôi mấy năm đi tù ở Mã Đảo. Năm ấy xứ này chưa có học thiền, cũng chẳng biết thiền là cái quái gì, kể cả mấy ông sư tu chùa, có đúng thế không ? Mà ở Mã Đảo thì chết dễ lắm, mấy thứ có thể chết như cậu Chương vừa nói đều có cả, nhưng cái dễ chết nhất là bệnh fièvre jaune gọi là gì nhỉ, bệnh sốt vàng da, còn cái bệnh ictère cũng là sốt vàng da, nhưng ác liệt hơn, nằm nấc vài ngày là tử thần đón đi rồi, tàu tốc hành mà, anh em tôi thường nói thế. Nhiều người chết lắm, càng ngồi buồn càng dễ chết. Nhưng tôi vẫn vô bệnh tật, vẫn khoẻ như ngày còn ở nhà là do tôi làm việc rất dữ. Gánh nước, bổ củi, giặt quần áo cho bạn tù, lại vào tận các bản làng người dân tộc mua rượu cho ông Truyền, cho cụ Tắc. Cụ Tắc thì giàu lắm, giáo chủ của một đạo có đến vài triệu tín đồ, có đến thế không nhỉ, tôi cho là ông ta nói phét, chắc cũng chỉ một, hai triệu là cùng, tôi mua rượu, nói ví dụ là mười đồng một lít, về bán lại cho cụ mười lăm đồng, ăn bớt năm đồng. Tiền của ông pape Cao Đài như nước, ăn bớt dăm ba đồng có thấm tháp gì. Lúc Pháp cho ra tù, anh em cảm ơn tôi, tôi cũng cảm ơn lại, không nhờ hầu hạ anh em thì tôi cũng chết từ lâu, sống một mình, sống cho mình thì sống sao nổi.

Anh Chương vẫn hướng về tôi, tiếp tục câu chuyện về thiền :

-Một bữa nào đó cậu phải đến tôi một ngày. Tôi đang đọc một cuốn sách rất hay về thiền. Cậu là người viết nên mở rộng cái biết của mình ra nhiều lĩnh vực, thuộc nhiều xu hướng khác nhau để có được sự rộng lượng với những người mãi mãi không thể giống cậu.

Từ ngày được trở về sống tại thành phố Hồ Chí Minh, anh Chương ở hẳn nhà chị Hảo.(Vợ anh và ba con đã qua Mỹ từ giữa tháng Tư năm 75). Sống với một gia đình cán bộ cách mạng cũng tránh được lắm sự phiền phức từ nhiều phía. Phần nữa họ cũng hợp nhau, biết tôn trọng cái tự do và niềm tin riêng của nhau, biết im lặng và né tránh mọi sự tranh cãi. Chỉ duy có một khó chịu nhỏ là chị Hảo lắm nhời quá. Chị hay nói, lại nói rất to, ngồi ở đâu cũng nghe thấy tiếng nói của chị. Cả nhà đang nghe tivi buổi tối, bất chợt một đứa cháu nào đó bật ho một tiếng, lập tức chị phải tra xét tại chỗ là đứa nào đã ho, chắc hẳn bố mẹ lại lôi nó ra tắm nước lạnh phải không, tao đã dặn thời tiết trong này nóng lạnh thất thường, chớ thấy con bức mà lôi ra tắm nước lạnh, cảm chết có ngày, tiền đâu mua thuốc, bố mẹ chúng nó sao mà ngu thế, nuôi con vô tâm thế, xưa kia tao nuôi chúng mày trong rừng, cả năm không nhìn thấy một giọt nắng có đứa nào viêm họng đâu, sưng phổi đâu. Nói cả buổi, cho đến lúc tắt tivi vẫn còn nói.

Tôi nói với anh Chương :

-Bữa nào em lên anh, muốn xin anh một lá số.

-Cũng là một môn học nên biết. Cậu có nhớ ngày sinh, giờ sinh không ?

-Ngày sinh thì nhớ nhưng giờ sinh thì chịu.

-Không sao, nhìn mặt, xem tính cách có thể phục được giờ.

Anh Quý nói thêm :

-Lập số thì ai cũng lập được, nhưng xem là chuyện khác, cao thấp khác nhau là ở chỗ đoán giải. Có thể gọi anh Chương là bậc sư về môn này.

Chị Hoàng lại có dịp chọc ghẹo ông em :

-Cậu xem số của mình có đoán biết được tháng nào, năm nào thì gặp lại vợ con không ?

Anh Chương trả lời thản nhiên :

-Biết được cái xu hướng, cái có thể thôi, làm sao biết được thật rành mạch.

Chị Hoàng vẫn đay nghiến một cách khó chịu :

-Tháng Ba năm 75, anh nói cái xu hướng, cái có thể ấy khác với tháng Sáu. Năm 76 anh cũng lại giảng giải cho tôi nghe cái xu hướng của đời anh rất khác với sau mấy năm anh ở ngoài kia về. Việc đã đến rồi mới tìm ra cách đoán giải thì xem tử vi làm quái gì.

-Một trò chơi của riêng tôi, tôi có buộc ai phải tin đâu.

Anh Quý vẫn ngậm cái tẩu thuốc đã tắt nói trầm ngâm :

-Một môn học trải mấy ngàn năm vẫn còn quyến rũ ắt phải có cái gì cao sâu lắm, huyền nhiệm lắm. Bảo là trò bịp cả thì cũng độc đoán quá...

Chị Hoàng như đã có chủ định, chị hỏi đột ngột cả mấy người :

-Các ông đều đã biết lá số của tôi, vậy thì năm nay và sang năm đời tôi có gì biến đổi lớn không ?

Anh Quý nhả tẩu cầm trong tay, kêu to :

-Năm nay coi như đã kết thúc rồi, có gì phải hỏi!

-Chưa kết thúc, vẫn còn bốn năm tiếng đồng hồ nữa.

-Theo cách tính của tử vi thì năm mới bắt đầu tháng Tý, tức tháng Mười Một ta.

Chị Hoàng vẫn bướng bỉnh:

-Tôi tính theo các cụ, cứ qua giao thừa mới gọi là sang một năm mới.

-Bà con mong ước gì trong vài giờ nữa?

-Trong vài giờ nữa rất có thể xảy đến cái điều tôi mong ước.

Tôi hỏi:

-Cái điều đó hình như chị đã cầm chắc trong tay thì phải?

-Cậu nói đúng, tôi đã cầm chắc trong hai bàn tay cái sự sẽ thay đổi, nhưng tôi chưa muốn nói vào lúc này. Gần đến giao thừa tôi sẽ nói.

Anh Chương:

-Sẽ không có gì xảy ra với chị trong vài giờ nữa đâu. Năm Mùi đối với chị đã là qua rồi. Hãy đợi đến năm Thân.

-Tôi không thích đợi đến năm Thân, năm Mùi đối với tôi vẫn còn vài giờ nữa.

-Chị chờ đợi gì vào lúc năm hết Tết đến?

-Tôi không chờ đợi, cái sự mong muốn ấy tôi đã bỏ sẵn trong túi tôi đây.
Nhưng tôi chỉ công bố vào lúc sắp giao thừa.

-Nên công bố vào cái khoảnh khắc năm phút trước giao thừa, trước lúc đốt bánh pháo mừng năm mới.

-Cậu thất vọng rồi, tôi không mua pháo, đắt lắm, quá đắt. Trước lúc mở chai sâm-banh của chú Hảo thì đúng hơn.

-Ồ, thế thì sang nhất, có sâm-banh hả? Đã ba năm nay tôi không được uống sâm banh vào lúc giao thừa.

-Cậu Chương, tôi hỏi thật, cậu có chờ đợi một cái gì từ phút này cho tới năm phút trước giao thừa?

-Hình như tôi vẫn hy vọng một điều gì thật tốt lành sẽ đến vừa vặn trước lúc giao thừa. Năm Mùi tôi đã sang một đại hạn mới, tốt lắm, tốt hơn nhiều so với mười năm vừa qua.

-Cậu đã được trở về Sài Gòn rồi còn gì?

-Giữa năm Mùi có chuyện dời chỗ ở. Nhưng cuối năm sẽ có sự thay đổi lớn hơn.

