Diễn Đàn » Phong Tục Tập Quán

Tuất

3 trả lời, 2.626 lượt xem — Trang 1 / 1
Tục Thờ Chó Đá

Theo báo Người Lao Động, tại một số địa phương ở Việt Nam có tục lệ thờ chó đá. Tuy các nhà nghiên cứu nhân văn chưa tìm ra câu trả lời đầy đủ về vị trí con chó trong đời sống tâm linh của người Việt, nhưng ít nhất có thể khẳng định, người Việt Nam xưa và nay đã có tục lệ này. Bằng chứng là trên hồ Trúc Bạch (Hà Nội) đã từng có đền Cẩu Nhi (chó con) vào khoảng thời nhà Lý nhưng từ lâu đã không có người đến hương khói. Báo NLĐ ghi nhận về tục thờ chó tại vùng quê của tỉnh Hà Tây như sau.

Để tìm hiểu thực hư về tục lệ lạ này, phóng viên báo NLĐ đã tìm đến khu di tích lịch sử đình, chùa thôn Phù Trung, xã Thượng Mỗ, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Nghe phóng viên hỏi về chỗ thờ chó đá, chắc có vẻ hơi vô lễ nên một chị nhìn phóng viên nhắc khéo "ông Hoàng Thạch chứ!". Bệ thờ ông Hoàng Thạch (còn gọi là Quan Hoàng hay Quan Hoàng Ba) nằm về phía bên trái trước cửa đình, bên trên có một bát hương và mấy chiếc chén. Tượng có tư thế ngồi thu chân về phía trước, cổ đeo một chiếc chuông, cao khoảng 0.5 m. Ông Nguyễn Văn Dự, thủ từ đình cho biết, trước đây bệ thờ chỉ là một tảng đá nhưng cách đây hai năm, dân trong làng đã xây thêm xi măng to để tiện việc đặt lễ. Ngày rằm và mồng một, mọi người vẫn đến đây hương khói, cầu tài, lộc, may mắn. Dân trong làng, kể cả người già nhất đều không biết nguồn gốc tượng ông Hoàng Thạch và cũng không hiểu vì sao lại có tục này dù nó vẫn tồn tại đến ngày nay.

Theo ông Nguyễn Văn Dự việc thờ ông Hoàng Thạch không liên quan gì đến ngôi đình. Đình thôn Phù Trung thờ Thành hoàng là thần Mặt trời và Thần biển. Còn ông Hoàng Thạch vốn trước đây ngự trên một gò cao cách đó khoảng hai trăm mét có hai cây gạo to.Những người thường đến lễ ông Hoàng Thạch đều biết ở xã Phương Đình cạnh bên cũng có một bệ thờ chó đá khác to hơn. Bệ thờ chó đá của làng Địch Vỹ, xã Phương Đình (cũng thuộc huyện Đan Phượng) nằm trong quần thể di tích đình chùa của làng và được gọi là Quan lớn hay Hạ Giái Đại Vương. Tượng Hoàng Thạch này cao hơn một mét, trước mặt có bát hương rất to và một lọ hoa, xung quanh là hơn chục tượng chó nhỏ với nhiều kiểu dáng nằm trong một không gian khá đẹp và tĩnh lặng.

Bạn,

Báo NLĐ viết tiếp: theo truyền thuyết, vào đời nhà Lý có một tảng đá trôi theo sông về đây, dân các làng xung quanh bao nhiêu người ra vớt cũng không nhấc nổi. Khi dân làng Địch Vỹ ra thì chỉ bốn người đã đưa được "ngài" về. Từ đó dân trong làng ăn nên làm ra. Trước đây chỗ thờ ngài còn có hai cây gạo rất to, sáu người dang tay ôm không xuể nhưng khoảng năm 1970 thì bị chặt bỏ. Ngày xưa trước mặt ngài là một dòng sông, muốn vào lễ ngài phải đi cùng lối với đình, chùa song bây giờ khi không còn dòng sông nữa thì dân làng làm một lối đi riêng vào chỗ thờ ngài."

http://www.vietbao.com/main.asp?nid=96094&catgid=7
Đăng nhập để trả lời
0
Những Năm Tuất

Theo Hồ Đinh

Nhâm Tuất (542 sau tây lich - STL), Lương Võ Đế xâm lăng Giao Châu, bị Lý Bôn đánh tan.

- Nhâm Tuất (602), Nhà Tùy sai tướng Lưu Phương đem 27 lộ quân sang xâm lấn Giao Châu, Lý Phật Tử, kẻ đã cướp ngôi vua của Triệu Quag Phục, mở thành đầu hàng, khiến nước ta lại chịu thêm ách đô hộ của giặc Tàu hơn 336 năm nữa.

- Nhâm Tuất (722), Mai Thúc Loan lại lãnh đạo dân chúng Giao Châu đứng lên chống giặc Tàu thàm tàn bạo ngược, bắt dân Việt đang bị nô lệ, lên rừng tìm sừng tê giác ngà voi,xuống biển mò ngọc trai,để chúng vơ vét đem về nước. Ông chiếm được Hoan Châu (Nghệ An), xây thành đắp lũy quyết lòng giải phóng quê hương, sử ông ông là Mai Hắc Đế.

- Mậu Tuất (938), Ngô Vương Quyền Đại Đế đã oanh liệt chiến thắng quân Nam Hán trên Bạch Đằng Giang, chém đầu thái tử Hoằng Thao rụng giữa giòng nước bạc, khôi phục lại huyết thống của nòi giống Hồng Lạc, chấm dứt 10 thế kỷ nô lệ giặc Tàu, mở đầu cho nền độc lập tự chủ của Đại Việt, qua các triều đại Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn..Cũng từ đó hai tiếng Bạch Đằng đã khắc sâu vào tận cùng tâm thức muôn đời của người Việt như Phạm Sư Mạnh hết lời ca ngơi và tự hào 'Vũ trụ kỳ quan Dương cốc nhật, giang sơn vượng khí Bạch Đằng thâu'.

- Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (inh Bình) ra thành Đại La, nhân nằm mộng thấy rồng vàng xuất hiện, nên cải tên là Thăng Long (Hà Nội ngày nay), cũng năm đó vua cho xây tám nôi chùa lớn khắp nước, Phật giáo trở thành quốc giáo.

-Mậu Tuất (1058), vua Lý Thánh Tôn cho xây các điện Linh Quang, Kiến Lễ, Sùng Nghi và tháp Trường Long.

- Canh Tuất (1070) vua Lý Nhân Tôn lập Văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công cùng tứ phối là Nhan Hồi, Tăng Sâm, Tử Tư và Mạnh Tử. Đồng thời vẽ hình 72 người hiền, bốn mùa cúng tế. Đây cũng là nơi các hoàng tử tới học văn đạo lễ nghĩa, trước khi Quốc Tử Giám ra đời năm 1076.

- Nhâm Tuất (1262) Sau khi đánh đuổi giặc Nguyên-Mông ra khỏi bờ cõi Diại Việt lần thứ nhất, vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) nhuờng ngôi cho Trần Thánh Tông, lui về chùa Phổ Ninh ở phủ Thiên Trường làm thái thượng hoàng. Ngài đồng thời cũng là một cao tăng của Phật giáo, đệ tử của quốc sư Trúc Lâm (Phù Vân), còn để lại nhiều kinh sách và một bài kệ triết lý sâu sắc 'Lưỡi vuớng vị ngon, tai vướng tiếng - Mắt theo hình sắc, mũi theo hương - Lênh đênh làm khách, phong trần mãi - Ngày hết quê xa, vạn đặm đường'.

- Giáp Tuất (1334) , thượng hoàng Trần Minh Tông cùng Nguyễn Trung Ngạn, ngự giá thân chinh dẹp yên giặc Lào và Ngưu Hống ở Thanh Hóa. Trong triều, quốc sư Huyền Quang, trải qua các đời vua Nhân Tông - Minh Tông tạ thế, thọ 77 tuổi. Ngài đồng thời cũng là Tổ thứ ba của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, nên được vua ban chức 'Trúc Lâm đệ tam đại tư pháp tôn giả', đã để lại nhiều thơ văn với ý tưởng cao đẹp, siêu thoát.

- Mậu Tuất (1358) vua Trần Dụ Tông tham tàn bạo ngược, xây cất cung điện nguy nga, ăn chơi tráctáng, làm cho dân chúng lầm than nên giặc giã nổi lên khắp nơi. Chu văn An dâng sớ xin chém đầu bảy tên nịnh thần nhưng vua không nghe theo, nên từ quan về ẩn tại Chí linh.

- Nhâm Tuất (1382), quân Chiêm vào đánh phá kinh thành Thăng Long, bị hai tướng Lê Quý Ly và Nguyễn Danh Phương đánh đuổi chạy về Nghệ An.

- Bính Tuất (1406) giặc Minh lấy cớ đưa Trần Thiểm Bình về nước làm lại vua nhà Trần, để mong cướp chiếm nước ta, nhưng bị quân Nhà Hồ đánh tan, giết tên Việt gian cỏng rắn cắn gà nhà. Lập tức Minh Thành Tổ xua 20 vạn quân, lấy cớ 'phù Trần diệt Hồ', xâm lăng Đại Việt. Vì không được lòng dân,nên Hồ Quí Ly dù là một thiên tài lúc đó, cha con cũng bị giặc bắt đưa về Yên Kinh. Nước ta lại rơi vào gông tù nô lệ của Hán tộc suốt 10 năm, chịu ngàn năm đắng cay khổ nhục, dưới sự cai trị tham tàn của những tên thái thú nhà Minh như Trưong Phụ, Mộc Thạnh..

- Mậu Tuất (1418) nước ta thời Minh thuộc, bị hai tên quan văn là Hà Thanh và Hà Thi, tịch thu tất cả sách vở trân quý của Đại Việt, từ thời lập quốc tới nhà Hồ, mang hết vài nước. Đồng thời giặc Minh đem các sách của Nho gia vào nước Nam, cưỡng bách người Việt phải học. Hậu quả Đại Việt từ thời Hậu Lê tới khi bị thực dân Pháp xâm chiếm, VN phải chịu ách nô dịch văn hóa và tư tưởng của phương bắc.

- Bình Định Vương Lê Lợi nhờ có Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hản phò tá, cùng sự ủng hộ của toàn dân, nên đã khởi nghĩa tại Lam Sơn (Thanh Hóa), và chì trong 10 năm đã đanh đuổi được giặc Minh ra khỏi nước, thu hồi lãnh thổ và nền độc lập tự chủ lại cho Dân tộc Việt.

- Nhâm Tuất (1442) vua Lê Thái Tôn cho mở khoa thi tiến sĩ và khắc tên nững người thi đổ vào các bia đá tại văn miếu ở Thăng Long. Đồng thời Quốc Tử Giám cũng được nâng lên như một trường đại học ngày nay. Hiện di tích văn miếu-quốc tử giám vẫn còn tồn tại trên một diện tích 55.027m2,với các khu hồ van, vườn gím và nội tự, chung quanh có tường gạch bao bọc.

- Tháng 7 vua đi duyệt binh ở Chí Linh, ngủ đêm tại huyện trạm Gia Định (Kinh Bắc) và chết bất đắc kỳ tử trong đêm đó, gây nên cái án Lệ chi viên - Nguyễn Thị Lộ, làm cho đệ nhất công thần Nguyễn Trãi bị chém đầu và toàn gia chịu tội tru di tam tộc. Sau khi Đại Đế Lê Thánh Tôn lên ngôi vua, ngài đã minh oan, xá tội và phục hồi quan chức danh dự lại cho Nguyễn Trãi. Nhờ vậy hậu thế mới có được danh tướng Nguyễn Hữu Dật và nhất là Nguyễn Hữu Cảnh, trên đường Nam tiến, đã mở nước tới tận Hà Tiên ngày nay.

- Mậu Tuất (1658) Trinh Nguyễn phân tranh lần thứ năm, tại Tuân Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. - Vua Chân Lạp mất, con cái tranh dành ngôi vua chạy sang cầu cứu Nam hà. Hiền vương Nguyễn Phúc Tần sai tướng đem 3000 quân vào đất Chân Lạp, bắt được Nặc Chân tại Mõi Xùy (Biên Hòa) giải về giam tại Quảng Bình rồi tha, khiên cho người Miên hòa hiếu và chịu cho dân Việt từ Ngũ Quãng vào khai khẩn đất hoang tại miền Thủy Chân Lạp.

- Nhâm Tuất (1682) Thiền sư Hương Hải nguyên là tri phủ Triệu Phong, từ quan xuất gia, được chúa Nguyễ n Phúc Tần cho trụ trì tại Thiền Tĩnh Viện,trên núi Qui Kinh (Thuận Hóa), nơi này sau đó trở thành trung tâm cũa Phật giáo Nam Hà. Năm 1862 thiền sư rời chùa, chu du Đàng Ngoài được chúa Trịnh vời ở lại đất Bắc trụ trì, để giảng các kinh sách Phật.

- Giáp Tuất (1694), một người Hoa tên A Ban xúi giục người Chàm tại Thuận Thành Trấn làm phản. Vì vậy chúa Nguyễn Phúc Chu cử thống suất Nguyễn Hửu Cảnh từ Quảng Bình vào đánh dẹp. Sau đó trấn Thuận Thành cũng bị bỏ và trở thành tỉnh Bình Thuận từ năm 1697.

- Mậu Tuất (1718) đời vua Lê Dụ Tông, ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh Cương đặt lục phiên tại Phủ Chúa và lục bộ ở đền Vua, để cùng nhau lo chính sự.

- Canh Tuất (1730) ở Đàng Ngoài, chúa Trinh trùng tu lại chùa Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm.

- Giáp Tuất (1754) tại Bắc Hà, chúa Trịnh Doanh nghiêm cấm dân chúng không được tin theo Thiên Chúa giáo, đồng thời ban lệnh bắt giết các giáo sĩ tây phương tới truyền giảng đạo.

- Mậu Tuất (1778) Nguyễn Nhạc sau khi chiếm được Nam Hà của chúa Nguyễn, tự xưng Thái Đức hoàng đế, gọi thành Đồ Bàn ở Bình Định là hoàng đề thành, phong Nguyễn Huệ làm Long Nhưỡng tướng quân, còn Nguyễn Lữ là Tiết Chế.

- Canh Tuất (1790) Sau khi Quang Trung Nguyễn Huệ đánh tan mấy chục vạn quân Thanh vào những ngày Tết Kỹ Dậu (1789), Lê Chiêu Thống cùng đoàn tùy tùng chạy theo Tôn Sĩ Nghị và đám tàn quân về Yên Kinh, lạy lục Càn Long cho quân giúp mình, trở lại dành ngôi vua với Nguyễn Huệ. Nhưng Thống bị vua Tàu làm nhục, bắt hết các quan hộ giá vua Lê, đầy đi khắp xứ, còn Lê Chiêu Thống được hàm tam phẩm. Buồn rầu tủi nhục, vua chết trên đất Tàu nhưng để lại tiếng xấu ngàn đời trong sử Việt.

