Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Nén hương tưởng nhớ Đồng Đức Bốn - thi sĩ của thơ lục bát và tình quê Việt Nam.

3 trả lời, 257 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-23 17:18:48Ngọc Lý>
.


Ngang trời tiếng vạc mảnh mai,
Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi…
Đồng Đức Bốn (1948-2006)



Nhà thơ Đồng Đức Bốn,
"con chim mỏ vàng" của dòng thơ lục bát,
vừa qua đời ngày 14 tháng 2, năm 2006.
Trong hơn một thập niên, Đồng Đức Bốn đã
không ngừng "ngứa cổ hót chơi"
những khúc sáu tám có biến tấu mới
mà vẫn đằm thắm hương đồng cỏ nội Việt Nam.

Kính mời quý bạn cùng thắp nén hương tưởng nhớ nhà thơ.
"Thác là thể phách, còn là tinh anh..." (Nguyễn Du, ĐTTT)
Thơ của ông sẽ còn lại mãi trong kho tàng thi văn Việt Nam
.





Nhà thơ Đồng Đức Bốn qua đời





Sau một thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư phổi và gượng sống những giây phút cuối cùng cho thơ ca, con chim mỏ vàng của dòng thơ lục bát, nhà thơ Đồng Đức Bốn, đã ngưng tiếng hót để "trở về với mẹ ta thôi".

Ông từ trần tại nhà riêng ở thôn Song Mai, xã An Hồng, huyện An Hải (Hải Phòng) vào 10h30 ngày 14/2. Đồng Đức Bốn sinh ngày 30/3/1948. Năm 1992, ông gia nhập làng thơ với tập thơ đầu tay Con ngựa trắng và rừng quả đắng. Sản phẩm đầu tiên chưa gây được sự chú ý của dư luận nhưng đã thể hiện rõ thiên hướng thơ lục bát của một thi sĩ đồng quê. Cùng với sự ra đời của Chăn trâu đốt lửa (1993), Trở về với mẹ ta thôi (2000), Chuông chùa kêu trong mưa (2002), Đồng Đức Bốn đã định hình cho mình một phong cách lục bát riêng biệt với chất giọng lúc thiết tha, lúc tưng tửng, ngạo nghễ... với sự nối kết những câu từ bình dị nhưng mang đến cho người đọc một cấu tứ lạ, vừa triết lý, vừa hóm hỉnh, thâm trầm.

Đồng Đức Bốn phát hiện mình bị ung thư phổi cách đây nửa năm. Trong những ngày tháng chống chọi với số mệnh, có những lúc ông lạc quan Tôi không thể chết được đâu/ Bởi tôi còn khúc sông sâu lụy đò nhưng cũng có những lúc nhà thơ gượng dậy một cách tuyệt vọng: Đừng buông giọt mắt xuống sông/Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm.

Nhưng dẫu có đau đớn vì những liệu pháp hóa trị hay xạ trị, nhà thơ vẫn dành những giây phút cuối đời mình cho thơ ca. Ông lặng lẽ chuẩn bị để ra mắt tuyển tập Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc vào tháng 1/2006. Ông hào hứng xin được ké vào một góc sân thơ trẻ trong ngày hội thơ. Ông có thể đã gắng gượng sống để được nghe ngóng về ngày Thơ VN lần IV - nơi cây thơ của Đồng Đức Bốn trống vắng hình bóng ông nhưng cả linh hồn và tâm nguyện thơ ca của nhà thơ đã gửi cả vào Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc...

Đồng Đức Bốn, cũng như thơ ông, là một cá thể độc đáo, riêng biệt và ngạo nghễ. Tuyển tập thơ cuối cùng trong đời được ông đặt tên là Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc. Với ông, thơ như tiếng hót của một con chim, nhưng phải là thứ chim mỏ vàng; phải mang sắc hương của thứ hoa cỏ nhưng phải là hoa cỏ độc. Đó vừa là sự ý thức về cái bản ngã của một nhà thơ có tài, vừa là ước nguyện của một thi nhân nặng nợ với thi ca.

Những tập thơ đã xuất bản của Đồng Đức Bốn

- Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992)
- Chăn trâu đốt lửa (1993)
- Trở về với mẹ ta thôi (2000)
- Cuối cùng vẫn còn dòng sông (2000)
- Chuông chùa kêu trong mưa (2002)
- Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006)

Hà Linh
http://vnexpress.net/Vietnam/Van-hoa/2006/02/3B9E6C2B/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-19 18:44:41Ngọc Lý>
.