-Chắc là vẫn chuyện chỗ ở. Còn bốn năm giờ nữa, đủ sức ra phi trường, lên máy bay, bay tới một vùng trời khác.
-Xưa kia là thế đấy. Còn bây giờ nghe cũng khó tin nhỉ?

-Cứ nên hy vọng đi. Có bao nhiêu chuyện vô lý không sao tưởng tượng nổi đã xảy ra trong năm năm nay!

-Ờ, ờ... cũng có thể, cũng có thể lắm – Anh Chương cười hí hí rồi quay sang hỏi Bình – Mày nghe chuyện của các bác có hiểu gì không, con?

Bình liếc nhìn tôi, cười nhẹ:

-Nghe thì vui chứ hiểu làm sao được.

Anh Chương lại hỏi:

-Con có tin ở tử vi không?

Bình vẫn cười:

-Nếu tử vi là một khoa học chính xác thì thế giới sẽ buồn lắm.

-Sao thế?

-Sự sống là bí mật. Cháu ham sống vì trước mắt mình luôn là cái bí mật, là cái chưa được biết, cái không thể hiểu. Nếu như cháu biết chắc vợ cháu sẽ rất đẹp, lại rất ngoan, cháu sẽ buồn lắm, cái biết trước ấy sẽ giết chết mọi vẻ đẹp của tình yêu. Tất cả đều được biết trước thì mọi sự buồn vui thương nhớ đều vô nghĩa, sẽ không có hy vọng và thất vọng, không có mơ tưởng, không có phiêu lưu, không có đấu tranh, không có tôn giáo, không có cả thiền. Là một sự trống rỗng to tướng. Là cái chết, chứ còn gì nữa? Bác Chương nhìn má cháu kìa! Chưa bao giờ má thấy con “lý luận” như hôm nay nhỉ? Bác Chương thì đã chịu đựng với con nhiều lần rồi. Con không giống với chú Việt, chú Việt thích nhân nhượng để chiều lòng mọi người, còn con lại muốn mọi sự yêu ghét phải luôn minh bạch.


(còn tiếp)
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
**
Mọi người đã ngồi vào bàn ăn, anh Hoàng mới mở cửa lững thững bước vào. Anh lần lượt bắt tay từng người, mỗi người đều thăm hỏi một câu thật âu yếm rồi mới vào buồng trong thay quần áo. Những ông già rất lịch thiệp, anh Đại thì lịch thiệp một cách phóng khoáng và bay bướm, anh Hoàng thì thận trọng, đúng phép tắc. Cùng đi với anh có Quân, con trai lớn của bà cô ruột tôi, hơn tôi đến dăm sáu tuổi nên tôi vẫn gọi là anh và Quân cũng xưng hô với tôi là anh, như bạn chứ không theo cái thứ bậc họ hàng. Anh sinh đẻ ở Hà Nội nhưng theo bố mẹ vào sống ở Sài Gòn từ năm còn nhỏ, cách sinh hoạt đặc dân Nam Bộ nhưng giọng nói vẫn lơ lớ nửa Bắc nửa Nam. Lần đầu tôi gặp anh vào giữa tháng Năm năm 75, nhân ngày giỗ người con thứ của cô tôi bị giặc Pháp giết hại tại Đồng Tháp Mười hồi cuối năm 50. Nghe nói anh cũng viết báo, lại là nhân viên của nhiều hãng thông tấn nước ngoài, quen biết rất nhiều tướng tá và viên chức cao cấp của chế độ cũ, đã từng sang Mỹ học nghề làm báo những mấy năm. Người như thế là tôi muốn làm quen lắm, huống hồ còn là họ hàng. Viết về xã hội trong này được người hướng dẫn thông thạo và tin cẩn là một may mắn hiếm có. Nhưng ngay tỏng lần đầu gặp nhau toi đã thất vọng hoàn toàn. Anh vừa lắm lời, vừa khoe khoang ; lại thù địch với Việt cộng ra mặt. Anh kể đủ mọi chuyện vừa bịa đặt vừa thực về những anh bộ đội giải phóng vào đóng quân tại một biệt thự rất sang nhưng lại đào hố mèo ngoài vườn ; cho xả máy điều hoà nhưng lại mở tung các cửa vì sợ bị ngạt ; gọi con ở bằng cô, gọi bà chủ bằng chị, nhìn người đàn bà nào cũng nghĩ là họ đã từng ngủ với Mỹ, mở sách của trẻ con rất lấy làm lạ là chúng cũng học Bà Trưng, Bà Triệu, tưởng đâu chúng chỉ biết có tiểu sử ông Nixon. Vừa nói vừa cười, lại còn nhìn tôi với cái vẻ khiêu khích : « Anh không tin hả ? Thì chính anh là nhà văn nhà báo mà cũng quê bỏ mẹ ». Khi ra về, ông chú tôi chạy theo nói nhỏ : « Thằng Quân nó ăn nói thế nhưng nó tốt bụng lắm, cháu ở lâu sẽ hiểu. » Tôi gắt lên : « Chú mời tôi đến mà chú để nó chửi bộ đội tàn tệ đến thế, nghe được, hử ? ». Mấy lần sau gặp Quân ở nhà chị Hoàng tôi làm mặt giân, hỏi gì trả lời nấy, nhưng hắn cứ phớt lờ như không, lại còn muốn tiếp tục trêu chọc nữa. Một năm sau tôi có việc đến một cơ quan nghiên cứu của Đảng, vừa xuống xe đã nghe có tiếng gọi : « Ông Việt ! ». Tôi quay lại nhìn người gọi, trời đất ơi ! Ai mà quen thế nhỉ ? Quá quen, cái miệng bỡn cợt, con mắt soi mói, nhưng sao lại là hắn ? Thì không là hắn còn ai nữa, nhưng tại sao, tại sao ?... Người kia đã bước lại gần, vừa cười vừa hỏi : « Anh đến làm việc có lâu không ? ». Tôi nắm chặt lấy bàn tay Quân, đúng là Quân thật, đồng chí Quân, cuộc đời kỳ ảo như trong một tiểu thuyết tình báo, da mặt nóng bừng không biết nên nói sao cho phải. Quân vẫn bỡn cợt : « Bữa gặp anh đầu tiên mừng quá, muốn chọc anh chơi, biết là anh rất giận... ». Tôi gạt đi : « Thôi, nói làm gì chuyện đó nữa ». Anh hoạt động trong ngành quân báo từ năm 1946, tốt nghiệp trường sĩ quan nguỵ ở Thủ Đức, làm việc ở cơ quan tham mưu nguỵ cho đến ngày ký kết Hiệp định Geneve. Năm 1955, anh giải ngũ, vẫn sống ở Sài Gòn với cái vỏ ngoài là nhân viên của hãng thông tấn AFP, viết bài bình luận về thời sự Việt Nam cho các tạp chí Life, Time của Mỹ và tờ Nouvel Observateur của Pháp. Với họ hàng, Quân là một nhà báo cỡ quốc tế, trong gia đình, anh là một trí thức yêu nước, ít nhiều có cảm tình với cách mạng, chỉ riêng một vài đồng chí lãnh đạo của kháng chiến mới biết được công việc chính của anh ta. Ba mươi năm làm tình báo ở những cơ quan cấp cao nhất của địch, tham dự vào nhiều âm mưu, bồ bịch với đủ mọi loại người, đủ quốc tịch, chơi chó, chơi chim, chơi cây kiểng, ăn nói như người vô tâm, làm việc như tài tử, trọng nghĩa khí, tôn thờ tình bạn và chủ nghĩa cá nhân. Sống giữa mọi người, anh là một tính cách rất rõ ràng, có một triết lý sống không mập mờ, không lẩn giấu. Còn ai dám ngờ vực một người có một cách sống rõ ràng ? Khi đã biết nhau, có lần cùng ngồi trên xe hơi do anh lái, anh bảo : « Cho đến nay tôi vẫn giữ được sự phản ứng nhạy bén cả phía trước và phía sau xe, đến các ngã tư nhìn thấy chú cảnh sát giao thông tim mình vẫn đập mạnh hơn một chút. » Nghe radio ở nhà cũng vậy, sau khi mở máy anh có thói quen vặn thật nhỏ và đưa mắt nhìn thoáng qua xung quanh. Một người làm tình báo dẫu là từng trải nhất cũng không thể giống hoàn toàn như người bình thường, nếu bị nghi nhất định đối phương sẽ tìm ra những chi tiết vô lý. Điều cốt tử là chớ để kẻ thù ngờ vực, tình nghi. Tôi hỏi : « Lúc nào người hoạt động tình báo dễ bị sơ xuất nhất ? » Anh nói : « Lúc nói chuyện, nhất là phải nói chuyện với bọn tình báo Mỹ. Cách lập luận của người cộng sản thường thiên về biện chứng pháp, thích tìm những tỷ dụ trong lịch sử, nếu lại không có bằng cấp về lịch sử thì hãy coi chừng, anh đã bị chúng chú ý. Tôi có quen tay đại sứ Mỹ ở Bangkok, William Kinmer, y cũng rất ham lý luận biện chứng, nhưng là theo cách riêng của y. Một lần thằng Adam phụ tá chính trị của đại sứ Bunker, nó còn trẻ lắm, nói tiếng Việt như người Việt, hỏi tôi : « Tại sao mày thích viết bài cho báo Mỹ ? ». Tôi trả lời thản nhiên : « Vì Mỹ buộc phải quan tâm tới Việt Nam nhiều hơn, hơn nữa họ trả tiền mỗi bài khá lắm. »-« Tại sao mày chống Cộng ? ». Tôi quát lên : « Ai nói với mày tao chống cộng ! Tao chống cộng hồi nào ? Mày nói bậy, có ngày Việt cộng nó đốp tao, tao chết mẹ ! ». Châm ngôn của tôi khi phải đối mặt với những thằng sừng sỏ là keep your emotion out - bỏ mọi sự xúc động ra ngoài ! »

