Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

TRĂNG HUYẾT - Anthony Grey và Nguyễn Uớc

5 trả lời, 438 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-16 02:53:27Ngọc Lý>
.


Những gì quá khứ mới chỉ là khúc dạo đầu

*Shakespear


Tôi cảm thấy rằng được sống sót là mắc nợ người đã chết
điều gì đó. Đó là nỗi ám ảnh phải nhớ đến họ, và ai không
nhớ đến người đã chết là thêm một lần nữa phản bội họ.


* Elie Wiesel, nhà văn. Giải Nobel Hòa Bình 1986


Cảm Đề

TRĂNG HUYẾT

Năm mươi năm cát bụi lầm,
Nghe bần bật máu tiếng thầm lời thiêng.
Bầy chim Lạc thuở trời nghiêng,
Quạt đôi cánh giữa oan khiên chập chờn.
Bay qua bão lửa mưa nguồn,
Đau cơn mộng dữ thiên đường âm u.
Thì thôi rũ áo hận thù,
Hương lòng bát ngát, phù du sắc đời.
Ai về gối đất làm ngôi,
Ta đêm chấm mực khóc người truân chuyên.

Thơ Nguyễn Ước

_______

Grey, Anthony & Nguyễn, Ước.
TRĂNG HUYẾT.
First Edition.
Virginia: Kiến Văn Thời Đại Publisher, 2005.
Email: vannghetuanbao@hotmail.com



Hôm nay là Rằm tháng 11, năm Ất Dậu. Trăng Virginia rờn rợn trên tuyết lạnh. Tình cờ mà tôi đang cầm trong tay quyển Trăng Huyết. Run lên một đồng cảm giữa những xúc động của người và người, để Nguyễn Ước giao thoa với Anthony Grey trong lịch sử và định mệnh của Sàigòn, thoát thai thành vầng Trăng Huyết.

Tình cờ mà chúng ta đang nói chuyện về sự giao thoa giữa Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân, trên hai trăm năm xưa, trong định mệnh Thúy Kiều.

Tôi xin đem vào đây các bài viết về Trăng Huyết để các bạn cùng chia sẻ.
Mong nhận được ý tưởng từ quý vị đã đọc qua tác phẩm Trăng Huyết này.


Ngọc Lý
Rằm tháng 11, năm Ất Dậu, 2005.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-16 02:52:01Ngọc Lý>
.

Nguyễn Ước
Về "Saigon" và "Trăng huyết“


(Phỏng vấn của Tạp chí Văn học Nghệ thuật tối thứ Bảy hàng tuần do Phạm Điền phụ trách, Đài Á châu Tự do ngày 14.8.2004)

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=3613&rb=0102&von=0

Sau khi đăng Thư gửi bạn đọc Trăng huyết do Kiến Văn xuất bản lần thứ nhất của nhà văn Anthony Grey, tác giả cuốn Saigon và đồng tác giả cuốn Trăng huyết, chúng tôi nhận được một số thư độc giả về quan hệ giữa hai đồng tác giả cũng như giữa bản gốc và bản phóng tác. Để cung cấp thêm thông tin tham khảo, chúng tôi xin giới thiệu bài phỏng vấn tác giả Nguyễn Ước phát trên Đài Á châu Tự do ngày 14.8.2004. Một số thông tin liên quan khác cũng có trên trang Web của tác giả Anthony Grey:
http://www.tagman-press.com/welcome.asp.

talawas


Phạm Ðiền: Tạp chí Văn học Nghệ thuật và Phạm Ðiền thân chào quí vị thính giả.

Việt Nam với máu xương chồng chất trong nửa thế kỷ vừa qua trở thành một đề tài cho giới cầm bút người Việt cũng như người nước ngoài khai thác. Thoạt đầu, một nhà văn người Anh là Anthony Grey dựng một tiểu thuyết đặt tên là Saigon, xuất bản tại Bắc Mỹ vào năm 1982. Khi đọc cuốn sách này, ông Nguyễn Ước đã bị thu hút vì những tình tiết giăng mắc trong bối cảnh lịch sử Việt Nam. Ông Nguyễn Ước đã dịch cuốn này nhưng có sáng kiến thêm thắt một số chi tiết khác nữa. Ông đã đề nghị với tác giả và được tác giả Anthony Grey đồng ý.

Từ đó, ông Nguyễn Ước đưa thêm một số nhân vật phụ và các chi tiết khác vào Saigon, với khoảng một nửa trong tổng số trang, làm tăng sự phong phú cho tác phẩm. Kết hợp độc đáo này khiến Saigon được tái tạo với tựa đề mới là Trăng huyết.

Ðể thính giả khắp nơi biết thêm về công trình này, chúng tôi liên lạc với ông Nguyễn Ước và được cho biết thêm một số chi tiết qua cuộc phỏng vấn dưới đây.

Phạm Ðiền: Kính chào tác giả Nguyễn Ước. Thưa ông, trước hết xin ông cho thính giả biết một số chi tiết về ông và duyên nợ của ông đối với văn chương.

Nguyễn Ước: Thưa anh Phạm Ðiền và thưa quí vị thính giả của đài Á châu Tự do, tôi người gốc Quảng Bình. Năm 1954, di cư vào Huế. Học xong Ðại học Sư phạm Huế, tôi dạy Văn và Sử tại Tuy Hòa và làm chuyên viên phát triển xã hội cho Caritas Việt Nam. Từ sau tháng 4 năm 1975, tôi sống loanh quanh ở Sài Gòn và lục tỉnh suốt 12 năm, và 2 năm sống ở Hà Nội. Năm 1989, tôi vượt biển sang đảo Galang, Indonesia. Từ năm 1991, định cư tại Toronto, Canada. Trước năm 1975, có xuất bản một tập thơ và một vở kịch. Tại Canada, tôi in được trên 10 cuốn. Hiện nay có khoảng 7 cuốn về văn học và đạo học đã được tái bản trong nước dưới thương hiệu của các NXB Văn Học, Thông Tin Văn hóa, Hội Nhà Văn Hà Nội...

Phạm Ðiền: Thưa ông Nguyễn Ước, xin ông cho biết trong trường hợp nào ông đã biến Saigon thành Trăng huyết, và lý do xuất hiện của nó cũng như cảm hứng đó đến từ đâu?

Nguyễn Ước: Thưa anh, có lẽ đến từ những hoài bão, gian nan và ưu tư của mình về hoàn cảnh đất nước và những chết chóc hoạn nạn của thân nhân, bè bạn.

Năm 1989, tôi tình cờ bắt gặp tại đảo Galang cuốn Saigon của Anthony Grey xuất bản năm 1982. Ban đầu chỉ mày mò đọc để học Anh văn, rồi càng đọc càng cảm động, cứ lẩm bẩm: “Người ta nước ngoài mà còn viết tới như thế này!” Tuy trong đó có vài điểm tôi cảm thấy lấn cấn nhưng tôi tâm đắc với ý tưởng chủ đạo của tác giả, rằng dân tộc Việt Nam ta đang bị cuộn chặt bởi tầng tầng lớp lớp thù hận và rằng để thành công trong công cuộc cứu nguy dân tộc thì phải giữ gìn và phục vụ toàn thể các chi thể của dân tộc.

Tôi nghĩ tại sao mình lại không vừa dịch ra vừa viết bổ túc nếu cần. Rồi thì, từ nhan đề Saigon, thủ đô của Miền Nam, thành phố định mệnh đối với cuộc đời của nhân vật chính, tôi đổi thành Trăng huyết, trăng đỏ như máu, trăng báo điềm và làm chứng cho nửa thế kỷ đau thương ly loạn trên khắp nước Việt Nam.

Còn lý do cụ thể để ra mắt gấp Trăng huyết vì năm nay kỷ niệm 50 năm trận đánh Ðiện Biên Phủ và sang năm là kỷ niệm 30 năm Sài Gòn thất thủ. Với hai thời điểm đó, tôi nghĩ có lẽ độc giả dễ chú ý tới bộ trường thiên tiểu thuyết Trăng huyết và đề tài của nó hơn lúc nào hết.

Phạm Ðiền: Thưa ông, Trăng huyết có nhiều nhân vật khác nhau, lối sống khác nhau, thuộc nhiều thế hệ và trong bối cảnh xã hội cũng khác nhau, nhưng có chung là hoàn cảnh ly loạn của đất nước trải qua nhiều triều đại lịch sử. Sự dàn dựng phong phú đó chắc hẳn cũng có lý do? Nhưng phần thực của nó là bao nhiêu và phần vẽ lại lịch sử của nó thì như thế nào?

Nguyễn Ước:Thưa anh, truyện Trăng huyết bắt đầu từ năm 1925 với các nhân vật gắn bó đời mình vào dòng lịch sử cách mạng và chiến tranh của Việt Nam.