Đồng Đức Bốn: người làm thơ lục bát hiện đại





Theo nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, thơ Đồng Đức Bốn chính là hơi thở, là hồn vía của cuộc sống hôm nay được ‘quản thúc” trong niêm luật cổ truyền lục bát. Khoảng mười năm trở lại đây, xuất hiện khá đông nhà thơ. Công cuộc đổi mới đã mang một diện mạo mới cho nền văn học nghệ thuật nước nhà. Thơ cũng nhiều lên, cũng sôi động. Trung bình mỗi ngày có 2 tập thơ được in ra. Cuộc sống lẫn lộn vàng thau, lẫn lộn vui buồn. Thơ cũng thế! Trong bối cảnh ấy, Đồng Đức Bốn nổi lên như một hiện tượng thơ đặc biệt.

Đồng Đức Bốn sinh năm 1948, quê Hải Phòng. Anh đã từng làm nhiều nghề kiếm sống, cuộc đời sóng gió phiêu bạt nhiều nơi. Những dấu vết ấy hằn sâu trong nhiều bài thơ của anh. Cho đến nay anh đã xuất bản 5 tập thơ.

Đồng Đức Bốn đã từng nhận nhiều giải thưởng, trong các cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ, Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội và báo Tiền Phong. Anh là người sở trường làm thơ lục bát. Có lẽ anh là người làm thơ lục bát hay nhất trong khoảng 50 năm trở lại đây ở Việt Nam. kể từ khi Nguyễn Bính - một người chân quê, đồng thời cũng là một thi sĩ đệ nhất lãng tử giang hồ qua đời.

Thơ lục bát có cái khó là niêm luật cực kỳ chặt chẽ, và là một thể thơ nôm na cổ truyền đặc trưng Việt Nam. Người Việt Nam vị tình. Thơ lục bát cũng là một thể thơ vị tình. Nó gần gũi với lối sống, nếp nghĩ của người nông dân Việt Nam thật thà chất phác, thơ lục bát rất dễ làm nhưng chính vì thế mà cũng khó hay. Nhiều chữ quá, khôn chữ quá chính là căn bệnh mà nhiều người làm thơ lục bát dễ mắc phải, trong hàng vạn, hàng triệu người làm thơ lục bát thì đa phần đều ở diện “trí năng”, tức là làm thơ theo trí. Tác giả giống như một người đang chơi trò trí uẩn, sắp xếp các con chữ, các âm vận âm điệu, cố khuôn nó vào trong âm luật. Có thể thấy rõ sự dụng công của người làm thơ, càng dụng công bao nhiêu thơ càng thiếu tự nhiên, càng dở bấy nhiêu. Ở đây, diện tướng của người làm thơ hiện ra rất rõ, không sao trốn đi đâu được. Chính vì thế làm thơ lục bát mà không dụng công, dễ dàng như lời người nói quả là rất khó, rất hiếm. Có thể nói rằng trong hàng triệu người mới có một người, nó tựa như trò chơi xổ số trong văn chương và định mệnh. Đồng Đức Bốn là người tự dưng có duyên với riêng thể thơ lục bát. Đó là ân huệ trời đất dành riêng cho anh.


Chăn trâu đốt cỏ trên đồng
Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều.
Mải mê đuổi một con diều
Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.

Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi.
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.


Thơ lục bát của ĐĐB thường ngắn, có hai, bốn, hoặc sáu, hoặc tám đến mười hai câu giống như ca dao. Đôi khi, nó có vẻ như một lời nói bâng quơ bình thường:

Xong rồi chả biết đi đâu
Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương.

Chiều mưa phố Huế một mình
Biết đâu là chỗ ân tình đến chơi.

Gọi em một tiếng tưởng xong,
Không ngờ ai nấp trong lòng trộm nghe.

Cầm lòng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng.

Chuồn chuồn cắn rốn biết bơi
Con tôi chết bởi lời người hát ru.

Con tôi chết ở ao tù
Mà lời người vẫn hát ru ngọt ngào.


Hình ảnh nông thôn hôm nay được ĐĐB vẽ lại trong nhiều bài thơ vừa giống vừa khác với những thôn Đoài, thôn Đông trong thơ Nguyễn Bính trước đây. Vẫn là cái ngậm ngùi của sự nghèo nàn và mất mát khiến long ta nhói đau, khiến long ta nhớ khôn nguôi “thương nhớ đồng quê”

Nhà quê có cái giếng đình
Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ.

Nhà quê có mấy trai tơ
Quần bò, mũ cối giả vờ sang chơi.

Nhà quê chân lấm tay bùn
Mẹ đi cấy lúa rét run thân già.

Chợ làng mở dưới gốc đa
Nhà quê đem mấy con gà bán chơi.

Ối mẹ ơi đê đã vỡ rồi
Đồng ta trắng xoá cả trời nước trong.


Trâu bò thất thểu long đong
Trên bè tre rối bòng bong xoong nồi.

Ối mẹ ơi đê đã vỡ rồi
Mộ cha liệu có lên trời được không.

Sao chưa thấy chiếc thuyền rồng
Chở con với mẹ qua giông bão này.


