Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Nghĩ về thơ - Phan Lê Anh Tuấn

8 trả lời, 284 lượt xem — Trang 1 / 1
.


"Thơ là hơi thở
của đời
dù nhiều khi
là tiếng thở dài."
Ngày đầu năm,
kính mời các bạn
cùng với tôi,
"tìm nhau... trong hơi thở
của cuộc đời... người ơi...
với hy vọng
"gặp nhau hãy lắng hơi
im trong hương mới... " (PD)
Ngọc Lý




Phan Lê Anh Tuấn
Nghĩ về thơ


1.

Cái đẹp của thơ do ở sự kết hợp và cộng hưởng của hai yếu tố. Thứ nhất: yếu tố hình nhi thượng tức là cuộc truy tầm đệ nhất nghĩa. Thứ hai: yếu tố hình nhi hạ, vốn là khả năng biểu hiện nội tại của ngôn ngữ.

Cuộc truy tầm đệ nhất nghĩa là những câu hỏi siêu hình quen thuộc ai cũng phải đối diện trong cuộc đời của mình: Tôi là ai? Ðời sống và những hệ lụy của nó để làm gì? Ý nghĩa tối hậu của xã hội, lịch sử và vũ trụ là gì? Ngày mai tôi phải làm gì? Lịch sử siêu hình học là lịch sử của những câu trả lời khác nhau cho tập hợp những câu hỏi đã nêu. Phần hình nhi thượng quyết định chiều sâu của thơ.

Khả năng biểu hiện nội tại của ngôn ngữ phát triển cùng với sinh hoạt văn hóa và xã hội. Ngôn ngữ tự nó là một phương tiện truyền thông. Phần hình nhi hạ quyết định khả năng truyền đạt và biểu cảm của thơ.


2.

Phần hình nhi thượng của thơ mang nhiều tính vĩnh cửu. Phần hình nhi hạ có thể thay đổi tiệm tiến theo ngôn ngữ.

Thơ không phải là hàng hóa hay thời trang, không cần phải mỗi ngày mỗi mới. Mới hay cũ chẳng bao giờ là thuộc tính quan trọng của một bài thơ hay.

Nhiều cái được cho là mới trong thơ thật ra chỉ là sự phát triển của ngôn ngữ và học thuật, tuy có liên hệ đến phần hình nhi hạ, nhưng không phải là toàn phần của thơ.


3.

Bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan là một bài thơ toàn bích. Từ ngữ cổ kính mà hồn hậu và vẫn diễn tả được ưu tư sâu thẳm của con người tiếp cận với tính vô thường của lịch sử. Ðây là một thí dụ về sự cộng hưởng tuyệt vời của phần hình nhi thượng và phần hình nhi hạ trong thơ.

Thăng Long thành hoài cổ

Tạo hóa gây chi cuộc hí truờng
Ðến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường


4.

Ðoạn thơ nổi tiếng sau đây ngôn ngữ đẹp và điêu luyện, nhưng phần hình nhi thượng rất mờ nhạt, gần như không có:

Làm sao giải nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng đẹp
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu

(Xuân Diệu)

So sánh với đoạn thơ sau đây, ngôn ngữ đơn giản như nói, mà lại lấp lánh ý chỉ siêu hình:

Chèo ghe ra biển ghé vai
Hỏi con cá biển một hai ba điều
Nửa chừng quên bẵng bốn điều
Cuối cùng sực nhớ năm điều đã quên

(Bùi Giáng)

Hình nhi thượng là phần gốc, hình nhi hạ là phần ngọn. Phần gốc mong manh hời hợt mà phần ngọn quá phô trương nổi bật thì như hoa cỏ diêm dúa, phải tàn tạ theo bốn mùa luân chuyển, không thể so sánh với loài đại thụ, phần ngọn khiêm tốn thâm trầm nhưng phần gốc đủ sức tồn tại với thời gian.

Xét thêm một bài thơ nữa - Ðấy là bài “Ðăng U Châu đài ca” của Trần Tử Ngang:

登幽州臺歌

前不見古人
後不見來者
念天地之悠悠
獨愴然而涕下

Ðăng U Châu đài ca

Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Ðộc thương nhiên nhi lệ hạ

Bài thơ này thất niêm, hình thức lại khắc khổ, vậy mà vẫn tồn tại ngang hàng với các tác phẩm Ðường thi bất hủ khác, ấy là vì nó có phần gốc của loài đại thụ.



.
Đăng nhập để trả lời
0
5.

Luận về thơ mà chỉ quanh quẩn ở phần hình nhi hạ thì như kẻ cỡi ngựa xem hoa, đứng ngoài cổng mà luận về cảnh trí ở trong nhà. Gần thì cùng lắm là biết phong cách ngôn ngữ của một số người làm thơ, xa thì cùng lắm là biết phần nổi của các trào lưu văn hóa xã hội. Nếu có mang những cái không phải là thơ vào mà tán hươu tán vượn thì lại thành ra trò vẽ rắn thêm chân.

Những kiểu bình luận sờ chân ra voi, ngắm áo ra người như thế quyết chẳng bao giờ đạt đến chỗ diệu lý của thơ


6.

Người ta bảo rằng đem quất ở Giang Nam lên mà trồng ở Giang Bắc thì quất ngọt thành chua. Việc đem một thể thơ hay một lý thuyết văn học từ một văn hóa mà áp đặt vào một văn hóa khác cũng giống như việc trồng quất.


7.

Ngôn ngữ và ngữ pháp hình thành từ những qui định do yêu cầu thực dụng: định nghĩa chữ, cấu tạo từ, cấu trúc mệnh đề, cấu trúc câu vv. Thơ, do nhu cầu khai phóng tình cảm, cũng sử dụng ngôn ngữ nhưng luôn luôn tìm cách vượt ra ngoài khuôn khổ gò bó của định nghĩa và qui tắc. Một trong những cách hiển nhiên, đơn giản nhất là sử dụng vần và điệu. Do đó, những bài thơ đầu tiên là những bài ca dao và các điệu hò.

Chỉ với vần thôi, người ta đã có thể diễn tả rất nhiều. Chúng ta có thể nhìn thấy nỗi buồn thân phận và đức tính hy sinh trong câu ca dao tưởng chừng như rất đơn giản sau đây:

Cái cò mà đi ăn đêm
Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Ðừng xáo nước đục đau lòng cò con


8.

Ca dao đã có mặt từ khi nông nghiệp phát triển và đời sống tập trung ở dạng làng xã hình thành những môi trường văn hóa đầu tiên. Khi dân số gia tăng và điều kiện văn hóa, học thuật phát triển thêm, văn vần trường thiên ra đời.

Chúng ta có thể nhìn thấy sự kết hợp và dung hòa của văn hóa Trung Hoa và văn hóa bản địa Việt Nam trong các truyện nôm khuyết danh như: Trê cóc, Lục súc tranh công, Phạm Công Cúc Hoa v.v...

Tuy không còn bằng chứng, nhưng có lẽ truyện nôm bắt đầu từ thời Lý Trần, vì đó là thời phát triển rực rỡ nhất của Việt Nam. Truyện nôm là điều kiện cần có của các tuyệt tác văn chương quốc âm sau này như Cung Oán ngâm khúc, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm diễn âm v.v...


9.

Trong lịch sử văn học Trung Hoa, Kinh Thi là hình thức thi ca đầu tiên. Một phần lớn của Kinh Thi là tập hợp những bài ca dao từ trước thời Xuân Thu. Trong khoảng thời gian đó, thi (thơ) tức là kinh Thi.