Các nhân vật chủ yếu xuất xứ từ bốn gia đình: —Nathaniel Sherman, người Mỹ, thượng nghị sĩ —Jacques Devraux, người Pháp, cựu sĩ quan rồi thanh tra mật thám —Trần Văn Hiếu, quan sứ thần, phú hộ Nam Kỳ —và Ngô Văn Lộc, người “bồi” của J. Devraux, chống Pháp, theo chủ nghĩa dân tộc rồi cộng sản.

Không gian truyện là Việt Nam, Paris, Washington, Anh. Thời gian kéo dài từ năm 1925 khi nền đô hộ của Pháp vững vàng nhất, cuộc vận động cách mạng của các sĩ phu cựu học chuyền sang các thanh niên tân học, với những ngày Pháp đàn áp tàn bạo các phong trào chống thuế của nông dân, cuộc khởi nghĩa của VNQDÐ, Sô viết Nghệ Tĩnh, hành tung của Hồ Chí Minh, nạn đói Ất Dậu, tới trận đánh Ðiện Biên Phủ, vụ ám sát Ngô Ðình Diệm, biến cố Mậu Thân và sau cùng, cuộc thất thủ Sài Gòn.

Lý do dàn dựng mà anh gọi là phong phú đó chỉ cốt để trình bày đời sống, tư duy và cảm xúc của các nhân vật hư cấu hoặc có thật trong suốt 50 năm nghiệt ngã với hận thù cá nhân, gia tộc, dân tộc chồng chất và quyện chặt vào nhau, trong đấu tranh và chiến tranh giữa hai bên. Một bên là những người lấy dân tộc chủ nghĩa làm nền tảng, một bên là những kẻ lấy cộng sản bôn-sê-vich làm phương pháp. Rồi cuối cùng người dân cả hai miền bị cuốn vào vòng quay chiến tranh lạnh, trong sự thất trận của người Pháp, tháo chạy của người Mỹ và đất nước Việt Nam điêu tàn xơ xác...

Có thể xem Trăng huyết là hư cấu vì các nhân vật chủ lực của nó là hư cấu. Cũng có thể xem Trăng huyết là một thực tế vì nó đề cập đến rất nhiều nhân vật có thật trong suốt 50 năm lịch sử; họ chi phối và làm điêu đứng các nhân vật hư cấu. Trăng huyết được đặt trong những biến cố có thật mà một số tồn đọng cho tới hôm nay.

Nói như thế nhưng Trăng huyết không có tham vọng lý giải hoặc vẽ lại lịch sử vì mọi kết luận về biến cố lịch sử chỉ là kết quả tạm mà thôi, và chính các sử gia cũng phải liên tục tìm kiếm.

Trăng huyết chủ yếu là một tác phẩm văn học. Có thể tiêu khiển qua cốt truyện gay cấn với đầy đủ các tình huống yêu đương, chiến tranh và chết chóc. Nhưng nội dung của nó cố đào thật sâu tâm tư tình cảm của các nhân vật với những gút mắc trong tình yêu, cách mạng và chiến tranh. Hướng mà Trăng huyết nhắm tới là cùng với độc giả, qua văn chương và nghệ thuật, nhìn sâu vào lòng mình, nhìn lại quá khứ và hoàn cảnh để góp phần xóa ngộ nhận, giải hận thù, để cùng nhau yêu thương trong tình người và sống hoà hợp trong nghĩa đồng bào.

Phạm Ðiền: Thưa ông, như ông vừa nói thì Trăng huyết ban đầu do tác giả Anthony Grey viết dưới tên là Saigon, sau nhờ sự đóng góp thêm của ông, một số nhân vật phụ và những chi tiết về vấn đề lịch sử lại được ông thêm vào cuốn này. Ông có thể cho thính giả của đài chúng tôi biết làm thế nào ông có cơ duyên và có khả năng phối hợp được một kết cấu như vậy?

Nguyễn Ước:
Thưa anh, có lẽ cái chính là với cảm quan thiên phú của nhà báo và nhà văn, Anthony Grey thấu hiểu được lịch sử và dân tộc Việt Nam dù khi viết cuốn Saigon, ông chưa hề tới Việt Nam bao giờ. Nhưng mà như thế thì ông ấy chỉ có thể dựa vào những tài liệu có được trước năm 1982 mà thôi. Khi bắt tay tái chế cuốn Saigon của Anthony Grey thành Trăng huyết tôi tự hỏi tại sao mình không nỗ lực trình bày cái nhìn của người trong cuộc để hợp thành một tác phẩm đa diện cho độc giả người Việt. Nhất là từ năm 1982 tới nay, đã biết thêm nhiều sự thật và có thêm nhiều tài liệu, và người Việt lúc này, Nam cũng như Bắc, thế hệ già cũng như thế hệ trẻ, cũng đã nhìn quá khứ và cuộc chiến cũng như nhìn nhau bình tĩnh, độ lượng và đồng cảm hơn trước đây.

Tôi sưu tầm thêm tài liệu, về Việt Nam tới các địa điểm mà Anthony Grey đề cập tới trong cuốn Saigon, phỏng vấn những người liên hệ. Rồi trong khi chuyển ngữ thành Trăng huyết ngang đâu thì tôi bổ túc ngang đó. Khi nguyên một chương, khi thì vài nhân vật, về tôn giáo, về phong tục và phong cảnh, về biến cố lịch sử v.v... Có khi thay đổi hẳn cái nhìn nguyên thủy của Anthony Grey về những người dân tộc chủ nghĩa, VNQDÐ, quân dân Miền Nam, Hồ Chí Minh, Ngô Ðình Nhu, Dương Văn Minh, v.v...

Sau đó tôi truy cập và may mắn tìm ra A. Grey trên internet. Nhận được bản thảo tiếng Việt và các emails trả lời của tôi về việc tôi giữ nguyên cốt truyện và giải thích những gì tôi thêm bớt, Anthony Grey chẳng những không phản đối mà còn hào phóng khích lệ, hy vọng sẽ có sự đóng góp tích cực của tôi khi một ngày nào đó Saigon được quay thành phim.

Phạm Ðiền: Thưa ông, xem thế thì Trăng huyết cũng giống như một bản nhạc được hoà âm, được phối hợp lại độc đáo. Ông có nghĩ rằng điểm đặc sắc ấy sẽ thu hút được độc giả trong khung cảnh hiện nay, khung cảnh của 30 năm sau khi chiến tranh kết thúc và người Việt hiện nay đang tản mạn khắp năm châu bốn biển?

Nguyễn Ước: Thưa anh, trước hết xin cám ơn lời khen của anh. Sự hòa âm mà như anh khen đó nếu có giữa hai tác giả Anh và Việt thì có lẽ là mới lạ đối với độc giả, còn độc đáo hay không thì tôi không dám nói. Tuy các độc giả của ta tản mác nhưng tôi cảm thấy hình như dạo sau này, các độc giả, nhất là độc giả lớn tuổi, lại thích đọc các tác phẩm liên quan tới chính trị và đạo học. Cái khó là hiện này việc phát hành sách ở hải ngoại gần như bế tắc. Tại Canada, lần in thứ nhất vừa qua với 500 ấn bản đã được độc giả ở Canada tiêu thụ gần hết. Tôi đang tìm người tái bản ở California để tiện việc phát hành ra khắp nơi tại hải ngoại.

Phạm Ðiền: Với kết quả tốt mà ông nhận được đó, ông có dự tính viết tác phẩm khác không, và độc giả có thể chờ đợi gì nơi tác phẩm sắp tới của ông?

Nguyễn Ước: Thưa anh, là người viết văn thì lúc nào cũng có nhiều dự tính. Cưu mang thì có nhưng hoàn tất chắc là còn lâu. Có lẽ tôi cũng sẽ cố gắng để viết một bộ trường thiên tiểu thuyết nữa, lấy bối cảnh giai đoạn lịch sử từ năm 1975 tới năm 1990 hoặc 1995. Hiện nay, có một bộ như Trăng huyết được dư luận chú ý là cực kỳ may mắn trong cuộc đời viết văn rồi. Có lẽ tôi cũng chẳng có tham vọng gì hơn nữa. Và lúc này, tôi lại quay về với việc nghiên cứu và dịch thuật của mình.

Và nhân đây, xin thêm lần nữa cám ơn anh Phạm Ðiền, quí vị thính giả, và các thân hữu, các tạp chí đã cổ vũ và hỗ trợ cho cuốn Trăng huyết.

Phạm Ðiền: Chúng tôi thành thật cám ơn nhà văn Nguyễn Ước đã dành cho cuộc phỏng vấn này.
Chào ông.


Nguồn: Đài Á châu Tự Do, ngày 14.8.2004, đầu đề do talawas đặt.

.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-16 02:54:59Ngọc Lý>
.