- Nhâm Tuất (1802) tháng 2, vua Tây Sơn Nguyễn Quang Thùy tiến đánh lũy Trấn Ninh nhưng đại bại phải rút quân chạy ra Bắc. Tháng 3, vợ chồng Trần Quang Diệu - Bùi thị Xuân cũng bỏ thành Qui Nhơn chạy theo vua, nha Tạy Sơn coi như mất từ đó. Theo Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam chính biên liệt truyện, thì năm 1802, khi thâu hồi được thành Thăng Long, thống nhất đất nước, chúa Nguyễn Ánh định đô ở thành Phú Xuân (Huế), muà hạ tháng 5, ngày mồng một Canh Ngọ, lập đàn ở đồng An Ninh hợp tế trời đất, cáo việc đặt niên hiệu Gia Long, sau đó tại điện mới chính thức nhận chúc mừng của trăm quan và ban lệnh đại xá thiên hạ. Tóm lại năm Giáp Tuất (1802) chúa Nguyễn Ánh mới xưng đế hiệu Gia Long, năm 1804 dựng quốc hiệu Việt Nam và chính thức lên ngôi Hoàng đế Đại Nam, mở đầu cho Triều Nguyễn (1802-1945)..

- Bính Tuất (1826) vua Minh Mạng sửa lại chùa Thanh Duyên. Trong năm đó, hoàng đế Pháp sai cháu của Chaigneau là người đã giúp chúa Nguyễn Ánh phục quốc, sang làm Lãnh sự Pháp tại VN nhưng bị vua từ chối, lý do là nước Nam không muốn gây hiềm khích với người Anh, giữa lúc hai nước Anh-Pháp đang xung đột.

- Mậu Tuất (1838) vì sự có mặt của giáo sĩ P. Marchaud (linh mục Du) trong thành Gia Định, khi Lê văn Khôi, con nuôi Lê Văn Duyệt đã tạo phản chống lại triều đình, nên vua nổi giận, ra lệnh giết hết giáo sĩ, giáo dân và triệt để cấm đạo Thiên Chúa.. Đồng lúc Minh Mạng sai sứ sang Pháp yêu cầu đừng cho người đến giảng và truyền đạo tại VN nhưng bị từ chối.

- Canh Tuất (1850) vua Tự Đức bổ nhiệm Nguyễn Tri Phương làm kinh lược sứ Nam Kỳ, Phan Thanh Giảm làm kinh lược sứ từ Bình Thuận tới Bình Đinh và Nguyễn Đăng Giai làm kinh lược sứ từ Hà Tĩnh ra Thanh Hoá, để thanh tra quan lại, duyệt xét dân tình.

- Nhâm Tuất (1862) tình hình cả nước vô cùng biến động, ở Bắc Hà giặc giã nổi lên khắp nơi như giặc cờ vàng (Nguyễn Văn Thịnh), giặc Tàu Ô của Tạ văn Phụng, thêm bọn cướp Nguyễn Trường Thạc, Lý Hợp Thắng..quân lính nhà Nguyễn phải đánh dẹp vất vã mới yên. Trong lúc đó tại Nam Kỳ, quân Pháp và Tây Ban Nha, tuy đã đánh chiếm ba tỉnh miền đông là Bà Rịa, Biên Hòa và Gia Định nhưng đã bị quân dân miền Nam tiêu diệt hơn 200 tên, dù chúng có vũ khí tối tân, tàu chiến súng đại bác.

Rồi giữa lúc quân lính còn đang chiến đấu với giặc nơi trận tiền, thì trong triều đình vua Tự Đức ngả theo phe chủ hòa do Phan Thanh Giản chủ xướng, ký hòa ước Giáp Thân (1862) nhường đứt cho giặc ba tỉnh trên. Vì vậy dân chúng Nam Kỳ không ai là không phẩn uất sự hèn kém của triều đình và nỗi ‘gia vong quốc phá' nên đã kết tội Phan Thanh Giản và Triều đình Huế, mà ngày nay dân gian vẫn còn truyền tụng câu ca dao bất hủ 'Phan Lâm phản quốc, Triều đình khi dân'.

- Giáp Tuất (1874), để đòi lại các tỉnh miền Bắc vừa bị thực dân Pháp chiếm đoạt, vua Tự Đức lại phải ký với giặc thêm một hòa ước 1874 bất công nhục nhã, chỉ có lợi cho Pháp mà thôi. Hòa ước này do Nguyễn Văn Tường và Philastre ký, theo đó VN phải nhượng hẳn cho thực dân Nam Kỳ, đồng thời còn phải mở thêm hải cảng Hải Phòng, Qui Nhơn và thương cảng Hà Nội cho Pháp. Tóm lại Bắc Kỳ gần như là thuộc địa của Pháp, tất cả mọi vấn đề từ tín ngưỡng, tôn giáo, kinh tế tới chính trị đều nhượng bộ cho giặc. Đã vậy còn đòi phải được đặt thêm Toà khâm sứ canh Triều đình Huế, để xen vào nội bộ VN.

- Theo Hòa ước 1874 và được chính thức thi hành khi Đồng Khánh được Pháp lập làm vua bù nhìn năm 1885, sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn khởi động phong trào Cần Vương cứu nước. Cũng từ đó Đại Nam (VN) bị Pháp cắt thanh ba miền riêng biệt, Nam Kỳ gọi là Cochinchine, là thuộc địa từ năm 1874, bị Pháp trực tiêp cai trị bằng chín sách đồng hóa, cầm đầu là Thống đốc, còn tỉnh có Tham biện, đều là Pháp.

Chỉ ở cấp quận, xã, thôn mới giao cho người Việt. Bắc Kỳ hay Tonkin trên giấy tờ của Triều đình Huế nhưng mặt thật cũng thuộc Pháp với chính sách nửa thuộc địa, nửa bảo hộ, do Thống sứ cầm đầu và các Công sứ đầu tỉnh, bên cạnh 'Khâm sai kinh lược sứ ' bù nhìn nhà Nguyễn, đóng tại Hà Nội. Còn Trung Kỳ hay An Nam hoàn toàn là xứ bảo hộ.Vua quan nhà Nguyễn từ Đồng Khánh tới Bảo Đại (1885-1945) chỉ còn là bù nhìn mà thôi.

- 1874 trường Tabert của Giáo hội Thiên Chúa, nhờ trợ cấp ngân quỹ Đông Dương, khai giảng tại Sài Gòn và bị đóng cửa khi VC chiếm Miền Nam vào ngày 30-4-1975.

- 1874 Pháp lập Collège des stagiaires tại Sài Gòn, đây là tiền thân của trường Thuộc địa Pháp, bị đóng cửa năm 1878, dời về Pháp. Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh, năm 1911 sang Pháp, đã nộp đơn xin nhập học nhưng bị bác đơn vì hội đủ điều kiện qui định.

- Bính Tuất (1886) sau khi kinh thành Huế thất thủ vào cuộc binh biến năm Ất Dậu (1885), vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở Quảng Trị, lập chiến khu, xuống chiếu cần vương, kêu gọi sĩ phu yêu nước đồng tâm đứng lên chống giặc thù và triều đình bù nhìn Huế. Lời kêu gọi của vua đã được toàn dân ba kỳ hưởng ứng như Mai Xuân Thưởng, Lê Trung Đình, Lê Trực, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Đề Thám, Nguyễn Thiện Thuật..

- Tại Thanh Hóa, nghĩa quân cần vương lập thành lũy chống Pháp từ Tam Cao tới Ba Đình, chạy dọc theo dãy Hồng Sơn hơn 50 km. Trong số này lũy Ba Đình của Đinh Công Tráng, xây trên ba làng Mỹ Khê, Mậu Thịnh và Thượng Thọ là kiên cố nhất.. Để đánh dẹp nghĩa quân, Pháp giao cho Đại tá Metzinser tổng chỉ huy nhiều tiểu đoàn lình Lê Dương tại Huế` và Hà Nội, tới Thanh Hóa tân công chiến lũy Ba Đình của Đinh Công Tráng nhưng bị thất bại. Cuối cùng thực dân phải sử dụng các việt gian chó săn Hoàng Cao Khải, Lê Hoan, Nguyễn Thân và Trần Bá Lộc, hợp sức với lính Tây mời tiêu diệt được Ba Đình.

- Pháp lập ra các hội đồng hàng tỉnh ở Bắc Kỳ để giải quyết các vấn đề thuế má bản địa.

- Năm 1886 phó tổng binh thành Hà Nội là Lê Công Chất, thừa lệnh vua Hàm Nghi bí mật tới Thất Sơn-An Giang chiêu dụ nghĩa quân, lập căn cứ chống Pháp, khiến giặc phải đem phần lớn lực lượng viễn chinh tại Nam Kỳ tới chiên khu đánh dẹp. Lê Công Chất bị giặc bắt và lưu đày ra Phú Quốc..Nhưng sau đó Ông đã vượt ngục và trốn ra Bình Thuận, cùng với các anh hùng Tống Hưng Nho, Nguyễn Đăng Giai ..tiếp tục chống thực dân Pháp tới 1-1984 mới bị tan rã vì Việt gian nằm vùng tố cáo và đâm sau lưng nghĩa binh.

- Mậu Tuất (1898): Thực dân Pháp lập cơ quan tài chánh liên bang gọi là Tổng Ngân Sách Đông Dương, để trực thu ba loại thuế quan trọng là thuốc phiện, rượu và muối, đồng thời qui định chỉ cho liên bang sử dụng thứ thiế công quản này mà thôi.

- Toàn quyền Pháp ép vua Thành Thái ký đạo dụ trao quyền thâu thuế tại Trung Kỳ cho Pháp, sau đó phát lương năm cho vua và hoàng gia.

- Toàn quyền Doumer mở thiết lộ trên bán đảo Đông Dương..

- Tháng 6/1898, khánh thành Hải đăng Hòn Dấu, một đảo nhỏ có diện tích chừng 0,7km2 cách Đồ Sơn (Hải Phòng) chừng 0,5 hải lý. Hải đăng có tên trong hải đồ quốc tế tại vĩ độ bắc 20 độ 40' 02" và kinh độ đông 106 độ 48'24". Ngày 27-4-1967 Mỹ dôi bom làm xập hải đăng và được xây lại trên nền cũ cùng với kiến trúc Pháp và hoạt động trở lại vào ngày 1-9-1995.

- Năm Canh Tuất (1910) Nguyễn Sinh Sắc (Huy), cha Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) đang làm tri huyện Bình Khê, Bình Định, thì bị triều đình cách chức vì say rượu đánh chết phạm nhân. Từ đó Sắc bỏ xứ lưu lạc vào Hàm Tân (Bình Thuận), Sài Gòn và trôi nổi khắp miền tây, sống nghề bói toán và bốc thuốc. Ngày 20-11-1929 Sắc bệnh chết tại nhà Năm Giáo, bên cạnh rạch Cái Tôm, quận Cao Lãnh.

- 1910: Vì cha không còn làm quan nữa, nên Nguyễn Tất Thành cũng từ Bình Định vào Bình Thuận và nhờ Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang giúp vào dạy tại trường tư thúc Dục Thanh, Phan Thiết do các con của Nguyễn Thông mở. Có điều không ai có thể xác nhận Thành dạy gì và dạy trong bao lâu ở đây, vì năm 1911 Thành đã xuống tàu buôn, xin làm bồi và sang Pháp.

- 1910: Phan Chu Trinh được toàn quyền Đông Dương Klobukowski tái xét bản án và tha bổng, nên ông được đưa từ Côn Đảo về an trí tại Mỹ Tho, sau đó được cho phép sang Pháp để chữa bệnh cho con là Phan châu Dật.

- 1910: Để đổi chác quyền lợi với thực dân Pháp trên đất Tàu, Nhật ra lệnh trục xuất hết tất cả thanh niên VN trong phong trào Đông Du tại đây, cả Kỳ ngoại hầu Cường Để và Phan Bội Châu cũng phải rời Đông Kinh sang Trung Hoa.

- Nhâm Tuất (1922): Chỉ riêng VN, thực dân Pháp đã vơ vét được một tài sản khổng lồ, về quan thuế 11.771.000 phật lăng, thuế công quản 45.732.000 phật lăng, thế trước bạ 2.969.000 phật lăng và bán tem bưu điện 1.766.000 phật lăng..

- 1922: Công đoàn liên thuộc địa Pháp (đảng cọng sản) xuất bản tờ Le Paria (Người Cùng Khổ ) với 1000 ấn bản, Nguyễn Ái Quốc phụ trách phát hành, chứ không hề viết bài. Tháng 11-1922 Quốc lên chức Phó bí thư công đoàn liên thuộc địa.

- 1922: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, con Khải Định, sinh ngày 22-10-1913 (tức 23.9 Quý Sửu), lên ngôi vua xưng đế hiệu Bảo Đại, lúc 13 tuổi. Sau đó nhân sang Pháp dự Hội chợ đấu xảo, Khải Định dắt Vĩnh Thụy sang Pháp nhờ nguyên Khâm sứ Trung Kỳ là vợ chồng Charles nuôi dạy theo nền giáo dục Âu Tây. Năm 1925 Khải Định băng hà, Bảo Đại về nước làm vua.

- Ngày 15/7/1922 tại Hội chợ, Phan Châu Trinh công bố ' Thất Điều Thư ' viết bằng chữ Hán, hạch tội vua Khải Định và triều đình Huế.

- Giáp Tuất (1934): Nguyễn Ái Quốc được Liên Xô cho vào học trường Quốc Tế Cọng Sản Lenin, qua bí danh Linov. Đây là nơi chỉ dành huấn luyện các cấp lãnh đạo đảng cọng sản khắp thế giới, thành lâp từ năm 1926.

- Đầu tháng 1/1934: Toàn quyền Đông Dương Pasquier, người chủ trương kế hoạch 'đại cải cách' triều đình Huế, đột nhiên qua đời. Vua Bảo Đại kết hôn với Nam Phương Hoàng Hậu vào ngày 20-3-1934, tên thật Marie-Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh 4-12-1914 tại Mỹ Tho, con Nguyễn Hữu Hào, đã du học Pháp 1927-1932.

