.
"Thơ là hơi thở
của đời
dù nhiều khi
là tiếng thở dài."
Ngày đầu năm,
kính mời các bạn
cùng với tôi,
"tìm nhau... trong hơi thở
của cuộc đời... người ơi...
với hy vọng
"gặp nhau hãy lắng hơi
im trong hương mới... " (PD)
Ngọc Lý
Phan Lê Anh Tuấn
Nghĩ về thơ
1.
Cái đẹp của thơ do ở sự kết hợp và cộng hưởng của hai yếu tố. Thứ nhất: yếu tố hình nhi thượng tức là cuộc truy tầm đệ nhất nghĩa. Thứ hai: yếu tố hình nhi hạ, vốn là khả năng biểu hiện nội tại của ngôn ngữ.
Cuộc truy tầm đệ nhất nghĩa là những câu hỏi siêu hình quen thuộc ai cũng phải đối diện trong cuộc đời của mình: Tôi là ai? Ðời sống và những hệ lụy của nó để làm gì? Ý nghĩa tối hậu của xã hội, lịch sử và vũ trụ là gì? Ngày mai tôi phải làm gì? Lịch sử siêu hình học là lịch sử của những câu trả lời khác nhau cho tập hợp những câu hỏi đã nêu. Phần hình nhi thượng quyết định chiều sâu của thơ.
Khả năng biểu hiện nội tại của ngôn ngữ phát triển cùng với sinh hoạt văn hóa và xã hội. Ngôn ngữ tự nó là một phương tiện truyền thông. Phần hình nhi hạ quyết định khả năng truyền đạt và biểu cảm của thơ.
2.
Phần hình nhi thượng của thơ mang nhiều tính vĩnh cửu. Phần hình nhi hạ có thể thay đổi tiệm tiến theo ngôn ngữ.
Thơ không phải là hàng hóa hay thời trang, không cần phải mỗi ngày mỗi mới. Mới hay cũ chẳng bao giờ là thuộc tính quan trọng của một bài thơ hay.
Nhiều cái được cho là mới trong thơ thật ra chỉ là sự phát triển của ngôn ngữ và học thuật, tuy có liên hệ đến phần hình nhi hạ, nhưng không phải là toàn phần của thơ.
3.
Bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan là một bài thơ toàn bích. Từ ngữ cổ kính mà hồn hậu và vẫn diễn tả được ưu tư sâu thẳm của con người tiếp cận với tính vô thường của lịch sử. Ðây là một thí dụ về sự cộng hưởng tuyệt vời của phần hình nhi thượng và phần hình nhi hạ trong thơ.
Thăng Long thành hoài cổ
Tạo hóa gây chi cuộc hí truờng
Ðến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường
4.
Ðoạn thơ nổi tiếng sau đây ngôn ngữ đẹp và điêu luyện, nhưng phần hình nhi thượng rất mờ nhạt, gần như không có:
Làm sao giải nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng đẹp
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu
(Xuân Diệu)
So sánh với đoạn thơ sau đây, ngôn ngữ đơn giản như nói, mà lại lấp lánh ý chỉ siêu hình:
Chèo ghe ra biển ghé vai
Hỏi con cá biển một hai ba điều
Nửa chừng quên bẵng bốn điều
Cuối cùng sực nhớ năm điều đã quên
(Bùi Giáng)
Hình nhi thượng là phần gốc, hình nhi hạ là phần ngọn. Phần gốc mong manh hời hợt mà phần ngọn quá phô trương nổi bật thì như hoa cỏ diêm dúa, phải tàn tạ theo bốn mùa luân chuyển, không thể so sánh với loài đại thụ, phần ngọn khiêm tốn thâm trầm nhưng phần gốc đủ sức tồn tại với thời gian.
Xét thêm một bài thơ nữa - Ðấy là bài “Ðăng U Châu đài ca” của Trần Tử Ngang:
登幽州臺歌
前不見古人
後不見來者
念天地之悠悠
獨愴然而涕下
Ðăng U Châu đài ca
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Ðộc thương nhiên nhi lệ hạ
Bài thơ này thất niêm, hình thức lại khắc khổ, vậy mà vẫn tồn tại ngang hàng với các tác phẩm Ðường thi bất hủ khác, ấy là vì nó có phần gốc của loài đại thụ.