Anthony Grey
Thư gửi bạn đọc "Trăng huyết“ do Kiến Văn xuất bản lần thứ nhất
Nguyễn Ước dịch


Trong mùa hè năm 2004, một người bạn Việt Nam trẻ tuổi của tôi hiện học tại Anh đã đọc Trăng huyết, bản phóng tác bằng tiếng Việt. Cô đối chiếu các phần của cuốn ấy với cuốn tiểu thuyết nguyên bản Saigon của tôi, là cuốn hình thành cái lõi cốt yếu của tác phẩm khuếch đại và mới của người bạn đồng tác giả Nguyễn Ước. Vì tôi không biết và không đọc được tiếng Việt nên lúc ấy, tôi không có ý niệm về những gì Nguyễn Ước đã làm đối với bản văn của tôi. Trước khi thực hiện tác phẩm ấy, anh không tham khảo ý kiến tôi, cũng không tìm cách xin phép tôi cho tới khi anh đã hoàn tất. Thậm chí khi viết thư này, tôi vẫn không biết thật cặn kẽ những gì chứa đựng trong 400 trang mà anh thêm vào — ngoài việc biết rằng những thay đổi trong giai đoạn sau năm 1945 thì nhiều hơn trong phần đầu của cuốn truyện.

Trước đây, tôi biết qua lời của chính Nguyễn Ước giải thích với tôi rằng anh nồng nhiệt tin tưởng cuốn tiểu thuyết của tôi với những đoạn thông tin và diễn dịch do anh thêm vào là „bộ tiểu thuyết Chiến tranh và Hoà bình mà người dân Việt Nam đang trông đợi“. Trong lần liên lạc thứ nhất, anh nói với tôi rằng anh cảm thấy nó có sức mạnh „hòa giải và giải phóng“ người dân Việt Nam khỏi những xung khắc thời quá khứ. Nhận thấy mình xúc động bởi niềm xác tín đó, tôi bất giác quyết định không chống lại cũng như không phản đối tức thời việc Nguyễn Ước đã làm.

Tuy thế, tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi người bạn sinh viên Việt Nam trẻ tuổi tại Anh ấy nói với tôi rằng cô rất xúc động qua những gì cô đã đọc. Cô nói, „Tôi xin cám ơn ông đã viết cuốn sách này. Tôi đã biết được rất nhiều về xứ sở và dân tộc của tôi mà trước đây tôi chưa hề biết. Tôi nghĩ rằng giá trị lớn lao nhất của cuốn truyện này là nó bảo tồn ký ức lịch sử cho những thế hệ mới của người Việt trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Tôi cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết rất quan trọng cho dân tộc Việt Nam — và cũng cho mọi người khác nữa.“

Vào năm 2005 này, ba mươi năm sau ngày Sài Gòn thất thủ, dường như thế giới của chúng ta đang là chốn nguy hiểm hơn bao giờ hết. Cuộc chiến tranh cay đắng ở Iraq do người Mỹ khởi động xâm lăng đầu năm 2003 đang ngày càng bị so sánh với cuộc chiến tranh Việt Nam trong hai thập niên 1960 và 1970. Dù sao, khủng bố và giết chóc vì lý do tôn giáo và chính trị đang lan rộng toàn cầu hơn bao giờ hết.

Dường như toàn thể hành tinh của chúng ta hiện sống với trạng thái đề phòng hằng ngày sẽ có thêm một hành động “khủng bố” tập thể nữa. Trong tình huống ấy, điều quan yếu là những người mà số lượng ngày càng nhiều thêm trên thế giới, đang mãnh liệt khao khát chấm dứt vĩnh viễn toàn bộ chiến tranh và tàn sát, nên tin rằng có những lý do để cảm thấy mình được khích lệ. Ðối với tất cả chúng ta, điều quan trọng là có những nền tảng để tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp hơn và để không bị ám ảnh bởi sợ hãi.

Ở cấp độ cao nhất, mục đích tái bản cuốn trường thiên tiểu thuyết khuếch đại (Trăng huyết) này về những cuộc chiến lâu dài và cay đắng tại Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20 là để nhắc nhở chúng ta thảm kịch kinh hoàng và vô ích của mọi cuộc chiến, cách riêng các cuộc chiến xuẩn động. Cả Việt Nam lẫn Iraq đều rơi vào bản liệt kê buồn bã đó. Mọi người đều đau khổ trong các thời kỳ bi thảm như thế và chẳng một ai thật sự chiến thắng. Chiến tranh biến hết thảy chúng ta thành nạn nhân. Lúc này, điều quan yếu cho thế giới của chúng ta là tiến tới một trạng thái sinh tồn trong đó chúng ta có thể giải quyết mọi vấn đề giữa các dân tộc và các quốc gia mà chẳng cần tới bạo động và giết chóc. Cũng quan yếu không kém là việc chữa trị những vết thương khủng khiếp về tâm lý và thể lý của quá khứ, để giúp tạo dựng một tương lai hòa bình và tốt lành hơn cho tất cả chúng ta.

Khi cuốn Saigon được xuất bản lần đầu năm 1982, tôi ngạc nhiên và vui thích thấy nó trở thành sách bán chạy ở tầm quốc tế tại 15 nước, bằng chín ngôn ngữ khác nhau. Thật rất hài lòng khi tại Việt Nam và Hoa Kỳ, nó được dùng trong lớp học để dạy dỗ các sinh viên sĩ quan trẻ tuổi của hải quân và quân đội — Ðại học Quốc phòng của Quân đội Nhân dân tại Hà Nội và Học viện Hải quân Hoa Kỳ tại Anapolis. Nguyễn Ước đọc cuốn tiểu thuyết ấy lần đầu tiên bằng tiếng Anh lúc anh tới được trại tị nạn ở Indonesia sau khi trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền vào cuối thập niên 1980. Anh kể rằng anh đã khóc khi đọc nó hết phần này sang phần khác. Mãi về sau, anh quyết định dịch và tự chủ xướng việc khuếch đại vì anh cảm thấy cuốn truyện ấy, với sự thêm vào các sự kiện lịch sử cùng hư cấu nào đó của anh như một „kẻ trong cuộc“, sẽ khiến độc giả người Việt nhận ra rằng „sự thật giải phóng chúng ta và hoà giải chúng ta“.

Như đã nêu rõ, tôi quyết định cứ tin vào sự bảo đảm mà Nguyễn Ước đã viết cho tôi, rằng anh không „phản bội“ hình thức và dự phóng trong cuốn tiểu thuyết nguyên bản của tôi. Tôi phải bảo lưu quyền thẩm định đầy đủ và có cân nhắc cho tới một thời điểm tôi biết chính xác từng chữ những gì anh đã viết. Trong lúc này tôi đang đi theo con đường riêng của mình để Saigon được dịch riêng biệt ra tiếng Việt, đúng chính xác những gì tôi viết mà không có bất cứ thêm thắt nào, và để cho nó được xuất bản công khai bởi một nhà xuất bản của người Việt tại Việt Nam. Như tôi đã viết vào tháng Chạp năm 2004, hiện ở Hà Nội đang có những thảo luận bước đầu về việc đó, nhân danh tôi, và chưa có kết quả rõ ràng. Tuy thế, tôi không biết việc xuất bản ấy sẽ xảy ra sớm hay muộn — hoặc quả thật bao giờ.

Rõ ràng Nguyễn Ước đã hết lòng với đam mê, lý tưởng và nghị lực để viết nên Trăng huyết. Nếu anh ấy có lý và cuốn sách này có thể đóng góp đầy ý nghĩa để chữa trị và hòa giải các vết thương quá khứ, thì bằng những cách thức nhỏ bé, một tương lai hoà hợp hơn sẽ bắt đầu để làm nổi bật dân tộc Việt Nam — và việc đó chắc chắn dẫn tới kết quả là sẽ làm xúc động người dân của các quốc gia khác. Lúc ấy, mọi nỗ lực cần cù của Nguyễn Ước sẽ đáng giá. Dù xảy tới tình huống nào đi nữa, tôi vẫn ca ngợi hoài bão, sự tự phát, những lao động tận tụy của anh và mong anh ấy gặp may mắn.

Sự ngưỡng mộ và mến cảm của tôi đối với Việt Nam và dân tộc can trường cùng độc đáo ấy ngày càng tăng kể từ khi tôi bắt đầu nghiên cứu và viết cuốn Saigon. Sự tái tục dính líu tới Việt Nam được gây ra bởi sự xuất hiện nổi bật của Trăng huyết và việc tái bản tại Anh ấn bản mới cuốn Saigon bằng tiếng Anh vì thế đang là nguồn khoái cảm lớn lao cho tôi. Vậy tôi xin cám ơn tất cả những ai quan tâm và chúc cho tất cả những ai đang đọc các trang này một hoà bình lâu dài và sự hòa hợp ngày càng tăng trong cuộc sống hằng ngày.

.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-16 02:51:38Ngọc Lý>
.

