Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Tập truyện ngắn "Mùa chim cu làm tổ" của Trần Hữu Tòng

5 trả lời, 1.903 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-17 08:29:08Chuộtlắc>
Trần Hữu Tòng


mùa chim cu làm tổ

Tập truyện ngắn


Nhà xuất bản Hà Nội - 2002



Món nợ đời

Sấm nổi lên. Gió lạnh thổi về. Cơn giông ùn ùn kéo tới. Mưa. Mưa. "Nắng ba trưa, mưa ba chiều - Các cụ truyền lại chả sai điều gì...". Ông Nhân nhìn trời rồi lẩm nhẩm như vậy. Ông xỏ chân vào ủng, tay cầm gậy tre đi dạo quanh trại nuôi gà. Đàn gà thính lắm. Chớm nghe tiếng sấm, tiếng mưa và có chút gió xào xạc là chúng rủ nhau vào tít góc chuồng. Chúng xếp xánh tựa vào nhau nằm gọn như ủ ấm cho nhau. Lúc này chúng đều nhướng cổ lên nhìn ra dõi theo từng bước đi của ông chủ rồi chuyền nhau tiếng "chiếc chiếc, tục tục..." như đồng thanh: "Chào ông chủ..."
Công việc đó đáng ra là của cậu Chín. Nhưng từ chiều khi thấy mây đen kéo về đầu núi Chùa, ông Nhân đã giục cậu:
- Chẽ chắn chuồng trại rồi cháu về sớm đi, kẻo mưa.
- Vâng. Cháu che thêm lưới sắt quanh chuồng. Đêm giông gió rắn, chuột lại mò vào - Chín trả lời với thái độ cẩn trọng của người bảo vệ tận tâm.
Ông Nhân không lạ lẫm gì đất núi Chùa, quê ông nữa. Đó là núi đá vôi có vô số hang hốc nên rắn nhiều vô kể. Mà gà con, trứng gà là "đặc sản" của chúng đấy. Rồi lại còn cả nạn chuột nữa chứ. Chuột núi lông đen chùi chũi, chuột đồng lông tím mượt, béo núc kéo đàn kéo lũ vào rình rập. Chúng bắt gà con. Chúng cào rách vỏ trứng để hút lòng đỏ. Chúng cắn chết gà thịt. Chúng còn ẵm cả trứng mang đi. Có lần ông đã tận mắt nhìn thấy hai ba con chuột, mỗi con ẵm một quả trứng bò ba chân nghễu nghện theo hàng dọc trông vui như đoàn vận tải...
Ông Nhân đã đọc sách nói về các loại rắn rồi. Và ông cũng đã học được những bài thuốc dân gian chữa rắn cắn mà sách đã dạy. Ông biết nước ta có đến một trăm ba mươi lăm loại rắn. Trong đó có ba mươi làm loài rắn độc. Riêng ở núi Chùa này ông đã nhìn thấy rắn hổ chúa, rắn hổ đất, rắn hổ phì ở đầu nó có vảy to bóng loáng, rắn lục, rắn mai gầm, rắn cạp nong, rắn ráo... Nhiều lần ông Nhân đã tính đến việc phải ra làng Lệ Mật vời "thợ" về dạy bí quyết bắt vợi rắn đi để giữ yên đàn gà. Nhưng khốn nỗi, bắt hết rắn thì chuột lại sinh sôi, được thể hoành hành. Vì chuột là thức ăn "truyền thống" của rắn. Ông Nhân cũng đã nghĩ đến việc diệt chuột. Nhưng đặt bẫy thì loài này ranh lắm. Nó chỉ bị lừa một lần rồi sau rủ nhau tránh xa. Việc đánh bả thì nghĩ cho cùng có khi được một với lại mất hai sải. Thuốc độc vương vãi, gà sẽ ăn phải. Môi trường vùng quê đang trong lành bị ô nhiễm. Biết đâu rồi lại gây tai họa cho người... Mà rắn ở đây thì dạn người lắm. Ông đã xáp nó nhiều lần. Ông biết rắn là một loài vật "yêu hòa bình". Nó thường tìm chỗ kín để sống cho yên thân. Rắn không tìm người để cắn. Dù là loài rắn hung dữ nhất cũng không chủ động tấn công người. Nó cắn người là do bản năng tự vệ, lúc nó bị xéo đạp, bị truy đuổi hoặc cuộc giao hoan bị... quấy phá. Đấy, ông đã nhiều lần xáp con rắn hổ mang đất đen đầu. Nó hay nằm chầu ở cửa trại gà để rình chuột. Ông đi đến gần, nó chỉ nằm im. Nó trương đôi mắt xanh lè nhìn ông. Nó dõi theo từng cử chỉ của ông. Ông dừng lại. Ông không làm nó sợ hãi. Ông vẫy tay ra hiệu cho nó... "nhường lối ông đi". Nó ngóc cao cổ lên. Cái lưỡi nhọn thập thò. Cái đầu gật gật. Nó thở phì phì mấy cái như... vâng lời ông. Rồi, nó uốn khúc lặng lẽ trườn đi. Cái đuôi nó vểnh lên ve vẩy như... vẫy chào ông. Còn những con chuột núi đen chùi chũi kia nữa. Nhìn thấy ông, nó dỏng đôi tai bóng nhãy lên nghe ngóng. Đôi mắt nó trập trừng, liến láo. Cái mỏ nhọn hất lên, đỏ chót như vừa bôi son. Nó réo "chít chít...", như chửi đểu mấy tiếng rồi lủi nhanh vào bụi rậm. Vậy là diệt chuột thì sợ gà ăn phải bả, mà bắt hết rắn thì lũ chuột lại sinh sôi, ông Nhân đành tính đến nước cờ vời cậu Chín đến. Ông thuê cậu canh giữ cho cái trại gà đã có đến ngàn con. Người làng Trung nhìn vào trại ai cũng tấm tắc khen ông thức thời với đổi mới, với kinh tế thị trường. Họ khen ông dám vay vốn Nhà nước, lại biết tìm ra cung cách làm ăn. Ông thắng to như thế là phải.
Nhà xậu Chín ở tận dưới xóm Bãi. Cả làng Trung này ai cũng biết đến tên tuổi và sự tích dị kỳ của nhà cậu. Cậu Chín có nước da tai tái và bước đi tất bật. Nhưng ấn tượng nhất là đôi mắt. Đôi mắt cậu nhìn ai cũng trập trừng, hấp háy, hay liếc ngang nhìn xéo. Người ta bảo mắt cậu là mắt chuột ngày. Giảo lắm. Khi nói chuyện, hai khóe miệng cậu dành ra, nhọn như hai ngạnh trê nhấp nháy. Cậu nói cứ úp úp mở mở, lập là lập lờ như gài bẫy người nghe... Trước kia cậu Chín vốn là nhân viên thu mua của cửa hàng thương nghiệp huyện. Nhưng rồi không biết từ vụ nhập nhằng hàng rởm, hàng thật thế nào, nâng lên hạ xuống giá cả ra sao mà cậu bị sa thải. Cậu về xóm Bãi sống với cô vợ lùn tỳ và với thằng con dở hơi. Mỗi lần lên cơn động kinh nó lại điên khùng, phá phách. Có lần cậu Chín xích chân nó vào một tảng đá giam nó ở xó nhà. Nhưng rồi nó vác cả tảng đá và xích sắt ra đường xóm chơi. Nó nện gạch vào xe và người đi đường. Gặp trẻ con, nó nắm chỏm tóc nhấc bổng lên ném vào gốc cây, xem như trò đùa. Cả làng Trung này ai cũng bảo rằng: "Đời ông cha ăn mặn, đời con cháu khát nước", là thế. Ông nội cậu Chín ngày trước vào loại trở cờ lật mặt, cõng rắn về cắn gà nhà. Ông ta báo quan Tây đưa lính khố xanh về vây núi Chùa sục vào hang đá bắt Cộng sản. Cái đận ấy ở làng Trung này có đến mấy chục người bị bắt bớ, bị tra tấn tù đày. Có người đã mất tích. Vài năm sau đó, bố cậu Chín phát điên, phát dại. Suốt ngày ông ra đứng ở đầu núi Chùa gào khóc. Rồi ông bị rắn hổ mang cắn chết ở cửa hang đá. Cô em gái của Chín mười tám hơ hớ đổ bệnh tâm thần. Cô bỏ nhà đi biệt tăm, biệt tích... Cái "căn" ấy nặng lắm, đời con cháu cậu Chín còn phải gánh chịu... phần thì buồn về con, phần vì túng bấn quẩn bức, Chín sinh nghiện ngập. Hễ nốc rượu vào, mặt mày phừng phừng, chuyếnh choáng là cậu ta lôi vợ vào giường. Bất kể vì cớ gì mà vợ xin khất là cậu thượng cẳng chân hạ cẳng tay nện chí tử. Cậu nện đến hả rượu, hết cơn mới buông tha cô vợ khốn khổ. Nhà cửa cứ om sòm, ầm ĩ. Xóm giềng chạy sang, khi vỡ lẽ họ chỉ nhìn nhau cười trừ, bỏ về. Mới rồi đây, Chín lại đổ đốn đi rình mò, chôm chỉa của hàng xóm. Chín còn bày mưu hèn kéo cả thằng con dở hơi đi làm trò ấy nữa. Chả là thằng ấy to như hộ pháp. Vài lần bị lộ, Chín ta lẩn nhanh để thằng con dở hơi đứng lại. Thằng ấy lì đòn lắm. Lôi lên đến công an xã, công an huyện rồi đấy nhưng cũng chả ai thèm chấp cái thằng dở hơi...
Thế mà ông Nhân gọi cậu Chín đến nhà. Ông nghĩ đến tình cảnh nhà cậu. Đáng trách thật đấy. Mà cũng đáng thương hại, tội nghiệp cậu ta. Ai có tội thì kẻ ấy đã chịu rồi. Còn nó. Mình lấy cái tâm để cứu nó thì hơn... Ngày đầu, ông Nhân bàn với bà việc ấy. Bà Nhân ngẫm nghĩ một lát:
- Ông nghĩ kỹ đi. Con cháu nhà mình thì xa. Đứa làm việc ở Hà Nội, ở Sài Gòn, đứa học hành ở tận nước ngoài, rồi nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà lỡ xẩy ra chuyện gì thì nước xa, lửa gần ông biết kêu ai.
Ông Nhân ngồi yên. Ông có mái đầu húi cua, tóc bạc trắng như cước. Nước da ông hồng hào. Đôi mắt đen của ông nhìn thẳng, cương trực. Gương mặt thuần hậu, hiền lành như thế thường gặp ở nhiều người trong làng Trung này. Ông nói:
- Bà ơi - Giọng ông trầm, ấm - Sông có khúc người có lúc bà ạ. Ta cứ lấy cái nhân, cái đức mà cư xử với nó. Chung quy nó quá quẫn bức với cảnh nhà. Thói đời là thế, đói ăn vụng túng làm liều mà. Tôi nghĩ rồi, nó trở thành người tốt, vợ con nó được nhờ mà hàng xóm mình cũng được yên ổn. Để nó trở thành đứa như thân trâu không sợ lấm bùn, đâm thuê chém mướn thì rồi tai họa to. Bà thấy đấy, vừa rồi trong việc bầu bán chỉ vì thằng Chín ấy mà làng Trung ta mất đứt cái khoản "làng văn hóa" đi đấy.
- Tôi cứ lo lo. Không biết người ta có tu tâm đổi tính để chỉn chu làm ăn không, hay mình làm phúc rồi xúc lấy tội.
- Bà ạ. Lấy oán trả oán thì oán chất chồng. Lấy ân trả oán thì oán biến thành không. Các cụ đã dạy thế. Trăm đứa mới có một đứa tâm địa như vậy.
Ông Nhân nói với bà rằng những lời các cụ dạy đã ngấm vào tâm can của ông. Nó giúp ông xuôi chèo mát mái trong việc đối nhân xử thế. Và, cái ân, cái oán ở đời thì chẳng lâu la gì đâu, nó bày nhãn tiền ra đó.
- Ông lại sắp nhắc đến chuyện mấy ông Tây đen chứ gì. Ông ơi, ở đời có mấy người được như thế hả ông. Thời buổi coi trọng đồng tiền này được việc rồi là người ta ngoảnh mặt đi xuôi. Ông cả tin, đổ thóc giống cho người như bộ đội nhà ông thời nào thì rồi có lúc mất cả chì lẫn chài đấy. Ông tính kỹ đi. Việc đó tùy ông liệu.
Bà Nhân nói vậy là bà nhắc đến cái ngày ông ở bộ đội. Ngày ấy, ông được trên giao việc canh giữ cải tạo đám tù binh Âu - Phi. Lúc Nhà nước ta cho họ hồi hương, nhiều người đã ôm lấy ông mà khóc, mà cảm ơn. Sau đó có người trong số họ đã giữ đến chức tướng lĩnh chỉ huy quân đội nước họ. Khi được sang thăm ta, họ đã tìm đến thăm ông, chào ông.
"Cái thằng Chín khật khưỡng, ăn cắp, chửi đổng là tai ương của xóm Bãi, nay đã có việc làm". Mươi bữa nửa tháng sau, bà con cả làng Trung chuyền nhau câu nói ấy. Ông Nhân xem Chín như con cháu trong nhà. Chín được ăn cơm trưa với ông. Mỗi bữa ông cho chén rượu thuốc. Chín đã bớt sưng sỉa với vợ. Ông Nhân trả công cho Chín phải nói là rất hậu hĩnh. Mỗi tháng bốn trăm năm mươi ngàn đồng, bằng tiền bán mười hai con gà thịt hoặc bốn trăm hai mươi quả trứng. Với số tiền đó, Chín mua được hơn hai tạ thóc. ở cái làng bên chân núi đá vôi, ruộng khô cằn này hiếm người mỗi tháng làm ra được ngần ấy. Để đáp lại lòng tốt của ông, Chín làm mọi việc đều chu tất. Hàng ngày cậu đeo băng bịt miệng, đầu đội mũ trùm tai, chân đi ủng đến gối trông như anh công nhân môi trường thực thụ xách nước vào chuồng quét dọn, cọ rửa sàn. Cậu cho gà mái ăn cám, gà thịt ăn thóc, gà đẻ, gà ấp ăn chế độ dinh dưỡng riêng. Mọi việc làm đâu ra đấy. Chín tận tụy như một công nhân chăn nuôi. Cậu nhặt trứng, đánh số, xếp vào hộp, đúng hẹn mang đến các nhà hàng, rồi nhận tiền về ghi vào sổ. Chín sành sỏi cứ như anh nhân viên thương nghiệp. Chiều khi gà vào chỗ nằm, Chín điểm đầu, đủ số mới đóng cửa, cài then chuồng. Chín cầm gậy đi quanh trại một vòng kiểm tra hàng rào, bịt mạch chuột, rắc vôi bột vào lốt rắn bò. Chín thực sự là một người bảo vệ tận tụy. Việc mua thức ăn cho gà, xuất gà con, bán gà thịt... Chín có nhiều đầu mối, mọi việc cứ ngon ơ. Cậu Chín cần đèn pin, cần ủng cao cổ, cần áo da... cậu Chín cần thêm tiền bồi dưỡng độc hại, ông Nhân đều thỏa mãn. Chín cun cút. Chín tận tụy. Một cậu Chín khác hẳn cái cậu Chín "trời đánh" ngày nào.
