Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Cửa địa ngục 🔒

128 trả lời, 22.708 lượt xem — Trang 4 / 5
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-23 10:56:04Ct.Ly>
Đánh máy: khachxa

Chương 11

Phần 4


11


Tôi gần như quên huýt gió lúc về tới nhà kho. Tiếng lên đạn trên khẩu súng của Monique làm tôi giật mình dừng bước ở ngay ngoài cửa. Tuy miệng khô ran, tôi vẫn phải cố gắng huýt gió môt vài âm điệu của bài “Auprès de ma blonde”. Chòm ánh sáng của ngọn đèn pin chiếu thẳng vào mặt tôi chưa đầy một giây đồng hồ rồi tắt ngay trong lúc Monique chạy đến gần tôi. Khẩu súng lúc nặng nề trong túi áo choàng của nàng chạm vào mình tôi khi nàng vòng hai cánh tay quanh cổ tôi.
Nàng vừa thở vừa bảo:
- Suýt nữa anh bị em bắn rồi. Stuart, theo ý em mình nên đi ngay. Ngoài phi trường có nhiều chuyện náo động.
Tôi nhìn theo lời nàng chỉ. Con đường gần nhất thuộc khu vực phi trường chỉ cách chúng tôi độ một cây số rưỡi về phía dưới. Tôi có thể trông thấy một vài luồng ánh sáng thật mạnh bùng lên ở bên này con đường. Nhiều ánh đèn pha di động dọc theo hai bên mép đường. Tôi có thể trông rõ không có một dấu hiệu nào chứng tỏ có một chiếc máy bay chuẩn bị cất cánh. Rồi tôi bỗng có ý nghĩ những ngọn đèn pha đang ngừng rải rác bên cạnh phi đạo chính là những chiếc xe vận tải đang đưa bọn lính gác đến máy bay.
Tôi đoán biết ngay sự thể. Hoặc bọn chúng đã biết chúng tôi không còn ở trong lâu đài, hoặc chúng đã phát giác Anson cùng tên lính bị thương. Trường hợp nào cũng nguy ngập. Chúng tôi đã khiến cho chúng mau đoán biết vì giết mất tên gác ngoài lan can.
Monique ngồi sát vào mình tôi trong lúc chúng tôi từ từ lái xe trên con đường gồ ghề vào làng Bragawick. Trước khi vào đến trung tâm tôi biết đành phải mạo hiểm bật đèn pha. Ngay lúc vừa bật đèn lên tôi chợt để ý thấy một con đường rẽ về phía tay phải. Tôi liền quẹo vào đó, lòng tràn trề hy vọng nó sẽ nối tiếp con đường chạy ra bờ biển khỏi phải băng ngang Bragawick và gần bến tàu. Nhìn về phía trước, tôi có thể trông thấy con đường này chạy sát mé đông của phi trường. Nhưng ở đây không thấy bóng dáng một chiếc phi cơ nào và cũng không có lính gác.
Trong lúc im lặng lái xe, tôi cố gắng nghĩ ra một cách gây xáo trộn để khiến cho bọn chúng hướng mọi chú ý cách xa căn cứ hỏa tiễn. Tôi cũng muốn cho chúng không lưu tâm khu vực bãi biển. Tính toán thời gian là vấn đề sinh tử. Lẽ tất nhiên tôi không dại gì công khai gây rối trừ phi biết chắc rằng cuộc tẩu thoát của chúng tôi đã bị phát giác.
Đoạn đường chạy dọc theo bãi biển không dài lắm. Nó vòng quanh vịnh Gentry rồi chạy xuống bãi biển tôi cần đến. Với mười một cây số từ phía trên Bragawick tới mé bắc của bãi biển ở eo bể Lunna chỉ cần thời gian hơn mười lăm phút là cùng. Còn bốn mươi phút nữa mới đến giờ hẹn của tiềm thủy đỉnh trừ phi tàu tới sớm. Tôi biết không thể hy vọng được chuyện đó.
Trong lúc con đường chạy vòng quanh trở về phía tây nam qua khỏi điểm đối diện với đảo Lunna, có một con đường rẽ khá thẳng quẹo về ngả tay phải. Đó là đường chạy trở về phi trường và trại lính. Monique đập nhẹ vào cánh tay tôi và chỉ về phía bên mặt khi chúng tôi qua ngã ba.
- Có ánh đèn pha chạy tới phía này.
Tôi liếc nhanh rồi nhìn trở lại con đường mình đang chạy. Bốn cặp đèn pha đang quẹo ra khỏi khu vực trại lính. Tất cả đều lớn hơn loại đèn của chiếc Land Rover. Tôi đoán có lẽ đó là bốn chiếc xe vận tải chở đầy những binh lính. Bây giờ thì tôi tin chắc rằng bọn chúng đã biết chúng tôi bị mất tích và đã đoán đúng ánh đèn xe của chúng tôi. Cuộc truy nã chúng tôi đang khởi sự. Bây giờ đã tới lúc cần gây rối. Tôi biết rất có thể bọn chúng sẽ tìm được nơi chúng tôi lẩn trốn, nhưng dù sao cũng phải hành động. Điều cốt yếu là lôi sự chú ý của chúng ra xa chúng tôi càng nhiều càng tốt.
Tôi lạng xe vào lề đường và quay sang Monique.
- Anh sẽ cố gắng làm cho bọn chúng tưởng rằng mình đã quay trở lại Bragawick và bến tàu. Anh muốn em hãy rời khỏi xe và tìm chỗ núp trong một khe đá ngoài bãi biển. Đi với anh, để anh chỉ cho.
Tôi chạy với nàng lên đỉnh một bờ đá lởm chởm cách đường chừng hai chục thước. Tôi tìm được một khe hở chạy dài từ trên đỉnh xuống tới bãi cát ở phía dưới.
Tôi bảo nàng:
- Em hãy theo sát anh và níu chặt vào vai anh.
Chúng tôi tuột dần theo khe cát mịn xuống bãi biển. Tới đáy khe, tôi quẹo phải và kéo Monique tới dưới một tàng cây kim tước mọc từ trong bờ đá chìa cành ra trên mặt cát.
Tôi dặn:
- Em hãy ở đây chờ anh một lát. Anh sẽ trở lại ngay.
Nàng xoay mặt lên và tôi hôn nàng. Nàng dặn lại tôi:
- Mau lên nghe anh.
Tôi để lại cho nàng một khẩu tiểu liên và trèo trở lên đỉnh bờ đá, rồi chạy lại chiếc Land Rover. Tôi quẹo nó trở ngược lại, với đèn pha bật sáng, hy vọng bọn chúng sẽ trông thấy tôi trở xe lui. Đoạn tôi nhấn lút ga. Bốn bánh xe cắm chặt vào mặt đường đá trong lúc chiếc Land Rover chồm tới trước, mỗi lúc một thêm nhanh. Vừa lái xe bằng một tay, tôi vừa lấy máy truyền tin và bấm nút vi âm, nói vào máy:
- A lô, Ted?
Tiếng nói của Ted vang lại sau một lát im lìm:
- Ted đây, Stuart.
- Tôi đang định gạt chúng một vố. Ở đó có gì rắc rối không?
- Xe cộ đang chạy rộn rịp trên con đường rời khỏi lâu đài về phía nam. Chắc bọn chúng đã tìm thấy Anson.
Tôi đáp:
- Không còn nghi ngờ gì nữa. Nhiều toán lính đang đi lùng bắt bọn mình.
Giọng nói của Ted có vẻ vui thú:
- Ở đây vẫn chưa có gì lộn xộn. Theo em phỏng đoán, có lẽ chúng sẽ đổi phiên gác vào lúc 12 giờ khuya – hoặc trước đó một chút – vì Anson vốn xuất thân từ hải quân. Từ đây đến đó chắc sẽ không có ai vào nơi này làm gì.
- Chú đừng quá tin tưởng như vậy. Hãy cố xuống đây trước mười hai giờ khuya.
Tôi lái chiếc xe chạy lên, qua khỏi con đường rẽ vào phi trường gần hai cây số. Tới đây, tôi nhảy xuống và tìm một hòn đá nặng bên lề. Hòn đá vừa đủ nặng để đè sát chân ga xuống sàn xe. Tôi kê nó vào đúng vị trí. Máy xe gầm lên, làm rung động toàn thể chiếc xe.
Giữ cho cửa xe phía tài xế mở, tôi gài số thật nhanh tới số lớn nhất khi chiếc Land Rover vừa bắt đầu có trớn. Chiếc xe hơi loạng choạng vì tôi sang số quá nhanh. Cuối cùng tôi vừa lăn mình ra ngoài cửa, vừa bẻ quặt tay lái về phía tay phải.
Vai bên mặt của tôi chạm vào cỏ gai bên lề đường, trong lúc tôi cố bình tĩnh để lăn tròn cho khỏi bị thương, với khẩu tiểu liên kẹp chặt sát ngực bằng cả hai cánh tay, như một thủ môn ôm quả bóng sau khi vừa chụp được và đang té nhào trên mặt đất.
Khi tôi ngừng lăn, đầu óc tôi đã choáng váng. Tôi quỳ gối lên, vừa kịp trông thấy chiếc Land Rover nghiêng về một bên trong lúc leo lề và tiếp tục phóng lên mặt dốc về phía bờ đá. Lúc lên tới đỉnh dốc, tốc độ của xe vẫn còn không dưới một trăm cây số giờ. Theo đúng đặc tính đặc biệt của nó, chiếc Land Rover quả thật là loại xe leo dốc nhanh không kém lúc chạy trên đường bằng.
Chiếc xe vượt luôn mép bờ đá khá cao và phóng ra ngoài khoảng không phía trên bãi cát chừng hai thước. Cây cản trước cắm xuống cát, rồi chiếc xe lật nằm ngửa, trong lúc bốn bánh xe vẫn quay tròn trong không khí như mấy cái chân của một con bọ hung bị lật ngửa, ở cách tôi độ ba chục thước.
Tôi tuột xuống bờ đá và chạy về phía chiếc xe, tay mò tìm hộp quẹt. Tôi nhất quyết làm cho nó phải cháy. Nhưng tôi khỏi cần nhọc công. Tôi vừa chạy được năm sáu bước thì một tiếng nổ hất ngược vào mặt tôi, làm tôi phải thối lui. Tôi ngã xuống bãi cát mịn và quỳ gối một hồi, nhìn chiếc xe bốc cháy, những ngọn lửa như những chiếc lưỡi đỏ tươi liếm lên nền trời đêm. Khói đen cuồn cuộn tuôn vào bầu không khí cuồng nộ. Trong lúc đó, từng làn sóng biển vẫn khoan thai lăn lên để rửa sạch bãi cát cách chỗ xe cháy khoảng mười thước. Tôi không lo sợ bọn chúng sẽ chạy tới kịp.
Trong khi đang chạy trở về nơi Monique ẩn núp dọc theo bãi biển cách gần hai cây số, tôi bỗng nghe tiếng nói của Ted vang lên từ chiếc máy truyền tin nhỏ:
- Stuart! Lửa cháy ở đâu vậy?
Tôi vừa thở hổn hển vì phải chạy trên mặt cát lún, vừa đáp:
- Kế dụ địch của tôi. Chiếc Land Rover vừa chạy ra khỏi bờ đá lật ngược trên bãi biển và đang cháy. Chú hãy mau chạy ra khỏi chỗ đó!
Rồi tôi phải liều mạng quẹo lên nơi cát cứng hơn để có thể chạy nhanh. Tôi biết như thế tôi sẽ bị kẻ nào đang đi trên đường trông thấy. Nhưng tôi cần mạo hiểm mới hy vọng không bị toán xe truy nã chạy tới bắt gặp.
Chạy trên cát, dù cát không lún, là một việc rất khó. Tôi tưởng chừng trái tim của tôi có thể sẽ nổ tung ra trước khi tôi trở về được nơi tôi để Monique ngồi chờ dưới bóng cây kim tước. Quả nhiên có chuyện trở ngại xảy ra đúng như tôi lo sợ. Tôi vừa chạy ra khỏi ngã ba chừng một trăm thước thì tôi nghe tiếng bốn chiếc xe vận tải rú ga phóng về phía con đường ven biển. Tôi liền bò lên bờ đá và nép mình vào đó một lát mới thấy ánh đèn tiến tới gần ngã ba.
Đoàn xe bớt tốc độ để chuẩn bị quẹo mặt. Chiếc dẫn đầu có vẻ ngần ngại trong giây lát. Tôi thở ra một hơi nhẹ nhõm khi đoàn xe quẹo trái về phía chiếc Land Rover đang cháy và lại gia tăng tốc độ.
Tôi nghe thùng xăng của chiếc Land Rover nổ vang đúng lúc ấy. Lửa bay tung tóe lên cao và lại cháy dữ dội. Tôi đeo vào bờ đá, thở một hồi, thầm cảm tạ Đức Chúa. Nhưng tôi không thể phí phạm nhiều thời giờ vào việc này. Tôi đã mất một chút thời giờ để đánh lạc hướng, nhưng tôi cũng đã kéo cuộc tìm kiếm của bọn chúng tới một nơi chỉ cách điểm hẹn của chúng tôi chưa đầy hai cây số. Nếu trên tàu của chúng có kẻ nào trông thấy dấu hiệu thì không khác gì tôi đã chỉ chỗ cho chúng. Nếu tôi đoán không sai thì chúng phải chờ cho ngọn lửa bớt cháy mạnh một chút mới có thể biết rõ chúng tôi không bị cháy theo xe. Nhưng tôi phải sử dụng thời giờ thật khôn khéo, nếu không sẽ không còn thời giờ để tẩu thoát.
Tôi tụt xuống bờ đá và lại chạy. Nhờ được nghỉ ngơi một lúc, tôi đã bớt mệt. Tôi lo chạy và giữ cho hơi thở được đều đặn đến nỗi suýt qua khỏi nơi Monique đang chờ tôi.
Nàng cất tiếng gọi:
- Stuart!
Tôi dừng chân, chạy trở lại, bò vào bên cạnh nàng, thở không ra hơi. Nàng thì thầm tiếp:
- Em tưởng anh đã bỏ chạy khi em trông thấy lửa cháy.
Tôi trả lời:
- Chỉ có chiếc Land Rover cháy. Mình cũng không lợi thời gian được bao nhiêu. Rất có thể chúng sẽ bị kẹt ở đó. Cho tới khi lửa tắt. Và chúng sẽ thấy không có mình trong xe. Anh hy vọng chúng sẽ tưởng mình chạy về ngả Bragawick. Nhưng anh không dám cá ăn chắc như thế.
Nàng mò vào cổ tay tôi:
- Mấy giờ rồi?
Tôi liều mạng che tay chớp ánh đèn pin lên mặt đồng hồ.
- Mười một giờ bốn mươi lăm. Còn mười lăm phút nữa, nếu mình may mắn. Nhưng không có Ted.
Tôi bấm nút máy truyền tin.
- Ted! Chú còn làm gì nữa? Chỉ còn mười lăm phút!
- Alô, Stuart. Vẫn chưa xong. Có lẽ phải mất mười hoặc mười lăm phút nữa. Cái gì mà gấp rút vậy? Chưa tới mười hai giờ khuya mà.
- Chắc chú sẽ không tới đây kịp. Và tôi không thể giữ tiềm thủy đỉnh để chờ chú, trong lúc trong vịnh đầy những ngư lôi đỉnh. Bọn lính gác sắp đổi phiên rồi đó. Chú hãy mau lên!
Ted vẫn bình tĩnh bảo:
- Anh đừng nóng. Em gần xong rồi đây. Hiện giờ em không thể bỏ đi được. Em đã gỡ cho tê liệt tất cả ngoại trừ Plymouth và Luân Đôn.
- Chúa ơi! Mỗi hỏa tiễn đều có đánh dấu sẵn hay sao?
- Anh đoán đúng.
- Thế thì chú cố cho nhanh lên!
Tôi xoay cái hộp ra sau lưng và quay sang Monique.
- Mình nên đi ngược lên phía trên một chút. Em có thể bước nhanh được không?
Giọng nàng rất vững.
- Em khỏe lắm rồi.
Chúng tôi cố hết sức bước thật nhanh, nhưng chẳng nhanh được bao nhiêu. Tôi lại phải liều mạng xuống gần mé nước là nơi cát cứng hơn. Đêm khá tối. Chỉ có các vì sao rọi xuống một chút ánh sáng. Nhưng lúc này cần nhanh chân hơn là bí mật. Tôi có thể trông thấy ánh lửa của chiếc Land Rover sau lưng chúng tôi, bây giờ đã yếu hơn nhưng vẫn còn cháy. Tôi hy vọng bọn chúng vẫn còn chờ cho tới khi lửa tắt.
Căn cứ theo ký ức về bức họa đồ, chúng tôi chỉ còn cách điểm hẹn gần một cây số. Chúng tôi đang chạy qua một khoảng bãi biển có nhiều tảng đá trồi lên khỏi mặt cát từ trên xa cho tới bờ nước. Thỉnh thoảng chúng tôi lại vấp chân trong bóng tối. Lần thứ ba tôi nâng Monique dậy sau khi nàng vấp té, tôi chợt nhận thấy nàng đã gần như kiệt quệ. Lúc bước qua khỏi tảng đá, tôi dẫn nàng lên bờ, cùng ngồi dưới một gốc kim tước.
Chúng tôi chưa kịp lấy lại hơi thở thì tôi bỗng nghe tiếng động cơ xe vận tải rú lên trên đường về phía tay trái. Tôi lại trèo lên đỉnh bờ đá, nhìn qua đám cỏ cao mọc trên đỉnh. Có hai chiếc xe vận tải. Chúng đang chạy thật nhanh về phía tây trên con đường dọc theo bờ biển. Nơi tôi đang rình là nơi xa đường hơn hết, nhưng tôi vẫn có thể trông thấy trên mỗi chiếc xe có hơn mười tên lính võ trang trong lúc xe chạy qua.
Hai chiếc xe vận tải đang chạy về phía tây. Có lẽ tôi đang được quan sát một cuộc hành quân gọng kềm gồm hai chiếc xe chỏ đầy người tiến về hướng tây và hai chiếc tiến về hướng đông. Nhìn về phía chiếc Land Rover đã cháy rụi, tôi có thể trông thấy hai cặp đèn pha di động về ngả Bragawick, có lẽ để đổ quân xuống tìm kiếm ở mút bãi biền đàng kia. Bọn chúng đã thấy rõ chúng tôi không bị chết cháy trong ngọn lửa.
Tôi còn nhớ bãi biển từ đảo Lunna đến vịnh Lunna dài độ chừng năm cây số. Nếu bọn chúng ngừng lại để lục soát mỗi một bụi cây dọc theo phía dưới bờ đá, công việc đó sẽ mất khá nhiều thời giờ. Nhưng với một số người quá nhiều và đầy đủ đèn bấm như thế, có lẽ chúng sẽ lục soát rất nhanh và có thể tới nơi chúng tôi vào khoảng mười hai giờ khuya.
Mãi tới lúc này, nhìn kỹ vị trí tương đối của con đường, tôi mới nhận thấy chúng tôi hiện đang ở sát điểm hẹn mà Andrews đã chỉ định. Cuộc đào tẩu đã qua. Bây giờ chỉ còn chờ đợi.
Tôi tuột trở xuống và tìm gặp lại Monique. Tôi hỏi:
- Em không hề gì chứ?
- Không sao. Nhưng mệt quá. Mình có phải đi xa hơn nữa?
- Mình tới nơi rồi. Bây giờ mình chỉ việc ngồi đợi Andrews.
- Và Ted.
Tôi bảo:
- Phải.
Nhưng trong bụng tôi có một cảm giác đau đớn. Cuộc tìm kiếm đang diễn ra trên bãi biển. Tôi có thể trông thấy ánh đèn ở cả hai phía, không phải đèn xe mà là đèn pin đang chiếu loang loáng giữa những lùm cây, trong lúc cả hai toán người truy nã bắt đầu tiến gần chúng tôi từ hai phía bãi biển. Ánh đèn lay động không ngừng. Bọn chúng di động nhanh hơn tôi tưởng.
Chúng tôi ngồi im lìm. Tôi biết nàng đang mệt. Tôi biết tôi cũng mệt. Tôi choàng hai cánh tay tôi quanh mình nàng và nàng giữ bàn tay của tôi sát vào gò ngực êm dịu của nàng. Tôi kê má trên đỉnh đầu nàng.
- Stuart.
- Em nói gì?
- Tình thế ra sao?
- Không đến nỗi tệ nếu Andrews đem được tiềm thủy đỉnh đến đây.
- Còn nếu ông ta không đến được?
Tôi khích lệ:
- Em đừng nói bậy. Ông ta sẽ đến.
Nàng hình như không nghe tôi nói và tiếp tục theo ý nàng:
- Nếu ông ta không đến, em ước mong anh hiểu rằng em yêu anh. Em chưa bao giờ nói điều đó với anh.
- Lẽ dĩ nhiên anh đã hiểu. Khỏi cần phải em nói ra bằng lời. Tất cả những lời nói đã bị méo mó và rách nát vì đã qua quá nhiều cửa miệng của những người thốt lên một cách quá dễ dàng mà lại không hiểu được ý nghĩa.
Nàng không nói gì trong một hồi lâu. Tôi cố giữ cho tâm trí thật trống rỗng. Những hình ảnh đang muốn nhảy chồm vào đầu óc tôi để bắt tôi quan sát thật sự chẳng thú vị chút nào. Tôi nhất định quay mặt khỏi ánh sáng trong ngọn đèn chiếu, nhưng có một cái gì mạnh hơn cả ý chí của tôi bắt tôi phải nhìn vào. Luân Đôn trong đống gạch vụn không còn lớn hơn một nắm tay, đúng cảnh tôi đã trông thấy tại Nagasaki ba ngày sau khi bom nổ. Ánh sáng chói lòa xuyên qua kẽ mắt trong vụ nổ bom ở Bikini. Hội Đồng Nội Các quyết định sai lầm, muốn tỏ ra kiêu hùng theo gương của Churchill và chui đầu vào dưới một nắm tay phá hoại mà Không Lực Hoàng Gia lần này vô phương cứu vãn. Ted trong ngôi nhà gỗ dùng làm đài kiểm soát hỏa tiễn cố tìm cách ngăn cản thảm họa và bị bắt ngay tại đây bởi bọn lính gác đồng phục xám rồi bị đem ra xử bắn. Ted nằm trên nền nhà bằng bê tông của đài kiểm soát trong một vũng máu lầy nhầy. Monique úp mặt xuống bãi cát mềm, mái tóc huyền của nàng bị cát bạc phủ lên. Tôi tắt ánh sáng bằng một cử chỉ vặn mạnh trong trí và kêu lên:
- Chúa ơi!
Chắc hẳn tôi phải kêu to lên, khiến cho Monique phải thì thầm hỏi:
- Gì vậy, Stuart?
Tôi đáp:
- Xin lỗi. Anh nói trong cơn mơ màng.
Nàng lại nói:
- Stuart, em không thích đưa ra một mối hy vọng giả tạo, nhưng hình như có cái gì ngoài kia.
Nàng chỉ tay về phía biển. Trái tim tôi lồng lên tựa hồ có mấy cây điện cực thọc vào đó. Tôi cố hết sức nhìn, nhưng vẫn không thể trông thấy gì cả.
- Trông nó giống như cái gì?
Nàng có vẻ lúng túng.
- Em không chắc lắm. Trông nó… giống như một khối đen, tất cả chỉ có thế. Đen hơn cả bóng tối. Nó hơi vuông vuông, với một mũi nhọn nhỏ trên đỉnh.
Tôi bảo:
- Rất có thể đó là một cánh buồm. Anh vẫn không thấy gì. Mắt em tốt hơn mắt anh.
Tôi nhìn đồng hồ tay rồi tiếp ngay:
- Đã quá mười hai giờ khuya.
- Nó vẫn còn đó thì phải? Stuart, nó hãy còn kia!
- Kể ra cũng đáng thử liều, nhưng mình bật đèn lên tức là chỉ rõ vị trí của mình. Anh hy vọng Andrews đã đáp vào bờ, nếu em không lầm. Đây, em hãy khum hai bàn tay lại quanh loa đèn để ngăn chặn ánh sáng chiếu ra hai bên.
Khi hai bàn tay của nàng đã bọc quanh mặt kính của cây đèn pin, tôi hít một hơi thở dài và bật nút. Tôi chiếu đèn theo ba chữ đã ước hẹn để nhận biết nhau.
Chúng tôi nhận được phúc đáp ngay tức khắc. Không phải từ bóng tối ngoài biển, mà từ toán truy nã gần chúng tôi nhất, về phía đông nam. Đó là một tràng tiếng nổ nghe như tiếng súng trường. Tôi không thể trông thấy đầu đạn trúng vào những chỗ nào, nhưng chắc chắn rất gần vì nhiều hạt cát tung vào mặt chúng tôi. Bọn lĩnh đã tới gần, chỉ còn cách chúng tôi không quá ba trăm thước. Tôi kéo Monique nép vào dưới cây kim tước.
Tôi bảo nàng:
- Em hãy tiếp tục nhìn ra ngoài biển trong lúc anh chứng tỏ cho bọn chúng biết mình không phải là hạng người không biết tự vệ.
Tôi lấy cây tiểu liên và bò ra ngoài bãi biển. Tôi bắn hai phát về hai phía, không cần nhắm vào gì hết. Tôi biết khoảng cách quá dài so với tầm đạn của một khẩu tiểu liên.
Không có tiếng súng trả lời. Nhưng những ngọn đèn pha bắt đầu di động về phía chúng tôi nhanh hơn ban nãy. Bọn chúng cũng biết khoảng cách còn quá xa. Tôi bắn thêm mấy viên về cả hai phía. Ánh đèn pin liền tắt. Tôi biết mình không thể bắn trúng ai ở khoảng cách này. Nhưng tôi biết bọn chúng đang im lặng tiến tới gần chúng tôi trong bóng đêm.
Bỗng Monique cất tiếng gọi lớn:
- Stuart! Stuart! Coi kìa! Có ánh đèn!
Tôi liền nhìn ra biển. Dấu hiệu của tôi không phải chỉ được trả lời bằng một ánh đèn, mà bằng hành động. Một luồng ánh sáng từ một điểm cao hơn mặt nước chừng ba thước. Tôi bối rối mất một giây cho đến khi nhận thấy nhiều bóng người chen chúc nhau qua luồng sáng.
Rồi tôi quả thật đó là chiếc tiềm thủy đỉnh. Nhiều người đang đổ ra khỏi nắp tàu chạy lên boong. Chiếc tiềm thủy đỉnh chỉ cách xa bãi biển bảy tám trăm thước.
Một phút sau, tôi hiểu vì sao có nhiều người trèo lên khỏi nắp tàu. Tôi trông thấy những lằn đạn trái sáng từ ngoài biển bay theo hình vòng cung vào hai đầu của bãi biển. Trên tàu có ai thông minh đoán đúng ánh đèn pin. Họ liền bắn vào những nơi ban nãy vừa thấy ánh sáng. Sau loạt đạn trái sáng đầu tiên, tôi còn nghe thêm tiếng khạc đạn đều đặn của hai khẩu đại liên bốn mươi ly đặt ở mũi và lái của tiềm thủy đỉnh bắn vào hai đám quân truy kích trên đảo. Monique ôm chặt cánh tay của tôi, múa may như điên cuồng, trong lúc vẫn còn ngồi trên cát.
Tiếng súng chỉ bắn một hồi không lâu lắm, rồi ngừng hẳn. Trong bầu không khí im lặng cô đặc, tôi chợt nghe một tiếng nói vọng lên từ mé biển.
- Dunbar! Dunbar! Ông ở đâu? Tôi ở phía này!
Đó là tiếng nói của Colin Andrews.
Tôi la to:
- Chúng tôi đang tới đây!
Tôi cầm tay Monique và chúng tôi chạy loạng choạng xuống bãi biển, mang theo hai cây tiểu liên. Khi chúng tới chỗ cát ướt ở gần nước, tôi có thể trông thấy một bóng đen đứng bên cạnh một vật thấp vừa được kéo lên mặt đá cuội. Chúng tôi cùng tiến lên về phía ấy. Đó là Andrews. Ông ta nắm cứng cánh tay của tôi.
- Dunbar, tôi mừng được gặp ông an toàn. Chào cô Ménard.
Giọng nói của ông ta có vẻ lãnh đạm. Tôi cất tiếng cười một cách lạc lõng trong lúc ông ta nói tiếp:
- Mình hãy ra khỏi đây ngay. Phe mình chỉ có chừng này?
- Không. Em tôi đáng lẽ đã có mặt tại đây. Ông đợi tôi một lát.
Tôi lôi chiếc máy truyền tin từ sau lưng ra trước và nói vào máy:
- Ted! Stuart đây! Chú hiện ỏ đâu?
Ted trầm tĩnh trả lời:
- Kìa, anh hãy nói nhỏ một chút. Coi chừng kẻo bồi thường máy vi âm đó. Em vừa xong việc ở đây và sẽ chuồn trong một phút nữa.
Ngay sau tiếng nói của Ted, tôi nghe một tiếng súng nổ, tuy không gần chúng tôi, nhưng qua bộ phận phóng thanh nhỏ xíu của chiếc máy truyền tin, nghe thật dòn và lanh lảnh.
- Ai bắn vậy, Ted?
- Không có gì đáng kể. Chỉ có hai tên gác vừa đến và bắt gặp xác chết bên ngoài. Tụi nó đang thân tặng em vài hiệp. Em sẽ xử tội bọn chúng, anh đừng lo.
- Ted, tàu đến rồi.
Ted đáp ngay:
- Em rất tiếc phải trễ chuyến này. Anh hãy lên tàu và nhổ neo đi. Em sẽ gặp anh sau, ngay sau khi em thanh toán xong mấy tên hề này.
Colin Andrews lấy chiếc máy truyền tin khỏi tay tôi và nói với Ted:
- Dunbar, đây là Colin Andrews. Có lẽ chúng tôi không thể chờ ông được. Nếu không, và nếu ông có thể đoạt một chiếc tàu, chúng tôi sẽ chạy quanh khoảng bốn dặm về phía nam, trong biển Friday Sound, lâu tới mức tối đa của chúng tôi.
Tiếng nói của Ted vang lại:
- Được rồi, xin cám ơn ông. Bây giờ tôi phải đi. Tôi sẽ cố gắng đến thật sớm.
Andrews trả máy truyền tin lại cho tôi và bảo:
- Thôi, mình đi. Trễ quá rồi.
Chúng tôi đỡ Monique bước vào chiếc xuồng cao su và đưa nàng tới phía mũi, qua khỏi dàn chèo ngắn. Andrews và tôi cùng đẩy xuổng, lội cho tới khi nước lên tới đầu gối mới nhảy vào. Ông ta tiến tới trước và cầm chèo. Tôi buông mình xuống khoang.
Ông ta nói:
- Chở hơi quá sức, như một chiếc thuyền du khách ở Cowes(1). Nhưng mình sẽ đi tới nơi.
Tôi nhìn về phía sau lưng trong lúc ông ta khởi sự chèo. Hai toán người săn đuổi chúng tôi ban nãy trên bãi biển đã nhập lại thành một. Bọn chúng đang tìm chúng tôi dưới cây kim tước với những cây đèn pin bật sáng. Chúng vẫn chưa có ý nghĩ chúng tôi đã rời khỏi bãi biển. Trước khi chúng kịp hiểu sự việc đã xẩy ra như thế nào thì hai khẩu đại liên bốn mươi ly lại khai hỏa, bắn xối xả vào đám đèn. Nhưng các xạ thủ không thể bắn thấp xuống để cho trúng đích vì họ biết chúng tôi đang ở trên đường đạn. Tuy nhiên, nhưng tiếng nổ khủng khiếp trên đỉnh bờ đá cũng khiến cho bọn người săn đuổi phải tắt đèn.
Andrews đang cố sức chèo mạnh mái chèo, nhưng khoảng cách từ chúng tôi tới bãi biển chỉ gia tăng một cách vô cùng chậm. Chiếc xuồng như bị ai kéo trì lại. Xuồng cao su là loại nặng nề khó chèo hơn hết. Nhất là khi phải chở tới ba người, thì lại càng tệ hơn nữa.
Tôi cởi đôi giày và chiếc quần tây dài cùng áo choàng. Tôi chèo ra khỏi xuồng, xuống dưới nước và bắt đầu đẩy vào đuôi xuồng hình tròn. Tôi đạp thật lâu vào đáy biển đầy cát. Được mấy bước, đáy biển thụt sâu và tôi tiếp tục đạp chân trong nước, cố giữ cho những chiếc đạp của tôi ăn nhịp với hai mái chèo. Chúng tôi bắt đầu di động nhanh hơn một chút. Nước biển lạnh như nước đá, nhưng mấy giây sau nó làm cho tôi tê cóng và tôi không còn cảm thấy quá lạnh nữa. Một cơn mưa lất phất đang khởi sự rơi. Đây là một cơn mưa rào thường xuyên trong vùng. Chỉ cách hơn một trăm thước, trời lại quang đãng.
Andrews chợt quay đầu lui, gọi:
- Cô Ménard, cô hãy bước qua mái chèo bên phải của tôi, vào trong khoang. Rồi cô nằm xuống và níu lấy tay Dunbar để giúp ông ấy thêm vững.
Mấy giây sau, tôi trông thấy khuôn mặt xanh xao hình trái xoan của nàng ngay phía trên mặt tôi và cảm thấy hai bàn tay nàng nắm chặt hai cổ tay tôi. Nàng nằm sát người lên khoang, cằm kê lên mạn xuồng cao su. Nàng mỉm cười với tôi. Tôi đạp mạnh hơn, cố trồi lên cao để hôn chóp mũi của nàng. Nàng bật cười thành tiếng.
Andrews lại bảo:
- Hãy nép sát xuống, để tránh đạn.
Quả thật súng lại nổ, nhưng lần này từ phía bãi biển. Bây giờ hai khẩu bốn mươi ly đã ngừng bắn, các toán quân truy kích đã phỏng đoán chúng tôi hiện ở đâu. Bọn chúng không thể trông thấy chúng tôi, nhưng dù chúng bắn phỏng chừng đi nữa chúng tôi vẫn nơm nớp lo sợ. Tôi nghe tiếng những đầu đạn rơi lõm bõm xuống nước. Chỉ cần lãnh phải một viên cũng đủ mệt rồi.
Đúng lúc tôi nghĩ như thế, chúng tôi bỗng bị soi sáng bởi một ngọn đèn chiếu cực mạnh từ trên bãi biển. Tôi vội vàng nhìn lui. Ánh sáng chiếu vào chúng tôi phát xuất từ phía cao trên bờ đá, rõ ràng là một ngọn đèn đặt trên một chiếc xe vận tải đang đậu trên đường. Tôi cố đạp mạnh hơn chút nữa.
Monique nói:
- Anh quả thật là một máy tàu thượng hảo hạng.
Tôi đáp:
- Em đừng đùa nữa.
Lời nói của tôi được nhấn mạnh ngay lúc đó bằng một tiếng đạn đại liên. Monique giật nẩy mình.
- Em không hề gì cả chứ?
Nàng trả lời:
- Em không sao hết.
Viên đạn đã trúng vào chiếc xuồng cao su, phía trên lằn nước.
Gần như ngay lúc đó tôi chợt nghe một tiếng nổ dài phía sau lưng. Tôi chỉ ngạc nhiên một lúc, mặc dầu trước đó tôi chưa hề nghe. Không phải một chiếc xe vận tải đang chở ngọn đèn chiếu đậu trên đường. Đó là một trong những chiếc xe thiết giáp mà Anson đã từng nói tới. Khẩu súng 88 ly đang bắn vào chúng tôi. Lần này tôi cảm thấy hơn là nghe quả đạn trái phá rơi xuống nước ở về phía bên phải của chúng tôi. Quả đạn tiếp theo rơi xuống nước cùng một khoảng cách về phía bên trái.
Andrews vừa chèo vừa bảo:
- Bọn chúng bắn theo lối gọng kềm nằm ngang.
Dù lối bắn thuộc loại gì đi nữa, có lẽ hiệp thứ ba chúng tôi sẽ lãnh đủ.
Thủy thủ đoàn trên tàu lại khai hỏa bằng hai khẩu bốn mươi ly. Nhờ có ánh đèn chiếu, họ đã trông thấy chúng tôi ra khá xa và có thể bắn phía trên đầu chúng tôi.
Tôi nhìn lui đúng lúc để trông thấy một trong hai khẩu bốn mươi ly xác định được vị trí của chiếc thiết giáp trên con đường cạnh bãi biển. Ánh đạn trái sáng yếu ớt màu vàng cam như phụ họa với ngọn đèn chiếu để soi rõ. Ánh sáng đột nhiên tắt hết. Nhưng bóng tối như bị xé rách ngay lúc đó bởi một tiếng nổ, rồi một ngọn lửa màu vàng cam bùng lên. Chiếc thiết giáp đang cháy một cách dữ dội.
Andrews khen:
- Bắn hay lắm!
Tôi quay lại đạp mạnh cùng với những mái chèo, cảm thấy chiếc xuồng nhỏ đang nhịp nhàng trườn tới. Tôi thầm cám ơn Monique đang nắm chặt cổ tay tôi, vì mạn xuồng bằng cao su rất khó níu.
Nàng chợt nói:
- Mình sắp tới nơi rồi.
Tôi biết nàng cố khích lệ tôi. Nàng không thể trông thấy được chiếc tiềm thủy đỉnh phía sau lưng nàng. Nàng buông một bàn tay ra để vuốt tóc và nước dính trên mắt tôi. Bàn tay của nàng lạnh ngắt.
Nhưng nàng đã nói đúng. Mấy giây sau tôi cảm thấy mũi xuồng đụng phải một vật gì vững chắc. Tôi trông thấy khối đen của chiếc tàu ngầm.
Andrews cất chèo vào khoang. Tôi gác cả hai cánh tay lên mạn xuồng và để mặc cho thân mình nửa chìm nửa nổi trong nước biển. Monique choàng hai cánh tay quanh cổ tôi. Tôi cảm thấy hơi ấm của mặt nàng sát vào má tôi.
Tôi bảo nàng:
- Em hãy tới phía trước đi. Họ sẽ kéo anh lên sau.
Andrews đỡ nàng đứng dậy. Tôi trông thấy hai cái vòng hạ xuống cho nàng nắm lấy rồi kéo nàng lên khỏi hông tiềm thủy đỉnh cho tới boong tàu. Sau đó Andrews quay sang tôi.
- Dunbar, ông hãy níu chặt. Tôi sẽ xoay tròn chiếc xuồng. Có một cái thang ở ngay phía trên đầu ông.
Chúng tôi đã an toàn. Bây giờ tiếng súng trên bãi biển đã ngừng nổ. Nhưng rất có thể bọn lính gác của Anson sẽ đưa một chiếc thiết giáp khác tới đây. Nếu thế, lớp vỏ mỏng của chiếc tiềm thủy đỉnh sẽ lâm nguy một cách trầm trọng. Tôi đã từng trông thấy hông tàu lủng chỉ vì lắc lư đụng vào bến, và tôi không muốn chứng kiến cảnh một viên đạn tám mươi xuyên qua thành tàu.
Thế là chúng tôi đã an toàn. Nhưng Ted vẫn còn ở trên Saint Sudra, và trong lúc Ted còn ở đó chúng tôi chưa thật sự bình yên và hoàn toàn sung sướng. Cả thế giới cũng thế.
Tôi cảm thấy toàn thân đau đớn lúc vừa mới bước lên ba nấc thang thấp nhất trong nước biển lạnh trước khi tôi cảm thấy hai cái vòng tròng vào cổ tay. Người ta kéo tôi lên trong lúc một cặp vòng khác được thả xuống để kéo Andrews. Một người liệng một chiếc mền dày lên mình tôi lúc tôi đang leo đoạn sắt cuối cùng để lên boong. Họ còn kéo phụ tôi. Hai chân tôi tê cóng khi ra khỏi nước lạnh.
Một viên đại úy Hải Quân trẻ tuổi mặc áo choàng len đội mũ xanh niềm nở nói với tôi:
- Chào mừng ông lên tàu Venturer.
Andrews bảo ngay:
- Đại úy, theo tôi nghĩ mình nên lặn gấp. Dunbar, tôi rất lấy làm buồn. Máy vô hiệu hóa chưa làm hại được mình, nhưng mình không thể quá mạo hiểm.
Tôi đáp:
- Máy đó đã bị đập nát rồi. Ted đã đập nát và liệng xuống dưới biển.
- Đó không thể là bộ máy độc nhất.
- Đó là bộ máy duy nhất được đem đặt tại đây.
Andrews trả lời một cách nghiêm trọng:
- Và rất có thể bọn chúng đặt lại một máy khác trong vòng ít phút. Nhưng nếu bộ máy hiện tại đã hư, có nghĩa là mình có thể sắp đặt một cuộc tấn công lên đảo. Đại úy Thomas, tôi cần gửi một bức điện tín.
- Xin vâng.
Nói đoạn, viên đại úy Hải Quân quay sang viên sĩ quan đang có phận sự trên boong:
- Ông Fanning, ông hãy đưa Đại úy Andrews xuống gặp sĩ quan truyền tin. Luôn tiện ông hãy đưa ông Dunbar đi lấy quần áo khô.
Tôi vẫn cố nói:
- Đại úy, xin cho tôi hỏi một điều. Mình không thể chờ thêm nửa giờ hay sao? Em tôi hiện ở trên đảo và sắp sửa đến đây.
- Ông Dunbar, tôi hết sức tiếc. Dù không có bọn múa rối đó trên bãi biển đi nữa…
Ông ta ngừng một lát và chỉ tay về phía đông bắc.
- Ông hãy xem kia kìa. Ông có biết đó là những thứ gì?
Tôi liền nhìn theo tay ông ta chỉ. Ba chiếc ngư lôi đỉnh đang chạy nhanh đến, chiếc nào chiếc nấy bật đèn sáng rực.
Tôi gật đầu.
- Vâng. Đó là những chiếc ngư lôi đỉnh trang bị võ khí đầy đủ. Ông nói đúng. Ông không thể liều mạng hy sinh chiếc tàu này.
Thomas nói với tôi:
- Xin cám ơn ông.
Đoạn ông ta quay sang viên sĩ quan dưới quyền:
- Ông Fanning, hãy thông báo cho các ban trên tàu chuẩn bị lặn ngay tức khắc.
Tất cả mọi người trên boong đều vội vã trụt xuống nắp tàu, và nắp tàu được đóng kín ngay. Tôi đứng phía dưới nắp tàu, một lúc sau mắt mới quen với ánh sáng. Tôi lờ mờ trông thấy Monique đang chờ tôi. Nàng đến bên tôi và tôi trùm nàng sát mình tôi trong chiếc mền mà người ta đã ném cho tôi trên boong, rồi tôi mới nhận thấy mình đang khóc.
Andrews đã tới sau lưng tôi từ lúc nào tôi không rõ, mãi đến khi ông ta lên tiếng:
- Dunbar, ông chớ quá lo buồn. Chúng tôi đã nói với em ông chúng tôi ở đâu – chỉ cách xa mấy dặm trong biển Friday Sound. Thế nào ông ấy cũng sẽ gặp lại mình.