Bàn về tính khai phóng của thi, Chu Hy đã viết như sau trong lời tựa Kinh Thi tập truyện: “Người ta sinh ra mà tĩnh ấy là tính trời, nhân cảm bởi vật ngoài mà động ấy là cái ham muốn của tính. Phàm hễ trong lòng đã có ham muốn điều gì thì không thể không nghĩ tới điều ấy, đã nghĩ tới thì không thể không nói ra, đã nói ra thì những gì lời nói không thể diễn tả hết mà phát ra trong lúc ngâm nga than thở, tất có âm hưởng nhịp nhàng tự nhiên không thể ngừng lại được. Ấy thơ sở dĩ làm ra là vì thế.” (Phạm Lệ Oanh dịch).


.
Đăng nhập để trả lời
0
10.

Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng
Công anh dan díu với nàng đã lâu
Bây giờ nàng lấy chồng đâu
Để anh mang giúp trầu cau nghìn vàng
Năm trăm thì đốt cho nàng
Còn năm trăm nữa giải oan lời thề

(Ca dao Việt Nam)

Yến yến vu phi
Hạ thượng kỳ âm
Chi tử vu qui
Viễn tống vu nam
Chiêm vọng phất cập
Thực lao ngã tâm

(Kinh Thi - thiên «Bội phong»)

Kìa trông đàn én liệng
Véo von giọng bổng trầm
Mình trở về cố quận
Ta tiễn tới phương nam
Người đi khuất nẻo mây ngàn
Trông theo chẳng thấy, muôn vàn xót thương

(Phạm Lệ Oanh dịch)


11.

Lịch sử thi ca phản ánh nỗ lực giải mã thế giới và số mệnh của con người. Ca dao và văn vần là những bước hình nhi hạ đầu tiên, vẫn chưa thực sự là thơ do những khiếm khuyết lớn về mặt tirết học. Văn vần trường thiên, dù đã mở ra một không gian rộng lớn hơn trên bình diện lịch sử và xã hội, nhưng vẫn còn nhiều trói buộc của thế giới hiện tượng nên vẫn còn rất giới hạn về mặt khai phóng tâm linh.

Trước khi có thơ thật sự, cần phải có tư duy triết học, và tư duy triết học (chủ yếu là siêu hình học) chỉ có thể bắt đầu khi hội đủ các yếu tố xã hội, văn hóa và lịch sử khác.


12.

Trong quá trình tiến hóa của văn hóa Trung Hoa, siêu hình học (huyền học) chưa hình thành trước thời kỳ suy vong của nhà Chu. Trước đó, con người sống hợp quần trong nền kinh tế nông nghiệp, thử thách lớn nhất của họ là thiên nhiên (xem truyện vua Vũ trị thủy). Sinh hoạt văn hóa còn thô sơ. Chiến tranh, nếu có, cũng chỉ ở mức tranh chấp nhỏ giữa các bộ tộc. Đấy chính là thời kỳ hoàng kim mà Khổng Tử cả đời nhớ tiếc. Thời hoàng kim ấy là thời người ta chưa thực sự có (vì chưa cần) tư duy siêu hình.

Đến thời Xuân Thu rồi Chiến Quốc, tư duy siêu hình thể hiện rõ rệt thành hệ thống đáp ứng nhu cầu tâm linh phát sinh từ kết tập tiệm tiến của các điều kiện sau:



Phát triển sinh hoạt đô thị do dân số gia tăng;

Tập trung của cải, quyền lực kinh tế và sự hình thành của các tầng lớp xã hội do khác biệt cơ bản về kinh tế;

Tập trung quyền lực chính trị do nhu cầu tổ chức xã hội;

Tiến bộ học thuật và văn hóa do việc sử dụng rộng rãi của chữ viết;

Tiến bộ trong kỹ thuật chế tác dụng cụ gia dụng, vũ khí, cơ cấu tổ chức và kỹ thuật chiến tranh;

Sự lệ thuộc ngày càng tăng của cá nhân vào xã hội;

Sự sụp đổ của các giá trị tinh thần truyền thống;

Đổ vỡ lớn do chiến tranh ở tầm mức qui mô lớn;

Thử thách tâm linh của người Trung Hoa thời Chiến Quốc cũng không xa mấy so với thử thách tâm linh của chúng ta hôm nay:

Ta lạc hồn giữa lâu đài kỳ dị
Suốt muôn đời không hiểu dãy hành lang
Lưới hiên tây từng thế kỷ điêu tàn
Gạch ngói cũ nghe hoa thềm rụng cánh

(Đinh Hùng)

Đêm đi bắt trộm gà
Ta ôm nhầm con vịt
Ôi ! Ta ôm nhầm đời ta vô lượng kiếp

(Nguyễn Đức Sơn)


13.

Nhu cầu tâm linh vốn là nhu cầu tinh thần căn bản của đời sống con người và cũng là động năng chủ đạo của thơ. Từ buổi sơ sinh rồi trong suốt quá trình tăng trưởng, thơ luôn luôn nối kết chặt chẽ với tư duy Hình nhi thượng về bản chất và giá trị của hiện hữu. Các khuynh hướng thái quá về duy mỹ, duy lý, duy sử quan, duy tôn giáo, duy văn hóa, duy văn chương, duy học thuật, duy phong trào hoặc duy-một-thứ-gì-khác đều chỉ mang đến vẻ đẹp (Hình nhi hạ) của núi giả và cây giả, tức là chỉ có giá trị trang trí.

Tìm cố quận xanh mờ thủy nguyệt
Kiếm quê hương khóc bích ngạn nào
Nhung nhớ chết đọa đày biền biệt
Gió một vùng huyền mộng chiêm bao

(Bùi Giáng)


.
Đăng nhập để trả lời
0
14.

Khi ta đã nhận được cái hình hài của ta rồi thì ta giữ nó cho tới khi chết. Nó với những vật khác đâm nhau, mài cọ vào nhau, cùng bôn tẩu như những con ngựa, không có gì làm cho ngừng được. Buồn thay! Suốt đời khó nhọc mà không thành công gì cả; tân khổ, mệt mỏi mà chẳng biết để đi tới đâu. Như vậy mà bảo là sống, thử hỏi có ích gì không? Hình hài mà biến hóa thì tinh thần cũng biến hóa. Đó chẳng phải là điều rất thương tâm ư? Người đời mê muội vậy ư? Chỉ riêng tôi mê muội, còn người khác thì không mê muội chăng?

(Trang Tử - Nam Hoa Kinh, trích chương «Tề vật luận»)


15.

Để xác nghiệm yếu tính Hình nhi thượng của thơ, ta có thể so sánh hai bài Đường thi rất nổi tiếng là bài “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu và bài “Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài” của Lý Bạch. Hai bài thơ ấy như sau:

Hoàng Hạc lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán dương thụ
Phương thảo thê thê Anh vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

(Thôi Hiệu)

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng aỉ

(Tản Đà dịch)

Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài

Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du
Phượng khứ, đài không, giang tự lưu
Ngô cung hoa thảo mai u kính
Tấn đại y quan thành cổ khâu
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
Nhị thủy trung phân Bạch Lộ châu
Tổng vị phù vân năng tế nhật
Trường An bất kiến sử nhân sầu

(Lý Bạch)

Phượng Hoàng đến Phượng Hoàng đài
Phượng đi, đài bỏ, nước trôi lạnh lùng
Cỏ hoa lấp lối Ngô Cung
Y quan đời Tấn nay trông thấy đồi
Mịt mù ba núi màu trời
Bãi kia Bạch lộ nước trôi hai dòng
Đám mây che khuất vầng hồng
Trường An không thấy, nỗi lòng băn khoăn

(Bản dịch: Trần Trọng Kim)

Lý Bạch là một nhà thơ vĩ đại, sự nghiệp đồ sộ của ông tất nhiên Thôi Hiệu không thể sánh được. Tuy nhiên, bài “Hoàng Hạc lâu” là một ngoại lệ.