Cậu Chín còn rất say sưa rèn luyện nghề điểm huyệt gà. Chín đã trở thành "thiện nghệ" cái thủ thuật ấy. Chín có cách nhẹ nhàng luồn tay dưới ức gà nhấc bổng nó lên. Chín dùng hai ngón tay ấn mạnh vào hai bên nách con gà. Và một ngón tay của bàn tay khác điểm đúng huyết yết hầu nó. Con gà há mồm ra mà không kêu được. Không vỗ cánh được. Đàn gà không xao xác. Khách đến mua gà xin mời chọn bất cứ con nào trong đàn. Chín lừ lừ đi vào rồi xách ra đúng con ấy. Gà không bị vỡ trứng, không bị hao cân. Ông Nhân tín nhiệm Chín về môn ấy. Những lúc vui, Chín có câu chuyện làm quà "ly kỳ" đáo để. Cậu ta kể về mánh khóe của các tay "bợm gà', chuyện đi ẵm gà đêm. Chín nói rằng chúng mang theo chiếc bao tải đựng ít tro bếp. Chúng bắt gà theo cách Chín đã làm rồi bẻ quặt đầu nó ấp vào cánh tống ngay vào bao tải. Gà sặc tro, ngạt thở... Chín nói, chuyện đó cậu ta biết từ ngày làm nhân viên thu mua ở thương nghiệp. Những lúc kể như vậy Chín say sưa lắm. Đôi mắt cậu ta liến láo. Người tinh ý có thể đọc được trong ánh mắt ấy sự từng trải... Ông Nhân thì lòng ngay dạ thẳng. Ông chỉ hướng về điều thiện. Ông chỉ toan tính đến những việc tốt lành. Ông đã tâm đắc rằng, có thể lứa gà tới, ông sẽ cho cậu Chín góp vốn cổ phần hưởng lời theo tỷ lệ công làm chứ không còn quan hệ giữa chủ với người làm thuê nữa.
Người xóm Bãi lúc này đã nói với nhau: "Thằng Chín thế mà đã biết tu tỉnh làm ăn rồi đấy". Nhưng cũng có người tắc lưỡi: "Đường còn dài, chớ vội. Đôi lần còn thấy cậu ấy thì thụt ở quán rượu đấy".
Con gà trống lông vàng đốm trắng cất tiếng gáy lanh lảnh nghe vang như tiếng kèn đồng của "nhạc trưởng". Rồi, những thành viên khác trong "dàn nhạc", gáy chuyền. Trại gà chân núi râm ran bản hòa tấu buổi hừng đông. Ông chủ trại quý con gà trống đốm này lắm. Nó đầu đàn đấy. Trông thấy ông từ cửa trại là nó xòe rộng đôi cánh, chúi đầu chạy ra đón. Đôi mắt nó lúng liếng nhìn ông. Đôi chân bậm bạp của nó dậm giật. Thế rồi chân nhảy, cánh múa nó quay vòng theo điệu nhạc mồm "túc tục, túc tục..." quấn quýt quanh chân ông. Nó mừng vui chào ông chủ. Ông cho nó ăn nắm cám ngon. Ông chải chuốt bộ cánh vàng đốm trắng và vòng cườm tím biếc quanh cổ nó. Ông vuốt ve bộ mào đỏ bảy đỉnh nhọn rung rinh như cờ bay trong gió. Bốn giải mào của nó đung đưa phơ phất hai bên trông oai hùng như cụm cờ chiến thuở xưa... Và, lúc nào cũng vậy, khi ông đi ra là nó xòe cánh chạy theo mổ nhẹ vào bàn chân để tiễn ông, nhắc nhủ ông mau trở lại với nó! Ông chủ đi xa rồi, nó vẫn đứng tần ngần, đôi mắt khuyên vàng lóng lánh nhìn theo... lưu luyến lắm. Ông chủ quý con gà đốm trắng còn có một lý do nữa. Nó đã nhiều phen "kịch chiến" với lũ chuột bảo vệ đồng loại. Nó có vẻ đẹp như một "hiệp sĩ", như "chú lính biên phòng" của trại. Ban đêm nó nhận phần nằm ở phía ngoài, gần cửa để "cảnh giới" nơi phên giậu. Cái mỏ sắc nhọn như lưỡi rìu chiến luôn sẵn sàng. Chuột thập thò, rình rập là nó đã đập cánh "báo động" cho đồng loại. Có lần con chuột núi khoét rào, đào hang ngầm chui lên, nó liền xông đến mổ phủ đầu, tới tấp. Con chuột mang đầu máu rúc ngay xuống hang. Ông Nhận cười vui "trại gà đã có hai "vệ sĩ": cậu Chiến và chú gà đốm trắng".
Ông Nhân ngồi dậy. Bà Nhân đã châm bếp dầu đun nước, pha ấm trà nóng.
Bỗng ông xóm trưởng dựng vội chiếc xe đạp ở bờ rào. Ông hớt hải xô cửa bước vào. Ông nói trong hơi thở dồn:
- Ông Nhân ơi! Ông Nhân ơi. Nguy lắm rồi. Phải cứu thằng Chín ngay thôi.
Ông Nhân sững sờ chưa kịp hỏi lại. Ông thôn trưởng nói tiếp:
- Nó bị rắn đớp rồi. ở mu bàn chân. Rắn ở trại gà đấy.
Ông Nhân nhướng đôi mắt ngạc nhiên:
- Sao lại ở trại gà. Nó về nhà từ chiều qua?
- Khổ quá. Nó đến chôm chỉa. Nó lại tha cả thằng dở hơi đi nữa. Thằng con cõng thằng bố chạy về đấy.
- À. Ra thế. Chắc bị con hổ mang đất đớp rồi. Nó từ hang đá bò ra quen nằm ở cửa trại gà rình chuột.
Bà Nhân từ bếp đi lên đã nghe thủng câu chuyện. Bà chép miệng: "Lại còn đến nước ấy nữa. Ông lão nhà tôi đã cả tin đổi nắm bánh rán lấy cục cứt bò rồi". Bà lắc đầu. Chua chát.
- Bây giờ chân nó thế nào? - Ông Nhân hỏi ông xóm trưởng.
- Sưng to. Đỏ lửng lên. Nhưng thằng con đã lấy giây buộc chặt cổ chân thằng bố. Giây nó mang theo cùng bao tải để bắt gà đấy.
- Nó có kêu buồn nôn, khó thở không?
- Thấy cái chân nó sưng to tôi sợ quá. Tôi không kịp hỏi thêm.
Ông Nhân hỏi vậy là vì ông đã có kinh nghiệm chữa rắn cắn cứu bà con ở làng Trung này rồi. Ngoài cách chữa bằng thuốc gia truyền, ông còn chữa bằng cây lá thuốc dân gian. Những bài thuốc ấy, ông học được trong sách "Chín mươi bài thuốc chữa rắn cắn". Sách dạy rằng: bị rắn cắn sau sáu giờ thì sưng to. Sau mười hai giờ thì da phồng rộp, chảy nước đỏ, hoại tử, rồi liệt hô hấp, liệt thần kinh sọ não, hôn mê... "ờ, nó mới ở dạng sưng to. May đấy. Ông chờ tôi. Phải kết hợp ông ạ!". Vừa nói với ông xóm trưởng, ông Nhân vừa mở khóa rương, lách cách. Ông lấy "thuốc gia truyền" gói trong mảnh vải đỏ. Môn thuốc đó do cụ nội của ông để lại. Đó là cục nam châm to bằng nửa bao diêm. Cụ nội ông, rồi ông thân sinh ra ông, nay cả ông nữa đã cứu chữa người bị rắn cắn ở làng Trung này! Cụ nội ông kể lại với bà con rằng, một ông Xứ ủy Cộng sản đã để lại cho đấy. Thời đó, ông Xứ ủy hoạt động ở đây. Ông thường ẩn trong ngách đá núi Chùa nên phải dự phòng để cứu mình, cứu đồng chí. Khi tên phản bội chỉ điểm, ông bị lính khố xanh vây bắt. Rồi ông bị đày ra Côn Đảo. Ông đã trao lại cục nam châm cho cụ nội ông Nhân. Ông dặn lại rằng để làm phúc cứu bà con... Thế rồi những ngày đánh Pháp, du kích, bộ đội ẩn hầm bí mật bị rắn cắn, các cụ đã dùng "thuốc gia truyền" này để cứu chữa. Kỳ thực thì ông Nhân cũng chỉ làm theo lời các cụ truyền lại. Các cụ làm thế nào, ông cũng làm như thế. Thấy được việc rồi lưu truyền lại cho nhau. Chứ chưa ai giải thích vì sao. Mới đây, ông Nhân đọc một bài in trên tờ báo xuất bản ở Trung ương. Bài báo cho biết có người đã chữa rắn cắn theo cách ấy, ông mới hiểu thêm...
Chiếc xe đạp cọc cạch không phanh, không chuông rên rỉ, nhảy chồm chồm trên đường làng. Ông xóm trưởng lên gân, lên cốt, khuỳnh tay khuỳnh chân đáp đến toát mồ hôi đèo ông Nhân phóng xuống xóm Bãi. Chân đạp, mồm nói. Tiếng ông xóm trưởng đứt quãng trong hơi thở. Ông nói rằng, ông đã định đánh liều tháo chiếc máy điện thoại ra. Ông biết một bộ phận trong máy có nam châm. Nhưng cả xã chỉ có một chiếc, ông không dám. Ông xóm trưởng kể ngày ông là lính ở đồn biên phòng Cầu Treo trên biên giới Việt - Lào cũng có một cậu bị rắn cắn. Ông đã tháo chiếc máy điện thoại của đồn lấy nam châm và cứu được cậu ấy.
Thằng Chín nằm dài. Thở hổn hển. Thoáng nhìn thấy ông Nhân đôi mắt chuột ngày của nó trập trừng liếc xéo rồi úp mặt vào tường. Ông Nhân đứng khựng lại. Giờ đây ông có cảm nhận sao mà ánh mắt ấy xám lạnh đến thế. Sao mà giống ánh mắt của con rắn hổ mang đất đến thế. Và, cái trán hói đến đỉnh đầu kia nữa, mồ hôi nhớt vã ra. Sao mà giống đám vảy bóng mượt đóng trên đầu con rắn hổ mang phì! Nhưng... nhưng mà mồm, mũi, chân tay nó đấy. Vẫn là... đúng rồi, vẫn là nó đấy. Thằng Chín đấy. Cái thằng Chín từng...
- Lạy ông. Ông cứu con... con cắn cỏ lạy... - Chín vẫn nằm úp mặt. Rên rỉ.
Tiếng nói của Chín cắt ngang suy nghĩ của ông Nhân. Ông ngần ngừ. Ông chép miệng. Khuôn mặt thuần hậu của ông lâu lắm mới thoáng xuất hiện sự chua chát:
- Nào. Cậu nằm ngửa ra. Cậu duỗi thẳng chân, tôi xem nào. Ông Nhân nhẹ nhàng nâng bàn chân sưng đỏ của Chín lên - Cậu bị con hổ mang đất cắn rồi. Cậu xéo phải nó chứ gì. Trước lúc gà gáy canh ba giờ Tý chuột đi tìm mồi, phải không? ừ. Cũng còn rất may cho cậu. Chưa phù cứng. Chưa xuất huyết nhiều chỗ. Cậu có thấy bí đái không? Không à? Cậu đã thấy khó thở chưa? Chưa à?... Thế là may lắm rồi. Nào cô Lim đâu? Cô nấu nhanh nồi nước lá thơm rửa chân cho chồng.
Rồi, ông Nhân rửa kỹ lại vết thương bằng thuốc tím. Xong, ông đặt cục nam châm vào đấy. Một hồi lâu, cục nam châm rời ra.
- Thế là tốt rồi.
Ông Nhân xoa bóp bàn chân sưng đỏ của Chín. Ông giục người nhà tìm ngay gừng già, quế, lá trầu, phèn chua, vôi, rễ chanh, hạt chanh, củ chuối hột, hạt cau... là những vị thuốc trong sách đã chỉ dẫn...
Cô Lim đến nhà ông Nhân. Tay cô xách cái túi cói nặng khệ nệ đi vào. Cô có dáng người hột mít. Khuôn mặt cô quá đầy đặn và đôi mắt nhỏ một mí lúc nào cũng hum húp như sắp khóc. Người xóm Bãi bảo rằng khuôn mặt cô nặng nề thế, lại có cái nhìn sụp xuống như thế là trời sinh ra cô để cam chịu và sống... vô tâm. Chồng nện nằm ngày ba trận lại dày vò đến thế mà vẫn... trùng trục. Da săn như cột gỗ lim.
- Mẹ con cháu không biết lấy gì để tạ ơn ông. - Cô ngập ngừng.
Ông Nhân cười:
- Có gì đâu mà ơn với huệ. Thuốc vườn, thầy nhà thôi mà. Cây lá của bà con làng Trung ta trồng. Nam châm là của các cụ để lại làm phúc. Lâu nay tôi có nhận gì của ai đâu. Thôi... Đã vậy cô để chai rượu lại đây. Còn nải chuối đưa về bồi dưỡng cho cậu ấy.
- Ông nhận cả cho mẹ con cháu...
- Không. Tôi không biết uống rượu. Nhưng để cô mang rượu về thì làm mồi cho cậu ấy sau sưa.
- Ông thương chúng cháu quá. Ông đã cứu anh ấy...
Cô Lim rút khăn lau nước mắt. Cô phân trần:
- Ông ạ! Số cháu là số trời đày. Khốn khổ quá ông ơi! Không ai nặng nợ về đường chồng con như cháu. Cháu biết ông đã mấy lần cho anh ấy gà giống đưa về nuôi. Ông còn cho cả trứng nữa. Nhưng rồi... - Cô mếu máo - Xấu chàng thì hổ ai. Cháu hổ thẹn với ông, với xóm làng. Cháu cắn răng không dám hở với ai. Anh ấy lén lút đưa vào quán gán nợ rượu hết. - Cô Lim khóc nức nở - Đến nước này thì cháu không còn giấu giếm được nữa. Cái buổi sáng anh ấy bị rắn cắn có người ở mấy cửa hàng ăn, quán phở dưới phố huyện lên chờ lấy gà. Khi biết lỡ hàng họ đòi phạt vạ...
Ông Nhân ngồi lặng. Đôi mắt đen có cái nhìn nhân từ của ông lúc này ngán ngẩm. Đôi mắt ấy hiện lên rất rõ sự thất vọng, tan biến hết những ý định tốt lành. Ông lắc đầu, chép miệng. Ông định nói điều gì đó nhưng cứ ngập ngừng, ngập ngừng... Đến bây giờ đã bảy mươi tuổi rồi, ông mới thấm thía câu can gián của người vợ hiền: "Nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà" là thế. Sự hối tiếc muộn mằn day dứt ông. Ông nói, giọng hạ thấp:
- Thôi. Bây giờ thì tôi không cho nữa. Tôi bán cho vợ chồng nhà cô mấy đôi gà giống tốt và bao cám ngon. Vợ chồng bảo ban nhau làm chuồng trại mà chăn nuôi. Bao giờ gà thành đàn, cậu ấy thành người, nhà cô có vốn, có lãi thì nhớ trả nợ cho tôi.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-17 08:36:15Chuộtlắc>
Mùa chim cu làm tổ (*)