- 1934: đảng cọng sản Đông Dương hải ngoại, dời về Ma Cau (nhượng địa của Bồ Đào Nha tại Quảng Đông), với thành phần lãnh đạo Hà Huy Tập (tổng bí thư, Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Bùi Hải Thiệu, Nguyễn Thị Minh Khai (cô Duy), Hoàng văn Hoan, Hoàng Sầm..

- 1934: Trong nước, cán bộ cọng sản bắt đầu hoạt động ở Thất Khê (Lạng Sơn), tuyên truyền trong các bản làng của đồng bào thiểu số miền Bắc, kết nạp được Chu văn Tấn (Nùng) và Lê Quảng Ba (Thổ)..

Bính Tuất (1946) ngày 1-1, ra mắt chính phủ liên hiệp giữa cọng sản quốc tế và các đảng phái quốc gia, gồm Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn văn Xuân..tại Hà Nội.
......

- Ngày 2/4/1946 Đức Huỳnh Phú Sổ thành lập Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp tại Sài Gòn, gồm PGHH, VM,VNQDD và Bình Xuyên. Ngày 8/4 đặc công Việt Minh phá nổ Kho Đạn Sài Gòn. Ngày 10/4 Ủy ban kháng chiến lâm thời gồm PG Hòa Hảo, Cao Đài, VNQDĐ, Việt Quốc Đoàn, Đệ tam sư đoàn..họp tại Bà Quẹo (Hốc Môn-Gia Định) để bàn kế hoạch chống Pháp.
.....

Mậu Tuất (1958) Đỗ Mậu được làm giám đốc Nha An ninh quân đội thay Mai Hữu Xuân về làm Chỉ Huy trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung.

- Ngày 16/3/1958 Hà Nội tổ chức đại hội Phật giáo thống nhất quốc doanh, trong khi các vị cao tăng PG miền bắc như Hòa thượng Tuệ Tạng, Thượng Toạ Tố Liên, Trí Hải..bị cô lập hay an trí tại các tỉnh xa thủ đô.

- Ngày 20/5/1958 Trần thị Lệ Xuân vợ Ngô Đình Nhu, đề nghị Quốc Hội VNCH thành lập Phong trào phụ nữ liên đới. Ngày 24/5 Bắc Việt ban lệnh cả nước học tập chủ nghĩa Marx-Lenin để xây dựng thiên đường xã nghĩa miền Bắc và chuẩn bị cách mạng giải phóng miền Nam. Ngày 29/5 tại Hà Nội trong phiên họp đảng cao cấp, Lê Duẩn đả kích chính sách xét lại của cọng sản Nam Tư. Ngày 4/6 tờ Nhân Dân mở chiến dịch, chống Nhóm Gia Phẩm Nhân Văn. Ngày 5/6 Truờng Chinh khai mạc hội nghị đề cương văn hóa miền Bắc.

Canh Tuất (1970): Trong kế hoạch VN hóa chiến tranh, Hoa Kỳ biến cải các lực lương Dân sự chiến đấu(CIDG) thánh Địa Phương Quân/VNCH, tuy nhiên chỉ thực hiện được 30/100 trại LLDB. Những trại còn lại, theo thỏa thận của Bộ TTM/QLVNCH, được biến cải thành các Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng, làm cho binh chủng BDQ có quân số tói 40.000 người, gồm 21 Tiểu Đoàn cơ động và 37 TĐ biên phòng.

Nhâm Tuất (1982), theo phúc trình của Cao Ủy LHQ, thì khoảng ¼ trong 1,2 triệu dân tị nạn cọng sản, đã bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp trên biển đông, nhất là hải tặc Thái Lan. Nhiều phụ nữ bị hoang thai và các loại bệnh phong tình do bọn cướp biển truyền sang. Đây là cái giá tự do mà người Việt miền Nam đánh đổi với VC bằng 3 lạng vàng trở lên, để được ra đi khỏi thiên đàng xã hội chủ nghĩa........

- Vượt biên và vượt biển vẫn liên tục, trong số nay không hiếm VC sau khi tỉnh mộng thiên đàng treo, cũng ùa theo dân miền Nam tìm tự do.

- Bính Tuất (1994): Du khách tới VN hơn 1 triệu người, nhiều nhất là Nhật, Pháp..có 19 tàu du lịch của các nước, đã ghé Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẳng, Thuận An, Hạ Long. Hàng không VN với 3 Boeing 767, 7 Airbus A-320, đã mở được 19 đường bay ngoại quóc tại Đông Nam Á và Pháp. Năm 1994 VN xuất cảng sang Âu Châu, Nhật, Đài Loan và các nước khác dầu thô, hàng may mặc, gạo, hải sản, cao su...

.....................

http://www.vietbao.com/main.asp?nid=96064&catgid=6
Đăng nhập để trả lời
0


Năm Tuất nói chuyện chó!

Nguyễn Thanh Ty


Còn nhớ, cách đây khoảng hơn sáu mươi năm, nghĩa là lúc đó tôi mới năm, sáu tuổi, ôm cuốn sách Học vần lớp Đồng Ầu tới nhà thầy Tổng Lâm trong xóm để thầy ban phát cho ít chữ Quốc Ngữ a, bê, xê dắt dê đi ỉa, a, á, ớ đi chợ về chưa? Chỉ cách đó vài năm trước, mấy anh chị họ tôi còn phải ngồi xếp bằng ngay ngắn, trên chiếc chiếu cói trãi dưới đất, đầu lắc lư, miệng ê a đọc theo thầy đồ, khăn đóng áo dài, mớ Tam Tự kinh: thiên là trời, địa là đất, thất là mất, tồn là còn, tử là con, tôn là cháu…

Trên bìa cuốn sách có vẻ hình con chó và con gà đang châu mỏ nói chuyện với nhau rất ngộ nghĩnh , dưới có chua hai câu thơ:

Chó với gà một nhà thân thiết,

Khi rảnh rang mài miệt chuyện trò!

( Hai câu này mãi cuối năm học tôi mới đọc được)

Hình vẻ con chó nói chuyện với con gà một cách thân thiết làm tôi cứ thích nhìn và rờ rẫm mãi, đến nổi mấy tháng sau cái gáy và hai góc sách mòn sờn, rách bươm, cong lên như cái sâu kèn.

Thuở ấy nhà tôi cũng có nuôi một con chó vàng, cha tôi đặt tên là Vàng, và một bầy gà. Má tôi sợ mèo nên nhà không nuôi mèo. Con Vàng cứ rình mấy con gà từ sân sau lẽn vô nhà kiếm ăn là rượt chạy chí chết.

Tôi chẳng thấy hai con vật này trò chuyện với nhau bao giờ.

Ngược lại, cái câu: “Gấu ó như chó với mèo” là tôi thấy đúng phóc. Cô mèo hàng xóm vừa mới lượn lờ qua hiên nhà tôi là cậu Vàng đang nằm ở góc sân, lim dim mắt, tơ lơ mơ dưới nắng, lập tức mở choàng mắt, phóng mình tới, mồm nhe ra cả bó răng, cổ họng gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống cô mèo yểu điệu thục nữ dễ thương kia.

Lúc này, nhìn dáng liễu yếu đào tơ của cô mèo phản ứng tự vệ mới thấu hiểu được hết ý nghĩa cái câu ngạn ngữ: “Đừng đánh thức con mèo đang ngủ”

Cô em đang mềm mại, ẻo lã dễ thương với dáng đi uyển chuyển quí tộc đó, bỗng chốc thành một mụ phù thủy cùng hung, cực ác với hai con mắt rực lửa, lông cổ xù lên dựng đứng như bờm sư tử, hai chân trước giơ lên với những móng chân sắc như dao cạo, quào tới tấp vào mặt đối phương, miệng kèm theo những tiếng gào the thé nghe nhức nhối cả tai.

Cậu Vàng nhà tôi tuy hùng hùng, hổ hổ vậy chớ cũng biết sợ và e dè khi người đẹp nổi giận. Cậu ta chỉ xử dụng mỗI cái chiêu duy nhất là “lấy thịt đè người”, ỷ vào cái to xác, hù em trong vòng “ba búa” đầu như Trình giảo Kim thôi.

Sau ba búa mà đối thủ không chạy thì ta… chạy.

Và mười lần y như một, cái trận chiến ban đầu tưởng chừng sẽ long trời lở đất, nhưng chỉ trong vòng vài phút, chờ cậu Vàng thối lui ba bước là cô mèo nhanh như chớp, ngoắc mình phóng lên cây cau, trèo tuốt lên cao.

Cậu Vàng gỡ gạc sĩ diện ra vẻ ta đây anh hùng, ngước mõm sũa theo mấy tiếng gâu… gâu…“tha cho làm phúc” rồi nhẫn nha trở lại góc sân, khoanh rế, tiếp tục giấc tơ lơ mơ.

Về phía cô mèo, từ trên cao dòm xuống, đỏng đảnh meo… meo…: “Ta nào có sợ chi mi. Đồ chó! Ta trèo lên cây cau là chỉ để “hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà” mà thôi! Mi hãy đợi đấy”!

Cái cảnh chó với mèo gấu ó nhau cứ y hệt như “tình hữu nghị đời đời bền vững của nước An-Nam-anh-hùng-ta với người anh em Trung-Quốc-vĩ-đại-ta, bắt nguồn từ cái lúc ông Mác râu xồm khai thiên, lập địa xướng ra cái chủ nghĩa vô sản quốc tế, anh em bốn biển một nhà vậy.

Sở dĩ tôi nhớ đến cuốn Học Vần Đồng Ấu ấy vì chợt nhớ ra năm con Gà (dịch) sắp hết, con Chó ( không biết dại hay khôn) đang chồm chồm trước ngõ muôn tuôn vô nhà.

Cứ mỗi lần Tết sắp đến, từ cái thuở “thanh bình ba trăm năm cũ” cho đến cái thời Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa, và bây giờ là Cộng Hòa Xã Hội ba mươi năm, là hàng loạt báo Xuân khổ lớn, khổ nhỏ đủ loại bày bán tưng bừng từ trong tiệm sách ra tới lề đường như trăm hoa đua nở. Muôn sắc muôn màu. Và dĩ nhiên, bắt buộc, không hẹn mà nên, báo nào cũng có hai bài nòng cốt chiếm mấy trang đầu, một cách trang trọng. Đó là Sớ Táo Quân dài lê thê y như Sớ Táo Quân thứ thiệt, “ráp bo” đủ thứ chuyện trên đời, từ trong làng ra ngoài xã, từ chuyện thời sự quốc nội lan ra ngoài chuyện quốc ngoại, quốc tế.

Và bài tiếp theo hấp dẫn nhứt của báo Xuân nhất định phải là nói về con vật cầm tinh năm đó.

Ối thôi! Đủ thứ chuyện hầm bà lằng xá cấu. Từ chuyện xưa cho đến chuyện nay. Chuyện Đông sang chuyên Tây đều được mấy ông văn sĩ khai thác tận tình. Trước để mua vui cho độc giả sau kiếm chút nhuận bút tiêu tết với thiên hạ,

Chẳng hạn năm sắp tới đây là năm Tuất, cầm tinh con chó. Thế là chuyện chó được bổn cũ soạn lại. Giòng họ tổ tiên chó tám mươi đời lại được lôi ra làm mới. Từ chuyện xưa như trái đất, con chó của tên đạo chích cắn vua Nghiêu bên Tàu cho đến con chó của Rinh Tinh Tinh trong phim hoạt họa bên Tây cũng được đem ra xào qua, nấu lại. Từ chuyện chó có nghĩa, chó trung thành, chó ma sũa trăng, chó hú trên đồi hoang, cách nuôi chó săn, chó nòi… cho chí chuyện xe cán chó, chó cán xe cũng được đem lên chưng bày đầy đủ trên mặt hàng, đầy nghẹt mấy chục trang báo.

Có báo còn lấp la, lấp lửng khiêu khích độc giả bằng cách trích đoạn truyện “Cậu Chó” của tác giả Nguyễn Đức Lai, có cái đầu trọc, nhẵn bóng như cái… mông Thẩm Thúy Hằng nữa chớ.

Những năm đó, Tết nào tôi cũng mua một lô về, đọc cho qua ba ngày Xuân, chán như cơm nếp nát. Thấy tờ nào cũng na ná như tờ nấy. Chừng ấy chuyện.

Tôi lại liên tưởng tới mấy thầy, cô giáo dạy học trò tập làm văn tả vật, tả người, cho học trò cái mẫu nhập đề trực khởi, đơn giản dễ làm như:

- Nhà em có…

Học trò dốt văn cứ thế mà làm, không sợ trật vào đâu được.

Khi đề bài ra tả con gà, trong lớp có bốn chục em thì hết ba mươi tám trò đều có câu nhập đề y chang:

- Nhà em có nuôi một con gà…

Hôm sau tả con chó thì cứ y:

- Nhà em có nuôi một con chó…

Gặp lúc tổ trác, ra đề: Hãy tả ông nội em. Thì không biết mấy ông thầy, bà cô cười dở hay khóc mếu khi đọc:

- Nhà em có nuôi một ông nội…

Nhưng bây giờ, cái thời nhà nước ta đang “hối hả từ từ”đổi mới để tiến nhanh, tiến mạnh, ba bước nhảy vọt, theo cái “kinh tế thị trường” của bọn đế quốc tư bản đang giẫy chết, để đuổi theo cho kịp mấy cái nước chung quanh, hồi xưa chỉ là bọn lạc hậu, chậm tiến bây giờ đã thành những con rồng Châu Á. Mấy cái xứ man ri, mọi rợ này thừa lúc Đảng ta đang bận bịu ngâm cứu cái Thiên đường Cộng Sản, bèn qua mặt cái vù, từ rắn biến thành rồng. Chúng lại xấc láo hùa nhau xếp nước ta vào hạng “Rùa cổ đại” mới đau chứ.

Vì vậy, bên cạnh khẩu hiệu: “Đảng Cộng Sản quanh vinh muôn năm” phải đi liền khẩu hiệu “Đổi mới hay là ngủm củ tỉ”.

Thế mà, báo Xuân cũng cứ y như “thuở thanh bình ba trăm năm cũ” đem chuyện chó ra bàn y như mấy cô cậu học trò nhỏ làm bài tập làm văn: Nhà em có nuôi một con chó thì e rằng… chẳng có ma nào đọc.

Thiên hạ lai chun mũi phán:

- Biết rồi! Khổ lắm…

Nhưng năm chó mà không nói tới chó, không tán chuyện chó thì có cái… chó gì để nói, để viết?

- Có đấy! Có khối chuyện chó… má để nói đấy!