--------------------------
Chú thích:
1) Cowes: một thành phố nghỉ mát và là một trung tâm du thuyền trên đảo Wight của nước Anh. Dân số độ chừng 15.000 người (c.t.c.d.g.)
📎 11
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-23 10:51:07Ct.Ly>
Chương 12

Phần 4

Đánh máy: khachxa
12


Trong lúc tiềm thủy đỉnh tiến về phía tây nam qua eo biển Friday Sound trực chỉ eo bể Ross, tôi mặc bộ quần áo khô mà người bồi tàu của Thomas đưa cho tôi rồi ngồi xuống trong phòng sĩ quan với Monique và Colin Andrews. Monique ngồi bên cạnh tôi và im lặng nắm lấy bàn tay của tôi.
Andrews chợt bảo:
- Dunbar, tôi rất ân hận về chuyện em ông. Nhưng thật tình Thomas không thể làm sao khác hơn. Độ ít phút nữa tàu sẽ trồi lên mặt nước sau khi qua khỏi eo biển Ross. Mình sẽ ngừng lại ở đó cho tới lúc trời sáng nếu cần.
- Cám ơn ông, tôi hiểu. Ông đã cho gởi thông điệp đi?
- Phải. Rất nhiều chuyện đều tùy thuộc vào đó.
Tôi nói:
- Tất cả sẽ không ích lợi gì, trừ phi Ted đã làm hư được hệ thống điều khiển của tất cả các hỏa tiễn. Các hỏa tiễn này đã được dự trù tự động phóng lên nếu tủ điện hoặc đài kiểm soát bị phá hủy. Phải nói chuyện đó cho họ biết.
Thomas bước vào phòng với cặp kiếng lớn loại đặc biệt có thể giúp người mang trông thấy rõ mọi vật trong bóng tối.
Ông ta loan báo:
- Hiện giờ mình đang ở trên mặt biển. Ngay phía bắc của eo biển, cách mút tận cùng phía nam của Saint Sudra vào khoảng năm dặm. Quý vị có muốn lên trên boong để nhìn hòn đảo lần cuối cùng?
Chúng tôi cùng đi theo ông ta tới chỗ đặt tiềm vọng kính rồi leo thang để lên boong tàu ở trên cùng.
Đêm đã quang đãng trở lại. Tôi có thể trông thấy khi mắt đã quen với bóng tối ở bên ngoài. Cơn mưa lưa thưa đã ngừng hẳn và tất cả các vì sao đều hiện ra trên nền trời. Tôi có thể trông thấy sao Bắc Đẩu cao hơn hẳn mọi khi tôi vẫn thường thấy. Gió đã trở nên mát. Những làn sóng bạc đầu khởi sự nổi lên trên mặt biển Friday Sound đen thẫm. Dù đã mặc áo ấm tôi vẫn rùng mình. Monique nhìn tôi với vẻ lo lắng khi nàng cảm thấy cánh tay của tôi đang run sát bên mình nàng. Nhưng trời đâu có lạnh. Tôi có cảm giác tựa hồ người ta đã chích thuốc mê vào đầy trong người tôi và cắt trái tim tôi ra ngoài.
Tôi bảo nàng:
- Anh không sao hết. Chỉ buồn chán.
Saint Sudra chỉ còn là một vệt sáng mờ về phía bắc. Hòn đảo cao dần lên về phía bắc, từ chỗ đất nối liền với nước ở phía nam cho tới những bờ đá cao trên lâu đài Kinnul chung quanh Sternesss Barr. Tôi có thể trông thấy ánh đèn lờ mờ chiếu lên từ vịnh Geutry, và xa hơn nữa là ánh sáng chói lòa trước mặt tòa lâu đài.
Thomas đưa cho tôi một cặp ống nhòm loại đặc biệt để dùng ban đêm. Đây là một thứ rất tốt. Tôi có thể nhìn kỹ quang cảnh của bến tàu. Chiếc Star of Aden đã rời khỏi hải cảng. Tôi có thể trông thấy các ngư lôi đỉnh di chuyển trong vịnh. Tim tôi đập loạn lên một hồi khi tôi chợt trông thấy một chiếc đang chạy nhanh về phía cửa biển hướng ra khơi. Đúng lúc đó một giọng nói vang lên trong bộ máy truyền tin tôi đang đeo quanh vai:
- Alô, Stuart?
Tôi vội vàng bấm nút vi âm và gọi lớn như hét:
- Ted! Chú đang ở đâu đó?
Ted trả lời:
- Vẫn còn ở trong đài kiểm soát. Em sợ quá, anh Stuart à.
Tôi xoay ống nhòm khỏi chiếc tàu vừa cho tôi một chút hy vọng trong chốc lát, và hướng về phía căn cứ hỏa tiễn. Khoang sáng nhỏ xíu hình chữ nhật hiện ra khá rõ.
Ted nói tiếp:
- Có một vài chuyện rắc rối. Em đã hạ được hai tên hề, nhưng bọn chúng đã tăng viện khá đông. Hai bên vừa mới bắn nhau một trận tơi bời, nhưng em vẫn không hề gì. Bây giờ thì tên đầu sỏ đã đến. Em có thể trông thấy Anson ngồi trong một chiếc xe Jeep ở bên ngoài. Em tiếc đã không đánh vào đầu y mạnh tay hơn một chút.
Tôi chưa kịp đáp bỗng nghe giọng của Anson vang lên trong băng tần chúng tôi đang sử dụng. Giọng nói này mạnh hơn giọng của Ted, có lẽ bởi vì ông ta đang dùng một máy truyền tin lớn hơn đặt ngay trong chiếc Jeep.
Ông ta bảo:
- Dunbar, ông có ba mươi giây để ra khỏi nhà trước khi chúng tôi khai hỏa bằng súng bốn mươi ly và bắn sụp bức tường này. Ông sẽ không bị gia hại nếu ông chịu đi ra lúc này. Chúng tôi chỉ giữ ông làm một con tin.
Ted nói:
- Đừng có điên khùng. Tôi có thể chờ đợi lâu bao nhiêu cũng được.
Tôi chen lời với máy truyền tin của mình.
- Anson. Đây là Stuart Dunbar. Các lực lượng võ trang đang trên đường tới Saint Sudra. Nếu ông muốn có hy vọng còn sống cho tới lúc trời sáng, thì hãy để em tôi rời khỏi nơi đó.
Anson đáp:
- Dunbar, tôi xin cám ơn về lời khuyên quá tử tế của ông. Tiếc thay chúng tôi không thể lãnh ý được. Chúng tôi hy vọng sẽ có một máy vô hiệu hóa khác vào lúc trời hừng sáng.
Ted bảo:
- Stuart, em cám ơn anh đã cố gắng tìm cách giúp đỡ em. Anh nên chạy tránh xa nơi đây ngay tức khắc, nếu anh có thể nói cho cấp chỉ huy chịu nghe lời. Và phải lặn xuống thật sâu.
Tôi không khỏi có một cảm giác quái dị khi đứng trên boong của chiếc Venturer trong đêm tối đầy gió lạnh và nghe những tiếng nói phát ra từ một khung ánh sáng nhỏ xíu hình chữ nhật cách thật xa.
Monique bỗng thở hổn hển và nắm chặt cánh tay của tôi. Andrews nhảy tới lan can của boong tàu.
Ông ta chỉ thốt lên hai tiếng:
- Chúa ơi!
Tôi sững sờ nhìn về phía căn cứ hỏa tiễn sáng rực. Phía trên ánh đèn là một vật có chiếc đuôi đang cháy đỏ, từ từ vươn lên. Trong lúc chúng tôi cùng nhìn, vật kia bắt đầu gia tăng tốc độ và rẽ đường phóng vào trời đêm đen, ngọn lửa cháy sau đuôi chiếu sáng cả vùng trung tâm của Saint Sudra.
Monique thì thầm bên tai tôi:
- Cái gì vậy anh?
Tôi nói:
- Một chiếc hỏa tiễn. Anh không hiểu vì sao, nhưng đúng là một chiếc hỏa tiễn.
Andrews lẩm bẩm:
- Cầu xin Chúa che chở cho Edinburg. Chắc đạn bốn mươi ly của Anson đã bắn trúng vào một tủ điện.
Tôi lắc đầu.
- Không phải. Nếu thế thì tất cả hỏa tiễn cùng phóng lên, chứ đâu phải chỉ có một.
Chúng tôi chăm chú nhìn cái đuôi cháy sáng đang nhỏ dần trên vòm trời đen.
Thomas chợt nhảy lên.
- Nó không chạy theo quỹ đạo, mà cứ phóng thẳng lên trời!
Ông ta nói chưa dứt thì cái đuôi lửa của hỏa tiễn vụt tắt như một ngọn đèn cầy bị gió thổi mạnh.
Gần như ngay lúc đó, phần giữa của hỏa tiễn nổ tan. Tôi như có thể trông thấy bàn tay đang đặt lên nút “phá hủy” trong đài kiểm soát, để điều động cho hỏa tiễn tự phá hủy giữa lúc bay.
Một vài tia lửa bay tung ra trên nền trời. Chỉ có một chấm sáng vẫn tiếp tục trèo thẳng lên trong một giây rồi mới bắt đầu rơi xuống. Trong một thứ ánh sáng màu vàng cam phát ra sau tiếng nổ, xuyên qua cặp ống nhòm, tôi có thể trông thấy chiếc dù trắng nhỏ xíu trong lúc chấm sáng tắt ngấm. Bầu không khí im lặng trên boong tàu tựa hồ có thể sờ mó được trong lúc chúng tôi chăm chú nhìn.
Tiếng nói của Ted cắt ngang sự im lặng, vang ra từ chiếc máy truyền tin nhỏ bên hông tôi:
- Stuart, nếu anh còn nghe tiếng em, xin anh cho em gửi lời thăm Ba và Laura. Và cả Amada cùng lũ trẻ. Vĩnh biệt Stuart. Vĩnh biệt Monique.
Rồi Ted tắt máy. Monique khóc nức nở và vùi mặt vào vai tôi.
Andrews chợt bảo:
- Hãy quay lưng lại ngay. Nhắm kín mắt, tới bao giờ tôi cho biết mới được mở ra.
Chúng tôi liền quay lưng về phía chiếc dù đang lao đao rơi xuống. Tôi nắm chặt song sắt của lan can tàu đến nỗi bàn tay đau điếng. Cánh tay phải của tôi ôm lấy Monique để giữ cho nàng đứng vững trong cơn khóc mùi mẫn.
Rồi một luồng ánh sáng lóe ra, sáng tới mức độ tôi có thể thấy rõ qua đôi mí mắt đã khép chặt. Monique rú lên một tiếng khủng khiếp. Tôi siết mạnh người nàng.
- Cái gì vậy?
Tôi không trả lời nàng, mặc dầu tôi đã biết đó là gì. Tôi đã trông thấy luồng ánh sáng có thể làm mù mắt này tại Bikini, ở cách một khoảng rất xa, qua một cặp kiếng đen.
Tôi biết đó là gì. Đó là tiếng nổ của tử thần. Đó là giây phút tận thế. Đó là một mảnh của mặt trời rơi xuống quả đất. Đó là hành vi chuộc lỗi của Edward Dunbar. Đó là ngày tàn của Saint Sudra.
Qua tiếng gào trong tai tôi, tôi chỉ có thể nghe được tiếng chuông rung báo hiệu tiềm thủy đỉnh sắp sửa lặn xuống biển.
Chúng tôi gần như nhảy xuống thang. Cánh cửa đóng sầm lại và được siết chặt lại ngay sau khi chúng tôi vào trong tàu.
Ngay trước khi làn sóng chấn động đánh vào tàu, trước khi sức nóng chạm vào vỏ thép mỏng mảnh, tôi mới cảm thấy boong tàu bắt đầu nghiêng dưới chân tôi trong lúc chúng tôi lặn xuống để thoát khỏi địa ngục trên mặt biển.