(*) Giải nhất cuộc thi viết truyện ngắn giáo dục đạo đức cho thiếu nhi. Chùm truyện ngắn được giải gồm 3 truyện: Mùa chim làm tổ - Lời ru của bà - Tử tế.


Mỗi lần đi học về, Kiên vội để cặp sách lên bàn, nó chào bà nội rồi chạy nhanh sang nhà ông Bằng. Kiên thích sang chơi bên nhà ông Bằng lắm. Nhà ông Bằng có hai gian lợp ngói và một bếp cũng lớp ngói đỏ lựng. Các ông trong hội Cựu chiến binh làm giúp ông. Nhưng Kiên thích nhất vẫn là vườn chim của ông. Đó là bờ tre rậm phía sau nhà. Ngoài bờ tre ấy là cánh đồng lúa. Hết cánh đồng là dòng sông chảy ra cửa biển. Gió tre cứ xào xạc, kẽo kẹt quanh năm. Bờ tre như "làng" của các họ chim. Nào là chào mào đội ca lô đen, sáo sậu mỏ ngà, bồ chao lắm mồm... Kiên thích nhất là những đôi chim cu cườm lúc nó gáy gọi nhau. Rồi mùa gió nồm tháng Ba, ngày mưa thu tháng Tám, chim biển bay vào từng đàn sà cánh lượn vòng đậu trắng ngọn tre. Nào là cò trắng, cò nâu, nào là chim chanh lông xanh biếc, chim chả mỏ đỏ như đánh son, chim vàng anh mặc áo vàng rực rỡ... Vào những mùa ấy, suốt ngày bờ tre rộn tiếng chim như mùa hội của chúng. Còn chim sẻ thì rủ nhau tha rác làm tổ trong các kẽ ngói trên mái nhà. Những con sẻ non mới ra ràng lông tơ vàng óng kêu chiu chít gọi chim bố mẹ đưa mồi về.
Những bữa cơm tra, ông Bằng cứ ngồi lặng im, tay ông nâng chén rượu, mắt ông nhìn đàn sẻ nhảy nhót ngoài sân. Kiên thì vừa ăn vừa gẩy cơm cho chim sẻ chí chóe tranh nhau. Kiên thích thú trò ấy lắm. Nhiều lúc Kiên còn tinh hơn ông Bằng. Nó nhận được những con chim sải cánh chao liệng là "chủ làng", những con vừa đến khép cánh đậu im ngó nghiêng như để "xin làng" trú ngụ! Kiên phân biệt được những tiếng hót cao vút, tiếng luyến láy líu lo của chim chìa vôi bố và tiếng huýt nhịp một nhịp hai của con chim non ham nhún nhẩy trên vòi măng. Kiên biết rõ từng tổ chim mới làm, trong đó chim mẹ đang ấp trứng hay chim con vừa nở. Kiên còn biết chim gáy mẹ làm tổ không chằm lá khô, lót cỏ mềm cho chim con nằm. Gặp gió to, chim con hay bị rơi. Kiên và ông Bằng thường đón chim con về nuôi. Kiên nhai gạo đút cho chim con ăn. Khi cánh chim đã mọc đủ lông, cổ nó đã đeo chuỗi cườm thì ông Bằng và Kiên lại thả chim vào bờ tre.
Ông Bằng chỉ sống một mình. Trong bữa cơm ông hay ngồi nâng chén rượu nhấm nháp hạt lạc rang. Đôi mắt ông ưu tư sâu lắng nhìn chăm chắm ra phía bờ tre đầy tiếng chim kêu và tiếng gió xào xạc. Ông buồn. Hai gò má ông ngày càng nhọn hơn. Nhiều lần ông chảy nước mắt.
Một đêm nằm ngủ với bà nội, Kiên hỏi:
- Bà ơi! Sao ông Bằng không có vợ con hở bà? Sao ông Bằng chỉ sống có một mình hở bà?
Bà Hòa - Bà nội của Kiên chép miệng kể cho Kiên nghe, rằng ngày còn trẻ ông Bằng đi bộ đội vào tận trong miền Nam đánh giặc. Ngày ấy máy bay Mỹ ném bom xuống làng ta. Cả chùm bom rơi trúng nhà ông. Vợ và ba người con của ông trú trong hầm đều bị chết. Nhà cửa cháy tan...
- Thương ông Bằng, bà nhỉ!
Giọng Kiên như mếu máo. Nó ôm chặt lấy bà. Bà Hòa nằm im. Bà không muốn kể tiếp cho thằng cháu bé bỏng nghe chuyện thương tâm mà ông Bằng nói với người làng khi họ mai mối để ông xây dựng lại tổ ấm, là ông đã bị thương... Ông không còn gì nữa. Bây giờ ông cũng như đàn bà. Ông không nỡ làm khổ người khác. Từ đó, Kiên càng quý mến ông Bằng. Kiên càng quấn quýt với ông hơn. Kiên muốn được ở luôn bên ông, muốn giúp ông dù là việc gì, mong làm sao để ông vui.
Kể cho cháu nghe chuyện nhà ông Bằng, bà Hòa cũng thao thức, xót xa. Cháu ngủ lâu rồi, bà còn trăn trở mãi. Bà sụt sùi khóc. Bà xa chồng từ năm bà chưa đầy hai mươi lăm tuổi. Ngày ra đi, ông để lại cho bà giọt máu duy nhất - đó là bố thằng Kiên! Mười năm trong chiến trường xa, ông không về thăm nhà. Con chưa biết mặt bố. Chiến tranh đã cướp mất ông lúc nó lên mười - ngày 10 tháng 3 năm 1975, ngày ta đánh Buôn Mê Thuột. Từ ấy bà đằng đẵng tần tảo nuôi con, rồi nuôi cháu. Bố mẹ thằng Kiên đã vào tận trong ấy thăm viếng mộ ông. Biết nơi đó làm ăn được, bố mẹ nó đã đưa con chị và thằng em nó vào. Còn Kiên ở nhà với bà giữ gốc quê và hương khói tổ tiên.
Kiên còn bé, nó chỉ nghĩ theo "cái lý" của nó rằng nhà bà nó còn có nó. Chứ nhà ông Bằng chỉ có một mình ông. Ông buồn hơn. Ông lại có một "làng chim" mà nó thích thú đến mê hồn. Ông còn hay kể cho nó nghe chuyện ông đánh giặc ngày nào, chuyện dốc đèo, chuyện khe suối ở Trường Sơn... Chuyện nào đối với nó cũng ly kỳ, cũng mới mẻ. Nên nó sang chơi với ông nhiều hơn là phải. Nhiều ngày Kiên đã ở lại ăn cơm cùng ông Bằng, ngủ với ông Bằng. Đã mấy lần Kiên nói với bà:
- Bà ơi! Ông Bằng ăn khổ lắm bà ạ! Chỉ có món lạc rang với nước mắm, canh rau cải. Thỉnh thoảng mới có cá kho. Chả bù cho nhà mình ăn ngon. Có canh cua, có ốc nấu chuối, nhiều bữa còn có cá rô rán dòn. Bà cho ông Bằng với.
Có lần Kiên ngồi chờ bà nấu canh cua rồi múc vào bát mang sang cho ông Bằng. Có bữa Kiên gắp đầy đĩa cá rô rán, nó còn cầm thêm quả ớt tươi đưa sang để ông pha nước chấm. Trước đây bà Hòa ít sang nhà ông Bằng. Nhưng rồi "vì cây dây quấn", dạo này bà phải sang lấy bát, lấy đĩa Kiên đưa thức ăn sang, hoặc gọi nó về học bài. Bà Hòa nhìn cái bếp, cái chạn... nhà ông Bằng lạnh lẽo, cô quạnh mà mủi lòng. Những ngày sau bà xào nấu thức ăn ngon có món trứng rán, có bát canh cần, có đĩa ngồng cải xào, bà sắp ra mâm sai Kiên đưa sang. Kiên nói với bà:
- Bà ơi, hay nhà mình với nhà ông Bằng ăn chung đi bà ạ! Bà nấu ngon lắm. Bà sang bên ấy nấu để cháu đỡ phải bê. Thế cũng vui bà ạ!
Bà nhìn thằng cháu. Bà thương yêu sự ngây thơ trong trắng của nó. Đôi mắt nó sáng. Cái sống mũi thẳng, nhô cao. Dáng nó nhanh nhẹn. Mới mười tuổi mà đã biết sống rất có tình, có nghĩa. Sao mà nó giống ông nội nó đến thế. Đúng là giỏ nhà ai quai nhà ấy. Bà không nói gì. Nét mặt bà trầm lắng, ánh mắt u buồn. Sự trầm lắng, u buồn ấy như làm tăng vẻ đẹp hiền dịu, đoan trang còn lại của thời son trẻ. Bà ngước nhìn lên bàn thờ chồng và buông tiếng thở dài kín đáo.
Trưa hôm sau, bà Hòa sang nhà ông Bằng gọi cháu về đi học. Lâu lắm, trước khi ra khỏi nhà, bà Hòa mới soi gương, lấy khăn ướt lau mặt và chải lại mái tóc. "ừ, - bà nói một mình - thế mà đã nhiều sợi bạc rồi!".
Lúc ấy, ông Bằng và Kiên đang ngồi ăn cơm. Ông Bằng nâng chén rượu. Ông mời bà Hòa vào. Kiên thì nhanh nhảu:
- Bà ơi, có món lạc rang với nước mắm dòn ngon lắm. Bà vào nếm đi. Cháu lấy chén để bà cùng ông nhắm nhé!
Kiên chạy đi lấy bát đũa. Bà Hòa vào ngồi xuống ghế bên bàn nước. Bà nhìn mâm cơm, nhìn đôi đũa so bằng bặn để trên mâm. Bỗng cái điều từ lâu đã nguội lạnh vì mất mát xoáy thành nỗi đau lắng đọng đáy lòng bà nay ấm nóng lên, thức dậy...
Ông Bằng đặt chén rượu xuống. Ông nói, nhát gừng:
- Bà ơi... bà... - giọng ông ngập ngừng, bối rối - món canh cua hôm qua bà nấu ngon lắm. - hình như ông Bằng định nói câu gì nhưng ông... ríu lưỡi. Ông đã lảng tránh đi...
- Vâng, có mẻ, nó dậy mùi mà ông...
- Bà ơi... bà... - ông Bằng lại ngập ngừng, lại bối rối. Giọng ông hạ thấp dần, đến những tiếng cuối thì như thầm thì - món cải ngồng hôm kia bà xào sao mà ngọt đến thế. Bà cho tôi nhiều thế...
- Ông ạ! - Kiên nói chen vào - bà cháu cứ bảo rằng các món ngon phải nấu thêm để sẻ cho ông đấy.
Ngoài bờ tre vọng vào tiếng chim cu "cúc cù cu cục - cúc cù cu cục..." nghe ngọt ngào ấm áp. Kiên vội đặt bát xuống, nó vỗ tay, reo to: "Ông ơi, ông ơi! Con cu cườm ta thả ra dạo nó đã biết gáy rồi ông ạ!" đấy. Chính nó đang gáy "bộ tứ" đấy!
- ừ, mùa nó làm tổ đấy cháu ạ!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-17 08:44:18Chuộtlắc>
Lời ru của bà

Hòa trong tiếng võng đưa kèn kẹt, tiếng quạt giấy chao gió phần phật là giọng hát ru khàn khàn của bà: "À ơi! Người trồng cây hạnh người chơi. Ta trồng cây đức để đời cho con...". Đang nằm phủ phục trên giường học bài, bỗng Thành ngừng lại. Thành nghiêng tai lắng nghe rồi hỏi với sang:
- Bà ơi! Cây hạnh cây đức là cây gì ạ?
Bà ngừng tay quạt, thong thả trả lời cháu:
- Bà chỉ biết các cụ ngày xưa truyền lại rằng, cây hạnh là loài cây mơ, câu đào có hoa đẹp, có quả ăn ngon lại lành. Các cụ ví nó như tính nết tốt của con người ngoan đó, cháu ạ! Còn cây đức, các cụ lại ám chỉ con người ăn ở có nhân, có nghĩa. Đức hạnh là hai tính quý nhất của người ta đấy mà. Cháu ạ, người có đức hạnh là người hiền hậu, nết na, biết thương người, biết kính trên nhường dưới, sống thật thà, ngay thẳng, không tham lam. Các cụ xưa dạy rằng ông cha mà giữ mình như thế rồi lưu truyền cho con cháu nề nếp ấy là nhà có phúc đấy cháu ạ! Cũng ví như ông cha trồng được cái cái cây quý để con cháu hưởng lộc, ăn quả mà. Cháu ơi! Ông nội cháu ngày trước cũng dạy học trò câu ấy đấy.
Tay bà lại đưa nhè nhẹ nhát quạt. Bà vỗ về cháu nhỏ là em út của Thành rồi bà nói tiếp:
- Ông nội cháu là thầy giáo. Bố Trung cháu là anh bộ đội Cụ Hồ, nay cũng là thầy giáo như ông. Cháu tuổi Dần năm nay đã lên chín, học lớp mấy rồi nhỉ?
- Cháu học lớp ba ạ!
- ừ, rồi cháu khôn lớn, được học hành nhiều, cháu sẽ thông tỏ hơn bà. Bà già rồi, bà chỉ biết có vậy thôi đấy!
- Vâng, cháu đã hiểu ạ!
Thành nằm im, mắt vẫn nhìn vào cuốn sách mà trong đầu cứ nghĩ miên man "À, ra cây hạnh, cây đức là như vậy đấy! Lời ru nào của bà cũng hay. Bà giảng giải nghe càng lý thú. Bà nội nhà mình đúng như bà tiên trong chuyện cổ tích...".


* * *

Nếp sống thanh bần của nhà giáo vùng quê như cái khuôn uốn khép Thành vào. Thành chăm học, biết vâng lời bà. Học bài xong, Thành đi bắt con cua ngoài đồng, cất vó tép dưới ao. Thành giúp bố mẹ băm rau, nấu nồi cám, chăm con lợn, nuôi con gà. Thành muốn luôn được quấn quýt bên bà để nghe bà hát ru, nghe lời bà giảng giải. Ôi sao mà thấm thía đến thế. Bà nói toàn những chuyện lạ nghe cứ như rót vào tai. Những lúc ấy, Thành ngồi như phỗng, mắt chữ o, mồm chữ a uống từng lời bà. Từ lời ru, câu hát, bà còn giảng giải về chuyện bà Tiên, chuyện ông Bụt khuyên người đời làm việc thiện; thương người nghèo ăn ở hiền lành, siêng năng, biết giúp nhau; ghét kẻ giàu tham lam, ác độc... Thành đã lờ mờ hiểu ra rằng, ai ở hiền thì rồi sẽ gặp chuyện lành, ai ở ác sẽ gặp điều không may, mình giúp bạn bè làm việc tốt rồi bạn bè sẽ giúp mình... Có phải nét đẹp, lành trong lời ru của bà đã thấm dần vào tâm hồn trong trắng của Thành, tạo dựng nên nhân cách cho Thành. Nó như chất bổ trong miếng "cơm búng lưỡi lừa cá xương" mẹ nhai mớm cho Thành, nuôi dưỡng Thành từ thuở ấu thơ...
Thành học lên cấp II thì miền Bắc vào thời chiến. Thành đến lớp phải đội mũ rơm. Bữa ăn chỉ có vài lưng khoai sắn độn cơm gạo hẩm. Bà thương Thành, sẻ sang bát nhường Thành. Thành lại sẻ đều nhường các em. Lớp học phải đặt trong nhà hầm có ụ đất che chắn bao quanh, có đường hào tỏa đến các hầm chữ A.
Càng lớn, Thành càng khôi ngô, dáng người cao mảnh dẻ, đôi mắt to, đen nhánh, sáng trong. Thành có cái miệng nhỏ, hai làn môi đỏ mọng lại hay chúm chím cười. Thành hiền như con gái. Vậy mà có lần, bạn bè cả lớp tròn mắt kính nể. Ấy là lần máy bay Mỹ bổ nhào rải bom bi, Thành nhanh như con sóc, em đẩy các bạn vào hầm chữ A, rồi hét to: "Chúng mày vào trong, để cửa hầm mặc tao". Thành dùng nùn rơm che cửa chắn đỡ làn mưa bi sắt.
Thành học hết cấp ba thì Nhà nước ra lệnh tổng động viên trai tráng vào Nam đánh giặc. Buổi tiễn Thành lên đường, mắt ai cũng đỏ hoe lưu luyến. Đứng trước bà nội, Thành cao hơn bà một cái đầu bởi lưng bà đã còng xuống, đôi chân gầy của bà đã yếu đi, phải đứng chùng gối lại nên bà càng thấp. Tóc của bà đã bạc. Bà nói, giọng bà hụt hơi chen trong tiếng thở phều phào, vì răng bà đã rụng nhiều:
- Bà dặn cháu thêm điều này nữa nhá. Ở chung với anh em, khi có việc làm thì cháu gắng sức hơn người; lúc chia lợi lộc hay có miếng ăn ngon thì cháu nhường người ta trước; khi có điều gì chưa vừa lòng nhau thì cháu nhịn nhường một lời. Cái đức là ở chỗ ấy đấy. Không thiệt đâu cháu ạ. Các cụ từ xưa đã dạy rồi: "Có đức mặc sức mà ăn". Cháu nhập tâm lời bà nhá! Cháu đi chân cứng đá mềm, bà mừng...
Đôi mắt đục lõm sâu của bà nhòa nước mắt. Hai tay bà run run ôm lấy cháu. Ngực áo cháu ấm nước mắt bà.
Năm đầu, cháu của bà gửi thư về. Cháu kể cho bà nghe chuyện chống gậy trèo dốc đèo hàng tháng trên đường Trường Sơn; chuyện về rừng tre bên bờ sông Đồng Nai... Thành còn kể nhiều đêm nằm võng giữa rừng, mơ thấy bà, lưng bà còng hơn, tóc bà bạc hơn. Trong tiếng gió lá, tiếng đất trời nỉ non, anh vẳng nghe như tiếng võng đưa, tiếng quạt giấy, tiếng hát ru của bà, lời dặn của bà... Nghe đọc thư cháu, bà cười. Những nếp nhăn ở đuôi mắt bà như tỏa ra nhiều tia vui. "ừ, làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng. Thằng Thành đã bằng chúng, bằng bạn, đã nên người...". Bà nói, niềm mừng vui làm bà tràn nước mắt.
Rồi biền biệt mấy năm ròng không có thư của cháu bà về nữa. Có người từ trong ấy ra mang theo cái tin dữ dằn lan truyền khắp làng Xuân: "Thằng Thành đã đào ngũ. Thằng Thành đã đầu hàng giặc rồi!". Cũng có người nghe lén đài giặc, quả quyết rằng: "Thằng Thành đã chiêu hồi, đầu thú. Hiện nó đang làm việc cho giặc!".
Cảnh nhà của Thành sống ảm đạm trong sự khinh bỉ, ghẻ lạnh của xóm làng, vì có người phản bội tổ quốc. Thầy giáo Trung, bố của Thành không được lên lớp dạy nữa. Bà nội của Thành đau như cắt ruột. Bà ngơ ngẩn cả người. Bà ngồi bó gối tựa chân giường mỏi mòn, trầm lặng. Bà nghĩ gần, tính xa. Miệng bà lẩm bẩm như người lẩn thẩn: "Không, không tin. Không lẽ nào thằng Thành lại phản phúc như thế... Không, không lẽ nào..." Bà đinh ninh rằng bà là người biết rõ cháu bà. Nó là đứa được dạy rèn từ nhỏ. Nó sống thuần hậu, biết phải, biết trái... Những đứa trẻ có bản tính như thế thì không dễ dàng quay cờ trở giáo theo giặc...
Một đêm cuối năm sương giá trắng trời, bà qua đời. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, đôi môi tím tái của bà cứ mấp máy "Thành, Thành...".

