| |
Đăng nhập với tên: | |
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 6.11.2009 11:23:42
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 2 Phẩm Tu Di sơn đảnh kệ tán Thứ mười bốn Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, từ ngoài trăm phật sát vi trần số quốc độ, mười phương đều có một đại Bồ Tát, mỗi vị đều cùng một phật sát vi trần số Bồ Tát đồng vân tập đến. Mười đại Bồ Tát là: Pháp Huệ Bồ Tát, Nhứt Thiết Huệ Bồ Tát, Thắng Huệ Bồ Tát, Công Đức Huệ Bồ Tát, Tinh Tấn Huệ Bồ Tát, Thiện Huệ Bồ Tát, Trí Huệ Bồ Tát, Chơn Thiệt Huệ Bồ Tát, Vô Thượng Huệ Bồ Tát, Kiên Cố Huệ Bồ Tát. Cõi nước của các ngài theo thứ tự là: Nhơn Đà La Hoa thế giới, Ba Đầu Ma Hoa thế giới, Bửu Hoa thế giới, Ưu Bát La Hoa thế giới, Kim Cang Hoa thế giới, Diệu Hương Hoa thế giới, Duyệt Ý Hoa thế giới, A Lô Hoa thế giới, Na La Đà Hoa thế giới, Hư Không Hoa thế giới. Chư Phật ngự trị nơi đó theo thứ tự là: Thù Đặc Nguyệt Phật, Vô Tận Nguyệt Phật, Bất Động Nguyệt Phật, Phong Nguyệt Phật, Thủy Nguyệt Phật, Giải Thoát Nguyệt Phật, Vô Thượng Nguyệt Phật, Tinh Tú Nguyệt Phật, Thanh Tịnh Nguyệt Phật, Minh Liễu Nguyệt Phật. Chư Bồ Tát này đến đảnh lễ chân Phật, rồi tùy phương đến, đều riêng hóa hiện tòa sư tử Tỳ lô giá na tạng mà ngồi kiết già trên đó. Như chư Bồ Tát vân tập đến đảnh núi Tu Di nơi thế giới này, thập phương thế giới cũng đều như thế cả, đều danh hiệu, quốc độ và chư Phật cũng đundefinedng. Lúc đó đức Thế Tôn, từ nơi các ngón của hai chân phóng trăm ngàn ức quang minh màu đẹp chiếu khắp trong cung của Đế Thích ở mười phương thế giới, Phật và đại chúng đều hiển hiện cả. Pháp Huệ Bồ Tát thừa oai thần của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Phật phóng tịnh quang minh Thấy khắp tất cả Phật Đảnh núi Tu Di Vương Ở trong điện Diệu Thắng. Tất cả Thiên Đế Thích Thỉnh Phật vào cung điện Đều nói mười kệ hay Ca ngợi chư Như Lai. Trong các đại hội ấy Bao nhiêu chúng Bồ Tát Đều từ mười phương đến Hóa tòa mà an tọa. Bồ Tát trong hội đó Danh hiệu đồng chúng tôi, Những cõi từ đó đến Danh tự cũng vẫn đồng; Bổn quốc chư Như Lai Hồng danh đều cũng đồng, Bồ Tát nơi bổn Phật Tịnh tu hạnh vô thượng. Đại chúng nên quan sát Như Lai tự tại lực Tất cả Diêm Phù Đề Đều nói Phật tại đấy. Chúng tinh tấn nay thấy Phật Trụ nơi đảnh Tu Di Thập phương cũng như vậy Như Lai tự tại lực. Trong mỗi mỗi thế giới Phát tâm cầu Phật đạo Nương nơi nguyện như vậy Tu tập hạnh bồ đề. Phật dùng nhiều thân hình Du hành khắp thế gian Pháp giới không chướng ngại Không ai trắc lượng được. Huệ quang hằng chiếu khắp Đời tối đều trừ diệt, Tất cả không sánh bằng Thế nào lường biết được! Nhứt Thiết Huệ Bồ Tát, thừa oai lực của đức Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Giả sử trăm ngàn kiếp Thường thấy đức Như Lai Chẳng y chân thật nghĩa Mà quán đấng Cừu Thế, Người này chấp lấy tướng Thêm lớn lưới mê lầm Giam trói ngục sanh tử Đui mù, chẳng thấy Phật. Quan sát nơi các pháp Đều không có tự tánh Tướng nó, vốn sanh diệt Chỉ là danh thuyết giả. Tất cả pháp vô sanh Tất cả pháp vô diệt Nếu hiểu được như vậy Chư Phật thường hiện tiền. Pháp tánh vốn không tịch Vô thủ, cũng vô kiến Tánh không, tức là Phật Chẳng thể nghĩ lường được. Nếu biết tất cả pháp Thể tánh đều như vậy Người này thời chẳng bị Phiền não làm nhiễm trước. Phàm phu thấy các pháp Chỉ chuyển theo tướng giả Chẳng rõ pháp vô tướng Do đây chẳng thấy Phật. Đức Phật lìa ba thời Các tướng đều đầy đủ Trụ nơi vô sở trụ Cùng khắp mà bất động Tôi quán tất cả pháp Thảy đều được rõ ràng Nay thấy đức Như Lai Quyết định không nghi ngờ. Pháp Huệ trước đã nói Như Lai chơn thiệt tánh, Tôi từ đó rõ biết Bồ đề khó nghĩ bàn. Thắng Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Như Lai đại trí huệ Hi hữu không sánh bằng Tất cả những thế gian Tư duy chẳng đến được. Phàm phu vọng quan sát Chấp tướng chẳng đúng lý Phật lìa tất cả tướng Chẳng phải họ biết được. Kẻ vô trí mê lầm Vọng chấp tướng ngũ uẩn Chẳng biết chơn tánh kia Người này chẳng thấy Phật. Rõ biết tất cả pháp Đều không có tự tánh Hiểu pháp tánh như vậy Thời thấy Lô Xá Na. Vì do tiền ngũ uẩn Có hậu uẩn tương tục Rõ biết nơi tánh này Thấy Phật khó nghĩ bàn. Ví như báu trong tối Không đèn thời chẳng thấy Phật pháp không người nói Dầu huệ chẳng biết được. Cũng như mắt bị lòa Chẳng thấy màu xinh đẹp Như vậy tâm bất tịnh Chẳng thấy các Phật pháp. Lại như mặt trời sáng Kẻ mù không thấy được Tâm không có trí huệ Trọn chẳng thấy chư Phật. Nếu chữa hết bịnh lòa Bỏ lìa lòng tưởng sắc Chẳng thấy nơi các pháp Thời thấy được Như Lai. Nhứt Thiết Huệ đã nói Chư Phật bồ đề pháp Tôi nghe lời ngài nói Được thấy Lô Xá Na. Công Đức Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Các pháp không chơn thật Vọng chấp là chơn thật Cho nên các phàm phu Luân hồi ngục sanh tử. Nơi ngôn từ thuyết pháp Tiểu trí vọng phân biệt Vì thế sanh chướng ngại Chẳng rõ được tự tâm. Chẳng rõ được tự tâm Đâu biết được chánh đạo Họ do huệ điên đảo Thêm lớn mọi điều ác. Chẳng thấy các pháp không Hằng thọ khổ sanh tử Người này chưa có được Pháp nhãn thanh tịnh vậy. Xưa kia tôi thọ khổ Vì tôi chẳng thấy Phật, Nên phải tịnh pháp nhãn Xem kia chỗ đáng thấy. Nếu được thấy nơi Phật Thời tâm không chấp lấy Người này thời thấy được Pháp của Phật đã biết. Nếu thấy Phật chơn pháp Thời gọi bậc đại trí Người này có tịnh nhãn Hay quan sát thế gian. Không thấy chính là thấy Hay thấy tất cả pháp Nơi pháp nếu có thấy Đây thời là không thấy. Tất cả các pháp tánh Không sanh cũng không diệt Lạ thay đấng Đạo Sư Tự giác hay giác tha. Ngài Thắng Huệ đã nói Pháp của Như Lai ngộ Chúng tôi nghe ngài nói Biết được Phật chơn tánh. Tinh Tấn Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Nếu trụ nơi phân biệt Thời hư thanh tịnh nhãn Thêm ngu si, tà kiến Trọn chẳng thấy được Phật. Nếu rõ được tà pháp Như thiệt chẳng điên đảo, Biết vọng vốn tự chơn Thấy Phật thời thanh tịnh. Có thấy, thời là nhơ Đây thời chưa phải thấy Xa lìa các kiến chấp Như vậy mới thấy Phật. Pháp ngôn ngữ thế gian Chúng sanh vọng phân biệt Biết thế đều vô sanh Mới là thấy thế gian. Nếu thấy "thấy thế gian" "Thấy" là tướng thế gian Như thiệt đồng không khác Đây gọi người chơn kiến. Nếu thấy đồng không khác Nơi vật chẳng phân biệt Thấy này lìa phiền não Vô lậu được tự tại. Chỗ chư Phật khai thị Tất cả pháp phân biệt Đây đều chẳng thể được Vì pháp tánh thanh tịnh. Pháp tánh vốn thanh tịnh Vô tướng như hư không Tất cả không năng thuyết Người trí quán như vậy. Xa lìa nơi pháp tưởng Chẳng thích tất cả pháp Đây cũng không chỗ tu Thấy được Đại Mâu Ni. Như ngài Đức Huệ nói Đây gọi là thấy Phật. Chỗ có tất cả hạnh Thể tánh đều tịch diệt. Lúc đó, Thiện Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Hi hữu đại dũng kiện Vô lượng chư Như Lai Ly cấu tâm giải thoát Tự độ hay độ người. Tôi thấy thế gian đăng Như thật chẳng điên đảo Như trong vô lượng kiếp Bậc đủ trí chỗ thấy. Tất cả hạnh phàm phu Đều mau về diệt tận Tánh nó như hư không Nên nói là vô tận. Người trí nói vô tận Đây cũng không chỗ nói. Vì tự tánh vô tận Được có nan tư tận. Trong chỗ nói vô tận Không chúng sanh được có Biết chúng tánh như vậy Thời thấy Đại Danh Xưng. Không thấy nói là thấy Vô sanh nói chúng sanh Hoặc thấy, hoặc chúng sanh Rõ biết không thể tánh. Năng kiến cùng sở kiến Kiến giả đều khiển trừ, Chẳng hoại nơi chơn pháp Người này rõ biết Phật. Nếu người rõ biết Phật Và pháp của Phật nói Thời hay chiếu thế gian Như Phật Lô Giá Na. Chánh giác khéo khai thị Đạo một pháp thanh tịnh, Đại Sĩ tinh tấn huệ, Diễn nói vô lượng pháp. Hoặc có hoặc không có Tưởng niệm này đều trừ Như thế thấy được Phật An trụ nơi thiệt tế. Lúc đó, Trí Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Tôi nghe pháp tối thắng Liền sanh trí huệ quang Chiếu khắp mười phương cõi Đều thấy tất cả Phật. Trong đây không chút vật Chỉ có danh tự giả Nếu cấp có ngã nhân Thời là vào đường hiểm. Những phàm phu chấp trước Chấp thân là thiệt có Phật chẳng phải sở thủ Họ trọn chẳng thấy được. Người này không huệ nhãn Chẳng thể thấy được Phật Ở trong vô lượng kiếp Lưu chuyển biển sanh tử. Hữu tránh nói sanh tử Vô tránh là niết bàn Sanh tử và niết bàn Cả hai chẳng nói được. Nếu theo danh tự giả Chấp lấy hai pháp này Người này không đúng thật Chẳng biết Phật diệu đạo. Nếu móng tưởng như vầy: "Đây Phật, đây tối thắng" Điên đảo chẳng phải thật Chẳng thấy được Chánh Giác. Biết được thật thể này Tướng chơn như tịch diệt Thời thấy đấng Chánh Giác Vượt khỏi đường ngữ ngôn. Ngôn ngữ nói các pháp Chẳng hiển được thiệt tướng Bình đẳng mới thấy được Như Pháp, Phật cũng vậy. Thời quá khứ chư Phật Vị lai và hiện tại Dứt hẳn gốc phân biệt Thế nên gọi là Phật. Chơn Thật Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Thà thọ khổ địa ngục Được nghe hồng danh Phật Chẳng thích vô lượng vui Mà chẳng nghe danh Phật. Sở dĩ nơi thời xưa Chịu khổ vô số kiếp Lưu chuyển trong sanh tử Vì chẳng nghe danh Phật. Với pháp chẳng điên đảo Mà hiện chứng như thật Lìa các tướng hòa hiệp Gọi là Vô Thượng Giác. Hiện chẳng phải hòa hiệp Khứ, lai cũng như vậy Tất cả pháp vô tướng Đây là chơn thể Phật. Nếu quán được như vậy Các pháp nghĩa thậm thâm Thời thấy tướng chơn thật Pháp thân của chư Phật. Nơi thật thấy chơn thật Chẳng thật thấy chẳng thật Hiểu rốt ráo như vậy Cho nên gọi là Phật. Phật pháp chẳng giác được Rõ đây gọi "giác pháp" Chư Phật tu như vậy Một pháp bất khả đắc. Biết do một nên nhiều Biết do nhiều nên một Các pháp không chỗ tựa Chỉ do hòa hiệp khởi. Không năng tác, sở tác Chỉ từ nghiệp tưởng sanh Tại sao biết như vậy Vì khác đây không có. Tất cả pháp vô trụ Định xứ bất khả đắc Chư Phật trụ nơi đây Rốt ráo không dao động. Vô Thượng Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Đấng đại thừa vô thượng Xa lìa tưởng chúng sanh Không có ai hơn được Nên hiệu là Vô Thượng. Chỗ chư Phật đã được Vô tác, vô phân biệt Thô thần thông vô sở hữu Vi tế cũng như vậy. Cảnh chư Phật sở hành Trong đó không có số Là chơn pháp của Phật. Như Lai quang chiếu khắp Diệt trừ những tối tăm Quang này chẳng có chiếu Cũng chẳng phải không chiếu. Nơi pháp không chỗ chấp Không niệm cũng không nhiễm Không trụ không xứ sở Chẳng hoại nơi pháp tánh. Trong đây không có hai Cũng lại không có một Bậc đại trí thấy đúng Khéo an trụ thật lý. Trong không, không có hai Không hai cũng như vậy Tam giới tất cả không Là chỗ thấy chư Phật. Phàm phu không hay biết Phật khiến trụ chánh pháp Các pháp vô sở trụ Ngộ đây thấy tự thân. Chẳng thân mà nói thân Chẳng khởi mà hiện khởi Không thân cũng không thấy Là Phật thân vô thượng. Như ngài Thật Huệ nói Chư Phật diệu pháp tánh Nếu người nghe pháp này Sẽ được thanh tịnh nhãn. Lúc đó, Kiên Cố Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Vĩ đại! Quang minh lớn Bậc vô thượng dũng kiện Vì lợi ích quần sanh Mà xuất hiện thế gian. Phật dùng tâm đại bi Quan sát khắp chúng sanh Thấy ở trong ba cõi Luân hồi thọ nhiều khổ. Chỉ trừ đấng Chánh Giác Đấng Đạo Sư đủ sức Tất cả các trời người Không ai cứu hộ được. Nếu chư Phật Bồ Tát Chẳng xuất hiện thế gian Thời không một chúng sanh Có thể được an lạc. Như Lai đẳng chánh giác Và các chúng Thánh Hiền Xuất hiện ở thế gian Cho chúng sanh được vui. Nếu ai thấy Như Lai Vì được lợi hành lớn Nghe hiệu Phật sanh tin Thời là tháp thế gian. Chúng tôi thấy Như Lai Vì được lợi ích lớn Nghe diệu pháp như vậy Đều sẽ thành Phật đạo. Chư Bồ Tát quá khứ Do thần lực của Phật Được huệ nhãn thanh tịnh Rõ cảnh giới chư Phật. Nay thấy Lô Xá Na Càng thêm thanh tịnh tính Phật trí không ngằn mé Diễn thuyết chẳng thể hết. Thắng Huệ Bồ Tát thảy Và tôi Kiên Cố Huệ Trong vô số ức kiếp Cũng nói chẳng thể hết.
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 6.11.2009 13:08:28
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 2 Phẩm Thập trụ Thứ mười lăm Lúc bấy giờ Pháp Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, nhập Bồ Tát vô lượng phương tiện tam muội. Do sức tam muội, ngoài ngàn phật sát vi trần số thế giới ở mười phương, có ngàn phật sát vi trần số Phật đều đồng hiệu là Pháp Huệ và đồng hiện đến bảo Pháp Huệ Bồ Tát rằng: "Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông hay nhập Bồ Tát vô lượng phương tiện tam muội này. Thiện nam tử! Trong mười phương, ở mỗi phương đều có ngàn phật sát vi trần số chư Phật đều dùng thần lực đồng gia hộ ông. Lại nguyện lực và thần lực của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai đây, cùng năng lực thiện căn của ông đã tu, nhập tam muội này, khiến ông thuyết pháp, vì để tăng trưởng Phật trí, vì thâm nhập pháp giới, vì khéo rõ chúng sanh giới, vì sở nhập vô ngại, vì sở hành vô chướng, vì được vô đẳng phương tiện, vì nhập nhứt thiết trí tánh, vì giác tất cả pháp, vì biết tất cả căn, vì hay thọ trì diễn thuyết tất cả pháp: chính là phát khởi mười bậc trụ của Bồ Tát. Thiện nam tử! Ông nên thừa thần lực của Phật mà diễn thuyết pháp thập trụ ấy!" Lúc đó, chư Phật liền ban cho Pháp Huệ Bồ Tát trí vô ngại, trí vô trước, trí vô đoạn, trí vô si, trí vô dị, trí vô thất, trí vô lượng, trí vô thắng, trí vô giải đãi, trí vô đoạt. Tại sao vậy? Vì năng lực của tam muội này pháp nhĩ như vậy. Chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh của Pháp Huệ Bồ Tát. Pháp Huệ Bồ Tát liền xuất định nói với chư Bồ Tát rằng: "Chư Phật tử! Trụ xứ của Bồ Tát rộng lớn đồng với hư không giới. Phật tử! Bồ Tát trụ nơi nhà tam thế chư Phật. Nay tôi sẽ nói về chỗ trụ của Bồ Tát ấy. Chư Phật tử! Chỗ trụ của Bồ Tát có mười bậc mà tam thế chư Phật đã nói, sẽ nói và hiện đương nói. Đây là mười bậc trụ: Sơ phát tâm trụ, Trị địa trụ, Tu hành trụ, Sanh quý trụ, Cụ túc phương tiện trụ, Chánh tâm trụ, Bất thối trụ, Đồng chơn trụ, Pháp vương tử trụ, Quán đảnh trụ. Chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát phát tâm trụ? Vị Bồ Tát này thấy Phật hình dung đoan nghiêm xinh đẹp có oai lực lớn, hoặc thấy thần túc, hoặc nghe thọ ký, hoặc nghe giảng dạy, hoặc thấy chúng sanh chịu những sự quá khổ, hoặc nghe Phật pháp rộng lớn của Như Lai mà phát bồ đề tâm, cầu nhứt thiết trí. Vị Bồ Tát này duyên mười pháp khó được mà phát tâm. Đây là mười pháp khó được: Trí biết rõ thị xứ phi xứ, trí biết rõ thiện ác nghiệp báo, trí biết rõ căn tánh thắng diệt, trí biết rõ các loại trí giải sai biệt, trí biết rõ các cảnh giới sai biệt, trí biết rõ tất cả chí xứ đạo, trí biết rõ các thiền giải thoát tam muội, trí túc mạng vô ngại, trí thiên nhãn vô ngại, trí tam thế lậu tận. Chư Phật tử! Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp. Đây là mười pháp: Siêng cúng dường Phật, thích ở sanh tử, chủ trương dìu dắt thế gian khiến trừ ác nghiệp, thường đem pháp thắng diệu dạy bảo, ca ngợi pháp vô thượng, học công đức của Phật, sanh ở trước Phật luôn được nhiếp thọ, phương tiện diễn nói tam muội tịch tịnh, ngợi khen xa lìa sanh tử luân hồi, làm chỗ quy y cho chúng sanh đang bị khổ. Vì sao phải khuyên học mười pháp này. Vì muốn vị Bồ Tát này, ở trong Phật pháp, tâm thêm rộng lớn, có nghe được pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy. Chư Phật tử! Thế nào là bậc Bồ Tát trị địa trụ? Vị Bồ Tát này đối với chúng sanh phát mười thứ tâm: Tâm lợi ích, tâm đại bi, tâm an lạc, tâm an trụ, tâm lân mẫn, tâm nhiếp thọ, tâm thủ hộ, tâm đồng với mình, tâm làm thầy, tâm làm đạo sư. Chư Phật tử! Nên khuyên vị Bồ Tát này học mười thứ pháp: Tụng tập học rộng, rảnh rang tịch tịnh, gần thiện tri thức, nói lời hòa vui, nói tất biết thời, lòng không khiếp sợ, rõ thấu các nghĩa, tu hành đúng pháp, xa lìa ngu mê, an trụ bất động. Do học mười pháp trên đây. Vị Bồ Tát này đối với chúng sanh thêm lớn đại bi, có được nghe pháp liền tự hiểu chẳng do người khác dạy. Chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát tự tại hành trụ? Vị Bồ Tát này dùng mười hạnh để quan sát tất cả pháp: Quán tất cả pháp vô thường, tất cả pháp khổ, tất cả pháp không, tất cả pháp vô ngã, tất cả pháp vô tác, tất cả pháp vô vị, tất cả pháp bất như danh, tất cả pháp vô xứ sở, tất cả pháp rời phân biệt, tất cả pháp không kiên thiệt. Chư Phật tử! Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp: Quan sát chúng sanh giới, pháp giới, thế giới, quan sát địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, quan sát dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Vì muốn vị Bồ Tát này được trí huệ sáng tỏ, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy. Chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát sanh quý trụ? Vị Bồ Tát này từ thánh giáo sanh, thành tựu mười pháp: Trọn chẳng thối chuyển nơi Phật đạo, sanh lòng tin sâu thanh tịnh, khéo quan sát pháp, rõ biết chúng sanh, quốc độ, thế giới, nghiệp hạnh, quả báo, sanh tử, niết bàn. Chư Phật tử! Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp: Rõ biết tất cả Phật pháp thời quá khứ, thời vị lai, thời hiện tại; tu tập tất cả Phật pháp thời quá khứ, vị lai, hiện tại; viên mãn tất cả Phật pháp quá khứ, vị lai, hiện tại; biết rõ tất cả Phật bình đẳng. Đây là vì muốn cho vị Bồ Tát này được thăng tiến, nơi trong tam thế tâm được bình đẳng, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy. Chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát cụ túc phương tiện trụ? Vị Bồ Tát này trọn đủ mười pháp: Căn lành tu tập đều vì cứu hộ tất cả chúng sanh, lợi ích tất cả chúng sanh, an lạc tất cả chúng sanh, ai mẫn tất cả chúng sanh, độ thoát tất cả chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh lìa những tai nạn, khiến tất cả chúng sanh thoát khổ sanh tử, khiến tất cả chúng sanh phát sanh tịnh tín, khiến tất cả chúng sanh đều được điều phục, khiến tất cả chúng sanh đều chứng niết bàn. Chư Phật tử! Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp: Biết chúng sanh vô biên, vô lượng vô số, biết chúng sanh bất tư nghị, vô lượng sắc, bất khả lượng, biết chúng sanh không, vô sở tác, vô sở hữu, vô tự tánh. Vì muốn vị Bồ Tát này, tâm lại càng tăng thắng hơn không bị nhiễm trước, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy. Chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát chánh tâm trụ? Vị Bồ Tát này nghe mười pháp tâm định chẳng động: Nghe khen Phật hay chê Phật, đối với Phật pháp tâm định chẳng động. Nghe khen pháp hay chê pháp, đối với Phật pháp tâm định chẳng động. Nghe khen Bồ Tát hay chê Bồ Tát, đối với Phật pháp tâm định chẳng động. Nghe khen hay chê công hạnh của vị Bồ Tát, đối với Phật pháp tâm định chẳng động. Nghe nói chúng sanh hữu lượng hay vô lượng, đối với Phật pháp tâm định chẳng động. Nghe nói chúng sanh hữu cấu hay vô cấu, đối với Phật pháp tâm định chẳng động. Nghe nói chúng sanh dễ độ hay khó độ, đối với Phật pháp tâm định chẳng động. Nghe nói pháp giới hữu lượng hay vô lượng, đối với Phật pháp tâm định chẳng động. Nghe nói pháp giới có thành có hoại, đối với Phật pháp tâm định chẳng động. Nghe nói Phật pháp hoặc có hoặc không, đối với Phật pháp tâm định chẳng động. Chư Phật tử! Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp: Tất cả pháp vô tướng, tất cả pháp vô thể, tất cả pháp chẳng thể tự tại, tất cả pháp vô sở hữu, tất cả pháp không chơn thiệt, tất cả pháp không, tất cả pháp vô tánh, tất cả pháp như huyễn, tất cả pháp như mộng, tất cả pháp vô phân biệt. Vì muốn vị Bồ Tát này tâm lại càng thêm tăng tiến được chẳng thối chuyển vô sanh pháp nhãn. Có được nghe pháp liền tự hiểu chẳng do người khác dạy. Chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát bất thối trụ? Vị Bồ Tát này nghe mười pháp kiên cố bất thối: Nghe có Phật hay không có Phật, nghe có pháp hay không có pháp, nghe có Bồ Tát hay không có Bồ Tát, nghe có Bồ Tát hạnh hay không Bồ Tát hạnh, nghe có Bồ Tát tu hành được xuất ly hay chẳng xuất ly, nghe quá khứ có Phât hay không Phật, nghe vị lai có Phật hay không Phật, nghe hiện tại có Phật hay không Phật, nghe Phật trí hữu tận hay vô tận, nghe tam thế là một tướng hay chẳng phải một tướng, đối với trong Phật pháp tâm đều chẳng thối chuyển cả. Chư Phật tử! Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp quảng đại: Nói một chính là nhiều, nói nhiều chính là một; văn tùy nơi nghĩa, nghĩa tùy nơi văn, chẳng có chính là có, có chính là chẳng phải có, vô tướng chính là tướng, tướng chính là vô tướng, vô tánh chính là tánh, tánh chính là vô tánh. Vì muốn khiến vị Bồ Tát này tăng tiến, nơi tất cả pháp khéo hay xuất ly, có được nghe pháp liền tự hiểu chẳng do người khác dạy. Chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát đồng chơn trụ? Vị Bồ Tát này trụ mười hạnh nghiệp: Thân hạnh không lỗi, ngữ hạnh không lỗi, ý hạnh không lỗi, tùy ý thọ sanh, biết chúng sanh các thứ dục, biết chúng sanh các thứ trí giải, biết chúng sanh các thứ cảnh giới, biết chúng sanh các thứ nghiệp, biết thế giới thành hoại, thần túc tự tại vô ngại. Chư Phật tử! Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp: Biết tất cả phật sát, động tất cả phật sát, trì tất cả phật sát, quán tất cả phật sát, đến tất cả phật sát, du hành vô số thế giới, lãnh thọ vô số Phật pháp, hiện thân biến hóa tự tại, nói ra tiếng quảng đại biến mãn, trong một sát na thừa sự cúng dường vô số Phật. Vì muốn vị Bồ Tát này tăng tiến, hay được thiện xảo đối với tất cả pháp, có được nghe pháp liền tự hiểu chẳng do người khác dạy. Chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát pháp vương tử trụ? Vị Bồ Tát này khéo biết mười pháp: Khéo biết chúng sanh thọ sanh, khéo biết phiền não hiện khởi, khéo biết tập khí tương tục, khéo biết chỗ làm phương tiện, khéo biết vô lượng pháp, khéo biết các oai nghi, khéo biết thế giới sai biệt, khéo biết những việc của thế gian trước thế gian sau, khéo biết diễn thuyết đệ nhứt nghĩa. Chư Phật tử! Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp: Pháp vương xứ thiện xảo, pháp vương xứ quỷ độ, pháp vương xứ cung điện, pháp vương xứ thu nhập, pháp vương xứ quan sát, pháp vương xứ quán đảnh, pháp vương lực trì, pháp vương vô uý, pháp vương minh tẩm, pháp vương tán thán. Vì muốn khiến vị Bồ Tát này tăng tiến tâm không chướng ngại, có được nghe pháp liền tự hiểu chẳng do người khác dạy. Chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát quán đảnh trụ? Vị Bồ Tát này được thành tựu mười thứ trí: Chấn động vô số thế giới, chiếu diệu vô số thế giới, trụ trì vô số thế giới, qua đến vô số thế giới, nghiêm tịnh vô số thế giới, khai thị vô số chúng sanh, quan sát vô số chúng sanh, biết căn tánh của vô số chúng sanh, khiến vô số chúng sanh thu nhập, khiến vô số chúng sanh điều phục. Vị Bồ Tát này thân và thân nghiệp, thần thông biến hiện, quá khứ trí, vị lai trí, thành tựu Phật độ tâm cảnh giới, trí cảnh giới, tất cả đều chẳng thể biết được, nhẫn đến Pháp Vương Tử Bồ Tát cũng chẳng biết được. Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười thứ trí của Như Lai: Tam thế trí, Phật pháp trí, pháp giới vô ngại trí, Phật giới vô biên trí, sung mãn nhứt thiết thế giới trí, phổ chiếu nhứt thiết thế giới trí, trụ trì nhứt thiết thế giới trí, tri nhứt thiết chúng sanh trí, tri nhứt thiết pháp trí, tri vô biên chư Phật trí. Vì muốn khiến vị Bồ Tát này tăng trưởng nhứt thiết chủng trí, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy." Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật trong mười phương, mỗi phương đều một vạn phật sát vi trần số thế giới sáu thứ chấn động. Mưa thiên hoa, tràng hoa, thiên mạt hương, thiên tạp hương, thiên bửu y, thiên bửu vân, thiên trang nghiêm cụ. Những kỷ nhạc trời tự nhiên hòa tấu. Phóng thiên quang minh và âm thinh vi diệu. Như ở thế giới này, thập phương thế giới, nơi điện Thiên Đế Thích nói pháp thập trụ và hiện thần biến cũng như vậy cả. Lại do thần lực của Phật, mười phương đều có một vạn phật sát vi trần số Bồ Tát đến nơi đây và đồng nói rằng: "Lành thay! Lành thay! Này Phật tử! Ngài khéo nói pháp này. Chúng tôi đồng tên Pháp Huệ, quốc độ đồng hiệu Pháp Vân, Như Lai ở các cõi đó đều hiệu Diệu Pháp. Nơi pháp hội của Thế Tôn, chúng tôi cũng giảng thuyết thập trụ, câu văn nghĩa lý và chúng hội quyến thuộc cũng đồng như nơi đây, không có tăng giảm. Chúng tôi thừa thần lực của đức Phật mà đến nơi pháp hội này để chứng minh." Lúc đó, Pháp Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương khắp cùng pháp giới, rồi nói kệ rằng: Thấy thân vi diệu đấng Thắng Trí Tướng hảo đoan nghiêm đều đầy đủ Tôn trọng như vậy rất khó gặp Bồ Tát dũng mãnh sơ phát tâm. Thấy đại thần thông không ai bằng Nghe lời thọ ký và dạy bảo Các loài chúng sanh khổ vô lượng Do đây Bồ Tát sơ phát tâm. Nghe chư Như Lai đấng Phổ Thắng Tất cả công đức đều thành tựu Ví như hư không chẳng phân biệt Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Tam thế nhân quả gọi là xứ Tự tánh chúng ta là phi xứ Muốn đều rõ biết nghĩa chân thật Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Tất cả hữu vi các hạnh đạo Mỗi mỗi đều có chỗ nơi đến Đều muốn rõ biết thể tánh đó Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Tất cả thế giới các chúng sanh Tùy nghiệp trôi lăn không tạm dứt Muốn được thiên nhãn đều thấy rõ Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Trong đời quá khứ đã từng có Thể tánh như vậy, tướng như vậy Muốn đều rõ biết túc trụ kia Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Tất cả chúng sanh những phiền não Tương tục, hiện khởi, và tập khí Muốn đều rõ biết rốt ráo hết Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Tùy những chúng sanh chỗ an lập Các môn đàm luận đường ngữ ngôn Như thế đế đó đều muốn biết Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Tất cả các pháp lìa ngôn thuyết Tánh không tịch diệt vốn vô tác Muốn đều rõ thấu chơn nghĩa này Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Muốn đều chấn động mười phương cõi Nghiên úp tất cả những đại hải Đầy đủ chư Phật đại thần thông Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Muốn một chân lông phóng quang minh Chiếu khắp mười phương vô lượng cõi Trong mỗi quang minh giác tất cả Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Muốn đem nan tư vô lượng cõi Để trong bàn tay mà chẳng động Rõ biết tất cả như huyễn hóa Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Muốn dùng một lông chấm nước biển Tất cả đại hải đều làm cạn Mà đều phân biệt biết số kia Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Quá khứ vị lai vô lượng kiếp Tất cả thế gian tướng thành hoại Đều muốn thấu rõ cùng biên tế Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Tam thế tất cả chư Như Lai Tất cả Độc Giác và Thanh Văn Muốn biết hết cả những pháp đó Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Vô lượng vô biên các thế giới Muốn dùng một lông đều cân nổi Như thể tướng kia đều biết rõ Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Vô lượng vô số luân vi sơn Muốn khiến đều vào trong chân lông Lớn nhỏ của kia đều biết rõ Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Muốn dùng một diệu âm tịch tịnh Khắp ứng mười phương tùy loại diễn Như vậy đều khiến sáng sạch rõ Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Ngôn ngữ của tất cả chúng sanh Một lời diễn nói đều hết cả Đều muốn rõ biết tự tánh kia Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Ngôn âm thế gian đều nói cả Khiến họ đều hiểu chứng tịch diệt Muốn được như vậy diệu thiệt căn Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Muốn khiến mười phương những thế giới Có tướng thành hoại đều được thấy Mà đều biết từ phận biệt sanh Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Tất cả mười phương những thế giới Vô lượng Như Lai đều sung mãn Đều muốn rõ biết Phật pháp kia Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Các loại biến hóa vô lượng thân Tất cả thế giới vi trần thảy Đều muốn rõ thấu từ tâm khởi Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Quá khứ, vị lai và hiện tại Vô lượng vô số chư Như Lai Muốn nơi một niệm đều rõ biết Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Muốn diễn thuyết đủ một câu pháp A tăng kỳ kiếp không cùng tận Mà khiến văn nghĩa đều chẳng đồng Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Mười phương tất cả các chúng sanh Tuỳ tướng họ lưu chuyển sanh diệt Muốn nơi một niệm đều rõ thấu Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Muốn dùng thân, ngữ và ý nghiệp Đến khắp mười phương không chướng ngại Rõ biết tam thế đều không tịch Bồ Tát do đây sơ phát tâm. Bồ Tát phát tâm như vậy rồi Khiến nên qua đến mười phương cõi Cung kính cúng dường chư Như Lai Do đây khiến được không thối chuyển. Bồ Tát dũng mãnh cầu Phật đạo Ở nơi sanh tử chẳng mỏi nhàm Vì kia ca ngợi khiến thuận lành Như vậy khiến kia không thối chuyển. Mười phương thế giới vô lượng cõi Đều ở trong đó làm Tôn Chủ Vì chư Bồ Tát nói như vậy Do đây khiến kia không thối chuyển. Tối thắng, tối thượng, tối đệ nhứt Pháp thậm thâm, vi diệu, thanh tịnh Khuyên chư Bồ Tát nói cùng người Dạy như vậy khiến lìa phiền não. Tất cả thế gian không bằng được Nơi chẳng thể khuynh động dẹp phục Vì Bồ Tát kia thường ca ngợi Dạy như vậy khiến chẳng thối chuyển. Phật là thế gian Đại Lực Chủ Đầy đủ tất cả những công đức Khiến các Bồ Tát trụ trong đó Dùng đây dạy làm Thắng Trượng Phu. Nơi vô lượng vô biên chư Phật Đều được qua đến để gần gũi Thường được chư Phật luôn nhiếp thọ Dạy như vậy khiến chẳng thối chuyển. Bao nhiêu những tam muội tịch tịnh Thảy đều diễn đạt không còn thừa Vì Bồ Tát kia nói như vậy Do đây khiến kia chẳng thối chuyển. Dẹp trừ vòng sanh tử các cõi Mà chuyển diệu pháp thanh tịnh luân Tất cả thế gian không chỗ chấp Vì các Bồ Tát nói như vậy. Tất cả chúng sanh đọa ác đạo Vô lượng khổ nặng làm bức ngặt Làm chỗ quy y cứu hộ họ Vì các Bồ Tát nói như vậy. Đây là Bồ Tát phát tâm trụ Nhất hướng chí cầu vô thượng đạo. Như tôi đã nói pháp dạy bảo Tất cả chư Phật cũng như vậy. Thứ hai: Bồ Tát trị địa trụ Phải nên phát khởi tâm như vầy: Mười phương tất cả những chúng sanh Nguyện đều thuận theo lời Phật dạy, Tâm đại bi, lợi ích, an lạc, Tâm an trụ, xót thương, nhiếp thọ, Tâm thủ hộ chúng sanh đồng mình, Tâm làm thầy và tâm đạo sư, Đã trụ tâm thắng diệu như vậy Kế khiến tụng tập cầu học rộng Thường thích tịch tịnh, chánh tư duy Gần gũi tất cả thiện tri thức. Nói lời hòa vui, lìa thô cứng Nói tất cả biết thời, không e sợ Rõ thấu nghĩa lý làm đúng pháp Xa lìa ngu mê tâm bất động Đây là sơ học bồ đề hạnh Làm được hạnh này: chơn Phật tử Nay tôi nói chỗ kia nên làm Như vậy Phật tử phải siêng học. Thứ ba: Bồ Tát tu hành trụ Thường y Phật giáo siêng quan sát Các pháp vô thường, khổ, và không Cũng không ngã chơn, không động tác. Tất cả các pháp chẳng đáng ưa Không đúng danh tự, không xứ sở Không chỗ phân biệt, không chơn thiệt Người quán như vậy gọi Bồ Tát. Kế, khiến quan sát chúng sanh giới Và cũng quan sát nơi pháp giới Thế giới sai biệt trọn không thừa Nơi kia đều nên khuyên quan sát. Thập phương thế giới và hư không Bao nhiêu địa, thủy, cùng hỏa, phong Dục giới, sắc giới, vô sắc giới Đều khuyên quán sát đến cùng tận. Quán sát cõi kia đều sai khác Và thể tánh nó, đều rốt ráo Dạy siêng tu hành được như vậy Đây thời gọi là chơn Phật tử. Thứ tư: Bồ Tát sanh quý trụ Từ các thánh giáo mà xuất sanh Rõ thấu các cõi không chỗ có Vượt qua pháp kia sanh pháp giới. Tin Phật kiên cố, chẳng thể hoại Quán pháp tịch diệt, tâm an trụ Tùy những chúng sanh đều rõ biết Thể tánh hư vọng không chơn thiệt. Thế gian, sát độ, nghiệp và báo Sanh tử, niết bàn đều như vậy Phật tử nơi pháp quán như vậy Từ Phật thân sanh, gọi Phật tử. Quá khứ vị lai và hiện tại Trong đó bao nhiêu những Phật pháp Rõ biết chứa họp và viên mãn Tu học như vậy khiến rốt ráo. Tam thế tất cả chư Như Lai Hay tùy quán sát đều bình đẳng Các thứ sai biệt bất khả đắc Người quán như vậy đạt tam thế. Như tôi tán dương ca ngợi đó Là những công đức đệ tứ trụ Nếu hay y pháp siêng tu hành Mau thành Phật bồ đề vô thượng. Đây đến Bồ Tát trụ thứ năm Hiệu là Cụ túc phương tiện trụ Vào sâu vô lượng phương tiện khéo Phát sanh nghiệp công đức rốt ráo. Bồ Tát chỗ tu các phước đức Đều vì cứu hộ các quần sanh Chuyên tâm làm lợi ích an lạc Một mặt xót thương khiến độ thoát. Vì tất cả đời trừ các nạn Dẫn thoát sanh tử, khiến vui mừng Mỗi mỗi điều phục không để sót Đều khiến đủ đức hướng niết bàn. Tất cả chúng sanh vô lượng biên Vô lượng, vô số, bất tư nghị Nhẫn đến bất khả xưng lượng thảy Nghe lãnh Như Lai pháp như vậy. Đây là Phật tử đệ ngũ trụ Thành tựu phương tiện độ chúng sanh Đấng đại trí viên mãn công đức Đem pháp như vậy để khai thị. Thứ sáu: Chánh tâm viên mãn trụ Nơi pháp tự tánh không mê hoặc Chánh niệm tư duy, rời phân biệt Tất cả trời người chẳng động được. Nghe khen chê Phật, cùng Phật pháp Bồ Tát và cùng Bồ Tát hạnh Chúng sanh hữu lượng hoặc vô lượng Hữu cấu vô cấu, độ khó dễ, Pháp giới lớn nhỏ và thành hoại Hoặc có hoặc không, lòng chẳng động Quá khứ, vị lai và hiện tại Nhớ kỹ tư duy hằng quyết định. Tất cả các pháp đều vô tướng Vô thể, vô tánh, không, vô thiệt Như ảo, như mộng, rời phân biệt Thường thích được nghe nghĩa như vậy. Thứ bảy: Bất thối chuyển Bồ Tát Nơi Phật, Phật pháp, Bồ Tát hạnh Hoặc có, hoặc không, xuất, chẳng xuất Dầu nghe thuyết ấy không thối chuyển. Quá khứ, vị lai và hiện tại Tất cả chư Phật có cùng không Phật trí hữu tận hoặc vô tận Tam thế một tướng các thứ tướng. Một tức là nhiều, nhiều là một Văn tùy nơi nghĩa, nghĩa tùy văn Như vậy tất cả xoay vần thành Bậc bất thối nên vì chúng nói. Hoặc pháp có tướng và vô tướng Hoặc pháp có tánh và vô tánh Các thứ sai biệt thuộc lẫn nhau Người này nghe được rồi rốt ráo. Thứ tám: Bồ Tát đồng chơn trụ Thân ngữ ý hạnh đều đầy đủ Tất cả thanh tịnh không có lỗi Tuỳ ý thọ sanh được tự tại. Biết những chúng sanh lòng sở thích Các thứ ý giải đều sai khác Và kia chỗ có tất cả pháp Thập phương quốc độ tướng thành hoại, Đến được diệu thần thông mau chóng Trong tất cả chỗ tùy niệm qua Nơi chư Phật được nghe diệu pháp Khen ngợi tu hành không lười mỏi, Rõ biết tất cả các Phật độ Chấn động, gia trì và quán sát Vượt qua Phật độ vô lượng số Du hành thế giới vô biên số. Vô số diệu pháp đều hỏi han Chỗ muốn thọ thân đều tự tại Ngôn âm thiện xảo đều sung mãn Chư Phật vô số đều thờ kính. Thứ chín: Bồ Tát vương tử trụ Hay thấy chúng sanh thọ sanh khác Phiền não hiện, tập, đều biết cả Chỗ làm phương tiện đều khéo rõ, Các pháp đều đồng, thuở trước sau Như kia thế tục, đệ nhứt nghĩa Đều khéo biết rõ không có thừa, Chỗ Pháp Vương thiện xảo an lập Tùy nơi chỗ kia có diệu pháp Pháp Vương cung điện hoặc thu nhập Và trong nơi đó quan sát thấy, Pháp Vương chỗ có pháp quán đảnh Thần lực, gia trì, không khiếp sợ Yên nghỉ cung thất, và ngợi khen Đem đây dạy bảo Pháp Vương Tử. Như vậy vì nói đều hết cả Mà khiến tâm kia không chấp trước Nơi đây rõ biết tu chánh niệm Tất cả chư Phật hiện ra trước. Thứ mười: Quán đảnh chơn Phật tử Thành mãn pháp tối thượng đệ nhứt Thập phương vô số các thế giới Đều hay chấn động quang chiếu khắp, Trụ trì, qua đến, cũng không thừa Thanh tịnh trang nghiêm đều đầy đủ Khai thị chúng sanh vô hạn số Quan sát căn tánh đều biết cả. Phát tâm điều phục cũng vô biên Đều khiến thu hướng đại bồ đề Tất cả pháp giới đều quan sát Thập phương quốc độ đều khiến đến. Nơi đó, thân và thân hành động Thần thông biến hiện khó lường được Tam thế Phật độ các cảnh giới Nhẫn đến vương tử không rõ được. Pháp giới vô ngại vô biên trí Sung mãn nhất thiết thế giới trí Chiếu diệu thế giới trụ trì trí Rõ biết chúng sanh chư pháp trí Và biết chánh giác vô biên trí Như Lai vì nói đều đủ cả. Thập trụ Bồ Tát như vậy thảy Đều từ Như Lai pháp hóa sanh Tùy kia chỗ có công đức hạnh Tất cả trời người chẳng lường được. Quá khứ, vị lai và hiện tại Phát tâm cầu Phật số vô biên Thập phương quốc độ đều sung mãn Đều sẽ được thành nhứt thiết trí. Tất cả quốc độ không ngằn mé Thế giới chúng sanh pháp cũng vậy Hoặc, nghiệp, sở thích đều khác biệt Nương đó mà phát bồ đề tâm. Ban đầu một niệm cầu Phật đạo Chúng sanh thế gian và nhị thừa Hết sức suy gẫm còn chẳng biết Huống là bao nhiêu công đức khác. Thập phương tất cả các thế giới Dùng một lông đều cân nhắc được, Người đó biết được Phật tử này Công hạnh hướng đến Phật đại trí. Thập phương chỗ có những biển lớn Đều dùng sợi lông chấm khiến cạn, Người đó biết được Phật tử này Công đức tu hành trong một niệm. Tất cả thế giới nghiền làm bụi Đều phân biệt được biết rõ số, Người như vậy mới có thể thấy Đạo tu hành của Bồ Tát này. Thập phương chư Phật trong tam thế Tất cả Độc Giác và Thanh Văn Đều dùng tất cả diệu biệt tài Khai thị sơ phát bồ đề tâm. Phát tâm công đức chẳng lường được Sung mãn tất cả cõi chúng sanh Chúng trí cùng nói không hết được Huống là bao nhiêu diệu hạnh khác.
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 6.11.2009 13:26:16
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 2 Phẩm phạm hạnh Thứ mười sáu Lúc bấy giờ, Chánh Niệm Thiên Tử bạch Pháp Huệ Bồ Tát rằng: "Thưa Phật tử! Trong tất cả thế giới, chư Bồ Tát y theo giáo pháp của Như Lai nhuộm y xuất gia, thế nào mà được phạm hạnh thanh tịnh, từ địa vị Bồ Tát đến đạo vô thượng bồ đề?" Pháp Huệ Bồ Tát nói: "Nầy Phật tử! Đại Bồ Tát lúc tu phạm hạnh, nên dùng mười pháp làm cảnh sở duyên để tác ý quan sát. Đây là mười pháp: Thân, thân nghiệp, ngữ, ngữ nghiệp, ý, ý nghiệp, Phật, pháp, tăng và giới. Nên quan sát như vầy: Thân là phạm hạnh ư? Nhẫn đến giới là phạm hạnh ư? Nếu thân là phạm hạnh, phải biết phạm hạnh thời là chẳng phải thiện, là phi pháp, là lộn đục, là hôi xấu, là bất tịnh, là đáng nhàm, là trái nghịch, là tạp nhiễm, là tử thi, là nhóm trùng. Nếu thân nghiệp là phạm hạnh, thời phạm hạnh là hành, trụ, toạ, ngoạ, là ngó bên nầy bên kia, là co, duỗi, cúi, ngước. Nếu ngữ ngôn là phạm hạnh, thời phạm hạnh là âm thinh, gió thở, là môi, lưỡi, cuống họng, là thổ nạp, ngăn buông, là cao thấp, trong đục. Nếu ngữ nghiệp là phạm hạnh, thời phạm hạnh là thưa chào hỏi thăm, là nói lược nói rộng, là nói dụ nói thẳng, là lời khen lời chê, là lời an lập, lời tùy tục, lời hiển liễu. Nếu ý là phạm hạnh, thời phạm hạnh là giác, là quán, là phân biệt, ức niệm, tư duy, là ảo thuật, là ngủ mơ. Nếu ý nghiệp là phạm hạnh, thời phạm hạnh là tư tưởng lạnh nóng đói khát, khổ vui, lo mừng. Nếu Phật là phạm hạnh, thời sắc là Phật? hay thọ, tưởng, hành, thức là Phật? Tướng hảo hay thần thông là Phật? Nghiệp hạnh hay quả báo là Phật? Nếu pháp là phạm hạnh, thời tịch diệt hay niết bàn là pháp? Bất sanh hay bất khởi là pháp? Bất khả thuyết hay vô phân biệt, vô sở hành, bất hiệp tập, bất tùy thuận, vô sở đắc là pháp? Nếu tăng là phạm hạnh, thời dự lưu hướng hay dự lưu quả là tăng? Nhất lai hướng hay nhất lai quả là tăng? Bất hoàn hướng hay bất hoàn quả, vô sanh hướng hay vô sanh quả là tăng? Tam minh hay lục thông là tăng? Nếu giới là phạm hạnh, thời đàn tràng là giới, hay hỏi thanh tịnh là giới? Dạy oai nghi hay tam yết ma là giới? Hòa thượng hay A xà lê là giới? Thế phát là giới, hay đắp y cà sa, hay khất thực, hay chánh mạng là giới? Quan sát như vậy, nơi thân không sở thủ, nơi tu không sở trước, nơi pháp không sở trụ, quá khứ đã diệt, vị lai chưa đến, hiện tai không tịch, không người tác nghiệp, không kẻ thọ báo, đời này chẳng dời động, đời kia chẳng cải đổi. Như vậy, trong đây pháp nào gọi là phạm hạnh? Phạm hạnh từ chỗ nào đến? Là sở hữu của ai? Thể là gì? Do ai làm? Là có? Là không? Là sắc? Là phi sắc? Là thọ? Là phi thọ? Là tướng? Là phi tướng? Là hành? Là phi hành? Là thức? Là phi thức? Quan sát như vậy, vì pháp hạnh bất khả đắc, vì pháp tam thế đều không tịch, vì ý không thủ trước, vì tâm không chướng ngại, vì sở hành vô nhị, vì phương tiện tự tại, vì thọ pháp vô tướng, vì quán pháp vô tướng, vì biết Phật pháp bình đẳng, vì đủ tất cả Phật pháp. Như đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh. Lại phải tu tập mười pháp, chính là mười trí lực của Như Lai. Phải quan sát mỗi trí lực. Trong mỗi trí lực có vô lượng nghĩa đều phải hạn hỏi. Sau khi nghe phải khởi tâm đại từ bi, quan sát chúng sanh mà chẳng bỏ lìa, tư duy các pháp không có thôi dứt, thật hành nghiệp vô thượng không cầu quả báo, rõ biết cảnh giới như ảo mộng, như bóng vang, như biến hóa. Nếu Bồ Tát nào được tương ứng với quán hạnh như vậy, ở trong các pháp chẳng sanh hai kiến giải, tất cả Phật pháp mau được hiện tiền. Lúc sơ phát tâm liền được a nậu đa la tam muội tam bồ đề. Biết tất cả pháp tức là tâm tự tánh, thành tựu huệ thân giác ngộ chẳng do người khác."
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 6.11.2009 16:15:21
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 2 Phẩm sơ phát tâm công đức Thứ mười bảy Lúc bấy giờ, Thiên Đế Thích bạch Pháp Huệ Bồ Tát rằng: "Thưa Phật tử! Bồ Tát sơ phát bồ đề tâm được bao nhiêu công đức?" Pháp Huệ Bồ Tát nói: "Nghĩa đó rất sâu, khó nói, khó biết, khó phân biệt, khó tin hiểu, khó chứng, khó làm, khó thông đạt, khó tư duy, khó đạt lượng, khó thu nhập. Tuy nhiên, thừa oai thần của đức Phật, tôi sẽ nói cho ông. Này Phật tử! Giả sử có người đem tất cả đồ sở thích cúng dường chúng sanh trong vô số thế giới ở mười phương trọn một kiếp; rồi sau đó dạy họ thọ trì ngũ giới thanh tịnh. Cứ theo ý ông, công đức của người này nhiều chăng?" Thiên Đế thưa: "Công đức của người này, trừ Phật ra, không ai có thể lường được." Pháp Huệ Bồ Tát nói: "Này Phật tử! Công đức của người này đem so với công đức sơ phát tâm của Bồ Tát chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, một phần ức, một phần trăm ngàn na do tha ức, một phần số, một phần ca la, một phần toán, một phần dụ, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà. Giả sử có người đem tất cả đồ sở thích cúng dường chúng sanh trong mười vô số thế giới ở mười phương trọn trăm kiếp, rồi sau đó dạy họ đều tu thập thiện. Cúng dường như vậy trọn trăm ngàn kiếp rối dạy trụ tứ vô lượng tâm. Cúng dường trọn ức kiếp rồi dạy trụ tứ vô sắc định. Cúng dường trọn trăm ức kiếp rồi dạy trụ quả Tu Đà Hoàn. Cúng dường trọn ngàn ức kiếp, rồi dạy trụ quả A La Hán. Cúng dường trọn trăm ngàn na do tha ức kiếp, rồi dạy trụ Bích Chi Phật. Này Phật tử! Cứ theo ý của ông, công đức của người này có nhiều chăng?" Thiên Đế thưa: "Công đức của người này, trừ Phật ra, không ai có thể lường được." Pháp Huệ Bồ Tát nói: "Này Phật tử! Công đức của người này đem so với công đức sơ phát tâm của Bồ Tát chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, một phần ức, một phần trăm ngàn na do tha ức, một phần số, một phần ca la, một phần toán, một phần dụ, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà. Tại sao thế? Này Phật tử! Tất cả chư Phật lúc sơ phát tâm, chẳng phải chỉ vì đem tất cả đồ sở thích cúng dường chúng sanh trong mười vô số thế giới ở mười phương trải qua trăm kiếp, nhẫn đến trăm ngàn na do tha kiếp mà phát bồ đề tâm. Cũng chẳng phải chỉ vì giáo hóa những chúng sanh ấy tu ngũ giới, thập thiện, tứ thiền, tứ không, nhẫn đến khiến trụ nơi quả A La Hán và Bích Chi Phật mà phát bồ đề tâm. Chính là vì khiến chủng tánh Như Lai chẳng dứt, vì đầy khắp tất cả thế giới, vì độ thoát tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới, vì biết rõ cả sự thành hoại của tất cả thế giới, vì biết rõ chúng sanh cấu tịnh trong tất cả thế giới, vì biết rõ sở thích, phiền não, tập khí của tất cả chúng sanh, vì biết rõ sự chết đây sanh kia của tất cả chúng sanh, vì biết rõ căn tánh phương tiện của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tâm hành của tất cả chúng sanh, vì trí biết rõ tam thế chúng sanh, vì biết rõ cảnh giới bình đẳng của tất cả Phật, vì những điều trên đây mà phát tâm vô thượng bồ đề. Này Phật tử! Giả sử có người trong một khoảng một niệm có thể qua khỏi phuog đông vô số thế giới, đi luôn như vậy trọn vô số kiếp, số thế giới của người này đã trải qua khó có ai biết được. Người thứ hai, trong một niệm có thể qua khỏi tất cả thế giới của người thứ nhất đã trải qua trong vô số kiếp, người này cũng đi luôn mãi trọn vô số kiếp. Cứ lần lượt tuần tự như vậy đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy. Thế là trong mười phương có cả thảy trăm người. Số thế giới của trăm người này đã trải qua còn có thể biết được tế hạn. Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm vô thượng bồ đề tâm, không ai có thể biết tế hạn được. Này Phật tử! Tại sao vậy? Vì Bồ Tát phát bồ đề tâm không có tế hạn. Nghĩa là vì muốn biết rõ thập phương tất cả thế giới, muốn biết diệu thế giới tức là thô thế giới, và thô tức là diệu, thế giới ngửa tức là thế giới úp, và úp tức là ngửa, tiểu thế giới tức là đại thế giới và đại tức là tiểu, thế giới rộng tức là thế giới hẹp và hẹp tức là rộng, một thế giới tức là bất khả thuyết thế giới và bất khả thuyết tức là một, bất khả thuyết thế giới vào trong một thế giới và một thế giới vào trong bất khả thuyết, uế thế giới tức là tịnh thế giới, và tịnh tức là uế, muốn biết trong đầu một sợi lông tất cả thế giới tánh sai biệt, trong tất cả thế giới một đầu lông một thể tánh, muốn biết trong một thế giới xuất sanh tất cả thế giới, muốn biết tất cả thế giới không thể tánh, muốn dùng một niệm mà biết hết tất cả thế giới rộng lớn mà không chướng ngại. Vì cớ trên đây mà phát tâm vô thượng bồ đề. Lại ví dụ: Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết kiếp số thành hoại trong vô số thế giới ở phương đông, cứ niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp. Người thứ hai trong khoảng một niệm có thể biết tất cả kiếp số của người thứ nhất đã biết trong vô số kiếp, rồi niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp. Cũng tuần tự tăng lên đến người thứ mười, chín phương kia cũng như vậy. Thế là có cả thảy trăm người. Kiếp số thành hoại của tất cả thế giới trong mười phương qua sự hiểu biết của trăm người này, còn có thể biết được ngằn mé. Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm không ai có thể biết được ngằn mé. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát chẳng phải chỉ vì biết sự thành hoại của bao nhiêu thế giới đó mà phát tâm vô thượng bồ đề. Mà vì muốn biết rõ sự thành hoại của tất cả thế giới không thừa không sót nên phát tâm. Nghĩa là muốn biết kiếp dài tức là kiếp ngắn, ngắn tức là dài, dài ngắn bình đẳng, một kiếp bình đẳng với vô số kiếp, vô số với một cũng vậy, kiếp có Phật bình đẳng với kiếp không có Phật, không với có cũng vậy, trong kiếp một Phật có bất khả thuyết Phật, trong kiếp bất khả thuyết Phật có một Phật, hữu lượng kiếp bình đẳng với vô lượng kiếp, vô lượng kiếp bình đẳng với hữu lượng kiếp, hữu tập kiếp bình đẳng với vô tận kiếp, vô tận với hữu tận cũng vậy, bất khả thuyết kiếp bình đẳng với một niệm, một niệm bình đẳng với bất khả thuyết kiếp, tất cả kiếp vào phi kiếp, phi kiếp vào tất cả kiếp. Vì muốn trong một niệm biết hết kiếp số thành hoại của tất cả thế giới trong ba thời quá khứ, vị lai và hiện tại, nên phát tâm vô thượng bồ đề. Đây gọi là sơ phát tâm đại thệ trang nghiêm trí thần thông rõ biết tất cả kiếp. Lại ví dụ: Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những trí giải sai biệt của tất cả chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Niệm niệm biết rõ như vậy mãn vô số kiếp. Người thứ hai trong khoảng một niệm có thể biết những trí giải của tất cả chúng sanh mà người thứ nhất đã biết trọn vô số kiếp. Lần lượt tuần tự đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy. Những trí giải riêng biệt của tất cả chúng sanh trong mười phương như vậy, còn có thể biết được ngằn mé. Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải vì chỉ muốn biết bao nhiêu trí giải của bao nhiêu chúng sanh đó, mà vì muốn biết những trí giải của các chúng sanh trong tất cả thế giới. Nghĩa là Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề vì muốn biết tất cả tri giải sai biệt vô biên, tri giải sai biệt của một chúng sanh bình đẳng với tri giải của vô số chúng sanh, vì muốn được trí phương tiện biết rõ bất khả thuyết tri giải sai biệt, muốn biết rõ mỗi mỗi tri giải sai biệt của tất cả chúng sanh trọn vẹn không thừa sót, muốn biết rõ tri giải thiện, bất thiện, quá khứ, hiện tại, vị lai, muốn biết rõ tri giải tương tợ, và chẳng tương tợ, muốn biết rõ tất cả tri giải tức là một tri giải, một tri giải tức là tất cả tri giải, muốn biết được sức tri giải của Như Lai, muốn biết rõ sự sai biệt của hữu thượng giải, vô thượng giải, hữu dư giải, vô dư giải, đẳng giải, bất đẳng giải, hữu y giải, vô y giải, cộng giải, bất cộng giải, hữu biên giải, vô biên giải, sai biệt giải, vô sai biệt giải, thiện giải, bất thiện giải, thế gian giải, xuất thế gian giải, muốn được vô ngại ở nơi tất cả diệu giải, đại giải, vô lượng giải, chánh vị giải, muốn dùng vô lượng phương tiện biết rõ trọn vẹn thập phương tất cả chúng sanh giới, mỗi chúng sanh có nào là tịnh giải, tế giải, thô giải, muốn biết rõ trọn vẹn thâm mật giải, phương tiện giải, phân biệt giải, tự nhiên giải, tùy nhân khởi giải, tùy duyên khởi giải. Vì muốn được như trên đây mà Bồ Tát phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lại ví dụ: Giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết căn tánh sai biệt của tất cả chúng sanh trong vô số thế giới phương đông, niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp. Người thứ hai trong một niệm có thể rõ biết tất cả sự biết về căn tánh chúng sanh trọn vô số kiếp của người thứ nhất. Lần lượt tuần tự đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy. Những căn tánh sai biệt của bao nhiêu chúng sanh trong bao nhiêu thế giới của trăm người đó rõ biết trọn vô số kiếp, còn có thể biết được ngằn mé. Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải chỉ vì biết bao nhiêu căn tánh đó, mà chính vì muốn biết rõ trọn vẹn những căn tánh sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới. Nói rộng ra, nhẫn đến muốn biết trọn vẹn tất cả lưới căn tánh mà Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề. Lại ví dụ: Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những chỗ sở thích của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông, niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp. Tuần tự nới rộng đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy. Chỗ sở thích của thập phương chúng sanh này còn có thể biết được ngằn mé. Công đức thiện căn của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải vì chỉ để biết chừng ấy sở thích của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chính là vì muốn biết tất cả sở thích của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới. Lại ví dụ: Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những phương tiện của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Tuần tự nới rộng như vậy nhẫn đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy. Những loại phương tiện cùng thập phương chúng sanh đó còn có thể biết được ngằn mé. Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm không ai có thể biết được ngằn mé. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải vì để biết bao nhiêu phương tiện của thập phương chúng sanh đó, mà chính là để biết trọn vẹn những phương tiện của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới. Lại ví dụ: Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những tâm sai biệt của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Nới rộng nhẫn đến những tâm sai biệt của những chúng sanh trong thập phương thế giới, còn có thể biết ngằn mé. Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải vì để biết ngần ấy tâm sai biệt, mà chính vì để biết trọn vẹn những tâm sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới. Lại ví dụ: Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những nghiệp sai biệt của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Nới rộng nhẫn đến những nghiệp sai biệt của nhữg chúng sanh trong thập phương thế giới, còn có thể biết ngằn mé. Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải chỉ vì để biết những nghiệp sai biệt của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chính là vì để biết rõ trọn vẹn những nghiệp sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới và cả tam thế. Lại ví dụ: Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những phiền não của chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Lần lượt nới rộng nói đến người thứ mười và chín phương kia, còn có thể biết được ngằn mé. Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải chỉ vì để biết những phiền não của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chính vì để biết rõ trọn vẹn những phiền não sai biệt của những chúng sanh trong tất cả thế giới. Nghĩa là muốn biết rõ trọn vẹn những phiền não nhẹ, nặng, chủng tử hiện hành, tất cả chúng sanh có vô lượng phiền não, các loại sai biệt, các loại giác quán để đối trị sạch tất cả những tạp nhiễm. Muốn biết trọn vẹn phiền não y tựa vô minh, phiền não tương ưng với ai, để dứt kiết sử phiền não của tất cả loài. Muốn biết trọn vẹn tham phần, sân phần, si phần và đẳng phần phiền não, để dứt căn bổn phiền não. Muốn biết trọn vẹn ngã phiền não, ngã sở phiền não, ngã mạn phiền não, để giác ngộ hết tất cả phiền não. Muốn biết trọn vẹn từ điên đảo phân biệt sanh ra căn bổn phiền não, tùy phiền não, nhân thân kiến sanh sáu mươi hai kiến chấp, để điều phục tất cả phiền não. Muốn biết trọn vẹn cái phiền não, chướng phiền não, để phát tâm đại bi, tâm cứu hộ dứt tất cả phiền não khiến tất cả trí tánh thanh tịnh. Vì muốn được như vậy mà Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề. Lại ví dụ: Giả sử có người trong khoảng một niệm đem các thứ thượng vị ẩm thực, y phục, hoa hương, phan lọng, tăng già lam, cung điện thượng diệu, màn trướng báu, những tòa sư tử trang nghiêm và những diệu bửu cung kính cúng dường vô số chư Phật phương đông và những chúng sanh trong vô số thế giới, luôn trọn vô số kiếp và cũng khuyên những chúng sanh đó đồng cúng dường Phật. Đến khi chư Phật nhập diệt đều xây tháp cao rộng trang nghiêm để thờ xá lợi và hình tượng của Phật trọn vô số kiếp. Chín phương kia cũng đều như vậy. Này Phật tử! Công đức của người trên đây, theo ý ông, có nhiều chăng?" Thiên Đế thưa: "Công đức đó chỉ có đức Phật là biết được thôi." Pháp Huệ Bồ Tát nói: "Công đức đem sánh với công đức của Bồ Tát sơ phát tâm không bằng một phần trăm, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà. Nới rộng như thế tuần tự đến người thứ mười. Công đức cúng dường của tất cả người trên đây cũng không bằng một phần ưu ba ni sa đà đối với công đức của Bồ Tát sơ phát tâm. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải chỉ hạn cúng dường bao nhiêu đức Phật như vậy, mà chính vì để cúng dường thập phương tam thế tất cả chư Phật. Bồ Tát phát tâm này rồi, có thể biết tất cả quá khứ chư Phật lúc mới thành chánh giác đến lúc nhập niết bàn, có thể tin bao nhiêu thiện căn của tất cả vị lai chư Phật, có thể biết bao nhiêu trí huệ của tất cả hiện tại chư Phật. Tam thế chư Phật có bao nhiêu công đức, Bồ Tát này có thể tin được, thọ được, có thể biết, có thể tu, có thể được, có thể chứng, có thể trọn nên, có thể cùng chư Phật bình đẳng một tánh. Tại sao vậy? Bồ Tát này vì chẳng dứt Phật chủng mà phát tâm, vì đầy khắp tất cả thế giới, vì độ thoát tất cả chúng sanh, vì biết rõ sự thành hoại của tất cả thế giới, vì biết rõ sự cấu tịnh của tất cả chúng sanh, vì biết rõ ba cõi thanh tịnh của tất cả thế giới, vì biết rõ sở thích, phiền não, tập khí của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tất cả chúng sanh chết đây sanh kia, vì biết rõ căn tánh phương tiện của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tâm hành của tất cả chúng sanh, vì trí biết rõ tam thế của tất cả chúng sanh. Vì những điều trên đây mà Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề. Do phát tâm nên thường được tất cả tam thế chư Phật ức niệm, sẽ được vô thượng bồ đề. Liền được tất cả tam thế chư Phật ban diệu pháp. Liền cùng tất cả tam thế chư Phật thể tánh bình đẳng. Đã tu pháp trợ đạo của tất cả tam thế chư Phật. Trang nghiêm Phật pháp bất cộng của tất cả tam thế chư Phật. Được trọn vẹn trí huệ thuyết pháp của tất cả tam thế chư Phật. Tại sao vậy? Vì phát tâm như đây sẽ được thành Phật. Nên biết người này đồng với tam thế chư Phật, bình đẳng với cảnh giới của chư Phật, bình đẳng với công đức của chư Phật, được trí huệ chân thật một thân cùng vô lượng thân rốt ráo bình đẳng của chư Phật. Lúc vừa phát tâm liền được thập phương tất cả chư Phật đồng khen ngợi, liền có thể thuyết pháp giáo hóa điều phục chúng sanh trong tất cả thế giới, liền có thể chấn động tất cả thế giới, liền có thể chiếu sáng tất cả thế giới, liền có thể dứt diệt những khổ ác đạo của tất cả thế giới, liền có thể nghiêm tịnh tất cả quốc độ, liền có thể thị hiện thành Phật trong tất cả thế giới, liền có thể khiến tất cả chúng sanh đều được vui mừng, liền có thể vào tất cả pháp giới tánh, liền có thể được trí huệ quang minh của tất cả Phật. Bồ Tát sơ phát tâm đây chẳng phải cầu được một ít trong tam thế, như là Phật, Phật pháp, Bồ Tát, Bồ Tát pháp, Độc Giác, Độc Giác pháp, Thanh Văn, Thanh Văn pháp, thế gian, thế gian pháp, xuất thế gian, xuất thế gian pháp, chúng sanh, chúng sanh pháp, mà chỉ cầu được nhứt thiết chủng trí, nơi các pháp giới tâm không chấp trước." Lúc bấy giờ, do thần lực của Phật, mười phương đều mười ngàn phật sát vi trần số thế giới chấn động sáu cách, mưa hoa trời, hương trời, tràng hoa trời, y phục trời, báu trời, đồ trang nghiêm trời, trỗi kỹ nhạc trời, phóng quang minh trời và âm thanh trời. Lúc đó, mười phương đều qua khỏi ngoài mười phật sát vi trần số thế giới, có mười ngàn phật sát vi trần số Phật đồng hiệu Pháp Huệ, và đều hiện thân ra trước Pháp Huệ Bồ Tát mà bảo rằng: "Lành thay! Lành thay! Này Pháp Huệ! Nay ông có thể thuyết được pháp đó. Chúng thế gian ở mười phương, đều mười ngàn phật sát vi trần số chư Phật cũng thuyết pháp đó. Lúc ông thuyết pháp đó, có mười ngàn phật sát vi trần số Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề. Chư Phật chúng thế gian đều thọ ký cho họ: qua khỏi ngàn bất khả thuyết vô biên kiếp, đồng xuất thế thành Phật trong một kiếp và đồng hiệu Thanh Tịnh Tâm Như Lai, thế giới khác nhau. Chư Phật chúng thế gian sẽ hộ trì pháp này, khiến chư Bồ Tát thời vị lai, người chưa nghe đều được nghe. Như ở Ta Bà thế giới này, trên đảnh Tu Di thuyết pháp như vậy khiến các chúng sanh nghe pháp thọ hóa, mười phương trăm ngàn ức na do tha vô lượng, vô biên, tận pháp giới hư không giới, trong tất cả thế giới cũng nói pháp này giáo hóa chúng sanh. Bồ Tát thuyết pháp đồng tên Pháp Huệ. Đều do thần lực của Phật, nguyện lực của Phật, vì muốn hiển thị Phật pháp, vì dùng trí quang chiếu khắp, vì muốn khai xiển thật nghĩa, vì khiến chứng được pháp tánh, vì khiến hội chúng đều hoan hỷ, vì muốn khai thị nhân Phật pháp, vì được tất cả Phật bình đẳng, vì rõ pháp giới vô nhị, nên thuyết pháp như vậy." Lúc đó, Pháp Huệ Bồ Tát quan sát khắp tất cả chúng hội mười phương thế giới, muốn đều thành tựu các chúng sanh, muốn đều trừ sạch những nghiệp quả báo, muốn đều khai hiển thanh tịnh pháp giới, muốn đều nhổ trừ căn bổn tạp nhiễm, muốn đều tăng trưởng tín giải rộng lớn, muốn đều khiến biết rõ căn tánh vô lượng chúng sanh, muốn đều khiến biết pháp tam thế bình đẳng, muốn đều khiến quan sát niết bàn giới, muốn tăng trưởng thiện căn thanh tịnh của mình, thừa oai lực của Phật mà nói kệ rằng: Vì lợi thế gian phát đại tâm Tâm đó khắp cùng cả mười phương Chúng sanh, quốc độ pháp tam thế Phật và Bồ Tát biển tối thắng. Rốt ráo hư không khắp pháp giới Chỗ có tất cả những thế gian Như các Phật pháp đều qua đến Phát tâm như vậy không thối chuyển. Từ niệm chúng sanh không tạm bỏ Lìa những não hại khắp nhiêu ích Quang minh chiếu thế làm sở quy Thập lực hộ niệm khó nghĩ bàn. Thập phương quốc độ đều đến vào Tất cả hình sắc đều thị hiện Như Phật phước trí rộng vô biên Tùy thuận tu nhân không chấp trước. Có cõi ngửa, nghiêng, hoặc úp Thô diệu rộng lớn vô lượng thứ Bồ Tát một khi phát đại tâm Đều qua đến được không chướng ngại. Bồ Tát thắng hạnh bất khả thuyết Đều siêng tu tập vô sở trụ Thấy tất cả Phật lòng mến thích Khắp vào biển pháp sâu của Phật. Thương xót ngũ thú các quần sanh Khiến trừ cấu uế khắp thanh tịnh Nối thạnh Phật chủng chẳng đoạn tuyệt Dẹp dứt cung ma không có thừa. Đã trụ Như Lai bình đẳng tánh Khéo tu vi diệu phương tiện đạo Nơi Phật cảnh giới sanh tín tâm Được Phật quán đảnh tâm không trước. Nhớ nghĩ báo ân cho đức Phật Lòng như kim cương chẳng bị ngăn Có thể chiếu rõ công hạnh Phật Tự nhiên tu tập hạnh bồ đề. Các loài sai biệt vô lượng tưởng Nghiệp quả và tâm cũng chẳng một Nhẫn đến căn tánh các loại khác Một khi phát tâm đều thấy rõ. Tâm đó rộng lớn khắp pháp giới Vô y, vô biến, như hư không Xu hướng Phật trí, không sở thủ Rõ chắc thiệt tế lìa phân biệt. Biết tâm chúng sanh không sanh tưởng Rõ thấu các pháp không pháp tưởng Dầu khắp phân biệt mà vô biệt Ức na do cõi đều qua đến. Vô lượng chư Phật diệu pháp tạng Tùy thuận quan sát đều vào được Căn hạnh chúng sanh đều biết cả Đến chỗ như vậy là như Phật. Nguyện lớn thanh tịnh hẳng tương ưng Thích cúng dường Phật không thối chuyển Trời người thấy đó không nhàm chán Thường được chư Phật chỗ hộ niệm. Tâm đó thanh tịnh vô sở y Dầu quán thâm pháp mà chẳng chấp Tư duy như vậy vô lượng kiếp Ở trong tam thế không sở trước. Tâm đó kiên cố khó chế ngăn Đến Phật bồ đề không chướng ngai Chí cầu diệu đạo trừ mê hoặc Đi khắp pháp giới chẳng khổ nhọc. Biết pháp ngữ ngôn đều tịch diệt Chỉ vào chân như tuyệt dị giải Chư Phật cảnh giới đều thuận quán Đạt nơi tam thế tâm vô ngại. Bồ Tát mới phát tâm rộng lớn Có thể qua khắp mười phương cõi Pháp môn vô lượng bất khả thuyết Trí quang chiếu khắp đều sáng tỏ. Đại bi rộng độ rất không sánh Từ tâm cùng khắp đồng hư không Mà với chúng sanh chẳng phân biệt Thanh tịnh như vậy đi thế gian. Thập phương chúng sanh đều an ủy Tất cả chỗ làm đều chân thật Hằng dùng tịnh tâm lời chẳng khác Thường được chư Phật đồng gia hộ. Quá khứ chỗ có đều ghi nhớ Vị lai tất cả đều phân biệt Thập phương thế giới khắp vào trong Để độ chúng sanh khiến ra khỏi. Bồ Tát đầy đủ diệu trí quang Khéo rõ nhân duyên không có nghi Tất cả mê hoặc đều dứt trừ Như vậy mà đi nơi pháp giới. Ma Vương cung điện đều dẹp phá Chúng sanh màn lòa đều trừ dứt Lìa những phân biệt tâm chẳng động Khéo rõ cảnh giới của Như Lai. Lưới nghi tam thế đều đã trừ Đối với Như Lai sanh tịnh tín Do tin được thành trí bất động Do trí thanh tịnh hiểu chân thiệt. Vì khiến chúng sanh được xuất ly Tận thời vị lai khắp lợi ích Mãi mãi cần khổ tâm chẳng nhàm Nhẫn đến địa ngục cũng an thọ. Phước trí vô lượng đều đầy đủ Chúng sanh căn dục đều rõ biết Và những nghiệp hạnh đều biết cả Theo sở thích họ vì thuyết pháp. Rõ biết tất cả không vô ngã Từ niệm chúng sanh thường không bỏ Dùng một đại bi vi diệu âm Vào khắp thế gian mà diễn thuyết. Phóng đại quang minh các mầu sắc Chiếu khắp chúng sanh trừ đen tối Trong quang Bồ Tát ngồi liên hoa Vì chúng xiển dương pháp thanh tịnh. Nơi đầu một lông hiện các cõi Chư đại Bồ Tát đều sung mãn Chúng hội trí huệ sai khác cả Đều rõ biết được tâm chúng sanh. Thập phương thế giới bất khả thuyết Một niệm đi khắp hết tất cả Lợi ích chúng sanh cúng dường Phật Nơi chỗ chư Phật hỏi thâm nghĩa. Nơi chư Như Lai tưởng là cha Vì lợi chúng sanh tu giác hạnh Trí huệ thiện xảo thông pháp tạng Vào nơi thâm trí không sở trước. Tuỳ thuận tư duy nói pháp giới Trải vô lượng kiếp chẳng cùng tận Trí dầu khéo vào không xứ sở Không có mỏi nhàm không sở trước. Sanh trong nhà tam thế chư Phật Chứng được Như Lai diệu pháp thân Khắp vì quần sanh hiện các sắc Ví như thuật gia làm tất cả. Hoặc hiện mới tu hạnh thù thắng Hoặc hiện sơ sanh và xuất gia Hoặc hiện dưới cây thành bồ đề Hoặc vì chúng sanh hiện nhập diệt. Bồ Tát trụ nơi pháp hi hữu Là Phật cảnh chẳng phải nhị thừa Thân ngữ ý tưởng đều đã trừ Các thứ tùy nghi đều hiện được. Bồ Tát chỗ được các Phật pháp Chúng sanh tư duy phát cuồng loạn Trí nhập thiệt tế tâm vô ngại Khắp hiện Như Lai sức tự tại. Đây ở thế gian không sánh bằng Huống là lại thêm hạnh thù thắng Dầu chưa đầy đủ nhất thiết trí Đã được Như Lai tự tại lực. Đã trụ nhất thừa đạo rốt ráo Sâu vào pháp vi diệu tối thượng Khéo biết chúng sanh thời, phi thời Vì lợi ích nên hiện thần thông Phân thân đầy khắp tất cả cõi Phóng tịnh quang minh trừ đời tối Ví như Long Vương khởi đại vân Khắp tuôn mưa mầu đều đầy thấm. Quan sát chúng sanh như ảo mộng Do nghiệp lực nên thường lưu chuyển Đại bi xót thương đều cứu vớt Vì nói vô vi tịnh pháp tánh. Phật lực vô lượng đây cũng vậy Ví như hư không vô lượng biên Vì khiến chúng sanh được giải thoát Ức kiếp siêng tu không mỏi nhọc. Quan sát tư duy diệu công đức Khéo tự tại hạnh đệ nhất vô thượng Nơi các thắng hạnh luôn chẳng bỏ Chuyên niệm sanh thành nhất thiết trí. Một thân thị hiện vô lượng thân Tất cả thế giới đều đầy khắp Tâm đó thanh tịnh vô phân biệt Một niệm khó nghĩ, sức như vậy. Nơi các thế gian chẳng phân biệt Nơi tất cả pháp không vọng tưởng Quán sâu các pháp mà chẳng lấy Hằng cứu chúng sanh không sở độ. Tất cả thế gian chỉ là tưởng Ở trong các thứ đều sai khác Biết cảnh giới tưởng hiểm và sâu Vì hiện thần thông để độ thoát. Ví như thuật gia sức tự tại Bồ Tát thần biến cũng như vậy Thân khắp pháp giới và hư không Tuỳ tâm chúng sanh đều được thấy. Năng sở phân biệt lìa cả hai Tạp nhiễm thanh tịnh không sở thú Hoặc phược hoặc giải trí đều quên Chỉ nguyện khắp ban vui quần chúng. Tất cả thế gian chỉ tưởng lực Dùng trí mà vào tâm vô uý Tư duy các pháp cũng như vậy Suy cầu tam thế bất khả đắc. Hay vào quá khứ trọn thời trước Hay vào vị lai trọn thời sau Hay vào hiện tại tất cả chỗ Thường siêng quan sát không chỗ có. Tùy thuận niết bàn pháp tịch diệt Trụ nơi vô tránh vô sở y Tâm như thiệt tế không gì sánh Chuyên hướng bồ đề trọn chẳng thối. Tự tại những thắng hạnh không thối khiếp An trụ bồ đề chẳng động lay Phật và Bồ Tát cùng thế gian Cùng tận pháp giới đều sáng tỏ. Muốn được tối thắng đạo đệ nhất Là vua giải thoát nhất thiết trí Nên phải mau phát bồ đề tâm Hết hẳn hữu lậu lợi quần sanh. Xu hướng bồ đề tâm thanh tịnh Công đức rộng lớn bất khả thuyết Vì lợi quần sanh nên khen thuật Phật tử các ngài nên nghe kỹ. Vô lượng thế giới đều làm bụi Trong mỗi hạt bụi vô lượng cõi Mỗi cõi chư Phật đều vô lượng Đều hay thấy rõ không sở thủ. Mười phương vô lượng các quốc độ Một niệm qua đến lòng vô trước Liễu đạt thế gian những pháp khổ Đều trụ vô sanh chân thiệt tế. Vô lượng nan tư chỗ chư Phật Đều đến hội đó để lễ Phật Thường làm thượng thủ hỏi Như Lai Bồ Tát thật hành những nguyện hạnh. Tâm thường nhớ đến Phật mười phương Mà không sở y không sở thủ Hằng khuyên chúng sanh trồng thiện căn Trang nghiêm quốc độ khiến thanh tịnh. Tất cả chúng sanh trong ba cõi Dùng vô ngại nhãn đều quan sát Bao nhiêu tập tánh những căn giải Vô lượng vô biên đều thấy rõ. Chúng sanh sở thích đều rõ biết Như vậy tuỳ nghi vì thuyết pháp Nơi những nhiễm tịnh đều thông đạt Khiến kia vô số những tam muội. Bồ Tát một niệm đều vào được Trong đó tưởng trí và sở duyên Đều khéo biết rõ được tự tại. Bồ Tát được trí rộng lớn này Mau đến bồ đề không sở ngại Vì muốn lợi ích các quần sanh Mọi nơi tuyên dương đại nhân pháp. Khéo biết thế gian kiếp dài ngắn Một tháng nửa tháng và ngày đêm Quốc độ riêng biệt tánh bình đẳng Thường siêng quan sát chẳng phóng dật. Đến khắp mười phương các thế giới Mà nơi phương xứ không sở thủ Nghiêm tịnh quốc độ đều không thừa Mà chẳng phân biệt là nghiêm tịnh. Chúng sanh thị xứ hoặc phi xứ Và đến những nghiệp hoặc báo khác Tuỳ thuận tư duy vào Phật lực Nơi đây tất cả đều rõ biết. Tất cả thế gian những căn tánh Những thứ nghiệp hạnh vào ba cõi Lợi căn và trung cùng hạ căn Tất cả như vậy đều quan sát. Tịnh cùng bất tịnh những tri giải Thắng, liệt và trung đều thấy rõ Công hạnh chỗ đến của chúng sanh Ba cõi tương tục đều thuyết được. Thiền định giải thoát các tam muội Nhiễm tịnh nhân khởi đều chẳng đồng Và cùng đời trước khổ vui khác Tịnh tu Phật lực đều hay thấy. Chúng sanh nghiệp hoặc nối các loài Dứt các loài này được tịch diệt Những pháp hữu lậu trọn chẳng sanh Và tập chủng kia đều rõ biết. Như Lai phiền não đều trừ hết Đại trí quang minh chiếu thế gian Bồ Tát ở trong Phật thập lực Dầu chưa chứng được cũng không nghi. Bồ Tát ở trong một chân lông Niệm khắp mười phương vô lượng cõi Hoặc có tạp nhiễm hoặc thế gian Các thứ nghiêp hạnh đều rõ biết. Trong một vi trần vô lượng cõi Vô lượng chư Phật và Phật tử Các cõi riêng khác không tạp loạn Như một, tất cả đều thấy rõ. Nơi một chân lông thấy mười phương Hết hư không giới các thế gian Chẳng có một nơi không có Phật Cõi Phật như vậy đều thanh tịnh. Ở trong chân lông thấy cõi Phật Lại thấy tất cả các chúng sanh Tam thế sáu loài đều chẳng đồng Ngày, đêm, giờ, tháng có phược giải. Đại trí như vậy các Bồ Tát Chuyên tâm xu hướng ngôi Pháp Vương Nơi cảnh Phật trụ thuận tư duy Mà được vô biên đại hoan hỷ. Bồ Tát phân thân vô lượng ức Cúng dường tất cả chư Như Lai Thần thông biến hiện thắng vô tỉ Chỗ Phật sở hành đều trụ được. Với vô lượng Phật đều mến khen Bao nhiêu pháp tạng đều say nếm Thấy Phật nghe pháp siêng tu hành Như uống cam lộ lòng vui đẹp. Đã được Như Lai thắng tam muội Khéo vào các pháp trí tăng trưởng Tín tâm bất động như Tu Di Làm tạng công đức cho quần sanh. Từ tâm rộng lớn khắp chúng sanh Đều nguyện mau thành nhất thiết trí Mà luôn vô trước, không sở y Lìa các phiền não được tự tại. Trí rộng lớn thương xót chúng sanh Nhiếp khắp tất cả đồng với mình Biết không, vô tướng, không chân thật Mà lòng tu hành không lười trễ. Bồ Tát phát tâm lượng công đức Ức kiếp ca ngợi không hết được Vì xuất sanh các đức Như Lai Và quả Thanh Văn quả Độc Giác. Mười phương quốc độ các chúng sanh Ban cho an vui vô lượng kiếp Khuyên trì ngũ giới và thập thiện Tứ thiền, tứ tâm, các định xứ. Lại trọn nhiều kiếp ban an vui Khiến dứt phiền não thành La Hán Những phước đức đó dầu vô lượng Nhưng chẳng bằng công đức phát tâm. Lại dạy ức chúng thành duyên giác Được hạnh vô tránh đạo vi diệu Đem đó sánh với bồ đề tâm Toán số thí dụ không bằng được. Một niệm qua được trần số cõi Như vậy đi mãi vô lượng kiếp Số những cõi đó còn tính được Công đức phát tâm chẳng thế biết. Quá khứ, vị lai và hiện tại Bao nhiêu kiếp số vô lượng biên Những kiếp số này còn biết được Công đức phát tâm chẳng thể lường. Do tâm bồ đề khắp mười phương Bao nhiêu phân biệt đều biết cả Một niệm tam thế đều thấu tỏ Vì lợi ích vô lượng chúng sanh. Thập phương thế giới những chúng sanh Ý muốn, tri giải và phương tiện Đến hư không giới đều lường được Công đức phát tâm khó lường biết. Bồ Tát chí nguyện khắp mười phương Từ tâm lợi khắp các quần sanh Đều khiến tu hành Phật công đức Thế nên sức đó không ngằn mé. Chúng sanh: muốn, hiểu, lòng sở thích Căn tánh, phương tiện, hạnh riêng biệt Nơi trong một niệm đều rõ biết Nhất thiết trí tâm đồng đẳng. Tất cả chúng sanh các hoặc nghiệp Ba cõi tương tục không tạm dứt Những ngằn mé này còn biết được Công đức phát tâm khó nghĩ bàn. Phát tâm hay lìa nghiệp phiền não Cúng dường tất cả chư Như Lai Nghiệp hoặc đã lìa tương tục dứt Khắp trong bình đẳng đời được giải thoát. Một niệm cúng dường vô biên Phật Cũng cúng vô số các chúng sanh Đều dùng hương hoa và tràng đẹp Tràng phan lọng báu y phục tốt. Thức ngon tòa báu chỗ kinh hành Các thứ cung điện đều nghiêm tốt Tỳ Lô Giá Na diệu bửu châu Như ý ma ni phát sáng chói Như vậy niệm niệm đem cúng dường Trọn vô lượng kiếp bất khả thuyết Người đó phước tụ dầu lại nhiều Chẳng bằng phát tâm công đức lớn. Đã nói bao nhiêu những ví dụ Không có bằng được bồ đề tâm Bởi vì tam thế chư Như Lai Đều từ phát tâm này mà có. Phát tâm vô ngại không chừng ngằn Muốn cầu lượng đó không thể được Nhất thiết trí trí nguyện tất thành Bao nhiêu chúng sanh đều độ trọn. Phát tâm rộng lớn đồng hư không Sanh những công đức đồng pháp giới Công hạnh phổ biến không khác: như Trọn lìa chấp trước bình đẳng: Phật. Tất cả pháp môn đều vào cả Tất cả quốc độ đều qua được Tất cả trí cảnh đều thông đạt Tất cả công đức đều thành tựu. Tất cả năng xả luôn tương tục Tịnh các giới phẩm không sở trước Đầy đủ vô thượng công đức lớn Thường siêng tinh tấn bất thối chuyển. Vào thâm thiền định thường tư duy Trí huệ rộng lớn đồng tương ưng Đây là bậc Bồ Tát tối thắng Xuất sanh tất cả đạo Phổ Hiền. Tam thế tất cả chư Như Lai Đều dùng tam muội đà la ni Thần thông biến hóa đồng trang nghiêm. Mười phương chúng sanh vô biên lượng Thế giới hư không cũng như vậy Phát tâm vô lượng hơn số kia Do đây hay sanh tất cả Phật. Bồ đề tâm là gốc thập lực Cũng là gốc tứ biện vô úy Và mười tám Phật pháp bất cộng Tất cả đều từ phát tâm được. Chư Phật thân sắc tướng đoan nghiêm Nhẫn đến diệu pháp thân bình đẳng Trí huệ vô trước đáng cúng dường Đều do phát tâm mà được có. Tất cả Độc Giác, Thanh Văn thừa Sắc giới tứ thiền tam muội lạc Và vô sắc giới tứ định xứ Đều do phát tâm làm cội gốc. Tất cả trời người tự tại vui Nhẫn đến các loài các thứ vui Tinh tấn, định, huệ, căn, lực thảy Tất cả đều do sơ phát tâm. Từ nhân phát khởi tâm rộng lớn Thời hay tu hành lục độ hạnh Khuyên các chúng sanh tự tại chánh hạnh Ở trong tam giới thọ an vui. Trụ Phật trí vô ngại thiệt nghĩa Bao nhiêu diệu hạnh đều khai mở Hay khiến vô lượng các chúng sanh Đều dứt hoặc nghiệp hướng niết bàn. Trí huệ sáng chói như tịnh nhật Các hạnh đầy đủ như trăng tròn Công đức luôn đầy như biển cả Không nhơ không ngại đồng hư không. Khắp phát vô biên nguyện công đức Đều ban vui tất cả chúng sanh Tận thuở vị lai y nguyện hạnh Thường siêng tu tập độ chúng sanh. Vô lượng đại nguyện khó nghĩ bàn Nguyện khiến chúng sanh đều thanh tịnh Không, vô tướng, vô nguyện, vô y Do vì nguyện lực đều hiển rõ. Rõ pháp tự tánh như hư không Tất cả tịch diệt đều bình đẳng Pháp môn vô số bất khả thuyết Vì chúng sanh nói không sở trước. Thập phương thế giới chư Như Lai Đều đồng tán thán sơ phát tâm Tâm này vô lượng đức trang nghiêm Đến được bờ kia đồng với Phật. Như số chúng sanh ngần ấy kiếp Nói công đức đó chẳng thể hết Bởi ở nhà lớn của Như Lai Các pháp thế gian không dụ được. Muốn biết tất cả các Phật pháp Phải nên mau phát bồ đề tâm Tâm này hơn hết trong công đức Tất được Như Lai vô ngại trí. Chúng sanh tâm hành đếm biết được Quốc độ vi trần cũng đếm được Ngằn mé hư không có thể lường Phát tâm công đức không lường được. Xuất sanh tam thế tất cả Phật Thành tựu thế gian tất cả vui Tăng trưởng tất cả thắng công đức Dứt hẳn tất cả các nghi hoặc. Khai thị tất cả diệu cảnh giới Trừ hết tất cả các chướng ngại Thành tựu tất cả cõi thanh tịnh Xuất sanh tất cả trí Như Lai. Muốn thấy thập phương tất cả Phật Muốn ban vô tận công đức tạng Muốn diệt chúng sanh tất cả khổ Phải nên mau phát bồ đề tâm.