Quân nắm tay chị Hoàng bóp nhẹ một cái, bà chị giãy nảy, quát the thé : « Thằng khốn nạn,tay mày như sắt ... ». Anh nháy mắt với tôi rồi kéo ghế ngồi cạnh anh Quý. Hai người nói rất nhỏ với nhau một chuyện riêng, rồi nghe Quân nói to : « Nhất định là thế, tôi biết hắn mà ! ». Anh Quý vẫn ngậm tẩu nói tư lự : « Cảm ơn cậu, tôi sẽ có cách nói chuyện với hắn. » Bình ngồi cạnh tôi, da thịt quần áo thơm nức, nom thằng bé ngon lành quá, đã có mấy cô chạy theo, không hiểu ý tứ hắn thế nào. Bình cười với tôi : « Khi nãy cháu nói hơi sỗ, chú đừng giận cháu nhá ». Tôi cũng cười : « Ai lại giận nhân vật chính của mình bao giờ ? ». Nó giương cặp mắt đen láy cực kỳ thông minh, hỏi tôi : « Định đưa cháu lên đài bất tử đấy à ? Là người tốt hay kẻ xấu ? ». Tôi trả lời : « Cho đến nay các nhân vật chính của nền văn học ta đều là những người tốt cả »- « Theo cháu, nhân vật chính phải đặt được nhiều câu hỏi cho bạn đọc. Hắn là ai ? Như thế là tốt hay xấu ? Cháu là con người như thế, phải luôn luôn tự khẳng định chứ không thể chỉ khẳng định một lần ».

Bình đưa mắt nhìn những người có mặt trên bàn ăn nói thì thào :

-Chú Việt, chú có e ngại một điều gì sẽ xảy ra trong bữa ăn tối nay không ?

-Mình thấy cũng giống như mọi lần.

-Hình như họ đang chờ đợi, đang tính toán ?

-Thì ai mà chẳng mong đợi một năm mới tốt lành hơn.

-Điều họ chờ đợi gần hơn chú ạ, họ có biết rõ cái họ đang chờ.

-Chuyện tầm phào khi nãy, hả ? Nó thế thôi chứ đầu óc rỗng tuếch.

-Chưa hẳn thế đâu, có một cái gì đó buộc họ phải tính toán thật.

Chị Hoàng gõ thìa vào cạnh bát, quát to :

-Xin mời các vị không nói chuyện riêng, nghe tôi nói một tí đã.

Anh Đại mở khăn ăn gài vào cổ áo :

-Một bữa ăn có đọc diễn văn là đại tiệc rồi !

Chị Hoàng lườm nhẹ :

-Ăn rất xoàng, rượu chỉ có một chai, tiệc tùng quái gì.

Anh Hoàng ngồi cạnh Quân hỏi nhỏ :

-Rượu của cậu à ?

Chị Hoàng nhướng mắt, hỏi Quân :

-Mày có mang rượu đến không ?

-Một chai Martell, được không chị ?

-Ở đời có số thật, có bao giờ nhà này lại chỉ có một chai rượu đón giao thừa. Tôi tuyên bố vắn tắt : vì bữa ăn rất xoàng nên mỗi chúng ta phải góp vào một câu chuyện thật hay. Cấm nói chuyện riêng.

Anh Đại cười hềnh hệch :

-Mình có cái tật : bụng đã rỗng thì tai điếc đặc, ventre creux n’a point d’oreilles.

Anh Quý bênh vực sáng kiến của bà chủ nhà :

-Chị Hoàng nói có lý. Những câu chuyện thông minh nhất đều do những người bụng rỗng viết ra cả.

Anh Đại vuốt ve tấm khăn ăn trước ngực, nhìn chăm chăm vào cái đĩa không :

-Trước hết, cái bao tử phải cho chặt, rồi cái thông minh sẽ đến sau.

Anh Quý :

-Bao tử quá chặt thì chỉ nghĩ đến sự tiêu hoá thôi. Ông Truyền hồi ở Pháp thông minh hơn hồi ở Việt Nam, lúc trẻ thông minh hơn lúc già.

Nguyễn Thế Truyền là anh em con chú con bác với anh Đại, cùng ngồi tù với nhau ở Mã Đảo, là anh em nhưng không hợp nhau về chính kiến.

Chị Hoàng :

-Dân bạch đinh dám tát cụ lớn tại bến đò Tân Đệ là phải có gan lắm.

Anh Hoàng hỏi :

-Lúc ông Truyền tát ông Vi là ở đất Thái Bình hay đã sang đất Nam Định ?

Anh Đại :

-Đất Nam Định, chứ đâu dám hành hung ở đất Thái Bình. Năm ấy Vi Văn Định là tổng đốc Thái Bình.

Chị Hoàng :

-Tôi lấy làm lạ tại sao Vi Văn Định lại chịu, cả thằng công sứ Thái Bình cũng chịu. Một ông bị cái tát, một ông bỗng nhiên hoá ra phò mã nước Bỉ.

Anh Đại nói lẩm bẩm :

-Vanité, chỉ là vanité mà thôi...

Anh Quý :

-Ông ấy đánh quan lớn Nam triều, nhưng lại bồ bịch với thằng thống sứ Bắc kỳ Tholance. Đánh tớ nhưng quen chủ thì có chuyện gì.

Anh Đại :

-Ông Truyền là người có tài lắm. Ông ấy viết văn Pháp còn giỏi hơn cả người Pháp, c’est le premier Vietnamien qui connait a fond cette langue, môn sinh của Anatole France mà...

Anh Quý chữa :

-Ngày ấy chưa có Vietnamien, chỉ có Annamite thôi !

Anh Đại phì cười :

-Ờ, ờ... thì le premier annamite, thôi, vứt mẹ nó đi, đã là annamite thì có premier cũng chả là cái quái gì.

Chị Hoàng:

-Cái năm ông Truyền ra ứng cử cùng một liên danh với lão lang băm Hồ Nhật Tân, mình ghét quá. Lão kia là đứa vô danh, mình là người có danh lại nhào tới xin làm ét cho nó.

Anh Quý:

-Nghe người ta bảo ông Truyền có tính khiêm nhường. Năm đánh lão Vi thì đi đất mặc áo đụp nâu, như anh nông dân. Năm nọ ra ứng cử tổng thống là bị ép chứ thực tình chỉ muốn là người dân thường...