* * *

Ngày ta toàn thắng thì đột nhiên Thành trở về. Người làng Xuân ngỡ ngàng nhìn anh với ánh mắt ngờ vực. Cùng về với Thành có một anh bộ đội đứng tuổi. Thành mặc quân phục chỉnh tề, mũ gắn ngôi sao, ve cổ áo anh đỏ thắm phù hiệu. Anh bộ đội cùng đi với Thành giới thiệu mình với bà con làng Xuân: Anh là cấp chỉ huy của Thành. Anh nói với bà con rằng, Thành là một chiến sỹ tốt, được cấp trên tin cử sang hoạt động trong hàng ngũ giặc. Thành biết rõ sự canh phòng trong căn cứ giặc. Thành dẫn quân ta vào đánh thắng. Ta đã kịp giải thoát những mấy trăm đồng bào và chiến sỹ bị giặc giam giữ, chúng định thủ tiêu trước lúc tháo chạy. Chiến công xuất sắc của Thành đã được Nhà nước thưởng huân chương...
Bố mẹ và các em ràn rụa nước mắt ôm lấy thành. Mẹ anh nghẹn ngào: "Con về muộn quá rồi, muộn quá rồi con ơi! Bà chờ con. Bà gọi tên con. Bà luôn miệng nói con là người tốt, là đứa cháu ngoan của bà...".
Thành mở ba lô lấy quà biếu bố mẹ, quà tặng các em. Thành đứng lặng ôm chặt vào lòng chiếc khăn len trùm đầu và bộ quần áo lụa tơ tằm. Thành nhìn lên bàn thờ bà... khói hương thơm ngát bay lên cuộn những vòng tròn, những vòng tròn... Thành mường tượng như có hình bóng bà Tiên tóc trắng mây trời đang nhìn anh... Thành khóc rưng rức như ngày còn bé bỏng: "Bà ơi! Cháu Thành của bà đã về đây, Bà ơi!".
Hàng năm vào cuối tháng chạp, ngày giỗ của bà, Thành gọi các em về, gọi các cháu nhỏ trong họ hàng đến ngồi quây quần trước bàn thờ bà. Anh kể cho chúng nghe những lời giảng giải của bà về câu hát ru: "Trồng cây đức, cây hạnh để đời cho con"...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-17 08:52:14Chuộtlắc>
Tử tế

Thằng Đền đặt cái hộp gỗ xuống hè đường. Những hộp xi, bàn chải, lọ cồn, ... va nhau lọc cọc. Nó để đôi dép nhựa cũ xỉn bọc trong túi giấy bóng - dép dành cho khách chờ - cạnh cái hộp. Nó ngắm nhìn mấy chữ nó vừa mua cây bút dạ viết vào ba mặt hộp "chất lượng - bóng đẹp - kính mời". Nó mỉm cười. Nó chễm chệ ngồi lên hộp. Nó vuốt mái tóc quăn bụi bặm rồi chùi hai bàn tay dính xi đen nhẻm vào vạt áo. Nó rút chiếc bánh mì trong túi ra... Từ đầu phố một ông già lò dò đi đến. Dáng người ông gầy gò, còi cọc. Lưng ông còng gập xuống. Ông khệ nệ cõng một bao dứa đầy ắp những vỏ hộp, giấy báo cũ, bìa rách. Tay ông còn cắp thêm một bó mảnh cát tông vụn. Ông đội cái mũ cối đã vỡ toác. Vành mũ sụp xuống che hết nửa khuôn mặt choắt, nhem nhuốc, nhăn rúm. Ông thở hổn hển, lần từng bước hướng về phía người mua đồ phế thải. Nhưng rồi chiếc giày vải rách dưới chân ông vướng vào gờ viên gạch, ngã nhào xuống mặt đường. Thằng Đền đút vội chiếc bánh mì vào túi. Nó nhào đến đỡ ông già dậy. Rồi nó nhặt nhạnh các thứ vương vãi bỏ vào bao tải cho ông. Cái gói giấy bóng bằng hai bao diêm trong túi áo ông già văng ra. Nó nhặt lên. Khi nhìn rõ trong đó có mấy nghìn bạc, nó vội đặt vào tay ông. Ông già ngồi dậy bóp đầu gối. Ông nói phều phào:
- Cháu tử tế quá!
Biết ý, thằng Đền móc ruột chiếc bánh mì đưa cho ông. Ông già hỏi Đền:
- Cháu ở đâu?
Thằng Đền ậm ừ. Nó chưa quen ông già. Nó chưa dám nói thật. Nó vừa cắn bánh mì ăn vừa nhìn ngắm ông già. Đôi mắt nó dừng lại trên khuôn mặt nhăn nheo, cái miệng nhai trệu trạo, méo mó của ông. Và đặc biệt hố mắt ông lõm sâu. Hai hàng lông mày của ông đều đã có nhiều sợi bạc... Hình như nó đã nhận ra ở ông già một nét gì...
Ông già lại hỏi nó:
- Quê cháu ở tỉnh nào?
Thằng Đền vẫn ngồi im. Bây giờ thì nước mắt nó đã ứa ra. Nhưng nó vẫn chưa thổ lộ với ông già những điều cay đắng về thân phận nó. Quê nó ở mãi trong Thanh. Bố mẹ nó chia tay nhau lúc nó chưa đầy năm tuổi. Mẹ nó vào Sài Gòn làm nhà hàng, lấy người nước ngoài, rồi đi theo chồng. Bố nó ra ngoài này tìm việc làm. Nó nghe đồn bố nó đã lấy vợ, có con. Ông bà nội chăm nuôi nó. Được mấy năm thì bà nó mất. Rồi ông nội già ốm cũng bỏ nó mà đi. Nó đến ở với chú thím. Chú thì thương cháu nhưng còn thím. Cũng vì cảnh chạy bữa nuôi con. Cuộc sống cứ phải vặt mũi bỏ miệng nên hay tiếng bấc, tiếng chì với nó. Nó tủi thân, khóc thầm. Nó thèm được cảnh đầm ấm trong bữa cơm gia đình. Và lúc đau đầu, cảm sốt có bàn tay vỗ về, chăm chút như bọn bạn bè nó. Nó dò hỏi tung tích bố rồi nhảy tàu ra đây. Nó đã lang thang các hè phố xin ăn để tìm bố. Nhưng rồi như đáy bể mò kim. Bơ vơ: Nó đi theo đám trẻ đánh giày. Nó học chải xi, đánh bóng. Nó làm giúp để có miếng ăn. Nó làm thuê lúc bọn nó nhiều khách. Khi đã góp được tiền thì nó sắm cái hộp gỗ, sắm đồ nghề. Tên cái nghề nó bươn chải kiếm sống như đã thay cho tên của nó. Không ai biết tên thật của nó nữa. Người hàng phố thì gọi nó là "Thằng đánh giày". Khách thì réo "Thằng đánh giày ơi!". Đám bạn cùng nghề với nó thì gọi theo các đặc điểm trên mặt nó. "Thằng tóc quăn ơi!" "Thằng môi trề ơi!" "Thằng mắt trố ơi". Nghe quen, chính nó cũng như đã quên tên thật của mình. Duy chỉ có ông già nhặt rác thì gọi nó là "Thằng cháu tử tế".
Rồi cứ mỗi buổi chiều, ông già lại cõng túi dứa đầy ắp giấy lộn, báo rách, thằng Đền lại xách hộp gỗ đến hè phố Hạ này. Nơi đó đỡ ông già đứng dậy hôm nào. Hai ông cháu lại chia nhau tấm bánh. Người ăn ruột mềm, người ăn vỏ cứng. Lâu ngày đã thành thân quen, thành gần gũi. Sự bất hạnh, cảnh đời trôi dạt giống như hai mảnh ván mong manh chơi vơi giữa biển giông đã kết gắn một già, một trẻ lại với nhau. Cả hai người đều mong tìm ở nhau một thứ tình cảm riêng mà mỗi người đang thiếu thốn, một thứ hơi ấm mà mỗi người đã mất mát đi. Một ngày không cùng ăn với nhau, không cùng được trò chuyện với nhau thì nhớ, thì chờ. Thằng Đền mỗi lúc nhìn ông già móm mém, trệu trạo nhai miếng bánh mì, nước mắt nó lại muốn trào ra. Nó như mường tượng ở ông già có nét hao hao ông nội nó ngày nào. Có lần nó hỏi ông già:
- Tên ông là gì ạ?
Tuổi già dễ bộc bạch tâm can. Ông già giãi bày ngay:
- Cháu cứ gọi ông là ông Hai. Người cả phố Hạ này thì không ai gọi ông như thế đâu.
- Họ gọi ông bằng tên gì ạ?
Ông già cười móm mém:
- Họ gọi là "Cụ già nhặt rác". Lúc có cái vỏ hộp, mảnh giấy vứt ra thì họ gọi "Cụ nhặt rác ơi" - ông cười. Nụ cười chua chát.
- Nhà ông Hai ở tận phố nào ạ?
Nghe thằng Đền hỏi vậy, ông già thở dài. Giọng ông buồn buồn, rầu rĩ. Nước mắt ông ứa ra quanh hai hố mắt nhăn nheo, sâu thẳm:
- Ông không còn nhà nữa cháu ạ! Ngày trước cả làng Nhân ở bên kia sông kia kìa, cháu biết không? Có à. Ừ ở phía ấy đấy. Họ gọi tên ông là ông Hai ổi. Vì vườn nhà ông có đến hai chục cây ổi ngon, quả chín mọng. Nhưng nay thì không còn nữa. Hết cả rồi. Mất hết rồi. Khốn khổ lắm cháu ơi! Cháu hỏi ông tại sao lại thế à? Chuyện là thế này. Con ông là thằng cờ bạc. Nó thua lỗ. Nó bán nhà, bán vườn mà trả chưa hết nợ. Bà buồn rầu, uất ức mà chết. Ông làm ma cho bà xong thì người ta đuổi ông ra khỏi nhà. Ông sa cơ lỡ vận đến nước này đây...
Ông già thở dài, thê thảm, rồi hỏi thằng Đền:
- Tối cháu về ở đâu?
Bây giờ thì thằng Đến đã nói thật:
- Cháu ở trong phố Yên, ngủ nhờ nhà bà mua đồ nát ông ạ! Bà ấy thươg người lắm. Cháu ở một góc trong bếp. Bà ấy không lấy tiền thuê. Tiền làm được, cháu gửi tất cho bà ấy. Bà ấy làm giấy ký nhận tiền gửi của cháu.
Giờ đây, khi làm ra được đồng tiền, thằng Đền không còn biết gửi về cho ai. Mỗi ngày nó dành dụm được dăm bảy ngàn đồng. Nếu không gặp mấy anh nghiện "xin đểu" thì số tiền của nó cũng đã kha khá. Cứ mỗi lần đi qua hàng bánh ngọt thơm ngon, đi qua hàng quả chín, nó lại đứng tần ngần, nuối tiếc. Nó thương nhớ ông bà nó lắm... Năm ngoái, vào dịp Tết, nó đã mua chiếc áo len gửi về biếu chú nó. Rồi không biết nó ngấm nghĩ thế nào lại mua thêm một chiếc nữa gửi biếu thím nó. Nó còn gửi về bó hương thơm, hộp mứt cúng ông bà nó. Còn nó thì... chiều mồng một Tết lại lủi thủi xách hộp đi làm. Nó lấy đó làm niềm vui. Ngày thường lúc qua các cửa trường học, nó cứ đứng ngoài hàng rào nhìn bạn cùng lứa tuổi được học hành, được vui đùa mà them, mà tủi.
- Ông Hai ơi, ở phố Hạ này, ông có nhìn thấy một bà mẹ què chân dắt con xin ăn không?
- Cháu quen à - ông Hai hỏi lại - Ông có nhìn thấy. Bà ấy bò lết dọc đường.
- Trông thương ông nhỉ! - Nét buồn hiện lên trong ánh mắt thằng Đền - Cứ vài ngày, cháu lại cho bà ấy ba bốn nghìn. Bằng tiền công cháu đánh hai đôi giầy thôi mà. Cháu thương thằng bé lắm.
Một lát sau, thằng Đền lại hỏi ông Hai:
- Ông ơi! Bây giờ người ta còn đòi nợ ông nữa không?
- Ông chỉ còn cái xác rách này lấy gì nữa mà trả. Lâu rồi, bọn nó cũng lờ đi cho.
Thằng Đền đứng dậy. Nó luồn hai ngón tay vào trong cạp quần. ở đó nó may cái túi nhỏ xíu. Nó rút ra tờ bạc năm mươi ngàn đồng được cuộn tròn như điếu thuốc lá. Nó đưa cho ông già:
- Cháu biếu ông. Sắp rét rồi, ông mua áo ấm mà mặc. Cháu thấy ở hè phố Nguyễn Chí Thanh vào buổi tối, họ bán nhiều áo "xịn" lắm.
Ánh mắt đục ngầu trong hai hố mắt sâu thẳm của ông già nhìn chằm chằm vào mặt thằng Đền. Cái nhìn ngờ vực.
- Không phải tiền cháu ăn cắp đâu. Cháu không thèm làm trò khốn nạn ấy. Sáng qua, cháu đánh giầy cho một ông Tây đen. Lúc ông ấy ngồi xuống đi giầy thì rơi cái ví ra. Ví dầy cộp, toàn là đôla. Cháu nhặt và trả lại cho ông ấy. Ông ấy cám ơn cháu đấy!
- Ừ, thật thà, không tham của người ta thế là tốt cháu ạ! Cháu cất đi. Mấy thằng nghiện mà nhìn thấy thì khổ. Ông không lấy đâu. Mỗi ngày ông cũng góp nhặt được dăm nghìn rồi. Ông chả ngửa tay xin ai cả. Ông chỉ bán các thứ ông nhặt được. Cháu thật là tử tế!
... Một buổi sáng, thằng Đền xách hộp đi làm thì nghe người hàng phố nói lao xao: "Cụ già nhặt rác ở phố Hạ đã chết trong lều chợ...!" Nó lắng nghe. Nó dò hỏi. Nó mua một thẻ hương rồi hớt hải chạy đến cái chợ bên đường, cạnh bờ sông. Nó tìm đến cái lều ông già chết. Cái lều ấy dựng dưới gốc một cây ổi già, giáp mép sông. Mùa đông, cây ổi đã trút hết lá. Cành trơ trọi, khẳng khiu nhô lên trời nom như những cánh tay gầy chới với! Trong lều chỉ còn mấy người dọn vệ sinh. Xác ông già đã được xe chở đi rồi.
Thằng Đền đứng tần ngần. Tay nó nắm chặt nén hương. Nước mắt nó chảy ròng ròng. Miệng nó mấp máy... "Ông Hai"...
Đăng nhập để trả lời
0
Bức tranh Vân Hòa

Những điều từ lâu cứ lờ mà lờ mờ thì nay đã vỡ lở.
Từ xa xưa ông bà đã nói rồi "Bưng được miệng vại miệng bình chứ có bưng được miệng dân bao giờ". Những điều ấy vỡ lở ra trong đợt chỉnh đốn này; vỡ lở ra ngay sau buổi ông bí thư huyện gọi chủ tịch thị trấn Vân Hòa lên hỏi. Ông bí thư lâu nay có tiếng khoan hòa, ưa mọi việc rõ ràng, minh bạch. Dân tình chuộng tính ông là nói hay làm việc gì thì bắt ngay vào cốt lõi vấn đề, không vòng vo rào đón. Gương mặt ông có nhiều nếp gấp nan quạt bên khóe mắt và nhiều chấm tàn nhang. Trông ông từng trải. Ông nói tiếng ấm nghe thân tình, gần gũi:
- Anh Nguyễn Đành này, nhân dân và đảng bộ thị trấn có phản ảnh lên, có cả thư lên nữa. Đại loại là bà con thắc mắc về việc anh xây nhà. Trong thư, bà con hỏi nguồn tài chính anh thu nhập từ đâu. Bởi chị Đành hiện là y tá làm việc ở trạm y tế. Các cháu đều đang ăn học cả. Của chìm, của nổi ông bà để lại thì bà con đã hiểu nhau cả rồi. - Ông bí thư nói chậm rãi, rõ ràng. Vầng trán ông hằn lên nếp nhăn - Một vấn đề nữa là nơi anh xây nhà. Nghe đâu chỗ đất ấy đã dành để xây các công trình văn hóa. Hai việc đó, anh cần giải trình cho dân rõ...
Nguyễn Đành đã hình dung thế nào rồi cũng có buổi hôm nay. Linh tính anh đã mách bảo điều ấy. Ngay sau buổi "tân gia", bạn bè xa gần, cán bộ các đoàn thể ở thị trấn rậm rịch khuân vác tặng phẩm đến chúc mừng, Nguyễn Đành đã chột dạ. Ngôi nhà ba tầng phun sơn màu thanh thiên, mái giả tầng trên cùng lợp tôn đỏ thắm nổi bật lên giữa khoảng trời thị trấn. Trong nhà cả ba tầng ốp tường, rải nền, lót cầu thang toàn bằng gỗ pơmu đánh bóng, thơm phức. Các cửa bằng lim tấm khung kép đỏ au. Cửa sổ trong kính, ngoài chớp. Khi mở nắng chiếu vào loang loáng, chói mắt. Còn đồ nội thất thì tủ, bàn ghế, sập đều là gỗ gụ, gỗ trắc chạm khảm trai ốc óng ánh dưới đèn chùm. Rồi điều hòa nhiệt độ, bình nóng lạnh loại xịn, máy giặt tự vắt khô, máy hút bụi quả là không thiếu một thứ gì. Bước vào đợt chỉnh đốn này, Nguyễn Đành đã cảm thấy chờn chờn. Thật ra có những thứ xịn ấy anh cũng chẳng biết Đỗ Tụy, Hà Mát, Mộng Nũng... kéo từ đâu về, tiền từ nguồn nào mua. Có thứ khi họ chở đến kê vào nhà rồi, anh mới biết. Nghĩ vậy đôi mắt him híp của Đành hấp háy. Anh lảng nhìn ra nơi khác. Đành có thói quen như vậy. Nếu người đối chuyện nhìn thẳng vào mặt anh, thì mắt anh li, di, trập trừng lảng tránh cái nhìn thẳng đó. Nhưng lúc họ quay đi thì anh lại liếc xéo nhìn mặt họ. Nhiều người rất ngại cái nhìn lén đó của anh.
- Anh nghĩ sao. Anh trả lời đảng bộ và bà con Vân Hòa thế nào?
Nguyễn Đành vẫn hấp háy đôi mắt him và mím làn môi dưới lại. Bối rối. Miệng anh gượng cười nhạt để cố giữ vẻ tự nhiên:
- Các chiến hữu hỗ trợ, mà anh!
Nét gấp nan quạt ở hai khóe mắt ông bí thư kéo dãn ra. Vừng trán ông hằn sâu nếp nhăn. Ông cười thành tiếng:
- Anh giỏi thế!...