Hoàng Khởi Phong
đọc Trăng Huyết của Anthony Grey và Nguyễn Ước

Thursday, December 09, 2004


(Thay Lời Bạt cho lần tái bản đầu tiên của nhà xuất bản Kiến Văn)


LTS: Năm 1982, nhà văn Anh Anthony Grey hoàn tất cuốn tiểu thuyết Saigon, dầy hơn 700 trang. Với nhiều người đọc đây có thể là cuốn tiểu thuyết hay nhất viết về chiến tranh Việt Nam từ trước tới nay. Cuốn tiểu thuyết này đã từng được dịch ra tiếng Việt, song có thể tiêu đề của cuốn sách không mấy hấp dẫn, nên độc giả người Việt ít biết tới. Năm 2000, cuốn tiểu thuyết này một lần nữa đến với độc giả người Việt, qua bản dịch của Nguyễn Ước với cái tên Trăng Huyết. Thật ra Trăng Huyết là một bộ trường thiên tiểu thuyết khác, với hơn 1000 trang chữ Việt, mà trong đó Nguyễn Ức đã được sự đồng ý và cổ võ của Anthony Grey khi viết thêm vào nguyên bản Saigon hơn ba trăm trang nữa. Chẳng những thế trong một lá thư gửi cho những người sẽ đọc bộ Trăng Huyết này, Anthony Grey còn đồng ý cùng đứng tên là tác giả với Nguyễn Ước trong bộ tiểu thuyết này. Dưới đây là bài viết của nhà văn Hoàng Khởi Phong sẽ được dùng là Lời Bạt cho bộ sách khi nhà Kiến Văn tái bản vào năm 2005 sắp tới


1.


Đối với các học giả và các nhà nghiên cứu lịch sử và chiến tranh Việt Nam, trong các thư viện người ta có thể tìm thấy hàng ngàn tác phẩm được nhìn bởi nhiều góc độ, của những tác giả Pháp, Mỹ, Anh, Trung Hoa, Nhật Bản, và tất nhiên không thể thiếu của những tác giả Việt Nam đóng góp cách nhìn của mình vào ngay những dòng máu của người đồng chủng, mà có thể chính những tác giả người Việt cũng như những tác giả ngoại quốc ấy đều đã can dự không ít vào việc khơi cho những dòng máu này chẩy mạnh hơn, lớn hơn hoặc làm cho chúng bớt gia tăng cường độ.

Về phía các tác giả người Việt, tôi muốn nói tới các hồi ký chính trị của những người từng ngự trị trên đỉnh quyền lực của hai miền Nam và Bắc, những lãnh tụ của phía Cộng Sản, hay những chính trị gia của miền Nam... Tất nhiên những hồi ký chính trị của các tác giả Việt Nam được viết bởi hai động lực tâm lý chính, nhất là sau năm 1975 khi miền Nam sụp đổ, đã khiến cho các tác giả xuất thân từ phía miền Bắc như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Trần Văn Trà... cùng hàng trăm tác giả khác tha hồ thêu dệt, tô điểm cho chiến thắng của miền Bắc bằng những chiến công được dựng lên bởi những con người đúc bằng sắt bằng thép với trí tuệ cao vời tưởng chừng như những con người này chỉ có thể hiện diện trong các truyện thần thoại. Đó là chưa nói tới các tác phẩm của Hồ Chí Minh, được viết từ trước khi chiến tranh chấm dứt, vì ông từ trần vào năm 1969. Chỉ có điều cần nhắc lại là chính ông đã dùng một cái tên khác, để viết sách tự ca tụng mình. Trong khi đó các hồi ký của những tác giả xuất thân từ phía miền Nam thì dường như được viết ra chỉ nhằm để phân bua với mọi người rằng mình không có lỗi, rằng mình không mang chút trách nhiệm nào trong việc miền Nam thất thủ, và rằng miền Nam mất là vì bị người Mỹ bỏ rơi, hay vì lỗi của những kẻ khác. Hầu như các tác giả xuất thân ở phía miền Nam không một ai thành khẩn đấm vào ngực mình để nói lên phần nào trách nhiệm của chính mình, nhận một phần lỗi lầm, dù thật nhỏ, trong việc thất trận của miền Nam. Kể từ năm 1975 tới nay, các tướng lãnh của miền Nam từng ngự trên đỉnh cao quyền lực như Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Đức Thắng... đã khóa miệng mình thật chặt, trong khi vài tướng lãnh khác như Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi, Trần Văn Đôn... dùng những cuốn sách đầu Ngô mình Sở của họ để đổ lỗi cho người khác. Bên cạnh những cuốn sách ấy còn có hồi ký của những tác giả đã thật sự chiến đấu ngoài mặt trận nhưng phần lớn họ là những sĩ quan trung cấp nên dù có muốn nhận trách nhiệm của mình trước lịch sử cũng không ở trong các vị trí đủ cao để gánh vác toàn bộ trách nhiệm, tựa như tín hữu công giáo thường thầm nhủ mình trong nhà thờ mỗi khi xưng tội rằng: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”

Về những cuốn sách của người nước ngoài, trước tiên ta có thể thấy một điều là các tác giả Pháp, Mỹ, Anh, Trung Hoa, Nhật Bản dường như viết chỉ để giải thích, phân tích và biện hộ cho nguyên nhân và bản chất sự dính líu của quốc gia họ vào chiến tranh Việt Nam mà họ cho rằng đó hoàn toàn vì những lý tưởng cao cả. Hầu như hiếm có tác giả người Pháp nào quy trách nhiệm việc gây ra chiến tranh Việt Pháp là do chính bởi người Pháp xâm lăng Việt Nam và cai trị Việt Nam một cách tệ hại. Hầu như không một tác giả Pháp nào khởi đi từ cái gốc của trận chiến, mà chỉ nói tới cái ngọn của nó, ở Điện Biên Phủ. Các tác giả người Mỹ cũng chẳng hơn gì. Cái gốc mà họ khởi đi là sự hiện diện của quân Mỹ ở Việt Nam, nhằm giúp người Việt ngăn chặn Cộng Sản, để rồi họ lúng túng giải thích chương trình Việt Nam hóa chiến tranh dưới thời Nixon, và sau cùng là những tranh cãi về hồi đại kết cục của cuộc chiến, về nguyên nhân thất bại của miền Nam mà họ cho rằng vì đã không chiến đấu hết sức để tự cứu mình nên không thể trông mong một nước bạn nào có thể cứu dùm. Và hầu như cũng ít có tác giả người Mỹ nào thật sự viết về cung cách người Mỹ hành xử như chủ nhân của vùng đất mà họ hiện diện để tham chiến trong tư cách của một đồng minh. Cách cư xử ấy của người Mỹ đối với người Việt cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho chiến tranh có cớ để lan rộng.

Hàng ngàn cuốn sách viết về Việt Nam như thế đã khiến cho bất cứ nhà nghiên cứu hoặc học giả nào cũng khôgn tránh khỏi nhiều lần lúng túng khi đem một sự kiện đối chiếu với nhiều tác giả khác nhau, dưới những góc độ khác nhau. Có thể nói không một cuốn sách nào viết về lịch sử và chiến tranh Việt Nam được coi là hoàn hảo vì không thể nào có một sự thật trọn vẹn cho chiến tranh Việt Nam, dù được nhìn vô tư tới đâu chăng nữa, dưới bất cứ một góc cạnh nào đi nữa.


2.


Là một người đọc bình thường, tôi vô cùng cám ơn Anthony Grey trong nguyên bản Saigon và Nguyễn Ước trong Trăng Huyết. Như tôi đã trình bầy ở đoạn trên, không thể tìm thấy sự thật tuyệt đối của lịch sử Việt Nam nơi các tác phẩm nghiên cứu của các học giả cũng như nơi các cuốn hồi ký của những người từng thao túng vận mệnh Việt Nam trong suốt thế kỷ 20. Tuy thế, người đọc có thể đi tìm những sự thật tương đối của lịch sử nơi một tác phẩm văn chương. Tác phẩm văn chương đó chính là Saigon của Anthony Grey, và đặc biệt là Trăng Huyết với phần đóng góp của Nguyễn Ước vào tác phẩm gốc Saigon. Chính trong hai tác phẩm ấy người ta thấy được trong thế kỷ vừa qua, không một dân tộc nào chịu đau khổ vì chiến tranh nhiều tới độ như dân tộc Việt Nam đã chịu.

Thử kiểm điểm lại những cuộc chiến mà người Việt phải hứng chịu trong thế kỷ 20: Để giành quyền sống dưới ánh mặt trời, dân tộc Việt phải đứng lên hất đổ ách đô hộ của người Pháp. Suốt một thế kỷ ròng rã, máu của dân Việt đã chảy lênh láng trên núi trong rừng, xác của người Việt đã trôi đầy sông ra tới biển để rồi năm 1954, trước khi người Pháp xuống tầu về nước, họ đã để lại một vết dao cắt đứt ngang mình nước Việt. Để hàn gắn vết thương ấy, dân Việt khai diễn một cuộc chiến khác giữa miền Bắc được chống lưng bởi thế giới Cộng Sản với đối thủ miền Nam được hậu thuẫn bởi khối Tư Bản.