.
"Thơ là hơi thở
của đời
dù nhiều khi
là tiếng thở dài."
Ngày đầu năm,
kính mời các bạn
cùng với tôi,
"tìm nhau... trong hơi thở
của cuộc đời... người ơi...
với hy vọng
"gặp nhau hãy lắng hơi
im trong hương mới... " (PD)
Ngọc Lý
Phan Lê Anh Tuấn
Nghĩ về thơ
1.
Cái đẹp của thơ do ở sự kết hợp và cộng hưởng của hai yếu tố. Thứ nhất: yếu tố hình nhi thượng tức là cuộc truy tầm đệ nhất nghĩa. Thứ hai: yếu tố hình nhi hạ, vốn là khả năng biểu hiện nội tại của ngôn ngữ.
Cuộc truy tầm đệ nhất nghĩa là những câu hỏi siêu hình quen thuộc ai cũng phải đối diện trong cuộc đời của mình: Tôi là ai? Ðời sống và những hệ lụy của nó để làm gì? Ý nghĩa tối hậu của xã hội, lịch sử và vũ trụ là gì? Ngày mai tôi phải làm gì? Lịch sử siêu hình học là lịch sử của những câu trả lời khác nhau cho tập hợp những câu hỏi đã nêu. Phần hình nhi thượng quyết định chiều sâu của thơ.
Khả năng biểu hiện nội tại của ngôn ngữ phát triển cùng với sinh hoạt văn hóa và xã hội. Ngôn ngữ tự nó là một phương tiện truyền thông. Phần hình nhi hạ quyết định khả năng truyền đạt và biểu cảm của thơ.
2.
Phần hình nhi thượng của thơ mang nhiều tính vĩnh cửu. Phần hình nhi hạ có thể thay đổi tiệm tiến theo ngôn ngữ.
Thơ không phải là hàng hóa hay thời trang, không cần phải mỗi ngày mỗi mới. Mới hay cũ chẳng bao giờ là thuộc tính quan trọng của một bài thơ hay.
Nhiều cái được cho là mới trong thơ thật ra chỉ là sự phát triển của ngôn ngữ và học thuật, tuy có liên hệ đến phần hình nhi hạ, nhưng không phải là toàn phần của thơ.
3.
Bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan là một bài thơ toàn bích. Từ ngữ cổ kính mà hồn hậu và vẫn diễn tả được ưu tư sâu thẳm của con người tiếp cận với tính vô thường của lịch sử. Ðây là một thí dụ về sự cộng hưởng tuyệt vời của phần hình nhi thượng và phần hình nhi hạ trong thơ.
Thăng Long thành hoài cổ
Tạo hóa gây chi cuộc hí truờng
Ðến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường
4.
Ðoạn thơ nổi tiếng sau đây ngôn ngữ đẹp và điêu luyện, nhưng phần hình nhi thượng rất mờ nhạt, gần như không có:
Làm sao giải nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng đẹp
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu
(Xuân Diệu)
So sánh với đoạn thơ sau đây, ngôn ngữ đơn giản như nói, mà lại lấp lánh ý chỉ siêu hình:
Chèo ghe ra biển ghé vai
Hỏi con cá biển một hai ba điều
Nửa chừng quên bẵng bốn điều
Cuối cùng sực nhớ năm điều đã quên
(Bùi Giáng)
Hình nhi thượng là phần gốc, hình nhi hạ là phần ngọn. Phần gốc mong manh hời hợt mà phần ngọn quá phô trương nổi bật thì như hoa cỏ diêm dúa, phải tàn tạ theo bốn mùa luân chuyển, không thể so sánh với loài đại thụ, phần ngọn khiêm tốn thâm trầm nhưng phần gốc đủ sức tồn tại với thời gian.
Xét thêm một bài thơ nữa - Ðấy là bài “Ðăng U Châu đài ca” của Trần Tử Ngang:
登幽州臺歌
前不見古人
後不見來者
念天地之悠悠
獨愴然而涕下
Ðăng U Châu đài ca
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Ðộc thương nhiên nhi lệ hạ
Bài thơ này thất niêm, hình thức lại khắc khổ, vậy mà vẫn tồn tại ngang hàng với các tác phẩm Ðường thi bất hủ khác, ấy là vì nó có phần gốc của loài đại thụ.
.