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 7.11.2009 9:59:57
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 2 Phẩm minh pháp Thứ mười tám Lúc bấy giờ, Tinh Tấn Huệ Bồ Tát bạch Pháp Huệ Bồ Tát rằng: "Thưa Phật tử! Đại Bồ Tát sơ phát bồ đề tâm, thành tựu vô lượng công đức như vậy, đủ trang nghiêm lớn, lên Phật thừa, vào chính vị Bồ Tát, bỏ những pháp thế gian, được pháp xuất thế của Phật, được tam thế chư Phật nhiếp thọ, quyết định đến chỗ vô thượng bồ đề rốt ráo. Chư Bồ Tát đó ở trong Phật giáo, tu tập thế nào khiến chư Phật đều hoan hỷ, vào chỗ trụ của chư Bồ Tát, tất cả đại hạnh đều được thanh tịnh, bao nhiêu đại nguyện đều khiến đầy đủ, được tạng rộng lớn của Bồ Tát, tùy chỗ đáng hóa độ thường vì thuyết pháp mà luôn chẳng bỏ hạnh ba la mật, chúng sanh sở niệm đều làm cho được giải thoát, nối hạnh Phật chủng khiến chẳng đoạn tuyệt, thiện căn phương tiện thảy đều chẳng luống? Thưa Phật tử! Chư Bồ Tát đó dùng phương tiện gì có thể sẽ viên mãn được những pháp đó? Xin xót thương tuyên nói cho đại chúng, trong hội này đều muốn nghe. Và như chư đại Bồ Tát thường siêng tu tập dứt trừ tất cả vô minh hắc ám, hàng phục ma oán, chế các ngoại đạo, rửa sạch hẳn tất cả tâm nhơ phiền não, đều có thể thành tựu tất cả thiện căn, ra khỏi hẳn tất cả ác thú các nạn, tu tập tất cả cảnh giới đại trí, thành tựu tất cả bậc Bồ Tát, các ba la mật, tổng trì, tam muội, lục thông, tam minh, tứ vô sở úy, công đức thanh tịnh, trang nghiêm tất cả quốc độ chư Phật, và những tướng hảo, thân hạnh, ngữ hạnh, tâm hạnh đều thành tựu đầy đủ, khéo biết lực, vô úy, bất cộng, nhất thiết chủng trí và cảnh giới sở hành của tất cả chư Phật Như Lai, vì muốn thành thục tất cả chúng sanh tuỳ tâm sở thích của họ mà lấy Phật độ, tùy căn, tùy thời diễn thuyết vô lượng pháp, Phật sự rộng lớn, và vô lượng pháp công đức khác, những hạnh, những đạo và những cảnh giới thảy đều viên mãn, mau bình đẳng với công đức của Như Lai, nơi chư Như Lai lúc tu Bồ Tát hạnh trong trăm ngàn vô số kiếp chứa họp pháp tạng đều thủ hộ được và khai thị diễn thuyết được, các ma ngoại đạo không thể làm ngại hư, nhiếp trì chánh pháp không cùng tận, lúc thuyết pháp ở tất cả thế giới được thiên, long, bát bộ, nhân vương, phạm vương, nhẫn đến Như Lai Pháp Vương thảy đều thủ hộ, tất cả thế gian cung kính cúng dường, thường được chư Phật hộ niệm, tất cả Bồ Tát cũng đều ái kính, được sức thiện căn thêm lớn pháp lành, khai diễn pháp tạng rất sâu của Như Lai, nhiếp trì chánh pháp để tự trang nghiêm. Công hạnh thứ đệ của tất cả Bồ Tát, trông mong ngài đều diễn thuyết cho." Lúc đó, Tinh Tấn Huệ Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng: Đấng Đại Danh Xưng khéo diễn thuyết Công đức sở thành của Bồ Tát Sâu vào vô biên hạnh rộng lớn Đầy đủ thanh tịnh trí vô sư. Nếu có Bồ Tát sơ phát tâm Thành tựu bậc phước đức trí huệ Vào vô sanh vị siêu thế gian Trọn được pháp bồ đề vô thượng. Lại kia thế nào trong Phật giáo Kiên cố siêng tu càng thêm hơn Khiến chư Như Lai đều hoan hỷ Trụ địa của Phật mau được vào. Nguyện hạnh thanh tịnh đều đầy đủ Và được tạng trí huệ rộng lớn Thường hay thuyết pháp độ chúng sanh Mà tân vô y và vô trước. Bồ Tát tát cả bình đẳng la mật Đều khéo tu hành không khuyết giảm Chúng sanh sở niệm đều cứu độ Thường trì Phật chủng khiến chẳng dứt. Chỗ làm kiên cố chẳng luống bỏ Tất cả công thành được xuất ly Như chư Bồ Tát chỗ tu hành Đạo thanh tịnh kia nguyện tuyên nói. Phá hẳn tất cả tối vô minh Hàng phục các ma và ngoại đạo Bao nhiêu cấu uế đều trừ sạch Được gần Như Lai bậc đại trí. Lìa hẳn ác đạo các hiểm nạn Tu tập cảnh đại trí thù thắng Được sức diệu đạo gần đức Phật Tất cả công đức đều thành tựu. Chứng được Như Lai trí tối thắng Trụ ở vô lượng các quốc độ Tùy tâm chúng sanh mà thuyết pháp Và làm các Phật sự rộng lớn. Thế nào mà được các diệu đạo Khai diễn Như Lai chánh pháp tạng Thường hay thọ trì các Phật pháp Không ai hơn được, không ai bằng. Thế nào vô úy như sư tử Chỗ làm thanh tịnh như trăng tròn? Thế nào tu tập công đức Phật Dường như liên hoa chẳng dính nước? Lúc đó, Pháp Huệ Bồ Tát nói với Tinh Tấn Huệ Bồ Tát rằng: "Lành thay Phật tử! Nay ngài muốn được nhiều lợi ích, nhiều an vui, nhiều ơn huệ, thương xót thế gian chư thiên và loài người mà hỏi hạnh thanh tịnh của Bồ Tát tu tập như vậy. Thưa Phật tử! Ngài trụ thiệt pháp, phát đại tinh tấn, tăng trưởng bất thối, đã được giải thoát, có thể hỏi như trên đây, đồng với đức Như Lai. Ngài lóng nghe khéo suy nghĩ, nay tôi thừa oai lực của đức Phật mà nói phần ít trong vấn đề đó. Thưa Phật tử! Đại Bồ Tát đã phát tâm vô thượng bồ đề, phải lìa si tối, tinh tấn gìn giữ chớ có phóng dật. Đại Bồ Tát trụ mười pháp sau đây gọi là chẳng phóng dật: Một là giữ gìn giới cấm; hai là xa lìa ngu si, tâm bồ đề thanh tịnh; ba là lòng thích ngay thẳng rời điều dua phỉnh; bốn là siêng tu căn lành không thối chuyển; năm là luôn khéo tư duy tâm của mình đã phát; sáu là chẳng thích gần gũi tất cả phàm phu tại gia hay xuất gia; bảy là tu những nghiệp lành mà chẳng mong cầu quả báo thế gian; tám là lìa hẳn nhị thừa mà thật hành Bồ Tát hạnh; chín là thích tu tập điều lành chẳng để đoạn tuyệt; mười là luôn khéo quan sát sức tương tục của mình. Đại Bồ Tát trụ bất phóng dật thời được điều thanh tịnh dưới đây: Một là thật hành đúng như lời nói; hai là niệm trí được thành tựu; bình đẳng là trụ nơi thâm định chẳng trầm chẳng điệu; bốn là thích cầu Phật pháp không lười bỏ; năm là theo pháp được nghe quan sát đúng lý sanh diệu trí huệ; sáu là nhập thâm thiền định được Phật thần thông; bảy là tâm bình đẳng không cao hạ; tám là tâm không chướng ngại đối với chúng sanh loại thượng trung hạ, bình đẳng lợi ích như đại địa; chín là nếu thấy chúng sanh nhẫn đến một phen phát bồ đề tâm thời tôn trọng kính thờ xem như hòa thượng; mười là đối với hòa thượng và a xà lê thọ giới, chư Bồ Tát, các thiện tri thức, các pháp sư luôn tôn trọng kính thờ. Bồ Tát trụ bất phóng dật, phát đại tinh tấn, khởi chánh niệm, sanh thắng nguyện, tu hành chẳng dứt, tâm không y tựa tất cả pháp, hay siêng tu tập pháp thậm thâm, vào môn vô tránh thêm tâm quảng đại; có thể thuận biết rõ vô biên Phật pháp, khiến chư Phật đều hoan hỷ. Bồ Tát lại có mười pháp sau đây có thể làm cho chư Phật hoan hỷ: Một là tinh tấn bất thối; hai là chẳng tiếc thân mạng; bình đẳng là không mong cầu lợi dưỡng; bốn là biết tất cả pháp đều như hư không; năm là khéo quan sát vào khắp pháp giới; sáu là biết các pháp ấn lòng không ỷ trước; bảy là luôn phát đại nguyện; tám là thành tựu nhẫn trí; chín là quan sát pháp lành của mình lòng không tăng giảm; mười là y vô tác môn tu những tịnh hạnh. Lại có mười pháp sau đây có thể làm chư Phật hoan hỷ: An trụ bất phóng dật; an trụ vô sanh nhẫn; an trụ đại từ; an trụ đại bi; an trụ đầy đủ các môn ba la mật; an trụ đại hạnh; an trụ đại nguyện; an trụ xảo phương tiện; an trụ dũng mãnh lực; an trụ trí huệ; quan sát tất cả pháp đều vô trụ, như hư không. Có mười pháp sau đây làm cho Bồ Tát mau nhập các địa: Một là khéo viên mãn hai hạnh phước và trí; hai là có thể trang nghiêm đạo ba la mật; bình đẳng là trí huệ sáng suốt chẳng tùy tha ngữ; bốn là kính thờ thiện hữu luôn không bỏ lìa; năm là thường hành tinh tấn không giải đãi; sáu là khéo an trụ Như Lai thần lực; bảy là tu các căn lành chẳng sanh mỏi nhọc; tám là thâm tâm lợi trí dùng pháp đại thừa để tự trang nghiêm; chín là đối với pháp môn của các địa tâm không trụ; mười là đồng một thể tánh với thiện căn phương tiện của tam thế chư Phật. Bồ Tát lúc sơ trụ địa phải khéo quan sát tuỳ nơi mình, có tất cả pháp môn, có thậm thâm trí huệ, tùy nhân đã tu, tuỳ quả đã được, tuỳ cảnh giới mình, tùy lực dụng mình, tùy chỗ thị hiện của mình, tùy mình phân biệt, tùy mình đã được, đều khéo quan sát biết tất cả pháp đều là tự tâm mà không sở trước. Biết được như vậy vào bồ đề địa hay khéo an trụ. Bồ Tát đó suy nghĩ rằng: chúng ta phải nên mau vào các địa. Vì nếu chúng ta trụ trong các địa thành tựu công đức rộng lớn như vậy, đã đủ công đức thời lần lần vào Phật địa. Đã trụ Phật địa thời có thể làm vô biên Phật sự rộng lớn. Do đây nên phải thường siêng tu tập không thôi nghỉ, không mỏi nhọc. Dùng đại công đức mà tự trang nghiêm vào Bồ Tát địa. Có mười pháp dưới đây làm cho Bồ Tát chỗ thật hành thanh tịnh: Một là xả hết của cải để làm vừa ý chúng sanh; hai là trì giới thanh tịnh không hủy phạm; ba là nhu hòa nhẫn nhục không cùng tận; bốn là siêng tu các hạnh trọn chẳng thối chuyển; năm là do chánh niệm không mê loạn; sáu là phân biệt rõ biết vô lượng pháp; bảy là tu tất cả hạnh mà không sở trước; tám là tâm bất động dường như núi Tu Di; chín là rộng độ chúng sanh dường như cầu đò; mười là biết tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh. Bồ Tát đã được hạnh thanh tịnh lại được mười pháp tăng thắng dưới đây: Một là chư Phật phương khác đều hộ niệm; hai là thiệ căn tăng thắng siêu việt đẳng cấp; ba là khéo lãnh thọ được sức gia trì của Phật; bốn là thường được thiện nhân làm chỗ nương tựa; năm là an trụ tinh tấn hằng chẳng phóng dật; sáu là biết tất cả pháp bình đẳng không khác; bảy là lòng luôn an trụ đại bi vô thượng; tám là quan sát các pháp đúng thật xuất sanh diệu huệ; chín là khéo có thể tu hành phương tiện thiện xảo; mười là có thể biết sức phương tiện của Như Lai. Bồ Tát có mười nguyện thanh tịnh như dưới đây: Một là nguyện thành thục chúng sanh không mỏi nhàm; hai là nguyện thật hành đủ điều lành để nghiêm tịnh thế giới; ba là nguyện thừa sự Như Lai luôn kính trọng; bốn là nguyện hộ trì chánh pháp chẳng tiếc thân mạng; năm là nguyện dùng trí quan sát vào các Phật độ; sáu là nguyện cùng các Bồ Tát đồng một thể tánh; bảy là nguyện vào cửa Như Lai rõ tất cả pháp; tám là nguyện người thấy sanh tin đều được lợi ích; chín là nguyện thần lực trụ thế tận kiếp vị lai; mười là nguyện đủ Phổ Hiền hạnh tu tập môn nhất thiết chủng trí. Bồ Tát trụ mười pháp sau đây làm cho những đại nguyện đều được viên mãn: Một là lòng không nhàm chán; hai là đủ đại trang nghiêm; ba là nhớ nguyện lực thù thắng của chư Bồ Tát; bốn là nghe các Phật độ đều nguyện vãng sanh; năm là thâm tâm lâu dài tận kiếp vị lai; sáu là nguyện trọn thành tựu tất cả chúng sanh; bảy là trụ tất cả kiếp chẳng lấy làm nhọc; tám là thọ tất cả khổ chẳng sanh nhàm lìa; chín là nơi tất cả vui lòng không tham trước; mười là thường siêng gìn giữ pháp môn vô thượng. Lúc Bồ Tát đầy đủ những nguyện như vậy, liền được mười vô tận tạng sau đây: Vô tận tạng thấy khắp chư Phật, vô tận tạng tổng trì chẳng quên, vô tận tạng quyết rõ các pháp, vô tận tạng đại bi cứu hộ, vô tận tạng các môn tam muội, vô tận tạng phước đức rộng lớn làm thỏa mãn lòng chúng sanh, vô tận tạng trí huệ rất sâu diễn tất cả pháp, vô tận tạng báo được thần thông, vô tận tạng trụ vô lượng kiếp, vô tận tạng vào vô biên thế giới. Bồ Tát đã được mười tạng vô tận thời đầy đủ phước đức, trí huệ thanh tịnh, tùy nghi mà thuyết pháp với chúng sanh. Với các chúng sanh, thế nào là Bồ Tát tùy nghi mà thuyết pháp? Bồ Tát biết chỗ làm của họ, biết nhân duyên của họ, biết tâm hành của họ, biết sở thích của họ. Bồ Tát đối với người nhiều tham dục thời thuyết bất tịnh, với người nhiều sân hận thời thuyết đại từ, với người nhiều ngu si thời dạy họ siêng quan sát, với người ba độc đồng đều, thời thuyết pháp môn thành tựu thắng trí, với người ưa thích sanh tử thời thuyết ba sự khổ, với người chấp trước thời thuyết không tịch, với người giải đãi thời thuyết tinh tấn, với người ngã mạn thời thuyết pháp bình đẳng, với người nhiều dua phỉnh thời thuyết tâm chất trực, với người thích tịch tịnh thời thuyết pháp rộng, khiến họ được thành tựu. Bồ Tát tuỳ thời nghi thuyết pháp như vậy. Lúc Bồ Tát thuyết pháp: Văn liên thuộc nhau, nghĩa không sai lầm, quan sát pháp trước sau dùng trí phân biệt, thẩm định phải quấy, chẳng trái pháp ấn, thứ đệ kiến lập vô biên hạnh môn khiến các chúng sanh dứt tất cả nghi ngờ, khéo biết căn tánh và giáo pháp Như Lai, chứng chân lý, biết pháp bình đẳng, dứt những pháp ái, trừ tất cả chấp, thường nhớ chư Phật không rời nơi lòng, rõ biết âm thanh thể tánh bình đẳng, nơi các ngôn thuyết tâm không chấp trước, khó nói ví dụ không trái nghịch nhau, đều khiến được ngộ tất cả chư Phật, tùy nghi khắp hiện trí thân bình đẳng. Bồ Tát vì các chúng sanh mà thuyết pháp như vậy thời tự mình tu tập tăng trường nghĩa lợi, chẳng bỏ các độ, trang nghiêm đầy đủ đạo ba la mật. Lúc bấy giờ, Bồ Tát vì khiến lòng chúng sanh được thỏa mãn, trong ngoài đều rời bỏ không còn chấp trước, đây thời là tu đàn ba la mật. Giữ đủ các giới cấm mà không sở trước, lìa hẳn ngã mạn, đây là tu thí ba la mật. Đều có thể nhẫn thọ tất cả sự khổ hại, tâm bình đẳng đối với chúng sanh không hề xao động, ví như đại địa hay chở tất cả, đây là tu nhẫn ba la mật. Với những công hạnh thường tu không lười trễ, không thối chuyển, thế lực dũng mãnh không bị chế phục, nơi các công đức không lấy không bỏ mà có thể đầy đủ tất cả trí môn, đây là hay tu tinh tấn ba la mật. Không tham trước cảnh ngũ dục, đều thành tựu được các thứ đệ định, luôn chánh tư duy, chẳng trụ chẳng xuất mà có thể tiêu diệt tất cả phiền não, xuất sanh vô lượng môn tam muội, thành tựu vô biên thần thông, nghịch thuận thứ đệ nhập các tam muội, nơi một tam muội nhập vô biên tam muội, biết rõ cảnh giới của tất cả tam muội cùng trí ấn chẳng chống trái nhau, có thể mau vào nơi bật nhất thiết trí, đây là hay tu thiền ba la mật. Nơi chư Phật nghe pháp thọ trì, gần thiện trí thức kính thờ chẳng mỏi, thường thích nghe pháp không nhàm đủ, tùy pháp đã được thọ mà tư duy đúng lý, nhập chơn tam muội lìa rời những thiên kiến, khéo quan sát các pháp, được thiệt tướng ấn, rõ biết đạo vô công dụng của Như Lai, thừa phổ môn huệ, nhập nơi môn nhất thiết chủng trí, trọn được thôi nghỉ, đây là hay tu bát nhã ba la mật. Thị hiện tất cả công nghiệp thế gian, giáo hóa chúng sanh không nhàm mỏi, tùy sở thích của họ mà hiện thân, tất cả chỗ thật hành đều không nhiễm trước, hoặc hiện phàm, hoặc hiện thánh, việc làm thời hoặc hiện sanh tử hoặc hiện niết bàn, khéo hay quán sát tất cả việc làm, thị hiện tất cả những sự trang nghiêm mà chẳng tham trước, vào khắp các loài để độ chúng sanh, đây là hay tu phương tiện ba la mật. Trọn thành tựu tất cả chúng sanh, trọn trang nghiêm tất cả thế giới, trọn cúng dường tất cả chư Phật, trọn thông đạt pháp vô chướng ngại, trọn tu hành khắp cả pháp giới hạnh thân hẳng trụ, trọn trí rõ vị lai kiếp, trọn biết tất cả tâmn niệm, trọn giác ngộ lưu chuyển hoàn diệt, trọn thị hiện tất cả quốc độ, trọn chứng được Như Lai trí huệ, đây là hay tu nguyện ba la mật. Vì đủ thâm tâm lực nên không tạp nhiễm, vì đủ thâm tín lực nên không bị khuất phục, vì đủ đại bi lực nên không hề mỏi nhàm, vì đủ đại từ lực nên sở hành bình đẳng, vì đủ tổng trì lực nên có thể dùng phương tiện trì tất cả nghĩa, vì đủ biện tài lực nên khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ đầy đủ, vì đủ ba la mật lực nên trang nghiêm đại thừa, vì đủ đại nguyện lực nên trọn chẳng đoạn tuyệt, vì đủ thần thông lực nên xuất sanh vô lượng, vì đủ gia trì lực nên khiến tin hiểu lãnh thọ, đây là hay tu lực ba la mật. Biết hành giả tham dục, biết hành giả sân hận, biết hành giả ngu si, biết hành giả đẳng phần, biết hành giả tu học địa, trong một niệm biết vô biên hạnh chúng sanh, biết vô biên tâm chúng sanh, biết tất cả pháp chân thật, biết môn pháp giới, sức giác ngộ khắp cả của chư Như Lai, đây là hay tu trí ba la mật. Như vậy, lúc Bồ Tát thanh tịnh các môn ba la mật, lúc viên mãn các môn ba la mật, lúc chẳng rời bỏ các môn ba la mật, trụ trog đại trang nghiêm Bồ Tát thừa, tùy sở niệm đều vì tất cả chúng sanh mà thuyết pháp, khiến họ tăng trưởng tịnh nghiệp để được độ thoát. Người đọa ác đạo thời dạy họ phát tâm. Người ở trong nạn thời khiến họ tinh tấn. Chúng sanh nhiều tham, chỉ cho pháp vô tham. Chúng sanh nhiều sân, thời khiến thật bình đẳng. Chúng sanh chấp kiến thời vì nói duyên khởi. Chúng sanh cõi dục, thời dạy họ lìa tham sân và pháp ác bất thiện. Chúng sanh cõi sắc, thời vì họ tuyên thuyết tỳ bát xá na. Chúng sanh vô sắc giới, thời vì họ tuyên thuyết trí huệ vi diệu. Với hàng nhị thừa thời dạy hạnh tịch tịnh. Với người thích đại thừa thì thuyết thập lực quảng đại trang nghiêm. Như thuở xa xưa, lúc sơ phát tâm, thấy vô lượng chúng sanh đoạ các ác đạo, thời đại sư tử hống nói rằng: Tôi sẽ dùng các pháp môn tùy nghi để độ thoát họ. Bồ Tát đầy đủ trí huệ như vậy, có thể rộng độ thoát tất cả chúng sanh. Thưa Phật tử! Bồ Tát đầy đủ trí huệ như vậy làm cho tam bảo chủng trọn chẳng đoạn tuyệt. Vì Bồ Tát dạy các chúng sanh phát tâm bồ đề nên có thể làm cho Phật chủng chẳng dứt. Vì thường khai xiển pháp tạng cho chúng sah nên có thể làm cho pháp chủng chẳng dứt. Vì khéo thọ trì giáo pháp không trái nghịch nên có thể làm cho tăng chủng chẳng dứt. Và lại vì đều hay ca ngợi tất cả đại nguyện nên có thể làm cho Phật chủng chẳng dứt. Vì phân biệt diễn thuyết môn nhân duyên nên có thể làm cho pháp chủng chẳng dứt. Vì thường siêng tu tập sáu pháp hòa kính nên có thể làm cho tăng chủng chẳng dứt. Lại vì ở trong ruộng chúng sanh gieo hột giống Phật nên có thể làm cho Phật chủng chắng dứt. Vì hộ trì chánh pháp chẳng tiếc thân mạng nên có thể làm cho pháp chủng chẳng dứt. Vì thống lý đại chúng không mệt mỏi nên có thể làm cho tăng chủng chẳng dứt. Lại vì đối với giáo pháp và cấm giới của tam thế chư Phật đều phụng trì trọn vẹn lòng chẳng bỏ lìa, nên có thể làm cho chủng tử Phật, pháp, tăng vĩnh viễn chẳng đoạn tuyệt. Bồ Tát nối thạnh tam bảo như vậy, tất cả việc làm không có lỗi, bao nhiêu công hạnh đều đem hồi hướng nhất thiết trí, do đây nên ba nghiệp không có tỳ vết. Vì ba nghiệp thân, ngữ và ý không tỳ vết nên những điều thiện đã làm, những công hạnh đã làm, giáo hóa chúng sanh, tùy nghi thuyết pháp, nhẫn đến một niệm đều không sai lầm, đều tương ưng với phương tiện trí huệ, đều đem hồi hướng nới nhất thiết chủng trí không để luống qua. Bồ Tát tu tập thiện pháp như vậy, niệm niệm đầy đủ mười điều trang nghiêm dưới đây: Một là thân trang nghiêm, vì tùy theo các chúng sanh đáng được điều phục mà thị hiện. Hai là ngữ trang nghiêm, vì dứt tất cả nghi ngờ khiến họ đều hoan hỷ. Ba là tâm trang nghiêm, vì trong một niệm nhập các tam muội. Bồn và phật sát trang nghiêm, vì tất cả thanh tịnh lìa những phiền não. Năm là quang minh trang nghiêm, vì phóng vô biên quang chiếu khắp chúng sanh. Sáu là chúng hội trang nghiêm, vì nhiếp khắp chúng hội đều làm cho hoan hỷ. Bảy là thần thông trang nghiêm, vì tùy tâm chúng sanh mà tự tại thị hiện. Tám là chánh giáo trang nghiêm, vì có thể nhiếp tất cả người thông huệ. Chín là niết bàn địa trang nghiêm, vì một chỗ thành đạo cùng khắp mười phương đều không thừa. Mười là xảo thuyết trang nghiêm, vì tùy xứ tùy thời tùy căn khí chúng sanh mà thuyết pháp. Bồ Tát thành tựu trang nghiêm như vậy, ở trong niệmn niệm thân, ngữ và ý không luống qua, đều đem hồi hướng nhất thiết trí. Nếu có chúng sanh nào thấy Bồ Tát này thời cũng không luống qua, vì tất sẽ thành vô thượng bồ đề vậy. Với Bồ Tát này, nếu ai được nghe tên, hoặc cúng dường, hoặc ở chung, hoặc ghi nhớ, hoặc theo xuất gia, hoặc nghe thuyết pháp, hoặc tùy hỉ thiện căn, hoặc có lòng vọng kính phục, nhẫn đến ca ngợi truyền dương danh tự, thời tất cả sẽ đều được vô thượng bồ đề. Ví như vị thuốc thiện kiến, ai thấy thuốc này thời tất cả bịnh độc đều tiêu trừ. Cũng vậy, Bồ Tát thành tựu pháp này, nếu chúng sanh nào thấy Bồ Tát thời các độc phiền não đều được dứt trừ và tăng trưởng thiện pháp. Bồ Tát trụ trong pháp này, siêng năng tu tập, dùng ánh sáng trí huệ dứt trừ si tối; dùng sức từ bi dẹp phục quân ma; dùng trí huệ lớn và sức phước đức chế các ngoại đạo; dùng kim cang định dứt trừ tất cả tâm nhơ phiền não; dùng sức tinh tấn họp các căn lành; dùng những sức thiện căn tịnh Phật độ mà xa lìa tất cả ác đạo và các nạn; dùng sức vô trước mà thanh tịnh cảnh giới của trí; dùng sức trí huệ phương tiện mà xuất sanh tất cả Bồ Tát địa, các ba la mật, các tam muội, lục thông, tam minh, tứ vô úy đều khiến thanh tịnh. Dùng tất cả thiện pháp lực để hoàn thành tất cả Phật độ, vô bien tướng hảo, thân, ngữ và tâm trang nghiêm toàn vẹn; dùng sức trí tự tại quan sát thập lực, tứ vô úy, pháp bất cộng của tất cả Như Lai đều bình đẳng; dùng sức trí huệ rộng lớn rõ biết cảnh giới của nhất thiết chủng trí; dùng nguyện lực thuở trước mà tùy nghi ứng hóa, hiện Phật độ, chuyển pháp luân, độ thoát vô lượng vô biên chúng sanh. Bồ Tát siêng tu pháp này thời thứ đệ thành tựu các Bồ Tát hạnh, nhẫn đến được cùng chư Phật bình đẳng, trong vô biên thế giới làm đại pháp sư hộ trì chánh pháp, được chư Phật hộ niệm, giữ gìn và thọ trì pháp tạng rộng lớn; được vô ngại biện thâm nhập pháp môn, ở trong đại chúng nơi vô biên thế giới tùy loại chẳng đồng mà khắp hiện thân hình xinh đẹp, dùng vô ngại biện khéo nói thâm pháp; vì âm thanh viên mãn khéo phân bố, nên có thể làm cho người nghe vào môn trí huệ vô tận, biết tâm hành phiền não của các chúng sanh mà vì họ thuyết pháp; vì ngôn âm hoàn toàn thanh tịnh nên nhất âm diễn xướng có thể làm hoan hỷ tất cả; vì thân đoan chánh có oai lực lớn nên không ai hơn khi ở trong chúng hội; vì khéo biết tâm chúng sanh nên có thể khắp hiện thân; vì thuyết pháp khéo léo nên âm thanh vô ngại; vì được tâm tự tại nên khéo thuyết đại pháp không bị trở hoại; vì được vô sở úy nên lòng không khiếp nhược; vì nơi pháp tự tại nên không ai hơn; vì nơi trí tự tại nên không ai thắng; vì bát nhã ba la mật tự tại nên những pháp tướng đã nói không chống trái; vì biện tài tự tại nên tùy thích thuyết pháp tương tục chẳng dứt; vì đà la ni tu nên quyết định khai thị thật tướng của các pháp; vì biện tài tự tại nên tuỳ chỗ diễn thuyết có thể khai các môn ví dụ; vì đại bình đẳng tự tại nên siêng dạy chúng sanh không lười trễ; vì đại từ tự tại nên phóng lưới quang minh vui đẹp lòng đại chúng. Bồ Tát ở nơi tòa sư tử cao lớn diễn nói đại pháp như vậy, chỉ trừ đức Như Lai và các đại Bồ Tát có thắng nguyện trí, thời không còn ai có thể thắng hơn được, không ai thấy đảnh được, không ai chói đoạt được, không ai vấn nạn làm thua được. Thưa Phật tử! Bồ Tát được tự tại lực như vậy rồi, giả sử có đạo tràng rộng lớn lượng bằng bất khả thuyết thế giới, chúng sanh đông đầy trong đó, mỗi chúng sanh sắc tướng oai đức đều như đại thiên thế giới chủ, Bồ Tát này vừa hiện thân đến đạo tràng thời có thể che chói tất cả đại chúng trên đây. Rồi dùng đại từ bình đẳng an định sự khiếp nhược của chúng, dùng thâm trí huệ xét sở thích của chúng, dùng biện tài vô uý vì chúng thuyết pháp, làm cho tất cả chúng đều vui mừng. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này đã thành tựu vô lượng môn trí huệ, vô lượng xảo phân biệt, chánh niệm lực rộng lớn, vô tận thiện xảo huệ, đã thành tựu đà la ni quyết liễu thật tướng của các pháp, vô biên bồ đề tâm, diệu biện tài, thâm tín giải, đã thành tựu trí huệ lực khắp vào đạo tràng của tam thế chư Phật, đã thành tựu tâm thanh tịnh biết tam thế chư Phật đồng một thể tánh, đã thành tựu Như Lai trí, Bồ Tát đại nguyện trí, có thể làm đại pháp sư khai thị chánh pháp tạng của chư Phật và hộ trì. Lúc đó, Pháp Huệ Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa thần lực của đức Phật mà nói kệ rằng: Tâm trụ bồ đề nhóm các phước Thường chẳng phóng dật trồng kiên huệ Chánh niệm kiên cố tự siêng gắng Nơi thế không tựa không thối khiếp Dùng hạnh vô tránh vào thâm pháp Thập phương chư Phật đều hoan hỷ. Phật hoan hỷ, rồi bền tinh tấn Tu hành phước trí trợ đạo pháp Vào nơi các địa, tịnh các hạnh Trọn đủ nguyện của Như Lai dạy. Như vậy mà tu được diệu pháp Đã được pháp rồi, thí quần sanh Tùy sở thích và căn tánh họ Đều thuận cơ nghi vì khai diễn. Bồ Tát vì chúng diễn thuyết pháp Chẳng bỏ những độ hạnh của mình Hạnh ba la mật đã được thành Thường nơi hữu lậu cứu quần chúng. Ngày đêm siêng tu không lười mỏi Khiến tam bảo chủng chẳng đoạn tuyệt Tất cả pháp lành đã thật hành Đều đem hồi hướng Như Lai địa. Bồ Tát tu hành những hạnh lành Khắp vì thành tựu các quần sanh Khiến họ phá tối diệt phiền não Hàng phục quân ma thành chánh giác. Tu hành như vậy được Phật trí Thâm nhập Như Lai chánh pháp tạng Làm đại pháp sư diễn diệu pháp Ví như cam lộ trọn rưới nhuần Từ bi thương xót khắp tất cả Tâm hành chúng sanh đều biết cả Đúng sở thích họ mà khai diễn Vô lượng vô biên các Phật pháp. Cử động an lành như tượng vương Dũng mãnh vô úy dường sư tử Bất động như núi, trí như biển Cũng như mưa to trừ nóng bức. Lúc Pháp Huệ Bồ Tát nói kệ xong, đức Như Lai hoan hỷ đại chúng đều phụng hành.