Anh Đại đập bàn, quát to:

-Là lập dị, là vanité, một đời làm chính trị của ông ta chỉ là cái vanité to tướng!

Anh Quý:

-Nhưng cái chết thì khá hơn, khá hơn cả cuộc đời. Ngày Bốn tháng Chín, radio báo tin Cụ Hồ mất tại Hà Nội. Tối hôm ấy, ông Truyền mời thân bằng cố hữu tới nhà ăn bữa cơm tối với ông. Bữa đó tôi cũng được mời, đi cùng với ông bà Đại. Ăn chay, ông Truyền nhợt nhạt báo tin Cụ Hồ, một vĩ nhân còn lại của thế kỷ, người đã khái sáng một nước Việt Nam hiện đại vừa từ trần. Rồi ông nói luôn, Cụ Hồ đã mất nên ông không muốn sống thêm nữa, trên đời này chỉ có Cụ là hiểu được ông, hiểu được cả những lỗi lầm của ông, nay vị Thánh đã không còn thì ông cũng chả nên nuối tiếc cái thế giới này làm gì. Từ phút này ông đã là người chết rồi, xin có lời vĩnh biệt tất cả. Nghĩ rằng nói thế thôi, chẳng dè từ hôm sau ông tuyệt thực, nằm quay mặt vào tường, không nói hỏi với một ai nữa. Nằm được đúng mười ba ngày thì chết. Cũng là một cái chết đáng xúc động.

Quân nói khinh khỉnh:

-Dầu là một cái chết đáng xúc động cũng không thể cứu vớt một nhà cách mạng đã thất tiết. Trước sau ông ta vẫn là kẻ phản bội.

Anh Đại giơ cao hai tay:

-Nói như thế là đúng! Có tàn nhẫn một chút nhưng kết luận như thế là rất đúng. Không còn hào khí để làm cách mạng nữa thì cố giữ lấy cái tiết tháo. Chí ít cũng là một thái độ tự trọng.

Quân vẫn chưa chịu buông tha:

-Tôi cũng không tín nhiệm lắm mấy anh trí thức trùm chăn. Hèn cả, vẫn là những anh hèn. Quốc gia hữu sự, kẻ thất phu còn phải gánh trách nhiệm huống hồ là anh trí thức.

Anh Quý cười gượng gạo:

-Làm người ở cái thời buổi loạn lạc kể cũng khó nhỉ!

Quân trả lời điềm nhiên:

-Hẳn là khó rồi! Làm người đã khó, làm người trí thức lại còn khó hơn. Hằng ngày phải lựa chọn, từng việc phải lựa chọn, lầm lỡ một chút là tiếng xấu để đời.

Cả anh Chương lẫn anh Quý đều mất hẳn tự nhiên khi nghe những lời bình xét có phần gay gắt của Quân. Không hẳn là nghĩ tới chuyện đã qua, mà như có đắn đo một việc nào đó sắp tới. Quân rất hiểu họ, họ cũng biết thế, anh còn hiểu rõ cái mảnh đất họ được ươm trồng. Nhưng anh đang bàn bạc với họ chuyện gì thế? Họ đang cần ở anh sự giúp đỡ nào? Tôi không thể biết vì không bao giờ Quân nói với tôi công việc hiện nay của anh. À, chơi khơi khơi vậy thôi, lúc rảnh ngồi viết tổng kết những năm đánh Mỹ, cũng có họp hành nhưng không nhiều, đi chơi hả? Ờ thì đi, đi lúc nào chẳng được. Nói vậy thì biết vậy chứ cái tạng của anh đâu có ngồi chơi lâu được, có khi còn bận hơn cả những năm kháng chiến. Tôi đến nhà anh nhiều lần, nhưng chỉ gặp có vợ con, còn anh thì, theo anh nói, lúc ra chợ chó kiếm con Phốc nào hay hay thì mua; anh vốn rất ưa giống chó Phốc, lúc tìm một cuốn sách hiếm, lúc ra quán cà phê ngồi nhâm nhi một ly cho thoáng đầu.

(còn tiếp)
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
Vẫn còn được chơi chứ chưa phải ngày ngày đến sở,cái việc của anh, như anh nói, giống như một nghệ sĩ, lúc tập trung xây dựng tác phẩm thì không có cả giờ ngủ giờ ăn, khi đã hoàn tất lại chơi bời dài dài. Lạy trời, đối với tôi anh vẫn giữ cái vỏ ngoài, sinh ư nghệ tử ư nghệ thật. Nhưng tối nay tôi sẽ biết rõ hơn về tất cả. Đã có một bên đứng sát tới những quyết định hệ tọng, bên kia phải có sự cứu trợ kịp thời, hoặc đẩy tới hoặc chặn lại, tuỳ theo cái xu hướng tốt hay xấu của người trong cuộc. Sẽ là một màn kịch hứng thú đây, tôi nghĩ thầm, nhưng chưa một ai biết trước được cách kết thúc. Tạo hoá bao giờ cũng giàu óc tưởng tượng hơn nghệ sĩ, táo tợn hơn, và cũng tàn nhẫn hơn. Cách kết thúc của đời sống luôn luôn hợp lý, nhưng thông thường là ảm đạm, nghệ sĩ vốn nhân hậu và lạc quan hơn tạo hoá.


**

Bữa ăn của đêm trừ tịch không xoàng như lời rêu rao của chị Hoàng. Bàn ăn cũ cùng với bộ ghế 12 chiếc đã bán rồi, thay vào là cái bàn tròn rất rộng, khăn trải bàn, bát đĩa, ly tách vẫn choáng lộn như xưa, còn các món ăn dọn lên là thịnh soạn đối với thời buổi khó khăn này. Cá rút xương luộc vừa mềm, thái miếng to bày lên đĩa (mỗi khách ăn là một đĩa), rau cải xanh chẻ nhỏ nhúng tái, xếp xung quanh làm hàng, nấm Tống Cú dày thơm nhồi giò sống hầm nhừ phủ lên trên, là một món. Ốc nhồi thịt băm nấm hương, lót lá gừng, hai món. Trứng muối lâu ngày ruột vỏ xanh đen trong suốt như khối ngọc. Cá nục con nhỏ kho với dầu làm giả cá sardine à l’huile. Lạp xưởng để cả chiếc. Và canh nấm, những bát canh nấm thật trong thật nhẹ. Thực đơn tạp pí lù. Tôi chưa được ăn một bữa cơm ngày Tết nào nấu nướng như thế cả. Không có bánh chưng, không có dưa hành và giò chả, không có những món nấu cố hữu của mọi bữa ăn được gọi là trang trọng. Nhưng nói cho thật, các món đều ngon, nấu như thế là rất khéo và tuyệt ngon. Về sau tôi được biết từng món dọn lên đều hợp với khẩu vị mỗi người, tất nhiên nhà bếp đã bỏ riêng ra hai thực khách ăn tạp là tôi và thằng Bình. Anh Đại và anh Quý rất thích cá sardine à l’huile. Anh Hảo, anh Hoàng mê canh nấm. Quân thích nhắm rượu với trứng muối và ăn cơm với lạp xưởng cắn ngập chân răng. Anh Chương mấy năm đi học tập chỉ thèm có món nấm Tống Cú nhồi giò. Còn bà chủ nhà thích uống rượu vang với ốc bươu luộc. Hồi trước, có lần bà chủ nhà kỳ dị này mời khách thật sang, xe hơi đâu kín một đoạn đường để thưởng thức chỉ có một món : canh cua nấu bún sợi to với cải xanh, canh thật nóng, ớt thật cay, bưng bát mà ăn, cấm dùng thìa, vừa ăn vừa thổi, nước mắt nước mũi chảy giàn giụa. Cũng là những người biết sông, tôi nghĩ thế, vụ cái thực chứ không vụ cái danh, khỏi mất thì giờ mà sảng khoái. Nhưng là trong cách ăn, cách sống thôi, còn cách làm chính trị của cái nhà này thì dở hơn nhiều, lại chỉ vụ cái danh chứ không vụ cái thực, đã mất quá nhiều thì giờ lại còn mang thêm cái hận, cái oán.

Anh Chương ngồi trước đĩa nấm nhồi, nhăn mặt :

-Không xài được, răng lợi tôi thì xài làm sao được món này !