Hai thế kỷ trước đó, nước Việt cũng đã một lần bị chia hai, nhưng chiến tranh Trịnh Nguyễn chỉ là tranh chấp giữa nội bộ dân tộc vì thế nó không thể tàn nhẫn, khốc liệt và chết tróc nhiều tới độ như cuộc chiến Nam Bắc vừa qua, với những thế lực ngoại cường thúc đẩy phía sau lưng của hai nửa phần dân tộc. Cuộc nội chiến trước kia chỉ là huynh đệ tương tàn với cung tên giáo mác, thế mà xương đã cao thành gò, máu đã chẩy thành suối. Với cuộc nội chiến thứ hai thì bên cạnh những tranh chấp nội bộ của dân Việt, các cường quốc Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Hoa đã ấn vào tay người Việt vô vàn bom đạn nên máu chẩy thành sông và xương chất cao thành núi. Cái nọc của chiến tranh trong lòng dân Việt là phải thu hồi quyền tự quyết cho dân tộc, phải giành lấy chỗ đứng cho mình trong cộng đồng nhân loại.

Chính vì vậy gia tộc Ngô Văn Lộc, từ thế hệ này tiếp thế hệ khác, bằng mọi giá phải tham gia vào cuộc chiến đấu giải phóng quê hương. Chính vì thế hai cha con Ngô Văn Lộc và Ngô Văn Đồng khởi đầu theo Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng khi VNQDĐ mất đi uy thế ban đầu, cả gia tộc ấy đã đã không ngần ngại đứng chung hàng ngũ với Cộng Sản. Cuối cùng, khi cậu bé Ngô Văn Kiệt chết trong khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn vào năm 1968, tuy là một đặc công Việt Cộng, nhưng cậu đã bó sát thân thể mình, bên trong bộ quần áo MTGPMN, là lá cờ VNQDĐ nguyên thủy mà người cha Ngô Văn Đồng và ông nội Ngô Văn Lộc đã tôn thờ, chứ không phải là lá cờ của Cộng Sản.

Chính vì phải thu hồi độc lập cho tổ quốc mà Đào Văn Lật đã không ngần ngại cắt cụt một phần thân thể của mình, chỉ vì tin rằng sau khi phế bỏ nó, anh không còn bị chi phối bởi tình yêu nam nữ, và như thế có thể dồn toàn tâm, toàn trí vào cuộc chiến đấu.

Chính vì muốn lấy lại giang sơn trong tay người Pháp mà Trần Văn Kim đã quay lưng lại với cha và anh, là những quan lại của Nam Triều. Để không bị chi phối bởi những vướng bận gia đình, Trần Văn Kim chấp nhận sống một cuộc đời độc thân trơ trọi hầu có thể yên tâm chiến đấu dưới ngọn cờ giải phóng. Nhưng rút cục, sau hơn ba chục năm cống hiến toàn bộ tâm trí cho cuộc chiến đấu, trong những tình cờ của lịch sử, Trần Văn Kim và người anh ruột Trần Văn Tâm lại cùng hiện diện trong hòa đàm Ba Lê, nhưng ở hai vị trí đối mặt nhau nơi bàn hội nghị, như hơn ba chục năm trước dưới mái ấm gia đình, Trần Văn Kim từng đối đầu với cha sinh ra mình là Trần Văn Hiếu, cũng như với Trần Văn Tâm, vì chính sách cai trị của người Pháp. Ở bên ngoài hội nghị, Trần Văn Kim lén đi gặp lại người anh ruột ấy sau hơn ba chục năm xa cách. Chỉ vì vài phút yếu lòng ấy mà Trần Văn Kim đã tạo thêm cớ cho những người đồng chí trừ khử mình. Khi bị thanh trừng, Kim là một trong những lãnh tụ hàng đầu của Cộng Sản, và là người thân tín của Hồ Chí Minh; tuy kế thừa chủ trương của Hồ là đứng giữa những tranh chấp của Nga Hoa anh lại bị kết tội là hữu khuynh, và bị thanh toán bởi những người Cộng Sản hiếu chiến và cuồng tín.

Những trận chiến tôi vừa nêu là những trận chiến chính của dân Việt, chưa nói tới những trận chiến lẻ tẻ giữa người Việt với người Anh và người Nhật, trong giai đoạn tàn cuộc đệ nhị thế chiến, cũng như hai trận chiến xẩy ra sau năm 1975 nơi biên giới Hoa Việt phía Bắc, và nơi biên giới Miên Việt phía Nam.

Trong thế kỷ 20 vừa qua dân tộc Việt quả là người bạn đồng hành với chiến tranh, đến độ nhiều thế hệ trẻ thơ Việt Nam đã biết đến súng đạn ngay từ khi vừa thôi núm vú mẹ. Khi những thế hệ trẻ thơ Việt Nam này lớn lên thì nhận lãnh những vũ khí giết người, không kém gì việc nhận những món đồ chơi mới lạ như trẻ thơ các nhước khác.



3.


Là một nhà văn không được đào tạo bởi trường ốc, tôi ngưỡng mộ các đóng góp của Anthony Grey và Nguyễn Ước. Cung cách tiếp cận sự thật lịch sử của Anthony Grey trong tác phẩm Saigon quả là điểm son cho tôi học hỏi. Để viết cuốn tiểu thuyết ấy Anthony Grey đã bỏ ra ba năm trời lục lạo trong các thư viện, trong các văn khố lưu trữ hồ sơ của các quốc gia từng can dự vào chiến tranh Việt Nam. Ông cũng trực tiếp phỏng vấn một số nhân vật đầu não của các phe tham chiến, nên vì vậy mà tác phẩm của ông tuy chỉ là một tác phẩm văn chương song nó giúp cho người đọc hiểu thấu đáo một cách tổng quát những diễn tiến của các biến cố lịch sử liên quan tới nước Việt trong thời cận đại.

Dưới ngòi bút của Grey, các nhân vật có thật của lịch sử và các nhân vật hư cấu của tiểu thuyết hiển lộ như những con người thật bằng xương thịt trước mắt người đọc. Tùy thuộc vào những biến cố lịch sử mà các nhân vật tham dự và cấu thành, mỗi nhân vật có một cá tính riêng, một nhân cách riêng. Điển hình cho những nhân vật này ta có thể kể tới các nhân vật do nhu cầu của tiểu thuyết như các thành viên của bốn gia tộc gồm dòng họ Sherman của nước Mỹ, dòng họ Devraux của nước Pháp và gia tộc Ngô Văn Lộc, gia tộc Trần Văn Hiếu của nước Việt. Tính chất di truyền nơi tính tự cao của dòng họ Sherman, Devraux hay nơi lòng thù hận của của các gia tộc họ Ngô và họ Trần có thể được coi là một trong những cái trục chính của toàn bộ cuốn tiểu thuyết Saigon. Bên cạnh những nhân vật của tiểu thuyết là những nhân vật thật của lịch sử như Hồ Chí Minh, một kịch sĩ đại tài, nhất cử nhất động của Hồ đều được tính toán chính xác, đến độ không một khán giả nào có thể biết được con người thật của Hồ Chí Minh. Người đọc cũng nhận thấy sự tráo trở lật lọng nơi những những lãnh tụ Cộng Sản như Lê Đức Thọ, cung cách ứng xử trịch thượng của Kissinger, thái độ thụ động của các tướng lãnh Dương Văn Minh và Nguyễn Văn Thiệu.

Là một nhà văn tự học qua trường đời và qua các tác phẩm của những nhà văn đi trước, tôi không học Anthony Grey cách hành văn. Nhưng tôi học được trong tác phẩm Saigon rất nhiều điều về cách sử dụng những chi tiết lịch sử cho một cuốn tiểu thuyết lớn, bao trùm một không gian rộng gồm những biến động xẩy ra tại nhiều quốc gia và trải một thời gian dài suốt hơn nửa thế kỷ.

Sau cùng tôi muốn nói tới những đóng góp của Nguyễn Ước trong Trăng Huyết. Kể từ khi văn học Việt Nam chuyển từ văn chương Hán Nôm sang văn chương quốc ngữ đã được hơn một thế kỷ. Trong thời kỳ văn học mới ấy, văn chương Việt Nam, bằng những bản dịch, đã tiếp nhận rất nhiều tác phẩm của các nền văn học khác. Một trong những người tiên phong trong việc phỏng dịch các tác phẩm ngoại quốc có thể kể đến Hồ Biểu Chánh. Một số truyện của tác giả này là những phó bản của các tác phẩm viết bởi các nhà văn Pháp của thế kỷ 19. Điều đáng nói là Hồ Biểu Chánh không hề ghi chú rằng ông đã mượn cốt truyện của các tác giả ngoại quốc để chuyển đổi câu chuyện cho phù hợp với đời sống của người Việt ở trên đất Việt. Thời của Hồ Biểu Chánh là giai đoạn đầu của văn chương quốc ngữ. Cũng phải nói ngay là ông có công giúp cho các độc giả người Việt không có khả năng đọc tác phẩm ngoại quốc, có thể cảm nhận được các tác phẩm ấy. Sau Hồ Biểu Chánh một vài thập niên, cũng có một vài tiểu thuyết gia chuyên phóng tác các truyện ngoại quốc, vì nhu cầu của người đọc càng ngày càng tăng, tuy nhiên các cuốn sách này được ghi rõ là phóng tác, và phần lớn nhằm để giải trí cho người đọc hơn là những tác phẩm văn học. Sau cùng là những tác phẩm văn học được dịch đầy đủ với toàn bộ câu chuyện, đã giúp cho người đọc ở Việt Nam tiếp cận thật sự với nền văn học của các nước khác.