Nếu xét từng câu thì “Hoàng Hạc lâu” không có câu nào thật xuất sắc, ngôn từ của “Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài” diễm lệ hơn nhiều. Bài của Lý Bạch còn có một ưu điểm khác là có đề cập tới sự biến thiên của lịch sử qua các triều đại, vốn là một tiêu đề lớn trong tư tưởng văn học Trung Hoa. Tóm lại, nếu xét từng câu thì bài “Hoàng Hạc lâu” kém về mặt tu từ, và có vẻ như cũng kém cả mặt học thuật.

Nhưng nếu ta đọc kỹ và so sánh mạch rung động của toàn thể thì sự việc hoàn toàn ngược lại.

Câu 1 & 2:
Cả hai bài đều đề cập tới vấn đề thời gian và hiển thị của nó trong chuỗi nhân duyên của thế giới hiện tượng. Trong câu 1 & 2, ngôn từ “Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài” điêu luyện hơn, dù chưa được triển khai thành cảm xúc thật sự.

Câu 3 & 4:
Đây là hai câu trác tuyệt nhất của bài “Hoàng Hạc lâu.” Ngôn ngữ bình dị mà dư lượng cảm xúc đủ là sức sống của toàn bài thơ. Chỉ với bảy chữ trong câu 3, tiền đề về tính chất vô thường của nhân duyên tình cờ hiện hình thành định mệnh khắc nghiệt không thể khác. Câu 4 là một tổng hợp của nhãn quan siêu hình Trung Hoa: không còn người, không còn hạc, không còn tan hợp, tất cả chỉ là mây trôi nghìn năm trong khoảng trời vô tận.

Hai câu 3 & 4 trong “Ðăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài” có một tiến triển khác hẳn. Ngôn từ đẹp đẽ, không gian lịch sử được mở ra, nhưng lại bị lỗi điệp ý và không có được sự tổng hợp. Hai câu này đưa ra quá nhiều hình ảnh về cùng một sự việc, và rung động của người đọc bị lấn cấn, vướng mắc trong các hình ảnh đó.

Câu 5 & 6:
Câu 5 & 6 của “Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài” hơn xa “Hoàng Hạc lâu”, nhưng vẫn không đủ sức thay đổi toàn cảnh mạch thơ.

Câu 7 & 8:
Câu 7 của “Hoàng Hạc lâu” là một câu hỏi. Việc sử dụng câu hỏi ở đây thật khéo, vì nó để lại nhiều dư âm cho bài thơ hơn. Câu 7 của “Ðăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài” tuy đẹp nhưng không có tác dụng đó.

Câu 8 của “Ðăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài” vẫn còn gởi gắm tình cảm vào một địa danh nhất định, trong khi “Hoàng Hạc lâu” đã nhập vào cõi vô danh, trong đó hình ảnh dòng sông trôi gợi lại hình ảnh dòng thời gian trong chuỗi hợp tan.

Thời gian là một tiêu đề Hình nhi thượng lớn. Khác biệt giữa hai bài thơ nêu rõ các tính chất sau đây của thơ :


Tư duy Hình nhi thượng là nguồn uyên nguyên của thơ;

Thơ cần có sự tổng hợp, phương pháp tổng hợp là sáng tạo của người làm thơ;

Kinh nghiệm của hiện hữu là kinh nghiệm riêng của mỗi cá nhân đối với toàn thể vũ trụ và lịch sử;

Sự tu từ có giới hạn của nó;

Lịch sử không phải là cứu cánh của tư duy Hình nhi thượng và của thơ;
Nhìn lại toàn thể hai bài thơ một lần nữa:


Bài “Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài” rất đẹp và rất hay, nhưng chưa đạt đến chỗ toàn hảo của khai phóng tâm linh vì thiếu sự tổng hợp.

Bài “Hoàng Hạc lâu” đơn giản nhưng nhất quán và mạch xúc cảm đủ tinh tế để đạt đến chỗ im lặng nội tại của tâm linh.

Nói theo ngôn ngữ của Lão Tử thì “Ðăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài” đã đạt đến chỗ "Thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu" nhưng “Hoàng Hạc lâu” đi xa hơn và đã đạt đến chỗ "Thường vô dục dĩ quan kỳ diệu".


16.

Việc so sánh hai bài thơ của Lý Bạch và Thôi Hiệu đã làm rõ nét yếu tính Hình nhi thượng của thơ. Từ góc nhìn đó, chúng ta có thể phân tích sự cộng hưởng của Hình nhi thượng và Hình nhi hạ trong bài “Thăng Long thành hoài cổ”.

Không gian hiện tượng của “Thăng Long thành hoài cổ” là không gian bốn chiều: không gian, thời gian, lịch sử và cảm xúc.

Câu 1:
Sự phi lý trong quan hệ nhân quả của lịch sử.

Câu 2:
Cảm xúc nằm trong hai chữ "thấm thoát", có hàm nghĩa mất mát không ngờ.

Câu 3 & 4:
"Lối xưa xe ngựa" và "Nền cũ lâu đài" vừa có ý nghĩa không gian, vừa có ý nghĩa thời gian. Đây là hai câu truyền cảm nhất trong bài thơ.

Từ "Lối xưa xe ngựa" và "Nền cũ lâu đài" qua "hồn thu thảo" và "bóng tịch dương" là một chuyển tiếp thần kỳ. Phía sau hệ quả tất nhiên của ngôn ngữ hình ảnh là nỗi ngậm ngùi dâu bể khôn nguôi. Sự cộng hưởng của Hình nhi thượng và Hình nhi hạ thể hiện rất rõ nét ở đây.

Câu 5 & 6:
Mạch cảm xúc từ sự cộng hưởng trong hai câu 3 & 4 được triển khai thêm trong trục không gian thành sự việc hữu hình.

Câu 7 & 8:
Từ những ngôn ngữ hình ảnh gần gũi giới hạn và vài nét phác họa đơn sơ để diễn tả cảm xúc, bài thơ kết thúc bằng trục thời gian vô hạn, trong đó chỉ có hai thứ bất biến là nỗi đau hiện hữu và tính cách vô thường của lịch sử.

"Hoài cổ " thường được diễn dịch là "Hoài Lê", tức là sự tiếc nuối thời vàng son của nhà Lê. Diễn dịch như vậy cũng đúng, nhưng quá giới hạn. “Thăng Long thành hoài cổ” không phải chỉ là chuyện một cá nhân thương tiếc một triều đại gần gũi với mình. Tầm rung động của nó có chiều kích lớn hơn nhiều về ý nghĩa Hình nhi thượng của hiện hữu trong không gian lịch sử.

Bài “Thăng Long thành hoài cổ” kỳ ảo như sương khói - thứ sương khói không bao giờ tan, nhất là đối với những ai đã thực sự hiểu thế nào là “Cuộc phù thế bày ra trước mắt.”.

Đăng nhập để trả lời
0
17.

Giả sử có hai người cùng ngắm một đóa hoa.