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 7.11.2009 10:22:38
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 2 Phẩm thăng dạ ma thiên cung Thứ mười chín Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, khắp thập phương thế giới, trong Diêm Phù Đề và trên đảnh Tu Di đều thấy Như Lai ngự giữa chúng hội. Chư Bồ Tát thừa oai thần của Phật mà diễn thuyết diệu pháp. Tất cả chúng đều cho rằng đức Phật luôn ở trước. Lúc đó, đức Thế Tôn không rời cội bồ đề và đảnh núi Tu Di mà hướng đến điện Bửu Trang Nghiêm nơi Dạ Ma Thiên Cung. Dạ Ma Thiên Vương vọng thấy đức Phật đến, liền dùng thần lực, nơi giữa điện, hóa ra tòa sư tử bửu liên hoa tạng trăm vạn từng cấp, trăm vạn lưới vàng, trăm vạn màn hoa, trăm vạn màn tràng hoa, trăm vạn màn hương, trăm vạn màn báu che giăng trên bửu tòa. Lọng hoa, lọng tràng, lọng hương, lọng báu đều số trăm vạn bố liệt bốn phía, chiếu sáng với trăm vạn quang minh. Trăm vạn Dạ Ma Thiên Vương cung kính đảnh lễ, trăm vạn Phạm Vương vui mừng hớn hở, trăm vạn Bồ Tát xưng dương ca ngợi, trăm vạn kỹ nhạc hòa tấu, trăm vạn pháp âm không dứt tiếng. Trăm vạn thứ mây hoa, trăm vạn thứ mây tràng, trăm vạn đồ trang nghiêm, trăm vạn thứ mây y phục giăng giáp vòng, trăm vạn thứ mây ma ni chói sáng, từ trăm vạn thiện căn sanh ra, được trăm vạn Phật hộ trì, trăm vạn thứ phước đức làm tăng trưởng, trăm vạn thâm tâm và trăm vạn thệ nguyện làm trang nghiêm thanh tịnh, trăm vạn công hạnh làm sanh khởi, trăm vạn pháp kiếp lập, trăm vạn thần thông biến hiện, luôn vang ra trăm vạn ngôn âm hiển thị các pháp. Sắp đặt bửu tòa xong, Dạ Ma Thiên Vương nghinh tiếp đức Thế Tôn, chấp tay cung kính bạch đức Phật rằng: "Lành thay đức Thiện Thệ! Lành thay đức Như Lai Ứng Cúng Đảnh Chánh Giác! Xin từ mẫn ngự trong cung điện này." Đức Phật thọ thỉnh, liền ngự lên bửu tòa. Thập phương thế giới, tất cả Dạ Ma thiên cung đều như thế cả. Lúc đó, Thiên Vương liền tự nhớ thiện căn đã vun trồng nơi chư Phật thời quá khứ, thừa oai lực của đức Phật mà nói kệ rằng: Danh xưng Như Lai khắp mười phương Trong những cát tường vô thượng nhất Phật từng vào điện ma ni này Vì thế chỗ này rất cát tường. Bửu Vương Như Lai đèn thế gian Trong những cát tường vô thượng nhất Phật từng vào điện thanh tịnh này Vì thế chỗ này rất cát tường. Hỷ Mục Như Lai thấy vô ngại Trong những cát tường vô thượng nhất Phật từng vào điện trang nghiêm này Vì thế chỗ này rất cát tường. Nhiên Đăng Như Lai chiếu thế gian Trong những cát tường vô thượng nhất Phật từng vào điện vô cấu này Vì thế chỗ này rất cát tường. Thiện Giác Như Lai không có thầy Trong những cát tường vô thượng nhất Phật từng vào điện bửu hương này Vì thế chỗ này rất cát tường. Thắng Thiên Như Lai đèn trong đời Trong những cát tường vô thượng nhất Phật từng vào điệu diệu hương này Vì thế chỗ này rất cát tường. Vô Khứ Như Lai hùng biện nhất Trong những cát tường vô thượng nhất Phật từng vào điện phổ nhãn này Vì thế chỗ này rất cát tường. Vô Thắng Như Lai đủ công đức Trong những cát tường vô thượng nhất Phật từng vào điện thiện nghiêm này Vì thế chỗ này rất cát tường. Khổ Hạnh Như Lai lợi thế gian Trong những cát tường vô thượng nhất Phật từng vào điện phổ nghiêm này Vì thế chỗ này rất cát tường. Khắp thập phương thế giới, tất cả Dạ Ma Thiên Vương đều ca ngợi công đức của Phật như vậy cả. Lúc đức Thế Tôn vào điện Ma Ni ngồi kiết già trên bửu tòa sư tử, điện này bỗng rộng rãi bao la bằng tất cả chỗ ở của thiên chúng. Thập phương thế giới cũng như vậy.
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 7.11.2009 11:24:04
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 2 Phẩm Dạ Ma Cung kệ tán Thứ hai mươi Lúc đó, do thần lực của đức Phật, mười phương đều có một đại Bồ Tát, mỗi vị đều cùng phật sát vi trần số Bồ Tát câu hội, từ những thế giới ngoài mười vạn phật sát vi trần số quốc độ mà đến. Tên của mười vị Bồ Tát đó là: Công Đức Lâm Bồ Tát, Huệ Lâm Bồ Tát, Thắng Lâm Bồ Tát, Vô Úy Lâm Bồ Tát, Tàm Quý Lâm Bồ Tát, Tinh Tấn Lâm Bồ Tát, Lực Lâm Bồ Tát, Hạnh Lâm Bồ Tát, Giác Lâm Bồ Tát, Trí Lâm Bồ Tát. Quốc độ của các ngài từ đó mà đến theo thứ tự là: Thân Huệ thế giới, Tràng Huệ thế giới, Bửu Huệ thế giới, Thắng Huệ thế giới, Đăng Huệ thế giới, Kim Cang Huệ thế giới, An Lạc Huệ thế giới, Nhựt Huệ thế giới, Tịnh Huệ thế giới, Phạm Huệ thế giới. Chư Phật Thế Tôn nơi thế giới đó theo thứ tự là: Thường Trụ Nhãn Phật, Vô Thắng Nhãn Phật, Võ Trụ Nhãn Phật, Bất Động Nhãn Phật, Thiên Nhãn Phật, Giải Thoát Nhãn Phật, Thẩm Đế Nhãn Phật, Minh Tướng Nhãn Phật, Tối Thượng Nhãn Phật, Cám Thanh Nhãn Phật. Chư Bồ Tát này đến dưới bửu tòa đảnh lễ Phật, rồi theo phương của mình đến đều riêng hóa hiện tòa sư tử liên hoa tạng mà ngồi kiết già trên đó. Tất cả Dạ Ma thiên ở thập phương thế giới đều như thế cả. Bồ Tát, quốc độ và Như Lai cũng đồng danh, đồng hiệu như trên. Lúc đó, đức Thế Tôn từ trên hai bàn chân, phóng ra trăm ngàn ức quang minh màu đẹp chiếu khắp thập phương thế giới. Tất cả đạo tràng, Phật và Bồ Tát đều hiển hiện cả. Bấy giờ, Công Đức Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Phật phóng đại quang minh Chiếu khắp nơi mười phương Đều thấy Thiên Nhân Tôn Thông đạt không chướng ngại. Phật ngồi cung Dạ Ma Khắp cùng mười phương cõi Việc này rất lạ lùng Thế gian rất hi hữu. Trời Dạ Ma Thiên Vương Ca ngợi mười Như Lai Như hội này đã thấy Tất cả hội cũng vậy. Những chúng Bồ Tát kia Đồng hiệu với chúng tôi Thập phương tất cả chỗ Diễn thuyết pháp vô thượng. Bổn quốc của các ngài Danh hiệu cũng không khác Đều riêng nơi bổn Phật Tịnh tu các phạm hạnh. Các đức Như Lai kia Danh hiệu cũng đều đồng Quốc độ đều giàu vui Thần lực đều tự tại. Tất cả chúng mười phương Đều thấy Phật ở đây Hoặc thấy ở nhân gian Hoặc thấy ở thiên cung. Như Lai an trụ khắp Tất cả các quốc độ Nay chúng tôi thấy Phật Ở tại thiên cung này. Xưa phát nguyện bồ đề Khắp đến mười phương cõi Nên oai lực của Phật Cùng khắp khó nghĩ bàn. Lìa sự tham thế gian Đầy đủ vô biên đức Nên được sức thần thông Chúng sanh đều thấy cả. Du hành mười phương cõi Như hư không vô ngại Một thân vô lượng thân Thân tướng bất khả đắc. Phật công đức vô biên Thế nào lường biết được Không dừng cũng không đi Vào khắp trong pháp giới. Huệ Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Đấng đạo sư thế gian Đấng ly cấu vô thượng Bất khả tư nghị kiếp Khó được gặp gỡ Phật. Phật phóng đại quang minh Thế gian đều khắp thấy Vì chúng rộng diễn bày Lợi ích những quần sanh. Như Lai xuất thế gian Vì đời trừ si tối Là đèn sáng thế gian Hi hữu khó thấy được. Đã tu thí, giới, nhẫn Tinh tấn và thiền định Bát nhã ba la mật Dùng đây chiếu thế gian. Như Lai không ai bằng Muốn sánh chẳng thể được Chẳng rõ pháp chân thiệt Thời không thể thấy Phật. Thân Phật và thần thông Tự tại khó nghĩ bàn Không đi cũng không đến Thuyết pháp độ chúng sanh. Nếu ai được thấy nghe Đấng đạo sư thanh tịnh Thoát hẳn các ác đạo Xa lìa tất cả khổ. Vô lượng vô số kiếp Tu tập hạnh bồ đề Chẳng thể biết nghĩa này Chẳng thể được thành Phật. Bất khả tư nghị kiếp Cúng dường vô lượng Phật Nếu biết được nghĩa này Công đức hơn công kia. Cúng Phật với trân bửu Đầy cả vô lượng cõi Chẳng biết được nghĩa này Trọn chẳng thành bồ đề. Lúc đó, Thắng Lâm Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Ví như tháng mạnh hạ Không tịnh không mây mù Mặt trời phóng quang huy Thập phương đều sáng chói. Quang minh không hạn lượng Không ai lường biết được Người mắt sáng còn vậy Huống là kẻ mù lòa. Chư Phật cũng như vậy Công đức vô biên tế Bất khả tư nghị kiếp Chẳng thể phân biệt biết. Các pháp không lai xứ Cũng không từ đâu sanh Chẳng thể phân biệt được. Tất cả pháp không đến Vì thế nên không sanh Vì đã không có sanh Nên cũng không có diệt. Tất cả pháp vô diệt Nếu biết được như vậy Người này thấy được Phật. Vì các pháp vô sanh Nên không có tự tánh Phân biệt biết như vậy Người này đạt thâm nghĩa. Do vì pháp vô tánh Không thể rõ biết được Nơi pháp hiểu như vậy Rốt ráo không chỗ hiểu. Nói rằng có sanh đó Bởi hiện các quốc độ Biết được tánh quốc độ Thời tâm không mê hoặc. Tánh quốc độ thế gian Quan sát đều như thật Nếu nơi đây biết được Khéo nói tất cả nghĩa. Vô Úy Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Thân Như Lai rộng lớn Rốt ráo nơi pháp giới Chẳng rời bửu tòa này Mà khắp tất cả chỗ. Nếu ai nghe pháp này Mà cung kính tin ưa Rời hẳn ba ác đạo Tất cả những khổ nạn. Giả sử như có người Qua vô lượng thế giới Chuyên tâm muốn được nghe Sức tự tại của Phật. Những Phật pháp như vậy Là vô thượng bồ đề Giả sử muốn tạm nghe Không ai có thể được. Nếu ai thời quá khứ Tin Phật pháp như vậy Đã thành Lưỡng Túc Tôn Làm đèn sáng thế gian. Nếu ai sẽ được nghe Sức tự tại của Phật Nghe rồi có lòng tin Người này sẽ thành Phật. Nếu có người hiện tại Tin được Phật pháp này Cũng sẽ thành chánh giác Thuyết pháp vô sở úy. Vô lượng vô số kiếp Pháp này rất khó gặp Nếu có người được nghe Là do bổn nguyện lực. Nếu ai thọ trì được Những Phật pháp như vậy Trì xong rộng tuyên thuyết Người này sẽ thành Phật. Huống là siêng tinh tấn Lòng kiên cố chẳng bỏ Nên biết người như vậy Quyết định thành bồ đề. Lúc đó, Tàm Quý Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Nếu ai được nghe pháp Hi hữu tự tại này Sanh được lòng hoan hỷ Chóng trừ lưới si lầm. Bậc thấy biết tất cả Tự nói lời như vầy Phật không gì chẳng biết Vì thế khó nghĩ bàn. Không có từ vô trí Mà sanh ra trí huệ. Thế gian thường tối tăm Nên không thể sanh được. Như sắc và phi sắc Hai đây chẳng là một Trí vô trí cũng vậy Thể nó đều sai biệt. Như tướng cùng vô tướng Sanh tử với niết bàn Phân biệt đều chẳng đồng Trí, vô trí cũng vậy. Thế giới mới thành lập Không có tướng bại hoại Trí, vô trí cũng vậy Hai thứ chẳng đồng thời. Như Bồ Tát sơ tâm Chẳng chung với hậu tâm Trí, vô trí cũng vậy Hai tâm chẳng đồng thời. Ví như những thức thân Đều riêng không hòa hiệp Trí, vô trí cũng vậy Rốt ráo không hòa hiệp. Như thuốc a già đà Hay diệt tất cả độc Có trí cũng như vậy Hay diệt sự vô trí. Như Lai không ai trên Cũng không ai sánh bằng Tất cả không so được Thế nên khó gặp gỡ. Tinh Tấn Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Các pháp vô sai biệt Không ai biết được đó Chỉ Phật cùng Phật biết Vì trí huệ rốt ráo. Như vàng và màu vàng Tánh nó vô sai biệt Pháp phi pháp cũng vậy Chúng sanh phi chúng sanh Hai đều không chân thật Như vậy các pháp tánh Thật nghĩa đều chẳng có. Ví như thời vị lai Không có tất cả tướng. Ví như tướng sanh diệt Các thứ đều chẳng thiệt Các pháp đều cũng vậy Tự tánh vốn không có. Niết bàn bất khả thủ Thời gian nói có hai Các pháp cũng như vậy Phật biệt có sai khác. Như nương vật bị đếm Mà có cái hay đếm Tánh kia vốn không có Nên rõ pháp như vậy. Ví như pháp toán số Thêm một đến vô lượng Phép đếm không thể tánh Vì trí nên sai khác. Ví như các thế gian Kiếp hỏa có hư diệt Hư không chẳng tổn hư Phật trí cũng như vậy. Như thập phương chúng sanh Đều lấy tướng hư không, Chư Phật cũng như vậy Thế gian vọng phân biệt. Lúc đó, Lực Lâm Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Tất cả chúng sanh giới Đều ở trong ba thời, Những chúng sanh ba thời Đều ở trong ngũ uẩn. Nghiệp là gốc của uẩn Tâm là gốc các nghiệp Tâm đó dường như huyễn Thế gian cũng như vậy. Thế gian chẳng tự làm Chẳng phải cái khác làm Mà nó được có thành Cũng lại được có hoại. Thế gian dầu có thành Thế gian dầu có hoại Người rõ thấu thế gian Chẳng nên nói hai việc. Thế nào là thế gian Thế nào phi thế gian Thế gian phi thế gian Chỉ là tên sai khác! Tam thế và ngũ uẩn Nói gọi là thế gian Nói diệt là phi thế Như vậy chỉ giả danh. Sao gọi là các uẩn Các uẩn có tánh gì Tánh uẩn chẳng diệt được Vì vậy nói vô sanh. Phân biệt các uẩn này Tánh nó vốn không tịch Vì không, nên chẳng diệt Đây là nghĩa vô sanh. Chúng sanh đã như vậy Phật và các Phật pháp Tự tánh vốn không có. Biết được các pháp này Như thật không điên đảo. Người thấy biết tất cả Thường thấy ở nơi trước. Hạnh Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Ví như mười phương cõi Tất cả những địa chủng Tự tánh vốn không có Không chỗ nào chẳng khắp. Thân Phật cũng như vậy Cùng khắp các thế giới Những sắc tướng sai khác Không dừng, không chỗ đến. Chỉ do vì các nghiệp Nói tên là chúng sanh Cũng chẳng lìa chúng sanh Mà có được các nghiệp. Nghiệp tánh vốn không tịch Chúng sanh chỗ y chỉ Khắp làm các hình sắc Cũng lại không chỗ đến. Những hình sắc như vậy Nghiệp lực khó nghĩ bàn Liễu đạt căn bổn kia Nơi trong, không chỗ thấy. Thân Phật cũng như vậy Chẳng thể nghĩ bàn được Những sắc tướng sai khác Hiện khắp mười phương cõi Thân chẳng phải là Phật Phật cũng chẳng phải thân Chỉ lấy pháp làm thân Thông đạt tất cả pháp. Nếu thấy được thân Phật Thanh tịnh như pháp tánh Với tất cả Phật pháp Người này không nghi lầm. Nếu thấy tất cả pháp Bổn tánh như niết bàn Đây thời thấy Như Lai Rốt ráo vô sở trụ. Nếu tu tập chánh niệm Sáng tỏ thấy chánh giác Vô tướng, vô phân biệt Đây gọi Pháp Vương Tử. Lúc đó, Giác Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Ví như họa sư kia Phân bố những màu sắc Hư vọng lấy dị tướng Đại chủng không sai khác. Trong đại chủng không sắc Trong sắc không đại chủng Cũng chẳng ngoài đại chủng Mà có được màu sắc. Trong tâm, không màu vẽ Trong màu vẽ, không tâm Nhưng chẳng rời nơi tâm Mà có được màu vẽ. Tâm đó luôn chẳng trụ Vô lượng khó nghĩ bàn Thị hiện tất cả sắc Đều riêng chẳng biết nhau. Ví như nhà họa sư Chẳng biết được tự tâm Mà do tâm nên vẽ Các pháp tánh như vậy. Tâm như nhà họa sư Hay vẽ những thế gian Ngũ uẩn từ tâm sanh Không pháp gì chẳng tạo. Như tâm, Phật cũng như vậy Như Phật, chúng sanh đồng Phải biết Phật cùng tâm Thể tánh đều vô tận. Nếu người biết tâm hành Bảo khắp các thế gian Người này thời thấy Phật Rõ Phật chân thật tánh. Tâm chẳng trụ nơi thân Thân chẳng trụ nơi tâm Mà làm được Phật sự Tự tại chưa từng có. Nếu người muốn rõ biết Tất cả Phật ba đời Phải quán pháp giới tánh Tất cả duy tâm tạo. Trí Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng: Sở thủ chẳng thể lấy Sở kiến chẳng thể thấy Sở văn chẳng thể nghe Nhất tâm bất tư nghị. Hữu lượng và vô lượng Cả hai chẳng thể lấy Nếu có ai muốn lấy Rốt ráo chẳng thể được. Chẳng nên nói mà nói Đây là tự khi dối Việc mình chẳng thành tựu Chẳng khiến chúng vui mừng. Có người muốn khen Phật Vô biên diệu sắc thân Tận cả vô số kiếp Không thể thuật hết được. Vì như châu như ý Hay hiện tất cả màu Không màu mà hiện màu Chư Phật cũng như vậy. Lại như hư không sạch Phi sắc, chẳng thấy được Dầu hiện tất cả sắc Không ai thấy hư không. Chư Phật cũng như vậy Hiện khắp vô lượng sắc Chẳng phải cảnh của tâm Tất cả chẳng thấy được. Dầu nghe tiếng Như Lai Âm thanh chẳng phải Phật Cũng chẳng ngoài âm thanh Biết được đấng Chánh Giác. Bồ đề không lai khứ Lìa tất cả phân biệt Thế nào ở trong đó Tự nói là thấy được. Chư Phật không có pháp Phật chỗ nào có nói, Chỉ theo tự tâm chúng Cho rằng Phật nói pháp.
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 7.11.2009 15:02:24
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 2 Phẩm thập hạnh Thứ hai mươi mốt Lúc bấy giờ, thừa thần lực của đức Phật, Công Đức Lâm Bồ Tát nhập Bồ Tát thiện tư duy tam muội. Nhập tam muội này rồi, mười phương đều quá ngoài vạn phật sát vi trần số thế giới, có vạn phật sát vi trần số chư Phật đều hiện Công Đức Lâm hiện ra nơi trước mà bảo Công Đức Lâm Bồ Tát rằng: "Lành thay Phật tử! Ông có thể nhập thiện tư duy tam muội này! Đây mười phương đều vạn phật sát vi trần số Như Lai cùng một danh hiệu đồng gia hộ ông. Và cũng là nguyện lực thần lực của Phật Tỳ Lô Giá Na và thiện căn lực của chúng Bồ Tát khiến ông nhập tam muội này để diễn thuyết pháp: Vì tăng trưởng Phật trí, vì thâm nhập pháp giới, vì rõ chúng sanh giới, vì sở nhập vô ngại, vì sở hành vô chướng, vì được vô lượng phương tiện, vì nhiếp thủ nhất thiết trí tánh, vì giác ngộ tất cả pháp, vì biết tất cả căn tánh, vì có thể thọ trì giảng thuyết tất cả pháp. Nghĩa là phát khởi mười hạnh của Bồ Tát. Này Phật tử! Ông nên thừa oai lực của Phật mà diễn thuyết pháp thập hạnh này." Chư Phật khuyên cáo xong, liền ban cho Công Đức Lâm Bồ Tát vô ngại trí, vô trước trí, vô đoạn trí, vô sư trí, vô si trí, vô dị trí, vô thất trí, vô lượng trí, vô thắng trí, vô giải đãi trí, vô đoạt trí. Tại sao vậy? Vì công lực của tam muội này là như vậy. Chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh của Công Đức Lâm Bồ Tát. Lúc đó, Công Đức Lâm Bồ Tát xuất định nói với chư Bồ Tát rằng: "Thưa Phật tử! Hạnh của Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn được. Hạnh đó đồng với pháp giới hư không giới. Vì Bồ Tát học theo tam thế chư Phật mà tu hành vậy. Những gì là hạnh của Bồ Tát? Thưa chư Phật tử! Đại Bồ Tát có mười hạnh sau đây, mà tam thế chư Phật đều tuyên nói: Một là hoan hỷ hạnh; hai là nhiêu ích hạnh, ba là vô vi hạnh; bốn là vô khuất nhiễu hạnh; năm là vô si loạn hạnh; sáu là thiện hiện hạnh; bảy là vô trước hạnh; tám là nan đắc hạnh; chín là thiện pháp hạnh; mười là chân thiệt hạnh. Thế nào là Bồ Tát hoan hỷ hạnh? Bồ Tát này làm đại thí chủ, phàm có vật gì đều bố thí được cả, lòng bình đẳng không hề hối tiếc, chẳng trông quả báo, chẳng cầu tiếng tăm, chẳng tham lợi tức, chỉ vì cứu hộ tất cả chúng sanh, vì nhiếp thọ chúng sanh, vì lợi ích chúng sanh, vì học tập bổn hạnh của chư Phật, vì nhớ đến bổn hạnh của chư Phật, vì thích mến bổn hạnh của chư Phật, vì thanh tịnh bổn hạnh của chư Phật, vì tăng trưởng bổn hạnh của chư Phật, vì trụ trì bổn hạnh của chư Phật, vì hiển hiện bổn hạnh của chư Phật, vì diễn thuyết bổn hạnh của chư Phật, vì khiến chúng sanh thoát khổ được vui. Lúc đại Bồ Tát tu hạnh này, khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ mến thích. Chốn nào, cõi nào nghèo thiếu, Bồ Tát dùng nguyện lực sanh nơi đó, làm nhà hào quý giàu có vô tận. Giả sử trong mỗi niệm có vô lượng chúng sanh đến chỗ Bồ Tát, vì đói khát mà xin thịt nơi thân Bồ Tát để ăn, Bồ Tát liền móc thịt nơi thân mình để dâng cho họ, khiến lòng họ thỏa mãn vui mừng, không hề khiếp sợ từ chối, chỉ càng tăng trưởng tâm từ bình đẳng. Vì thế nên chúng sanh đều đến để xin cầu. Bồ Tát thấy họ đến xin, lòng thêm hoan hỷ, vì nghĩ rằng tôi được lợi lớn, các chúng sanh này là phước điền của tôi, là thiện hữu của tôi. Tôi chẳng cầu chẳng thỉnh mà họ đến dạy tôi vào trong Phật pháp. Tôi phải tu học thật hành như vậy không để trái ý chúng sanh. Bồ Tát lại nghĩ rằng: Nguyện những căn lành mà tôi đã, sẽ, hay đang thật hành là cho tôi thọ thân hình to lớn trong tất cả thế giới để được đem thịt nơi thân cung cấp cho tất cả chúng sanh bị đói khổ, thịt còn mãi cắt lấy vô tận, nhẫn đến còn một chúng sanh nhỏ chưa no đủ thời tôi nguyện không xả mạng. Do thiện căn này nguyện được vô thượng bồ đề, chứng đại niết bàn. Nguyện cho những chúng sanh đã ăn thịt tôi, cũng đều được vô thượng bồ đề, được trí bình đẳng, đủ những Phật pháp, rộng làm Phật sự, nhẫn đến nhập vô dư niết bàn. Nếu còn một chúng sanh lòng chưa thỏa mãn, tôi trọn chẳng chứng vô thượng bồ đề. Bồ đề lợi ích chúng sanh như vậy mà không ngã tưởng, chúng sanh tưởng, hữu tưởng, mạng tưởng, các thứ tưởng, bổ đặc già la tưởng, nhân tưởng, ma nạp bà tưởng, tác giả tưởng, thọ giả tưởng. Chỉ quán pháp giới, chúng sanh giới vô biên tế, quán không pháp, vô sỡ hữu pháp, vô tướng pháp, vô thể pháp, vô xứ pháp, vô y pháp, vô tác pháp. Lúc quán như vậy, chẳng thấy tự thân, chẳng thấy vật bố thí, chẳng thấy người thọ, chẳng thấy phước điền, chẳng thấy nghiệp, chẳng thấy báo, chẳng thấy quả, chẳng thấy đại quả, chẳng thấy tiểu quả. Lúc bấy giờ, Bồ Tát quán thân của tất cả tam thế chúng sanh đều liền hoại diệt, mà nghĩ rằng: Lạ thay cho chúng sanh ngu si, vô trí, ở trong sanh tử, thọ vô số thân mỏng manh chẳng tạm dừng, mau về nơi hoại diệt, hoặc đã, hoặc hiện, hoặc sẽ hoại diệt, mà họ chẳng thể đem thân chẳng bền để cầu thân kiên cố. Tôi phải học tập những điều mà chư Phật đã học tập, để được chứng nhất thiết trí, biết nhất thiết pháp, rồi vì chúng sanh diễn thuyết tam thế bình đẳng, tùy thuận pháp tánh tịch tịnh bất hoại, khiến họ được vĩnh viễn an ổn khoái lạc. Đây gọi là Bồ Tát hoan hỷ hạnh thứ nhất. Chư Phật tử! Những gì là Bồ Tát nhiêu ích hạnh? Bồ Tát này hộ trì tịnh giới, lòng không nhiễm trước sắc thanh hương vị xúc. Cũng đem sự vô trước ấy nói với chúng sanh, chẳng cầu oai thế, chẳng cầu chủng tộc, chẳng cầu giàu có, chẳng cầu sắc tướng, chẳng cầu ngôi vua, tất cả đều không nhiễm trước. Chỉ bền giữ tịnh giới. Tự nghĩ: Tôi trì tịnh giới, quyết sẽ bỏ lìa tất cả triền phược, tham cầu, nhiệt não, các nạn bứt ngặt, hủy báng loạn trược, mà được chánh pháp bình đẳng của Phật khen ngợi. Lúc Bồ Tát trì tịnh giới như vậy, trong một ngày, giả sử có vô số đại ác ma đem vô số thiên nữ tuyệt đẹp trang sức lộng lẫy vũ nhạc đàn cát tường đến muốn làm mê loạn đạo tâm của Bồ Tát này. Bồ Tát này liền suy nghĩ rằng: Cảnh ngũ dục này là thứ chướng đạo, nhẫn đến chướng vô thượng bồ đề. Do đây nên Bồ Tát chẳng có mộ niệm dục tưởng, lòng thanh tịnh như Phật. Chỉ trừ phương tiện giáo hóa chúng sanh, nhưng vẫn không rời tâm nhất thiết trí. Bồ Tát không vì nhân duyên ngũ dục mà làm não hại một chúng sanh, thà bỏ thân mạng chớ trọn không làm sự não chúng sanh. Bồ Tát từ khi được thấy Phật đến nay, chưa từng có một niệm dục tưởng, huống là làm theo. Bồ Tát thường nghĩ: Các chúng sanh mãi tưởng nhớ ngũ dục, xu hướng ngũ dục, tham trước ngũ dục, lòng họ quyết phải say mê chìm đắm, rồi theo đó mà lưu chuyển không được tự tại. Nay tôi phải nên khiến bọn ma này cùng các thiên nữ trụ nơi tịnh giới, không thối chuyển nơi nhất thiết trí, được vô thượng bồ đề nhẫn đến vào vô dư niết bàn. Vì đây là việc mà tôi phải thật hành. Tôi phải học tập theo Phật, phải rời bỏ ác hạnh, chấp ngã, si mê. Dùng trí huệ vào tất cả Phật pháp. Giảng thuyết cho chúng sanh khiến họ trừ điên đảo. Nhưng biết không ngoài chúng sanh có điên đảo, không ngoài điên đảo có chúng sanh, chẳng ở trong điên đảo có chúng sanh, chẳng ở trong chúng sanh có điên đảo. Cũng chẳng phải điên đảo là chúng sanh, chẳng phải chúng sanh là điên đảo. Điên đảo chẳng phải nội pháp ngoại pháp, chúng sanh cũng chẳng phải nội pháp ngoại pháp. Tất cả các pháp đều hư vọng chẳng thiệt, chóng sanh chóng diệt không kiên cố như mộng, như huyễn, như bóng, như vang, nói dối phỉnh kẻ ngu. Hiểu được như vậy liền giác ngộ được tất cả hành pháp, thông đạt sanh tử và niết bàn, chứng Phật bồ đề, tự được độ và khiến người được độ, tự giải thoát và khiến người