Thơ ĐĐB khá giầu hình ảnh, và nói như nhà nghiên cứu phê bình văn học Vương Trí Nhàn: “Lục bát của Đồng Đức Bốn từ tốn, chậm rãi như lời nói vẩn vơ của một người vừa ngán sự đời, vừa không thôi chime nghiệm sự đời.” Thơ ĐĐB giầu nhịp điệu, cí thể thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhạc sĩ đã nhận ra sự tài tình và đã có một tình cảm liên tài khi phổ nhạc cho thơ anh. Đấy là các nhạc sĩ Thuận Yến, Doãn Nho, Huy Thục, Đặng Hữu Phúc, Ấn Thuyên, Nguyễn Tiến, Nguyễn Cường, Tuấn Phương, Đoàn Bông, Minh Quang,,, Đến nay, ĐD(B đã có chừng hơn 50 bài thơ được các nhạc sĩ phổn nhạc, Rất có thểm đây là những bài hát phổ thơ hay nhất trong vòng hai mươi năm qua.


Cũng với tình cảm liên tài, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã viết bài “Bạn thơ” tặng riêng cho ĐĐB:

Bạn chừ đóng gạch nơi nao
Văn chương lấm láp vêu vao mặt người.

Bất ngờ bạn đến thăm tôi
Gửi cho mấy tập ôi trời là thơ.

Câu dài câu ngắn ngẩn ngơ
Những rơm với lửa, những tơ với tình.

Một người hoang dại một mình
Bơ vơ giữa phố mong thành thi nhân.

Lòng yêu yêu đến trong ngần
Đường xa thương vết chân trần bạn tôi.

Mong sao bạn bớt bùi ngùi
Cố làm thơ nữa để rồi gặp nhau…


Đồng Đức Bốn là một nhà thơ sáng tạo ra những cái mới trong thơ lục bát. Anh thuộc diện nhà thơ bảo tồn, bảo lưu các giá trị thơ ca truyền thống. Đấy là một điểm khá đặc biệt trong thời buổi thơ lẫn lộn trắng, đen, thật, giả, lẫn lộn chuyên nghiệp và nghiệp dư hôm nay. Thơ anh dị ứng với những cách tân bí hiểm trừu tượng. Sự hiện đại trong thơ Đồng Đức Bốn là ở nội lực bên trong của từng câu thơ. Thơ hiện đại của ĐĐB chính là hơi thở, là hồn vía của cuộc sống hôm nay được “quản thúc” trong niêm luật cổ truyền lục bát. Anh thật xứng đáng với danh hiệu thi nhân, một danh hiệu vẻ vang không dễ dàng gì. Đấy chính là giá trị quí báu mà ĐĐB cống hiến cho đời, cho cuộc sống.

Chùm thơ Đồng Đức Bốn

Những bài thơ sau đây rút trong tập Chăn trâu đốt lửa

Chợ buồn

Chợ buồn đem bán những vui
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em.

Chợ buồn bán nhớ cho quên
Bán mưa cho nắng, bán đêm cho ngày.

Chợ buồn bán tỉnh cho say
Bán thương suốt một đời này cho yêu.

Tôi giờ xa cách bao nhiêu
Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư.




Sông Thương ngày không em


Không em ra ngõ kéo diều
Nào ngờ đuợc mảnh trăng chiều trên tay,

Luồn kim vào nhớ để may
Chỉ yêu cứ đứt trên tay mình cầm.

Sông Thương như gỗ hóa trầm
Mùi hương để vết tím bầm trên da.

Sông thương từ buổi em xa
Tay anh quờ xuống hóa ra bị chàm.

Em đi như chim về ngàn
Để rơi một cánh hoa tan nát chiều.


Tôi đi tìm một tình yêu


Trên dòng sống chứa rất nhiều ban mai.
Tôi đi trên dòng song gai

Lốt chân chim đậu trên vai thành hồ.

Không em từ bấy đến giờ

Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang.



Cầu gẫy mới phải đi đò


Cầu gẫy mới phải đi đò

Thế nên gặp gió thổi cho rét lòng.

Con đò nửa mặt trăng cong

Chênh vênh trên một dòng sông lở bồi.

Mái chèo cứ nhẹ thế thôi

Không là đứt ruột gan tôi bây giờ.

Mái chèo trên song làm thơ

Đỡ cho cánh vạc bơ vơ xuống dòng.

Chốc nữa thế nào cũng giông

Sang đò tôi đến giữa đồng là mưa.



Đời tôi


I

Tôi vừa lo được miếng cơm
Thì mất tí lửa tí rơm gầy lò.
Tôi vừa vượt bão mưa to
Chân đã phải lội đi mò sông sâu.


II


Mải mê tính chuyện không đâu
Qua song đã gẫy nhịp cầu chẳng lo.
Bòn mãi được mấy sợi tơ
Giăng ra bao kẻ đã vơ vào lòng.