Nếu yêu cầu họ tả bông hoa ấy thì chúng ta sẽ được hai đoạn văn miêu tả có nhiều điểm tương đồng - Chúng ta cùng sống trong một thế giới hiện tượng.

Nhưng nếu yêu cầu mỗi người làm một bài thơ về đóa hoa thì chúng ta sẽ được hai bài thơ rất khác nhau - Thơ là sự thể hiện cá tính và là cánh cửa đi vào thế giới hiện hữu độc lập của mỗi cá nhân.

Tuy hai bài thơ khác nhau, nhưng mỗi người đều có thể đọc và “hiểu” đóa hoa của người kia - thơ là nhịp cầu và là chất xúc tác của sự cảm thông.


18.

Nhận định về thi học Trung Quốc của Trần Trọng San:

“Làm văn khó mà làm thơ lại càng khó hơn’’, đó là lời tuyên bố của Tư Không Biểu Thánh, một luận giả thi ca rất nổi tiếng đời Đường. Đời Đường sản sinh nhiều thi nhân hữu danh, nhiều thi phẩm đặc sắc, nhưng không một nhà thơ nào thuyết minh được thỏa đáng về sự sáng tạo thi ca. Từ đời Tống trở về sau, số luận giả về thơ tuy có nhiều hơn, nhưng kiến thức về sự sáng tác thơ mà họ đem lại cho ta cũng vẫn rất khái lược. Lý do là «trong sự sáng tạo thi ca có sự tham dự một phần lớn của vô thức, nên thường thường người ta biết làm những câu thơ hay, mà không có khả năng nói chúng được cấu tạo ra sao, và tại sao chúng làm cho ta thích thú.»

Tìm hiểu sự sáng tạo thi ca là việc của nhà nghiên cứu về thi học. Mà như ta đã biết, trước kia Trung Quốc chỉ có những sách thi thoại, tức là những sách thâu góp những giai thoại về thi ca, những trường hợp đặc biệt về sáng tác và những câu thơ hay, có kèm theo lời lược bình của soạn giả. Trong thời gian gần đây, đã xuất hiện những sách chuyên về thi pháp, nhưng cũng chỉ nhằm mục đích thực hành, dạy cho người ta biết cách làm thơ, chứ chưa thực sự khảo sát về sự sáng tạo thi ca. Tóm lại, về mặt thi học Trung Quốc vẫn còn ở vào thời kỳ sơ khởi.

Vì những lẽ trên, chúng ta không khỏi cảm thấy mông lung, mơ hồ khi lạc vào trong khu rừng đầy những tư tưởng đặc sắc nhưng hỗn tạp, và những giai thoại tuy thú vị nhưng đặc thù. Có người nói rằng các nho gia Trung Quốc khi nhận định về chữ “nhân” của Khổng Tử giống như “bọn mù sờ voi,” chỉ thấy từng thành phần chứ không rõ được toàn bộ. Tôi cũng có cảm tưởng tương tự khi đọc những ý tưởng của cổ nhân Trung Quốc đối với vấn đề sáng tạo thi ca. Với những cái vòi, tai, cẳng mà chắp thành toàn thể con voi, việc ấy khó khăn, kỳ cục như thế nào, thì từ những nhận định lặt vặt, những giai thoại riêng biệt mà làm thành tổng quan về sự sáng tạo thi ca Trung Quốc cũng thiên nan vạn nan như vậy.

(Thi pháp chữ Hán - trích chương IV: “Sự sáng tạo thi ca” - Trần Trọng San)


19.

Chuyện dâu bể là chuyện muôn đời của người và của thơ.

Niên thiếu phùng Hồ loạn
Bình thời tự mộng trung
Lê viên kỷ nhân tại
Ứng thị thế vô cùng

(Nhung Dục)

Tuổi trẻ gặp loạn Hồ
Thời bình như trong mộng
Lê viên mấy người còn
Chắc là đau buồn lắm

----------

Bạch phát tráng tâm tử
Sầu khan quốc bộ di
Quan sơn thảm vô sắc
Thân ái hốt kinh ly

(Tiền Khởi)

Tóc bạc chết chí lớn
Buồn nhìn nước đổi thay
Giang sơn một màu thảm
Người thân bỗng chia tay

---------
Thập niên đa nạn dữ quân đồng
Kỷ xứ di gia trục chuyển bồng
Bạch thủ tương phùng chinh chiến hậu
Thanh xuân dĩ quá loạn ly trung
Hành nhân diểu diểu khán tây nguyệt
Qui mã tiêu tiêu hướng bắc phong
Hán thủy Sở vân thiên vạn lý
Thiên nhai thử biệt hận vô cùng

(Lưu Trường Khanh)

Mười năm hoạn nạn sống cùng người
Mấy lượt dời nhà di chuyển hoài
Gặp nhau đầu bạc sau chinh chiến
Tuổi xuân đã qua loạn lạc dài
Người đi xa nhìn trăng hướng tây
Ngựa về hí buồn gió bắc này
Sông Hán mây Sở xa nghìn dặm
Chân trời chia tay hận từ đây

(Trích Trung Quốc văn học sử của Chương Bồi Hoàn và Lạc Ngọc Minh, bản dịch của Phạm Công Đạt)


20.

Tụ là vần. Tán là điệu. Năng lượng tổng hợp chủ ở vần mà năng lượng biến hóa chủ ở điệu. Vần điệu há cần phải giới hạn bởi thanh âm? Tư tưởng cũng có vần điệu của tư tưởng.

Vần của tư tưởng là sự qui chiếu vào ý nghĩa Hình nhi thượng của hiện hữu. Điệu của tư tưởng là thể hiện Hình nhi hạ của sự qui chiếu đó qua từng câu thơ.

Thơ cần có vần điệu của tư tưởng, nếu không nó chỉ là văn vần. Vần điệu của thanh âm là phương tiện vượt qua giới hạn ngôn từ . Vần điệu của tư tưởng là phương tiện vượt qua giới hạn ý thức. Bên ngoài ý thức là phần ý tại ngôn ngoại - đó là thế giới vô ngôn của hiện hữu và của thơ - nơi bắt đầu và kết thúc của mọi rung động, cảm nhận và phân tích.


.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-30 04:39:29Ngọc Lý>
.


21.

lời vui nói cạn mấy chiều
tiếng buồn nhỏ giọt như triều sương bay
bâng quơ hồn mộng lạc loài
nửa đêm sực tỉnh di hài sử xanh
phiêu bồng dậy lớp đạp thanh
tuổi xuân bỏ lại biên thành chiêm bao
Hồng sơn mấy ngọn tư trào
bừng theo trận gió bước vào chân mây

(“Nửa đêm,” Bùi Giáng) “

Bài thơ có khá nhiều ẩn ngữ liên quan đến Nguyễn Du. “Lời vui nói cạn” và “Nửa đêm sực tỉnh” khiến ta nghĩ tới “Mua vui cũng được một vài trống canh.” “Phiêu bồng dậy lớp đạp thanh” khiến ta nghĩ tới hội đạp thanh - thời gian bắt đầu chuỗi nhân duyên và hệ lụy của Kiều. Hồng sơn khiến ta nghĩ tới “Hồng sơn Liệp Hộ” (tự hiệu Nguyễn Du) và câu “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán” trong bài “Quỳnh Hải nguyên tiêu”

Lúc nửa đêm, khi vọng âm nhỏ giọt của nỗi buồn hiện hữu thăng hoa thành thơ, Bùi Giáng nghĩ đến Kiều, đến Nguyễn Du, rồi để những ngọn tư trào của mình bay theo gió vào mây - về nguồn... Bùi Giáng rất trân trọng truyền thống thi ca tiềm ẩn trong ngôn ngữ hiện đại. Cách dùng chữ có điểm nét truyền thống tạo rung cảm sâu xa nơi người đọc do tiếp cận với linh hồn và bản sắc văn hóa Việt Nam qua những câu thơ nhiều tính siêu hình của ông. Tính siêu hình ở đây chính là vần điệu của tư tưởng.