Hết
📎 12
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 11:42:35Ct.Ly>
Phần 4

[font="Times New Roman"][size=5]6

Ông ta bảo khi chúng tôi ăn trưa xong – hay đúng hơn khi ông ta ăn xong, bởi vì tôi ăn rất ít:
-
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-23 10:33:53Ct.Ly>
Phần 4

[font="Times New Roman"][size=5]7

Anson ngừng lại ở cánh cửa phòng tận cùng trong hành lang dẫn về phía ngôi nhà gần phòng tôi. Ông ta đặt bàn tay lên quả nắm và nhìn tôi.
-
0
Bạn Ct. Ly ơi,

KX sẽ đánh máy tiếp từ phần 4.7 đến hết quyển Cửa Địa ngục.

Sau đó sẽ tính tiếp.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-23 10:35:57Ct.Ly>
Phần 4

[size=5]8

Anson đang chờ chúng tôi trong phòng của Ted. Ông ta đang chăm chú nhìn một gã gia nhân đặt một chiếc khay bạc đựng mấy cái ly, một chai nước và một chai whisky trên mặt bàn lúc chúng tôi bước vào. Có cả Matuscheck với một khẩu súng lục gác trên đầu gối.
]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 11:39:15Ct.Ly>
Phần 2

[font="Times New Roman"][size=5]5
Tôi cảm thấy bầu không khí trong buổi ăn trưa có vẻ căng thẳng. Mọi người đều nói chuyện với nhau một cách rời rạc. Monique gần như hoàn toàn im lặng, chỉ lên tiếng nói
0
Chào bạn khachxa

Cảm ơn bạn đã góp sức với Ct.Ly và Asin gõ truyện cửa địa ngục này

Nhưng khi bắt đầu gõ, nhờ Khách xa báo hiệu trước chương nào, để chúng mình gõ khg trùng với nhau nhé

Cảm ơn Khachxa nhiều
Chúc vui
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-10 17:25:52Ct.Ly>
Monique ghé vào phòng hút thuốc sau khi chúng tôi ăn điểm tâm xong và mỗi người bỏ một Anh kim vào cái hộp tiền ở trong phòng được dùng làm quỹ tương tế cho thủy thủ đoàn tr-n tàu. Chúng tôi bắt gặp viên sĩ quan trưởng kho lương tại đây lúc ông ta cũng đang bỏ tiền vào hộp. Khuôn mặt ngăm ngăm đặc biệt của người xứ Wales (1) nứt nẻ thành một nụ cười khi ông ta trông thấy Monique.
   Ông ta reo lên :
-        Cô de Ménard. Sáng hôm nay, tôi đang mong được gặp cô. Tôi có một chuyện muốn nói với cô.
Nàng đáp :
-        Xin ông cứ nói. Ông Dunbar, đây là ông Davies, trưởng kho lương. Ông Stuart Dunbar.
Nàng hơi nhấn mạnh tên đầu của tôi, dường như muốn phân biệt Ted với tôi. Ông ta bắt tay tôi một cách vội vã và quay sang phía nàng tiếp tục câu chuyện :
-        Tôi muốn yêu cầu cô vui lòng hát giúp cho chúng tôi trong buổi hòa nhạc, trên tàu đêm cuối cùng trước khi đến Cobh (2) Lẽ tất nhiên đây là cuộc trình diễn thường lệ của thủy thù đoàn, và đã có một số ít người nhận giúp đỡ cho chúng tôi, nhưng không một ai có thể so sánh nổi với cô. Chúng tôi sẽ vô cùng hân hạnh nếu được cô hát giúp vài ba bài lieder (3)
-        Ồ, thật tình tôi không biết còn hát được hay không. Lâu rồi tôi không có dịp tập lại. Vả lại, ai đàn cho tôi hát bây giờ ?
       Trước vẻ buồn rầu của nàng. Davies hân hoan bảo :
-        Có một chuyện bất ngờ kỳ diệu. Albert Morse hiện có mặt trên tàu, cô hãy xem qua danh sách hình khách sẽ thấy.
Ông đưa cho nàng tập thẻ lên tàu đựng trong một tấm bìa dày bên ngoài có đóng dấu tầu Cunard. Nàng liếc qua và đưa lại cho tôi.
-        Có ông ấy thì tuyệt. Không một ai như ông ấy. Nhưng bitế ông ấy có chịu đàn cho tôi ? Ông ấy không hề đàn cho ai cả.
-        Sáng hôm nay, tôi đã hỏi ông ấy, và lẽ tất nhiên ông ấy đ ãvui vẻ nhận lời. Buổi trình diễn đã được định vào tối Thứ Năm, trong phòng lớn. Tôi sẽ sắp cô sau thời gian ngghĩ giải lao, ca sĩ duy nhất trong phân nửa sau của chưong trình. Tôi ước mong cô sẽ cho chúng tôi nghe một vài bài của Hugo Woif (4). Nhạc của ông ấy không có ai hát hay bằng cô.
-        Kìa, Ông Davies, ông quên các thần tượng của tôi hay sao như Lehmann và Shumann (5)
  Davies quay sang tôi :
-        Cô De ménard rất khiêm nhượng, vì cô ấy là một người Pháp hát tiếng Đức. Cô ấy đã quên hồi trước có nhiều ca sĩ lừng danh chuyên môn hát tiếng Đứa, như Charles Panzéra chẳng hạn.
Ông ta mỉm cười và đi ra cửa. Chúng tôi lại trở lên  boong đi dạo một vòng. Tôi nói :
-        Cô không kể cho tôi biết trước kia cô là một ca sĩ tiếng Đức. Tôi cứ tưởng cô chỉ là một người mẫu.
-        Tôi chỉ hát trong một thời gian ngắn. Tôi đã làm người mẫu trình bày các kiểu y phục và in hình trên các báo ở Ba Lê, để sinh sống trong lúc học hát với Panzéra.
Tôi thú thật:
-        Tôi rất dốt về âm nhạc, nhưng tôi biết nhiều về Panzéra. Tôi có một dĩa HMV cũ của Panzéra trình diễn mấy bản tình ca của Villoo Debussy phổ nhạc (6).
-         Ông đâu có dốt về nhạc nếu ông thích dĩa đó. Dĩa hát này hiện giờ rất quý vì đã được thâu từ lâu lắm rồi.
-        Tôi cũng xưa cũ như chiếc dĩa hát đó.
Nàng nheo mắt nhìn tôi, nói bằng tiếng Pháp:
-        Như một cựu chiến binh.
Tôi kéo nàng tới gần một chiếc thuyền cấp cứu để cho khuất gió và chúng tôi nghiêng mình trên lan can nhìn xuống mạt biển trong lúc tôi nhồi thuốc vào ống điếu và châm lửa.
Nàng chợt bảo:
-        Biển xanh quá, phải không ông?
-        Mình còn băng ngang dòng Gulf Stream (7) Đúng màu mắt của cô. Ngày mai mình sẽ qua vùng nước biển có màu xanh đậm và không chừng tàu sẽ chạy trong sa mù. Mình sẽ đi ngang qua Grand (8).
-        Nó có giống như Thái Bình Dương không ông? Tôi chưa hề trông thấy vùng biển này.
-        Nước biển ở Thái Bình Dương sẫm màu hơn. Nhưng có nhiều chỗ trong Biển San Hô màu nước lại hồng (8)
     Nàng im lặng gật đầu. Tôi chăm chú nhìn một bên mặt nàng:
-        Cô có quen biết nhiều với em tôi?
-        Chỉ chút ít, tại Cựu Kim Sơn; Ông ấy đã mời tôi đi ăn tối một lần ở đó. Rồi Jacques và tôi đã dùng cơm tối với ông ấy ở Hoa Thịnh Đốn. Và tôi đã ra phi trường cùng với ông
ấy buổi sáng ông ấy bay sang Nữu Ước, Thứ Sáu vừa qua.
- Tôi nghĩ là Thứ Tư mới phải.
Nàng hơi cau mày, có vẻ bối rối một cách thành thực.
-        Không, Thứ Sáu. Tôi đã đi tiễn và nhìn ông ấy bước lên máy bay. Tôi có một trí nhớ rất tốt. Tôi lại còn có thể cho ông biết hôm đó ông ấy mặc như thế nào. Một chiếc áo choàng bằng vải len màu nâu tuyệt đẹp, và một cái cà vạt gắn một vật gì hay hay bằng vàng – hình như là một quả cầu.
Tôi nói tiếp:
-        Và một cái neo. Đó là phù hiệu của Thủy Quân Lục Chiến. Nhưng nếu cô đã ra phi trường với em tôi sáng Thứ Sáu, nhất định cô đã gặp Ted sau đêm cô vào tìm Ted tận trong nhà
Nàng có vẻ hoảng hốt, quay mặt sang phía khác và nhìn xuống biển.
-        Vâng, đáng lẽ tôi phải kể cho ông nghe từ trước. Nhưng tôi đã quên khuấy đi vì quá lo lắng về vụ anh tôi mất tích và bị tai nạn, điều này chắc ông đã rõ và hãy còn nhớ. Hơn nữa, Ted đã yêu cầu tôi đừng kể lại việc tôi gặp ông ấy.
-        Chuyện hơi khó tin.
Nàng vụt xoay người lại, như muốn đốt cháy tôi bằng đôi mắt.
-        Stuart Dunbar, có phải ông bảo tôi là một kẻ nói dối?
-        Xin lỗi Monique. Không phải vậy. Chỉ vì tôi đang bối rối.
Nàng liền nói:
-        Tôi cũng xin lỗi ông. Tôi không biết vì sao em ông yêu cầu tôi điều đó. Nhưng quả thật như vậy.
Nàng chợt mỉm cười với tôi. Nhưng nàng lại quay đi và nhìn xuống những làn sóng trắng xóa từ mũi tàu lướt dọc theo hông phía dưới xa.
  Nhưng nàng đã kể chuyện chiếc áo choàng màu nâu, trong lúc áo của Ted có màu ve chai. Nàng không phải là người không phân biệt được màu sắc. Nàng đã nhìn thấy đúng màu của nước biển. Phải chăng quả thật nàng đã gặp mặt Ted? Hay là nàng chỉ nhớ mường tượng màu áo của Ted trên tấm hình? Nhưng nàng làm sao thấy được hình, vì chỉ một mình Dilligham có?
   Nàng quay lại nhìn tôi với hàng lông mày hơi nhếch lên:
-        Tôi ước mong ông đến dự buổi tiệc trà của tôi vào tối mai?
-         Cám ơn cô. Chắc chắn tôi sẽ đến. Anson cũng có mặt?
-         Tôi đã mời ông ấy. Stuart, hình như ông không thích ông yấ?
-         Monique, cô không phải là người không có tài nhận xét. Chắc cô cũng thừa hiểu tại vì sao. Chỉ vì tôi đã ghen như một anh mán. Tôi đã yêu cô. Bây giờ mình nên về phòng. trời mỗi lúc một thêm lạnh.
  Vừa dứt câu, tôi vội vã bỏ đi như chạy, bởi vì tôi sợ nghe câu trả lời của nàng.
  Nhưng nàng không nói gì một hồi lâu. Nàng xoay người khỏi lan can và ngước nhìn tôi trong im lặng, đôi mắt màu xanh biếc của nàng không một chút xao xuyến. Tôi có cảm tưởng nàng đang đánh giá tôi, cố quyết định một điều gì về tôi. Một điều không liên hệ với những lời tôi vừa nói, nhưng chắc chắn phát xuất từ đó; Ngay từ đầu tôi đã có một ước muốn gần như không sao chế ngự nổi: đánh náng, rồi sau đó hôn nàng. Cà hai việc đó, tôi đều không làm. Dần dần tôi yên trí rằng nàng chỉ muốn xét kỹ con người tôi, và ánh mắt đăm đăm lạnh nhạt kia không có ý khích bác. Đó chỉ là một ánh mắt quan sát. Có lẽ đó là lần đầu tiên nàng lưu tâm đến tôi. Tự nhiên tôi cảm thấy lo ngại. Như vậy nghĩa là mãi cho tới lúc này, nàng cjhỉ nghĩ về tôi một cách hời hợt.
Tôi bảo:
-        Mình nên đi về phòng. Trời mỗi lúc một thêm lạnh.
Nàng nháy mắt:
-        Không. Ông cứ tiếp tục đi dạo và hút cho xong điếu thuốc. Tôi sẽ xuống trước một mình.
-        Cũng được.
Nàng bỗng đưa bàn tay phải lên và vuốt nhẹ má tôi,bằng một cử chỉ thân mật. Tôi thoáng thấy hình như nàng rươm rướm nước mắt. Rồi nàng quay người và bước hơi loạng choạng về phía cầu thang dẫn xuống dưới.
Tôi tiếp tục thửng lửng, bước , bắt kịp MacInnes dang hút ống điếu và đội một chiếc mũ len, và cùng đi với ông ta. Trước nỗi ngạc nhiên của tôi, ông ta chỉ gật đầu mỉm cười, và chúng tôi tiếp tục bước đi trong im lặng. Tôi nghĩ ông ta đang cười thầm tôi trong lòng.
Tôi lại càng ngạc nhiên hơn nữa; khi đi qua xuống cấp cứu số một, tôi lại trông thấy Monique. Nàng đang chăm chú nói chuyện với Anson, đứng ngay phía sau cây cột sắt treo xuống cấp cứu số một. cả hai người đều không trông thấy tôi và MacInnes trong lúc chúng tôi đi qua, MacInnes đưa mắt nhìn tôi dứơi hai hàng lông mày rậm.
Ông ta trầm tĩnh nói:
-        Tôi không ngờ, cô nàng quen thân với ông ta đến thế?
-        Tôi cũng vậy.
-        Chà, con người ta có nhiều sở thích thật là kỳ lạ.
Chúng tôi tiếp tục bước trong im lặng. sau khi đi trọn một vòng trên boong, chúng tôi thấy họ vẫn còn ở chỗ cũ. Nhưng lần này họ đang đối diện với nhau. Tôi cố không nhìn, nhưng cảnh tượng đó ở ngay trong tầm mắt của tôi. Đầu nàng cúi xuống và mặt nàng quay về phía ngoài khơi. Anson đang nắm chạt cổ tay phải của nàng, nhìn xuống đỉnh đầu nàng. Trong lúc chúng tôi đi qua, tôi nghe ông ta bảo:
-        Đừng bao giờ để tôi bắt gặp cô!
Giọng ông ta đầy vẻ gay gắt và ác độc. Tôi không nghe tiếng trả lời của Monique trong lúc chúng tôi bắt đầu tới khúc ngoẹo ở cuối boong trước. Chân tôi tự nhiên hơi chậm lại. MacInnes liền đặt một bàn tay lên cánh tay của tôi và nói:
-        Không phải chuyện của mình.
-         Ông nói đúng.
Tôi đi theo ông ta tới cầu thang kế tiếp. Ông ta bỏ ống điếu đã tắt lửa vào túi, bảo tôi:
- Ông khoan về phòng đã. Tôi muốn mời ông một ly rược trước khi ăn trưa