Tác phẩm Saigon của Anthoney Grey được hoàn tất năm 1982, với chiều dầy khoảng bẩy trăm trang, khi được Nguyễn Ước tiếp cận vào năm 2000 đã trở thành một cuốn tiểu thuyết khác, với một cái tên khác, là Trăng Huyết, có chiều dầy hơn một ngàn trang và khổ sách cũng lớn hơn. Để hình thành Trăng Huyết, bản thân Nguyễn Ước, theo như ông kể lại ở phần Tái bút, cũng bỏ ra nhiều năm trời sưu tầm, kiểm tra các tài liệu lịch sử và tham quan các địa điểm được dùng làm bối cảnh cho câu chuyện.

Nơi bìa trước của cuốn Trăng Huyết, người đọc nhận thấy tên tác giả Anthony Grey ở trên và tên Nguyễn Ước ở dưới. Trong các trang đầu của cuốn sách người đọc bắt gặp lá thư của Anthony Grey gửi cho độc giả của Trăng Huyết; ông viết không phải với tư cách của một tác giả cho phép dịch tác phẩm của mình sang một ngôn ngữ khác, mà là đồng thuận việc Nguyễn Ước cùng đứng tên với ông làm đồng tác giả của cuốn Trăng Huyết, bởi vì Trăng Huyết đã có những đóng góp đáng kể của Nguyễn Ước đến độ Anthony Grey không thể phủ nhận những đóng góp ấy.

Khi so sánh hai cuốn sách, người đọc có thể thấy trong khoảng bốn trăm trang đóng góp của Nguyễn Ước là những bổ túc cần thiết cho nguyên bản Saigon, bởi vì sau hai chục năm tác phẩm này hoàn thành, đã có những tư liệu mới được các văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Hoa cho công bố. Điều đặc biệt là những gì Nguyễn Ước đóng góp đã đan chặt lại với nguyên bản, như là một tấm lụa được dệt nguyên thủy, chứ không phải là một miếng vải khác đắp vào một tấm lụa bị hư hỏng vài đoạn. Trong Trăng Huyết có những đoạn được viết thêm vào trong các chương, hơn thế nữa Nguyễn Ước đã dựng thêm vào một số nhân vật, cũng như đôi khi đã viết hẳn một chương.

Điều thứ hai mà tôi bắt gặp trong tác phẩm này chính là chất văn chương trong toàn tác phẩm, dù được viết bởi nguyên bản Saigon của Anthony Grey, hay là bản dịch và sự đóng góp thêm vào trong Trăng Huyết của Nguyễn Ước. Cả hai tác giả này đã cho người đọc thấy cách sử dụng ngôn ngữ tuyệt vời trong toàn cuốn sách. Với hơn 1000 trang sách của bộ tiểu thuyết Trăng Huyết, Anthony Grey và Nguyễn Ước đã làm được một kỳ công trước đó hầu như chưa một cuốn sách nào đáp ứng được, là gói trọn lịch sử và chiến tranh Việt Nam cận đại của năm chục năm từ 1925 cho tới 1975. Tất cả những biến động lớn nhất xẩy ra cho Việt Nam trong nửa thế kỷ này, được ngòi bút tài ba, và tấm lòng ngùn ngụt của hai nhà văn này đúc lại thành một tác phẩm mà bất cứ ai quan tâm tới Việt Nam đều nên đọc.

Sau cùng tôi muốn nói về Trăng Huyết, là những gì tôi học được ở Saigon của Anthony Grey qua Trăng Huyết với sự đóng góp của Nguyễn Ước là những bài học quý giá cho một nhà văn không được đào tạo bởi trường ốc. Tôi chân thành ngưỡng mộ và cám ơn cả hai tác giả đã cho tôi đọc lịch sử cận đại của nước tôi, trong một cuốn tiểu thuyết hay nhất về chiến tranh Việt Nam.


http://nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=15022&z=16
.
Đăng nhập để trả lời
0
Dù tôi chưa được xem Trăng Khuyết nhưng qua lời giới thiệu của Hoàng Khởi Phong tôi có một số Ý kiến như sau:
1. Bài viết rất hay có nhiều điểm đáng để chúng ta nhìn lại.
2. Tôi kịch liệt lên án đoạn sau của bạn:

Về phía các tác giả người Việt, tôi muốn nói tới các hồi ký chính trị của những người từng ngự trị trên đỉnh quyền lực của hai miền Nam và Bắc, những lãnh tụ của phía Cộng Sản, hay những chính trị gia của miền Nam... Tất nhiên những hồi ký chính trị của các tác giả Việt Nam được viết bởi hai động lực tâm lý chính, nhất là sau năm 1975 khi miền Nam sụp đổ, đã khiến cho các tác giả xuất thân từ phía miền Bắc như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Trần Văn Trà... cùng hàng trăm tác giả khác tha hồ thêu dệt, tô điểm cho chiến thắng của miền Bắc bằng những chiến công được dựng lên bởi những con người đúc bằng sắt bằng thép với trí tuệ cao vời tưởng chừng như những con người này chỉ có thể hiện diện trong các truyện thần thoại. Đó là chưa nói tới các tác phẩm của Hồ Chí Minh, được viết từ trước khi chiến tranh chấm dứt, vì ông từ trần vào năm 1969. Chỉ có điều cần nhắc lại là chính ông đã dùng một cái tên khác, để viết sách tự ca tụng mình. "

Mặc dù tôi biết trang Web không phải là một diễn đàn chính trị nhưng ông ta nói như thế này thì quá thể lắm ,nói như thế ông ta đã phủ nhận những thành quả to lớn mà chúng ta đã đạt được trong kháng chiến chống Mĩ , lên án những công lao to lớn của Bác hồ.Ông ta đã quên rằng Ngô Đình Diệm và Mĩ đã gây những tội ác to lớn nhường nào cho dân tộc Việt Nam một dân tộc vốn trước đó đã chịu quá nhiều khổ đau.
Chữ tình là... bát bún rêu
Bún bao nhiêu sợi...bấy nhiêu chữ tình
Đăng nhập để trả lời
0
.
Kính chào bạn Nguyễn Quốc Việt,

Lâu nay tôi không có dịp trở lại đề tài này, xin lỗi bạn là thời gian qua nhanh quá.

Tình cờ, mà trăng tại nơi tôi ở đang rất tròn. Rằm tháng tư, ngày Phật đản.

Tôi cũng có nhiều băn khoăn suy nghĩ khi đọc tập truyện này trong thời gian qua. Tôi đã đọc cả hai tập, Saigon, nguyên bản của Anthony Grey, và Trăng Huyết, với Nguyễn Ước đồng tác giả với Anthony Grey.

Tôi ước gì có thể mời bạn đọc hai tác phẩm này. Tôi nghĩ, sau khi bạn đọc xong, có lẽ các thắc mắc trên của bạn sẽ được giải đáp thích đáng.

Tôi cũng có một số ý tưởng của riêng tôi, sau khi đọc xong tác phẩm. Hy vọng hôm nào có thì giờ hơn, tôi sẽ mang vào chia sẻ với bạn. Trong khi chờ đợi, mời bạn đọc qua Sơ lược cốt truyện, để có cái nhìn tổng quan rõ hơn.

Tựa của tác phẩm là Trăng Huyết, không phải Trăng Khuyết. Hai ý nghĩa có lẽ rất khác xa nhau.

Mong được nghe thêm các ý của bạn và của quý vị trong thư quán,

Ngọc Lý

_________

TRĂNG HUYẾT
Anthony Grey và Nguyễn Uớc



Sơ lược cốt truyện

Trăng Huyết là tiểu thuyết sử thi, lấy bối cảnh Việt Nam từ năm 1925 tới sáng ngày 30.4.1975. Nhân vật chủ yếu xuất xứ từ bốn gia đình: (1) Nathaniel Sherman, người Mỹ, thượng nghị sĩ; (2) Jacques Devraux, người Pháp, cựu sĩ quan rồi thanh tra mật thám; (3) Trần văn Hiếu, quan sứ thần, phú hộ tại Nam kỳ; (4) Ngô văn Lộc, chống Pháp, theo chủ nghĩa dân tộc rồi cộng sản.