Quỳnh Hải nguyên tiêu

Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên
Y y bất cải cựu thuyền quyên
Nhất thiên xuân hứng thùy gia lạc
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến
Hải giác thiên nhai tam thập niên

(Nguyễn Du)


瓊海 元 宵

元夜 空 庭 月 滿 天
依依 不 改 舊 嬋 娟
一天 春 興 誰 家 落
萬里 瓊 州 此 夜 圓
鴻嶺 無 家 兄 弟 散
白頭 多 恨 歲 時 遷
窮途 憐 汝 遙 相 見
海角 天 涯 三 十 年

(阮攸)


Đêm rằm tháng giêng nơi Quỳnh Hải

Rằm tháng giêng trăng vàng lai láng
Nghìn xưa không đổi dạng thuyền quyên
Quỳnh Châu muôn dặm đoàn viên
Một trời xuân hứng xuân riêng nhà nào
Cảnh Hồng Lĩnh xiết bao ly tán
Bạc mái sầu ngày tháng đổi thay
Đường cùng mừng thấy nhâu đây
Phương trời lận đận tuổi đầy ba mươi

(Quách Tấn dịch)


22.

Ngôn ngữ là không gian thể hiện của thơ. Sự giao lưu giữa thơ và truyền thống là hiện tượng tất nhiên, vì ngôn ngữ cũng là một môi trường thể hiện quan trọng của bản sắc văn hóa. Truyền thống và bản sắc văn hóa ai cũng quan tâm, nhưng sự quan tâm ấy thường đưa đến những nhận định hoàn toàn trái ngược. Điển hình là những tranh luận về vấn đề “quốc học” trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật tiền chiến.

Trong những số báo đầu tiên của Nam Phong tạp chí (1917), Phạm Quỳnh đã bắt đầu sử dụng những chữ “quốc học,” “quốc văn,” “quốc túy” cùng với những từ Hán Việt khác. Người đã gây sự chú ý đặc biệt đến chữ “quốc học” về sau này là Sở Cuồng Lê Dư. Lê Dư sử dụng chữ “quốc học” trong các bài khảo luận về lịch sử và văn chương Việt Nam trên báo Đông Tây của Hoàng Tích Chu (ra đời năm 1929). Ngoài ra ông còn dùng chữ “Quốc Học Tùng San”, in chữ lớn ở bìa ngoài những cuốn sách biên khảo của mình. Nội dung khiêm tốn của những cuốn “Quốc Học Tùng San” ấy khiến nhiều người lên tiếng phản bác.

Đầu tiên là Trịnh Đình Dư, người phê bình cuốn Bạch Vân Am thi tập của Lê Dư, đã phát biểu: “Nước ta xưa đến nay chưa thấy cụ nào dựng ra một học thuyết gì to tát riêng, xét đến lịch sử những nhà học giả Đông Tây mà lại nghĩ đến quốc học nhà thường tự lấy làm thẹn.”

Rồi đến lượt Phan Khôi trên báo Phụ Nữ tân văn số 94, năm 1931: “Nước ta xưa đã từng có một cái quốc học chưa? ... Đừng nói cái học của ta chỉ ở trong phạm vi cái học của Tầu, thiếu vẻ đặc biệt, không đủ kêu là quốc học cho đến chịu giống với Tầu đi, là ở nước ta cũng không có một cái học phái nào thành lập hẳn, vậy thì chữ học đã chẳng có chữ quốc còn nương tựa vào đâu? Vài mươi năm nay, từ khi tôi biết cái học là gì rồi, tôi cố đi tìm cho được cái học của nước ta. Tìm trong Chu An tôi chỉ thấy một nhà nho khẳng khái. Tìm trong Nguyễn Bỉnh Khiêm tôi chỉ thấy một nhà thuật số như mấy ông bà tiên tri đời này. Khi tôi xét đến ông Võ trường Toản, thấy nói cái học của ông chủ ở thành. Khi tôi xét đến ông Chu Doãn Tri thấy nói cái học của ông chủ ở bất căng. Ngoài mấy chữ thành và bất căng đó, tôi không kiếm được cái gì khác nữa; chỉ trơ trọi vậy mà thôi, đâu thể gọi là học được. Rồi tôi phải đi bòn như bòn vàng trong các văn tập thì như tập Vĩ Dã thấy có vài bài ngăn ngắn ra giọng Tống Nho, tôi lấy làm mừng đôi chút, song đâu phải đã là cái mục đích sự tìm kiếm của tôi. Tìm mãi không ra cho tới ngày nay tôi mới trịnh trọng và quả quyết mà nói rằng không có.”

Phạm Quỳnh cũng tán đồng với Phan Khôi trên Nam Phong tạp chí số tháng 6, năm 1931: “Nước Nam ta mấy mươi thế kỷ học theo nước Tầu chỉ mới là người học trò khá, chưa hề thấy dám thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng, không những thế lại cũng không lọt ra khỏi vòng giáo khoa mà bước lên cõi học thuật nữa. Như vậy thì làm sao có quốc học được?... dầu kê cứu trong các sách cổ, cố tìm ra được dăm ba cái ý kiến lạ hay cái tư tưởng kỳ của một vài bậc tiền bối lỗi lạc, như vậy cũng chưa đủ chứng rằng nước ta có quốc học đặc biệt khác với cái học của Tầu truyền sang.”

Sau hai bài của Phan Khôi và Phạm Quỳnh, Lê Dư trả lời trên Phụ Nữ tân văn số 107, năm 1931: “Quốc học là học vấn kỹ thuật của một nước, học vấn kỹ thuật ấy là cái cố hữu của mình hay là cái mình học được của người nhưng đã thay đổi nhiều lần naY trở thành cái cố hữu của mình mà người không ai có nữa... đã là quốc học thì phải bao gồm cả quốc văn, quốc sử, quốc túy. Quốc văn: lấy nhất ban quốc văn học làm chủ, như các lý thuyết, học thuyết của tiền nhân đã trước thuật để lại và những quốc ca, quốc ngữ đặc biệt của ta. Quốc sử: lấy nhất ban chánh trị sự làm chủ, như cách tổ chức, cách hành động về chánh trị và những pháp luật chế độ, phong tục tập quán, kỹ thuật đặc biệt của ta. Quốc túy: lấy nhất thiết sở trường, mỹ điểm thuộc về vật chất, về tinh thần của dân tộc tính cố hữu, mà do cái tình hình địa lý và nguyên nhân lịch sử đã diễn thành trong mấy mươi thế kỷ nay... Lấy quốc văn, quốc sử, quốc túy làm nội dung cho quốc học, ta cứ đó mà nghiên cứu thì thấy một áng quốc học sờ sờ ra đó.”