Ấy là chuyện đổi đời. Chuyện chó nhảy bàn độc. Chó bỗng nhiên có giá trị cao hơn con người từ mười đến một trăm lần hay còn hơn thế nữa. Người ta đang đua nhau tung hê và quí trọng “khuyển quyền” hơn “nhân quyền”.Thời sự cập nhật, bây giờ trong nước không ai còn dùng con vật chó để thóa mạ nhau nữa như “Đồ chó đẻ!- Đồ chó má!” Hay than vãn “ Sao mà khổ như chó!”.

Lỗi thời rồi! Lạc hậu rồi!

Dùng tiếng “chó”để mắng nhau là vi phạm “khuyển quyền” nhằm vào luật hình sự có thể bị Công An còng tay và bị Viện Kiểm Sát truy tố ra ba tòa quan lớn về tội xúc phạm danh dự công khuyển.

Bây giờ ngôn ngữ thời thượng, người ta hay tặng nhau hai chữ âu yếm, nhẹ nhàng nhưng cay độc và nặng ký hơn tiếng chửi “Đồ chó!”nhiều.

Đó là “Đồ đểu!”.

Đã qua rồi thời “đồ đá”, đồ đồng”. Nước ta đã tiến lên thời “đồ đểu” hơn một thập niên.

Mỗi khi “ta” không đồng chí với nhau, và nhất là lúc ăn chia không đều trong các phi vụ “đánh quả” như rút ruột công trình, chia chát “cô ta” xuất nhập khẩu, xà xẻo đất đai v.v…

Ở Việt Nam hiện nay ai ai cũng đều nói:

- Sướng như chó!

Và than vãn:

- Khổ như dân nghèo! Thà làm chó nhà giàu còn hơn!

Tôi xa nhà hơn mười lăm năm, sống với bọn tư bản bóc lột, làm việc thiếu điều hộc máu mồm, máu mũi, mỗi ngày mười bốn tiếng đồng hồ, hai “giốp”, mới mua được chiếc xe cà tàng hiệu “Corola”, giá chưa tới mười lăm ngàn đô, mà phải còng lưng trả góp bốn năm mới hết nợ. Nói chi tới cái nhà phải trả góp ba chục năm nữa mới thực sự là nhà của mình, thì tới đời… cha nào cho hết nợ?

Bởi ba chục năm nữa thì với cái tuổi tôi, tôi đã thành ông Bành Tổ rồi!

Đâu phải cứ tuổi Tỵ, con rắn, là lột được da sống đời để cho đủ ba chục năm!

Nói chuyện nhà ra chuyện cửa. Cái bọn tư bản bóc lột chỉ có tài nói phét cái mồm. Tám mươi phần trăm bọn chúng chỉ tổ suốt đời, từ đời cha đến đời con, cứ ở nhà thuê và đi xe mướn. Chẳng bù với dân Việt tị nạn mình mới qua Mỹ có vài năm, đã chụp hình đứng dựa ngữa lưng vào cái xe hơi láng coóng trước căn nhà to sù, gửi về cho gia đình. Dưới bức ảnh có ghi dòng chú thích: “Nhà và xe của con đây Ba Má”. ( Sau này mới vỡ ra là toàn chụp hình ké xe và nhà của thiên hạ để dợt le chơi)

Khỏi cần phải “phụ đề Việt ngữ” để diễn Nôm thêm cái hoạt cảnh hả hê của ông bà già ở quê nghèo, lúc trố mắt nhìn tấm ảnh, phải hít hà, xuýt xoa, sướng rên mé đìu hiu cho con mình đã thành công, thành công, đại thành công ở xứ người.

Trong lúc bọn bản xứ, không nhà, không xe mà cứ chiều chiều dắt chó đi dạo nhởn nhơ. Hỏi ra, mỗi con chó trị giá tới mấy trăm đô. Bà vợ tôi cứ chắc lưỡi:

- Mấy trăm đô một con chó, bằng tiền lương hai vợ chồng mình đi cày cả tháng! Lại còn tiền ăn, tiền hớt lông, cắt móng, bảo hiểm y tế cho nó nữa chớ! Ui cha mẹ ơi!

Tôi thì lãng mạn, thơ mộng hơn, tiếc rẻ:

- Ngắm người đẹp tóc vàng, một tay dắt chó đi dạo vào buổi chiều mát trời, nắng vàng hiu hắt trên cành cây, ngọn cỏ là số một rồi! Nhưng cái tay kia với “năm ngón thiên thần” đang cầm bao ny lông đựng đầy cứt chó bên trong thì coi không hạp nhãn tí nào cả!

Mùa đông tuyết phủ đầy trời, lạnh tê người, giữa khuya, ai nấy đều quấn mền trong nhà như con sâu làm tổ thì mấy chị già, anh già Mỹ lóng cóng, run rẫy, chân thấp chân cao, dắt chó ra ngoài cho nó đi ị. Mà cái lũ chó khốn nạn lắm cơ. Chúng chỉ ị hay tè ở cái chổ chúng đã đi lần trước thôi. Không đúng chổ là chúng ỏng eo:

-Em chả! - Em chả chịu!

Vô phúc cho lần đầu, nếu chúng làm cái chuyện vệ sinh ấy cách nhà vài trăm thước thì càng khốn nạn thêm cho cái thân già giữa đêm đông giá rét cắt da, cắt thịt.

Bà vợ tôi lại chép miệng:

- Thiệt không có cái dại nào giống cái dại nào!

Nơi thành phố tôi ở có tới mấy chục cửa tiệm chuyên bán đồ ăn và vật dụng phục vụ cho chó mèo, chim chóc. Và cả hai cái bệnh viện lớn chuyên chăm sóc súc vật.

Hèn chi hồi mới qua, mấy ông bạn đi trước, truyền cho tôi câu khẩu quyết quan trọng về việc phân chia giai cấp trong xã hội Tây phương, dặn phải nhớ nằm lòng để dễ bề hội nhập xứ người là:

Thứ nhứt đàn bà, thứ hai trẻ con, thứ ba súc vật, thứ tư mới tới bọn đàn ông chúng mình.

Tôi cứ cho là nói phét. Ma cũ bắt nạt ma mới. Mấy anh bị Mỹ hóa, ăn theo, nói leo chứ mới có mấy năm, biết … chó gì mà cũng ra vẻ. Nhất định không tin.

Hóa ra, càng ở lâu càng thấm đòn. Càng ở lâu càng sáng mắt, sáng lòng, mới biết thế nào là sông sâu, núi cao.

Nhưng Mỹ là Mỹ. Việt là Việt. Đông Tây không bao giờ gặp nhau. Mấy Ngài Mỹ ăn no rững mỡ, cứ việc tốn tiền, tốn thời gian họp bàn làm ra luật này, lệ nọ. Lập Hội to, Hội nhỏ để bảo vệ súc vật. Còn dân Việt Nam anh hùng tôi, thì cứ thịt chó tì tì. Vàng, vện, đốm, nâu, đen, trắng gì cũng rựa mận, chả chìa tuốt luốt. Nói chung con gì mà ngo ngoe, ngọ ngoạy là dân tôi cứ chén tuốt.

Ở đó mà luật với lệ. Chỉ tổ rách việc.

Tôi đố các Hội Bảo Vệ Súc vật trên thế giới sang nước tôi tìm cho ra được các giống thú quí hiếm để bảo vệ tuyệt chủng và bảo tồn môi trường sinh thái thiên nhiên.

Nếu có, tôi xin đi bằng đầu.

Tất cả các giống ấy đều được săn bắt để làm món nhậu cao cấp hàng ngày cho các “đầy tớ dân” “bồi dưỡng” cho đủ “calori” để phục vụ nhân dân đến hơi thở cuối cùng.

Còn ba cái thứ chó mèo, rùa rắn, hươu nai, nhím sóc, chim chuộc…là thứ đồ xèng, bình dân, bán theo lề đường dành cho dân đen, ăn cho có sức để lao động vinh quang.

Nói nào ngay! Tôi cũng chán ở cái “xứ phồn vinh giả tạo” thừa mứa vật chất, nhà lầu, xe hơi này. (Đi mua mỗi chai nước mắm cũng lái xe hơi. Rõ chán mớ đời!) Bởi cái tạng của tôi chỉ thích cá kho dưa giá, mắm nêm, mắm ruốc, chớ không hợp với “bơ thừa sữa cặn đế quốc”. Và trong máu cũng còn chút “gien” của Ông Trần bình Trọng: “Ta thà làm quĩ nước Nam chớ không thèm làm Tổng Thống đất Mỹ” nên cứ đinh ninh trong bụng, ráng cầy cho đủ bốn chục cái “coa tơ rờ đít”* là ôm trọn món tiền hưu bổng “Pho Ô Oanh Cây”*, mặc áo gấm có in hình chử thọ, xênh xang nón mũ về làng, làm “Việt kiều yêu nước” theo lời kêu gọi của cái Nghị quyết 36 Đảng ta.

Nhưng bất ngờ đọc được hai bài báo trong nước nói về “giá trị thăng hoa tột đỉnh của chó” và “phẩm giá con người ngàn lần rẻ hơn chó” tứ chi bèn bủn rủn. Đầu óc quay mòng mòng, mụ mẫm, lú lẫn ngay lập tức. Bao nhiêu hỏa hầu công lực dành cho ngày “vinh qui bái tổ” phút chốc tiêu tan ráo trọi.

Hai bài báo đó có sức mạnh y như môn “hấp tinh đại pháp” của lão Nhậm Ngã Hành, Giáo chủ Ma Giáo, dùng để hút hết công lực của gã giang hồ Lệnh Hồ Xung vậy.

Cũng bởi-tại-vì hai bài báo nói trên, tôi mới chẳng đặng đừng có bài viết dài dòng nói tới chó trong năm Tuất. Mà thật ra để nói tới cái chó má của đời hơn là đụng chạm tới cái cái “địa vị cao sang của chó” hiện nay đang lên ngôi trong nước.

Xin trích vài đoạn ca tụng “phẩm cách” chó để quí vị thưởng lãm trước.

Nuôi chó thời @: nhan đề bài viết ở báo Khánh Hòa điện tử ngày 05/11/05. Tác giả: Nguyên Khôi.

“Nếu cách đây 5-10 năm, ai đó sở hữu một con chó Nhật, chó Bắc Kinh đã thấy “chảnh” lắm rồi. Còn bây giờ thì…”xưa rồi Diễm ơi”. Thời của chó Nhật, chó Bắc Kinh đã qua, có người lỡ nuôi rồi như cục nợ. Cho cũng không ai lấy…

Ngày nay, gần như tất cả giống chó cảnh trên thế giới đều có mặt ở Việt nam…

Một con chó Chihuahua lúc trưởng thành có trọng lượng từ 800 gam đến 1ký là đạt tiêu chuẩn, tương tự một con Fox càng ốc tiêu càng quí. Hiện nay ở Nha Trang đang “sốt” chó Chihuahua vì đây là giống chó dễ nuôi, giá cũng rẻ (2triệu đồng/con). Nếu gặp con đẹp thì người bán “hét” đến 5 – 7 triệu đồng…

Giống chó New Foundland gốc Canada có giá lên đến 25 triệu đồng/con.

Con Bulldog có khuôn mặt ngắn với những nếp nhăn chảy xệ trông rất ngầu và luôn nhìn bạn với ánh mắt băng giá nhưng cái giá của nó không phải là ít – 10 triệu đồng/con.

Giống Great Dane của Đan Mạch thì rất ngầu đời. Gía của nó dao động từ 10 – 15 triệu đồng/con.

Tuy nhiên, điều khá bất ngờ là giống chó đang được săn lùng và có giá trị hiên nay lại mang nhãn hiệu “Made in Việt Nam” đó chính là giống chó Phú Quốc trứ danh…

Ở thành phố HCM cũng chỉ có khoảng 5 con chó Phú Quốc thuần chủng với cái giá ngất trời – 30 triệu đồng/con.”

Đó là sơ sơ giá vài loại chó. Còn chăm sóc chó thì sao?

Tác giả Nguyên Khôi cho biết:

“Hiện nay, ở Nha Trang có khoảng 11.000 con chó, trong đó có khoảng 3.000 con chó cảnh. Chính vì vậy, nhu cầu chăm sóc chó cảnh rất là cao. Trong giới thú y, nổi tiếng mát tay là anh Hương, người chuyên môn thực hiện các ca mổ đẻ khó. Riêng anh Khiêm, thạc sĩ thú y là chuyên gia về châm cứu cho chó. Còn phải kể đến Bác sĩ Hạnh trên đường Trần quí Cáp. Ở Vĩnh Hải có phòng khám thú y với khu điều trị nội trú, có phòng khám, phòng mổ rất tươm tất.

Về phần quí ông, quí bà nuôi chó thì thế nào? Tác giả viết tiếp:

“Chuyện ăn của chó cũng rất nhiêu khê. Theo các tài liệu thú y, chó có nhu cầu về đạm cao gấp 4 lần và can xi cao gấp 10 lần so với nhu cầu của con người. Chính vì vậy, nuôi chó không phải cho ăn cơm thừa canh cặn như trước đây mà phải chọn khẩu phần ăn cho “cục cưng” giàu chất dinh dưỡng, hợp khẩu vị…

Xong phần ăn uống, chữa bệnh thì chó cũng cần được vui chơi, giải trí. Thậm chí để giảm stress cho chó vì bị nhốt trong nhà, người ta phải đưa nó đi dạo, ngắm cảnh. Vì thế mà gần đây xuất hiện nghề “quản thú”, chỉ với nhiệm vụ lo miếng ăn, giấc ngủ và chăm sóc sắc đẹp cho chó. Một doanh nhân nước ngoài ở đường Trần Phú thuê một người làm, trả lương 800.000 đồng/tháng chỉ để chăm sóc con chó Pug của mình, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là dắt chó đi dạo”.

Nhưng đó là người nước ngoài, chỉ là chuyện nhỏ, lẻ tẻ, không nhằm nhò gì với người Viêt trong nước ta, “chảnh” hơn nhiều. Tác giả Nguyên Khôi cho biết tiếp:

“Chị Hà ở Vĩnh Ngọc có con chó Bulldog mua với giá 12 triệu đồng. Mới tháng trước chị phải thay người giúp việc nhà vì không biết chăm sóc chó, chị này khi tắm để cho nước vào tai khiến “cục cưng” bị viêm tai giữa.

Chị Ánh ở đường Nguyễn Thiện Thuật có một con Cocker giống Tây Ban Nha bị bệnh ghẻ lở phải chữa trị qua hơn mười bác sĩ thú y. Chị phải thuê hẵn môt chiếc xe du lịch chở chó vào thành phố HCM chữa chạy. Mất một năm trời, tốn trên 14 triệu đồng nhưng vẫn chưa khỏi hẵn. Chị Ánh còn cử người vào thành phố HCM học lớp trang điểm, cắt lông cho chó với học phí 1,5 triệu đồng/khóa để về chăm sóc cho đàn chó của gia đình.