Bây giờ còn có ai mong
Mà người mượn gió bẻ con trăng ngà.


III


Đời tôi tan nát bơ vơ
Nhớ thương là đợi còn chờ là yêu.
Đời tôi như một con diều
Đứt dây để trống cả chiều ngẩn ngơ.


VI

Đời tôi mưa nắng ở đâu
Bây giờ vuốt gió trên đầu tóc rơi.
Đời tôi tình rách tả tơi
Bây giờ nhặt mảnh sao rơi vá vào.
Đời tôi giầu ở chiêm bao
Bây giờ ngồi hút thuốc lào với trăng.


Đường đi

I


Đường đi to nhỏ đường dài
Thẳm sâu xuống biển lai rai lên đèo.
Có gì không để tôi theo
Cả đời bạc tóc vẫn nghèo xác xơ.
Có gì không để tôi chờ
Đời người được mấy giấc mơ đã tàn.

Bao nhiêu hy vọng cũng tan
Mà sao vàng ở trong than vẫn ngời.
Bao nhiêu cái mặt con người
Đánh nhau mũ áo tả tơi vẫn còn.
Bảo rằng phía trước là son
Tôi đi đến hết đường mòn lại không


II

Cứ đi theo vết bùn nhơ
Bao giờ qua những bến bờ thương đau.
Bảo rằng khổ trước sướng sau
Mà trăm năm vẫn thấy nhau bọt bèo.


III

Bao nhiêu là nỗi đau qua
Gom vào thành những phù sa cho người.
Bao nhiêu là giọt mắt rơi
Làm mưa chứ chẳng làm trời nổi giông
Bàn chân đã xéo lên chông
Máu chảy không sợ thì không sợ gì.


Đàn tì bà bỏ quên

[Kiến Thức Ngày Nay số 133 ngày 1.3.1994, trang 80.]


Bỏ quên thì cứ bỏ quên
Đàn tì bà đó cái tên vẫn còn.
Dây một gảy khúc chon von
Dây hai gảy khúc trăng tròn ngắm hoa.
Dây ba gảy lúc người ta
Đói cơm rách áo vẫn là của nhau
Dây tư gảy khúc buồn đau
Nhắc ai còn nhớ tới câu hẹn hò
Bốn dây thành một con đò
Chở tôi tới giữa đôi bờ Trương Chi.



Bây giờ

[Tuổi Trẻ Xuân Quí Mùi]

I

Bây giờ không thấy Thị Mầu
Nhưng con mắt ấy còn lâu mới già.
Mỗi lần cây cải nở hoa
Thì tôi lại nhớ người ta chưa về.
Mỗi lần cỏ dại trên đê
Chim ngói đi thả bùa mê khắp đồng.
Bây giờ em đi lấy chồng
Tôi giờ về lại bên sông tìm mình.

II


Bao nhiêu là thứ bùa mê
Cũng không bằng được nhà quê của mình.
Câu thơ nấp ở sân đình
Nhuộm trăng trăng sang, nhuộm tình tình đau.
Nhuộm buồn những hạt mưa mau
Thành sao nở trắng vuờn cau trước nhà.
Nhuộm hương của các loài hoa
Thành mơn mởn tóc đuôi gà cho em.
Câu ca mẹ hát như đùa
Chẳng mong thì bão cũng đi
Chẳng chờ thì nắng đương thì vẫn sang.
Đất nâu tưởng đã cũ càng
Tiếng chim trong bụi tre làng cứ non.
Có đi trên quãng đường mòn
Mới tin rùa tháp vẫn còn linh thiêng.
Mỗi người có một cõi riêng
Cũng như tiếng trống tiếng chiêng hội mùa.
Câu ca mẹ hát như đùa
Mà làn nước mặn đồng chua đổi đời.


Đồng Đức Bốn


[Nhân Dân điện tử 15 tháng Ba 2003]



Đồng Đức Bốn sinh năm 1948 – quê ở An Hải, Hải Phòng.

Tác phẩm thơ Con ngựa trắng và rừng quả đắng (NXB Văn Học); Chăn trâu đốt lửa (NXB Lao Động) Đàn buồn lại mắc dây oan (NXB Hội Nhà Văn); Ngắm quả gai rừng (NXB Lao Động).


Jennifer Tran giới thiệu
http://www.tanvien.net/gioithieu/dong_duc_bon.html
Đăng nhập để trả lời
0
.


Đồng Đức Bốn: 'Mỗi bài thơ giải một độc tố'



Khác với hình dung về nhà thơ Đồng Đức Bốn đang lâm trọng bệnh khiến đồng nghiệp và những người yêu thơ ông lo sợ ông bỏ tất cả mà đi, nhà thơ vui vẻ nói khi vẫn khoác áo bệnh nhân: "Cơ thể tôi hút nhiều thuốc và tia xạ nên đã đẩy được khoảng 70% cái bệnh ra ngoài rồi. Tôi không thể chết được đâu".