Lập luận của Lê Dư quá vững vàng và tích cực. Trịnh Đình Dư, Phạm Quỳnh và Phan Khôi cũng là những người nhiều tâm huyết với học thuật của Việt Nam, nhưng ý kiến của họ chỉ là sự so sánh tiêu cực nhiều mặc cảm. Lê Dư cảnh cáo và phê bình thái độ tiêu cực đó: “chẳng nghiên cứu đến những sách vở thuộc về quốc học của ta có những gì, vội ngó sang phương Bắc thấy một mớ học thuyết của bách gia chư tử Tầu, ngó sang phương Tây thấy một mớ khoa học lý thuyết Âu Mỹ, rồi quay đầu lại xem nước mình không thấy có học thuyết và khoa học nào - dầu có cũng chưa biết đến - nhân đó mà sinh ra lòng tự vu rằng nước toàn không có gì cả, tiền nhân toàn không biết gì cả.”

Những lời của Lê Dư hơn 70 năm trước bây giờ dùng phê bình một số lý thuyết và phong cách thi ca Việt Nam trong khoảng dăm ba năm đầu thế kỷ 21 thấy vẫn còn đích đáng lắm vậy thay.

(Tóm tắt từ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm thế Ngũ)

Đăng nhập để trả lời
0
23.

Truyền thống là bảng giá trị chung của một cộng đồng về nhân sinh quan, thế giới quan và cách ứng xử trong đời sống. Bảng giá trị đó thay đổi liên tục theo dòng sinh hóa của xã hội và lịch sử. Hệ quả tất yếu của sự liên tục là mọi thay đổi của bảng giá trị hiện tại bao giờ cũng có dấu ấn của quá khứ - đó là ký ức tự nhiên của cộng đồng.

Truyền thống có quán tính và xung lực riêng của nó. Ảnh hưởng của truyền thống trên từng cá nhân vừa có tính áp chế lại vừa có tính khai phóng. Tính áp chế do sự định hình rõ ràng thành qui ước văn hóa của bảng giá trị. Tính khai phóng do sự tập hợp và ký ức kinh nghiệm hiện hữu.

Tính áp chế là thử thách tâm linh của mỗi cá nhân. Nó là thứ hệ lụy không thể không có của xã hội và đời sống con người.

Tính khai phóng là ân sủng của lịch sử. Nó là kinh nghiệm nước mắt và xương máu của những người đi trước.


24.

Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thụy trước vô nhân hoán
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền

(Không Lộ, ?-1119)

Muôn dặm sông dài muôn dặm trời
Một làn dâu giá một làn hơi
Ông chài mê ngủ không người gọi
Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền

(Bản dịch nghĩa trích từ Thiền sư Việt Nam của Thích Thanh Từ)

Từ lúc chưa có tuyết đến lúc thuyền đầy tuyết, không tỉnh thức thì không chứng nghiệm được hành trạng của thời gian. Lấy chuyện doanh hư mà gọi là tri thức thì sẽ mãi mãi tự giam mình trong ma trận của thế giới hiện tượng.

Xưa và nay cũng như thuyền trước và sau tuyết. Con mắt chấp sự vật chẳng bao giờ thấy bướm là Trang Chu.

Nay không hiểu xưa, ấy là vì học thuật chưa đủ chiều sâu để nhìn xuyên qua mặt chìm nổi của dòng sinh hóa.

Nay không cảm xưa, ấy là vì tâm tình chưa đủ độ lượng để vượt ra khỏi vòng hạn hẹp của cuộc trăm năm.

© 2005 talawas

http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=4817&rb=0506
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-29 22:39:28Ngọc Lý>
.

Trích đoạn: Phan Lê Anh Tuấn
23.

...

Xưa và nay cũng như thuyền trước và sau tuyết. Con mắt chấp sự vật chẳng bao giờ thấy bướm là Trang Chu.

Nay không hiểu xưa, ấy là vì học thuật chưa đủ chiều sâu để nhìn xuyên qua mặt chìm nổi của dòng sinh hóa.

Nay không cảm xưa, ấy là vì tâm tình chưa đủ độ lượng để vượt ra khỏi vòng hạn hẹp của cuộc trăm năm. © 2005 talawas

http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=4817&rb=0506



Ta chưa hiểu thơ người
phải chăng vì chúng ta không cùng "thở"
trong một không gian của sự sống?

Ta chưa cảm nổi thơ người
phải chăng vì trái tim chưa đập đúng nhịp
để máu hòa theo sự sống của lẽ trăm năm?

Lấy học thuật, sự thanh cao của ngôn từ để
đánh giá hơi thở
phải chăng chúng ta chưa cảm được sự sống
trong từng hơi thở
điều tất yếu của lẽ sống đích thực?


Ngọc Lý


Ngày đầu năm mới
Kính chúc các thi nhân của Việt Nam Thư Quán
một năm sống thực tuyệt vời
qua sáng tác và thi ca
viết bằng hơi thở của đam mê

Ngọc Lý
.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-08 21:51:58Ngọc Lý>
.
Phan Lê Anh Tuấn
Nghĩ về thơ
(tiếp theo)



25.

Sinh mệnh và hiện hữu của mỗi người là một tiến trình tâm sinh lý khai mở trên trục thời gian - Kinh nghiệm thời gian đầu tiên phát sinh từ sự tái xác nhận không ngừng của ý thức tự ngã trong chuỗi nhân quả của hiện tượng tâm sinh lý bên trong và vật lý bên ngoài.

Ý niệm thời gian là một trong những ý niệm nền tảng của tri thức, lý trí phân tích tự nó chỉ là một "phương tiện thiện xảo" của tri thức nên không thể định nghĩa thời gian mà không rơi vào nghịch lý. Sự bất lực của lý trí phân tích là điều kiện tất yếu của tự do và sự khai phóng tâm linh - yếu tính "vô khả vô bất khả" của hiện hữu chính là chân trời rộng mở của thơ.

ý thức giữa thời gian ẩn dấu
hãy mở bừng cảm giác cho tôi nghe
hãy dồn vào hãy cao điệu réo về
âm nhạc lạ giòng chữ đầu mê hoặc


(thơ Hải Phương, trích tuyển tập Những nhà thơ hôm nay của Nguyễn Ðình Tuyến).

26.

Thơ là cuộc truy tầm tiếng nói của sự giao lưu giữa hiện hữu và vạn hữu trong không gian kinh nghiệm và tri thức.

tôi tính tuổi trẻ bằng những ngón tay
nhưng tôi tính nỗi buồn bằng chu kỳ lịch sử
rồi ngày tháng đó đi qua
mang dấu vết của cuộc đời trên trán

bây giờ tôi ngồi vào ghế đá
nhặt những hòn sỏi ném về dĩ vãng...


(thơ Khải Triều, trích tuyển tập Những nhà thơ hôm nay)

Viên sỏi ném vào dĩ vãng phá vỡ tính chất tuyến tính một chiều của thời gian cơ giới. Ngôn ngữ của thơ như một phép chiếu thuận nghịch giữa khoảng thời gian hữu hạn và trục thời gian vô hạn. Thời gian của thơ là thời gian "vật bất thiên" không ranh giới giữa hiện tại và quá khứ. Đó là thời gian "như như" của tâm thức tự do, không còn gánh nặng hệ lụy của tự ngã. Xưa, nay, cũ, mới, trước, sau chỉ là những thuộc tính đồng giá trị của thế giới hiện tượng.

“Cầu tìm vật đã qua ở nơi quá khứ thì ở nơi quá khứ vật chưa từng là không. Mong kiếm vật đã đi qua ở nơi hiện tại thì ở nơi hiện tại vật chưa từng là có... vật quá khứ tồn tại nơi quá khứ... vật hiện tại tự ở nơi hiện tại... Do đó mà nói "thường" mà không trụ, gọi là "khứ" mà không biến thiên... Đấy là điều mà Trang Sinh thí dụ về "tàng sơn" và Trọng Ni nói khi đứng ở trên bờ sông vậy...” (trích Vật bất thiên luận của Tăng Triệu, bản dịch Tuệ Hạnh).