giải thoát, tự điều phục và khiến người điều phục, được tịch tịnh và khiến người tịch tịnh, tự an ổn và khiến người an ổn, tự ly cấu và khiến người ly cấu, tự thanh tịnh và khiến người thanh tịnh, tự niết bàn và khiến người niết bàn, tự khoái lạc và khiến người khoái lạc. Bồ Tát này lại tự nghĩ rằng: Tôi phải tuỳ thuận tất cả Như Lai, rời tất cả hành vi thế gian, trọn nên tất cả Phật pháp, trụ nơi vô thượng bình đẳng, xem chúng sanh bình đẳng, rõ suốt cảnh giới lìa lỗi, dứt phân biệt, bỏ chấp trước, khéo xuất ly, tâm luôn an trụ nơi thậm thâm trí huệ vô thượng vô thuyết vô y vô động vô lượng vô biên vô tận vô sắc. Đây gọi là Bồ Tát nhiêu ích hạnh thứ hai. Những gì là Bồ Tát vô vi nghịch hạnh? Bồ Tát này thường tu nhẫn pháp: Khiêm hạ cung kính, chẳng tự hại, chẳng hại người, chẳng hại mình người, chẳng tự thủ trước, chẳng thủ trước người, chẳng thủ trước cả hai, cũng chẳng tham cầu danh tiếng lợi lộc. Chỉ nghĩ rằng: Tôi phải luôn thuyết pháp cho chúng sanh, khiến họ lìa tất cả sự ác, dứt phiền não, khiến họ luôn nhẫn nhục nhu hòa. Bồ Tát thành tựu nhẫn pháp như vậy, giả sử có vô số chúng sanh ác, đến chỗ Bồ Tát, đem vô số lời ác mắng nhiếc trêu chọc nguyền rủa, đồng thời cầm dao gậy đạp chém trải qua vô số kiếp không thôi. Bồ Tát bị sự bức khổ vô cùng này, sắp phải chết, tự nghĩ rằng: Tôi nhân sự khổ nhục này, nếu lòng động loạn thời là tự chẳng điều phục, tự chẳng giữ gìn, tự chẳng sáng suốt, tự chẳng tu tập, tự chẳng chánh định, tự chẳng tịch tịnh, tự chẳng ái tích, tự sanh chấp trước, thời đâu có thể làm cho người khác lòng được thanh tịnh. Lúc đó, Bồ Tát lại nghĩ: Tôi từ vô thỉ kiếp trụ nơi sanh tử chịu nhiều khổ não. Suy nghĩ như vậy rồi càng tự khích lệ thêm, khiến lòng thanh tịnh mà được vui mừng, khéo tự điều nhiếp, tự có thể tự an trụ nơi trong Phật pháp, cũng khiến chúng sanh đồng được pháp này. Lại suy nghĩ: Thân này không tịch, không ngã, ngã sở, không thiệt, tánh trống rỗng không hai, đều không có hoặc khổ hoặc vui, vì tất cả pháp đều trống không vậy. Tôi phải hiểu rõ để nói rộng cho người, khiến các chúng sanh diệt trừ kiến chấp này. Vì thế nên dầu nay tôi bị khổ nhục, tôi phải nhẫn thọ, vì thương xót chúng sanh, vì lợi ích chúng sanh, vì an vui chúng sanh, vì nhiếp thọ chúng sanh, vì chẳng bỏ chúng sanh, vì để tự giác ngộ và khiến người giác ngộ, vì lòng không thối chuyển xu hướng Phật đạo. Đây là Bồ Tát vô vi nghịch hạnh thứ ba. Chư Phật tử! Những gì là Bồ Tát vô khuất nhiễu hạnh? Bồ Tát này tu hạnh tinh tấn: Đệ nhất tinh tấn, đại tinh tấn, thắng tinh tấn, thù thắng tinh tấn, tối thắng tinh tấn, tối diệu tinh tấn, thượng tinh tấn, vô thượng tinh tấn, vô đẳng tinh tấn, phổ biến tinh tấn. Tánh không tham sân si, tánh không kiêu mạn, phú tàng, xan tật, siểm cuống, tánh tự tàm quý. Trọn chẳng vì não chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì dứt tất cả phiền não mà tinh tấn, chỉ vì nhổ gốc phiền não mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả chúng sanh giới mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả chúng sanh chết đây sanh kia mà tinh tấn, chỉ vì biết phiền não của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết cảnh giới của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết căn cơ thắng liệt của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết tâm hành của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả pháp giới mà tinh tấn, chỉ vì biết tánh căn bổn của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết tánh bình đẳng của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết tánh tam thế bình đẳng mà tinh tấn, chỉ vì được trí quang minh của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì chứng trí của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết nhất thiệt tướng của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả Phật pháp vô biên tế mà tinh tấn, chỉ vì được trí thiện xảo quyết định quảng đại của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì được trí diễn thuyết cú nghĩa của tất cả Phật pháp mà tinh tấn. Bồ Tát trọn nên hạnh tinh tấn như vậy rồi, có thể vì mỗi mỗi chúng sanh trong vô số thế giới mà chịu khỗ ở vô gián địa ngục trọn vô số kiếp, để những chúng sanh đó được gặp Phật, được hưởng vui, nhẫn đến được vô dư niết bàn, rồi mình sẽ chứng vô thượng bồ đề. Giả sử có người bảo: Có vô lượng vô số đại hải, ông sẽ lấy đầu sợi lông chấm từ giọt đến khô cạn, và nghiền vô lượng vô số thế giới làm bụi, đếm biết rõ số giọt, số bụi ấy, ông vì chúng sanh trải qua kiếp số bằng số giọt số bụi ấy mà chịu khổ chẳng dứt. Bồ Tát dầu nghe lời trên đây, nhưng không hề có một niệm thối khiếp. Chỉ càng thêm hớn hở vui mừng: Tôi may mắn được lợi lành lớn. Vì do sức của tôi mà vô lượng chúng sanh kia thoát khổ hẳn. Bồ Tát này đem phương tiện thật hành trong tất cả thế giới, làm cho tất cả chúng sanh được rốt ráo vô dư niết bàn. Đây gọi là Bồ Tát vô khuất nhiễu hạnh thứ tư. Những gì là Bồ Tát ly si loạn hạnh? Chư Phật tử! Bồ Tát này thành tựu chánh niệm, tâm không tán loạn kiên cố bất động tối thượng thanh tịnh rộng lớn vô lượng không có mê hoặc. Vì do chánh niệm này nên khéo hiểu tất cả ngôn ngữ thế gian, hay trì ngôn thuyết của các pháp xuất thế, như là hay trì ngôn thuyết sắc pháp phi sắc pháp, hay trì ngôn thuyết kiến lập sắc tự tánh, nhẫn đến hay trì ngôn thuyết thọ tưởng hành thức tự tánh mà tâm không si loạn. Ở trong thế gian, chết đây sanh kia tâm không si loạn. Nhập thai xuất thai tâm không si loạn. Phát tâm bồ đề tâm không si loạn. Thờ thiện trí thức tâm không si loạn, siêng tu Phật pháp tâm không si loạn. Rõ biết ma sự tâm không si loạn. Lìa những ma nghiệp tâm không si loạn. Trong bất khả thuyết kiếp tu Bồ Tát hạnh tâm không si loạn. Bồ Tát này thành tựu vô lượng chánh niệm như vậy. Trong vô lượng vô số kiếp được nghe chánh pháp nơi chư Phật, Bồ Tát, thiện tri thức. Như là thậm thâm pháp, quảng đại pháp, trang nghiêm pháp, những thứ trang nghiêm pháp, pháp diễn thuyết các loại danh cú văn thân, pháp Bồ Tát trang nghiêm, pháp Phật thần lực quang minh vô thượng, pháp chánh thăng giải thanh tịnh, pháp chẳng nhiễm trước tất cả thế gian, pháp phân biệt tất cả thế gian, pháp rất quảng đại, pháp rời mê si chiếu rõ tất cả chúng sanh, pháp cùng đồng với tất cả thế gian, pháp chẳng cùng đồng với tất cả thế gian, pháp Bồ Tát trí vô thượng pháp nhất thiết trí tự tại. Bồ Tát được nghe những pháp như vậy rồi trải qua vô số kiếp chẳng quên chẳng mất, tâm thường ghi nhớ không gián đoạn. Tại sao vậy? Vì trong vô lượng kiếp, lúc tu hành, Bồ Tát trọn chẳng làm não loạn một chúng sanh khiến họ mất chánh niệm, chẳng hoại chánh pháp, chẳng đoạn thiện căn, tâm luôn tăng trưởng trí huệ rộng lớn. Lại với Bồ Tát này, những thứ âm thanh không làm hoặc loạn được. Như là tiếng cao thần thông, tiếng thô trược, tiếng khiến người cả sợ, tiếng đẹp lòng, tiếng chẳng đẹp lòng, tiếng huyen loạn nhĩ thức, tiếng trở hoại nhĩ căn. Bồ Tát này dầu nghe vô lượng vô số âm thanh hay dở như vậy, nhưng chưa từng có một niệm tán loạn. Nghĩa là chánh niệm chẳng loạn, cảnh giới chẳng loạn, tam muội chẳng loạn, vào pháp thậm thâm chẳng loạn, hành bồ đề hạnh chẳng loạn, phát bồ đề tâm chẳng loạn, nhớ nhiệm chư Phật chẳng loạn, quán pháp chân thật chẳng loạn, trí hóa độ chúng sanh chẳng loạn, trí thanh tịnh chúng sanh chẳng loạn, quyết rõ nghĩa thậm thâm chẳng loạn. Vì chẳng làm nghiệp ác nên không ác nghiệp chướng, vì chẳng khởi phiền não nên không phiền não chướng, vì chẳng khinh mạn pháp nên không pháp chướng, vì chẳng hủy báng chánh pháp nên không có báo chướng. Bồ Tát này nhập chánh định trụ nơi thành pháp, tư duy quan sát tất cả âm thanh, khéo biết tướng sanh trụ dị diệt của âm thanh, khéo biết tánh sanh trụ dị diệt của âm thanh. Nghe âm thanh, Bồ Tát này không sanh lòng tham, sân, không mất chánh niệm, khéo lấy tướng mà không nhiễm trước, biết tất cả âm thanh đều là không chỗ có, thiệt chẳng thể được, không có tác giả, cũng không bổn tế, đồng với pháp giới không sai khác. Bồ Tát này thành tựu hạnh thân ngữ ý tịch tịnh như vậy thẳng đến nhất thiết trí không thối chuyển, khéo vào tất cả môn thiền định, biết các tam muội đồng một thể tánh, rõ tất cả pháp không có biên tế, được tất cả pháp chân thiệt trí huệ, được thậm thâm tam muội ly âm thanh, được vô số môn tam muội, thêm lớn vô lượng tâm đại bình đẳng. Bấy giờ trong khoảng một niệm, Bồ Tát này được vô số trăm ngàn tam muội. Nghe những tiếng như vậy tâm chẳng hoặc loạn, khiến tam muội lần lần càng thêm rộng. Bồ Tát này nghĩ rằng: Tôi phải làm cho tất cả chúng sanh an trụ trong niệm thanh tịnh vô thượng, nơi nhất thiết trí được bất thối chuyển rốt ráo thành tựu vô dư niết bàn. Đây gọi là Bồ Tát ly si loạn hạnh thứ năm. Những gì là Bồ Tát thiện hiện hạnh? Bồ Tát này ba nghiệp thân ngữ ý đều thanh tịnh, trụ và thị hiện đều vô sở đắc. Biết được ba nghiệp đều vô sở hữu. Vì không hư vọng nên không hệ phược. Phàm chỗ thị hiện đều vô tánh vô y. Trụ tâm như thiệt, biết vô lượng tâm tự tánh, biết tất cả pháp tự tánh, vô đắc vô tướng rất sâu khó vào, trụ nơi chánh vị chân như pháp tánh. Phương tiện xuất sanh mà không nghiệp báo, bất sanh bất diệt, trụ niết bàn giới, trụ tánh tịch tịnh, trụ nơi tánh chơn thiệt vô tánh, đường ngữ ngôn dứt, siêu các thế gian không sở y, nhập pháp ly phân biệt không phược trước, nhập pháp trí tối thắng chân thật, nhập pháp chẳng phải thế gian có thể rõ biết xuất thế gian. Đây là phương tiện thiện xảo thị hiện sanh tướng của Bồ Tát này Bồ Tát này nghĩ rằng: Tất cả chúng sanh vô tánh làm tánh, tất cả các pháp vô vi làm tánh, tất cả quốc độ vô tướng làm tánh, tất cả tam thế chỉ có ngôn thuyết, tất cả ngôn thuyết ở trong các pháp không có y xứ, tất cả các pháp ở trong ngôn thuyết cũng không y xứ. Như vậy, Bồ Tát này hiểu tất cả pháp thảy đều rất sâu, tất cả thế gian thảy đều tịch tịnh, tất cả Phật pháp không chỗ thêm, Phật pháp không khác pháp thế gian, pháp thế gian không khác Phật pháp. Phật pháp và thế gian pháp không có tạp loạn, cũng không sai khác. Rõ biết pháp giới thể tánh bình đẳng. Vào khắp tam thế, vĩnh viễn chẳng bỏ lìa tâm đại bồ đề. Luôn chẳng thối chuyển tâm giáo hóa chúng sanh, càng thêm tăng trưởng tâm đại từ bình đẳng, làm chỗ sở y cho tất cả chúng sanh. Bấy giờ, Bồ Tát lại nghĩ rằng: Tôi không thành thục chúng sanh thời ai sẽ thành thục? Tôi chẳng điều phục chúng sanh thời ai sẽ điều phục? Tôi chẳng giáo hóa chúng sanh thời ai sẽ giáo hóa? Tôi chẳng giác ngộ chúng sanh thời ai sẽ giác ngộ? Tôi chẳng thanh tịnh chúng sanh thời ai sẽ thanh tịnh? Đây là những điều đáng cho tôi phải thật hành. Bồ Tát này lại nghĩ rằng: Nếu tôi tự hiểu pháp thậm thâm này, thời chỉ một tôi riêng được giải thoát chứng vô thượng bồ đề, mà các chúng sanh mù tối sa vào đường hiểm lớn bị những phiền não triền phược, như người bệnh nặng luôn thọ khổ thống, ở trong ngũ tham ái không tự ra khỏi, chẳng rời địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cõi vua Diêm La, chẳng diệt được khổ, chẳng bỏ nghiệp ác, thường ở si ám chẳng thấy chân thiệt, luân hồi sanh tử không ra khỏi được, trụ nơi bát nạn, những cấu nhiễm vấy nhơ, những phiền não che chướng tâm họ, tà kiến làm chẳng thật hành chánh đạo. Bồ Tát này quán sát những chúng sanh rồi nghĩ rằng: Nếu những chúng sanh này chưa thành thục, chưa điều phục, tôi bỏ họ mà chứng vô thượng bồ đề thời không nên. Tôi sẽ trước giáo hóa chúng sanh trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thật hành hạnh Bồ Tát. Kẻ chưa thành thục trước làm cho được thành thục, kẻ chưa điều phục trước làm cho được điều phục. Bồ Tát này lúc trụ hạnh trên đây, hàng chư thiên, ma, phạm, sa môn, bà la môn, tất cả thế gian, càn thát bà, a tu la, v.v... Nếu có ai được thấy và tạm thời đồng ở chung với Bồ Tát này, rồi kính trọng cúng dường, và tạm nghe qua tai một phen để tâm, đều không luống uổng, nhất định sẽ thành vô thượng bồ đề. Đây gọi là Bồ Tát thiện hiện hạnh thứ sáu. Những gì là Bồ Tát vô trước hạnh? Chư Phật tử! Bồ Tát này dùng tâm vô trước, ở trong mỗi niệm sẽ nhập vô số thế giới, nghiêm tịnh vô số thế giới, với các thế giới tâm không chấp trước. Bồ Tát này qua đến chỗ của vô số Như Lai mà kính lễ công đức. Dùng vô số hoa, tràng hoa, hương, hương bột, hương thoa, y phục, trân bửu, tràng phan, lọng đẹp, đồ trang nghiêm đều vô số để cúng dường chư Như Lai. Cúng dường như vậy để rốt ráo pháp vô tác, để trụ pháp bất tư nghị, ở trong mỗi niệm thấy vô số Phật. Nơi chư Phật tâm không chấp trước. Nơi các cõi Phật cũng không chấp trước. Nơi hướng hảo của Phật cũng không chấp trước. Thấy quang minh của Phật, nghe Phật thuyết pháp cũng không chấp trước. Nơi thập phương thế giới và những chúng hội của Phật Bồ Tát cũng không chấp trước. Nghe Phật pháp xong, lòng hoan hỷ chí lực rộng lớn, có thể nhiếp thọ, có thể hành trì các hạnh Bồ Tát, nhưng với Phật pháp vẫn không chấp trước. Bồ Tát này trong bất khả thuyết kiếp, thấy bất khả thuyết Phật xuất thế, nơi mỗi đức Phật tôn thờ cúng dường thảy đều trọn bất khả thuyết kiếp tâm không nhàm đủ. Thấy Phật nghe pháp và thấy Bồ Tát chúng hội trang nghiêm đều không chấp trước. Thấy thế giới uế trược cũng không ghét chán. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này quán sát đúng với Phật pháp. Trong Phật pháp, không cấu, không tịnh, không tối, không sáng, không khác, không đồng, không thiệt, không vọng, không an ổn, không hiểm nạn, không chánh đạo, không tà đạo. Bồ Tát thâm nhập pháp giới như vậy giáo hóa chúng sanh, mà với chúng sanh chẳng sanh chấp trước; thọ trì các pháp mà nơi các pháp chẳng chấp trước; phát bồ đề tâm trụ nơi Phật trụ, mà nơi Phật trụ chẳng sanh chấp trước; dầu có ngôn thuyết mà không chấp ngôn thuyết; vào chúng sanh đạo mà không chấp chúng sanh đạo. Rõ biết tam muội, hay nhập hay trụ mà nơi tam muội mà tâm không chấp trước. Qua đến vô lượng Phật độ, hoặc vào, hoặc thấy, hoặc trụ mà nơi Phật độ tâm không chấp trước, lúc bỏ đi cũng không luyến tiếc. Vì Bồ Tát này có thể không chấp trước như vậy, nên tâm không chướng ngại đối với Phật pháp, rõ Phật bồ đề, chứng pháp tỳ ni, trụ Phật chánh giác, thành tựu Bồ Tát hạnh, trụ Bồ Tát tâm, tư duy pháp giải thoát của Bồ Tát. Nơi trụ xứ của Bồ Tát tâm không nhiễm trước. Nơi việc làm của Bồ Tát cũng không chấp trước. Thanh tịnh Bồ Tát đạo, thọ Bồ Tát ký. Được thọ ký rồi tự nghĩ rằng: Kẻ phàm phu ngu si không biết không thấy, không tin hiểu, không thật hành sáng suốt, ngoan cố tham trước, lưu chuyển sanh tử chẳng cầu thấy Phật, chẳng theo bậc Minh Đạo, chẳng tin đấng Điều Ngự, chẳng biết ơn Bồ Tát, tham luyến trụ xứ, nghe pháp không thời quá sợ, xa chánh pháp gần tà pháp, bỏ đường bằng vào đường hiểm, trái với ý Phật, theo ý ma. Nơi các cõi hữu lậu bền chấp chẳng bỏ. Bồ Tát này quán sát chúng sanh như vậy, thêm lớn tâm đại bình đẳng, sanh các căn lành mà không chấp trước. Lúc đó, Bồ Tát này lại nghĩ rằng: Tôi sẽ vì một chúng sanh nơi mỗi quốc độ trong thập phương thế giới, trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp giáo hóa thành thục. Như vì một chúng sanh, vì tất cả chúng sanh cũng như vậy. Trọn chẳng vì đây và nhàm lìa bỏ đi nơi khác. Lại lấy đầu sợi lông khắp lường pháp giới, nơi chỗ đầu mỗi sợi lông trọn bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh. Như nơi đầu một sợi lông, nơi tất cả đầu sợi lông đều như vậy. Chẳng chấp trước ngã, chẳng khởi tưởng ngã, ngã sở. Nơi mỗi đầu sợi lông thành tựu Bồ Tát hạnh tận vị lai kiếp, chẳng chấp trước nơi thân, nơi pháp, nơi niệm, nơi nguyện, nơi tam muội, nơi quán sát, nơi tịch định, nơi cảnh giới, nơi sự giáo hóa điều phục chúng sanh. Cũng chẳng chấp trước, nơi sự nhập pháp giới. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này nghĩ rằng: Tôi phải quán sát tất cả pháp như huyễn, chư Phật như bóng, Bồ Tát hạnh như giấc mơ, Phật thuyết pháp như vang, tất cả thế gian như hóa, vì do nghiệp báo chấp trì, thân sai biệt như huyễn, vì do hành lực khởi ra. Tất cả chúng sanh như tâm, vì các thứ tạp nhiễm, tất cả pháp như thiết tế, vì chẳng thể đổi khác. Bồ Tát này lại nghĩ rằng: Tôi sẽ thật hành Bồ Tát hạnh trong thập phương tất cả quốc độ, niệm niệm rõ thấu tất cả Phật pháp, chánh niệm hiện tiền không chấp lấy. Bồ Tát quán thân vô ngã như vậy thời thấy Phật vô ngại. Vì giáo hóa chúng sanh mà diễn thuyết các pháp, làm cho họ đối với Phật pháp phát sanh vô lượng hoan hỷ và lòng tin thanh tịnh. Cứu hộ tất cả chúng sanh lòng không nhàm mỏi. Vì không nhàm mỏi nên trong tất cả thế giới, nếu có chúng sanh chưa thành tựu, chưa điều phục, thời liền đến đó dùng phương tiện hóa độ. Trong những chúng sanh đó: Các thứ tiếng, các thứ nghiệp, các thứ chấp, các thứ thi vi, các thứ hòa hợp, các thứ lưu chuyển, các thứ việc làm, các thứ cảnh giới, các thứ sanh, các thứ chết, Bồ Tát này do đại nguyện ở trong đó mà giáo hóa họ, chẳng để tâm họ có động có thối, cũng chẳng có một niệm nhiễm trước. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này đã được vô trước, vô y, tự lợi và lợi tha đều thanh tịnh đầy đủ. Đây gọi là Bồ Tát vô trước hạnh thứ bảy. Những gì là Bồ Tát nan đắc hạnh? Bồ Tát này thành tựu căn lành khó được, căn lành khó phục, căn lành tối thắng, căn lành chẳng thể hư, căn lành không thể hơn, căn lành chẳng nghĩ bàn, căn lành vô tận, căn lành sức tự tại, căn lành oai đức lớn, căn lành đồng một tánh với tất cả Phật. Lúc đó, Bồ Tát này tu các công hạnh, ở trong Phật pháp được sự hiểu tối thắng, nơi Phật bồ đề được sự hiểu quảng đại, chưa từng thôi nghĩ nơi nguyện Bồ Tát, tận tất cả kiếp lòng không mệt mỏi, với tất cả khổ chẳng sanh nhàm lìa, chỗ tất cả chúng ma không bị dao động, được tất cả Phật hộ niệm, làm đầy đủ tất cả khổ hạnh của Bồ Tát, siêng thành tựu Bồ Tát hạnh không lười trễ, nơi đại thừa nguyện luôn chẳng thối chuyển. Bồ Tát này an trụ nơi nan đắc hạnh rồi ở trong mỗi niệm có thể chuyển vô số kiếp sanh tử mà chẳng bỏ đại nguyện của Bồ Tát. Nếu có chúng sanh nào tôn kính cúng dường nhẫn đến thấy nghe Bồ Tát này đều được chẳng thối chuyển nơi vô thượng bồ đề. Bồ Tát này dầu biết chúng sanh chẳng phải có nhưng chẳng bỏ tất cả chúng sanh giới. Ví như thuyền trưởng chẳng dừng bờ này, chẳng đậu bờ kia, chẳng dừng giữa dòng, mà có thể đưa chúng từ bờ này qua đến bờ kia, vì qua lại không thôi nghỉ vậy. Bồ Tát này cũng như thế, chẳng trụ sanh tử, chẳng trụ niết bàn, cũng chẳng trụ giữa dòng sanh tử, mà có thể độ chúng sanh từ bờ sanh từ này, đặt họ trên bờ niết bàn kia, nơi an ổn vô úy không ưu não. Bồ Tát này chẳng chấp trước chúng sanh, chẳng bỏ một chúng sanh mà đến với số đông, chẳng bỏ số đông mà đến một, chẳng tăng chẳng giảm đối với chúng sanh giới, cũng chẳng sanh diệt, chẳng tận chẳng trưởng, chẳng phân biệt, chẳng riêng khác đối với chúng sanh giới. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này thâm nhập chúng sanh giới như pháp giới, chúng sanh giới, pháp giới không có hai. Trong pháp không hai không tăng không giảm, không sanh không diệt, không hữu không vô, không lấy không tựa, cũng không chấp trước nơi không hai. Vì Bồ Tát rõ biết tất cả pháp pháp giới vô nhị vậy. Bồ Tát này dùng phương tiện như vậy nhập thâm pháp giới, trụ nơi vô tướng, dùng tướng thanh tịnh trang nghiêm thân mình. Rõ pháp vô tánh mà có thể phân biệt tất cả pháp tướng, chẳng chấp lấy chúng sanh mà có thể biết rõ số chúng sanh, chẳng chấp trước thế giới mà có thể hiện thân khắp phật sát, chẳng phân biệt pháp mà khéo vào Phật pháp, thâm đạt nghĩa lý mà diễn rộng ngôn giáo, rõ chân tế ly dục của tất cả pháp mà chẳng dứt đạo Bồ Tát, chẳng thối Bồ Tát hạnh, thường siêng tu tập hạnh vô tận, tự tại vào nơi thanh tịnh pháp giới. Ví như cọ gỗ để lấy lửa, lửa cháy vô lượng mà lửa chẳng tắt. Cũng thế, việc Bồ Tát giáo hóa chúng sanh không cùng tận, mà ở thế gian thường trụ chẳng diệt. Chẳng phải rốt ráo, chẳng phải không rốt ráo, chẳng phải lấy, chẳng phải không lấy, chẳng phải sở y, chẳng phải không sở y, chẳng phải thế pháp, chẳng phải Phật pháp, chẳng phải phàm, chẳng phải thánh. Bồ Tát này thành tự tâm nan đắc như vậy, lúc tu tập hạnh Bồ Tát, chẳng phải nói pháp nhị thừa, chẳng nói Phật, chẳng nói thế gian, chẳng nói pháp thế gian, chẳng nói chúng sanh, chẳng nói không chúng sanh, chẳng nói cấu, chẳng nói tịnh. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này biết tất cả pháp, không nhiễm không thủ, chẳng chuyển chẳng thối. Bồ Tát này lúc ở trong pháp tịch diệt thậm thâm tối thắng vi diệu như vậy mà tu hành, cũng chẳng có quan niệm tôi hiện thành tựu, đã tu, hay sẽ tu những hạnh đó, chẳng chấp trước uẩn xứ giới, nội thế gian, ngoại thế gian, nội ngoại thế gian. Cũng chẳng chấp trước những đại nguyện, những ba la mật và tất cả pháp của mình. Tại sao vậy? Vì trong pháp giới không có pháp gọi là hướng Thanh Văn thừa, hướng Độc Giác thừa, hướng Bồ Tát thừa, hướng vô thượng bồ đề, không có pháp gọi là hướng phàm phu giới, hướng nhiễm, hướng tịnh, hướng sanh tử, hướng niết bàn. Vì các pháp vốn vô nhị, vô bất nhị vậy. Ví như hư không, trong thập phương ba thời, tìm vốn không được, nhưng chẳng phải là không có hư không. Cũng thế, Bồ Tát quán: Tất cả pháp đều bất khả đắc, nhưng chẳng phải là không có tất cả pháp; đúng thật không khác, chẳng mất chỗ làm, khắp hiện tu hành hạnh Bồ Tát; chẳng bỏ đại nguyện điều phục chúng sanh, chuyển chánh pháp luận; chẳng hoại nhân quả, cũng chẳng trái nơi diệu pháp bình đẳng; khắp đồng với tam thế Như Lai chẳng dứt Phật chủng, chẳng hư thiệt tướng; thâm nhập nơi pháp, biện tài vô tận; nghe pháp chẳng chấp, đến đáy sâu của pháp, khéo khai diễn, không lòng e sợ; chẳng rời Phật trụ, chẳng trái thế pháp; hiện khắp thế gian mà chẳng nhiễm trước thế gian. Bồ Tát này thành tựu tâm trí huệ nan đắc như vậy, tu tập các hạnh, nơi ba ác đạo cứu vớt chúng sanh, giáo hóa điều phục, đặt họ vào trong đạo của tam thế Phật, không để lay động. Bồ Tát này lại nghĩ rằng: Chúng sanh thế gian chẳng biết ân báo, lại thù oán nhau, tà kiến chấp trước mê lầm điên đảo ngu si vô trí, không có tín tâm, theo bọn ác sanh niệm ác, tham ái vô minh các thứ phiền não đều đầy dẫy, chính nơi đây là chỗ tôi thành tựu Bồ Tát hạnh. Giả sử đầy cả thế gian này đều là người biết ân nghĩa thông minh trí tuệ và thiện tri thức, thời tôi không thật hành Bồ Tát hạnh trong đó. Tại sao vậy? Vì đối với chúng sanh, tôi trọn không mong, không cầu gì cả. Tôi tu Bồ Tát hạnh tận vị lai kiếp, chưa từng có một niệm vị kỷ. Tôi chỉ muốn độ thoát chúng sanh, khiến họ thanh tịnh được giải thoát vĩnh viễn. Vì tôi là nhà dìu dắt sáng suốt của chúng sanh, thời theo phép, phải không chấp lấy không mong cầu, chỉ vì chúng sanh mà tu đạo Bồ Tát khiến họ được đến nơi bờ an ổn kia và thành vô thượng bồ đề. Đây gọi là Bồ Tát nan đắc hạnh thứ tám. Những gì là Bồ Tát thiện pháp hạnh? Bồ Tát này vì tất cả thế gian: Trời, người, ma, phạm, sa môn, bà la môn, càn thát bà, v.v... mà làm ao pháp thanh lương, nhiếp trì chánh pháp, chẳng dứt Phật chủng. Vì được thanh tịnh quang minh, đà la ni nên thuyết phsap thọ ký biện tài vô tận. Vì được cụ túc nghĩa đà la ni nên nghĩa biện vô tận. Vì được giác ngộ thiệt pháp đà la ni nên nghĩa biện vô tận. Vì được huấn thích ngôn từ đà la ni nên từ biện vô tận. Vì được vô biên văn cú vô tận nghĩa vô ngại môn đà la ni nên vô ngại biện vô tận. Vì được Phật quán đảnh đà la ni nên hoan hỷ vô tận. Vì được bất do tha ngộ đà la ni môn nên quang minh biện vô tận. Vì được đồng biện đà la ni môn nên đồng biện vô tận. Vì được chủng chủng nghĩa thân, cú thân, văn thân huấn thích đà la ni môn nên huấn thích biện vô tận. Vì được vô biên đà la ni nên vô biên biện vô tận. Bồ Tát này tâm đại bi kiên cố nhiếp khắp chúng sanh, nơi đại thiên thế giới, biến ra thân kim sắc mà làm Phật sự. Tuỳ theo căn tánh và sở thích của các chúng sanh, dùng lưỡi rộng dài, trong một tiếng hiện vô lượng tiếng, đúng theo thời nghi mà thuyết pháp làm cho chúng sanh đều hoan hỷ. Giả sử có bất khả thuyết nghiệp báo vô số chúng sanh đồng họp chung một chỗ, hội đó rộng lớn khắp bất khả thuyết thế giới, Bồ Tát này ngồi trong chúng hội ấy. Chúng sanh trong hội trường đó, mỗi mỗi đều có vô số miệng, mỗi miệng nói ra trăm ngàn ức na do tha tiếng, đồng thời nói, lời lẽ khác nhau, Bồ Tát này liền trong một niệm đều có thể nhận hiểu và giải đáp tất cả cho họ đều hết nghi lầm. Như trong một đại hội trên đây, trong bất khả thuyết hội cũng đều như vậy cả. Lại giả sử nơi đầu một sợi lông, trong mỗi niệm xuất hiện bất khả thuyết bất khả thuyết đạo tràng chúng hộ, bất khả thuyết bất khả thuyết đầu sợi lông đều như vậy tận vị lai kiếp, số kiếp đó có thể tận, chúng hội vô tận. Những chúng hội này, trong mỗi niệm dùng ngôn từ riêng biệt, gạn hỏi riêng biệt. Bồ Tát này trong một niệm có thể nhận biết cả, không sợ không khiếp, không nghi không lầm, mà nghĩ rằng: Dầu tất cả chúng sanh đồng thời đến hỏi tôi, tôi sẽ vì họ mà thuyết pháp không dứt không cùng, khiến họ đều vui mừng trụ nơi thiện đạo, lại khiến họ khéo hiểu tất cả ngôn từ. Bồ Tát này có thể thuyết các pháp cho chúng sanh mà nơi ngữ ngôn vẫn không phân biệt. Giả sử bất khả thuyết bất khả thuyết các thứ ngôn từ đồng thời vấn nạn, Bồ Tát này trong một niệm nhận được cả, một tiếng đều đáp cả, đều khiến tỏ ngộ không sót, vì đã được nhất thiết trí quán đảnh vậy, vì được vô ngại tạng vậy, vì được nhất thiết pháp viên mãn quang minh vậy, vì đầy đủ nhất thiết trí vậy. Bồ Tát này an trụ thiện pháp hạnh rồi thời có thể tự thanh tịnh, cũng có thể dùng phương tiện vô sở trước mà lợi ích khắp tất cả chúng sanh, chẳng thấy có chúng sanh được giải thoát. Như tại đại thiên thế giới này như vậy, ở bất khả thuyết đại thiên thế giới biến thân kim sắc, diệu âm đầy đủ, tự tại thật hành Phật sự không bị chướng ngại. Bồ Tát này thành tựu mười thứ thân: Những là thân chẳng phải các loài, vào vô biên pháp giới, vì diệt tất cả thế gian; thân các loài vào vô biên pháp giới vì sanh tất cả thế gian; thân bất sanh vì trụ pháp vô sanh bình đẳng; thân bất diệt vì tất cả diệt, ngôn ngữ không thể được; thân chẳng thiệt vì được như thiệt; thân chẳng vọng vì tùy nghi ứng hiện; thân chẳng dời vì chết đây sanh kia; thân chẳng hoại vì pháp giới tánh không hoại; thân một tướng vì Bồ Tát thời ngữ ngôn đã dứt; thân vô tướng vì khéo có thể quán sát pháp tướng. Bồ Tát này thành tựu mười thứ thân như vậy, là nhà của tất cả chúng sanh vì thêm lớn các thiện căn; là chỗ cứu của tất cả chúng sanh vì khiến họ được rất an ổn; là chỗ về của tất cả chúng sanh vì làm chỗ y tựa lớn cho họ; là nhà dìu dắt của tất cả chúng sanh vì khiến họ được vô thượng giải thoát; là thầy của tất cả chúng sanh vì khiến họ vào pháp chân thiệt; là ngọn đèn của tất cả chúng sanh vì khiến họ thấy rõ nghiệp báo; là ánh sáng của tất cả chúng sanh vì khiến họ soi rõ diệu pháp thậm thâm, là ngọn đuốc của tất cả tam thế vì khiến họ hiểu ngộ thiệt pháp; là soi sáng tất cả thế gian vì khiến họ vào trong bậc quang minh; là ánh sáng của tất cả các loài vì thị hiện Như Lai tự tại. Đây gọi là Bồ Tát thiện pháp hạnh thứ chín. Bồ Tát an trụ hạnh này làm ao pháp mát mẻ cho tất cả chúng sanh, vì có thể cùng tận nguồn tất cả Phật pháp. Những gì là Bồ Tát chơn thiệt hạnh? Bồ Tát này thành tựu lời chắc thật đệ nhất, có thể làm đúng như lời, có thể nói đúng như làm. Bồ Tát này học chân thiệt ngữ của tam thế chư Phật, nhập chủng tánh của tam thế chư Phật, đồng thiện căn với tam thế chư Phật, được lời vô nhị của tam thế chư Phật, theo Như Lai học thành tựu trí huệ. Bồ Tát này thành tựu trí: Biết chúng sanh thị xứ phi xứ, trí biết tam thế nghiệp báo, trí biết các căn tánh lợi độn, trí biết các thế giới, trí biết các tri giải, trí biết tất cả đạo chỗ đến, trí biết các thiền, tam muội, giải thoát cấu tịnh, khởi phải thời hay phi thời, trí biết tất cả thế giới túc trụ tùy niệm, trí thiên nhãn, trí lậu tận, mà chẳng rời tất cả Bồ Tát hạnh. Tại sao vậy? Vì muốn giáo hóa tất cả chúng sanh đều khiến thanh tịnh. Bồ Tát này lại sanh tâm tăng thượng như vậy: Nếu tôi chẳng làm cho tất cả chúng sanh trụ nơi đạo vô thượng giải thoát, mà tôi trước thành vô thượng bồ đề thời trái bổn nguyện của tôi, không nên như vậy, vì thế nên tôi phải làm cho tất cả chúng sanh trước được vô thượng bồ đề vào vô dư niết bàn rồi sau tôi sẽ thành Phật. Vì chẳng phải chúng sanh thỉnh tôi phát tâm, tội tự vì chúng sanh mà làm bạn chẳng chờ thỉnh, muốn khiến tất cả chúng sanh trước đầy đủ căn lành chứng nhất thiết trí. Do đây nên tôi là tối thắng vì chẳng nhiễm trước thế gian, là tối thượng vì trụ bậc vô thượng điều ngự, là rời mù lòa vì hiểu chúng sanh không ngằn mé, tôi làm đã xong vì thành tựu bổn nguyện, tôi là Bồ Tát khéo biến hóa vì công đức trang nghiêm, tôi là khéo nương tựa vị được tam thế chư Phật nhiếp thọ. Vì Bồ Tát này không rời bỏ bổn nguyện nên được vào bậc vô thượng trí huệ trang nghiêm, lợi ích chúng sanh khiến đầy đủ, tuỳ bổn nguyện đều được rốt ráo, với tất cả pháp được trí huệ tự tại, khiến tất cả chúng sanh khắp được thanh tịnh, niệm niệm đi khắp được thanh tịnh, niệm niệm đi khắp thập phương thế giới, niệm niệm đến khắp bất khả thuyết bất khả thuyết Phật độ, niệm niệm đều thấy bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật, và Phật độ trang nghiêm thanh tịnh, thị hiện Như Lai tự tại thần lực khắp pháp giới hư không giới. Bồ Tát này hiện vô lượng thân vào khắp thế gian mà không sở y. Ở trong thân mình hiện tất cả cõi, tất cả chúng sanh, tất cả pháp, tất cả Phật. Bồ Tát này biết chúng sanh: Các thứ tưởng niệm, các thứ ưa muốn, các thứ hiểu biết, các thứ nghiệp báo, các thứ thiện căn, tùy cơ nghi mà hiện thân để điều phục họ. Bồ Tát này quán sát chư Bồ Tát như huyễn, tất cả pháp như hóa, Phật xuất thế như bóng, tất cả thế gian như giấc mơ, được tạng nghĩa thân, văn thân vô tận, chánh niệm tự tại, trí huệ tối thắng quyết định rõ biết tất cả các pháp, nhập tất cả tam muội chân thật tánh, trụ nơi nhất tánh không hai. Vì chúng sanh đều chấp trước nơi hai, nên Bồ Tát này an trụ nơi đại bình đẳng thành tựu hành pháp tịch diệt như vậy, được Phật thập lực, nhập nhân đà la võng pháp giới, thành tựu Như Lai vô ngại giải thoát, hùng mãnh trong loài người, đại sư tử hống, được vô úy chuyển pháp luân vô ngại thanh tịnh, được trí huệ giải thoát rõ biết tất cả cảnh giới thế gian, tuyệt dứt dòng sanh tử vào biển lớn trí huệ, vì tất cả chúng sanh mà hộ trì chánh pháp của tam thế Phật, đến tội đáy nguồn thiệt tướng của biển lớn tất cả pháp. Bồ Tát trụ nơi chân thiệt hạnh này rồi, tất cả thế gian: Trời, người, ma, phạm, sa môn, bà la môn, càn thát bà, a tu la, v.v... có ai gần gũi, thời đều làm cho được tỏ ngộ hoan hỷ thanh tịnh. Đây gọi là Bồ Tát chân thiệt hạnh thứ mười." Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, mười phương đều có phật sát vi trần số thế giới chấn động sáu cách. Khắp nơi, trời rưới thiên hoa, thiên hương, thiên tràng hoa, thiên y, thiên bửu, thiên trang nghiêm cụ, tấu thiên nhạc, phóng thiên quang minh, diễn thông thần biến. Thập phương thế giới đều như vậy cả. Lại do thần lực của đức Phật, mười phương đều quá ngoài mười vạn phật sát vi trần số thế giới, có mười vạn phật sát vi trần số Bồ Tát câu hội, đồng nói với Công Đức Lâm Bồ Tát rằng: "Lành thay Phật tử! Ngài khéo diễn nói các hạnh Bồ Tát. Chúng tôi đồng hiệu Công Đức Lâm cả, thế giới của chúng tôi ở đồng hiệu Công Đức Tràng, chư Như Lai ở cõi chúng tôi đồng hiệu Phổ Công Đức cũng nói pháp này. Chúng hội, quyến thuộc, ngôn từ, nghĩa lý cũng đều như nơi đây không có tăng giảm. Thưa Phật tử! Thừa oai lực của Phật, chúng tôi đến đây để chứng minh cho ngài." Công Đức Lâm Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật, quan sát khắp mười phương tất cả chúng hội, cùng tận pháp giới, vì muốn Phật chủng chẳng dứt, vì muốn chủng tánh Bồ Tát thanh tịnh, vì muốn nguyện chủng tánh chẳng thối chuyển, vì muốn hạnh chủng tánh thường tương tục, vì muốn tam thế chủng tánh đều bình đẳng, vì muốn nhiếp tam thế tất cả Phật chủng, vì muốn khai diễn những thiện căn của mình vun trồng, vì muốn quan sát tất cả căn tánh, vì muốn hiểu phiền não, tập khí, tâm hành chỗ làm, vì muốn soi rõi Phật bồ đề, nên nói kệ rằng: Nhất tâm kính lễ đấng Thập Lực Ly cấu, thanh tịnh, thấy vô ngại Cảnh giới sâu xa, không ngang sánh Trụ, như hư không, có trong đạo. Quá khứ, đấng Tối Thắng trong người Công đức vô lượng không sở trước Dũng mãnh đệ nhất không sánh bằng Bậc ly trần kia hành đạo này. Hiện tại thập phương các quốc độ Hay khéo khai diễn đệ nhất nghĩa Lìa những lỗi ác rất thanh tịnh Bậc vô y kia làm đạo này. Vị lai bao nhiêu đấng Nhân Sư Du hành cùng khắp trong pháp giới Đã phát tâm đại bi của Phật Bậc nhiêu ích kia hành đạo này. Tam thế tất cả đấng vô tỉ Tự nhiên trừ diệt ngu si tối Nơi tất cả pháp đều bình đẳng Bậc đại lực kia hành đạo này. Thấy khắp vô lượng vô biên cõi Tất cả các cõi và các loài Thấy rồi nơi tâm không phân biệt Bậc vô động kia hành đạo này. Tất cả các cõi và các loài Thấy rồi nơi tâm không phân biệt Bậc vô động kia hành đạo này. Tất cả pháp giới đều sáng tỏ Nơi đệ nhất nghĩa rất thanh tịnh Trọn phá sân mạn và ngu si Bậc công đức kia hành đạo này. Nơi các chúng sanh khéo phân biệt Đều vào tánh pháp giới chân thiệt Tự nhiên giác ngộ chăng do người Bậc đẳng không kia hành đạo này. Khắp hư không bao nhiêu quốc độ Đều đến thuyết pháp rộng khai dụ Lời nói thanh tịnh không bị hoại Bậc thắng mâu ni hành đạo này. Trọn vẹn bền chắc không thối chuyển Thành tựu tôn trọng pháp tối thắng Nguyện lực vô tận đến bờ kia Bậc thiện tu kia hành đạo này. Vô lượng vô biên tất cả bậc Cảnh giới quảng đại rất sâu diệu Đều thấy biết được chẳng còn sót Bậc Nhân Sư kia hành đạo này. Xa lìa thế gian những lỗi họa Cho khắp chúng sanh vui an ổn Hay làm vô đẳng đại đạo sư Bậc thắng đức kia hành đạo này. Luôn đem vô úy ban chúng sanh Khiến khắp tất cả đều vui thích Lòng họ thanh tịnh lìa nhiễm trược Bậc vô đẳng kia hành đạo này. Ý nghiệp thanh tịnh rất điều thiện Rời những hí luận miệng không lỗi Oai quang viên mãn chúng tôn kính Bậc tối thắng kia hành đạo này. Vào chân thiệt nghĩa, đến bờ kia Trụ nơi công đức lòng tịch tịnh Chư Phật hộ niệm luôn chẳng quên Bậc diệt hữu kia hành đạo này. Xa lìa ngã, không não hại Luôn dùng đại âm tuyên chánh pháp Thập phương quốc độ đều cùng khắp Bậc tuyệt ví dụ hành đạo này. Đàn ba la mật đã hoàn thành Trăm phước tướng hảo dùng trang nghiêm Chúng sanh nhìn thấy đều vui đẹp Bậc huệ tối thắng hành đạo này. Trí địa rất sâu khó vào được Hay dùng diệu huệ khéo an trụ Tâm đó rốt ráo chẳng giao động Bậc kiên cố hạnh hành đạo này. Tất cả pháp giới đều vào được Tuỳ nơi chỗ vào đều rốt ráo Thần thông tự tại gồm tất cả Bậc pháp quang minh hành đạo này. Đấng vô đẳng đẳng đại mâu ni Siêng tu tam muội không hai tướng Tâm thường tại định thích tịch tịnh Bậc phổ kiến kia hành đạo này. Quốc độ vi tế cùng quảng đại Thiệp nhập lẫn nhau đều sai khác Như cảnh giới kia đều biết rõ Bậc trí sơn vương hành đạo này. Ý luôn sáng sạch lìa nhơ bợn Ở trong ba cõi không tham chấp Hộ trì giới hạnh đến bờ kia Bậc tịnh tâm đây hành đạo này. Trí huệ vô biên không nói được Cùng khắp pháp giới hư không giới Khéo hay tu học trụ trong đó Bậc kim cang huệ hành đạo này. Cảnh giới tam thế tất cả Phật Trí huệ khéo vào đều cùng khắp Chưa từng tạm khởi lòng nhàm mỏi Bậc tối thắng kia hành đạo này. Hay khéo phân biệt pháp thập lực Rõ biết tất cả chỗ đạo đến Thân nghiệp vô ngại được tự tại Bậc công đức thân hành đạo này. Thập phương vô lượng vô biên cõi Chỗ có tất cả các chúng sanh Tôi đều cứu hộ mà chẳng bỏ Bậc vô úy kia hành đạo này. Nơi những Phật pháp siêng tu học Lòng luôn tinh tấn chẳng lười mỏi Sửa trị tất cả các thế gian Bậc đại long vương hành đạo này. Rõ biết chúng sanh căn chẳng đồng Muốn, hiểu, vô lượng riêng sai khác Các loài các cõi đều thấu tỏ Bậc phổ nhập kia hành đạo này. Thập phương thế giới vô lượng cõi Đều đến thọ sanh không số lượng Chưa từng một niệm sanh mỏi nhàm Bậc hoan hỷ kia hành đạo này. Khắp phóng vô lượng lưới quang minh Soi sáng vô lượng các thế gian Quang minh chiếu đến vào pháp tánh Bậc thiện huệ kia hành đạo này. Chấn động mười phương các quốc độ Vô lượng ức số na do tha Chẳng để chúng sanh có kinh sợ Bậc lợi thế kia hành đạo này. Khéo hiểu tất cả các ngữ ngôn Vấn nạn đối đáp đều rốt ráo Thông triết biện huệ đều biết cả Bậc vô úy kia hành đạo này. Khéo biết các cõi ngửa hoặc úp Phân biệt tư duy đều rốt ráo Đều khiến trụ nơi chỗ vô tận Bậc thắng huệ kia hành đạo này. Công đức vô lượng na do tha Vì cầu Phật đạo đều tu tập Tất cả đều được đến bờ kia Bậc vô tận hạnh hành đạo này. Vượt hơn đại luận sư thế gian Biện tài đệ nhất sư tử hống Khiến khắp quần sanh đến bờ kia Đây bậc tịnh tâm hành đạo này. Chư Phật quán đảnh pháp đệ nhất Đã được pháp này rưới trên đảnh Tâm luôn an trụ môn chánh pháp Bậc quảng đại âm hành đạo này. Tất cả chúng sanh khác vô lượng Rõ thấu tâm họ đều cùng khắp Quyết định hộ trì Phật pháp tạng Bậc như tu di hành đạo này. Có thể ở trong mỗi ngữ ngôn Khắp vì thị hiện vô lượng tiếng Khiến chúng theo loài đều được hiểu Bậc vô ngại kiến hành đạo này. Tất cả pháp: văn tự ngữ ngôn Trí đều khéo vào chẳng phân biệt Trụ trong các cảnh giới chân thiệt Bậc kiến tánh kia hành đạo này. An trụ biển pháp rất sâu lớn Khéo hay ấn định tất cả pháp Rõ môn vô tướng chân thật pháp Bậc thấy thật kia hành đạo này. Mỗi mỗi Phật độ đều qua đến Tận cả vô lượng vô biên kiếp Quán sát tư duy chẳng tạm dừng Bậc chẳng trễ lười hành đạo này. Vô lượng vô số chư Như Lai Các thứ danh hiệu đèu chẳng đồng Nơi một đầu lông đều thấy rõ Bậc tịnh phước kia hành đạo này. Nơi một đầu lông thấy chư Phật Số đó vô lượng bất khả thuyết Tất cả pháp giới đều cũng vậy Chư Phật tử kia hành đạo này. Vô lượng vô biên vô số kiếp Ở trong một niệm đều thấy rõ Biết thời dài vắn tướng bất định Bậc hạnh giải thoát hành đạo này. Hay khiến người thấy không luống qua Đều nơi Phật pháp gieo nhân duyên Mà nơi sở tác lòng không chấp Bậc tối thắng kia hành đạo này. Na do tha kiếp thường gặp Phật Trọn chẳng một niệm sanh mỏi nhàm Tâm hoan hỷ đó càng thêm lớn Bậc bất không biến hành đạo này. Tận cả vô lượng vô biên kiếp Quan sát tất cả chúng sanh giới Chưa từng thấy có một chúng sanh Đây bậc kiên cố hành đạo này. Tu tập vô biên tạng phước trí Khắp làm ao công đức thanh lương Lợi ích tất cả các quần sanh Bậc đệ nhất kia hành đạo này. Pháp giới chỗ có các phẩm loại Cùng khắp hư không vô số lượng Rõ kia đều nương ngôn thuyết có Bậc sư tử hống hành đạo này. Có thể trong mỗi mỗi tam muội Vào khắp vô số các tam muội Đều đến pháp môn chỗ kín nhiệm Đây bậc luận nguyệt hành đạo này. Nhẫn lực siêng tu đến bờ kia Hay nhẫn pháp tịch diệt tối thắng Tâm đó bình đẳng chẳng giao động Bậc vô biên trí hành đạo này. Nơi một thế giới một chỗ ngồi Thân Phật chẳng đồng luôn yên lặng Mà tất cả chỗ đều hiện thân Bậc vô biên thân hành đạo này. Vô lượng vô biên các quốc độ Đều khiến đồng vào trong một trần Khắp được bao dung không chướng ngại Bậc vô biên tư hành đạo này. Thấu rõ thị xứ và phi xứ Nơi những lực xứ khắp vào được Thành tựu thượng lực của Như Lai Bậc đệ nhất lực hành đạo này. Quá khứ vị lai và hiện tại Vô lượng vô biên các nghiệp báo Thường dùng trí huệ đều rõ biết Bậc thông đạt kia hành đạo này. Rõ thấu thế gian thời, phi thời Tùy nghi điều phục các chúng sanh Đều thuận căn cơ chẳng lầm lỗi Bậc thiện liễu kia hành đạo này. Khéo gìn thân ngữ và ý nghiệp Luôn khiến y pháp mà tu hành Lìa những chấp trước phục chúng ma Bậc trí tâm kia hành đạo này. Ở trong các pháp được thiện xảo Hay vào chân như chỗ bình đẳng Biện tài tuyên nói không cùng tận Đây bậc Phật hạnh hành đạo này. Môn đà la ni đã viên mãn Khéo hay an trụ tạng vô ngại Nơi các pháp giới đều thông đạt Bậc thâm nhập kia hành đạo này. Tam thế chỗ có tất cả Phật Tâm đều bình đẳng đồng trí huệ Một tánh một tướng không sai khác Bậc vô ngại chủng hành đạo này. Đã vạch tất cả màn ngu si Thâm nhập biển trí huệ rộng lớn Thí khắp chúng sanh mắt thanh tịnh Bậc hữu mục kia hành đạo này. Đã đủ tất cả các đạo sư Bình đẳng thần thông hạnh vô nhị Được sức tự tại của Như Lai Đây bậc thiện thành tựu hành đạo này. Đi khắp tất cả các thế gian Khắp rưới vô biên mưa diệu pháp Đều khiến nơi nghĩa được hiểu chắc Bậc pháp vân kia hành đạo này. Được nơi Phật trí và giải thoát Tin sâu thanh tịnh trọn chẳng thối Do tin hay sanh gốc trí huệ Đây bậc thiện học hành đạo này. Hay nơi một niệm đều rõ biết Tất cả chúng sanh không thừa sót Rõ tâm tự tánh của chúng sanh Bậc đạt vô tánh hành đạo này. Pháp giới tất cả các quốc độ Hóa vô số thân đều qua đến Thân đó tối diệu không gì sánh Bậc vô tỉ hạnh hành đạo này. Phật sát vô biên vô lượng số Vô lượng chư Phật ngự trong đó Bồ Tát nơi kia đều hiện tiền Gần gũi cúng dường và tôn trọng. Bồ Tát hay dùng riêng một thân Nhập trong tam muội mà tịch định Khiến thấy thân mình vô hạn số Mỗi mỗi đều từ tam muội dậy. Chỗ Bồ Tát trụ rất vi diệu Sở hành sở tác vượt hí luận Trong tâm thanh tịnh thường vui thích Hay khiến chúng sanh đều vui mừng. Căn tánh phương tiện đều sai biệt Hay dùng trí huệ thấy rõ cả Mà rõ căn tánh không sở y Bậc điều nan điều hành đạo này. Hay dùng phương tiện khéo phân biệt Nơi tất cả pháp được tự tại Thập phương thế giới đều chẳng đồng Đều ở trong đó làm Phật sự. Căn tánh vi diệu hạnh cũng vậy Hay vì chúng sanh rộng thuyết pháp Người được nghe ai chẳng vui mừng Bậc đẳng hư không hành đạo này. Trí nhãn thanh tịnh không ai bằng Nơi tất cả pháp đều thấy rõ Trí huệ như vậy khéo phân biệt Đây bậc vô đẳng hành đạo này. Chỗ có vô tận phước rộng lớn Tất cả tu hành khiến rốt ráo Khiến các chúng sanh đều thanh tịnh Đây bậc vô tỉ hành đạo này. Khuyên khắp tu hành pháp trợ đạo Đều khiến được trụ nơi phương tiện Độ thoát chúng sanh vô hạn số Chưa từng tạm khởi tưởng chúng sanh. Tất cả cơ duyên đều quan sát Trước hộ lòng họ khiến vô tránh Khắp dạy chúng sanh chỗ an ổn Đây bậc phương tiện hành đạo này. Thành tựu trí tối thượng đệ nhất Đầy đủ vô lượng vô biên trí Ở trong tứ chúng vô sở úy Đây bậc phương tiện hành đạo này. Tất cả thế giới và các pháp Đều hay vào khắp được tự tại Cũng vào trong tất cả chúng hội Độ thoát chúng sanh vô hạn số. Mười phương trong tất cả quốc độ Đánh trống pháp lớn ngộ quần sanh Làm chủ thí pháp rất vô thượng Đây bậc bất diệt hành đạo này. Một thân kiết già ngồi ngay thẳng Đầy khắp mười phương vô lượng cõi Mà khiến thân đó không chật hẹp Đây bậc pháp thân hành đạo này. Có thể trong một nghĩa một chữ Diễn thuyết vô lượng vô biên pháp Mà nơi ngằn mé vẫn không cùng Bậc vô biên trí hành đạo này. Giải thoát của Phật khéo tu học Được Phật trí huệ không chướng ngại Thành tựu vô úy làm thế hùng Đây bậc phương tiện hành đạo này. Rõ biết mười phương thế giới hải Cũng biết tất cả phật sát hải Trí hải pháp hải đều rõ biết Chúng sanh được thấy đều vui thích. Hoặc hiện nhập thai và sơ sinh Hoặc hiện đạo tràng thành chánh giác Như vậy đều khiến thế gian thấy Đây bậc vô biên hành đạo này. Trong vô lượng ức số quốc độ Thị hiện thân mình nhập niết bàn Thiệt chẳng bỏ nguyện quy tịch diệt Đây bậc hùng luận hành đạo này. Một diệu thân kiên có vi mật Cùng Phật bình đẳng không sai khác Bậc một thân thiệt hành đạo này. Pháp giới bình đẳng không sai khác Đầy đủ vô lượng vô biên nghĩa Thích quán một tướng tâm không dời Bậc tam thế trí hành đạo này. Nơi các chúng sanh và Phật pháp Kiến lập gia trì trọn rốt ráo Những sức gia trì đồng với Phật Bậc tối thượng trì hành đạo này. Thần túc vô ngại rất thanh tịnh Nhĩ căn thanh tịnh khéo lóng nghe Bậc vô ngại ý hành đạo này. Bao nhiêu thần thông đều đầy đủ Tuỳ trí huệ kia trọn thành tựu Khéo biết tất cả chẳng ai bằng Đây bậc hiền trí hành đạo này. Nơi tâm chánh định chẳng dao động Nơi trí quảng đại không biên tế Bao nhiêu cảnh giới đều thấu tỏ Bậc nhất thiết kiến hành đạo này. Đã đến bờ tất cả công đức Hay theo thứ đệ độ chúng sanh Nơi tâm rốt ráo không nhàm đủ Bậc thường tinh tấn hành đạo này. Tam thế chỗ có những Phật pháp Tất cả nơi đây đều biết thấy Từ nơi Phật tánh mà sanh ra Các Phật tử kia hành đạo này. Tùy thuận ngôn từ đã thành tựu Các phái dị luận khéo khuất phục Thường hay xu hướng Phật bồ đề Bậc vô biên huệ hành đạo này. Phóng một quang minh chiếu vô tận Thập phương quốc độ đều cùng khắp Khiến khắp thế gian được sáng rõ Đây bậc phá ám hành đạo này. Tùy kia đáng thấy đáng cúng dường Vì hiện Như Lai thân thanh tịnh Giáo hóa chúng sanh trăm ngàn ức Trang nghiêm phật sát cũng như vậy. Vì khiến chúng sanh xuất thế gian Tất cả diệu hạnh đều tu tập Hạnh này rộng lớn không ngằn mé Thế nào mà có người biết được. Giả sử phân thân bất khả thuyết Đồng với pháp giới đồng hư không Đều đồng ca ngọi công đức kia Trăm ngàn muôn kiếp không hết được. Công đức Bồ Tát vô lượng biên Tất cả tu hành đều đầy đủ Giả sử vô lượng vô biên Phật Trong vô lượng kiếp nói chẳng hết. Huống là thế gian trời và người Tất cả Thanh Văn cùng Duyên Giác Có thể vô lượng vô biên kiếp Ca ngợi tuyên dương rốt ráo được!