* * *

... Chuyện ấy đã vỡ lở ra khắp cả Vân Hòa. Từ hôm ấy Nguyễn Đành có vẻ thâm trầm hơn. Cái môi dưới của anh cũng luôn trề ra dài hơn. Sự dằn vặt trong lòng làm cho nước da nâu trên khuôn mặt bì bì của anh bầm hơn, có lúc tía lên đường mạch máu.
Công bằng mà nói có Đỗ Tụy, Hà Mát, có Vũ Đỏ thì Đành mới có được ngôi nhà này. Có Mộng Nũng thì nhà chủ tịch Đành mới có những thứ nội thất khang trang thế này. Và, có ngôi nhà này thì Đỗ Tụy mới vững cái chân ủy viên ủy ban trông coi việc tổ chức sắp xếp cán bộ; Mộng Nũng mới chắc tay hòm chìa khóa ở Vân Hòa. Ngôi nhà của chủ tịch Nguyễn Đành giống như cái phao "cứu sinh" cho nhiều kẻ bấu bám bập bềnh trôi nổi qua các kỳ bầu bán. Mới cách đây chỉ vài ba năm thôi, ai nhắc đến việc làm nhà, Nguyễn Đành lắc đầu, đáp lại: "Tiền đâu mà làm". Anh không ngờ chính câu nói có vẻ khiêm nhường ấy lại có sức mạnh hơn cả sự kêu gọi. Mà ai hiểu sâu thì câu nói đó là sự "mặc cả' ngầm cho các ơn nghĩa mà Đành đã ban phát. Đỗ Tụy đã xăm xắn ra tay. Đỗ Tụy trước đây chỉ là giáo viên cấp I trường làng kiêm nhiệm việc việc trông coi phòng truyền thống của Vân Hòa. Anh được chủ tịch Đành nhấc dần lên. Tụy đang chờ dịp để trả cái ơn mưa móc ấy. Tụy chạy ngược chạy xuôi. Tụy bàn với Mộng Nũng cào cấu, cắt rút biến báo các khoản tiền quỹ. Tụy là người khéo bày mưu cắt đất cho chủ tịch. Điều này cũng còn một lý do sâu xa nữa. Mảnh đất rộng, ngon như miếng tim, miếng gan của Vân Hòa. Mảnh đất mà từ khóa trước, Hội đồng nhân dân đã để dành xây nhà truyền thống - văn hóa. Với lí do chưa có kinh phí, Đỗ Tụy đầu têu ra việc cắt mảnh đất đó xây nhà cho cán bộ chủ chốt. Nhà của chủ tịch mới làm có một phần, mà là phần ở phía trong. Phần đó khuất hơn chỉ giáp hai mặt đường. Phần còn lại giáp đến ba mặt đường. Ngon hơn nhiều. Đỗ Tụy nắc nỏm: "Các cụ nói: muốn ăn cứ gắp vào bát người trước, quả là hay thật. Vừa được tiếng lại vừa được miếng". Đã nhiều lần Đỗ Tụy đứng ngắm mảnh "đất ngon" đó, anh cười ruồi "Để xem, Nguyễn Đànhlàm nhà xuôi chèo mát mái, trơn bọt lọt lạch, thì sang năm, ừ sang năm là năm chó, cái năm mình được tuổi, lại là năm có sao Thái Dương chiếu bản mệnh, mình sẽ khởi công..." Đỗ Tụy cười nửa miệng. Sự phấn hứng trong toan tính lên cao, đắc chí, tiếng cười của Tụy hơ hớ... hơ hớ... sôi cùng cục trong cổ họng.
Đỗ Tụy hớt hải đi đến nhà Nguyễn Đành. Anh sải những bước chân khệnh khạng rõ dài. Đỗ Tụy có dáng người cao, mảnh. Hai tay của Tụy hình như dài quá khổ nên khi đi cứ vung vẩy như quờ quạng, vơ cào. Cái đó như tính tham lam của anh. Cái gì anh cũng muốn dành giật, cào cấu lấy. Đỗ Tụy, bề ngoài tỏ ra mềm dẻo, nói năng nhã nhặn. Gặp ai dù thân, dù sơ, cái miệng anh cũng dành ra thoạt trông cứ tưởng anh tươi cười. Nhưng thực ra thì không phải Tụy cười, mà anh chỉ toét hai vành môi mỏng. Cái cười ruồi lấy lòng ấy chẳng bao giờ phát ra tiếng. Cùng lắm trong cổ họng chỉ rung hờ hờ... hờ hờ, nhạt thếch.
Lần này Đỗ Tụy không còn giữ được nụ cười ruồi "lấy lòng" ấy nữa. Tụy cất vội cặp kính đen. Chủ tịch Đành hấp háy đôi mắt nhìn rồi hỏi ngay:
- Sao bí thư huyện biết rõ ràng thế nhỉ?
- Thưa anh, em cúng không ngờ chuyện ấy lại đến sớm và nghiêm trọng như vậy. Em nghĩ rằng chỉ có Phan Hớn. Phan Hớn. Hừ. Em đã nghĩ về anh này từ lâu. Hớn không phải người gốc Vân Hòa mình. Em còn nghe nói Phan Hớn với bí thư huyện trước là bộ đội cùng đơn vị. - Đỗ Tụy liếc nhìn chủ tịch Đành với cái nhìn vuốt ve - Theo em, anh chẳng nên lo lắng gì. Chả ai động đến lông chân anh đâu. Có chúng em ủng hộ anh.
Nguyễn Đành gật đầu nhè nhẹ. Anh đứng dậy. Đánh có dáng người đậm, nét mặt đầy đặn, bì bì. Đặc biệt làn môi dưới của anh trề dài ươn ướt. Tiếng nói rin rít lọt qua kẽ răng. Giọng gằn gằn, nghe riết róng. Người Vân Hòa nói anh có tướng "đầu vồ môi trớt". Anh hỏi Đỗ Tụy.
- Còn cô Nũng?
Tụy vung tay về phía trước phác một cử chỉ tự tin, quờ quạng, vơ vào như thói quen của anh:
- Về chuyện này, đối với cô Nũng ta có thể tin được. Cô ấy khéo lắm. Từ ngày được anh bổ nhiệm làm thủ quỹ thay cô Mão, cô ta mừng ra mặt. Anh an tâm đi. Các khoản chi, mua sắm đều hợp lệ có đủ chứng từ. Về khoản này, cô Nũng biến báo xàng xê khéo lắm. Trên tài cô Mão một đầu một với. Cô Nũng đâu cũng là chiến hữu với các vị tài chính huyện đấy. Nũng tay hòm chìa khóa là thượng sách đấy anh ạ!
Đỗ Tụy nhếch mép cười ruồi đắc chí.
Mặt Nguyễn Đành bì bì kín đáo. Anh nghĩ đến cô Nũng.
Nũng là cô gái, một thời có tiếng đẹp nhất nhì thị trấn Vân Hòa này. Trước đây cô ta được học trường tài chính của tỉnh. Nhưng rồi không ai hiểu vì cơn cơ sì gì, cô ta bỏ học nửa chừng... và sinh con. Cô có năng khiếu văn nghệ, hát hay và ngâm thơ được. Cô có thuật nói năng tiếp xúc, ai cũng dễ vừa lòng. Chả thế mà mỗi lần có khách trên về thăm, có nhà báo đến viết bài, cô làm tiếp viên, làm ngoại giao thì mắc mớ nào cũng đều xuôi lọt, ngon ơ.
Tụy đã từng tâm sự với Đành rằng: tiếp các đoàn kiểm tra, thanh tra nhất là tiếp cấp trên xuống thăm viếng là vui vẻ và dễ chịu nhất. Đó là dịp may hiếm có để tiêu bao nhiêu tiền cũng vừa. Trên không chê, dưới không trách và càng dễ quyết toán. Mà việc làm thì có vất vả gì đâu. Chỉ cần một bản báo cáo thật lâm li, một vài thuyết trình viên nữ nói lưu loát, giọng ngọt ngào có nụ cười duyên dáng, một cái phong bì xếp nhiều tờ xanh vào cho nằng nặng tay, một gói quà gồm đặc sản địa phương bọc giấy hoa thật oách, một bữa ăn thịnh soạn. Thường đoàn về ba thì Vân Hòa ra mười, thế là vui vẻ cả làng. Nếu đoàn nào có nhu cầu giao lưu văn nghệ với dân thì thuê đội hát đám cưới đến, mượn thanh niên các xã khác lên là ngon ơ, xong tuốt. Việc đó Vân Hòa đã làm lâu nay rồi. Có Mộng Nũng đắc lực lắm. Và, cả Hà Mát nữa. Hà Mát giữ chân "loong toong" rất được việc. Cậu ta mượn các cụ hội thọ cờ, băng, trống, kèn tò te và căng lên dăm khẩu hiệu đỏ choét chào mừng là vui lòng khách. Đoàn nào mà chả cười dòn như máy bơm cạn nước! Quan khách nào có nhu cầu thêm thì cứ đưa lên cái nhà "hát ôkê bằng tay" ở cửa chợ Huyện là vui vẻ cả.
Trong đám tiếp tân, thuyết khách ở Vân Hòa, chủ tịch Đành, ủy viên Tổ chức Tụy đánh giá cao Mộng Nũng. Nũng được xếp vào loại "át chủ bài". Nũng đang thời kỳ sồn sồn bốc lửa. Cô có khuôn mặt tròn, hai má phính hồng. Hai cái lúm đồng tiền của thời con gái càng lún sâu hơn, rõ hơn bởi Nũng càng ngày càng đẫy đà hơn. Hai làn môi Nũng cong tớn. Khi nói chuyện với ai, nhất là những người chị vừa lòng, bắt mắt thì miệng nói, mắt nói, cả người cũng núng nính lên, nhún nhẩy điệu đà. Các bà ở Vân Hòa nhìn Nũng đi đã nói: "Con gái mà "vặn vẹo mình xà" thế kia là "bén" trai lắm". Đặc biệt, chị có hai quả mông thây lẩy. Mỗi bước đi, mông cứ hẩy ngược lên theo nhịp chân, đánh "tánh tách". Dạo trước chị hay lân la gần gũi, bắt chuyện với chủ tịch Đành. Cái ngày đó cô Mão đang giữ chân thủ quỹ. Chí ít đã có đến mươi lần, Nũng bắn tiếng ngỏ lời, ỡm ờ bóng gió: "Giá như em mà được làm chân thủ quỹ thì em còn giúp được xếp nhiều. Lúc đi họp huyện, họp tỉnh được đi với xếp, em lo chu tất cho xếp...".
Chỉ tháng sau, chủ tịch Đành ủng hộ Nũng mở cửa hàng cho đám thanh niên thuê băng hình, băng nhạc và bán sách. Những băng bộ, băng mới, những sách mùi mẫn, sách xem tướng số, Nũng ưu tiên mời chủ tịch Đành, mời ủy viên tổ chức Đỗ Tụy xem trước, đọc trước.
Lần Mão đến thuê băng, Nũng ướm ngay:
- Chị mà được như em thì ối đứa chết tươi đành đạch với chị - Mộng Nũng nhún đôi môi cong tớn. Một ngón tay dí vào trán Mão.
Thấy Mão ngớ người ra. Nũng nói tiếp:
- Em thế mà ngây thơ. Em "người vườn" lắm.
Mão tròn mắt nhìn Mộng Nũng.
- Chị bảo em ngây thơ gì ạ?
- ứ, ừ... Em xem băng gì nào, chọn đi rồi vào đây chị bảo...
ấy là lúc Nũng đang muốn hất Mão ra khỏi chân thủ quỹ. Nhưng bề ngoài, Nũng lân la ngon ngọt làm thân với Mão. Một là để dò dẫm cách làm ăn có "màu mè' của Mão. Hai là cô sẽ mớm dử cho cô thủ quỹ "người vườn" vài "chiêu"...
- Vào đây, vào đây. em còn ngây thơ, tẩm lắm. Em không nghe người ta nói à. Đàn bà không biết sử dụng vốn tự có là đàn bà dại. Đàn ông không biết xài của trời đưa lại là đàn ông khờ. Em biết chưa. Với chị thì cái gì cũng xuôi lọt tuốt - Nũng vung tay khoát một cử chỉ buông thả - Cứ đút cho các xếp là xong. Nếu đút chưa được thì cứ cho các xếp đút. To mông vồng ngực. Cái gì mà chả được!
Nũng cười. Hai lỗ đồng tiền trên má sâu hoắm như hai cái chấm đen ngòm trên mặt. Nũng cười lả lơi.
Mão ít hơn Nũng vài tuổi. Mão không bò bê "bít dít", váy xòe xẻ ngang, xẻ dọc như Nũng. Cô có khuôn mặt bầu bầu, đôi gò má nhô cao, đôi mắt sáng, cương trực. Song Mão có cái khiếm khuyết về nhan sắc của người con gái là khi cười hàm trên lộ xỉ. Giá như cô chỉ mím môi lại thì trông có duyên hơn.Cũng bởi thế mà cô ít cười, ít nói. Hoặc khi cười thì quay mặt đi, lấy tay che miệng. Bù lại cái khiếm khuyết bố mẹ sinh ra đó, Mão dịu dàng, mát tính ít mất lòng ai. Cô nghĩ giản đơn rằng được làm thủ quỹ là mãn nguyện lắm rồi. Bởi được chi tiền mua các thứ vặt vãnh cho văn phòng, thực ra thì cũng có đồng vào, đồng ra. Ví như mua ấm chè, điếu thuốc, cái bút, tờ giấy cho các cuộc họp; mua cái chổi, cái xẻng để dọn vệ sinh; hoặc đi thu các khoản tiền đóng góp của dân mà ủy ban qui định thì chồng cô cũng có ấm nước uống, con cô cũng có quyển sách đi học,nhà cô cũng có cái chổi quét sân... Cô không phải tần tảo ngồi bán bánh chuối, bán nước chè, kẹo lạc thâu đêm như trước. Cô cũng chỉ mong có thế. Còn các khoản chi tiêu nhiều tiền thì nhất nhất phải có lệnh của chủ tịch. Sổ sách cô ghi chép chi li, mua gì đều có hóa đơn hợp lệ. Cũng bởi thế Nguyễn Đành, Đỗ Tụy đã có đôi lần không bằng lòng đối với cô. Họ cho cô bóp chặt "hầu bao" quá. Cuộc họp bàn chuyện chống bão, chủ tịch định tổ chức bữa cơm rượu đãi đến năm, sáu mươi người. Thủ quỹ Mão khuyên anh không nên. Cô nói tài chính huyện không quyết toán cho các khoản chi như thế. Chủ tịch Đành hấp háy đôi mắt nhìn cô. Mặt anh bì bì giận dữ. Anh nói giọng riết róng rít qua kẽ răng:
- Tôi là chủ tịch, lại không có quyền quyết để chi à? Tôi quyết, tôi chịu. Tôi là chủ tài khoản, hay cô?
Chuyện vỡ lở, nhiều người khuyên anh. PhanHớn đến vỗ vai anh:
- Thôi! Miếng ăn quá khẩu thành tàn. Chủ tịch để cho sau bão vậy.
Nguyễn Đành chịu thua. Song thâm tâm anh vẫn hậm hực với cô thủ quỹ. Bởi cô đã dám trái ý qua mặt vượt quyền anh, làm anh bẽ mặt. Chuyện đã qua, nhưng anh chủ tịch không tha. Anh vẫn nhớ "cái tội" đó của cô thủ quỹ. Mão nói nhỏ với Nũng:
- Chị làm được, chứ em còn... em còn các con em, còn bố chúng nó. Em cứ định ninh anh Nguyễn Đành, anh Đỗ Tụy đều là... là.
- ối dào - Nũng lườm một cái dài, ngắt lời Mão - là, là đàn ông chứ có phải bụt đâu. Đừng nhầm nhá. Mà bụt còn có hoa "dâm bụt" mà em. Chị đã biết tỏng ra rồi. Từ lớn chí bé, từ nhỏ chí to người mà mắt him híp lại hấp háy, mặt bì thịt ra; người mà đi chân khệnh khạng, tay quờ quạng, cười ruồi nửa miệng là loại ăn tạp lắm, ăn dầm lắm đấy. chứ em đừng có tưởng thấy đỏ ngỡ là chín đâu nhá... Chị là mẹ chúng nó đây...