Không những lấy lại tinh thần để xứng đáng với nguồn thơ đang căng đầy (hai tháng nằm điều trị ông làm gần 50 bài thơ), Đồng Đức Bốn còn có vẻ tươi trẻ hơn. Rồi ông ngắm mình trong gương buồn rầu: "Tóc rụng hết cả rồi! Cái anh hóa chất này đến lạ".

Nhà thơ Bằng Việt cho rằng Đồng Đức Bốn đã thể hiện được cái tài hoa, độc đáo của mình bằng những câu lục bát đậm chất quê mùa nhưng lại ẩn chứa nhiều triết lý về thế thái, nhân tình. Nếu như mỗi bài thơ của Nguyễn Bính là một thể thống nhất, trọn vẹn không thể phá vỡ, thì mỗi câu lục bát của Đồng Đức Bốn đứng độc lập vẫn có giá trị như những câu tục ngữ, ca dao đã sống nghìn đời nay. Bản thân Đồng Đức Bốn cũng rất tự hào, bởi trong giai đoạn thơ ca chuyển mình, thời kỳ mà “ra ngõ gặp nhà thơ”, ông vẫn chung thủy với thể thơ dân gian và đã tạo nét riêng cho mình, không lẫn vào đâu được. Nhiều đồng nghiệp không ngại ngần đánh giá cao thơ Đồng Đức Bốn, cho rằng chính ông đã làm mới thể thơ lục bát bằng chất tình trong trẻo, nỗi đau đáu với đời và cả cái ngông của một kẻ sĩ.

Đồng Đức Bốn nói ông làm thơ vì buồn. Đời ông có quá nhiều cái buồn đến nỗi tưởng như sẽ ngã quỵ. Hai đứa con ông lần lượt bỏ ra đi trong bi kịch... Đấy là chưa kể nỗi đau của bè bạn, cuộc sống chung quanh.

Đồng Đức Bốn sinh ra trong một gia đình thuần nông. Tuổi thơ của ông tràn ngập những buổi chiều lang thang trên đồng cỏ hoe vàng, bắt châu chấu về nướng ăn hay tát cá mang ra chợ bán kiếm tiền. Mẹ ông là người phụ nữ chân đất nhưng thuộc nhiều ca dao, tục ngữ và những khúc hát ru. Cha ông cũng tập tọng làm thơ nhưng không thành. Đồng Đức Bốn là sự hoàn thiện của hai tâm hồn. Ông làm thơ từ năm 17 tuổi. Song mầm thơ ở chàng thanh niên quê mùa ấy vừa nhú đã lụi. Mới làm được vài bài thì ông không thể viết thêm gì nữa. Cũng có thể do phận nghèo đẩy đưa, chàng thanh niên xung phong không thể vơ vẩn với gió trăng được mãi, anh phải lo vật lộn với cuộc sống, làm đủ thứ nghề từ thợ gò, sửa chữa ôtô và cả... ký kết những hợp đồng kinh tế.

Hai mươi năm sau, chính nhà thơ thổ lộ rằng, ông gặp một cô gái Hà Nội và cô đã đeo đẳng suốt cuộc đời thơ ông. Song cô cũng chỉ là một mồi lửa làm bùng lên nguồn thơ bấy lâu bị chôn chặt trong ông mà thôi. Đồng Đức Bốn làm thơ trở lại và ngay lập tức tỏa sáng, gần như một hiện tượng hiếm thấy trong làng thơ lúc ấy. Ông bảo: “Con người tôi đã nếm trải đủ mọi đắng cay ở đời rồi. Bây giờ chỉ chạm vào cây là ra quả, chạm vào lá là thành sương, vào dòng sông thì hóa phù sa”. Vì thế, nhiều lúc ông làm thơ như lên đồng, chỉ 4-5 phút đã cho ra đời một bài thơ. “Đó là những khoảnh khắc tôi hoá thân vào trời đất”. Làm thơ giúp ông nghĩ về cuộc đời tốt đẹp hơn. Đến nay, ông đã làm khoảng 600 bài thơ lục bát và 200 bài theo thể thơ tự do, trong đó có nhiều bài đặc sắc được coi là tác phẩm để đời như Chăn trâu đốt lửa, Chuồn chuồn cắn rốn biết bơi, Nhà quê, Chợ buồn, Trở về với mẹ ta thôi... Ông cũng đã kịp đoạt 6 giải thưởng về thơ.