Chị Hoàng nguýt dài :

-Không nhai được, nuốt được thì dùng mũi mà ngửi. Vẽ chuyện !

Anh Chương cười ngượng nghịu :

-Chị Bơ ơi ! Chị ơi !

Chị Bơ từ dưới bếp chạy lên, cười hiền hậu :
-Các ông các bà còn thiếu cái gì nữa ? Tất cả là vừa rồi.

Anh Chương cằn nhằn :

-Không có món nào em ăn được cả. Có còn răng đâu mà nhai được các thứ này !

-Ờ, ờ, không có món nào thật mềm nhỉ. Ông ăn tạm thịt kho nhừ nhá ?

Chị Bơ tên thật là chị Hỉ, cũng như tên gọi thường của chị Hoàng là bà Bò, các cháu nội của bà Bò đứa là Chuột, đứa là Đen, lại có cả một con Thẽm nữa. Nói thật tục, tên đặt thật thô, bông đùa rất sỗ sàng là thói tục của cả một dòng họ. Các đời trước lễ nghi, quan dạng nhiều quá, đời sau không phá phách một chút không thể sống nổi. Ông nội chị Bơ và ông nội chị Hoàng là anh em ruột, một dòng làm quan, một dòng dân thường, là bà con nghèo sống dựa vào những bà con phú quý. Mỗi lần các cháu phải đổi phủ đổi huyện lại đánh dây thép về quê mời ông bác họ lên chơi, nhờ ông thu dọn đồ đạc, đóng buộc hòm thùng, thuê xe hoặc thuê tàu chuyển tới nơi trị nhậm mới. Còn vợ chồng con cái họ thì ra Hà Nội chơi bời thoả thích, khi trở lại nhiệm sở tất cả đã đâu vào đó, đến một cái chổi cũng không thiếu. Để đền bù công lao của ông bác-đầy tớ, các cháu mời ông ở lại phủ huyện chơi một hai tháng, ngày ba bữa cơm rượu, sáng tối hai bận cơm đen và có cái quyền nói hách với đám thừa phái, lục sự : « Thằng phủ nó nhà tôi... » . Mà cũng hãnh diện đáo để, lo lắng sốt sắng đáo để. Người con gái duy nhất của ông là chị Hỉ, lên ở với chú họ là án sát Nam Định từ năm mười lăm tuổi, thoạt đầu là hầu trà thuốc, sau là phụ việc nấu nướng, dần dần thành bà quản gia. Cô chú chết chị ở với các em thành đầu bếp chính, một đời người chỉ lo có cái miếng ăn của các em ông, em bà, thích theo cái thích của họ, ghét theo cái ghét của họ, nghĩa là chị cũng sùng bái đạo Phật và rất ghét chủ nghĩa cộng sản. Có lần chị Đại và chị Bơ cãi nhau ầm ĩ cả nhà, chị Đại quát ầm ầm : « Chị rõ thật thối, con Hoàng nó ghét cộng sản còn có lý, còn chị một đời bưng rổ cọ niêu cho nhà nó mà cũng tập tọng chống cộng ». Từ đó hai người không nói chuyện với nhau, tránh cả giáp mặt nhau. Chị Hoàng đi đâu cũng rêu rao : « Con mụ Ba-trăm-lẻ-tư ấy quá quắt lắm, đến bà Bơ hiền lành là thế mà cũng phải giận ! ». Năm nay chị Bơ đã 67, chị tuổi Sửu, kém anh Đại một giáp, còn vài năm nữa đã là 70, không chồng con, một đời hầu hạ các em mà vẫn vui vẻ, vẫn hãnh diện vì được hy sinh cho những người thân thuộc.

Chị Hảo chạy đâu từ lúc vùng vằng với ông chồng, bây giờ đã tha thướt trở lại ngồi cạnh bà chị. Chị làm ra vẻ thế thôi, chứ xưa nay chưa biết giận ai, cũng là một nét dễ mến và dễ gần. Nhưng chị không chịu nổi những câu chuyện siêu hình, phô bày cái uyên bác, cái thông minh, tôi là người nội trợ, chị vẫn nói thế, có những ham muốn tầm thường, cái vui cái giận của tôi cũng tầm thường. Có bữa gạo Long Đỉnh mới bảy đồng một ký, chị đã te tái chạy ra chợ khuân về hai tạ, gặp ai cũng thì thào : « Có tiền thì mua gạo trữ đi, đến lúc một củ khoai một chỉ vàng lại trắng mắt ». Giá tiền một cái quạt bàn của hãng National khác với của hãng Sanyo, một tấm drap vải tuy cũ nhưng dày khác với một tấm thêu loè loẹt nhưng mỏng dính, mua quần áo trẻ con thì xuống chợ An Đông, quần áo của người lớn thì ở khu Dân Sinh hoặc chợ Tân Định. Rồi quà biếu cô giáo và ông chủ tịch phường, tiền phúng và tiền mừng những nơi quen biết, khách mời ăn ngày thường và khách mời ăn ngày chủ nhật, chạy vù vù từ trên gác xuống dưới nhà, từ trong nhà ra ngoài đường, sáng sớm ở đầu tỉnh, bữa ăn trưa đã ở cuối tỉnh, thẻ thót, mời chào, tính toán, đắn đo, có lúc hí hửng như chỉ trong ngày mai chị sẽ cầm trong tay bạc vạn, có lúc lại hốt hoảng như gia sản, cơ nghiệp sắp mất sạch đến nơi, không khéo thì còn chết đói. Cái số vất vả, hấp tấp thế nào. Mà là người sang hẳn hoi, xưa kia là con gái cưng cụ Thượng, sau này là vợ ông luật sư, viên chức cấp cao của Nhà nước, các con đứa tiến sĩ, đứa kỹ sư, có ai hèn đâu mà vất vả đến thế.

(còn tiếp)
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
Chị Hảo múa đũa lướt qua các bát, nếm náp một chút, bình phẩm :

-Bà Bơ nấu ngon thì có ngon nhưng món nào cũng nhạt, ăn sợ sợ là.

Cô em uốn éo nhưng bà chị lại sỗ sàng :

-Tôi bị bệnh đái đường nên phải kiêng muối cô ạ, ăn được thì ăn, không ăn được thì chống đũa nhìn bọn mình ăn.

Anh Đại ăn uống rất ngon lành, vầng trán bóng đỏ đã lấm tấm mồ hôi. Ông em hai hàm răng giả mới làm cau có, vật vã với miếng nấm nhồi giò, ăn thì khó, bỏ đi không đành, than thở :

-Ngồi cạnh người ăn ngon mình lại không ăn được, tức không chịu nổi. -Rồi anh gắt lên – Cái ông này răng lợi còn vạm vỡ thế thì bao giờ mới chịu chết.

Anh Đại cầm đầu khăn chùi miệng, nói chúm chím kiêu hãnh :

-À, à, chết thế nào, mình định sống chẵn trăm, còn những hai chục năm nữa kia .

Rồi anh hỏi mọi người :

-Các ông các bà có tin cái răng nó có tai không ?

Chị Hoàng bỏ vội thìa canh húp dở, nhăn mặt cười ngắc lên :

-Nỡm ạ, chết sặc bây giờ !

Anh Đại vẫn nói từ tốn :

-Cái năm tôi vừa tròn bảy chục, một sáng nọ lấy tay sờ đủ hai hàm răng, đếm được băm hai chiếc, mới than : Người già mà răng không chịu rụng là hại con cháu lắm đây, ăn hết lộc của chúng nó mà. Nghĩ là nói đùa, không ngờ hôm sau rụng luôn một chiếc, tuần sau rụng luôn chiếc nữa. Năm bảy mốt rụng tiếp thêm hai chiếc, thế là mất bốn cái răng cả thảy. Lại sợ quá còn sống mà mất răng thì sống cũng vô ích. Sống cốt có miếng ăn, lại không ăn được thì chết quách cho rảnh. Cũng lại than thế. Từ đó không rụng thêm một chiếc nào nữa, cho đến nay vẫn còn hăm tám cái răng bám chắc vào chân lợi. Tức là cái răng nó có tai thật.