* * *

Đã có bộ băng "Hoàng Châu Cách Cách" mới về. Mộng Nũng nhắn vậy. Đỗ Tụy đến rồi Hà Mát đến. Gặp Mát, Đỗ Tụy toét miệng cười ruồi, hỏi:
- Cậu thích xem băng, chắc cậu cũng thích xem tivi, đọc báo, nghe đài? Hà Mát vuốt vuốt cái trán bóng nhẫy mồ hôi:
- Chả có băng nào cô Nũng đưa về mà em bỏ sót. Còn báo thì vợ em cũng ham đọc. Vì cô ấy là chân thu tiền điện, phải theo dõi việc điều chỉnh giá điện trên báo mà anh.
Đỗ Tụy nhìn Mát. Đôi tay dài vung ra phác một cử chỉ hào hiệp, thiện cảm:
- Cậu có giọng nói vang, chắc đọc tin bà con nghe rõ!
Hai mắt Hà Mát sáng lên. Những đường gân xanh trên cái trán hói bóng nhẫy, phập phồng.
- ấy. Anh chưa biết em à. Em từng sục khắp các ngõ cả huyện này. - Thấy Tụy nghệt mặt ra chưa hiểu, Hà Mát phân trần:
- Em tìm mua "cờ tây" mà. "Cờ tây" tức là cầy tơ đó anh. Em làm phụ ở quán "Chân tình chó" ấy mà.
Đỗ Tụy nhếch méo cười ruồi. Anh căng mắt nhìn Hà Mát, vẻ ngạc nhiên.
- Anh chưa hiểu à? - Mát hạ giọng - Quán thịt chó của ông chủ Tình ấy mà. Quán ông ấy có món tủ ngon nổi tiếng là chân chó hầm, ngọt lừ. Đám khách anh chị sành điệu đặt tên là quán "Chân tình chó". Điểm hẹn của họ đấy anh ạ. Các ông tài chính vào ăn, quen em mới cho vợ em chân thu tiền điện đấy - Mát say sưa kể như kể một chiến tích.
- Bây giờ cậu vẫn...
- Không. Em nghỉ rồi. Dạo này lắm chó điên nên ít người ăn...
- Cậu làm chân văn hóa thông tin chắc là tốt - Đỗ Tụy cười ruồi nhìn Hà Mát.
- ồ, được thế thì hay quá. Anh cứ tin em đi. Em không phụ lòng anh đâu mà - Hà Mát nhìn anh ủy viên ủy ban chuyên lo khâu nhân sự - tổ chức, một cái nhìn van vỉ cầu mong.
Mộng Nũng ngồi trên ghế ném một cái lườm dài về phía Tụy. Cô nói chen vào:
- Đúng đấy, các anh cứ tin chúng em đi. Chúng em sẽ kế cận các anh. Những đứa ỡm ờ thì gạt mẹ nó ra. - Cô đánh quả mông một cái. Chiếc ghế giật nẩy lên rên rỉ. - ờ, mà anh ủy ban này. Em với anh không chừng là cùng họ hàng đấy. Họ Đỗ mà. Anh là Đỗ Tụy, em là Đỗ Mộng Nũng. Biết đâu từ xa xưa anh em mình cùng chung ông tổ...
Như mọi lần, Đỗ Tủy đến mượn băng ở cửa hàng của Mộng Nũng, lúc ra về thế nào anh cũng tìm cách lân la vỗ một cái thật kêu vào quả mông thây lẩy của nũng. Khi vỗ, Tụy còn dí năm đầu ngón tay lún sâu vào. Những lần đầu thì Nũng nhoẻn cười, nhún môi đưa mắt lúng liếng liếc nhìn anh tổ chức. Sau đã thành nếp, biết lúc Tụy bỏ băng vào túi, Mộng Nũng đã "vặn vẹo mình xà" đến gần ghé... vào đón tay Tụy vỗ. Nũng còn nhún người hẩy quả mông lên hưởng ứng. Nũng nói:
- Anh tổ chức "Tụy" em một "Tụy" mạnh ghê, làm em nhớ hoài!
Hà Mát đứng lòng khòng, khúm núm đưa cả bộ băng mới cho Tụy. Hà Mát có cái trán hói quá đỉnh đầu. Những lúc bực bội điều gì, to tiếng với ai thì mồ hôi đậu thành hạt trên cái trán hói ấy rồi chảy ròng ròng xuống mũi, xuống miệng. Mắt Mát đỏ đòng đọc. Những tia máu vằn lên đan nhau. Mát có thói quen chửi thề, nói tục. Lúc giận dữ, Mát đi một bước, chửi một tiếng. Bà con ở Vân Hòa đều biết Mát như thế nên chẳng ai thèm chấp, cứ :"nhịn mày thì tốt tao". Những lần như thế, Mát tưởng mình thắng cuộc. Ai cũng sợ mình, ai cũng chịu thua mình. Anh ta càng lồng lên nói lấy được. Cũng có điều sâu xa nữa, bà con ít ai dây vào là vì cũng cám cảnh Mát, thương hại Mát. Mà Mát thì không biết cái điều đó cho. Bởi ở Vân Hòa này ai cũng biết dòng dõi nhà Mát. Ông bố của Mát trước đây dở người. Rồi em của Mát cũng hâm hâm. Và, hiện giờ đứa con trai của Mát cũng không bình thường. Nên bà con một điều nhịn chín điều lành cho vui vẻ. Bù vào cái không may ấy của Mát là anh được cô vợ có dáng người phốp pháp, mày thanh, mắt láng ướt, cằm xẻ trông bắt mắt đáo để. Cô ta lại mát tính, nói năng mềm mại được lòng mọi người. Mỗi lần Mát có xích mích với ai, hoặc đứa con dở tính có gây gổ với con hàng phố, thì cô liền xách túi chè, mang hộp bánh sang cầu hòa, xin lỗi. Mọi việc đều êm thấm cả. Ông trưởng phòng tài chính huyện từ chỗ quen Mát bởi ông "nghiện" món "Chân tình chó" rồi lấn sang quen cô. Ông là người trên vùng cao. Tính ông lành, thật như đếm. Cả phòng ai cũng quý ông. Họ quý ông bởi nhiều lẽ. Nhưng cái quý nhất là ông chả mấy khi ra lời nhắc ai. Nhân viên dù ai làm việc gì sai đến mười mươi, ông cũng cười khì khì, bỏ qua. Miễn là họ nhớ lấy rồi chịu vui vẻ với ông. Cái chịu vui vẻ đầu tiên là phải có chín chén.Ông nói rằng cái lý người ở quê đồng rừng là thế. Đi cầu thang lên nhà sàn là phải chín bậc tình yêu. Nên uống rượu cũng phải chín chén mới bốc. Họ quý ông còn một lẽ nữa. Cả phòng ai cũng biết ông Trưởng phòng vốn là rất mạnh mẽ cái món... tình cảm. Họ đã nhiều lần biết có chứng có cớ nhưng đều bỏ qua cho ông. Âu đó cũng là cái giá để cơ quan chung sống đoàn kết êm thắm với nhau. Lẽ đời ai cũng ngầm hiểu thế "nhìn mày thì tốt tao". Vì thế khi gặp người đàn bà bốc lửa như vợ của Hà Mát lại lắm mưu cơ thì ông trưởng phòng dính tít. Bây giờ thì ông tín nhiệm lắm về việc cô thu tiền điện. Cô đúng là "tả phù, hữu bật" cho Mát như trong cung mệnh tử vi của anh.
Đến đường rẽ, Đỗ Tụy vỗ vai Hà Mát:
- Mình nói vậy chứ mọi việc phải chủ tịch Nguyễn Đành quyết. Anh vừa bí thư vừa chủ tịch là "tiên chỉ" của Vân Hòa đấy. Cậu có thân anh ấy không?
- Em có biết nhưng chưa được thân.
- Chưa thân là bởi cậu ít gần. Anh ấy bình dân lắm - Tụy cười ruồi - anh ấy hiện đang bị cảm gió đấy...
Vợ Mát đã đến nhà chủ tịch Nguyễn Đành. Lúc ấy chị Đành đi lấy thuốc vắng nhà. Còn cô với cái cớ đi thu tiền điện. Cô sờ trán, bóp tay cho chủ tịch ra chiều thân thiết. Rồi một tay cô rút trong túi gói quà vuông vắn có cạnh như tấm bánh chưng để bên gối chủ tịch. Cô cười ỏn ẻn "của ít lòng nhiều, món quà mọn để anh bồi dưỡng..." Và tay kia, cô trao cho anh một phong bì dày cộp. Trong phong bì có năm trang đầy chữ đánh máy kể tỉ mỉ về lai lịch, về thành tích hoạt động của Hà Mát từ ngày anh còn để chỏm. Cô tỉ tê, phân trần về tính nết, về tài năng của Hà Mát, về cách đối nhân xử thế, về sự biết ơn biết nghĩa của vợ chồng cô với người giúp mình...
Nguyễn Đành hấp háy đôi mắt chuột ngày ra chiều khoan khoái với những cái nắn bóp ở trán, ở thái dương, ở hai cánh tay. Đôi mắt cô vợ Mát long lanh. Cô thở dài kín đáo. Cô suy tính đến đâu là vừa, là đủ để mình đạt được điều mình cần. Còn đàn ông ai cũng vậy thôi - điều ấy cô đã biết rồi - chẳng ai từ chối của "trời cho". Nhưng nếu... sớm quá có khi mất cả chì lẫn chài. Be rượu đưa rồi mà chân giò chưa nắm được là hỏng, là không còn gì để mặc cả nữa... Nguyễn Đành thấy vừa êm ái dễ chịu, vừa ngọt ngào lọt tai những lời cô ta nói. Nguyễn Đành nuốt nước bọt, mắt hấp háy nhìn ra ngoài. Anh thấp thỏm sợ vợ về sớm. Anh ngồi dậy. Ngồi còng còng và kéo chăn che từ bụng trở xuống. Anh nói nhỏ: "Bây giờ tôi mới hiểu anh Mát. Vân Hòa ta cũng có những người tài đấy chứ. Để rồi bàn xem. Theo tôi cũng có thể xếp được việc cho anh Mát...".
Sau giờ làm việc, Nguyễn Đành nán lại ở trụ sở, Đỗ Tụy bước vào. Tụy nở nụ cười ruồi:
- Theo em, anh cứ quyết đi. Anh là chủ tịch là bí thư, có chúng em ủng hộ. Anh Đành ạ - đôi môi mỏng của Tụy dành ra - lúc này là thời cơ. Phan Hớn đang đi vắng. Còn Vũ Đỏ thì anh biết rồi.
Nét mặt bì bì của Nguyễn Đành không động đậy. Vẻ thâm trầm, đắn đo:
- Vũ Đỏ thì tôi không ngại.
Nguyễn Đành nói vậy vì anh đã biết quá rõ về Vũ Đỏ. Anh ta là ủy viên trông coi khối dân vận. Vũ Đỏ có dáng người mảnh cao lênh khênh, khuôn mặt choắt, mồm bé tí lại luôn chum chúm như tu hú. Và, Vũ Đỏ có nét đặc biệt khác nhiều người đàn ông, là anh không có lấy một sợi râu nào. Cái cằm nhọn nhẵn thín, lúc nào cũng bóng nhẫy. Cánh đàn ông cả thị trấn nói đùa về anh "đàn ông không râu bất nghì, đàn bà không vú lấy gì nuôi con". Vũ Đỏ ít nói, ít biểu lộ thái độ của mình. Ai làm việc gì anh thấy không đụng chạm đến thu nhập của mình là anh cho xong tuốt. Song, những việc dù nhỏ, xem ra có hụt đến quyền lợi của mình thì sẽ không xong với anh. Điều ấy anh chi li lắm. Hàng ngày anh cứ lầm lũi đi xuống các thôn, thăm hỏi từng nhà dân. ở đâu có đám cưới, đám ma; nhà nào có giỗ chạp, cúng mừng nhà mới; nơi nào có động thổ làm nhà, mừng con đầy tháng, mừng thọ cụ già... là có mặt Vũ Đỏ. Nên anh được tiếng là sâu sát bà con. Hầu như ngày nào anh cũng được nâng lên đặt xuống và có cái cầm tay nằng nặng mang về.Theo anh thế là được, "năng nhặt chặt bị" mà.
Họp ở Đảng ủy, họp ở ủy ban có việc gì phải bàn cãi, phải tranh luận xem chừng gay gắt là anh lẳng lặng bỏ ra ngoài. Những cuộc họp mà anh biết có nội dung gây cấn thì anh cáo ốm. Sau họp, phần thắng thuộc về ai thì anh ngã về phía đó, hăng hái bảo vệ người đó. Nên Vũ Đỏ dễ được lòng người. Cuộc bầu bán nào mà có anh tham dự, thì anh là người trúng vào hàng phiếu cao. Vũ Đỏ từng là chiến sĩ ở lâu trong chiến trường Nam Bộ. Công bằng mà nói, những năm tháng trong quân ngũ, anh đã học được nhiều điều hay. Song cái mà anh mang theo có ấn tượng nhất là một tiếng nói. Không biết có phải anh cố giữ để "khoe" mình đã sống lâu ở chiến trường hay nó đã trở thành thói quen của anh. Đó là bất kỳ nói gì, nói với ai anh cũng đệm vào đầu câu một tiếng tục "...ụ mẹ", gây cười cho mọi người. Bởi thế, đôi lúc anh nói điều nghiêm chỉnh cũng trở thành trò đùa. Nên bàn và quyết chuyện gì dù vắng anh, Nguyễn Đành, Đỗ Tụy cũng không ngại. Đôi lúc họ xem anh như một thứ "độn", hoặc một thứ nhựa tổng hợp để kết dính, khi cần.
Người mà Nguyễn Đành, Đỗ Tụy ngại nhất là Phan Hớn.
Nguyễn Đành hấp háy đôi mắt him. Khuôn mặt bì bì động đậy:
- Phan Hớn bao giờ về? - Anh hỏi Đỗ Tụy. Nhưng anh không quay lại nhìn Đỗ Tụy.
- Lão ấy vào làm ma cho bố tận Quảng Trị. Sang tháng, lão mới về. Đỗ Tụy nói chen trong tiếng cười nhạt...
Thầm nghĩ đến Phan Hớn, Nguyễn Đành đã như vừa phát ớn, lại vừa... kính nể. Thú thực trong một số việc làm, có lúc Đành và cả Đỗ Tụy đã run lên trước sự thẳng thắn và cương trực của anh. Nhất là khi Nguyễn Đành được Đỗ Tụy cho biết Phan Hớn là bạn chiến đấu ở cùng chiến hào biên giới phía Tây Nam với Bí thư Huyện ủy. Đôi lúc Đành cảm nhận thấy tính cách của Hớn có nét giông giống Bí thư, nhất là về sự thẳng thắn, công tâm, không tha thứ một sai trái nào bất kỳ của ai. Hớn có đôi vai rộng. Nom anh lực lưỡng và xốc vác. Dáng đi của anh cứ như muốn chồm về phía trước. Anh có nước da nâu dòn, khuôn mặt đầy, sáng. Trông con người, nhìn bước đi của Hớn, ai cũng cảm nhận ở anh sự khỏe khoắn, năng nổ. Hớn có cái miệng rộng và mũi "sư tử" sống cao, thịt nở. Lúc anh nói hai cánh mũi phập phồng trông dữ tướng. Phan Hớn không phải người gốc ở Vân Hòa này. Quê anh ở tận trong miền Trung. Anh đi bộ đội rồi được ra học ở ngoài này. Anh lấy vợ ở đây. Khi xuất ngũ, anh về đây làm nhà ở với vợ con. Anh đã góp số tiền được thưởng theo Huân chương cho ban di tích xã để các cụ sửa sang ngôi đình. Anh lên tận Nhật Tân nơi ươm cây cảnh chọn cây đa đẹp mua về trồng trước đình. Anh ủng hộ cả tấn ximăng sửa sang bến nước cầu ao để Vân Hòa có cảnh quan "cây đa bến nước sân đình". Bà con quý anh như quý trai làng. Cái ngày đường nhựa rải phẳng lì đen bóng chạy qua thị trấn, ủy ban đã họp bàn việc mở thêm đường nhánh đến cổng các cán bộ chủ chốt. Trong cuộc họp đó, Phan Hớn nói:
- Chưa nên!
- Vì sao? Lúc này đang có thời cơ... - Đỗ Tụy cất cặp kính nhìn Hớn, hỏi lại.
- Nếu có thời cơ nên làm đường đến trạm xá, đến cổng trường học trước. Ta nên nghĩ đến điều ấy.
Mọi người ngồi im, nhìn anh. Vì anh đã dám đụng chạm đến một việc không dễ. Việc nhiều người được hưởng lợi lộc. Mà lợi lộc thì khó ai dám từ bỏ dù biết là bất chính. Anh đã biết rõ tim đen của việc này rồi. Đây là kết quả của việc Đỗ Tụy và Mộng Nũng đã thì thụt "màu mè, có đi có lại" với cánh làm đường...
Cuộc họp ủy ban kéo dài gần buổi. Nhiều ý kiến qua lại không nhất trí. Chủ tịch thị trấn Nguyễn Đành đã đứng lên kết luận xanh rờn:
- ... Đồng chí nào có nhu cầu thì thực hiện. Đồng chí nào chưa có thì đợt sau. Còn các nơi khác phải xin ý kiến của cấp trên... Giọng chủ tịch ráo hoảnh rít qua kẽ răng. Đôi mắt anh hấp háy nhìn mọi người.
Một tràng vỗ tay lẹt đẹt hưởng ứng...
Những việc như thế, người Vân Hòa thì khen Hớn. Song không ít kẻ coi anh là chơi trội, là gàn cản. Anh làm như thế để lấy lòng dân.
Còn Hớn, đã có lúc anh tự thấy mình những năm tháng sống trong quân ngũ ngang bằng sổ thẳng, cứng như nòng súng, đúng sai bộc bạch rõ ràng. Anh chưa hòa nhập được với nếp sống "mềm" ở Vân Hòa. Anh không quen thói mà quê anh gọi là "dạ trước mặt, trật c... sau lưng". Khen đó, chê đó, lươn lẹo nhằm vơ lợi lộc về mình...