Chú thích :
1-   Wales : Một vùng phía đông nước Anh, diện tích 19.345 c.s.v. Dân số 2.640.000 người. Đô thị lớn là Cardiff và Swansea.
2-   Cobh : hải cảng phía Nam Ái Nhỉ Lan . Dân số độ 7.000 người. Ngày xưa gọi là Queenstown. ( c.t.c.d.g.)
3-   Lieder : tiếng Đức, có nghĩa bài hát.
4-   Hugot Wolf ( 1860-1829) : nhạc sư người nước Áo
5-   Lille Lehmann ( 1848- 1856) Nhạc kịch sư người nước Đức : Robert Schumann ( 1810 – 1856) : nhạc sư người nước Đức ( c.t.c.d.g)
6-   Françoi Villon ( 1831 – 1889)thị sị người nước Pháp. Achille Claude Debussy : nhạc sư người nước Pháp.
7-   Gulf Siream : một dòng nước nóng chảy giữa biển rộng chừng 90 c.s phát xuất từ vịnh Mễ Tây Cơ, qua Eo Bể Florida xuyên Đại tây dưong, hướng về Âu Châu theo phương Bắc.
8-   Grand Banks : bờ biển phía tây nam của Terre Neuve dài độ chừng 1600 cs
9-   Coral sea ( bể San Hô) : một phần của Thái Bình Dương phía đông bắc Úc châu, nơi quân đội Hoa Kỳ đã chiến thắng quân đội Nhật bản trong một trận hải chiến và không chiến năm 1942
 
 
Đã mang vào thư viện trọn bộ
 
Cảm ơn các hiệp sĩ đã góp sức cho cuốn truyện này
 
Tình thân
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-06 12:47:53Ct.Ly>
Cửa Địa Ngục
Tác giả : James Dawson
Dịch giả : Bồ Giang

* Phần I: Đường về - 8 chương
- Chương 1-3 Ct.Ly đã nhận (hoàn tất)
- Chương 4-5 Asin đã nhận (hoàn tất)
- Chương 6-8 Thuynga đã nhận

* Phần II: Lắng nghe - 11 chương
- Chương 1-4 Chưa có người nhận
Chương 5 Khachxa đã nhận (hoàn tất)
- Chương 6-11 Chưa có người nhận

* Phần III: Thành đô - 4 chương ( Ct.Ly nhận gõ )
Chưa có người nhận

* Phần IV: Chẳng ai tìm dấu - 12 chương
- Chương 1-5( ticonuong nhận gõ)-
Chương 6-12 Khachxa đã nhận (hoàn tất đến chương 7)

Hết
0
hi Thái Nhi, Nga sẽ đánh máy chương 6-8 phần một nhé.gửi cho mình cái.
0
Mình đã ghi danh cho Thuynga rồi đó. Bạn hãy về người lại các trang trước, có đính kèm hết rồi đó, chỉ việc lấy file đính kèm về mà thôi.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-04 17:33:06Ct.Ly>
Cửa địa Ngục


phần 3

Chương 1

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì sân ga có vẻ thưa thớt người. Tuy nhiên, trong lúc băng ngang, tôi vẫn có cảm tưởng như mình là một kẻ đào tẩu. Chỉ có một chiếc tắc xi duy nhất trên bến xe ở bên ngoài. Tôi đưa một ngón tay ra dấu cho viên tài xế và trông thấy anh ta hoa tay làm hiệu.
0

Trích đoạn: Thái Nhi

Mình đã ghi danh cho Thuynga rồi đó. Bạn hãy về người lại các trang trước, có đính kèm hết rồi đó, chỉ việc lấy file đính kèm về mà thôi.

TháiNhi ơi chương 6--&gt;8 phần một đi liền với chương 1--&gt;4 phần hai mà mình lại lỡ đánh dở rồi, hay bạn nói với Thuynga chọn phần khác đi nha có được không????
Gặp tay kiếm khách âu bàn kiếm
Chẳng phải thi nhân chớ tặng thi


Quê ngoại tớ đấy (Mũi Né - Phan Thiết)
0
Mình type chương 1-5 phần IV nhé
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-27 12:17:41Ct.Ly>
CỬA ĐỊA NGỤC

PHẦN IV

CHẲNG AI TÌM DẤU

1. Tôi trông thấy quần đảo Hebrides lần đầu tiên qua bờ biển phía đông của đảo Mull (1), một hòn đảo xanh tươi nằm tận trong cùng nhóm - Những bức tường đá màu hồng của Lâu đài Duart đứng chót vót trên một mũi đất đối diện với vịnh Loch Linhe và Sound of Mull, đang xoay từ từ về phía dưới chúng tôi trong lúc chúng tôi bay là là bên trên. Trông Hebrides tựa hồ như tách rời khỏi cánh tay của văn minh, mặc dù không đúng như thế.
Tôi đã rời khỏi Khách sạn Lovelace sau khi nhân viên gác cửa cho hay có một thanh tra thám tử tới hỏi thăm về tôi, rồi ông ta trở lại lần nữa để xem kỹ sổ thông hành của tôi. Tôi đã tìm được một chuyến máy bay đi Glasgow và mướn một chiếc phi cơ cỡ nhỏ đưa tôi tới Murra. Trong lúc mắt nhìn đàn cừu trên triền đồi của Mull, tôi nghĩ rằng ít nhất tôi đang ở ngoài tầm tay của Scotland Yard. Tôi cố tìm lũ cừu con lông trắng nhỏ xíu thường chạy lăng quăng chung quanh những con khôn lớn trầm tỉnh hơn nhưng không thấy một con nào, có lẻ hiện giờ không phải là mùa cừu đẻ.
Murra chỉ cách Coll và Tiree, hai hòn đảo tương tự nhau về phía bên kia Mull, khoảng chừng sáu mươi lăm cây số. Chúng tôi gần như không còn trông thấy hai đảo này khi Murra lù lù xuất hiện về phía trước. Viên phi công của chiếc máy bay nhỏ hai động cơ đẩy tay lái tới trước và phi cơ bắt đầu giảm tốc độ. Vào khoảng ba giờ chiều thì ông ta quay vòng cuối cùng, hạ bánh xe và đưa chúng tôi xuống trên bờ biển.
Murra và Barra là những nơi duy nhất trên thế giới mà tôi biết có đường hàng không hoạt động điều đặn nhưng không có phi trường bình thường. Hiện nay phi cơ hạ cánh trên những bãi biển tuyệt đẹp. Chưa đầy một tiếng đồng hồ sau, chiếc taxi già nua đã đưa chúng tôi cùng túi hành lý đến cửa Khách sạn Stornholm.
Mặt tiền của khách sạn nhìn ra Vịnh Battlement và Lâu đài Battle, có hình dáng mập lùn một cách kỳ lạ như đồ chơi, xây trên một núi đá cách bờ biển độ chừng mấy trăm thước. Người gác cửa đang xách hành lý cho tôi chợt trông thấy tôi nhìn quang cảnh đó liền giải
* * * * *