Đồng Đức Bốn tự nhận, trong ông tồn tại song song hai con người. Một con người thực mạnh mẽ, quyết liệt và độc đoán, sẵn sàng “choảng nhau” nếu thấy cần thiết. Một con người thơ, dịu dàng, đằm thắm, nhân hậu và đa tình. Con người thứ nhất bươn chải với sóng gió, chịu nhiều bấp bênh của số phận vì vậy quá tường tận “mánh khóe” cuộc đời. Con người ấy có thể mang trong mình những bộ mặt khác nhau, có thể xoay vần theo sự chuyển biến của xã hội. Con người thứ hai, đến già vẫn hồn nhiên như thủa ban đầu: "Tôi lấy trăng liềm làm bím tóc cho". Thế nên đọc thơ ông, ít người nghĩ chàng thi sĩ nhà quê ấy lại là một doanh nhân khá thành đạt. Với những nỗ lực, ông đã thay đổi cuộc sống bần nông của đại gia đình, từ nghèo khó, bằng lao động, trí lực của mình trở thành sang trọng trong xã hội. Có lẽ do làm nhiều việc quá mà ông đổ bệnh lúc nào không biết. Cứ tưởng đó là triệu chứng của người “đã toan về già”, ai ngờ đó là căn bệnh ung thư, có thể khiến ông ra đi bất cứ lúc nào. Vào viện, Đồng Đức Bốn vẫn vô tư "mệt thì mình làm thơ, mỗi bài thơ giải một độc tố ra khỏi cơ thể", bởi ông đang cần sống, đang còn "nợ cả mùa thu"...


Theo Người lao động
http://hanoi.vnn.vn/vanhoc/chandung.asp?id=BT3080533184&chude=43&page=1

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-22 03:24:40Ngọc Lý>
.
Đất nâu tưởng đã cũ càng
Tiếng chim trong bụi tre làng cứ non.




Lại Nguyên Ân

“Nhà quê” và thơ lục bát



Nhà thơ Đồng Đức Bốn
(30.3.1948-14.2.2006)



Tôi thử nhớ lại xem mình đã gặp thơ Ðồng Ðức Bốn trong trường hợp nào.

Dạo đó cách nay đã hơn mười năm, vào một ngày nào đó, một số người chúng tôi tình cờ gặp nhau khi đến mừng một bậc đàn anh lên lão thất tuần. Người lên lão bảy mươi ấy là Trần Ðộ. Ông vốn tính rất trẻ, hôm ấy đã đưa chúng tôi xem một bài thơ mà ông bảo không biết của ai, vì ông thấy thích nên chép lại:


Cái hôm em ở với chồng,
Ðể ai hoá đá bên sông đợi đò.
Cái đêm hôm ấy gió mùa,
Tơ nhện giăng đến cổng chùa thì tan.

Cái đêm lành lạnh gió mùa,
Em trong chăn ấm có đùa cùng ai ?
Ngang trời tiếng vạc mảnh mai,
Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi…


Bọn tôi cùng xem thơ và cùng thừa nhận: một bài thơ hay. Hoạ sĩ Nguyễn Quân thích nhất câu “tơ nhện giăng đến cổng chùa thì tan”, một bạn thơ khác thì thích cái sáng tạo hình dung tiếng vạc mảnh mai chém lìa vầng trăng thành hai mảnh… Chúng tôi rủ nhau ký tên xung quanh bài thơ chép tay ấy rồi đưa ra phố photocopy mỗi người giữ một bản làm kỷ niệm… Hôm ấy, Nguyễn Huy Thiệp, có cả vợ và một con trai nhỏ đi cùng, chỉ nghe mọi người bình tán chứ không góp chuyện. Sau buổi hôm đó ít lâu, tôi mới biết rằng bài thơ trên là sáng tác của Ðồng Ðức Bốn, và rằng Nguyễn Huy Thiệp hầu như là người đầu tiên trong giới cầm bút hữu danh đã giới thiệu thơ Ðồng Ðức Bốn với công chúng.

Quả thật, Ðồng Ðức Bốn là người làm thơ hiếm hoi được Nguyễn Huy Thiệp cảm mến. Thiệp đã động bút viết về thơ Bốn không chỉ một lần, không chỉ bằng văn bình luận. Truyện “Ðưa sáo sang sông” đưa ra hình tượng cái anh chàng mắc hội chứng “mê gái đã có chồng”, cái anh chàng hay lúc lắc cái đầu vì trong tai cứ kêu, cứ muốn rơi ra, một câu sáu một câu tám, rồi lại một câu sáu một câu tám… (chi tiết các câu thơ kêu trong tai tác giả đòi ra đời này, chừng như là mượn ở Hoàng Cầm).

Nguyễn Huy Thiệp thích thơ Ðồng Ðức Bốn, điều ấy đã rõ. Nhưng cũng chỉ thơ lục bát của Ðồng Ðức Bốn thôi, với Nguyễn Huy Thiệp mới là có giá trị.