Uống thêm một hớp rượu, rồi như chợt nghĩ ra một điều thú vị nào đó, anh Đại giơ một ngón tay lên :

-Xin các vị chú ý : nói dại chẳng may một vị nào đó trong chúng ta chết đi...

Chị Hảo giãy nảy :

-Phỉ phui ! Năm hết Tết đến anh ăn nói đến là nhảm.

Chị Hoàng chống đũa, bảo cô em :

-Cô không muốn chết thì chết sao được, còn ai muốn chết nên mặc xác họ.

Anh Đại nói tiếp :

-Nếu chẳng may một ai trong chúng ta chết đi thì nên dặn con cháu chớ có mua hòm đẹp. Hòm gỗ tốt lại chạm trổ, lại sơn thếp có đến ba ngàn không ?

Vì là nói tới giá cả nên chị Hảo buộc phải trả lời :

-Ba ngàn hoặc ba ngàn rưỡi, thôi, không nói cái chuyện ấy, nghe ghê quá !

-Nằm trong cái hòm ấy thì khoái, nhưng đêm đến thằng gác nghĩa trang thông lưng với thằng kẻ trộm sẽ đào mả ta lên lấy hòm đem bán, còn thân mình thì... thì...

Chị Hoàng :

-Đã chết là không cần gì hết. Xác bỏ hòm, xác bó chiếu hay xác vùi nông cũng chẳng quan hệ gì. Cần nhất là phải thật sướng lúc sống.

Anh Đại kết luận :

-Theo tôi, nên mua loại hòm xoàng xoàng, khoảng bảy tám trăm bạc là được. Tiền còn dư cho con cháu nó làm vài lần gà luộc với nấm nhồi.

Chị Hảo lại tính toán :

-Hòm bảy tám trăm thì ván hở mộng vênh để lâu trong nhà thế nào được ?

Chị Hoàng hỏi kháy cô em :

-Sao bảo không thích nói chuyện chết chóc năm mới ?

-Ừ, nói thế thôi, chứ rồi các chuyện cưới xin ma chay nội cái họ này không thoát được bàn tay tôi đâu. Thời buổi khó khăn, không tháo vát, không đi đây đi đó, ru rú xó nhà, có mất cả đống tiền cũng chỉ mua được của giả.

Quân từ nãy uống rượu nhắm với trứng muối đen, món nhậu anh thích nhất, tất nhiên hơi đắt tiền, trong Chợ Lớn họ muối, gọi là trứng Bắc Thảo, chợt anh quay người lại hỏi chị Hoàng :

-Có một ông bạn tâm đắc nhất với chị sao chị không mời ăn bữa cơm tối nay ?

Chị Hoàng cười, nói lảng :

-Thì mày chẳng đang ngồi đây là gì ?

-Cám ơn chị, nhưng em muốn hỏi cái ông người Hoa kia ?

-À, chú Phùng, nhưng tối nay tao chỉ mời những người ruột thịt thôi.

-Người ruột thịt đã ai dám bỏ ra mười mấy lạng vàng cho thằng Tú đi chui ? Không mời nhau những ngày này là thiếu ân nghĩa lắm đấy nhá !

Chỉ là một câu nói phất phơ mà cả mấy người đều ngượng nghịu. Anh Chương nói buông :

-Người Tàu họ quý tình bạn lắm, họ không có lợi dụng sự quen biết như người Việt mình.

Chị Hoàng :

-Họ giúp là họ giúp chứ nhà này thì còn có gì để họ lợi dụng ?

Quân châm hút một điếu thuốc lá thơm, nhả khói, nói lấp lửng :

-Cũng vẫn có đấy !

Chị Hoàng hỏi châm chọc :

-Họ muốn kết bạn với những người chống chế độ này à ?

-Không nông cạn đến thế, ý tứ chú Phùng sâu xa hơn.

Chị Hoàng vẫn nói rất thản nhiên :

-Mấy thằng nhà báo chỉ lắm chuyện. Cái nghề kiếm ăn bằng cách bày chuyện.

Quân nhấc ly rượu cầm tay vẫn hỏi bà chị về cái ông Phùng nào đó.

-Ai giới thiệu chú Phùng với gia đình này ?

Chị Hoàng cau mặt, ngờ vực :

-Thì mày chứ còn ai ?

-Tôi rất ân hận đã dắt ông ta đến làm quen với gia đình.

Chị Hoàng gắt to:

-Nỡm vừa chứ, say hả? Có ai trách gì mày về cái việc đưa chú ấy đến đây đâu. Đang thiếu chân xoa lại vớ được một tay cao cường, rồi lại nhờ vả việc này việc khác, toàn việc tốn tiền cả, người ta vẫn đưa tay ra giúp, có nhắc đến ơn nghĩa lại còn gạt đi kia. Họ quân tử lắm.

Một câu chuyện mà chủ nhà muốn gạt đi, muốn né tránh, còn khách mời cứ bám theo dai dẳng, bất chấp sự khó chịu của xung quanh. Vậy cái anh chàng nhà báo này thật sự có ý định gì?

Anh Quý chăm chú nhồi thuốc vào tẩu nói nhỏ với Quân:

-Thôi, cái chuyện chú Phùng chẳng có can dự gì với ai ở đây, bỏ đi, nói chuyện khác.

Quân mỗi lúc một đáng ghét như người cố tình nhiễu sự:

-Có chứ, có liên quan đến nhiều người.

Anh Chương đã buông đũa ngồi nhấp rượu suông, anh chỉ thèm có món nấm nhồi giò nhưng lại rắn quá, mút mát một chút rồi đành bỏ:

-Thằng cha ấy làm chính trị, hả Quân? Có cái nhà này thích làm chính trị, chứ có phải ai cũng thích đâu. Một thằng lái buôn muốn làm ra vẻ học thức, thích ngồi đấu hót với những người có học, hắn thiếu cái đó mà, thế thôi, chỉ thế thôi.

Quân xoay ly rượu đã gần cạn, hỏi ỡm ờ:

-Thế cái thằng Jerry Rose nó thiếu cái gì mà xin được cầu thân với anh chị? Con một ông tỷ phú, học vấn tốt nghiệp Sorbonne, chức vụ cố vấn Bộ cái cách điền địa, lại rất trẻ và đẹp trai nữa. Theo anh thì thằng Rose thiếu cái gì?

Thỉnh thoảng trong câu chuyện chị Hoàng vẫn thường nhắc đến Jerry Rose. Bác gái tôi hồi còn sống cũng rất yêu hắn, coi như con ruột. Ngày bác tôi mất hắn đi theo linh cữu, chít khăn trắng như người ruột thịt. Bữa hắn bị chết vì tai nạn máy bay cùng với Nguyễn Văn Ứng là Bộ trưởng Bộ cải cách điền địa tại Quảng Ngãi, cả nhà đều khóc, rồi đưa lên chùa cầu siêu. Ngày mới sang Việt Nam, Rose làm việc tại toà lãnh sự Mỹ ở Huế, rồi cướp vợ đồng liêu là Barnes. Barnes rút súng bắn tình địch, nhưng Rose thoát chết, chạy về Sài Gòn làm báo. Trước làm cho tờ Time sau làm cho tờ Washington Post. Quân và Rose quen nhau từ ngày ấy. Ai đã một lần nói chuyện với Rose đều nhận thấy hắn dễ thương một cách lạ lùng, e thẹn và rất ít nói. “Một người Mỹ không đáng ghét”, đến với mọi người như một chàng trai tốt bụng, con nhà giàu và hết sức ngốc ngếch. Thực ra cái anh chàng người Mỹ dễ thương nhất ấy lại là một nhân viên cựu trào của CIA, là người lên danh sách các nhân vật được cái quyền chửi Mỹ và lên án chính phủ bản xứ theo đúng giáo trình của “trường đại học Nhà Trắng”. Về sau này anh Chương và cả chị Hoàng đều biết việc đó do sự thổ lộ cố ý của Bill Kohlman, thằng què, như cách gọi của chị Đại. Sáng hăm chín tháng tư, Kohlman lại nhà riêng mời anh Chương đi cùng chuyến bay rời khỏi Việt Nam với hắn, nhưng anh Chương lại mắc họp với ông Minh lớn tại dinh Độc Lập bàn việc thành lập nội các hoà bình nên để lỡ mất.