27.

Hoàng giang dạ vũ

Liệu phố tam thu vũ
Quân bồng bán dạ thanh
Cô đăng minh hựu diệt
Hồ hải thập niên tình

(Nguyễn phi Khanh)

黃江夜雨

蓼浦三秋雨
筠篷半夜聲
孤燈明又滅
湖海十年情
阮飛卿

Bến Hoàng giang đêm mưa

(Ở) phố Liệu đã ba trận mưa mùa thu
Giữa đêm (nghe) âm thanh mái tre
Một chiếc đèn sáng rồi lại tắt
Cảm khái của mười năm hồ hải (dâng trong lòng)

Bài thơ này có đủ bốn thể hiện của thời gian:

Liệu phố tam thu vũ:
khoảng thời gian vật lý cơ giới;

Quân bồng bán dạ thanh:
điểm thời gian vật lý cơ giới;

Cô đăng minh hựu diệt:
hiện tại tâm sinh lý;

Hồ hải thập niên tình:
thời gian tâm lý của hiện hữu, tức thời gian của thơ.


Chữ “tình” là một chữ “nhập diệu” – toàn thể rung động của bài thơ bừng nở ở chữ cuối cùng này.

Một bài thơ ngắn mà hay, cảm xúc cấu thành do sự sắp xếp ngôn từ và ý niệm thời gian – một thí dụ điển hình về sự cộng hưởng của Hình nhi thượng và Hình nhi hạ.


28.1.

Em chết trên bờ lúa
Để lại trên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con

Anh qua miền cao nguyên
Nhìn mây trời bữa nọ
Đêm cuồng khóc mưa điên
Trăng cuồng khuya trốn gió

Mười năm sau xuống ruộng
Đếm lại lúa bờ liền
Máu trong mình mòn ruỗng
Xương trong mình rã riêng

Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang


(“Bờ lúa” - thơ Bùi Giáng)

Nhiều người cho rằng thơ Bùi Giáng vui. Điều đó không hẳn không đúng. Tuy nhiên, cái vui trong thơ Bùi Giáng dẫu sao vẫn chỉ là sự đùa cợt chữ nghĩa. Cái vui ấy không thể sánh với nỗi buồn thăm thẳm trong rất nhiều bài thơ buồn của ông. Cái buồn ấy là gì? Đấy là nỗi buồn của một kẻ sau khi phiêu lưu khắp miền tư tưởng Đông Tây rồi xóa bỏ hết để chiêm nghiệm những nỗi đau xung quanh mình. Em bé chết trên bờ lúa chắc chắn là nạn nhân của hai mươi năm bom đạn ở Việt Nam - không thể không hỏi tại sao, nhưng cũng không biết làm sao mà trả lời. Nỗi buồn của Bùi Giáng là âm vang từ phía ngoài ngôn ngữ của suy tư Hình nhi thượng, nghiệt ngã mà có khi tình cờ như trận gió đêm nào...


28.2.

Thơ ngẫu hứng của Bùi Giáng, trích từ Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại

... làm triết gia để dấu tiếng than dài - cầm bút để ngậm sầu trong hơi thở - thiên thu hận hơn nửa đời dang dở - nghiệp hào hoa mấy bận khóc bên đèn - không thấy người, người lạ cũng như quen - cùng lơ láo giữa tồn sinh cửa khép - trên và dưới áp lực nào chèn ép - thịt và xương hồn phách khóc bên nhau - đoạn trường kia ai bước mấy nhịp cầu - không biết nữa không làm sao nói nữa... (trang 115)

... cõi bờ thương nhớ rộng thênh - về trong thiên hạ người quên em rồi - ngoảnh đầu ta hỏi muôn nơi - lời trong thế ấy là lời thế sao - bỏ đi em ghé Hội nào - có trăng thương hải mưa trào biển xanh - chở che dâu cỏ kết vành - chém cây ngàn dựng lũy thành chiêm bao - bỏ đi em trốn Hội nào - có vòng tay hận máu đào trút hoa... (trang 225)

....đoạn trường lụy đó khôn nguôi - đóa hồng tàn lệ khóc đời chửa cam - thưa rằng: bạc mệnh khôn kham - giờ vui mất biệt xin làm cỏ cây...(trang 396)

...làn sóng đục lần kia nghe gió lạ - lạnh vô cùng thổi lại tự phương Tây - đêm khuya khoắt ai một mình em ạ - đứng trên bờ nghe rã mộng trên tay - về giữa ngực nghe chừng như lá phổi - đã điêu tàn trong lệ đẫm liên miên - dòng ngơ ngác tự bao giờ đã lỗi - trong chờ mong tiếng vọng ở xa miền... (trang 460)

...đoạn trường mộng lý căn duyên liễu - bạc mệnh cầm chung oán hận trường - nhất phiến tài tình thiên cổ lụy - Zara đáo để vị thùy thương - tình não nuột căn duyên đã dứt - hận cung cầm bạc mệnh còn vương - tài tình cái lụy mang mang - vì ai tiếng nọ dư vang vọng về... (trang 666)

...Mọi người nhộn nhịp rộn ràng lên xuống vì công việc. Riêng ta mơ hồ, mộng hề, lang thang như con trẻ hề, không hay không biết hề, vi vu gió thoảng hề, lỗ đỗ sương rơi hề, phù vân thế sự hề, mạc mạc trần ai mãn thái không hề... (trang 698)

Mấy câu "Đoạn trường mộng lý..." nằm trong bài “Đề từ truyện Kiều” của Phạm Quý Thích.

Đề từ Đoạn Trường Tân Thanh

Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốc
Băng tâm khả tự đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân thanh đáo để vị thùy thương


(Phạm Quý Thích 1760-1825)

題辭 斷腸新聲

佳人不是到錢塘
半世煙花債未償
玉面豈應埋水國
冰心可自對金郞
斷腸夢裏根緣了
薄命琴終怨恨長
一片才情千古累
新聲到底爲誰傷
笵貴適 (1760-1825)

Đề từ Đoạn Trường Tân Thanh

Ví chăng đến kiếp sóng dồi
Yên hoa còn nợ nửa đời chưa xong
Nỡ vùi mặt ngọc đáy sông
Lòng băng tuyết chẳng thẹn cùng Kim lang
Căn duyên vì giấc đoạn trường
Cung đàn bạc mênh oán thương còn dài
Tài tình là lụy muôn đời
Khúc tân thanh ấy vì ai đau lòng


(Nguyễn Can Mộng dịch)

"Phù vân thế sự, mạc mạc trần ai mãn thái không" nằm trong bài “Ký hữu” của Nguyễn Du:

Ký hữu

Mạc mạc trần ai mãn thái không
Bế môn cao chẩm ngọa kỳ trung
Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại
Bách lý Hồng sơn chánh khí đồng
Nhãn để phù vân khan thế sự
Yêu gian trường kiếm quải thu phong
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc
Sương tuyết tiêu thời hợp hóa Long


寄友
漠漠塵埃滿太空
閉門高枕臥其中
一天明月交情在
百里鴻山正氣同
眼底浮雲看世事
腰間長劍掛秋風
無言獨對庭前竹
霜雪消時合化龍
阮攸

Gởi bạn

Đầy trời lớp lớp dậy trần hiêu
Đóng cửa nằm cao tạnh sớm chiều
Chánh khí muôn thu ngàn hống vững
Giao tình một mối bóng trăng treo
Chuyện đời ghé mắt mây lơ lửng
Gươm báu cài lưng gió hắt hiu
Lặng lẽ bên hiên lòng đối trúc
Hóa rồng chờ thuở tuyết sương tiêu


(Quách Tấn dịch)


28.3.