Tôi nghĩ, cả Thiệp, cả Bốn đều chỉ thực tin vào những giá trị dân giã cổ truyền, đều chỉ thực lòng thương nhớ đồng quê.


Nhà quê có cái giếng đình,
Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ…

Nhà quê chân lấm tay bùn,
Mẹ đi cấy lúa rét run thân già…

Nhà bạn cũng giống nhà tôi,
Mái tranh vách đất nhìn trời qua vung…


Dĩ nhiên “nhà quê” bây giờ cũng đã có nhiều cái khác. Trai quê trong thơ Bốn đã “quần bò, mũ cối”; tóc gái quê vẫn chưa hết hương bồ kết, hương nhu, nhưng con mắt đã hướng nhìn ra ngoài lũy tre làng; điểm hẹn của những gái trai cùng làng có khi lại là những địa danh nơi kẻ chợ: (đường) Thanh Xuân, (phố) Trần Hưng Ðạo, đê sông Hồng, đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, phủ Tây Hồ… (tất cả đều ở Hà Nội!). Ấy thế mà đối với Ðồng Ðức Bốn (điều này hẳn Thiệp tán thành) thì:


Bao nhiêu là thứ bùa mê
Cũng không bằng được nhà quê của mình!


“Nhà quê” và thơ lục bát là hai thứ mà Ðồng Ðức Bốn cảm thấy mình nắm chắc nhất để nói chuyện với đời. “Nhà quê” và thơ lục bát Ðồng Ðức Bốn – cũng là những món chính mà Nguyễn Huy Thiệp tự tay ghi vào “menu” đưa cho các vị khách, cho công chúng của thơ.

Lục bát của Ðồng Ðức Bốn quả là có sức hấp dẫn. Có thể thấy nỗ lực của Bốn sáp thơ mình lại gần ca dao, đem cái mà người ta gọi là “thi pháp ca dao” vào để ngọt ngào hoá, mê đắm hoá câu lục bát của mình. Phương hướng này không phải không chứa đựng nguy cơ. Là vì những ý tứ cũ, chữ nghĩa cũ bị lặp lại, có thể đẻ ra thêm nữa những câu sáo mòn loại này:


Sáng trong lòng một chữ tâm,
Bao nhiêu nắng lửa mưa dầm cũng qua.

Tình yêu đổi lấy thi ca,
Máu xương đổi lấy phù sa sông Hồng


Ở khía cạnh tích cực, sự vận dụng “thi pháp ca dao” cần một sự đồng hành chủ động hơn của nhà thơ.
Chẳng hạn, ngoa ngoắt là một nét vốn có ở ca dao truyền thống. Ước mong gặp mặt người yêu khiến lời thôn nữ có kích thước phi thường:


Ước gì sông hẹp một gang,
Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi.


Sự cự tuyệt lời cầu hôn của một kẻ không ra gì cũng phổ một nét mỉa mai vào lời phúc đáp cực ngoa từ phía cô gái quê:


Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình.


Có vẻ như Ðồng Ðức Bốn rất ưa cái ngoa ngoắt này của ca dao. Hầu hết những câu lục bát Ðồng Ðức Bốn mà Nguyễn Huy Thiệp dẫn trong bài giới thiệu đầu tiên đều xa gần có nét ngoa ngôn lộng ngữ:


Chiều nay Hồ Tây có giông,
Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm

Cánh hoa sắc một lưỡi dao
Vì yêu tôi cứ cầm vào như không

Ðừng buông giọt mắt xuống sông
Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm.


Ðồng Ðức Bốn dường như thích in dấu những gãy đổ, những tai biến vào câu lục bát vốn dĩ mềm mại:


Em mang câu hát theo chồng,
Thuyền tôi đậu nắng trên sông gãy sào.

Tiếng ve xé nát đôi bờ
Chợ Thương để nắng bơ phờ trên sông.

Sao rơi cháy cả đôi bờ
Mà anh thì cứ bơ vơ giữa trời.

Em đi như chim về ngàn
Ðể rơi một cánh hoa tan nát chiều.



Cố nhiên đem đặt cạnh những câu ca dao kinh điển, thơ lục bát Ðồng Ðức Bốn, ngay những câu hay nhất, vẫn có nét gì nhân tạo, nhiều tiểu xảo.

Ở câu ca dao dẫn trên, rau cải là rau, không thể thành gỗ để làm cột đình; lim là gỗ “tứ thiết”, không bao giờ có thể đem thái làm rau ghém; nói chung, ở thế giới ca dao của người trần mắt thịt thì thì không thể có “voi chín ngà, gà chín cựa”… Ca dao tựa vào những sự thật kinh nghiệm đích thực, nên lời thách ngoa ngoắt kia cũng đích thực.