Anh Chương trả lời câu hỏi hóc hiểm của Quân hết sức tự nhiên, anh là một chính khách thuộc phái mới, chơi bài ngỏ, không cần giấu giếm những lỗi lầm của mình.

-Thằng Rose là CIA còn có lý. Nó sang Việt Nam không để làm tiền, không để tạo thế, ắt hẳn phải có công vụ bí mật rồi. Còn chú Phùng cả Chợ Lớn biết gia đình chú mấy chục năm nay, không theo Tưởng, cũng không theo Mao, chỉ là tín đồ của Thần Tài, theo cái chủ nghĩa bao tử là đúng nhất? Chẳng lẽ chú Phùng là nhân viên của Xịa, Xịa mạnh đến thế mà thằng Mỹ cuốn cờ chuồn khỏi Việt Nam?

Quân với tay cầm lu rượu còn đầy của tôi rót sang cái ly cạn của anh, rồi hỏi mọi người:

-Các vị có muốn nghe một câu chuyện vui vui nhưng hơi dài dòng, chuyện kinh tế thôi chứ không phải chuyện chính trị, chuyện làm ăn ấy mà!

Chị Hoàng vẫn chưa hết nghi ngờ cái thằng em quỷ quái, nhưng chị vẫn trả lời:

-Chuyện vui thì được, thì lúc đầu tao đã nói mỗi người phải góp vào bữa ăn một chuyện vui.

Quân nhấp một ngụm rượu, nhìn buồn bã đĩa trứng muối trước mặt đã sạch nhẵn, nói khề khà với tôi, và tôi cũng hiểu ngay anh muốn lấy tôi làm điểm tựa để tấn công vào một mục tiêu đã nhằm trước.

-Mấy ông nhà báo Hà Nội khi công kích nhóm cầm quyền nước này hay nước kia đã về hùa với Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam thường quá nhấn mạnh cái quan điểm chính trị của họ mà ít nhắc tới cái mối lợi của họ khi được thằng Mỹ chia phần. Cái chuyện kinh tế ấy mà, nhưng lại quan trọng lắm, rất quan trọng. Nhờ có chiến cuộc mở rộng ở Việt Nam mà Thái Lan xây cất được một hệ thống khách sạn cực kỳ tráng lệ cho vợ con Mỹ ở, mở rộng được sân bay cho máy bay Mỹ đậu nhờ, bán được gạo thừa vì Mỹ đang cần gạo đưa qua Việt Nam. Maroc cũng thích lính Mỹ mãi mãi có mặt ở Việt Nam vì quân nhu Mỹ sẽ đặt mua dài dài cá hộp Sumaco. Úc thì bán được thịt gà cà-ri hộp, Nhật thì bán bao nylon đựng xác chết. Khi Mỹ rút quân, thằng Hồng Kông kêu thét vì mất toi một trăm triệu đôn mỗi năm do lính Mỹ qua nghỉ phép tung tiền vào các phòng trà và các tiệm may quần áo. Chẳng có dây trói nào bền hơn cái buộc của đồng tiền. Không có đồng tiền lăn qua lăn lại ai mà yêu nổi được ai?

Chị Hoàng ngắt lời:

-Nhà này quý thằng Rose không phải vì tiền. Bọn Mỹ thằng nào chẳng keo kiệt. Đến ăn cơm chỉ biết vác xác tới chứ có bao giờ biết cầm chai rượu theo.

Quân châm tiếp một điếu thuốc, tiếp tục câu chuyện chẳng có gì là vui của anh:

-Các việc lớn xảy ra ở miền Nam này đều được bàn trong các bữa ăn, kế bên các đống tiền, có quan hệ xa gần với cái bao tử, như anh Chương nói; Ví như cuối năm 69, tôi được ông Lầu Phước Ngũ mời ăn cơm tại nhà hàng Đồng Khánh của ông. Tôi muốn nói thêm về cái ông họ Lầu này, là dân buôn nhưng khiếp lắm. Buôn á phiện mà chở bằng xe xúc, đục ruột cây nhét nhựa đen vào. Các danh tướng Đỗ Cao Trí, Nguyễn Hữu Có, Vĩnh Lộc, nói cho gọn, các ông chỉ huy của vùng 2, đều là đàn em của ông Lầu cả, là nhân viên tải hàng cả. Các hãng máy bay đi Bangkok, đi Singapore, đi Hồng Kông, đều do một tay ông thao túng. Đó là kinh tế chính trị học, thôi, không nói tới cái chuyện ấy nữa. Nói tiếp cái bữa ăn do ông Lầu là chủ tiệc, ngoài tôi là một thằng nhà báo vô danh còn thiếu tướng Phạm Đổng, bộ trưởng cựu chiến binh, anh cả của quân đội Cộng hoà, có Sơn Ngọc Thành, lãnh tụ Serei Khmer, kẻ đối đầu với Sihanouk, có Robert Shaplen cũng là nhà báo như tôi, nhưng có danh hơn và được giới quan chức Việt Nam kính nể hơn. Bàn chuyện gì? Bàn việc lật đổ ông Sihanouk để đưa ông Lon Nol lên thay. Cơ hội lật đổ sẽ nhằm lúc ông hoàng sang Pháp chữa bệnh. Ông Lầu nói: “Nếu ông Thành làm thủ tướng thì tôi thích hơn, mối bang giao hai nước Việt – Miên sẽ phát triển tốt đẹp hơn.” Bang giao có nghĩa là buôn á phiện vì bọn này có quan hệ buôn bán với Lý Mi, hiện là ông chủ của khu Tam Giác Vàng nổi tiếng Thái-Lào-Miến. Sơn Ngọc Thành còn nói với tôi và Shaplen: “Xin các ông giới thiệu trước quốc tế phong trào Serei Khmer và những người lãnh đạo phong trào này. Chúng tôi không dám quên ơn các ông.” Tôi quên một chi tiết, có một người đứng lùi lại phía sau một chút nhưng có tham dự buổi họp, các anh chị đều quen, đó là chú Phùng.

Anh Quý nói rất nhỏ, nhưng vẫn đủ để tôi nghe rõ:

-Có cả Phùng à? Cái lai lịch của thằng cha này xem ra cũng lớn nhỉ.

Quân dừng lại, điếu thuốc trên tay đã cháy quá nửa, anh dụi luôn vào đĩa gạt tàn, hớp một chút rượu, nói tiếp câu chuyện chẳng lấy gì làm vui nhưng xem chừng đã được sự chú ý của mọi người.

-Có mấy năm tôi là người làm công cho hãng Reuter. Ông chủ của tôi là thằng Jimmy Haln, giám đốc của hãng ở Đông Nam Á. Hắn là người Nam Hàn nhưng vô dân Anh, có tú tài Anh. Vợ hắn là bí thơ của Lý Quang Diệu, chỉ biết tiếng Tàu mà không biết tiếng Cao Ly. Thằng cha rất đẹp trai, cái đẹp của một thằng rất lạnh, rất rắn. Nó là người của tình báo Anh. Thằng Kohlman thì bọn ta đều biết nó là quan chức của CIA rồi, mà nó cũng không giấu giếm. Nhưng cái thằng Leguer thì xem ra chưa có ai tin nó là Xịa. Thưa, Xịa đấy ạ, Xịa có cỡ đấy ạ. Nó vốn là phụ tá của Thomas Polgar, tiền nhiệm của Polgar là Edward Shackley. Cả thằng Tôm lẫn thẳng Tét đều là Giám đốc tình báo ở Viễn Đông. Tôi vốn bồ bịch từ nhiều năm với Kohlman, nó ở Việt Nam từ thời Ngô Đình Diệm, năm nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ hai năm, mười năm cả thảy. Cáo già đấy! Nó thích chó mà tôi cũng thích chó. Quen thân nhau vì cùng có một câu chuyện để nói.

Anh Đại giơ một ngón tay:

-Anh Quân chỉ thích có chó thôi à?

Chị Hoàng phẩy tay, gắt to:

-Đừng có pha trò nhạt, bố ạ, để Quân nó kể tiếp nào.