Phần Thứ Nhất : Đời thuộc địa là thế (1925)

Thượng nghị sĩ Mỹ Nathaniel Sherman mang vợ, Flavia, và hai con, Chuck 21 tuổi, kẻ được ông kỳ vọng sẽ làm tổng thống Mỹ, và Joseph 15 tuổi tới du lịch Sàigòn và săn thú tại vùng Định Quán cho Nhà bảo tàng Vạn vật học của dòng họ ông ở Washington. Người hướng dẫn săn bắn là Jacques Devraux, cựu sĩ quan và đang làm mật thám cho Nha Liêm Phóng Đông Dương. Devraux góa vợ, trung thành với nước Pháp. Ngượỉc lại, con trai của y, Paul, 18 tuổi, lại rất có cảm tình với người Việt. Tài xế và bồi của Jacques, Ngô văn Lộc là đảng viên Tâm tâm xã. Hai vợ chồng vừa giúp việc vừa theo dõi Jacques. Lộc có hai con là Đồng, 13 tuổi và Học, 11 tuổi, thích nô đùa với Paul và Joseph trong trại săn. Trước đó, trong đêm tiếp tân tại Dinh Thống đốc Nam kỳ, Joseph quen với gia đình Trần văn Hiếu là quan sứ thần tại Sàigòn. Hiếu thuộc một gia tộc hợp tác với Pháp từ lúc Pháp bắt đầu chiếm Nam kỳ nên trở thành đại địa chủ. Hiếu có 2 con trai, Tâm 12 tuổi, Kim 11 tuổi và Kiều Lan 10 tuổi.
Trong lần gặp gỡ ấy, Joseph cứu nạn cho gia đình Hiếu khi rượt bắt lại con khỉ nhỏ của Lan mà Kim mang theo rồi để sổng nó chạy vào sảnh đường Dinh Thống đốc, suýt làm vỡ một độc bình cổ cực quí của Thống đốc. Nơi trại săn, Jacques ngủ với vợ của Lộc, rồi với Flavia, và Joseph vô tình bắt gặp. Hôm sau, hai mẹ con Joseph ra Huế dự Lễ Nguyên Đán ở Điện Thái Hòa. Joseph bắt đầu mê mẩn khung cảnh VN và hoàng thành Huế. Tại đây, Joseph quen với Đào văn Lật, em vợ của Hiếu, một ký giả du học Pháp về, mê thuyết Siêu Nhân của Nietzsche, sôi nổi cách mạng chống Khải Định và chống Pháp. Nathaniel đi săn được hai tuần thì xảy ra tai nạn, khi rượt theo một con min mà ông muốn săn cho bằng được, bất chấp lời khuyên của Jacques thì bị nó phản công. Chuck xông vào cứu cha, bị con trâu rừng ấy húc chết.

Phần Thứ Hai: Hận thù của triệu cu li (1929-1930)

Tủi hận vì chuyện mẹ làm với Jacques, Đồng và Học bỏ nhà đi, rồi bị mộ làm phu cạo mũ, sống như súc vật ở Đồn điền cao su Vị An, gần Ngã Ba Ông Đồn, Đồng Nai. Việc do thám Jacques vở lỡ, vợ Lộc bị bắt, chết trong tù, Lộc nhờ VN Quốc Dân Đảng giúp, tìm ra con. Đêm đó, Học bị một tên mô phu hãm hiếp. Sáng hôm sau, Học dùng mác chém chết tên giám đốc đồn điền. Phu cạo mũ nổi loạn. Ba cha con ra bắc, gia nhập VNQDĐ. Đào văn Lật lúc này anh là ký giả ở Hà Nội, tham gia chung chi bộ với cha con Lộc nhưng phản đối vụ khởi nghĩa 1930. Để hiến đời cho cách mạng, Lật tự thiến mình sau khi làm tình với người yêu là Liên, một tiểu thư con quan ở Huế. Jacques bỏ nghề săn, làm thanh tra mật thám ở Hà Nội. Ba cha con Lộc tham gia cuộc tấn công Yên Bái, đồn binh mà Paul lúc này là trung úy đóng tại đó. Cuộc tấn công thất bại và sau khi ba cha con chém Paul suýt chết, Học bị bắt rồi bị lên máy chém với 12 liệt sĩ VNQDĐ tại Yên Bái. Lật bỏ VNQDĐ, lập hội kín riêng, rồi gặp Nguyễn Ái Quốc. Sau đó, Lật tham gia tỉnh ủy cộng sản Nghệ An, cùng với Lộc và Đồng tổ chức cuộc biểu tình của 30.000 nông dân trong vụ Sô Viết Nghệ Tỉnh. Pháp oanh tạc đoàn biểu tình tại Hưng Nguyên, Liên trúng bom chết, Lật và Lộc bị thương rồi bị bắt.

Phần Thứ Ba: Sông Hương (1936)

Hai anh em Tâm và Kim đi học Pháp học Luật trở về; Tâm là người cơ hội chủ nghĩa, Kim theo cộng sản. Joseph trở lại Sàigòn nghiên cứu lịch sử, hoàn tất luận án tiến sĩ. Anh gặp lại Paul lúc này là đại úy, chủ trương Pháp Việt đề huề và đang yêu Kiều Lan. Cha của Paul, Jacques, là Phó giám đốc Nha Liêm Phóng, công tác tại Huế. Sàigòn lúc này không khí chính trị khá thoải mái vì Mặt trận Bình dân lên cầm quyền ở Pháp. Trận tranh vô địch quần vợt giữa Kim và một nguòi Pháp tại Câu Lạc Bộ Thể thao đưa khán giả Pháp Việt tới ẩu đả. Joseph đưa Lan về nhà; hai người bắt đầu cảm mến nhau. Tối đó, Kim mắng chửi cha là tay sai cho Pháp, bị Hiếu đuổi khỏi nhà. Joseph đi đón Lộc từ Côn đảo được phóng thích, dò hỏi về cái chết của Chuck và để lộ tin Jacques đang ở Huế. Joseph ra Huế, cùng với Lan thăm lăng Minh Mạng, quan chiêm Lễ Tế Trời ở Nam Giao. Sáng đó, hai cha con Ngô văn Lộc âm mưu ám sát Jacques bên bờ sông Hương nhưng bất thành, Đồng bị bắt. Đêm đó, hai nguòi yêu nhau trong một con đò trên sông. Joseph đi Hà Nội nghiên cứu ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, dự tính xong việc sẽ cầu hôn và đem Lan đi Mỹ. Khi Joseph về lại Sàigòn, tới nhà Lan thì được tin Jacques vừa bị ám sát chết ở Huế và trước đó, Trần văn Hiếu nhận lời gã Lan cho Paul; Lan vì hiếu thảo và vì ảnh hưởng vụ Kim bỏ nhà ra đi, không phản đối.

Phần Thứ Tư: Chiến Tranh và Nạn Đói (1941-1945)

Joseph về Mỹ, lập gia đình với Tempe, có hai con trai là Gary và Mark. Sau vụ Nhật tấn công Trân Châu Cảng. Joseph nhập ngũ, làm phi công chiến đấu ở căn cứ Côn Minh. Cuối năm 1944, trong một lần oanh tạc tàu chiến Nhật tại Vịnh Bắc Việt, máy bay của Joseph trúng đạn, rồi rớt ở Việt Bắc, được cứu đem vào chăm sóc ở Pắc Bó. Tại đây, Joseph gặp lại Lật và cảm mến Hồ Chí Minh, lúc này đang tự nhận là người theo chủ nghĩa dân tộc. Sau khi cho du kích quân mang Joseph về Côn Minh, HCM sang thăm; gặp lúc Nhật đảo chánh ở Đông Dương và với sự giới thiệu của Joseph với tướng Chennault; được tặng ảnh, tặng súng. HCM cùng cán bộ Việt Minh ở Pắc Bó biến thành tổ tình báo cho OSS Hoa Nam. Joseph chuyển sang công tác cho OSS. Cuối tháng 7.1945, Joseph mang người và vũ khí sang Việt Bắc yễm trợ và huấn luyện cho VN, gặp Kim, Võ Nguyên Giáp. Nhật đầu hàng, HCM và VM về cướp chính quyền ở Hà Nội mang theo vũ khí của Mỹ. Kim làm trưởng đoàn VM vào Huế tiếp nhận lễ Thoái Vị của Bảo Đại. Vì tình hình Sàigòn, Joseph được điều vào đó và chứng kiến những tranh chấp của Pháp, VM và người Việt quốc gia. Joseph gặp lại Lan, được biết Lan có với Paul một con trai. Lan cho biết trước khi lấy Paul, nàng đã sinh Tuyết, đứa con thụ thai với Joseph trong đêm trên sông Hương và hiện gởi nuôi lén ở Nghệ An. Lộc lúc này là Ủy viên VM ở Sàigòn. Sau sáu tháng bị Nhật giam, Paul được người Anh phóng thích, và chấp hành lệnh, dẫn lính tấn công Tòa Thị chính vì không muốn người Việt tiến tới độc lập dân tộc theo lối cộng sản. Đêm đó Lộc trực. Lộc bị lính dù bắn chết, Paul bị thương nặng, phải lên Đà Lạt dưỡng thương. Joseph nhớ ra nạn đói ở bắc Trung kỳ, cùng Lan dùng xe jeep ra Nghệ An tìm được Tuyết suýt chết đói. Cả hai đem con về cho Tâm bí mật nuôi rồi chia tay.