* * *

Nguyễn Đành ngồi im. Khuôn mặt anh bì bì, phân vân. Anh hỏi Đỗ Tụy:
- Cô Nũng thế nào? Để cứng tuổi là khó xếp đấy!
- Em đã sửa lại năm sinh. Từ "thân" khỉ đã thành "hợi". Đầu ba xuống đầu hai rồi - Đỗ Tụy cười ruồi, đắc chí!
- Hà Mát, anh nói rõ thêm về cậu ấy. Tôi mới hiểu cậu này qua bản thành tích.
- Em thì cho rằng lúc này anh xếp cậu ấy vào việc đó là thích hợp. Rất hợp.
Đỗ Tụy không dám nói hết những điều mà anh ta biết. Anh không dám nói đến việc bà con Vân Hòa đều bảo Hà Mát là thằng dở tính. Hà Mát nói điều gì dù đúng dù sai người ta chỉ nghe chẳng ai thèm cãi lại. Giờ đặt Mát vào việc ấy, việc mà anh ta nói gì cũng không ai cãi. Mát nói phải cũng ừ, Mát nói hư cũng mặc, là được rồi. Rồi đây, những việc mà anh ta nói khắp Vân Hòa, nói đến mười lần, nói đến một trăm lần, may ra có vài chục người nghe cũng là được rồi. Bởi vài chục người nghe sau một ngày sẽ có vài trăm người biết, rồi chuyền đến vài ngàn người, rồi cả Vân Hòa này râm ran lên. Lời anh ta nói là lời của mình. Mình bày cho anh ta nói những điều tốt về mình, điều có lợi cho mình. Như thế là thắng to. Cái miệng loan truyền tin là có lợi lắm. Ai chiếm được cái miệng người đó sẽ thắng mà. Mình sẽ sống nhờ vào cái miệng của Hà Mát đấy. Mát còn có thế mạnh nữa. Vợ anh ta hàng tháng đến từng nhà thu tiền điện. Cô ta cũng sẽ làm cái loa nói tốt cho mình. Thế là cả Vân Hòa đồn thổi lên lời khen tung hô mình. Biết đâu tiếng thơm ấy bay thấu tận huyện, tận tỉnh. Uy tín sẽ nổi lên như cồn. Rồi đến kỳ đại hội, rồi bầu bán, rồi đợt chỉnh đốn này nữa sẽ có lợi cho mình biết bao... Đỗ Tụy nghĩ thầm như vậy. Miệng anh cười ruồi. Hai tay anh phác một cử chỉ vơ vào... Mà người bổ nhiệm, người ký quyết định, người đứng mũi chịu sào thì đâu phải mình. Nói tóm lại người chịu búa rìu về những việc ấy cũng đâu tới mình.S ong khi họ "biết ơn đền đáp" thì không ai nỡ để sót mình. Đấy, như vợ Hà Mát, như Mộng Nũng thì mình cũng đã êm trên ấm dưới rồi... Nụ cười ruồi làm cho đôi môi mỏng của Đỗ Tụy dành rộng ra. Tiếng hờ hờ khoái chí sôi lên trong cổ họng. Mãn cuộc luận đàm, chủ tịch Đành và ủy viên tổ chức Tụy đi ra. Tụy dừng bước chân khệnh khạng. Tay anh đeo vội cặp kính đen vào mắt. Anh nói vẻ hoan hỉ:
- Em thấy anh sắp xếp việc cho cô Nũng, như thế là đắc sách. Rồi chắc chắn anh sẽ được tiếng thơm là ưu tiên, là chú ý đào tạo cán bộ nữ. Đợt chỉnh đốn này, ưu điểm ấy sẽ được chị em hoan nghênh.
Nguyễn Đành hấp háy đôi mắt him. Lâu lắm mới thấy anh nhếch mép cười nhạt. Những búp thịt trên khuôn mặt bì bì của anh động đậy.
Ngay chiều hôm sau, thông báo do chủ tịch Nguyễn Đành ký đã được ban bố: Bà Đỗ Thị Mộng Nũng nhận công tác thủ quỹ thay bà Nguyễn Thị Mão. Bà Mão bàn giao công việc chờ đi dự lớp học đào tạo cán bộ kế cận do cấp trên mở.Ông Hà Mát nhận công tác văn hóa thông tin...
Buổi bàn giao số sách, tiền bạc có Đỗ Tụy, đại diện ủy ban chứng kiến. Mộng Nũng cười tươi rói đi lại nhún nhẩy, mắt đong đưa, hí hởn.
Đến lúc ấy Mão mới vỡ lẽ: Thời buổi này sống ở Vân Hòa mà đứng đắn, ngay thẳng quá, thanh liêm quá, phải chịu thiệt thòi là phải...


... Buổi họp quan trọng này đáng ra phải bốn ngày nữa mới mở. Lịch làm việc trong bước hai đợt chỉnh đốn đã vạch ra như thế. Song Đỗ Tụy bàn rất nhiều lần với Nguyễn Đành là nên họp sớm. Với một lí do mà cả hai anh đã hiểu ngầm và "tâm đắc"... Nhưng Phan Hớn đã về kịp. Phan Hớn đến sớm. Nguyễn Đành kéo anh ngồi vào chiếc ghế trống, sát bên phải của mình. Đỗ Tụy đến, nhìn thấy Phan Hớn, anh ta khững bước, ngập ngừng. Sự ngỡ ngàng, chưng hửng ánh lên trong khóe mắt. Nhưng anh gượng lại ngay. Nửa miệng anh dành ra nở nụ cười nhạt. Thế nhưng đôi mắt Tụy cứ trập trừng nhìn vào chiếc ghế Hớn đang ngồi. Lâu nay những cuộc họp Đảng ủy, họp ủy ban, Nguyễn Đành chễm chệ ngồi ghế giữa. Các vị trí ngồi hai bên và ngồi đối diện với bí thư hầu như đã định vị. Điều này đã thành nếp rồi. Đỗ Tụy nghiễm nhiên ngồi ở vị trí bên phải Bí thư - tức là anh ngầm khẳng định anh là cánh tay phải Nguyễn Đành.- Chỗ đó chỉ xứng đáng riêng anh. Không ai được ngồi vào ghế ấy, ngoài anh. Nếu anh vắng mặt thì chiếc ghế đó nên để trống. ấy vậy mà nay Phan Hớn dám đặt đít ngồi vào. Hừ, lạ nhỉ! Đầu Đỗ Tụy rần rần nóng lên. Nụ cười ruồi vụt tắt.
Buổi họp bắt đầu. Bí thư Nguyễn Đành đọc bản kiểm điểm của Đảng ủy. Anh đứng dậy. Bộ mặt anh bì bì tỏ ra nghiêm trang. Những thớ thịt hai bên má anh động đậy. Giọng anh khăn khắt rít qua hai kẽ rằng:
- ... "Đảng viên, cán bộ trong mọi công việc đã tỏ ra gương mẫu, trung thực và tích cực; đã làm đầu tàu dẫn dắt quần chúng. - Anh dừng lại liếc ngang nhìn mọi người. - Đã thực hiện đoàn kết nội bộ tốt, không có hiện tượng bè phái, không có hiện tượng tham ô, hối lộ, móc ngoặc và các hiện tượng tiêu cực khác..." - Anh hấp háy đôi mắt him nhìn cả hội nghị. Rồi, ánh mắt anh dừng lại trên khuôn mặt rạng ngời sự tán đồng của Đỗ Tụy. Anh đọc tiếp - Đảng ủy, chính quyền đã lựa chọn được những nhân tố tích cực ưu tú tiêu biểu trong quần chúng bổ sung vào đội ngũ cán bộ... Thành tích rực rỡ đó là do sự lãnh đạo sáng suốt, sâu sát... Trăm phần trăm đảng viên đã đạt danh hiệu "đảng viên xuất sắc". Phần yếu kém, Bí thư Nguyễn Đành hạ thấp giọng. Anh nói ri rỉ pha chút đồng cảm và lo âu: - ... Là do nhiều nguyên nhân khách quan đưa lại, do cơ chế thị trường tác động vào, do cấp trên chưa thông cảm và đầu tư kịp thời, do cán bộ cơ sở chưa được bố trí đi tham quan học tập kinh nghiệm các vùng trong nước và ngoài nước, do kẻ địch là bọn phản động quốc tế và bọn phản động trong nước có âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt phá hoại... Những điểm còn tồn tại, Ví thư Nguyễn Đành nói phải tiếp tục nghiên cứu nghiêm túc, kiểm điểm sâu sắc để rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích và thiết thực...
Các thành viên dự họp vỗ tay kéo dài và tấm tắc tán thưởng.
Giải lao, Hội nghị chúc tụng nhau bằng bia hộp, Côca-Côla và bánh xu-xê do cửa hàng băng nhạc, băng hình của Mộng Nũng và ban văn hóa thông tin Hà Mát ủng hộ.
Vào họp, Đỗ Tụy phát biểu bổ sung. Anh đưa tay sửa lại cặp kính cho ngay ngắn. Anh nhìn mọi người hết một lượt rồi dành rộng vành môi, nở nụ cười nhạt, lấy lòng. Tụy nói lưu loát. Giọng anh bổng trầm như có nhạc điệu lúc giảng bài văn cho các em học sinh cấp I. Hai tay Đỗ Tụy luôn khoát những cử chỉ như dùa tất cả đất trời vào mình.
- Tôi thấy bản báo cáo của đồng chí Bí thư là sâu sắc, gom được đầy đủ những ý kiến tinh hoa của Đảng bộ và sự góp ý của quần chúng... Đồng chí có đề cập đến một số điểm quần chúng chưa rõ. Những điểm đó, tôi nghĩ rằng khó đưa đậm hơn được vào bản kiểm điểm này. Vì phải có thời gian, có công phu và nghiệp vụ điều tra. Có điểm còn phải tranh cãi, có sự xác minh đúng sai. Ta không thể nghe vài dư luận vu vơ của bọn xấu mà kết luận oan cho đồng chí mình được. Ví dụ như dư luận về nhà, đất..., hoặc vài câu vè, ca dao đồn đại... Biết đâu đó là âm mưu xảo quyệt của kẻ địch nhằm phá sự đoàn kết, trong sạch của đảng bộ Vân Hòa chúng ta. Ta phải lôi cổ chúng ra ánh sáng. Trách nhiệm đó thuộc về đồng chí Phan Hớn đảng ủy viên phụ trách mảng công tác an ninh - dân quân.
Kết thúc lời phát biểu hào hùng, Đỗ Tụy vỗ tay trước rồi nhiều người vỗ tay theo. Vũ Đỏ ngồi hàng ghế cuối. Anh chúm chím cái miệng tu hú, cười nhọn cả môi. Anh nói nho nhỏ: "... ụ mẹ! Như mọi năm thôi mà. Được rồi. Cha Tụy nói đúng".
Phan Hớn đứng dậy. Anh đứng ngay ngắn như tác phong người lính. Anh xin phát biểu. Giọng nói miền trong của Hớn gãy gọn, chân chất. Những âm thanh nằng nặng thường gây cảm tưởng như chì chiết, đã được tiếng Bắc mềm mại pha nhẹ ra rồi. Tiếng nói của Hớn dễ nghe. Và, công bằng mà nói là có cảm tình. Đôi vai rộng vạm vỡ của Hớn rung lên. Hai cánh mũi anh phập phồng:
- Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật. Trong một số việc chúng ta đã thiếu trung thực, lừa dối cấp trên, tạo thành tích giả. Có những việc một vài đồng chí chủ trì của đảng bộ đã bày trò lừa các đoàn cán bộ cấp trên về. Chúng ta không nên che giấu những việc như thế trong đợt chỉnh đốn này. Tôi dẫn chứng.
Mọi người ngồi im. Nguyễn Đành động đậy nửa người. Anh hấp háy trập trừng đôi mắt. Đỗ Tụy đeo vội cặp kính dâm vào. Nụ cười ruồi tắt.
- Riêng việc xây dựng đời sống văn hóa. Đây là việc làm có chủ trương, có định hướng, có chỉ tiêu của cấp trên. Ta đã không làm tốt còn bày mưu đối phó. Khi có đoàn kiểm tra về anh Nguyễn Đành, anh Đỗ Tụy chỉ thị cho Hà Mát thuê người viết nhiều tấm biển "gia đình văn hóa" bán cho dân. Dân không mua thì phát đến từng nhà treo trước cửa. Kết quả là đoàn kiểm tra đã kết luận và thông báo: "Chín mươi chín phẩy chín phần trăm gia đình ở Vân Hòa đạt gia đình văn hóa". Có phải chuyện cười ra nước mắt không! Rồi còn bịp hơn nữa, khi có đoàn kiểm tra của bộ về và có một số tỉnh đến tham quan phong trào, chúng ta đã dồn số người biết làm văn nghệ cả thị trấn vào một thôn. Còn thuê đội hát đám cưới, thuê kèn trống đội bát âm đám ma về, mượn cả người ở các xã khác sang hát xương om sòm... Đồng chí Đành đã báo cáo với đoàn: "19 thôn ở thị trấn Vân Hòa, mỗi thôn đều có đội văn nghệ mạnh mẽ như thế và hoạt động thường xuyên như thế." Chúng ta đã bồi dưỡng cho vài người thành "lừa dối viên". Lúc có cấp trên về thăm, có nhà báo đến, họ đã thành nhà thuyết khách. Họ dẻo miệng nói hay, nói tốt rồi cùng với Hà Mát sáng tác những bản thành tích dài in vi tính phân phát đến từng người. Chúng ta đã được công nhận "đạt tiêu chuẩn văn hóa". Tôi nghĩ rằng Vân Hòa ta sẽ xây dựng thành thị trấn văn hóa, nhưng không phải như cách làm đó. Ta phải từ bỏ cách làm đó...
Mọi người ngồi yên đưa mắt nhìn nhau. Không khí có chiều căng thẳng. Bởi vì từ lâu rồi mọi việc ở Vân Hòa cứ "dĩ hòa vi quý". Các cuộc họp Đảng, họp chính quyền chưa ai dám bạo phổi nói lên các điều mà ai cũng thấy, ai cũng biết, ai cũng rì rầm nói ở nhiều nơi, nhưng trong các cuộc họp hành thì không ai dám rỉ răng.
Phan Hớn nói tiếp. Hai cánh mũi sư tử của anh phập phồng. Nước bọt đọng trắng hai bên khóe mép.
- Tôi muốn nói thêm một việc nữa. Đó là việc đồng chí Nguyễn Đành chưa trả lời câu hỏi của Bí thư Huyện ủy. Trong bản kiểm điểm hôn nay cũng chưa thấy đề cập đến. Đây là sự đòi hỏi của cấp trên, đòi hỏi của Đảng bộ và nhân dân Vân Hòa nhằm làm trong sạch nội bộ lãnh đạo Đảng. Vậy đề nghị đồng chí Bí thư giải trình tài chính việc xây nhà và việc chiếm dụng đất dành để xây nhà văn hóa - truyền thống. Các đồng chí thấy rồi đấy. Tuy dân chưa vạch rõ họ, chỉ rõ tên nhưng dân nói những gì, nói về ai trong các câu ca dao... - Phan Hớn không đọc ra nhưng mọi người đều đã thuộc và bọn trẻ con thì đọc khắp nơi: "Trập trùng mắt híp da bì, đầu vồ môi trớt thứ gì cũng xơi. Hai tay quờ quạng như bơi, kính đen che mắt cười ruồi thật gian. Với ai cũng đập ghế bàn, mắt vằn trán bóng cả làng gọi hâm...".
Bỗng Vũ Đỏ đứng dậy. Anh hút tầm nhìn của mọi người. Ai cũng ngỡ rằng anh sẽ phát biểu ý kiến. Nhưng không. Một tay anh xoa vào bụng. Miệng anh nói, giọng méo mó:
- Đau cái bao tử hết chịu nổi. Tôi xin về lấy thuốc... - Vũ Đỏ chậm rãi bước ra. Đau tha già thải ai nỡ trách anh.
Ra quá cửa phòng họp, Vũ Đỏ nhìn lại. Miệng tu hú của anh càu nhàu:
- Làm gì dữ dằn thấy mồ!
Mọi người nhìn anh, rồi nhìn nhau với ánh mắt: "chuồn rồi. Vũ Đỏ là thế thôi mà!"
Đỗ Tụy cất cặp kính dâm đang đeo. Miệng anh tắt nụ cười ruồi. Cánh tay dài ngoẵng của anh giơ cao:
- Chúng ta phải thật bình tĩnh và chia sẻ với sự bức xúc của đồng chí Phan Hớn. Chúng ta phải nhờ nghiệp vụ điều tra, phải tìm đủ chứng lý rồi mới kiểm điểm nghiêm túc được...
Có mấy cánh tay giơ lên. Và, một ý kiến nói to chen ngang:
- Phải làm rõ trách nhiệm của từng người trong đợt chỉnh đốn này...