-Không, mình hỏi thật chứ không có ý giễu đâu. Anh Quân này, chỉ biết chơi có chó thì ngoại lai quá, Tây quá, người Á Đông mình sâu sắc hơn, thường là biết chơi cả ba loại: một là chó vì nó trung thành, thứ hai là cá vì nó suy tư, thứ ba là chim vì nó bay nhảy, hành động. Một đời người biết hành động, lại biết suy tư và rất trung thành với chí hướng dẫu có chết cũng thoả lắm.

Anh Quý cầm tẩu ở tay, nói theo:

-Mình góp thêm một mẩu chuyện cho vui. Cái năm tôi và Phạm Đăng Lâm họp hội nghị bốn bên ở Paris, thì Kỳ cũng sang. Trước hôtel của vợ chồng Kỳ ở không có ký giả săn tin, phỏng vấn mà chỉ có các ông các bà bá tước, nam tước nuôi chó, đem chó đến giới thiệu với Kỳ. Hắn sộp, xài tiền ngon, bán được thì lãi lắm, cố vấn chính trị của Kỳ là Đặng Đức Khôi, hắn chính là một chuyên gia về chó, mà Kỳ cũng chỉ bàn với hắn về các giống chó, chứ không bàn chuyện chính trị. Bố hắn là Đặng Đức Dục thì lại rành về chim với mèo.

Quân nói tiếp:

-Có một con berger, loại đã đổi giống, thấp chứ không cao, tuyệt đẹp, đẻ ở Michigan đưa tới nuôi ở Florida, có một người bạn gửi qua Việt Nam cho tôi. Hắn kêu điện thoại báo trước cả tuần, con berger đó sẽ qua Tokyo bằng máy bay của hãng Panam, từ đó lại chuyển sang máy bay của hãng Air France. Cả tiền chó và tiền chuyên chở vừa tròn một ngàn đôn. Đem về nhà được một tuần thì lão Kohlman mò tới xin xem mặt con chó quý phái ấy. Và nó mê quá, không dám hỏi mua lại, nhưng tuần nào cũng đến ám mình một buổi, mất cả việc. Cuối cùng tôi cho hắn luôn.

Chị Hoàng kêu lên:

-Thằng Kohlman là cái cứt gì mà mày phải cho. Của một đồng, công một nén, quân đến ngu!

Quân cười như kẻ vô tâm:

-Giữ lại cũng chẳng được, vừa mất công nuôi chó lại mất công tiếp mấy thằng gàn đến xem chó. Cho luôn. Từ đó Kohlman coi tôi như cha nội nó. Cái thằng thích chó nhưng chẳng biết tí gì về cái nghề nuôi, nghề dạy chó cả. Tôi chơi chó công phu lắm, phải mua năm một tạp chí chuyên về chó, tờ DogWorld, một đôn một cuốn. Bịnh của chó mình phải biết, đâu có hỏi được mấy ông bác sĩ thú y. Mỗi lần con chó đau nó lại đánh xe tới kêu tôi lại coi, như một bác sĩ chó thực thụ. Một lần đến nhà nó, tôi chạm mặt với chính ngay partron của tôi là thằng Haln, rồi thằng Legeur, lão Lầu Phước Ngũ và cả chú Phùng của nhà này.

Cái kết thúc thật bất ngờ, không một ai có thể tưởng tượng nổi, lại có mối quan hệ nào đó giữa chú Phùng hiền lành, nhân nghĩa với cái đám tình báo gian manh kia. Anh Chương ngồi ngẩn ra, rồi chép miệng bảo bà chị:

-Quái lạ nhỉ, một thằng nhà buôn Tàu lại đến chơi nhà thằng tình báo Mỹ. Khó tin quá!

Chị Hoàng, cố vấn chính trị của ông em, tự khoe cái gì cũng tính được trước, bàng hoàng thật sự:

-Một thằng đút tay trong ống áo lại bồ bịch được với một thằng ghếch cẳng lên bàn, bất ngờ nhỉ? Hoàn toàn bất ngờ!

Quân:

-Cái gì bất ngờ?

Chị Hoàng:

-Chuyện ông Phùng nhà này!

-Có gì mà bất ngờ.

-Mỹ-Tàu hợp tác mày có bị bất ngờ không?

-Cũng không bất ngờ.

Chị Hoàng hỏi mỉa mai:

-Riêng mày được biết trước?

-Nhiều người biết trước, cứ gì tôi.

Anh Chương nheo mắt:

-Mấy ông lãnh đạo Hà Nội có biết trước không?

-Họ không biết trước thì làm sao có ngày Bao mươi tháng Tư?
Anh Chương:

-Chúng tôi cũng được biết trước chút ít, nhưng chúng tôi đã từ chối mọi sự hợp tác.

Quân:

-Ngày 9 tháng 1 năm 1945 Mao Trạch Đông gặp thiếu tá Ray Gromley, Trưởng đoàn quan sát quân sự của Mỹ tại Diên An đề nghị được đến Washington cùng với Chu Ân Lai gặp Roossevelt. Gromley đánh giá Mao chỉ là lãnh tụ một cuộc cách mạng của nông dân thôi, chứ chưa phải là cộng sản chính cống. Tướng Wedemeyer đặc phái viên của Roossevelt tại Trung Hoa liền gạt phắt cái đề nghị quan trọng đó đi, vì viên tướng này đã bị Tưởng mua rồi. Tưởng muốn là lãnh tụ độc tôn không thích có một đối thủ chính trị quá nguy hiểm.

Anh Chương nhìn Quân đầy vẻ nghi ngờ:

-Một chuyện quan trọng như thế tại sao tôi không được biết nhỉ?

Chị Hoàng khinh khnhr:

-Nó bịa ra đấy, mồm mép nhà báo ai mà tin được!

Quân cười ầm ầm, nhô hẳn người về phía anh Chương, hỏi:

-Ông không thể tin được ở tôi, hả?

Anh Chương trả lời dứt khoát:

-Không, không thể tin, chẳng có bằng chứng nào để tin được cái chuyện Mít Xoài của anh!

Quân đập tay xuống bàn, cười to hơn:

-Người ta thường chê các chính khách ít đọc, có đúng thật. Tôi nói theo tạp chí Những vấn đề đối ngoại, tạp chí Foreign Affairs, số ra tháng 10 năm 1972.

Anh Chương hỏi lại:

-Bài của Barbara Tuchman, nhan đề If Mao had come to Washington. Chắc là anh có biết bà Tuchman chứ, tay tổ của nghề báo chúng tôi đấy, chuyên sục mũi vào các đống tài liệu mật của nhiều chính phủ. Chính bà cũng sợ bạn đọc khó tin nên phần chú thích có ghi rõ những chuyện trên đây được trích ra từ các tư liệu số 322 và 324 của phái đoàn Trùng Khánh tại Cục Lưu trữ quốc gia.

Quân ngừng lại một chút, da mặt hơi tái vì mấy ly rượu, giọng nói dịu hẳn không còn cái vẻ bỡn cợt, thách thức nữa:

-Tôi nói các anh chị đừng giận, cái nhà này xưa nay chỉ sống bằng mộng tưởng, bằng giả định. Xưa kia có làm chính trị cũng là thứ chính trị giả định. Kẻ thù, đồng minh, dân chúng cũng đều giả định tuốt. Thắng bại cũng giả định, các nhà chính trị giả định, như trong quân đội có cái cấp đại uý giả định, đại tá giả định, capitaine fictif, politicien fictif, victoire fictive. Chính khách giả định là chính khách lý tưởng. Được cái danh chính khách, lại không phải chịu mọi sự khốn khó của một chính khách. Còn bây giờ muốn làm chính khách sẽ là chính khách thực thụ, politicien définitif, với mọi sự khốn khó thực thụ. Các anh chị dám có gan làm không? Được thì làm tổng thống, còn thua thì nhất định phải ăn cơm tù cả đời. Theo ý tôi... Thôi, để lát nữa tôi nói, gần sang một năm mới tôi sẽ nói, nói xong sẽ cút thẳng, có chửi cũng không kịp. Còn bây giờ, ta sẽ nói những chuyện vui vui hơn. Ô hay, chưa có cơm, hả? Chị Bơ ơi! Cho bọn em ăn cơm!

(còn tiếp)
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0