Ở những câu lục bát tai biến của Ðồng Ðức Bốn, thường khi chỉ nhờ ý chí của tác giả, nhờ tiểu xảo của liên tưởng ngôn ngữ, những gì gọi là tai biến mới có thể được cảm nhận như là tai biến. Thực vậy:


Chiều nay Hồ Tây có giông
Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm.


Giông gió nổi trên Hồ Tây có thể là thật, nhưng ngôn từ tôi ngồi trên sóng thì chưa chắc đã có thể có nghĩa đen. Vậy mà chỉ khi người ta tin có chuyện tôi ngồi trên sóng thì cái tứ “ngồi trên sóng… không chìm” mới xác lập được.


Cánh hoa sắc một lưỡi dao
Vì yêu tôi cứ cầm vào như không.


Chắc hẳn cái mà “tôi” đưa tay ra cầm là hoa; nhưng nếu không có liên tưởng của tác giả biến cánh hoa thành lưỡi dao sắc, gây lấy chút ớn lạnh nơi người đọc, thì cái chuyện “vì yêu tôi cứ cầm vào” chẳng còn chút duyên nào nữa.

Những bến bờ bị “xé nát” bởi tiếng ve, bởi sao rơi; con thuyền tôi “gãy sào” mất lái vì “em” đã mang câu hát theo chồng mất rồi; trời chiều tan nát vì cánh hoa người con gái ra đi bỏ lại…, tất cả chỉ là những thực tại ngôn từ, những tai biến ngôn từ. Thực tại ngôn từ này do tác giả tạo ra, bằng ý chí riêng, bằng cả sự cưỡng bức nữa, đối với ngôn ngữ.


Tôi thường đi trên lưỡi dao,
Tay cầm cơn bão đem vào cho em.


Ðồng Ðức Bốn đã gần đến giới hạn bên này của sự bạo hành ngôn ngữ, điều mà Nguyễn Huy Thiệp dường như rất muốn cổ vũ.

Ðồng Ðức Bốn thường để cho thơ lục bát của mình tựa vào ca dao, coi vốn ca dao kinh điển là một liên văn bản rộng lớn của thơ mình. Ca dao vốn đã quen trích dẫn lẫn nhau. Khi một câu ca dao nói lời người con trai với đám con gái rằng:


Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh


thì câu ấy ắt phải dựa vào, phải ngầm trích dẫn những câu ca dao tả cái liếc sắc sảo của đôi mắt đẹp:


Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau…


Ðồng Ðức Bốn vốn tự nhận là rất mê gái một con (tâm lý này có lẽ cũng là trích dẫn ca dao) cũng nhắn nhủ đôi mắt kia:


Lông mày ai chớ uốn câu,
Ðể con cá chết, cho cầu ao đau.


Chung quy chẳng hề có chuyện cá chết hay cầu ao đau vu vơ nào, chỉ có sự đồng thuận của những bụng dạ đàn ông; thói mê gái đã là động lực đẩy cho những nét nghĩa ngôn từ cứ tựa vào nhau mà trượt dài xa dần khỏi đối tượng mô tả; nói cá chết ao đau mà thật ra chỉ để rên rỉ rằng ôi đôi mắt cô em đẹp lắm!

Ở trên tôi đã nói nhiều về khía cạnh thơ lục bát Ðồng Ðức Bốn gắn bó với ca dao cổ truyền. Tuy vậy, Bốn là người của hiện tại, không phải không có lúc Ðồng Ðức Bốn chống lại “ý thức hệ” ca dao. Dù hơi hiếm, vẫn thấy ở thơ Bốn những câu loại này:


Chuồn chuồn cắn rốn biết bơi
Con tôi chết bởi lời người hát ru
Con tôi chết ở ao tù
Mà lời người vẫn hát ru ngọt ngào.


Một nhận biết kinh nghiệm rằng cái “chân lý” trong lời hát ru kia không phải là chân lý mà là sự giả dối, sự xui dại; điều đáng sợ là lời hát kia vẫn còn đó, vẫn ngọt ngào rót vào tai những ai chưa biết đó là điều giả dối.

Ðúng ra, những câu lục bát “phản ca dao” kiểu này còn khá hiếm trong thơ Ðồng Ðức Bốn. Thơ Bốn vẫn còn nằm trọn ở hướng “về nguồn” dẫu trong đó đã thấm nhuần không ít những trải nghiệm thuộc loại khác hẳn, từ đời sống đương đại.


Trở về với mẹ ta thôi
Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.



Tâm thức hướng trở lại trạng thái bào thai này, có người cho là tâm thức vĩnh cửu, hoài vọng vĩnh cửu của nhân loại; riêng tôi nghĩ nét tâm trạng này còn có chỗ đứng trong đời sống con người chừng nào trên cõi đời này chưa thấy những giá trị mới thật đáng tin cậy.




http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6480&rb=0101
Đăng nhập để trả lời
0