* * *

Đêm hôm sau trời đã khuya lắm, Nguyễn Đành ngồi trong phòng riêng trên gác ba. Hương gỗ Pơmu ốp tường, ốp sàn thơm thoang thoảng, dễ chịu làm sao. Hương thơm của gỗ làm cho anh tỉnh táo. Hương thơm đó đã xua đi những con muỗi vo ve, xua đi những con dán rung râu bò trong tủ sách, và xua đi những con nhện chăng tơ ở góc tường. Nhưng chính hương thơm đó lại kéo về cho anh những âu lo. Âu lo, trăn trở dằn vặt anh. Anh thầm nghĩ: "kiếm được vài tỉ đồng để xây nên ngôi nhà, nhưng đã đến lúc không ăn ngon ngủ yên trong ngôi nhà này rồi!"
Anh đưa mắt nhìn tủ đứng, tủ chè, nhìn bàn ghế, sập khảm chạm trai ốc bày biện trong phòng, nhìn bức tranh tứ quý, tranh đám cưới chuột treo ngang, treo dọc trên tường. Đó là những thứ anh được cúng biếu, mừng tặng. Những nét khảm trai ốc ở tứ vật linh thiêng long, ly, quy, phượng... ở hoa lá bắt ánh đèn chùm sáng lên óng ánh. Sắc màu xanh, vàng, tím... lung linh. Giờ đây anh có cảm giác như có trăm ngàn ánh mắt đang quắc lên nhìn anh trách móc. Và, cả tượng con dê tạc bằng gỗ trầm kia nữa. Đó là quà của Mộng Nũng mừng anh ngày sinh nhật, - Nũng đã dò hỏi biết anh là tuổi dê - anh trân trọng bày nó trên tủ. Giờ đây, anh có cảm tưởng con dê xồm ấy đang nhe răng vểnh râu, chĩa đôi sừng nhọn về phía anh.
Khuya. Chưa thấy chồng về phòng ngủ, vợ anh đi lên. Chị có dáng người mảnh mai nhẹ nhàng đến đứng sau lưng anh. Anh không hề biết. Anh vẫn ngồi im. Đôi mắt anh hấp háy nhìn trân trân vào ánh đèn. Và, vành môi dưới của anh trề dài ra. Đó là lúc anh suy nghĩ lắm, dằn vặt lắm.
- Anh còn đắn đo gì nữa. - Chị nói nhỏ nhẹ, ngọt ngào. Chị đã thuộc tính anh. Lúc anh có điều gì suy tư thì có đến hai, ba ngày không nhếch mép. Cả nhà buồn lây - Em đã bàn hết nước, hết cái với anh rồi. Ba mươi sáu chước, chước chuồn sớm là đắc sách. Mình tự biết mình anh ạ! Nếu không cái sẩy nó nẩy cái ung.
Chị nhích lại đứng sát sau lưng anh. Với thói quen nghề nghiệp, chị đưa hai tay lên nắn, bóp hai bả vai nung núc thịt và xoa nhè nhẹ tấm lưng của anh.
- Em thấy ông Bí thư Huyện nói có lý đấy. Và, cả lão Phan Hớn nữa. Dân Vân Hòa có vẻ kết với ý kiến của lão Hớn lắm. Người ta bàn tán nhiều...
Nguyên Đành quay phắt lại. Khuôn mặt bì bì của anh động đậy. Giọng anh rít qua kẽ răng:
- Người ta bàn chi?
Chị lưỡng lự một tý. Chị phân vân, đo đắn:
- Thôi, em cứ đọc cái vè không biết đứa nào độc mồm độc miệng bày đặt, mà người khắp thị trấn Vân Hòa đều biết - chị đọc cho anh nghe -
"Kinh sợ Nguyễn Đành. Khôn ranh Đỗ Tụy. Già đĩ Mộng Nũng.
Ăn vụng Vũ Đỏ. Họ xỏ chị Mão. Cất chức giữ tiền.
Họ liền ngang nhiên. Xây nhà, vơ vét. Dân ta đã biết.
Kêu lên cấp trên. Không để họ yên. Đợt này "chỉnh đốn".
Mong ông Phan Hớn. Thay lời dân lành. Nói hết ngọn ngành.
Đảng nhanh nhanh phán xử..."
- Chà chà - tiếng rít qua kẽ răng. Nguyễn Đành đưa hai tay lên vò cái đầu vồ vẻ bối rối, bực bội.
- Thôi, đã đến nước này thì anh nên nghe em. Anh cứ viết đi. ờ, anh chưa có giấy bút gì à? - Chị vội mở chiếc cặp đen của anh ra - Đây giấy đây, bút đây nữa - Chị trải tờ giấy ra trên bàn trước mặt anh và bấm cây bút bi đánh tách cắm vào tay anh.
- Anh viết đi. Thôi, ăn muống thì phải lội hồ anh ạ!
Nguyễn Đành vẫn ngồi lặng. Anh chỉ hấp háy đôi mắt him.
- Anh - giọng chị vẫn nhỏ nhẹ. Chị như muốn chia sớt nỗi lòng với anh. Chị nói vui: Anh, trước đây em thấy anh làm được cả những bài thơ dài kia mà. Khó thế mà anh còn làm hay được nữa là. Bây giờ chỉ có mấy câu sao anh khó khăn vậy. Nào anh viết đi. Mở đầu chỉ cần viết to mấy chữ.
Anh vẫn ngồi im.
Chị đâu hiểu nổi nỗi lòng chồng. Chỉ có mấy câu ấy đối với anh là như hòn núi lửa rùng rùng phun nham thạch trước mặt anh. Nó sẽ thiêu đốt tất cả. Chôn vùi tất cả. Anh chỉ còn trần trụi. Nào chức tước, nào bổng lộc, nào quyền hành, nào quà cáp, nào cúng biếu, nào, nào... Còn gì nữa!
- Anh viết đi. Đầu đề, anh chỉ cần viết to chữ: Đơn...!
- Hừ!
Nguyễn Đành quay phắt lại. Anh gắt lên. Đôi mắt him của anh hấp háy, mở to. Anh trân trân nhìn chị. Một cái nhìn từ lâu không có. Một đôi mắt từ lâu không thấy. rồi anh quay ngay lại nhìn chăm chắm ra phía cửa sổ. Nhưng, nào anh có nhìn thấy gì đâu. Anh không thấy gì hết. Anh không nhìn thấy bất cứ cái gì. Tất cả đều lờ mờ, lờ mờ, lãng đãng. Trăng thu đang sáng trong. Rồi... lờ mờ hiện ra trước mắt anh bóng hình Đỗ Tụy, miệng cười ruồi, chân đi khệnh khạng, hai tay cào cấu vơ vào... bóng hình Hà Mát, trán bóng nhẫy mồ hôi, hai mắt vằn tia máu, mồm lắp bắp chửi tục, chửi thề. Hình bóng Vũ Đỏ, mặt choắt, cái cằm nhọn nhẵn thín đang lầm lũi đi dự đám. Và, đậm nhất là hình bóng. Mộng Nũng có dáng đi "vặn vẹo mình xà", quả mông thây lẩy, mỗi bước cứ hẩy lên "tanh tách"... Tất cả lãng đãng xa dần, xa dần...
Nguyễn Đành chép miệng, thở hắt ra trên cái môi trề... "Rồi ai sẽ giúp cô ta tiêu thụ cái đống lịch rắn chúa, rắn hổ mang năm Tỵ này và đống sách tướng số, sách Vạn sự mới đưa về nữa..."
Gió khuya chao ánh trăng xào xạc. Trong mái tranh nhà bên sát chân tường phun màu sơn thiên thanh, cất lên tiếng ru thanh bình "à ơi. Ngủ ngon con ngoan ơi. Ngủ ngon con ngoan à!".
Nguyễn Đành cúi xuống. Vành môi dưới của anh trề dài ra. Đôi mắt him của anh hấp háy bỗng quắc lên nhìn vào tờ giấy. Anh rít qua kẽ răng: "Còn lắm đứa điên đảo hơn tạo. Nguyễn Đành này mà mất chức, ối kẻ liệu hồn".
Đăng nhập để trả lời
0
Đêm trăng sáng


Mùa khô khắc nghiệt. Cái nắng như lửa đốt đã vặt đến chiếc lá khộp cuối cùng. Vỏ cây nứt nẻ, trông cứ như những cái miệng há hốc, khát nước. Dãy lán của Binh Trạm được dựng sát bờ sông Xi-a-noòng. Đoàn Nhà báo chúng tôi theo đoàn quân ra trận nhận lán, đặt ba lô rồi xuống sông tắm. Chúng tôi về đến lán thì đã thấy hai cô gái Lào chờ ở đó. Mỗi cô có một vẻ tươi tắn và xinh đẹp riêng.
Được tắm mát mẻ sau những ngày lặn ngụp trên chặng đường đất đỏ bụi mịt mù nay lại có "Người đẹp Trường Sơn" đến, sự khỏe khoắn như được nhân lên nhiều lần. Dù không nói ra nhưng trong ánh mắt nhìn nhau ai cũng ngầm cảm thấy điều ấy. Và, giữa cánh rừng khộp già nua đen đủi, bốn bề toàn là áo lính trận mạc, cái vẻ đẹp của các cô gái cũng như lộng lẫy hơn, rực rỡ hơn. Cô gái Lào có khuôn mặt đầy đặn, đôi má lúm đồng tiền tươi cười và rất hồn nhiên tự giới thiệu tên mình là Khôn-xa-vay diễn viên hát. Cô đập nhẹ tay lên vai người bạn cùng đi giới thiệu tên là Ma-hả-xay diễn viên múa. Hai cô ở đoàn văn công quân đội Lào. Các cô đều biết nói tiếng Việt, tuy nhiều âm còn lơ lớ. Cô Khôn-xa-vay trông vẻ dịu hiền vậy nhưng lại có những cử chỉ "rất diễn viên", cô nói, giọng nhí nhảnh:
- Chúng em bị sốt, ốm biết các anh là Nhà báo quân đội Việt Nam vừa từ Hà Nội vào, chúng em đến xin thuốc. Anh Cao nhìn hai cô văn công, anh vuốt vuốt cái đầu tóc quăn tít rồi niềm nở mời hai cô vào. Anh nói:
- Xa-ma-khi, chờ nhé! - Anh nhanh nhẹ xách ba lô ra để trên sạp lán. Dáng người anh cao, đôi chân dài nên phải ngồi khom xuống. Anh mở túi thuốc, rồi mở luôn cả ba túi cóc ba lô. Anh mở đến túi dết, mở cả bao máy ảnh để... tìm thuốc. Anh nói chuyện rất vui với hai cô văn công, có pha chút hài hước. Phải nói rằng sự hài hước là bản tính đáng quý của anh. Điều ấy làm cho cái nhọc nhằn, mệt mỏi vơi đi, niềm vui phấn hứng tăng lên. Anh đi đến đâu, tiếp xúc với ai cũng mau cuốn hút được tình cảm họ. Anh Cao chậm rãi bày các thứ trong ba lô ra sạp lán. Anh cầm lên đặt xuống quần áo, tăng võng... sổ sách, mà vẫn chưa... thấy thuốc. Hai cô văn công cũng vừa đối chuyến rất duyên... vừa chờ. Phải hơn ba mươi phút, anh Cao mới tìm được thuốc... ở ngay trong túi thuốc của anh. Anh đưa cho mỗi cô, mấy viên Vitamin B1, Vitamin C, Pôlivitamin... anh nói:
- Xa ma khi, uống đi sẽ khỏi hết bệnh.
Anh Hà ngồi trên sạp cạnh đó bỏ cặp kính trắng xuống nhìn hai cô, anh nói bằng tiếng Lào, cũng lơ lớ:
- Nhớ đến hát Chăm pa và Lăm vông đoàn kết nhé!
Hai cô văn công Lào chắp tay cúi đầu chào cảm ơn rất lịch lãm theo nếp văn hóa của người Lào.
Hai cô văn công đi rồi, anh Cao cười hóm hỉnh nói với chúng tôi. "Các cậu thấy rõ chưa, hai cô văn công Lào xinh đẹp và trông thật dịu hiền. Vẻ đẹp của người Lào là như thế đấy. Mình cố tình giữ họ lại lâu thế để Anh Ngọc chiêm ngưỡng vẻ đẹp mà làm thơ. Trần Hữu Tòng viết về miền núi quan sát vẻ đẹp ấy mà khắc họa nhân vật. Chỉ tiếc rằng Vũ Đạt chưa có cớ để chụp ảnh "Người đẹp Trường Sơn"!.. Còn mình cho các cô những loại thuốc ấy thì bệnh gì cũng uống được cả. Vô hại. Mình dốt chuyên môn thì cứ cho thuốc bổ.
Thế rồi, sau bữa cơm chiều, hai cô văn công Lào đến thật. Các cô mặc váy áo đẹp, tay đeo vòng bạc, đánh môi son má hồng trông cứ như đi biểu diễn vậy. Cô Khôn-xa-vay còn mang theo cả chiếc máy ảnh Ki-ép. Cô khoe là vừa lắp cuốn phim mới vào máy. Cô vừa có cử chỉ rất tự nhiên vừa nói:
- Thuốc của các anh quý quá, chúng em đỡ ốm rồi. Chúng em đến hát cho các anh Nhà báo Việt Nam nghe và mời các anh Lăm vông đoàn kết. Đêm nay trăng sáng mà.
Chúng tôi hưởng ứng ngay. Anh Hà có thời từng ở chiến trường Lào, anh biết hát một số bài bằng tiếng Lào, càng hăng hái.
Chiều theo ý các cô, trước buổi vui đoàn kết, tất cả cùng đứng trước lán chụp ảnh chung kỷ niệm. Khôn-xa-vay đưa chiếc máy ảnh Ki-ép cho anh Vũ Đạt chụp. Cô cứ đòi phải được đứng gần người đã cho mình thuốc ban chiều...
Đêm ấy, trên bãi đất bên sông, trăng Trường Sơn sáng trong, dưới gốc những cây khộp cao vút, ban đầu chỉ có đoàn Nhà báo với hai cô văn công Lào hát bài hoa Chăm Pa. Thế rồi anh em lái xe ra, mang theo cả thùng xăng không ra gõ. Rồi các đoàn khách ở các lán đến. Rồi anh chị em trong Binh trạm kéo tới, mang theo cả hăng-gô, xoong, nồi đánh nhịp. Thế là trở thành một đêm văn nghệ tưng bừng và đầm ấm bên sông. Chúng tôi ở lại Binh trạm mấy hôm để chờ xe vào. Hai cô văn công Lào cũng ở lại để chờ người sang đón... Những đêm ấy trăng Trường Sơn thật đẹp.

* * *

Câu chuyện ấy tưởng đã lãng quên theo thời gian. Nhưng nào ngờ đúng hai mươi lăm năm sau nó được đánh thức dậy. Đó là dịp tôi sang công tác ở nước Lào. Tôi đến một cơ quan văn hóa của bạn. Lạ thay trong buổi làm việc ở đó, có một người phụ nữ Lào cứ chăm chắm nhìn tôi. Nhiều lần tôi cúi xuống viết và khi ngửng lên lại vẫn thấy ánh mắt của chị chiếu về phía tôi. ánh mắt như tìm kiếm, như dò hỏi...

Rồi, sau bữa cơm chiều chị phụ nữ Lào đó tìm đến gặp tôi. Đi theo chị có một người bạn trai Lào. Cậu ta rất trẻ. Chị đã đứng tuổi. Chị có vẻ đẹp đoan trang. Khuôn mặt tròn nom phúc hậu và dịu hiền. Còn người con trai Lào đi theo chị thì có dáng người cao, da nâu ngăm ngăm, mái tóc đen nhánh, quăn tít. Chị chắp hai tay cúi đầu chào rồi tươi cười và có những cử chỉ rất tự nhiên. Chị chìa tay ra trước bắt tay tôi. Chị cầm thật chặt và vào đề ngay:
- Có phải anh là Nhà báo năm xưa em được gặp ở Xi-a-noòng không?
Thấy tôi ngỡ ngàng trước câu hỏi đột ngột đó, chị mở cặp lấy ra tập ảnh. Chị trao cho tôi xem. Chị chỉ vào từng tấm ảnh - Không phải một tấm mà có đến tám tấm - Chị nói:
- Anh đứng đây này. Cái anh dáng người cao, có giọng nói rất vui đứng gần em đây này - Chị chỉ vào anh Cao - Đúng anh này cho em thuốc đấy, em không quên mà. còn anh đeo kính trắng biết hát tiếng Lào đây này - chị chỉ đúng vào anh Hà. Em là Khôn-xa-vay, văn công mà. Gặp các anh hôm đó vui lắm. Nhớ mãi.
Tôi nhìn các tấm ảnh. Tôi nhìn lại chị. Tôi đã lờ mờ nhận ra chị cái thời xuân sắc ấy, và nhớ dần về buổi gặp năm xưa ở Binh trạm Trường Sơn, nhớ cái đêm trăng sáng vui Lăm vông bên bờ sông Xê-a-noòng...
Chị nói tiếp - Cử chỉ của chị vui, nhính ảnh:
- Con trai em đây, cháu hai mươi bốn tuổi rồi - Chị đập nhẹ tay lên vai cậu con trai - Về Lào thì em sinh nó mà. - Chị nhìn lại tấm ảnh. Đôi mắt chị dừng lại ở người đứng bên chị trong ảnh - Em luôn nhớ anh Nhà báo cho em thuốc. Em biết ơn anh ấy lắm. Các anh bây giờ có ở Hà Nội cả không?
Cậu con trai của chị thì không biết nghe, biết nói tiếng Việt. Cậu ta ngồi nhìn tôi, nhìn các tấm ảnh và cười. Thỉnh thoảng chị lại dịch những câu đối thoại giữa tôi và chị cho cậu ta nghe. Tôi trả lời chị:
- Có. Anh cho chị thuốc hôm ấy nay là Nhà văn. Anh đang phụ trách một Nhà xuất bản ở Hà Nội. Còn anh đeo kính trắng biết nói tiếng Lào cũng là Nhà văn đang phụ trách một tờ báo của ngành văn hóa.
- Ôi! Mừng quá. Em sang Hà Nội chắc sẽ được gặp. Mừng nhất là được gặp cái anh đã cho em thuốc. Thế nào em cũng tìm đến gặp anh ấy. Tên anh ấy là gì nhỉ? Tôi trả lời chị. Chị lấy bút ghi ngay vào sổ tay. Niềm vui của chị sáng lên trong ánh mắt:
- Em sẽ đưa con trai em sang thăm. Em có thai nó từ bên ấy mà. Con emnó giống bố nó lắm. Giống cả người, giống cả khiếu viết văn mà - Chị cười cởi mở, nói vô tư, thoải mái.
Còn tôi lúc này người như nóng dần lên: "Ôi! Lẽ nào lại có điều đó. Nhưng... Nhưng mà, những hôm sau... trăng rừng sáng rất đẹp... Biết đâu?". Tôi chăm chắm nhìn ngắm cậu con trai của chị. Tôi đã để ý nhiều đến nước da nâu ngăm ngăm, cái mũi nhỏ nhô cao, ánh mắt nhìn toát lên rất rõ nét cương trực và đầu tóc quăn tít của cậu ta. Tôi rót nước mời chị, mời cậu con trai chị uống để mong nguôi ngoai sự căng thẳng.
Tôi hỏi chị:
- Tên cháu là gì?
Chị cười:
- Bun Khăm Nam, Bun Khăm Nam mà.
Để nhớ nhiều về Việt Nam, em đặt tên con em như thế. Khăm là vàng mà anh. Có vàng từ Việt Nam mà...
Giọng tôi ngập ngừng bối rối cố tìm "Cái nút" của câu chuyện.
Tôi cứ mong rằng chị đừng nhận ra điều ấy ở gương mặt tôi:
- Thế bố cháu Bun Khăm Nam nay ở đâu?
- ở gần đây thôi! Viên Chăn đây. Ngày đó vợ chồng chúng em cùng được sang Việt Nam học. Em học hát trong trường nghệ thuật. Chồng em học môn văn ở trường đại học. Năm ấy trên đường về Lào để phục vụ mặt trận thì em gặp các anh...
Tôi quay đi cố giấu chị cái thở phào nhẹ nhõm.
Đăng nhập để trả lời
0