(Bài báo rất dài, còn nhiều chi tiết li kỳ hơn nữa. Ai muốn biết tường tận xin vào Web: khánhhòa.com đọc bài Nuôi chó thời @)

Ối! Trời thần, đất lở, thiên địa ơi!

Nha Trang tôi không có nhà máy, công xưởng, kỹ nghệ chi cả, chỉ có biển xanh cát trắng, một ít dân sống về nghề chài lưới, còn đại đa số sống nhờ ruộng đồng ở thôn quê, ngày ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời vẫn kiếm không đủ cơm ngày hai bửa, sao lại nảy nòi ở đâu ra những kẻ giàu có đột ngột quá vậy?

Mấy năm sau này, nhờ Đảng ta đổi mới, li dị đoạn giao với cái thời bao cấp, học đòi theo “kinh tế thị trường” của bọn tư bản đang giẫy chết, nhưng ta không dại gì giẫy theo chúng, nhờ phát huy sáng kiến, đeo thêm cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” thần sầu quĩ khốc, nên nền kinh tế ta khá ra, hô biến một cái, (giống như tề Thiên Đại Thánh) lập tức có ba tỉ đô xanh từ “khúc ruột ngàn dậm” ào ạt gửi về đều đặn hàng năm.

Nhờ vậy mà thành phố Nha Trang tôi rộ lên cái dịch xây Hô-Teo cho Tây Ba lô, mặc quần đùi áo thun, đến tham quan học tập.

Nhưng trừ mấy cái khách sạn sang trọng 4 sao, 5 sao dọc theo bờ biển do ngoại quốc đầu tư, đặc biệt dành cho “mấy ảnh trển” tiếp khách Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore… để ký hợp đồng xuất khẩu lao động và gã chồng cho mấy em gái quê muốn làm giàu tắt, còn kỳ dư là quán nhậu lềnh khênh. Chẳng thấy cái gì có vẻ là thành phố du lịch hết.

Từ ngã ba Thành chạy dài cho tới Chụt, rẽ sang tận Đồng Đế, Hòn Chồng, Bãi Tiên đâu đâu cũng quán nhậu. Chổ nào cũng nem chua Ninh Hòa, Vịt nướng. Không đặc biệt thịt rừng thì cũng đặc sản đồ biển.

Chỉ thấy ăn nhậu chớ không thấy làm lụng.

Vậy thì tiền ở đâu mà có để ngày nào cũng ăn nhậu?

Vẫn theo báo Khánh Hòa điện tử cho biết, đạo quân bán vé số dạo, khắp hang cùng ngõ hẽm ở NhaTrang lên đến con sổ hãi hùng là 2.500 người. Trong khi đó, tổng số dân thành phố là 337.803 (theo thống kê năm 2000). Vậy tính theo tỷ lệ cứ hơn một trăm người một chút là có một người sống bằng nghề bán vé số dạo, thu nhập mỗi ngày chưa tới mười ngàn đồng.

Tác giả Xuân Thân, bài phóng sự: “Dưới mái nhà vé số” sau khi kể lại nhiều nỗi gian nan, đoạn trường, cay đắng cảnh cơ khổ của đoàn quân bán vé số dạo, chép miệng than:

“ Nghề bán vé số vốn khổ cực dầm mưa dãi nắng, vậy mà người bán vé số phải đối mặt với nạn giật vé, tráo vé…Chia tay những NBVS, trong đầu tôi luôn day dứt một câu hỏi: “Tại sao xã hội ngày càng phát triển, đời sống người dân ngày càng nâng cao nhưng số người hành nghề bán vé số lại càng ngày càng nhiều?Và tôi thầm mong, một ngày nào đó thần may mắn sẽ đến với họ - những người chuyên đi bán vận may cho thiên hạ - giúp họ thay đổi cuộc sống theo hướng tốt đẹp hơn.

Xuân Thân

Chắc chắn cái anh Xuân Thân này sẽ không bao giờ tìm được câu trả lời và điều thầm mong của anh ta chẳng bao giờ thành hiện thực bởi Đảng ta theo chủ nghĩa vô thần thì làm gì có thần may mắn mà xuất hiện ra tay cứu giúp.

Viết tới đây thì tôi nhận được cái E-Mail khẩn cấp của một người bạn từ quê nhà gửi sang cầu cứu: “Thằng D. bạn học với bọn mình ngày xưa, đi cải tạo về, chuyên bán vé số dạo hơn hai chục năm nay để nuôi con, đứa con gái bị bệnh tâm thần. Hôm qua nó dựa chiếc xe đạp trành bên gốc cây để đi tiểu cạnh đó. Lúc quay lại thì cái xe và toàn bộ vé số với mớ tiền bán được buổi sáng biến mất. Nó đang chới với vì không có tiền đền cho Đại lý và kiếm chiếc xe khác làm ăn để nuôi con. Mấy bạn ở nước ngoài thương tình cảnh của nó mà quyên góp kẻ ít, người nhiều giúp dùm cho nó trong cảnh ngặt nghèo này”.

Đọc xong cái “meo” lòng tôi cũng ngẩn ngơ. Cái câu than của anh chàng Xuân Thân bỗng nhiên buột ra cửa miệng tôi lúc nào không hay.

Có phải dân Nha Trang tôi bỗng chốc giàu lên nhanh chóng là nhờ biết khai thác tài nguyên sau hè nhà mình chăng?

Nhớ lại, thời gian đầu 75, cán bộ Đảng ta đêm nào cũng lùa dân ra trụ sở Phường để học tập đường lối, chính sách Đảng, có cho biết:

- Sỡ dĩ Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là vì chúng tham lam muốn chiếm lấy mỏ dầu của ta. Trữ lượng dầu của ta nhiều vô cùng tận. Dầu của ta nhiều ví như con voi. Dầu trên thế giới ví như con tem dán lên đít voi vậy. Đồng bào cứ việc ra sau hè nhà bới lên vài bới là có dầu nấu bếp và thắp đèn.

Cán bộ ta nói ngon lành. Nói rất ư là thành khẩn, y như chuyện có thật. Còn dân ngu khu đen ngồi la lết dưới đất, ôm bụng cười gần chết.

Không lẽ ba chục năm sau, lời cán bộ nọ lại trở thành sự thật chăng?

Ai mà ngờ được lời tiên tri quàng xiên, láo toét như thế mà thiêng. Bỗng dưng cái câu “rừng vàng biển bạc, đất kim cương” nói ví von cho vui vậy mà lại thành sự thật.

Có nhà ra sau hè đào lên thấy toàn là kim cương. Hốt một mớ xây nhà lầu hai ba “mê”*. Mua xe hơi xịn Mẹc xê đì. Sắm chó Phú Quốc 30 triệu một con.

Có nhà đào lổ trước sân trồng hoa, hốt lên toàn là vàng khối, chở cả xe tải. Lại lật đật xây khách sạn Muôn sao. Mua xe BMW kẻo trễ.

Dân đánh cá ngoài biển, kéo lưới lên được toàn bạc nén, sáng trưng chớ không phải cá. Nhiều ghe chở bạc khẳm be, suýt chút nữa bị chìm.

Biển bạc mà!

Mấy cái vũng sình trồng rau muống dọc theo hai bên lề đường, đoạn từ Mã Vồng lên Phú Vinh bây giờ cũng phọt lên dầu lửa ngày đêm. Dân ở đó cứ đem thùng hứng, đi bán thả ga. Giàu lên vùn vụt. Tiền đô tươi chảy vô nhà không kịp đếm.

Mấy trăm mẫu rừng quanh tỉnh bị chặt trụi lũi để làm củi, tưởng đâu đất bị sói mòn trơ ra đá sõi nào ngờ đá sõi lại biến thành vàng cục. Dân quê tha hồ đi lượm mõi tay.

Rừng vàng mà!

Khỏi cần tới cái nhà ông Hoàng trung Thông xúi trẻ ăn cứt gà nữa:

“Bàn tay ta làm nên tất cả,

Với sức người sõi đá cũng thành cơm.”

Thế kỷ thứ hai mươi mốt rồi. Ông Thông mơ ngủ ơi! Người dân đâu còn đủ sức nữa. Bây giờ là thời đại “a còng (tay)”. Người ta chỉ dùng mấy ngón tay là đủ có cơm. Chẳng hạn mấy ông có chức, có quyền chỉ cần mấy ngón tay nguấy ngoằn ngoèo cái chữ ký để phân phối “cô ta” hay quệt cái chử thập, ra lệnh trưng thu đất của dân rồi đem phân lô bán lại cho ngoại quốc là có tiền đô bạc tỉ rồi.

Còn dân đen thì chỉ cần bới bới, moi moi sau hè nhà như nói ở trên cũng là triệu phú đô la rồi.

Cám ơn Đảng. Cám ơn Nhà nước lắm lắm. Bây giờ thì “khúc ruột ngàn dậm” khỏi phải rót máu về tiếp cho thân nhân nữa rồi.

Chưa hết chuyện chó. Xin xem thêm một trích đoạn nữa trong Tuổi Trẻ Online để cho đủ bộ lệ: Chó má!

Trích báo Tuổi Trẻ

ttp://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=109249&ChannelID=

Chợ… người!

( Phóng sự của Thế Anh, Trần Huỳnh, Ngọc Diện)

Tôi đi mua… người!

TT: Khi mùa lũ tràn về phủ trắng ruộng đồng miền Tây cũng là lúc những phận người mưu sinh ồ ạt kéo lên thành phố. Có người may mắn kiếm được việc làm, nhưng không ít người trôi dạt vào những phiên “chợ người” mà nơi đó phận người được mua bán, trả giá như những món hàng vô tri vô giác.

“ Cần người bế em bé hay bế người lớn?”

“ Chẳng biết tự bao giờ, đoạn đưòng Ba tháng Hai thuộc Q.10, TP.HCM đã hình thành một phiên chợ mà nhiều người gọi là “chợ người”!

Đến đó, khi tôi mới nói cần tìm một bé gái chừng 14-15 tuổi biết bế trẻ con thì được giới xe ôm nơi này chào mời ngay: “Loại nào cũng có. Cần người bế em bé hay bế cả người lớn cũng được, ngồi lên tôi chở đi.”…

Mấy anh cò cho tôi một tấm danh thiếp rất ấn tượng: “D.-chuyên giới thiệu nữ giúp việc nhà, bán cà phê, bia, cơm, phở, may…”. Tôi tìm gặp chủ nhân tấm danh thiếp ghi trong hẻm 1099 đường Ba tháng Hai. Chủ nhân đang ngồi giữa, xung quanh là mấy người đàn ông đang nhìn bốn cô gái vừa đưa từ quê lên.

Mấy gã đàn ông vừa bình phẩm, cười cợt một cách khiếm nhã. Các cô gái không dấu được vẻ sợ hãi. Tôi nói với D. là mới mở quán cà phê đèn mờ, cần khoảng mười em. Không một chút đắn đo, D. nói ngay: “Cà phê ôm chứ gì? Nói toẹt ra để dễ làm ăn với nhau. Mấy quán cà phê ôm bên Q.7, Q.9, thậm chí trên Bình Dương điện nhờ tôi kiếm người hoài… Mà nói trước nha, hàng này khác giá ôsin nha…

“Bao nhiêu?”- tôi hỏi. “ Ba trăm một đứa”.

Điện thoại của ông chủ cứ réo vang liên tục, người gọi “đặt hàng” tới tấp: “ Mấy đứa?…Mười sáu, mười bảy tuổi hả, mai có người đưa lên liền, tui chặt cò mỗi đứa ba trăm, cho tháng lương đầu tiên…”

… Theo tìm hiểu của chúng tôi thì đứng sau những “vựa người” trên đường Ba tháng Hai là cả một đường dây chăn dắt được nối mạng từ các miền quê có nhiều người thất nghiệp như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Đồng Tháp…lên TP. HCM.

Mỗi đường dây đều có những người chuyên dắt mối để bán đi từng số phận mà cay nghiệt hơn là còn “cắn cò” vào thẳng tiền lương tháng của người lao động mà không cần biết công việc ổn định được bao lâu…

Những cuộc mua bán không…văn tự

“ Cái con đen đen kia giá bao nhiêu?” Một ông phốp pháp đậu chiếc Dylan đỏ chói giữa đường chỉ vào nhóm thiếu nữ tay xách, tay bị lấm lem bên lề đường. Một người đàn bà nhanh chân bước xuống đường: “ Ba trăm rưởi, lương bao cơm tám trăm, tết không cần về quê…” Cô bé da ngăm đen bước tới phân bua:” Bảy trăm con cũng làm nhưng tết con về lo mồ mả cha mẹ, con nói với dì rối mà!”.

Bà “cò” chống nạnh quát: “ Mày biết gì mà nói?Muốn kiếm việc mà còn eo xách! Hai vợ chồng đi xe hơi trờ tới. Người đàn bà ăn mặc sang trọng bước xuống nói với bà “cò”: “ Hai con đen rửa chén bốn trăm, năm thằng trắng chạy bàn năm trăm, chiều có được không bà?”. Bà “cò” nhỏ nhẹ: “ Hai chục đứa cũng có, nhưng dạo này tụi đen hút hàng lắm, chị cho năm trăm nghe, còn mấy thằng trắng em lấy chị giá cũ năm trăm…”.

Tôi ngạc nhiên với những tên gọi “trắng trắng, đen đen…”, anh Năm xe ôm giải thích: “Ở cái chợ này mấy tay “cò” gọi những người lao động gốc dân tộc thiểu số là “hàng đen” còn mấy cô cậu nông dân là “hàng trắng”. Trước đây “hàng đen” rẻ như bèo nhưng được cái rất siêng năng và khoẻ mạnh nên giờ người ta chuộng “hàng đen” hơn nên mấy tay “cò” mặc sức làm giá để ăn chênh lệch đồng lương của họ.

Hôm tôi trở lại chợ người tìm một cô bé giúp việc, bà “cò” mau mắn đưa ra một cô bé đen nhẻm khoảng 14-15 tuổi và bảo: “Xấu xí vậy mà siêng lắm nghen, lấy đi tui để cho một trăm!”.