Bài thơ "Bờ lúa" in lần đầu trong tập Mưa nguồn xuất bản năm 1963. Bộ Heidegger và tư tưởng hiện đại cũng in năm 1963. Bùi Giáng dùng ngôn ngữ và tinh thần thi ca để đi vào triết học - ranh giới giữa thi ca và triết lý gần như không hiện diện trong văn chương ông. Với Bùi Giáng, vấn nạn của thi ca là vấn nạn của tư tưởng. Sự khởi động những câu hỏi Hình nhi thượng cũng là sự khởi động của suối nguồn thi ca.

“...Thơ là gọi sao đó, gọi như thế nào đó, để một cái gì đó vang lên và đi về cho ngôn ngữ... muốn biết sao gọi là thơ thì trước tiên hãy biết gọi. Gọi như thế nào theo thể lệ nào đó thì tự nhiên thơ sẽ đáp lời... Lời đáp cho câu hỏi Sao gọi là tư tưởng cũng thị hiện hiển nhiên và ẩn nhiên như vậy. Tư tưởng là gọi. Gọi theo thể lệ quy hồi, là tư niệm. Mà tư niệm có thể là theo lối ‘Cảo thơm lần giở...’” (trích Con đường ngả ba - Bùi Giáng, trang 375);

Bài thơ "Bờ lúa" được Bùi Giáng trích in lại sau này trong tập Con đường ngả ba năm 1972. Vọng âm đó là tín hiệu của đặc trưng Bùi Giáng - tức là cái khiến cho người biết rồi chỉ cần đọc thoáng qua là có thể nhận ra ngay một bài thơ của ông. Nét đặc trưng đó là sự nhất quán ở tinh thần và ngôn ngữ, là sự tập thành của một phong cách siêu hình sau nhiều năm suy tư chiêm niệm.


28.4.

Tư duy Hình nhi thượng là sự chứng nghiệm và tái xác định không ngừng của tự ngã trong tiến trình tâm sinh lý mỗi cá nhân. Do nhu cầu sinh tồn tất yếu, sự chứng nghiệm và tái xác định đó còn là dự phóng về tương lai chưa biết rõ. Đối tượng của tư duy Hình nhi thượng mang nhiều tính bất định, rất khác với đối tượng xác định của tư duy luận lý.

Martin Heideigger (1889-1976) cho rằng Hữu thể học (ontology), tức là tư duy Hình nhi thượng của Tây phương, đã tha hóa trầm trọng vì sự cương tỏa của luận lý - một quá trình lâu dài bắt đầu từ sau Plato. Hậu quả là Hữu thể học đã mất hoàn toàn ý nghĩa ban đầu (tức là trước Plato) để biến thành bảng phân loại thế giới, sắp xếp theo yêu cầu chủ nhân tự phong của nó là con người.Tác phẩm Hữu thể và Thời gian của ông là phần đầu của một đáp án cho sự tha hóa đó. Ngoài ra, Heidegger nhận ra rằng thi ca có khả năng soi rọi vào thực chất của Hữu thể, làm sáng tỏ yếu nghĩa của đời sống con người vốn bị che lấp vì sự phân liệt tinh thần do chi phối của luận lý, khoa học và kỹ thuật.

Bùi Giáng đã tìm thấy nhiều điểm tương đồng "thanh khí lẽ hằng" trong cái nhìn của Heidegger về Hữu thể học và thi ca. Đọc Heidegger qua bản dịch Pháp ngữ, ông thấy: "...một cái điệu sử dụng độc đáo ngôn từ đầy đủ âm vang kim cổ kỳ bí... mang chứa mọi thứ phi thường... Cái điệu nói nhì nhằng, quanh quẩn, oái oăm, như biểu dương một mối sầu hùng vĩ. Một nỗi đoạn trường hàm ẩn trong một điệu tái tân thanh..." Bùi Giáng đặc biệt phản đối những ngộ nhận về Heidegger - kể cả những rắc rối với Nazi. Bùi Giáng tin rằng những ngộ nhận ấy là do suy tư thiếu độ lượng và tinh thần học giả hương nguyện - mà nguyên nhân chính lại là sự tha hóa đã nói ở trên.


28.5.

“Tại sao mày cứ lý luận lăng nhăng?"

"Mày muốn tao lý luận như thế nào?"

"Lý luận đứng đắn."

"Nhưng lý luận từ trong bản chất nó là lăng nhăng. Nếu cố gắng lý luận đứng đắn thì đó là lăng nhăng gấp bội...”

(trích Ngày tháng ngao du - Bùi Giáng, trang 183)


28.6.

Luận lý là con dao hai lưỡi (công vi thủ tội vi khôi). Trí năng là công cụ tối cần thiết cho việc minh định sự thật về thân phận. Tuy nhiên người ta cũng có thể dùng trí năng để chạy trốn sự thật về thân phận - đặc tính siêu hình biểu trưng là việc dùng kiến văn để thay thế sự chứng nghiệm tâm linh. Hệ quả hiển nhiên của việc để luận lý và kiến văn đi quá chức năng giới hạn của nó là sự vong bản ở mặt tư tưởng.

“...muốn ăn nói mới mẻ hơn người xưa thì trước hết phải biết rõ người xưa đã ăn đã nói những ngôn ngữ gì, và nhất là đừng gán cho họ cái ngôn ngữ không phải của họ. Phải để tai nghe họ, để tai nghe, không phải nghe - bằng - lỗ - tai - rập - rình - nghe - với - dụng - tâm -xuyên - tạc, mà nghe với lỗ tai tràn ngập tinh thành của tâm thức "hữu tình ta lại gặp ta" thì thế tất ngàn xưa và ngàn nay sẽ giao tiếp, thiên cổ sẽ không nề u hiển và chịu về trong đàm thoại chị em...”
(trích Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại - Bùi Giáng, trang 191-192).


28.7.

Heidegger muốn dựng lại ý nghĩa Logos nguyên thủy từ Hy Lạp cổ đại của Parmenides, Heraclitus và Anaximander. Bùi Giáng tìm về với Nguyễn Du để tu dưỡng sinh lực của thi ca. Bùi Giáng làm nhiều thơ rất hay, nhưng bài thơ hay nhất chính là phong cách và cuộc đời của ông - bởi vì thi ca dù sao cũng chỉ là thể hiện ngôn ngữ của hiện thực đời sống. Bùi Giáng đối diện thường trực với khoảng - trống - phía - trước của tư duy Hình nhi thượng, và đó là lý do ông đã tìm đến Heidegger, cũng như ông đã tìm đến Camus, Faulkner, Parmenides, Khổng tử, Trang tử, Lão tử... Bùi Giáng rất yêu cái thâm trầm "dư dục vô ngôn" của Khổng tử, nhưng thơ của ông mang nhiều nét phóng khoáng của Trang tử. Cái phá cách trong nhiều bài thơ Bùi Giáng, điển hình là những bài thơ vô nghĩa bằng âm thanh Hán Việt, là phương pháp đối diện trực tiếp với phần vô ngôn của hiện hữu.


Phan Lê Anh Tuấn
© 2006 talawas
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7065&rb=0101
Đăng nhập để trả lời
0