2. Nằm thao thức với cái cảm giác đầu nàng đang kê trên vai tôi tựa hồ nàng đang ngủ, cuối cùng tôi hay biết mí mắt nàng cử động. Hai hàng lông nheo của nàng cọ nhẹ vào da tôi khiến tôi cảm thấy nhột ở vai.
- Em thức đấy à?
Nàng dãn người ra.
- Phải, Stuart, em vẫn còn thức.
Giọng nói của nàng đã mất hết vẻ gượng gạo.
- Thấy em thở nhẹ quá, anh đã tưởng rằng em đang ngủ.
- Chính lòng mãn nguyện đã giúp cho em thở một cách nhẹ nhàng.
- Lúc này mình không có thời giờ làm việc đó. Như thế không khác gì mình quá xa xỉ.
Nàng thở dài :
- Em hiểu. Anh muốn nói chuyện. Anh là một người có tài nói chuyện.
Nhưng nàng cũng mỉm cười. Tôi cảm thấy những thớ thịt nhỏ ở khóe miệng nàng động đậy sát vai tôi.
Tôi lắc đầu.
- Anh là người Tô-Cách-Lan có tính ít nói. Nhưng lúc này anh cần phải nói. Em sắp sửa đi sớm. Anh đã nghe em nói thế với cô bé Campbell.
- Cô bồi bàn? Phải, em muốn cho anh nghe. Cả số phòng của em nữa. Quả thật em không biết xấu hổ.
Nàng chống cùi tay nhỏm người lên và chăm chú nhìn tôi trong ánh sáng lờ mờ của ngọn lửa sắp tắt.
- Mình nói chuyện gì bây giờ? Em phải bắt đầu từ đâu? Kể từ lúc em chưa quen biết anh?
- Mình mới quen nhau được 2 tuần lễ. Nhưng em chỉ cần khởi sự từ buổi sáng em rời khỏi chiếc Victoria.
Nàng nằm ngửa xuống, duỗi hai cánh tay lên phía trên, rồi đặt cả hai bàn tay sau đầu. Thế nằm này khiến cho ngực nàng nổi cao hơn.
- Đúng là một buổi sáng khủng khiếp. Em đã cố tìm anh trước khi đẩy chiếc ghế lăn của Ted vào phòng quan thuế.
- Ted đã được giấu ở đâu?
- Trong phòng của Jacques.
- Vô lý. Anh có nghe người đàn ông trong phòng đó nói chuyện. Rõ ràng y nói tiếng Pháp rất đúng giọng. Ted không thể nói được một câu tiếng Pháp nào nghe ra hồn.
- Stuart, đó chỉ là một trò bịp bợm. Thật ra Ted có trong đó, cũng như người mà anh đã nghe tiếng. Ở giường bên kia. Mê man không biết gì hết. Bọn họ đoán chắc anh muốn điều tra cho rõ, nên đã tương kế tựu kế...
- Thế Ted không ở trong phòng của em hay sao?
- Chỉ trong đêm cuối cùng, sau khi bọn chúng giết Martin Allen.
- Phải. Anh đã ngửi thấy mùi băng keo và thuốc sát trùng trên gối.
- Bọn chúng làm như thế để cho anh ngờ vực em. Có phải anh đã nghi em?
Tôi không trả lời nàng một cách trực tiếp :
- Em làm sao biết được những điều đó nếu em không làm cho Anson?
Nàng lắc đầu qua lại trên hai bàn tay. Bàn chân trái của nàng chạm vào mắt cá của tôi. Sự đụng chạm khiến cho tôi bớt căn thẳng.
Nàng nói một cách khó nhọc :
- Kể ra cũng đúng một phần. Nhưng không phải tự ý. Ai mà muốn làm cho tổ chức bẩn thỉu đó. Và nó bẩn thỉu thật, Stuart, à. Chúng đã hăm dọa Jacques, và sau khi đã giết Jacques chúng lại tiếp tục hăm dọa em. Em phải làm theo lệnh của chúng nếu không sẽ mất hết. Và Jacques cũng phải vậy, thế mà vẫn không tránh khỏi chết.
- Jacques chết lúc nào?
- Em nghĩ anh đã đoán ra. Ngay trong phòng của Ted ở Hoa-Thịnh-Đốn, khi mấy người cùng đi ăn tối ở Hội quán Jockey trở về.
Tôi gật đầu :
- Anh đã đoán đó là xác của Jacques.
- Đúng thế.
Giọng nàng hơi nghẹn lại trong một giây và nàng quay đầu về phía khác. Tôi hiểu ngay nỗi đau khổ mà nàng đã cố che giấu. Tôi đã quá bận tâm với nỗi khổ của mình cùng cuộc tìm kiếm khó khăn, rồi sau đó mãi nghĩ đến nàng nên đã quên lưu ý cảnh ngộ mà nàng phải gánh chịu. Tôi sờ lên vai nàng và nàng ngoảnh mặt trở lại với tôi, mắt long lanh trong ánh lửa.
Tôi khẻ bảo :
- Anh xin chia buồn với em.
- Chuyện đó bây giờ không thành vấn đề nữa. Em có thể uống một chút rượu để cho dễ nói chuyện?
- Dĩ nhiên.
Tôi liền pha hai ly whisky với một chút nước và mang lại giường. Căn phòng đang lạnh dần lúc ngọn lửa tàn rụi trong lò sưởi và sàn nhà cũng giá buốt dưới chân tôi. Nàng chống mình lên trên gối để cầm ly rượu trên tay tôi. Tôi tìm chiếc áo dài của nàng và khóat lên vai nàng, nhét vào hai bên hông, rồi hỏi :
- Anson dùng chuyện gì để hăm dọa em và Jacques?
Nàng đáp :
- Anh cần phải hiểu rõ Jacques. Anh ấy đã tự ý liên lạc với Anson từ trước. Cách đây độ ba năm. Jacques nguyên là một phi công trong Không-Lực

3. Trong lúc thay quần áo sau khi cạo râu xong, tôi đứng ngắm vịnh Battlement từ cửa sổ phía trước phòng của tôi. Hôm nay là một ngày u buồn, với một màn sương mỏng trong không khí. Tòa lâu đài như được phủ dưới một tấm khăn, nhưng vẫn không che giấu được vẻ đen tối. Giữa lúc đó một chiếc tàu thấp, dài từ từ cập bến. Nó có một cây cột radio cao và một hình dáng quen thuộc một cách kỳ lạ, nhưng tôi chưa kịp nhớ ra thì nó đã cập hông vào bến tàu. Trên tàu chỉ thấy bóng dáng hai người đàn ông. Một trong hai người khom mình về phía một chiếc cột trên bến tàu để buộc dây. Người kia vẫn đứng ở bánh lái. Về phía mũi tàu có mấy cái giá kỳ lạ thẳng đứng, rõ ràng để đặt súng. Ở giữa tàu là mấy dàn phóng thủy lôi nhưng không mang sẳn thủy lôi. Chiếc tàu rõ ràng là một ngư lôi đỉnh không trang bị vũ khí.
Ngay khi tôi nhận thấy điều này, tên của chiếc tàu chợt nẩy ra trong trí tôi. Đó là một chiếc ngư lôi đỉnh S của quân đội Đức, còn được gọi là ngư lôi đỉnh E trong cuộc Thế Chiến. Tôi có thể liệt kê các đặc tính của nó căn cứ theo ký ức : trọng tải độ sáu mươi tấn, bề dài chừng tám mươi thước, trang bị hai dàn phóng ngư lôi 500 ly, hai đại liên có đầu nặng nửa ký lô, một trung liên hai mươi ly, dàn động cơ dầu cặn M.A.N. có tốc độ lớn hoặc động cơ chạy xăng Daimler-Benz có thể cho một tốc độ khoảng chừng ba mươi lăm gút.
Một trong hai ngươi ngồi chồm hổm sau tấm kiếng chắn gió để đốt ống điếu. Y chưa đốt xong thì người kia đã bước lên cầu tàu. Trong giây lát tôi đã hiểu vì sao. Y vừa trông thấy Monique đi ra khỏi khách sạn. Nàng sải bước băng qua đường, theo sau là người gác cửa mang hành lý cho nàng.
Gã đàn ông từ chiếc ngư lôi đỉnh đi xuống gặp nàng ở giữa đoạn đường trên cầu tàu và lấy hành lý khỏi tay người gác cửa. Y xoay gót một cách nhanh nhẹn và trở về tàu. Monique nói một câu gì đó với y. Nàng quay lại để thưởng tiền cho người gác cửa trong lúc gã đàn ông xách hành lý của nàng vẫn tiếp tục đi không nhìn lui. Người gác cổng kéo nhẹ vành mũ để chào nàng. Monique lại bước về phía chiếc tàu. Tôi ước mong nàng quay lại và nhìn lên nhưng nàng không hề trông lui và vẫn bước đều.
Một lúc sau tôi nghe tiếng cánh cửa trước của khách sạn đóng mạnh. Rồi tôi trông thấy một người thấp nhỏ chạy ra ngoài, băng qua đường về phía bến tàu. Đó là Matuschek. Y nói lớn một chuyện gì với người đàn ông trên tàu. Tôi không thể nghe rõ. Bọn chúng đợi y. Một trong hai gã đưa một bàn tay cho y để kéo y lên, rồi quay sang đưa tay cho Monique. Nàng nhìn y không nói và bước lên một cách dễ dàng, rồi nhanh nhẹn nhảy vào trong tàu.
Tôi chăm chú nhìn bọn chúng tháo dây và cho động cơ lên tốc độ, quay tàu ra cửa bến. Hình ảnh cuối cùng của Monique mà tôi còn được thấy là một cánh tay đưa lên phía trên khuôn mặt nàng lúc này chỉ là một vết mờ màu trắng.
Người gác cổng nói với tôi :
- Bây giờ không phải là mùa thích hợp với một cuộc ngoạn cảnh chung quanh đảo. Tại sao ông không đi chuyến tàu hơi nước cho tiện? Ngày mai nó lại khởi hành.
Tôi bảo :
- Không được. Có lẻ tôi phải trở về Glasgow bằng chuyến tàu đó, nhưng tôi muốn xem qua Murra trước đã.
- Ồ, được chứ. Tôi chỉ có thể giúp ông một ý kiến là hãy gọi điện thoại cho Archibald MacLeod. Mặc dầu tôi không thể biết chắc cậu ấy có chịu đi hay không, bởi vì chỉ thỉnh thoảng cậu ấy mới cho mướn xuồng máy. Cậu ấy đang chuẩn bị xuồng sẵn sàng cho mùa hè sắp tới. Ông có thể gọi điện thoại đến Lâu đài Battle và hỏi thử xem.
Một giọng nói đàn bà cho tôi hay Archibald MacLeod không có mặt ở nhà. Bà ta cho tôi số điện thoại xưởng tàu ở Lingay, về phía bên kia vịnh, nơi anh ta đang lo tô điểm cho chiếc thuyền buồm.
Chiếc Ailsa tiến vào bến tàu lúc gần mười hai giờ trưa với mấy cây cột trơ trụi và chỉ chạy một động cơ phụ nhỏ. Đó là một xuồng máy xinh đẹp chỉ dài độ mười thước. Một trong hai thanh niên rất trẻ trèo lên cầu tàu và đưa bàn tay cho tôi, rồi nói ngay :
- Tôi là Archibald Sinclair MacLeod. Đây là em tôi, tên Eric.
Archie vào khoảng hai mươi hai tuổi, còn Eric mới độ chừng mười tám. Cả hai đều sạm nắng dường như suốt ngày chỉ ở ngòai trời, từ mùa hè cho chí mùa đông. Archie bằng lòng đi ăn trưa với tôi, nhưng anh ta muốn Eric chờ trên tàu.
Anh ta giải thích :
- Chung quanh đây có nhiều người lạ quá.
Anh ta và cô bé Campbell mĩm cười với nhau dường như họ là một đôi bạn thân, nhưng anh ta rất ít nói cho đến lúc chúng tôi ăn gần xong bữa ăn trưa. Anh ta lắng nghe tôi nói một cách lễ độ, thỉnh thoảng gật đầu.
Tôi đi vào điểm chính :
- Tôi sẽ trả cho anh mỗi giờ một guinea, thêm tiền xăng.
- Ông Dunbar, ông cho nhiều như thế, làm sao chúng tôi từ chối cho được. Chúng tôi cũng đang cần tiền. Chúng tôi sắp sửa đưa chiếc Ailsa tham dự cuộc đua xuyên Đại-tây-dương tổ chức vào mùa hè năm nay. Nếu ông muốn, mình có thể lên đường ngay sau khi ăn trưa xong. Nhưng ông có thể cho tôi biết ông sẽ làm cách nào để trở về đây được?
- Mấy người bạn của tôi trên Saint Sudra sẽ đưa tôi về khi tôi xong việc.
Anh ta nhìn sửng tôi một cách ký lạ và tiếp tục ăn không nói gì nữa. Rõ ràng anh ta đang nghĩ tôi điên nên mới tin tưởng sẽ nhờ được bạn bè trên một hòn đảo không có người ở đưa tôi trở về Murra. Nhưng anh ta muốn giữ lễ độ nên không dám tỏ thật điều đó. Tuy nhiên cuối cùng anh ta vẫn nói khéo :
- Ông nên biết, không có đường điện thoại liên lạc với Saint Sudra. Như vậy ông không thể gọi tôi đến đón ông. Có lẽ hay nhất là tôi chạy loanh quanh ngoai khơi một vài ngày chờ ông.
Tôi bảo :
- Khỏi cần, Arch à. Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn anh đã nghĩ tới chuyện đó.
Anh ta lại nhắc nhở chuyện này một lần nữa trên đường đi tới Saint Sudra. Anh ta chăm chú nhìn trời một hồi, có vẻ vừa ý với thời tiết vì lúc này một chút nắng đã hiện ra. Anh ta vẫn chưa giăng buồm. Thỉnh thoảng mới có một cơn gió nhẹ thổi qua làm cho mặt nước gơn lăn tăn. Từng làn sóng dài của Đại-tây-dương nâng nhẹ mũi chiếc Ailsa lên trong lúc chúng tuần tự chuồi vào phía dưới lườn tàu. Archie và Eric cùng cầm bánh lái.
Archie chợt hỏi :
- Có phải ông là người Mỹ.
- Phải. Nhưng tổ tiên tôi là người Tô-cách-lan.
- Tôi không có ý ám chỉ những người Mỹ đều điên. Chính chúng tôi, Eric và tôi cũng có một nửa phần Mỹ. Ba chúng tôi là người Mỹ. Nhưng chắc ông đã biết rằng trên Saint Sudra không có ai ở suốt ba chục năm nay?
- Phải. Nhưng hiện giờ ở đó có người. Có thể tạm gọi là một đoàn thám hiểm khoa học.
Anh ta nhìn tôi với vẻ hòai nghi.
Tôi liền nói :
- Trông anh có vẻ không tin lời tôi. Ở Murra các anh không để ý thấy gì lạ hay sao? Chẳng hạn có ai đến mua đồ tiếp liệu, thực phẩm?
Anh ta trầm ngâm bảo :
- Có một kho hàng mới thành lập ở Sternholm nhưng không một ai biết gi về bên trong. Trên nóc có cả một cột radio lớn trông thật kỳ lạ. Nhưng chung quanh đó xe cộ rất ít qua lại, và tôi không hề biết một ai từ Sudra đến. Không chừng Eric có thấy ai.
Eric liền nói :
- Không hề. Em không biết một người nào ở đó.
Cả Archie và Eric đều uốn giọng gần đúng tiếng Anh chính hiệu. Tôi nghĩ chắc hai anh em đã từng đi học tại đó.
Archie ngước mắt nhìn trời, kêu lên :
- Xem kìa, tôi tin chắc mình sắp gặp gió lớn. Như thế sẽ giúp cho ông đỡ tốn một mớ xăng.
Anh ta đi về phía trước với Eric và hai anh em cùng kéo buồm lên một cách nhanh nhẹn. Anh ta đoán rất đúng. Gần như ngay lúc đó một ngọn gió đông nam nổi lên. Trong phút chốc, chiếc xuồng đã có một tốc độ lên đến mười lăm gút, nhanh hơn cả khi có máy chạy. Tôi tin tưởng có thể cá chiếc Ailsa sẽ thắng cuộc đua xuyên Đại-tây-dương, nếu Archie nắm bánh lái.
Tôi hỏi Archie anh ta có thể đưa tôi vào Vịnh Gentry theo ngả Friday Sound và eo biển Lunna hay không.
Anh ta đáp :
- Dễ quá mà. Ngả đó cũng không khác ngả mình hiện theo bao nhiêu. Tôi chỉ ước mong gió cứ thổi mãi như thế này.
Tôi cũng ước mong điều đó khi nhớ đến hệ thống điện tử có thể làm tê liệt động cơ của chiếc Ailsa.
Lúc năm giờ thì chúng tôi vào eo biển. Tôi quan sát bãi biển một cách kỹ càng với cặp ống nhòm của Archie cho tôi mượn. Andrews đã nhớ nơi này rất chính xác. Đây là một bãi biển khá sâu với bờ dốc thoai thoải có cát trắng và lởm chởm những đá. Về phía bên kia bãi cát chạy dài một bờ đá cao khoảng chừng bốn thước tây, có nơi lên tới sáu thước, có nơi chỉ độ ba thước, nhưng trung bình là bốn thước. Bờ đá thỉnh thoảng bị tách rời ra bởi một lằn nứt sâu từ trên đỉnh xuống tận dưới đáy. Bãi biển nơi tôi phải đến gặp Andrews và chiếc xuồng máy của ông ta rất dễ nhận thấy ở mút đông bắc, gần đảo Lunna.
Archie chăm chú nhìn tôi trong lúc tôi hướng ống nhòm về phía bãi biển.
Tôi giải thích :
- Tôi chỉ muốn xem thử có thể lội được hay không.
Anh ta nói ngay :
- Ông phải hết sức cẩn thận. Khỏi dấu thủy triều thấp chừng mấy thước, đáy biển thụt xuống không sâu lắm.
- Sâu bao nhiêu?
Eric trả lời sau khi xem lại bản đồ.
- Một trăm fathom, ở chính giữa eo biển.
Tôi le lưỡi :
- Một trăm tám chục thước tây!
Eric mỉm một nụ cười thú vị trước vẻ kinh hoảng của tôi :
- Thưa ông, đúng như vậy. Tuy nhiên, ra khỏi dấu thủy triều thấp, khởi đầu đáy biển chỉ xuống sâu rất nhanh tới bốn mươi fathom.
Lối vào vịnh Gentry chỉ rộng chừng 1.600 thước giữa mũi Pentland và đảo Nossie. Trong lúc chúng tôi quay vào cửa vịnh, tôi phỏng đoán làng Bragawick chỉ cách chúng tôi vào khoảng ba cây số. Với cặp ống nhòm, tôi có thể trông thấy nhiều ụ dọc theo một cầu tàu duy nhất. Bốn chiếc ngư lôi đỉnh S đang đậu ở bốn ụ, cùng với mấy chiếc tuần dương đỉnh. Điều khiến cho tôi ngạc nhiên nhất là một chiếc tàu hàng khá lớn đang bỏ neo trong vịnh cách bến tàu gần một cây số, như đang ngồi lên khỏi mặt nước, phô bày những mảnh sắt gỉ. Quang cảnh có vẻ rộng rịp trên các boong tàu trong ánh sáng đang giảm dần. Một bọn đàn ông đang đưa hàng hóa xuống nhiều chiếc xà lan bằng những cây cần trục.
Archie nhìn tôi.
- Tôi xin rút lại lời tôi đã nói không có ai trên Sudra. Chiếc tàu hàng nào vậy ông?
Eric đáp trước :
- Đó là chiếc Star of Aden, khởi hành từ Alexandria.
Tôi nhìn anh ta, vô cùng ngạc nhiên. Chỉ mình tôi có ống nhòm, và chính tôi còn không đọc nổi tên.
Archie bật cười :
Eric vẫn được nhiều người gọi là Mắt Ó. Nó có thể thấy rõ mọi vật ở cách xa trên ba cây số bằng mắt trần trong lúc tôi không thấy rõ quá một cây số rưỡi dù có ống nhòm.
Eric bảo :
- Tàu đang chuẩn bị rời bến.
(tới đầu trang 258)
07061707
0
Ct.Ly đã ghi tên củà ticonuong vào rồi đó