Trong lúc bà “cò” quay sang tiếp mấy lượt khách khác vào xem “hàng”, tôi kéo cô bé ra hỏi chuyện. Em tên Trị, mới 14 tuổi, từ Sóc Trăng lên. Em cho biết đã từng đi làm cho một gia đình ở Cần Thơ, người ta trả 300.000 đồng, bao cơm. Có người bảo lên TP.HCM được trả giá cao hơn nên theo mấy anh “cò” ra bến xe và được đưa lên đây. Đã ba ngày trời người ta trả giá tới trả giá lui. Với em, chỉ cần trả 400.000 đồng là em làm ngay. Nhưng bà chủ vẫn chưa cho đi. Bà đang chờ giá cao hơn để ăn chênh lệch…

Thiên phóng sự rất dài, đăng những hai kỳ liên tiếp, nhưng tôi chỉ trích lại đôi chút để các bạn coi chơi cho biết cái “chó má” của sự đời. Nếu tôi trích nhiều thêm một chút nữa thì e rằng các bạn sẽ “lạc đường vào mê hồn trận” của cái cảnh đấu giá nô lệ da đen ở thế kỷ 15. Các bạn sẽ hoảng loạn tinh thần rồi tự véo vào bắp vế mình để biết đang tỉnh hay mê. Rồi hốt hoảng hô toáng lên rằng:

- Sao lại có cuộc buôn bán nô lệ mọi rợ ngay trên đất nước ta giữa thế kỷ 21 này?

Và tôi đoan chắc rằng bạn sẽ dụi mắt mấy chục lần mà vẫn không tin mình đang sống thực giữa cái xã hội “triệu lần dân chủ” có cái tên mỹ miều là Xã Hội Chủ Nghĩa này. Bạn cứ đinh ninh mình đang nằm mơ sống giữa thời Trung cổ, người ăn thịt người.

Tôi định viết một bài vui vui để các bạn đọc chơi ba ngày Xuân, nhưng khi đắm chìm vào hai bài báo trên, thật sự tôi không còn thiết tha gì nữa cả. Tôi cũng không còn lời nào để gọi là lời bàn Mao Tôn Cương hay lời bình Kim Thánh Thán được. Hai bài báo ấy đã nói lên hết cái “ưu việt” của cái xã hội hôm nay rồi.

Tôi chỉ muốn nhắc lại cho các bạn “nắm” các con số thôi, để khi nào có dịp “áo gấm về làng” thì bạn sẽ dễ dàng hội nhập vào cái xã hội ưu việt ấy .Và nhất là khỏi bị “hớ” giá.

Cái con đen đen: giá 100.000$. So với Con Chihuahua giá 2000.000$

Cái thằng trắng trắng: giá 500.000$. So với Con Phú Quốc: giá 30 triệu.

Người bán vé số dạo: thu nhập 10 ngàn đồng một ngày. So với Chợ người: Chặt “cò” mỗi đứa 300.000 đồng.

Đọc chuyện ta rồi ngẫm ra chuyện người. Thấy rằng:

- Ở xứ Mỹ có nhiều Bà, nhiều Cô, cả nhiều Ông nữa, sáng sáng, chiều chiều thong thả, nhàn nhã dắt chó đi dạo thật. Nhưng chưa từng thấy ai “ lemon question”* như Việt Nam ta. Thỉnh thoảng lại thấy có Cô hay Bà vừa bù lu, bù loa khóc như cha chết, mẹ chết, vừa đi dán mấy tờ giấy lên mấy cây cột đèn ở ngã ba, ngã tư rao thưởng cho ai tìm được con chó cưng hay con mèo cưng vừa thất lạc. Chứ chưa hề thấy có ai “mướn nguyên một chiếc xe du lịch để chở con chó đi chữa bệnh cả năm trời tốn 14 triệu bao giờ”.

Ôi cái xứ sở ta sao mà khốn khổ như thế không biết.

Đã hơn 70 năm, “Bác” du nhập cái Thiên đường Cộng Sản vào nước ta để cho nhân dân được ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, người không bóc lột người, ai ai cũng như nhau. Cớ sao càng xây dựng đất nước, càng đi lên Xã Hội Chủ Nghĩa mà giá trị con người lại tụt xuống, thua xa giá trị một con chó cả ngàn lần vậy?

Cái khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng khoét rộng ra, không còn cách gì vá víu lại được.

Thật là:

Trời sao trời ở chẳng cân,

Kẻ ăn không hết, người lần không ra?

Lại lẩn thẩn nghĩ rằng nước ta lắm tai trời, ách nước. Bão tố, lụt lội xãy ra liên miên. Dân chúng chịu cảnh lầm than, gió mưa lạnh lẽo, đói khát triền miên, sao mấy ông lãnh đạo từ Tổng Bí Thư xuống hàng Bộ Trưởng, không tỏ lòng nhân, véo bớt chút tiền lẻ trong số triệu triệu đô la gửi ngân hàng ngoại quốc để giúp cho đám con dân nghèo khổ?

Và quí Ông quí, Bà bỏ hằng mấy chục triệu ra chơi chó sao nở nhẫn tâm ôm “cục cưng” của mình vào lòng mà đứng nhìn kẻ cơ hàn lê la đầu đường xó chợ xin ăn?

Rồi lại hết phái đoàn này tới phái đoàn kia kéo nhau ra nước ngoài ngữa tay xin tiền cứu trợ.

Không biết nhục quốc thể hay sao?

Để giữ quốc sĩ, tôi xin hiến kế mọn, nhất cử mà có đến tam, tứ, ngũ, lục (đại) tiện, giúp cho nuớc ta giàu mạnh cấp kỳ, chẳng cần phải bị gậy đi xin (thằng chó) tư bản nào hết.

Cái kế này cũng chẳng phải tôi nghĩ ra hay mới mẻ gì, nó đã được áp dụng nhiều lần trong quá khứ rồi. Mà lần nào kế cũng thành công, đại thành công. Nói theo kiểu lưỡi gỗ chuyên nịnh hót của tên lưu manh Vi tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh ký thì là “đại công cáo thành”.

Lâu nay Đảng ta bận tr ăm công ngàn chuyện nên xếp nó ở trong xó. Vậy mà bọn thối mồm chúng cứ ì xèo với nhau rằng “Đảng ta ngủ quên trên chiến thắng!”

Quên thế nào được mà quên. Đó ngón võ độc tôn của các Ngài Mác Lê để lại. Ta chỉ vỗ béo chúng rồi thịt thôi.

Đó là “đánh tư sản” và “cải tạo công thương nghiệp”.

Kế sách này vừa theo đúng giáo điều Mác Lê ( chỉ cần nghe hai chữ “giáo mác” và “lưỡi lê” là bọn chuyên bóc lột đã teo bugi rồi) là vô sản hóa nhân dân ( tức là không cho thằng dân nào được giàu có, chỉ mỗi Đảng ta độc quyền giàu mà thôi) lại vừa triệt hạ được bọn doanh thương tư nhân. Cái bọn này rất “phản động” thấy ta vừa he hé cởi trói, (theo kiểu ta giả vờ theo cái “kinh tế thị trường” để bọn đế quốc mắc lõm kết nạp ta vào WTO đó mà), cho buôn bán chút đỉnh là được trớn làm tớI, muốn tranh ăn với “kinh tế quốc doanh” ta. Đừng có mà hòng! Cái đuôi “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của ta đàng sau, quất ngược một cú là đi đời nhà ma đấy con ạ! Hãy liệu cái thần hồn!

Tôi đề nghị hãy mau mau , cứ ba niên mần một quắn. Đừng để năm năm theo kế hoạch ngũ niên như lâu nay thì hơi chậm. Cứ ba năm đem đao ra làm một lần, chỉ cần mười lần, tức ba mươi năm sau, năm 2035, bảo đảm Việt Nam sẽ giàu có vượt bực, đứng đầu Đông Nam Á. Và lúc đó, bọn đế quốc mới biết gờm Việt Nam ta. Mới biết thế nào là lễ độ. Lúc đó thì hai cửa khẩu Nội Bài và Tân sơn Nhứt sẽ không đủ thì giờ và đủ chổ để cho máy bay AirBus, Boeing tấp nập lên xuống xin làm quen với ta.

Hồi trước Bác Mười múa đao hai bận đều thành công rực rỡ từ Bắc vô Nam rồi. Bây giờ Bác đã lên chức Thái thượng Hoàng, chắc Bác không cầm đao nữa. Bác chỉ ngồi trên cao làm cố vấn thôi. Có lẽ Bác sẽ truyền đao và bí kíp lại cho hai đệ tử xuất sắc là Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn đắc Xuân. Hai người học trò này chỉ trong vòng có mấy ngày mà chôn sống hơn năm ngàn người dân Huế vô tội trong cái Tết năm Mậu Thân. Thành tích này chưa ai qua mặt được.

Hiện nay, Hoàng Phủ Ngọc Tường đang bận ngồi xe lăn, chỉ hoạt động cái lưỡi thôi, không cầm đao được. Có lẽ người kế vị Bác Mười sẽ là chú Nguyễn đắc Xuân.

Chú Xuân ngoài sở trường đao pháp ra, tính tình tàn độc hơn Bác Mười nhiều, lại kiêm thêm sở đoản là môn đạo văn thiên hạ nữa nên rất xứng đáng được Bác Mười tin tưởng truyền giao Y Bát.

Lại nhắc cho chú Xuân nhớ mấy câu khẩu quyết trong bí kíp võ công đao pháp “tàn chi quái đao” kẻo chú hăng lên rồi quên. Đó là:

Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ.

Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong.

Cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao Chủ t ịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt.

( Binh pháp của Tổ Sư Bốn Lành ngoại hiệu là Tố Hửu)

Ôi tương lai xán lạn biết là chừng nào. Nói không hết được. Chấm “on bon phi nan” ở đây.

Năm con gà chưa hết. Con gà bị nạn dịch từ năm Thân cho tới gần hết năm Dậu mà vẫn cứ bùng phát mãi. Đến nay đã lan ra đến 17 tỉnh rồi.. Gà chết, người chăn nuôi chết theo vì tán gia bại sản chứ không chết vì cái con vi rút H5N1 gì gì đó. Đền bù 5000$ cho một con gà không đủ để thuê người mang đi chôn hay thiêu hủy. Nên nạn dịch cứ còn hoài.

Hiện nay bệnh dịch đã lây sang người, đã chết khá bộn, không biết con vi rút H5N1 này có lây lan sang chó hay không? E rằng sang năm Tuất, H5N1 biến dạng thành H6N2, nhiễm vào chó thành dịch chó dại không biết chừng.

Lúc ấy đại hoạ sẽ khôn lường.

Nhưng biết đâu lại là điều may! Chó dại sẽ quay lại cắn chết chủ nó để xã hội bớt đi những kẻ làm giàu bất chính trên mồ hôi nước mắt dân đen. Bớt đi những kẻ cậy quyền thế trong tay cướp đoạt tài sản đất nước làm giàu trên xương máu nhân dân.

Mong lắm thay.

Và để chấm hết chuyện năm Tuất nói chuyện chó, theo lệ xưa chúc xì xằng mấy câu: đa phước, đa lộc, đa thọ, đa tử, đa tôn, đa phú quí, xin nhại cụ Tú Xương mà rằng:

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang,
Chúc nhau từ chó tiến lên quan.
Phen này ông quyết đi buôn chó,
Vừa bán vừa xua cũng đắt hàng.

Mùa Đông 2005
Thanh Thanh.
___________________________
* “coa tờ rờ đít”: quarter credit: 4 tín chỉ cần có trong 1 năm làm việc. Tối thiểu phải làm việc 10 năm, có đủ 40 quarter mới được hưởng hưu trí khi quá 65 tuổi.

* “ Pho ô oanh cây” 401 K: chương trình đặc biệt dành cho công nhân gửi tiền Hưu được miễn thuế và được Công ty cho thêm phần trăm trên số tiền lương trích gửi hàng tuần.

* “Lemon question”: tiếng lóng trong nước: chanh + hỏi= chảnh.

* “mê”: tiếng chuyên môn trong giới xây cất. 1 “mê” là một tầng.

http://saigongate.com/Detail.asp?Type=TacGiaTacPham&ID=826

Đăng nhập để trả lời
0


Mộc Tồn Niên Kỷ

Hoàng Tiểu Ca


Nhìn trên quyển lịch năm Gà sắp hết và năm Chó lại sắp đến, thông thường có lẽ con người có cảm mến với loài sinh vật vốn là bạn thân, và với riêng tôi tôi kỳ vọng nhiều vào năm Bính Tuất. Một giấc mơ thật sự thái bình đến với người dân Việt chúng ta.

Một anh bạn tôi sinh năm 1946, tuổi Bính Tuất, tức năm Mộc Tồn, mạng Ốc Thượng Thổ, tôi bảo anh cùng tuổi với tổng thống thứ 43 của nước Mỹ. Tổng thống George Walker Bush, Jr. sinh năm Bính Tuất 1946, cách đây gần 60 năm. Bính Tuất cũng là năm tuổi của vị cựu tổng thống thứ 42 William Jefferson Clinton. Bill Clinton có cô chó cưng (chó cái), loại mình dài labrador, màu nâu đậm chocolat. Khi ông xin nó về ông yêu cầu mọi người đặt tên cho nó (qua chương trình "Name that dog"), nhiều người đề nghị tên "Buddy", thế là tên đệ nhất chó (the First dog) có cái tên thân thiện đó. Những chẳng may khi gia đình Clinton dọn về khu vực Chappaqua, New York. Buddy bị đụng chết khi chạy băng ngang đường. Báo chí cho biết Bill Clinton thật sự đau buồn, ông đã khóc thương tiếc vì Buddy đã không còn nữa. George W. Bush cũng có một cô chó (cũng là chó cái) loại chó kiểng lông xù Scottish terriers, tên Barney, khoảng 5 tuổi, màu đen. Đệ nhất chó Barney này mỗi đầu năm được Toà Bạch Ốc tung ra khúc phim vui ngắn mang tên "Barneycam" như lời chúc mừng đầu năm.

Đầu năm Chó ta hãy nói về Chó. Tôi đọc các bài viết về Chó từ văn chương của Vũ Bằng, Tạ Xuân Thạc, Ngô Nhược Tăng, Nguyên Nguyên,... đến Nguyễn Thế Cường, Lê Thế Vinh, Nguyễn Tuân. Mỗi người kể về chó theo mỗi nét, từ sự trung thành của loài vật gần gủi với con người này đến những món ăn cầu kỳ của loài nai đồng quê hay mộc tồn cho đời mua vui. Trong bài "Thịt Cầy" của nhà văn Vũ Bằng, ông mô tả về đặc sẳn cầy tơ thịt mềm mại nghe như nhỏ dãi:

"Thật vậy, thịt cầy ở nước ta không phải là một món ăn như thịt dê, thịt lợn, nhưng nó lại còn là một niềm tin tưởng trong dân gian nữa. Vận đương xúi quẩy, ăn một bữa thịt chó vào, người ta rất có hy vọng giải đen. Đánh bạc thua liền ba đêm, này! Ăn một bữa thịt chó, có người gở lại hết cả tiền thua, mà lại còn được thêm là khác. Thử hỏi trong tất cả các món ăn trên thế giới có món ăn nào khả dĩ lại di chuyển được vận hạn của con người đến thế hay không? Nhưng dẫu sao, chuyện di chuyển vận hạn cũng là chuyện của tương lai huyền bí. Nói ngay đến chuyện thiết thực ở trước mắt mà chơi.