Phần thứ năm: Điện Biên Phủ (1954)

Xảy ra chiến dịch Điện Biên Phú. Lật là chính ủy trong Bộ chỉ huy của Giáp. Đồng là tiểu đoàn trưởng VM. Paul là trung tá tham mưu trưởng, sau lên đại tá. Joseph là phóng viên chiến trường Đông Dương. Sau mấy lần lui tới Sàigòn, Joseph lén lút gặp Lan sau lưng Paul nhưng Lan vẫn thủ tiết với chồng. Joseph đi ĐBP làm phóng sự, gặp Paul, cứ muốn thú thật. Sau đó, Joseph gặp lại Lan ở Đà Lạt và hai người qua đêm tại khách sạn Langbian Palace. Trong một chuyến ghé lại ĐBP giữa tình trạng bị pháo tan nát, Joseph thú với Paul chuyện mình với Lan. Paul thịnh nộ sắp giết bạn nhưng rồi tha mạng. Cứ điểm ĐBP vỡ. Đồng giết Paul. Joepsh li di vợ ở Hongkong, dự tính cưới Lan đem về Mỹ. Ngay sáng hôm Lan hẹn trả lời dứt khoát, hai cha con đi tới khách sạn Continental gặp Joseph nhưng sắp đặt chân lên khách sạn thì Hiếu bị biệt động thành của VM ám sát, làm Lan chết lây, trước con mắt của Joseph. Tuyết lúc này 17 tuổi, học ở Marie-Curie, thường hận cha mẹ, không chịu theo Joseph đi Mỹ mà ở lại. Sau đó Tuyết bỏ nhà Tâm, kết hôn với một biệt động thành VM tên là Triệu Hùng Lương.

Phần Thứ Sáu: Thái Bình Kiểu Mỹ (1963)

Guy Sherman, đứa con Flavia thụ thai với Jacques Devraux, là nhân viên CIA tại sứ quán Mỹ. Gary, con của Joseph, nay là trung úy làm cố vấn Mỹ tại VN. Joseph làm Giáo sư tại Đại học Cornell ở New York. Đồng là tiểu đoàn trưởng Việt Cộng ở Mộc Linh. Tuyết, mà bây giờ là Tuyết-Lương, thù chồng bị cảnh sát Diệm và CIA sát hại, ám sát kẻ giết chồng mình rồi mang hai con là Trinh và Chương về quê mẹ chồng ở Long An rồi làm trung đội trưởng xung kích VC. Lật là ủy viên Bộ Chính trị Hà Nội được phái vào tiếp tay chỉ đạo MTGPMN. Trong một trận đánh ở Mộc Linh, Đồng cùng con trai bị tử trận, chỉ còn con út là Kiệt. Trận đó Gary sống sót, quen với Naomi, một phóng viên truyền hình BBC, đến công tác tại Sàigòn vì cha là một nam tước quân báo của Anh bị giết tại đó năm 1945. Xong trận, Tuyết gặp Đào văn Lật dưới địa đạo và được điều qua ngành điệp báo. Guy và Naomi thân mật và trao đổi tin tức trong các vụ đấu tranh của Phật giáo và vụ đảo chánh 1.11.1963 giết Diệm Nhu, nhưng nàng không trở thành tình nhân như Guy muốn vì cả hai khác nhau về bản chất.

Phần thứ bảy: Chúng tôi tranh đấu đã ngàn năm (1968-1969)

Gary lên đại úy và là một quân nhân gương mẫu, tiếp tục phục vụ tại VN. Guy vẫn là viên chức CIA tại sứ quán Mỹ. Naomi tiếp tục làm phóng viên truyền hình cho BBC. Mark, em của Gary, trung úy phi công tại Đà Nẵng, bị bắn rớt trong một chuyến oanh tạc miền bắc. Lật bị bắt và biệt giam tại bót Catinat Sài gòn vì không khai báo. Joseph nhận lời làm cố vấn cho JUSPAO, qua Sàigòn quen với Naomi và hai người yêu nhau. Joseph viết thư cho Hồ Chí Minh về trường hợp Mark. HCM và Kim nhân đó khai thác Mark, dụ dỗ đọc bản tự kiểm mà sau đó được phát trên đài Havana Cuba. Tâm làm phụ tá bộ trưởng thông tin cho chính phủ Sàigòn, chuyên làm giàu. Nhờ tin tức Guy cung cấp, Joseph đi Huế tìm Tuyết, gặp con gái trong đêm nổ súng Vụ Mậu Thân mà Tuyết làm tình báo thu thập danh sách quân công cán chính ở Huế. Joseph bị trúng đạn, Tuyết đem cha về ẩn núp trong con đò trên sông Hương. Cùng đêm đó, toán đặc công tấn công sứ quán Mỹ có Kiệt, cháu nội của Lộc. Kết quả, Kiệt và Guy cùng ôm nhau tử trận trong khuôn viên sứ quán; trong người Kiệt vẫn quấn dãi băng cờ VNQDĐ do cha trối lại. Cuộc Tổng Tấn Công thất bại, Tuyết vì cứu Joseph, bị bộ đội Hà Nội hãm hiếp; sau đó, thất vọng thấy “thảm sát Mậu Thân”, và không muốn theo Joseph về Mỹ, Tuyết dẫn hai con ra bắc, nương nhờ cậu Kim. Joseph sang Anh thành hôn với Naomi, viết một cuốn sách phản chiến nổi tiếng và tranh luận với TNS Nathaniel trên đài truyền hình BBC. Gary chết vì đạp trúng mìn khi xông vào can thiệp việc lính Mỹ bắn giết bừa bãi và hãm hiếp phụ nữ tại Quảng Tơ, Quảng Ngãi. Mark được thả, sống trì độn, cùng với Tempe, Joseph, tham gia cuộc biểu tình phản chiến lớn nhất ở Washington. Đêm đó, Nathaniel qua đời, chết trong bất hòa với Joseph và vẫn khăng khăng nói Chuck bị con min ở An Nam húc chết là vì không nghe lời ông.

Phần thứ tám: Chiến thắng và Chiến bại (1972-1975)

Tuyết ra bắc, chỉ chịu làm công nhân, sống héo hắt với hai con ở Hà Nội. Tháng 12-1972, trong cuộc không tập trước lễ Giáng sinh, Tuyết bị trúng bom chết với Chương, chỉ còn lại Trinh. Hiệp định Paris được ký kết, Trần văn Kim gặp lại Joseph và Trần văn Tâm ở Paris. Tới tháng 4.1975, miền nam sắp thất thủ. Naomi đi Sàigòn làm phóng sự lần cuối. Trần Văn Kim ở Hà Nội bị Đảng thanh trừng, gài cho lật xe chết, lấy cớ vì Kim gặp Tâm nhưng thật ra vì Kim là nguòi miền nam, đảng muốn dọn đường để thống trị cả nước. Trước khi đi chết, Kim chuẩn bị cho Trinh theo cán bộ tiếp quản vào nam để tìm cách liên lạc với Joseph. Qua một phóng viên Tây ở Hà Nội, Naomi biết chuyện Trinh và Joseph bay qua Sàigòn tìm cháu ngoại. Tại đây, hai vợ chồng chứng kến những đột biến chính trị, sự dàn xếp của Hoa Kỳ và Hà Nội trong cơn hấp hối của Sàigòn, các hoạt cảnh di tản hãi hùng. Tâm cho vợ con và tài sản đi trước qua Thái Lan, rồi di tản theo trực thăng Mỹ vì từng cộng tác với CIA. Lật là người biết quá nhiều nên trong đêm 29.4, thay vì được phóng thích như ba trăm tù nhân chính trị khác, anh bị CIA cho lên trực thăng, trên đường di tản ra Hạm đội Bảy thì đạp Lật xuống biển. Cuối cùng, qua nhiều gian nan và gay cấn, Joseph tìm được Trinh lúc 3 giờ sáng ngày 30.4 ở gần Biên Hòa, kịp thời đem cháu ra khỏi VN trên chuyến trực thăng sau cùng rời sứ quán Mỹ.



RFA Phát trong Chương trình 11:00 tối, ngày 14.8.2004
http://www.ducavn.com/duca_files/GioiThieu/TrangHuyet.htm

Đăng nhập để trả lời
0