Ticonuong cứ gõ tiếp nhé

Cảm ơn Ticonuong đã góp chút nội công cho thư viện VNTQ nhé

Chúc vui
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 11:37:27Ct.Ly>
Phần thứ hai: LẮNG NGHE.


Chương I

TÔI trả tiền taxi ở cuối đường 50 gần lối vào cầu tàu 90 trên sông Hudson. Mùi nước biển và dầu cặn trong phút chốc đưa tôi trở về với Trân Châu Cảng và Ford Island. Ở phòng kiểm sóat di trú gần cầu phao về phía chiếc Queen Victoria, một tiếp đãi viên của bến tàu cunard lấy hành lý của tôi khỏi tay người phu vác, và bảo tôi:
Gặp tay kiếm khách âu bàn kiếm
Chẳng phải thi nhân chớ tặng thi


Quê ngoại tớ đấy (Mũi Né - Phan Thiết)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-12 23:09:44Ct.Ly>
Trích đoạn: Thái Nhi

Cửa Địa Ngục
Tác giả : James Dawson
Dịch giả : Bồ Giang

* Phần I: Đường về - 8 chương
- Chương 1-3 Ct.Ly đã nhận (hoàn tất)
- Chương 4-5 Asin đã nhận (hoàn tất)
- Chương 6-8 Thuynga đã nhận

* Phần II: Lắng nghe - 11 chương
- Chương 1-4 buiquanghuyvnn nhận gõ
- Chương 7-8-9 Chính Lan ( Hoàn tất )

Chương 5 Khachxa đã nhận (hoàn tất)
- Chương 6-11 Chưa có người nhận

* Phần III: Thành đô - 4 chương ( Ct.Ly nhận gõ )
Chưa có người nhận

* Phần IV: Chẳng ai tìm dấu - 12 chương
- Chương 1-5( ticonuong nhận gõ)-
Chương 6-12 Khachxa đã nhận (hoàn tất đến chương 7)

Hết


Ok, CtLy đã ghi tên của buiquanghuyvnn vào rồi đó

Còn phần chương Thúy NG đã nhận, thì Buiquanghuy nên stop lại đi

Chừng nào Thúy Nga khg gõ, thì bạn gõ tiếp nhé

Chúc vui
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-23 10:38:58Ct.Ly>
Đã mang vào cho đủ chương




* * * * *

2. Nằm thao thức với cái cảm giác đầu nàng đang kê trên vai tôi tựa hồ nàng đang ngủ, cuối cùng tôi hay biết mí mắt nàng cử động. Hai hàng lông nheo của nàng cọ nhẹ vào da tôi khiến tôi cảm thấy nhột ở vai.
07061707
0
Chương nào chưa có người nhận thì giao cho CC.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-12 23:02:29Ct.Ly>
Phần Thứ Hai - Chương II

TÔI chỉ trông thấy Monique từ xa trong cuộc thao diễn. Nàng xuất hiện khá nhiều nơi, luôn bước song song với người đàn ông có vẻ nổi bật
trong đám đông. Chắc chắn nàng quen biết với người này, bởi vì ông ta cúi người xuống và nói chuyện với nàng một cách đứng đắn. Ông ta khoảng 55; 60 tuổi. Đầu ông ta hoàn
Gặp tay kiếm khách âu bàn kiếm
Chẳng phải thi nhân chớ tặng thi


Quê ngoại tớ đấy (Mũi Né - Phan Thiết)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-27 12:16:12Ct.Ly>
(Tiếp theo từ trang 249, chương IV - CHẲNG AI TÌM DẤU)

3. Trong lúc thay quần áo sau khi cạo râu xong, tôi đứng ngắm vịnh Battlement từ cửa sổ

Đã mang vào cho đủ một chương CHẲNG AI TÌM DẤU)
07061707
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-23 10:40:24Ct.Ly>
(từ trang 252)

Archie vào khoảng hai mươi hai tuổi, còn Eric mới độ chừng mười tám. Cả hai đều sạm
07061707
0
Chào các bạn!

Mình xin nhận Phần I - Chương 6 đến chương 8.

thân.
Tam thập rồi sao độ bốn Xuân
Mà sao đời mãi vẫn gian truân
Hai mươi năm lẻ còn tay trắng
Thử hỏi trong lòng sao có Xuân...
0

Trích đoạn: Ct.Ly

Trích đoạn: Thái Nhi

Cửa Địa Ngục
Tác giả : James Dawson
Dịch giả : Bồ Giang

* Phần I: Đường về - 8 chương
- Chương 1-3 Ct.Ly đã nhận (hoàn tất)
- Chương 4-5 Asin đã nhận (hoàn tất)
- Chương 6-8 Thuynga đã nhận

* Phần II: Lắng nghe - 11 chương
- Chương 1-4 buiquanghuyvnn nhận gõ
- Chương 7-8-9 Chính Lan ( Hoàn tất )

Chương 5 Khachxa đã nhận (hoàn tất)
- Chương 6-11 Chưa có người nhận

* Phần III: Thành đô - 4 chương ( Ct.Ly nhận gõ )
Chưa có người nhận

* Phần IV: Chẳng ai tìm dấu - 12 chương
- Chương 1-5( ticonuong nhận gõ)(đã hoàn tất)-
Chương 6-12 Khachxa đã nhận (hoàn tất đến chương 7)

Hết


Ok, CtLy đã ghi tên của buiquanghuyvnn vào rồi đó

Còn phần chương Thúy NG đã nhận, thì Buiquanghuy nên stop lại đi

Chừng nào Thúy Nga khg gõ, thì bạn gõ tiếp nhé

Chúc vui

0
Chào Ct.Ly
Mình vừa hoàn tất chương 1-5, phần IV - cửa địa ngục
Chương 6-11, phần II chưa người nhận mình nhận luôn nha.
07061707
0
Trích đoạn: Ct.Ly

Trích đoạn: Thái Nhi

Cửa Địa Ngục
Tác giả : James Dawson
Dịch giả : Bồ Giang

* Phần I: Đường về - 8 chương
- Chương 1-3 Ct.Ly đã nhận (hoàn tất)
- Chương 4-5 Asin đã nhận (hoàn tất)
- Chương 6-8 Thuynga đã nhận

* Phần II: Lắng nghe - 11 chương
- Chương 1-4 buiquanghuyvnn nhận gõ
- Chương 7-8-9 Chính Lan ( Hoàn tất )

Chương 5 Khachxa đã nhận (hoàn tất)
- Chương 6-11 Chưa có người nhận

* Phần III: Thành đô - 4 chương ( Ct.Ly nhận gõ )
Chưa có người nhận

* Phần IV: Chẳng ai tìm dấu - 12 chương
- Chương 1-5( ticonuong nhận gõ)-
Chương 6-12 Khachxa đã nhận (hoàn tất đến chương 7)

Hết


Ok, CtLy đã ghi tên của buiquanghuyvnn vào rồi đó

Còn phần chương Thúy NG đã nhận, thì Buiquanghuy nên stop lại đi

Chừng nào Thúy Nga khg gõ, thì bạn gõ tiếp nhé

Chúc vui
CtLy ơi cho tớ nhận chương 3-4 của phần ba nhé![:)]

Từ trang 207 đến trang 227 nhé

0



Chị CtLy ơi nếu ai chưa nhận phần II chương 6-11 thì để em nhận cho. Chị gửi qua mai này cho em nha [email=tynvungtau@yahoo.com]tynvungtau@yahoo.com[/email]


[/align]
0
minh nhan chuong 6-8 dc ko?
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»