Một chiều mưa phiêu phiêu ở chốn đồng ruộng căm căm gió rét, không đi chơi đâu được, mà trãi một cái chiếu lên thềm gạch ngô, đưa cay vài chén tửu, trước mặt có một mâm thịt chó làm đủ các món: chả, tái, cà ri, dựa mận, chạo, nem ... riêng cứ trông thôi, ta cũng đã thấy lòng phiêu phiêu như mở hội rồi. Thịt luộc đỏ tươi, bì vàng màu da đồng, đặt bên cạnh đĩa rau húng chó; vài dĩa riềng thái mỏng tanh; chả nướng béo ngậy, màu cánh gián; đĩa bún trắng bong nằm cạnh những bát hầm dựa mận màu hoa sim; những liễn xào nấu vớichuối 'chưa ra buồng' thái con bài; những đĩa dồi tươi hơn hớn, miếng thì trắng, miếng thì hồng, miếng thì tím lợt, đôi chỗ lại điểm những nhát hành xanh màu ngọc thạch... tất cả tiết ra một mùi thơm làn lạt như mùi hoa đồng thảo lại ngồn ngộn như mùi thịt gái tơ ... xin hỏi có ai mà chịu được, không thưởng thức một hai miếng làm duyên? Người chưa ăn bao giờ ăn thử một miếng lại muốn ăn hai, còn người đã biết ăn rồi thì phải nói rằng trông thấy thịt chó mà không được ăn thì buồn bã ủ ê, nếu không muốn nói là bủn rủn chân tay, bắt chán đời muốn chết..."

Và rằng sống trên đời mà không thử đặc sản cầy tơ mềm mại là một thiếu sót lớn. Vã lại, thịt cầy theo niềm tin của giới ghiền đỏ đen có thể là vận may mắn như:

"Ta tự bảo: ờ mà, sống ở đời bất quá nhiều lắm cũng chỉ đến sáu, bảy chục năm là cùng. Mà trong sáu, bảy chục năm đó, ngày vui quá ít, lo âu, sầu não lại nhiều, thế thì tội gì lại chuốc phiền khổ vào người cho mệt! Ngả con cầy ra đánh chén!

"Sống ở trên đời, ăn miếng dồi chó,
Chết xuống âm phủ biết có hay không?"

Thôi thì được ngày nào hãy cứ biết chiều ông thần khẩu ngày ấy đã, sau ra sao sẽ liệu, ấy thế mà chưa biết chừng ăn một bữa cầy vào, cái vận mình nó lại chuyển hung thành cát, chuyển đen thành đỏ thì lại càng hay, chớ có sao đâu ?..."

Tôi đọc bài của ngòi bút Tạ Xuân Thạc cho những ý tưởng về món ăn mộc tồn như lời văn nghe chợt xao xuyến dạ dày:

"Việt Nam ta thịt chó là nguồn thực phẩm khá phổ thông, mà ăn thịt chó thì phải có củ riềng mới là đúng cách. Thật đúng như vậy vì thịt chó mà không có riềng đi kèm thì còn gì là vị thịt chó nữa! Ta hãy coi trích đoạn lời kể của tác giả TXT trong bài “Xực Cẩu Điệu Nghệ” dưới đây:

"... Tôi đang tính gắp thì Lão cản lại bảo khoan hãy gắp thịt vào bát vội mà hãy lấy một lát riềng thái mỏng, vài lá mơ bỏ vào bát sau đó kẹp với miếng thịt và chấm nhẹ vào bát mắm tôm. Ăn theo từng động tác như thế mới ngon. Mà thật vậy, miếng thịt nướng thơm lừng có chút vị cay nồng nồng của riềng, vị hơi chát của lá mơ đệm thêm vị mằn mặn của mắm có pha chút chua của chanh và vị cay của ớt thấm dần trong miệng làm hơi đau hai bên mang tai vì sự kích thích khẩu vị..."

Đó là trích đoạn tác giả nói về củ riềng, phải ăn kèm với thịt chó thì mới ngon, mà cả ca dao Việt Nam cũng nhắc đến củ riềng:

"Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng”
(Ca dao)

Tại Việt Nam, thịt chó hiện nay là một nguồn thịt chính yếu, nó không khác gì thịt heo, bò, gà cung cấp thịt cho thị trường hằng ngày. Các nhà hàng bán thịt chó quảng cáo rằng có đến những chín món, vậy mà xem ra vẫn còn thua nước Đại Hàn vì thịt chó ở nước này họ chế biến làm ra những hàng trăm món hay hơn nữa, như vậy chứng tỏ VN còn thua xa Đại Hàn về món “cẩu xực”.

Tại nước ta mặc dầu chưa có một cơ quan nào có con số thống kê chính xác về lượng thịt chó được tiêu thụ mỗi ngày, nhưng chỉ riêng ở Sài Gòn thì theo lời một chủ lò giết mổ chó ở khu Bùi Phát, quận 3, quả quyết con số đó phải trên 1,000 con một ngày, hay hơn con số đó nữa. Việc mua bán, kinh doanh thịt chó nghiễm nhiên trở thành một nghề như bao nghề khác, thế nhưng vấn đề quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt chó dường như không có ai làm. Vì thế mà chó già, chó bệnh, chó bị đánh bả chết (giết bằng thuốc độc), chó bị ghẻ lở, bị lác “khô”, lác “ướt”... đều được “phù phép” thành cầy tơ..."

Thật ra Việt Nam không phải là nơi duy nhất hạ mộc tồn, mà Đại Hàn và Trung Hoa là hai nơi bị các hội đoàn bảo vệ súc vật lên án từ lâu. Trong bài xã luận từ Viện Kỹ Thuật Illinois, bà Merry M. Merryfield cho biết hàng ngàn năm qua xã hội Đại Hàn là nơi mà dân chúng vẫn dùng thịt chó như một loại thịt phổ thông. Ngược dòng lịch sử tại vùng bắc Á châu, sách Samachon trong năm 145 trước Công Nguyên tại Trung Hoa thịt chó được xử dụng như nguồn thực phẩm, trong các triều của nhà Thanh và nhà Minh những người giàu có ăn thịt chó vì tin tưởng chó là vị thuốc tốt cho sức khỏe con người. Còn tại Nhật Bản thuở xưa người ta tìm loại chó có màu đỏ để giết lấy thịt vì loại chó này vốn chứa vị thuốc bổ dưỡng. Còn tại Đại Hàn trong triều đại mà vua Chosun trị vị thì người dân thuở dó rất tin tưởng thịt chó rất ngon và bổ dưỡng, điều này tạo thông lệ cho nhiều nơi mà ngày nay thiên hạ vẫn ăn thịt chó rất tự nhiên.

Trong bài viết "Món "Mộc tồn" trong văn hoá ẩm thực Hàn Quốc" trên net cho bài viết khá lý thú. Xin trích một phần của bài viết như sau:

"Mỗi năm người Hàn Quốc giết tới 1 triệu con chó để thoả mãn món khoái khẩu này. Thịt chó đã trở thành "mỹ vị" trên bàn ăn của tuyệt đại đa số dân chúng. 92% đàn ông và 68% phụ nữ Hàn Quốc ở tuổi trưởng thành khi được phỏng vấn đã cho rằng thịt chó là một trong những món ăn ngon nhất đối với họ. Thế nhưng vì món mộc tồn này mà giải World Cup tổ chức vào tháng 6/2002 ở Hàn Quốc/Nhật Bản phải gặp trắc trở. Một số tổ chức bảo vệ động vật quốc tế đã vận động và gây sức ép để buộc chính phủ Hàn Quốc ra lệnh cấm ăn thịt chó. Lý do họ đưa ra là: ăn thịt chó là hành vi ngược đãi chó - một loài vật nuôi, bạn của con người. Sự việc đã trở nên rắc rối khi FIFA cũng đứng về phía những người bảo vệ động vật để gây sức ép với chính phủ Hàn Quốc. Đòi hỏi này của FIFA và những người bảo vệ động vật đã bị dân chúng Hàn Quốc phản đối mạnh mẽ. Họ cho rằng: ăn thịt chó là nét văn hoá ẩm thực của Hàn Quốc cần phải được bảo vệ, không việc gì phải khuất phục trước áp lực của người ngoài."

Tại sao người Hàn Quốc thích thịt chó ?

"Theo các kết quả thống kê, thịt chó là thức ăn được sử dụng nhiều thứ tư ở Hàn Quốc, sau thịt lợn, thịt bò và thịt gà. Người Hàn Quốc đã nuôi chó để giết thịt từ nhiều thập kỷ nay, cũng như nuôi ngựa và lợn. Thịt chó trở nên quen thuộc với người Hàn Quốc vì nó đem lại cho họ nguồn protein mà họ thiếu vì họ không thể giết ngựa một cách tràn lan do con vật này có tầm quan trọng đặc biệt đối với công việc đồng áng."

Thịt chó cản trở thể thao:

"Những người bảo vệ động vật cho rằng, ăn thịt chó là không thể chấp nhận được vì chó là một loại động vật gần gũi với con người. Nhưng lập luận này rất thiếu sức thuyết phục đối với đông đảo người dân Hàn Quốc bởi họ cho rằng như vậy cũng không nên ăn thịt gà hoặc lợn bởi những con vậy này cũng được nuôi như gia súc. Ngay ở Hàn Quốc, thói quen ăn thịt chó không phải lúc nào cũng được ủng hộ tuyệt đối. Vào những thời điểm nhất định, khi cần phải nâng cao thể diện quốc gia vì một lý do quan trọng mang tầm quốc tế, thói quen ăn thịt chó của người Hàn Quốc cũng gặp phải những hạn chế nhất định. Trong thời gian diến ra thế vận hội 1988 ở Seoul, chính phủ Hàn Quốc đã yêu cầu các chủ nhà hàng bán thịt chó tạm thời đóng cửa hoặc di chuyển sang các khu phố xa trung tâm. Với việc hàng trăn ngàn khách du lịch sẽ đến Hàn Quốc để dự World Cup 2002, một lần nữa những tranh cãi xung quanh món mộc tồn lại trở nên hết sức sôi nổi, thậm chí có phần căng thẳng..."

Thịt chó vốn bổ dương "?":

"Tuy nhiên, nếu ghé vào bất cứ của hàng thịt chó nào ở Seoul và nói chuyện với ông chủ cửa hàng hoặc những thực khách đang say sưa thưởng thức một thực đơn toàn những món thịt chó, bạn sẽ nhận được những lời khẳng định như đinh đóng cột rằng thói quen ăn thịt chó bắt nguồn từ Trung Quốc và đã du nhập vào Hàn Quốc từ hàng trăm năm nay. Sự phổ biến của các món ăn chế biến từ thịt chó một phần còn do Hàn Quốc là một dân tộc đặc biệt quan tâm đến sức khoẻ mà thịt chó lại được coi là một món ăn bổ dưỡng. Niềm tin này cũng bắt nguồn từ Trung Quốc. Ý thức về vị trí độc tôn của người đàn ông trong xã hội Hàn Quốc cũng góp phần làm cho thịt chó trở thành món ăn đặc biệt trong ẩm thực của người Hàn. Phần lớn những người thưởng thức thịt chó là đàn ông và tương truyền, món ăn này có tác dụng đặc biệt đối với việc tăng cường sinh lực cho người đàn ông trong chuyện chăn gối. Theo một trong những cuốn sách mà Hải thượng Lãn Ông, ông tổ của y học phương Đông để lại, thịt chó được coi là một vị thuốc quý: có tác dụng tốt đổi với lục phủ ngũ tạng, thúc đẩy tuần hoàn máu, tăng cường khả năng sinh lý ở nam giới ... và nhìn chung là là bồi bổ rất tốt cho cơ thể. Theo quan niệm của người Hàn Quốc, thịt chó có tác dụng giải nhiệt mùa hè và giúp cơ thể tăng sức đề kháng với các loại bệnh dịch..."

Súp truyền thống Boshintang - Bổ Nội Tạng:

"Ở Hàn Quốc, thịt chó thường được chế biến thành một món xúp có tên gọi là boshintang mà người dân nơi đây cho rằng rất bổ dưỡng cho sức khỏe. Món súp này hội tụ gần như tất cả các vị của các món súp truyền thống của Hàn Quốc, như món doenjang hay súp kim chi. Khác biệt duy nhất là trong món súp này có thịt chó. Những người bảo vệ món này cho biết khi ăn, một số người cảm thấy như họ bị lừa bởi vị của món thịt này rất giống với thịt ngựa. Trong khi đó, tập tục ẩm thực của người Hàn Quốc là phải cho người ăn biết họ đang ăn thịt gì. Hơn nữa, thịt chó lại rất thơm ngon và bổ dưỡng, và giúp bổ sung năng lượng cho một người đang phải chịu cái nóng khủng khiếp của mùa hè. Thịt chó, theo một số người ủng hộ, bao gồm các enzyme mà trong cơ thể con người cũng có. Hơn nữa, thịt chó rất giống với thịt người, khiến cho nó trở nên khó tiêu hoá. Theo họ, đây chính là điều khiến thịt chó có khả năng phục hồi năng lượng cho người ăn. Dù nguồn gốc của việc ăn thịt chó như thế nào, phần lớn người Hàn Quốc hôm nay tin tưởng một cách nhiệt thành rằng đây là một món ăn bổ dưỡng vô cùng hiệu quả. Trong đơn thuốc điều trị, nhiều bác sĩ Hàn Quốc đã chỉ định việc sử dụng thịt chó cho bữa ăn hàng ngày để phục hồi sức khỏe cho các bệnh nhân sau phẫu thuật hoặc tăng cường sinh lực cho các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo."

Thịt chó là liều thuốc không cần toa bác sĩ:

"Tất cả những yếu tố trên khiến cho người Hàn Quốc ngày càng ưa chuộng thịt chó. Xét về mức độ tiêu thụ phổ biến, thịt chó từ vị trí thứ tư đã tiến lên vị trí thứ ba trong những năm gần đây trong xã hội Hàn Quốc và hiện nay người Hàn ăn nhiều thịt chó hơn là thịt bò. Người Hàn Quốc cũng hiểu rất rõ rằng, nhiều nước trên thế giới không chấp nhận thói quen ăn thịt chó của họ. Tuy nhiên, trên khắp đất nước nhỏ bé này vẫn có tới 6000 cửa hàng bán thịt chó và cùng với một số đông đàn ông thường xuyên đến thăm các cửa hàng này, còn rất nhiều người coi thịt chó như một thức thực phẩm bổ dưỡng hoặc thậm chí như một thức thuốc bổ và sử dụng chúng theo đơn thuốc của bác sĩ."

Trong bài "Văn hóa Mộc tồn" của tác giả Nguyễn Cường mổ xẻ những yếu tố chó trong xã hội Việt Nam được trích dẫn như sau:

"Dân Việt mình chỉ biết nuôi chó kể từ khi người Pháp qua cai trị chiếm đóng Việt Nam làm thuộc địa mà thôi! Nói rõ hơn, dân Việt biết nuôi chó là nhờ công của mấy ông Thông ông Phán thời đầu thế kỷ 20, muốn bắt chước người Pháp nuôi chó để vừa có vẻ là “quý tộc”, vừa báo động hay “hùa” khi có khách lạ vào nhà. (Ngay cả sau thời Pháp thuộc, nhiều nhà ở Việt Nam có con gái xinh đẹp, vẫn còn thích gắn vào trước cổng nhà tấm bảng “Coi chừng Chó dữ” để thị uy với mấy cậu con trai hàng xóm, mặc dù chỉ nuôi chó Nhật lùn, nhỏ bằng con mèo!) Tuy nhiên, cũng vì giống chó sinh sôi nẩy nở quá mau lẹ nên mới xảy ra tình trạng lạm phát chó, rồi lan truyền dần xuống đến tận các làng mạc xa xôi ở khắp nơi. Và có lẽ cũng vì vậy mới phát sinh ra cái món ăn thịt chó, sẽ giải thích sau trong bài viết này.

Trước thế kỷ 19, các giống chó nhà chưa xuất hiện ở Việt Nam! Bằng chứng là trong sử sách của Đại Việt trước đó không hề thấy nói về chó được nuôi như loài gia súc và sống chung với chủ trong nhà. Trong cung điện Vua chúa không thấy nói đến việc nuôi chó dù là chó cảnh. Cụ thể hơn, vào thời đó có lẽ dân Việt chỉ biết chó qua văn chương Hán học. Các danh từ về chó có trong thơ văn như “Khuyễn mã” hay “Sài lang”, là nói về các loài Chó Sói (Wolf) hay Khuyễn (Hyena) hung dữ xấu xí đáng ghét, không phải là loài chó nhà hiền lành thông minh và đẹp như sau này. Trong các sách truyện đời xưa, khi dùng từ “quân cẩu trệ” là muốn ám chỉ sự nhục mạ đối tượng. Đó là bằng chứng văn hóa Á châu rất ghét, nếu không nói là khinh bỉ loài chó!

Một lập luận khác có phần chính xác hơn để giải thích lý do tại sao loài chó nhà chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam từ khi người Pháp sang. Theo đúng sử liệu, thật sự các giống chó nhà được huấn luyện thuần thục đã theo chân các nhà truyền giáo và thủy thủ người Âu trên các thương thuyền cập bến vào Trung Quốc và Việt Nam từ thế kỷ 17, thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh. Nhưng dân Việt thời bấy giờ còn quá nghèo đói, miếng ăn còn chưa có thì còn đâu cho chó ăn. Riêng với giới quan lại hay nhà Nho thời bấy giờ vì do ảnh hưởng Trung Hoa từ văn hóa Khổng-Mạnh, chuyện nuôi chó trong nhà không phù hợp với phong tục dân gian, nên đã không có cơ hội tồn tại được. Khách đến nhà mà bị chó sủa hay nhảy chồm vào người, thì chắc bị coi là “đại thất lễ”, xúc phạm khó tha thứ được đối với những người được giáo dục từ cửa Khổng sân Trình. Chưa nói đến chuyện chó có tật làm bậy, nhất là phóng uế bừa bãi!. Do đó, có thể dám chắc là các giống chó nhà của Việt Nam sau này, đều có xuất xứ từ nước ngoài đem vào, và chỉ xuất hiện vào khoảng hậu bán thế kỷ 19. Trong thi ca văn chương Việt Nam, có lẽ chữ “Cẩu” đầu tiên xuất hiện trong bài thơ tả cảnh hai ông quan chữi nhau của Cao Bá Quát làm vào thời vua Tự Đức. Điều dễ hiễu là vì trước đó, các nhà khoa bảng Việt chưa biết hay không dám làm thơ văn để chữi nhau như sau này.

Nguồn gốc của Văn Hóa Mộc Tồn, có thể nói mà không sợ sai lầm, cũng giống như tất cả các món ăn nhậu “đặc sản” cầu kỳ khác ở Việt Nam như uống máu rắn, ăn tay gấu, óc khỉ, v.v. chỉ có thể xuất phát từ một nguồn duy nhất: Trung Quốc. Nếu ai còn thắcmắc không tin, thì xin đọc các tài liệu nói về buổi tiệc Xuân ly kỳ của bà Từ Hi Thái Hậu, khoản đãi các sứ thần nước ngoài cách đây hơn một trăm năm. Nên nhớ là các đầu bếp Trung Hoa đã nổi tiếng trên thế giới nhờ câu nói bất hủ sau: Bất cứ con vật nào cũng có thể ăn được, nếu biết cách nấu! Món thịt chó cũng không thể nằm ngoài ý nghĩa câu nói trên. Thông thường, một thói quen hay hành động về văn hóa nào mà đại đa số đều chấp nhận hay đồng ý trong sự tự do lựa chọn mà không bị áp bức, thì dám chắc rằng cơ hội để làm đúng hay sẽ cho kết quả tốt nhiều hơn là xấu. Ngược lại, nếu việc ăn thịt chó không những không được hưởng ứng mà còn bị chống đối bởi hơn 90% dân số trên thế giới, thì có lẽ chúng ta cần phải xét lại câu hỏi và tìm hiểu thêm: Liệu rằng việc ăn thịt chó trên thực tế có lợi hay có hại, và hậu quả như thế nào? Không biết ngoài vấn đề tình cảm, những người chống đối có còn có thêm được lý do nào khác không ? Nếu chịu tìm hiểu, lập luận bênh vực cho việc ăn thịt chó còn có quá nhiều sơ hở và bỏ qua một số những chi tiết khá quan trọng. Thứ nhất, chó nhà là loài thú thông minh nhất trong các giống thú vật kể cả các loài khỉ vượn. Đúng ra, loài khỉ gần nhất với con người về cấu trúc thể xác, nhưng vì không được huấn luyện và sống chung với người cả ngàn năm như Chó nhà. Loài chó nhà khôn như thế nào thì hầu như ai cũng đã từng biết hay nghe thấy rồi. Nhưng đặc biệt người viết muốn nói trong bài này là khả năng đánh hơi cùng với một trí nhớ về mùi rất nhậy vượt xa hơncả con người. Trong rất nhiều trường hợp, người chủ cũ đi xa vài năm trở về. Chó vẫn nhận ra ngay nhờ đánh hơi và nhớ được mùi, trước cả khi người trong nhà nhận diện ra khách quen!

Kế đến như đã nói về nguồn gốc, trải qua cả ngàn năm hay hàng trăm thế hệ được sống chung với người, trong từng tế bào di truyền của các loài chó nhà đã được khắc ghi hình ảnh và mùi riêng. Con người đối với loài chó nhà, vừa là “sinh vật” sống chung đáng tin cậy, mà cũng là ân nhân nuôi dưỡng hay cho ăn. Nên nhớ là những loại chó nhà hầu như đều mất hết khả năng săn mồi hay tự kiếm ăn lấy, và chắc sẽ chết sau một thời gian nếu không có ai nuôi cho ăn. Đã có nhiều trường hợp nói về chó “trung thành” xảy ra khi người chủ qua đời. Do chó đánh hơi được mùi riêng của thân xác người chủ, hay áo quần tẩm liệm trong quan tài, nên theo ra nghĩa địa nằm chờ cho ăn, thường là chó già đã theo chủ lâu năm, yếu đuối và bệnh tật, và không may là bị đói lạnh rồi kiệt sức chết luôn theo chủ!”.

Chó là loài thú vật thông minh nhất nhờ sống bên cạnh loài người, nên nếu muốn so sánh tình cảm của loài chó nhà, có thể nói là gần giống như của đứa bé khoảng 2 hay 3 tuổi. Một đứa trẻ lên hai tuy chưa biết cha mẹ là ai cả, nhưng sẽ bám theo người nào cho ăn, ôm ấp và vuốt ve tạo ra những cảm gíác tốt cho nó. Biết vui mừng khi gặp mặt người quen, cũng như biết buồn khi bị quở mắng. Tương tự như vậy cho loài chó. Tất cả những tình cảm sơ đẳng nói trên có được là do nhờ con người huấn luyện, giúp cho não bộ của loài chó nhà phát triển khá nhiều so với các giống thú vật khác, và nhất là nhờ có một trí nhớ quá tốt về tài đánh hơi hay nhớ mùi.

Chó không bao giờ bỏ chủ. Nếu chủ gặp gian nguy, chó gan dạ liều mình cứu chủ. Vì chủ, nhiều con chó đã xả thân. Khi chủ chết, nhiều con chó ra mộ nhịn ăn chết theo chủ, đó là chuyện thường xảy ra. Cổ kim đông tây đều có những con chó như vậy. Đó là những tấm gương tình nghĩa lay động lòng con người.

Trong bài viết "Dog Hero of the Year" đăng trong báo Dog in the News cho thấy nhiều trường hợp thật cảm động khi loài chó xả thân cứu chủ của chúng.

• Chó cứu chủ đả chiến với gấu:

Bà Bonnie Pankiw cùng con chó Queenie, loại labrador lông vàng, 9 tuổi, dạo chơi trong công viên Gatineau, vùng Lac Meech, tỉnh Quebec, Canada, một con gấu đen to lớn hung dữ đến tấn công bà, chó Quenie nhào ra cứu chủ phản công chống lại con gấu, một hồi sau gấu bỏ chạy vào rừng. Bà Pankiw nói nếu không có con Queenie thì có lẽ bà bị con gấu xé xác rồi.

• Chó cứu chủ phản công cá sấu:

Một buổi chiều nọ bà Ruth Gay cư ngụ tại Úc đi bộ và trượt chân té xuống bờ sông sau nhà, bà bị một con cá sấu tấn công, bà kêu la cầu cứu, con chó tên Blue của bà nhảy xông vào tử chiến với cá sấu cứu mạng bà. Nó lôi bà vào bờ xong chạy về nhà dẫn con gái bà ra bờ sông. Bà Ruth được đưa đi điều trị vết thương ở mặt và vai tại bệnh viện, chó Blue cũng bi thương sau cuộc phản công cá sấu được điều trị các thương tích do cá sấu gây ra.

• Chó cứu chủ chết trôi trên sông:

Ông Ray Fogg trong một chuyến đi săn vịt trời tại vùng Glenburn, Maine. Ông Ray trượt chân trên chiếc ca nô rớt xuống bờ biển bắc Đại Tây dương vào mùa đông cuối năm, dù ông có đeo phao nhưng với nhiệt độ 4 độ C nước biển lạnh cóng làm ông bất lực khi cố gắng bơi, ông bèn gọi con chó Patty, loại labrador lông vàng, bạn đồng hành còn lại trên ca nô, chó Patty nhanh nhẹ nhảy xuống biển bơi đến gần ông níu đuôi nó và cả hai hướng vào bờ an toàn. Ông Ray thoát chết và nói đùa với bạn bè là trước đây ông cứ tưởng cái đuôi của Patty chỉ dùng để quét bụi trên mặt bàn phòng khách mà thôi. Điều ngạc nhiên không thể ngờ được trong cuộc sống.

• Chó cứu chủ lâm bệnh bất ngờ:

Một bệnh nhân tại Kerhonkson, New York, tên Marci Snead mang các chứng bệnh như tiểu đường, phong thấp và sơ cứng gân cốt. Một hôm bà đi bộ thì chứng đường huyết giảm làm bà té ngã khiến đầu đập trên đường, bà Marci bị bất tỉnh nhân sự, chó Neo, loại Siberian husky đi cùng thấy chủ mình bị lâm nguy, nó vội chạy vào tòa nhà gần nhất sủa ra hiệu cầu cứu. Sau đó xe cứu thương đến đem bà đi chữa trị. Bà Marci bình phục và tỏ lòng biết ơn chó Neo cứu mạng.

• Chó cứu chủ thoát tai nạn hoả hoạn:

Gia đình của Larry và Chris Stevens cùng hai cháu nhỏ Justin và Devan sinh sống tại thành phố Hubbards, tỉnh Nova Scotia, Canada đã thoát nạn trong một vụ hỏa hoạn thiêu rụi nhà họ. Lửa phát hỏa do điện chạm vào giữa đêm khuy khi cả gia đình đang say ngủ. Con chó Indy, loại Weimaraner nhỏ đánh hơi được lửa, nó báo động đánh thức cả gia đình tìm cách thoát ra ngoài. Đứa con nhỏ Devan kẹt trong phòng riêng khi cửa sổ phòng của cháu bị nổ bể toang vì cột điện ngã, Indy can đảm xông vào phòng trong bóng đêm khi dẫn theo người cha Larry vào bế Devan ra khỏi phòng. Gia đình Stevens vui sướng khi được chú chó nhỏ can đảm và trung thành đã cứu mạng họ. Chó cứu chủ thì còn nhiều vô số, trong bài viết giới hạn tôi xin dừng bút ở đây để cho lời sau cùng của bài viết.

0O0

Xuyên qua nhiều trường hợp mà loài chó sống với con người trong tình bạn đầy ơn nghĩa như vậy thì dựa vào cả hai yếu tố, tình và lý, hay xét về khía cạnh luật pháp và đạo đức, chuyện hành hạ chó hay thậm chí ăn thịt chó đã được các xã hội văn minh coi là hành động vô nhân như bài xã luận viết bởi sinh viên đại học Illinois đã nói ở phần trên. Cô đào Bridgitte Bardot rất tích cực trong sứ mạng bảo vệ súc vật, cô công kích nặng nề nạn ăn thịt chó do con người cổ xúy. Bài viết này tác giả xin trình bày các dử kiện hai chiều và để dành phần nhận định cá nhân tùy mỗi người. Xin chúc tất cả quý vị một năm Bính Tuất 2006 đầy hạnh phúc và an bình cho mỗi người chúng ta nói riêng, cũng như cho quê hương Việt Nam mến yêu nói chung.

Hoàng Tiểu Ca

http://saigongate.com/Detail.asp?Type=TacGiaTacPham&ID=799

Đăng nhập để trả lời
0