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 10.11.2009 9:49:31
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 3 Phẩm vô tận tạng Thứ hai mươi hai Lúc bấy giờ, Công Đức Lâm Bồ Tát lại nói với chư Bồ Tát rằng: "Chư Phật tử! Đại Bồ Tát có mười tạng sau đây mà tam thế chư Phật đã nói, sẽ nói và hiện nay nói: Tín tạng, giới tạng, tàm tạng, quý tạng, văn tạng, thí tạng, huệ tạng, niệm tạng, trì tạng, biện tạng. Thế nào là đại Bồ Tát tín tạng? Bồ Tát nầy tin tất cả pháp là không, là vô tướng, là vô nguyện, là vô tác, là vô phân biệt, là vô sở y, là bất khả lượng, là vô thượng, là nan siêu việt, là vô sanh. Nếu Bồ Tát có thể tuỳ thuận tất cả pháp mà sanh lòng tin như vậy rồi, thời nghe Phật pháp bất khả tư nghì lòng không khiếp sợ, nghe tất cả Phật bất tư nghì, chúng sanh giới bất tư nghì, đời quá khứ bất tư nghì, đời vị lai bất tư nghì, đời hiện tại bất tư nghì, và nghe nhập tất cả kiếp bất tư nghì đều không lòng khiếp sợ. Tại sao vậy? Vì đối với chư Phật, Bồ Tát này một bề tin chắc. Biết trí huệ của Phật vô biên vô tận. Trong thập phương vô lượng thế giới, mỗi mỗi thế giới đều có vô lượng Phật đã, nay, và sẽ được vô thượng bồ đề; đã, nay, và sẽ xuất thế; đã, nay, và sẽ nhập niết bàn. Trí huệ của chư Phật bất tăng bất giảm, bất sanh, bất diệt, bất tấn bất thối, bất cận, bất viễn, vô tri, vô xả. Bồ Tát này nhập trí huệ của Phật được thành tựu vô biên vô tận đức tin. Được đức tin này rồi thời tâm chẳng thối chuyển, tâm chẳng tạp loạn, chẳng bị phá hoại, không bị nhiễm trước, thường có căn bổn, tùy thuận thánh nhân, trụ nhà Như Lai, hộ trì chủng tánh của tất cả Phật, tăng trưởng tín giải của tất cả Bồ Tát, tùy thuận thiện căn của tất cả Phật, xuất sanh phương tiện của tất cả Phật. Đây gọi là đại Bồ Tát tín tạng. Bồ Tát trụ nơi tín tạng này thời có thể nghe và trì tất cả Phật pháp, giảng nói cho chúng sanh khiến họ đều được khai ngộ. Chư Phật tử! Những gì là đại Bồ Tát giới tạng? Bồ Tát này thành tựu giới khắp lợi ích, giới chẳng thọ, giới chẳng trụ, giới không hối hận, giới không trái cãi, giới chẳng tổn não, giới không tạp uế, giới không cầu, giới không lỗi lầm, giới không hủy phạm. Thế nào là giới khắp lợi ích? Bồ Tát này thọ trì tịnh giới vốn vì lợi ích tất cả chúng sanh. Thế nào là giới chẳng thọ? Bồ Tát này chẳng thọ hành những giới của ngoại đạo, chỉ bổn tánh tự tinh tấn phụng trì giới bình đẳng của tam thế Phật. Thế nào là giới chẳng trụ? Bồ Tát này lúc phụng trì giới, lòng không trụ dục giới, sắc giới, vô sắc giới, vì trì giới không cầu sanh về các cõi đó. Thế nào là giới không hối hận? Bồ Tát này thường được an trụ tâm không hối hận, vì chẳng làm tội nặg, chẳng làm dối trá, chẳng phá tịnh giới. Thế nào là giới không trái cãi? Bồ Tát này chẳng bác bỏ giới của Phật đã chế ra cũng chẳng tạo lập lại, lòng luôn tùy thuận giới hướng đến niết bàn, thọ trì toàn vẹn không hủy phạm, chẳng vì trì giới mà làm nhiễm não chúng sanh khác khiến họ sanh khổ, chỉ nguyện cầu tất cả chúng sanh đều thường hoan hỷ mà trì giới. Thế nào là giới chẳng não hại? Bồ Tát này chẳng nhân nơi giới mà học những chú thuật, tạo làm phương thuốc não hại chúng sanh, chỉ vì cứu hộ chúng sanh mà trì giới. Thế nào là giới chẳng tạp? Bồ Tát này chẳng chấp biên kiến, chẳng trì giới tạp, chỉ quán duyên khởi trì giới xuất ly. Thế nào là giới không tham cầu? Bồ Tát này chẳng hiện dị tướng tỏ bày mình có đức, chỉ vì đầy đủ pháp xuất ly mà trì giới. Thế nào là giới không lầm lỗi? Bồ Tát này chẳng tự cống cao nói tôi trì giới. Thấy người pháp giới cũng chẳng khinh hủy khiến họ hổ thẹn, chỉ nhất tâm trì giới. Thế nào là không hủy phạm giới? Bồ Tát này dứt hẳn mười ác nghiệp, thọ trì trọn vẹn mười thiệ nghiệp. Lúc Bồ Tát trì giới không hủy phạm tự nghĩ rằng: Tất cả kẻ phạm giới đều do điên đảo cả. Chỉ có Phật là biết được chúng sanh do nhân duyên gì mà sanh điên đảo hủy phạm tịnh giới. Tôi sẽ thành tựu vô thượng bồ đề, rộng vì chúng sanh nói pháp chân thật khiến họ rời điên đảo. Đây gọi là đại Bồ Tát giới tạng thứ hai. Chư Phật tử! Những gì là đại Bồ Tát tàm tạng? Bồ Tát này ghi nhớ các điều ác đã làm thời quá khứ mà sanh lòng tự hổ, nghĩ rằng: Từ thuở vô thỉ đến nay, tôi cùng chúng sanh lẫn nhau làm cha mẹ con cái anh em chị em, đủ cả tham sân si kiêu mạn dua dối tất cả phiền não, tổng hại lẫn nhau, lăng đoạt lẫn nhau, gian dâm giết hại lẫn nhau, không việc ác nào mà chẳng phạm. Tất cả chúng sanh cũng đều như vậy, do phiền não mà tạo đủ tội ác. Do đây nên chẳng kính nhau, chẳng trọng nhau, chẳng thuận nhau, chẳng nhường nhau, chẳng dạy bảo nhau, chẳng hộ vệ nhau, trái lại, giết hại nhau, thành cừu thù của nhau. Tự nghĩ mình và các chúng sanh đã, sẽ, và hiện thật hành những tội lỗi, tam thế chư Phật đều thấy biết cả. Nếu nay không dứt hẳn hành vi tội lỗi thời tam thế chư Phật cũng sẽ thấy rõ tội. Nếu tôi vẫn còn phạm mãi không thôi thời là điều rất không nên. Vì thế tôi phải chuyên tâm dứt bỏ để được chứng vô thượng bồ đề, rộng vì chúng sanh mà nói pháp chân thiệt. Đây gọi là đại Bồ Tát tàm tạng thứ ba. Chư Phật tử! Những gì là đại Bồ Tát quý tạng? Bồ Tát này tự thẹn: Từ xưa đến nay ở trong ngũ dục tham cầu mãi không nhàm, nhân đó mà tăng trưởng các phiền não. Nay tôi chẳng nên phạm lỗi ấy nữa. Bồ Tát này lại nghĩ rằng: Các chúng sanh vì vô trí mà khởi phiền não tạo đủ tội ác, chẳng kính trọng nhau, nhẫn đến làm oán thù của nhau, gây tạo đủ mọi tội ác, tạo xong lại vui mừng tự tán thưởng, thật là mù lòa không huệ nhãn, không thấy biết. Nơi bụng mẹ, vào thai, sanh ra thành thân nhơ uế, trọn đến tóc bạc mặt nhăn. Người có trí quán sát biết chỉ là từ dâm dục mà sanh ra thứ bất tịnh. Tam thế chư Phật đều thấy biết rõ điều này. Nếu nay tối vẫn còn phạm mãi lỗi này thời thật là khi dối tam thế chư Phật. Thế nên tôi phải tu hành pháp hổ thẹn để mau thành vô thượng bồ đề, rồi khắp vì chúng sanh mà thuyết pháp chân thật. Đây gọi là đại Bồ Tát quý tạng thứ tư. Chư Phật tử! Những gì là đại Bồ Tát văn tạng? Bồ Tát này biết rằng vì sự này có nên sự này có, vì sự này không nên sự này không, vì sự này sanh nên sự này sanh, vì sự này diệt nên sự này diệt, đây là pháp thế gian, đây là pháp xuất thế, đây là pháp hữu vi, đây là pháp vô vi, đây là pháp hữu ký, đây là pháp vô ký. Những gì là vì sự này có nên sự này có? Chính là vì có vô minh nên có hành. Những gì là vì sự này không nên sự này không? Chính là vì thức không nên danh sắc không. Những gì là vì sự này sanh nên sự này sanh? Chính là vì ái sanh nên khổ sanh. Những gì là vì sự này diệt nên sự này diệt? Chính là vì hữu diệt nên sanh diệt. Những gì là pháp thế gian? Chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Những gì là pháp xuất thế? Chính là giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Những gì là pháp hữu vi? Chính là dục giới, sắc giới, vô sắc giới, chúng sanh giới. Những gì là pháp vô vi? Chính là hư không, niết bàn, trạch diệt, phi trạch diệt, duyên khởi, pháp tánh trụ. Những gì là pháp hữu ký? Chính là bốn thánh đế, bốn quả sa môn, bốn biện tài, bốn vô úy, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám thánh đạo. Những gì là pháp vô ký? Chính là thế gian hữu biên, vô biên, cũng hữu biên cũng vô biên, chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên; thế gian hữu thường, vô thường, cũng hữu thường cũng vô thường, chẳng phải hữu thường chẳng phải vô thường; Như Lai sau khi diệt độ là có, là không, cũng có cũng không, chẳng có chẳng không; ngã và chúng sanh có, không, cũng có cũng không, chẳng có chẳng không; thời quá khứ có bao nhiêu Như Lai nhập niết bàn, bao nhiêu Thanh Văn, Độc Giác nhập niết bàn; thời vị lai sẽ có bao nhiêu Phật, Thanh Văn, Độc Giác, chúng sanh; những Như Lai nào ra đời trước nhất, những Thanh Văn, Độc Giác nào ra đời trước nhất, những chúng sanh nào ra đời trước nhất; những Như Lai nào ra đời sau cả, những Thanh Văn, Độc Giác nào ra đời sau cả, những chúng sanh nào ra đời sau cả; pháp gì trước cả, pháp gì sau cả, những chúng sanh nào ra đời sau cả; pháp gì trước cả, pháp gì sau cả; thế gian từ đâu đến, đi qua đâu; có bao nhiêu thế giới thành, bao nhiêu thế giới hoại, thế giới từ đâu lại, đi đến chỗ nào; gì là ngằn tối sơ của sanh tử, gì là mé tối hậu của sanh tử. Đây gọi là pháp vô ký. Đại Bồ Tát nghĩ rằng: Tất cả chúng sanh ở trong sanh tử không có đa văn, chẳng rõ được tất cả pháp; tôi phải phát tâm trì tạng đa văn, chứng vô thượng bồ đề, rồi vì chúng sanh mà thuyết pháp chân thật. Đây gọi là đại Bồ Tát đa văn tạng thứ năm. Chư Phật tử! Những gì là đại Bồ Tát thí tạng? Bồ Tát này thật hành mười điều bố thí: Phân giảm thí, kiệt tận thí, nội thí, ngoại thí, nội ngoại thí, nhất thiết thí, quá khứ thí, vị lai thí, hiện tại thí, cứu cánh thí. Thế nào là Bồ Tát phân giảm thí? Bồ Tát này bẩm tánh nhân từ ưa ban cho. Nếu được thứ ngon thời chẳng chuyên tự dung, cần phải chia cho chúng sanh rồi sau mới ăn. Phàm thọ được vật gì cũng thế cả. Nếu lúc tự mình ăn, Bồ Tát nầy tự nghĩ rằng trong thân thể của tôi có tám vạn khí trùng, thân tôi sung túc, chúng nó cũng sung túc, thân tôi đói khổ, chúng nó cũng đói khổ. Nay tôi ăn uống những thức này, nguyện khắp chúng sanh đều được no đủ. Vì chúng trùng mà tôi ăn uống, chẳng tham mùi vị. Bồ Tát này lại nghĩ rằng: Từ lâu tôi vì mến chấp thân này muốn cho nó được no đủ nên ăn uống. Nay tôi đem thức ăn này ban cho chúng sanh. Nguyện tôi đối với thân thể dứt hẳn sự tham chấp. Đây là phân giảm thí. Thế nào là Bồ Tát kiệt tận thí? Bồ Tát này được những thức uống ăn thượng vị, hương, hoa, y phục, những vật tư sanh, nếu tự dùng thời an vui sống lâu, còn nếu đem cho người thời cùng khổ chết yểu. Lúc đó, có người đến xin tất cả. Bồ Tát tự nghĩ: Từ vô thỉ đến giờ tôi vì đói khát nên chết mất vô số thân chưa từng được có mảy may lợi ích cho chúng sanh để được phước lành. Nay tôi cũng sẽ phải xả bỏ thân mạng này đồng như thuở xưa kia, thế nên tôi phải làm điều lợi ích cho chúng sanh, tuỳ mìn có gì đều thí xả tất cả, nhân đến tận mạng cũng không lẫn tiếc. Đây gọi là kiệt tận thí. Thế nào là Bồ Tát nội thí? Bồ Tát này đương lúc trẻ mạnh xinh đẹp, mới thọ lễ quán đảnh lên ngôi chuyển luân vương, đủ bảy báu, trị bốn châu thiên hạ. Bấy giờ có người đến tâu với nhà vua rằng vì họ già yếu nhiều bịnh, nếu được tay chân máu thịt đầu mắt xương tủy nơi thân thể của nhà vua, thời họ tất được mạnh giỏi sống còn. Bồ Tát này nghĩ rằng: Thân thể của tôi đây, sau này tất sẽ chết vô ích, tôi phải mau thí xả để cứu khổ chúng sanh. Bồ Tát này suy nghĩ rồi liền đem thân xả thí không có lòng hối tiếc. Đây gọi là nội thí. Thế nào là Bồ Tát ngoại thí? Bồ Tát này tuổi trẻ sắc đẹp lên ngôi vua chuyển luân, đủ bảy báu, trị bốn châu thiên hạ. Bấy giờ hoặc có người đến tâu: Hiện tôi nghèo khổ, xin nhà vua nhường ngôi cho tôi, để tôi được hưởng thọ sự giàu vui của nhà vua. Bồ Tát tự nghĩ rằng: Tất cả sự giàu sang tất sẽ suy đổ. Lúc suy đổ không lợi ích gì cho chúng sanh. Nay tôi nên làm vừa lòng cầu xin của người ấy. Nghĩ xong, Bồ Tát liền đem ngôi vua nhường cho người ấy, không hối tiếc. Đây gọi là ngoại thí. Thế nào là Bồ Tat nội ngoại thí? Bồ Tát này đương ở ngôi chuyển luân vương như trên. Có người đến tâu xin nhường ngôi và vua phải làm thần bộc cho họ. Bồ Tát tự nghĩ rằng: Thân tôi và của cải cùng ngôi vua này đều là vô thường bại hoại. Nay có người đến xin, tôi nên đem những thứ chẳng bền này để cầu lấy quả bền chắc. Nghĩ xong, Bồ Tát liền làm vừa ý người xin không hối tiếc. Đây gọi là nội ngoại thí. Thế nào là Bồ Tát thí tất cả? Bồ Tát này cũng như trên đã nói ở ngôi chuyển luân vương. Bấy giờ có số đông người nghèo cùng đến tâu xin: Kẻ xin ngôi vua, kẻ xin vợ con của vua, kẻ xin tay chân máu thịt tim phổi đầu mắt tủy óc của vua. Bồ Tát tự nghĩ rằng: Tất cả ân ái hội họp tất có biệt ly không lợi ích gì cho người. Nay tôi nên rời bỏ tham ái, đem những vật tất sẽ ly tán này để làm vừa lòng chúng sanh. Nghĩ xong, theo chỗ xin của mỗi người đều ban cho không hối tiếc, cũng không khinh nhàm chúng sanh. Đây gọi là nhất thiết thí. Thế nào là Bồ Tát quá khứ thí? Bồ Tát này nghe những công đức của chư Phật, Bồ Tát thời quá khứ, nghe rồi không tham trước, rõ thấu là chẳng phải có, chẳng khởi lòng phân biệt, chẳng tham, chẳng đắm, cũng chẳng cầu lấy, không nương cậy, thấy pháp như giấc mơ không kiên cố, nơi các thiện căn chẳng tưởng là có cũng không nương cậy, chỉ vì giáo hóa những chúng sanh thủ trước thành thục Phật pháp mà diễn thuyết cho họ. Lại quán sát các pháp quá khứ tìm cầu mười phương đều không thể được. Nghĩ như thế xong, nơi pháp quá khứ đều xả bỏ tất cả. Đây gọi là quá khứ thí. Thế nào là Bồ Tát vị lai thí? Bồ Tát này nghe công hạnh tu hành của chư Phật thời vị lai, rõ thấu là chẳng phải có, chẳng chấp tướng, chẳng riêng thích vãng sanh quốc độ chư Phật, chẳng ham chẳng trước, cũng chẳng sanh nhàm, chẳng đem thiện căn hồi hướng nơi đó, cũng chẳng nơi đó mà thối thiện căn, thường siêng tu hành chưa từng phế bỏ. Chỉ muốn nhân cảnh giới đó để nhiếp thủ chúng sanh, vì họ giảng thuyết chân thật khiến thành thục Phật pháp, nhưng pháp này chẳng phải có chỗ nơi, chẳng phải không chỗ nơi, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, chẳng phải gần, chẳng phải xa. Bồ Tát lại nghĩ rằng nếu pháp đã là chẳng phải có thời chẳng được chẳng xả. Đây gọi là vị lai thí. Thế nào là Bồ Tát hiện tại thí? Bồ Tát này nghe các cõi trời: Tứ Thiên Vương, Đao Lợi, Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa, Phạm Chúng, Phạm Phụ, Phạm Vương, Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Quang Âm, Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh, Phước Sanh, Phước Ái, Quảng Quả, Vô Tưởng, Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Kiến, Thiện Hiện, Sắc Cứu Cánh, và nghe Thanh Văn, Duyên Giác đầy đủ công đức. Nghe xong, tâm của Bồ Tát này chẳng mê, chẳng mất, chẳng tụ, chẳng tan. Chỉ quán sát các hành pháp như giấc mơ chẳng thiệt, lòng không tham trước. Vì làm cho chúng sanh bỏ lìa ác thú, tâm vô phân biệt, tu Bồ Tát đạo thành tựu Phật pháp, nên khai thị diễn thuyết cho họ. Đây gọi là hiện tại thí. Thế nào là Bồ Tát cứu cánh thí? Giả sử có vô lượng chúng sanh hoặc không mắt, hoặc không tai, hoặc không mũi, không lưỡi, hoặc không tay, không chân... đồng đến xin Bồ Tát này bố thí mắt, tai, mũi, lưỡi, tay, chân nơi thân của Bồ Tát cho họ được toàn vẹn hết tật nguyền. Bồ Tát này liền bố thí theo chỗ họ muốn, dầu đến phải tự mang tật trải qua vô số kiếp vẫn không có lòng hối tiếc. Chỉ quán sát thân thể từ khi nhập thai thành hình toàn là bất tịnh ở trong phạ vi sanh, già, bệnh, chết. Lại quán sát thân thể không thiệt, không tàm quý, chẳng phải vật của Hiền Thánh, là vật hôi nhơ chẳng sạch, xương lóng chỏi nhau, máu thịt kết lại, cửu khiến luôn chảy chất hôi nhơ ai cũng nhàm gớm. Do sự quán sát này nên không có một niệm ái trước nơi thân thể. Lại tự nghĩ rằng thân thể này mỏng manh không bền, không nên luyến ái, phải đem bố thí cho mọi người được toại nguyện xin cầu. Việc làm của tôi đây dùng khai thị dìu dắt chúng sanh, khiến họ chẳng tham ái nơi thân thể mà đều được thành tựu trí thân thanh tịnh. Đây gọi là cứu cánh thí. Đây là đại Bồ Tát tạng thứ sáu. Chư Phật tử! Những gì là đại Bồ Tát huệ tạng? Bồ Tát này đối với sắc, sắc tập, sắc diệt, sắc diệt đạo đều biết đúng như thiệt. Đối với bốn uẩn tập, bốn uẩn, thọ, tưởng, hành, thức, bổn uẩn tập, bốn uẩn diệt, bốn uẩn diệt đạo đều biết đúng thiệt. Đối với vô minh và ái, vô minh ái tập, vô minh ái diệt, vô minh ái diệt đạo đều biết đúng thiệt. Bồ Tát này đối với Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều biết đúng thiệt; với Thanh Văn tập, Duyên Giác tập, Bồ Tát tập đều biết đúng thiệt, với Thanh Văn niết bàn, Duyên Giác niết bàn, Bồ Tát niết bàn đều biết đúng thiệt. Biết thế nào? Biết từ nhân duyên của nghiệp báo tạo ra, tất cả đều hư giả, là không, là chẳng thiệt, chẳng phải ngã, chẳng kiên cố, không có chút pháp nào thành lập được. Vì muốn cho chúng sanh biết thiệt tánh của các pháp nên rộng tuyên thuyết cho họ. Tuyên thuyết các pháp bất khả hoại. Những pháp gì bất khả hoại?? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức bất khả hoại; vô minh bất khả hoại; Thanh Văn pháp, Duyên Giác pháp, Bồ Tát pháp đều bất khả hoại. Tại sao vậy? Vì tất cả pháp là vô tác, không xứ sở, chẳng sanh khởi, chẳng cho chẳng lấy, không động chuyển, không tác dụng. Bồ Tát này thành tựu vô lượng huệ tạng như vậy, dùng chút ít phương tiện rõ tất cả pháp, tự nhiên tỏ thấu chẳng do người khác mà giác ngộ. Tạng huệ vô tận này có mười thứ bất khả tận nên được gọi là vô tận: Vì đa văn thiện xảo bất khả tận, vì thân cận thiện tri thức bất khả tận, vì thiện phân biệt cú nghĩa bất khả tận, vì nhập tâm pháp giới bất khả tận, vì dùng trí nhất vị trang nghiêm bất khả tận, vì họp tất cả phước đức tâm không mỏi mệt bất khả tận, vì nhập tất cả môn đà la ni bất khả tận, vì hay phân biệt âm thanh ngữ ngôn của tất cả chúng sanh bất khả tận, vì hay dứt nghi lầm của tất cả chúng sanh bất khả tận, vì tất cả chúng sanh mà hiện Phật thần lực để giáo hóa điều phục khiến họ tu hành không dứt bất khả tận. Đây là đại Bồ Tát huệ tạng thứ bảy. Bậc trụ trong huệ tạng này được vô tận trí huệ, có thể khai ngộ khắp tất cả chúng sanh. Những gì là đại Bồ Tát niệm tạng? Chư Phật tử! Bồ Tát này lìa bỏ sự si lầm, được niệm lực đầy đủ. Nhớ thời quá khứ một đời, hai đời, nhẫn đến mười đời, trăm ngàn vô lượng đời, nhớ kiếp thành kiếp hoại, đến trăm ngàn ức kiếp, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp. Nhớ hồng danh của một đức Phật đến bất khả thuyết bất khả thuyết đức Phật. Nhớ một đức Phật xuất thế nói thọ ký nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đức Phật xuất thế nói thọ ký. Nhớ một đức Phật xuất thế nói mười hai bộ kinh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đức Phật xuất thế nói mười hai bộ kinh. Nhớ một chúng hội nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết chúng hội. Nhớ diễn một pháp nhẫn đến diễn bất khả thuyết bất khả thuyết chúng hội. Nhớ diễn một pháp nhẫn đến diễn bất khả thuyết pháp. Nhớ một căn tánh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết căn tánh. Nhớ những tánh của một phiền não nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết phiền não. Nhớ những tánh của một tam muội nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết tam muội. Niệm tạng nầy có mười thứ: Tịch tịnh niệm, thanh tịnh niệm, bất trược niệm, minh triệt niệm, ly trần niệm, ly chủng chủng trần niệm, ly cấu niệm, quang diệu niệm, khả ái nhạo niệm, vô chướng ngại niệm. Lúc Bồ Tát trụ trong niệm tạng này, tất cả thế gian không nhiễu loạn được, tất cả dị luận không biến động được, thiện căn đời trước đều được thanh tịnh, nơi thế pháp không nhiễm trước, các ma ngoại đạo không phá hoại được, đổi thân thọ sanh không bị quên mất, quá khứ hiện tại vị lai thuyết pháp đều vô tận, trong tất cả thế giới cùng chúng sanh đồng ở không hề có lầm lỗi, vào tất cả chúng hội đạo tràng của chư Phật không bị chướng ngại, đều được gần gũi tất cả chư Phật. Đây gọi là đại Bồ Tát niệm tạng thứ tám. Những gì là đại Bồ Tát trì tạng? Bồ Tát này thọ trì văn cú nghĩa lý khế kinh của chư Phật nói không quên sót. Một đời thọ trì nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đời thọ trì. Thọ trì danh hiệu của một đức Phật nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp số. Thọ trì một đức Phật thọ ký nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật thọ ký. Thọ trì một khế kinh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết khế kinh. Thọ trì một chúng hội nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết chúng hội. Thọ trì diễn một pháp nhẫn đến diễn bất khả thuyết bất khả thuyết Phật pháp. Thọ trì một căn vô lượng chủng tánh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết bất khả thuyết căn vô lượng chủng tánh. Thọ trì một phiền não nhiều thứ tánh nhẫn đến bất khả thuyết nhiều thứ tánh. Thọ trì một tam muội các thứ tánh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết tam muội các thứ tánh. Trì tạng này vô biên, khó đầy, khó đến được đáy, khó được thân cận, không gì chế phục được, vô lượng vô tận, đủ oai lực lớn, là cảnh giới Phật, chỉ có Phật rõ được. Đây gọi là đại Bồ Tát tạng thứ chín. Những gì là đại Bồ Tát biện tạng? Bồ Tát này có trí huệ rất sâu, biết rõ thiệt tướng, rộng vì chúng sanh diễn thuyết các pháp chẳng trái với kinh điển của chư Phật. Diễn thuyết một phẩm pháp nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết phẩm pháp. Diễn thuyết một Phật hiệu nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật hiệu. Như vậy, diễn thuyết thế giới, Phật thọ ký, khế kinh, chúng hội, diễn pháp, căn tánh, phiền não tánh, tam muội tánh, cũng đều từ một đến bất khả thuyết bất khả thuyết cả. Hoặc diễn thuyết trong một này, hoặc nửa tháng, một tháng, trăm năm, ngàn năm, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp. Kiếp số có thể cùng tận, nghĩa lý một chữ, một câu khó cùng tận. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này thành tựu mười thứ tạng vô tận, nhiếp được nhất thiết pháp đà la ni môn hiệu ở trước, có trăm vạn vô số đà la ni làm quyến thuộc. Được đà la ni này rồi, dùng pháp quang minh rộng vì chúng sanh diễn thuyết các pháp. Lúc thuyết pháp, dùng lưỡi rộng dài ra tiếng vi diệu khắp đến tất cả thế giới mười phương, tùy căn tánh đều làm cho đầy đủ, lòng hoan hỷ, dứt trừ tất cả phiền não, khéo vào tất cả âm thanh ngữ ngôn văn tự biện tài, khiến tất cả chúng sanh chẳng dứt Phật chủng, tâm thanh tịnh được tương tục. Cũng dùng pháp quang minh mà thuyết pháp không cùng tận, chẳng mỏi mệt. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này thành tựu thân vô biên cùng tận hư không pháp giới. Đây là đại Bồ Tát biện tạng thứ mười. Tạng này vô cùng tận, không phân biệt, không gián đoạn, không đổi khác, không cách ngại, không thối chuyển, rất sâu không đáy khó vào được, vào khắp tất cả môn Phật pháp. Chư Phật tử! Mười tạng vô tận này có mười pháp vô tận khiến chư Bồ Tát rốt ráo thành vô thượng bồ đề. Đây là mười pháp: Vì lợi ích tất cả chúng sanh, vì bổn nguyện khéo hồi hướng, vì tất cả kiếp không đoạn tuyệt, vì tận hư không giới đều khai ngộ tâm vô hạn, vì hồi hướng hữu vi mà không tham trước, vì cảnh giới một niệm tất cả pháp vô tận, vì tâm đại nguyện không đổi khác, vì khéo nhiếp thủ các đà la ni, vì tất cả chư Phật hộ niệm, vì rõ tất cả pháp đều như huyễn. Mười pháp vô tận này có thể khiến chỗ thật hành của tất cả thế gian trọn được rốt ráo tạng lớn vô tận."
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 11.11.2009 12:16:17
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 3 Phẩm thăng Đâu Suất thiên cung Thứ hai mươi ba Hán bộ quyển thứ hai mươi hai Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, thập phương tất cả thế giới, trong mỗi Diêm Phù Đề đều thấy đức Phật ngự dưới cây bồ đề, đều có Bồ Tát thừa oai lực của Phật mà thuyết pháp, không ai chẳng cho rằng đức Phật luôn ở trước mình. Đức Thế Tôn lại dùng thần lực chẳng rời các chỗ: Cây bồ đề, đảnh Tu Di sơn, Dạ Ma thiên cung, mà qua đến Đâu Suất Đà thiên nơi điện Diệu Bửu Trang Nghiêm. Đâu Suất Thiên Vương vọng thấy đức Phật đến, liền dọn tòa ma ni tạng sư tử tại giữa điện. Tòa ấy do những diệu bửu cõi trời họp thành, từ những thiện căn công đức mà có, không ai quan sát trọn hết được sự tốt đẹp của nó. Có trăm vạn ức từng cấp vòng quanh tòa. Có trăm vạn ức lưới vàng, lưới ma ni, lưới báu, trăm vạn ức trướng hoa, trướng báu, trướng tràng hoa, trướng hương giăng che phía trên tòa. Tràng hoa thòng xuống, hơi thơm lan khắp nơi. Có trăm vạn ức lọng hoa, lọng tràng hoa, lọng báu, do chư thiên cầm bày hàng bốn phía. Trăm vạn ức bửu y trải trên tòa. Trăm vạn ức lâu các chói sáng trang nghiêm. Trăm vạn ức lưới chuỗi ngọc báu rủ bốn phía. Có trăm vạn ức màn linh báu, những linh ấy hơi động vang ra tiếng hòa nhã. Cửa sổ bằng trăm vạn ức báu kiên cố ma ni. Cửa chính bằng trăm vạn ức báu thanh tịnh diệu tạng. Rưới trăm vạn ức mây thiên hoa, mây thiên hương, mây thiên y, mây thiên bửu, mây thiên cái, mây thiên trang nghiêm cụ, mây thiên bửu man, mây thiên anh lạc. Trăm vạn ức bửu thọ che mát xung quanh. Trăm vạn ức thiên nhạc đồng hòa tấu ra tiếng vi diệu diệt các phiền não, tán thán sự cúng dường, sự thờ phụng, sự tu hành, cũng tán thán Phật quả, thiệt lý, Phật bổn hạnh, cũng tán thán sự cúng dường chư Phật thời quá khứ, ca ngợi chư Phật tối thắng vô úy, ca ngợi công đức vô tận của Bồ Tát, ca ngợi hạnh tương ưng của tất cả bậc Bồ Tát, ca ngợi công đức bất tuyệt của Phật, ca ngợi công hạnh thấy Phật, ca ngợi lý tương ưng với vô ngại. Tiếng thiên nhạc vang khắp tất cả phật sát. Có trăm vạn ức sơ phát tâm Bồ Tát vừa thấy bửu tòa này lại càng thêm lớn tâm nhất thiết trí. Trăm vạn ức Trị Địa Bồ Tát tâm tịnh hoa hỷ. Trăm vạ ức Tu Hành Bồ Tát ngộ giải thanh tịnh. Trăm vạn ức Sanh Quý Bồ Tát trụ thắng chí lạc. Trăm vạn ức Phương Tiện Cụ Túc Bồ Tát khởi đại thừa hạnh. Trăm vạn ức Chánh Tâm Trụ Bồ Tát siêng tu tất cả đạo Bồ Tát. Trăm vạn ức Bất Thối Bồ Tát tịnh tu tất cả Bồ Tát địa. Trăm vạn ức Đồng Chơn Bồ Tát được quang minh tam muội của tất cả Bồ Tát. Trăm vạn ức Pháp Vương Tử Bồ Tát nhập bất tư nghì chư Phật cảnh giới. Trăm vạn ức Quán Đảng Bồ Tát hay hiện thập lực của vô lượng Như Lai. Trăm vạn ức Bồ Tát được tri giải thanh tịnh. Trăm vạ ức Bồ Tát sanh lòng ưa thích. Trăm vạn ức Bồ Tát thâm tín chẳng hư hoại. Trăm vạn ức Bồ Tát thế lực rộng lớn. Trăm vạn ức Bồ Tát thêm lớn danh tiếng. Trăm vạn ức Bồ Tát diễn thuyết pháp nghĩa khiến trí quyết định. Trăm vạn ức Bồ Tát chánh niệm chẳng loạn. Trăm vạn ức Bồ Tát sanh trí quyết định. Trăm vạn ức Bồ Tát được sức văn trì, trì tất cả Phật pháp. Trăm vạn ức Bồ Tát xuất sanh vô lượng tri giải rộng lớn. Trăm vạn ức Bồ Tát an trụ tín căn. Trăm vạn ức Bồ Tát được đàn ba la mật có thể thí tất cả. Trăm vạn ức Bồ Tát được thí ba la mật, trì toàn vẹn các giới hạnh. Trăm vạn ức Bồ Tát được nhẫn ba la mật tâm chẳng vọng động, trọn nhẫn thọ được tất cả Phật pháp. Trăm vạn ức Bồ Tát được tinh thấn ba la mật, có thể thật hành vô lượng xuất ly tinh tấn. Trăm vạn ức Bồ Tát được thiền ba la mật, đủ vô lượng thiền định quang minh. Trăm vạn ức Bồ Tát được bác nhã ba la mật, trí huệ quang minh có thể soi sáng khắp nơi. Trăm vạn ức Bồ Tát thành tựu đại nguyện trọn đều thanh tịnh. Trăm vạn ức Bồ Tát được đèn trí huệ soi sáng pháp môn. Trăm vạn ức Bồ Tát được pháp quang của thập phương chư Phật chiếu đến. Trăm vạn ức Bồ Tát diễn pháp ly si cùng khắp mười phương. Trăm vạn ức Bồ Tát vào khắp tất cả quốc độ chư Phật. Trăm vạn ức Bồ Tát pháp thân đến tất cả Phật độ. Trăm vạn ức Bồ Tát được Phật âm thanh hay rộng khai ngộ chúng sanh. Trăm vạn ức Bồ Tát được phương tiện xuất sanh nhất thiết trí. Trăm vạn ức Bồ Tát được thành tựu tất cả pháp môn. Trăm vạn ức Bồ Tát thành tựu pháp trí như bửu tràng có thể hiển thị tất cả Phật pháp. Trăm vạn ức Bồ Tát có thể trọn thị hiện cảnh giới Như Lai. Trăm vạn ức Thiên Vương cung kính lễ bái. Trăm vạn ức Long Vương nhìn ngắm không nhàm. Trăm vạn ức Dạ Xoa Vương chấp tay trên đầu. Trăm vạn ức Càn Thát Bà Vương khởi lòng tịnh tín. Trăm vạn ức A Tu La Vương dứt lòng kiêu mạn. Trăm vạn ức Ca Lâu La Vương miệng ngậm dải lụa màu. Trăm vạn ức Khẩn Na La Vương vui mừng hớn hở. Trăm vạn ức Ma Hầu La Già Vương hoan hỷ chiêm ngưởng. Trăm vạn ức thế chúa cúi đầu đảnh lễ. Trăm vạn ức Đao Lợi Thiên Vương chiêm ngưỡng chẳng nháy mắt. Trăm vạn ức Da Ma Thiên Vương hoan hỷ ca ngợi. Trăm vạn ức Đâu Suất Thiên Vương mọp thân làm lễ. Trăm vạn ức Hóa Lạc Thiên Vương cung kính đảnh lễ. Trăm vạn ức Tha Hóa Thiên Vương chấp tay cung kính. Trăm vạn ức Phạm Vương nhất tâm quan sát. Trăm vạn ức Đại Tự Tại Thiên Vương cung kính cúng dường. Trăm vạn ức Bồ Tát lên tiếng tán thán. Trăm vạn ức thiên nữ chuyên tâm cúng dường. Trăm vạn ức Đồng Nguyệt Thiên hớn hở vui mừng. Trăm vạn ức Đồng Trụ Thiên ca ngợi. Trăm vạn ức Phạm Thân Thiên trải thân kính lễ. Trăm vạn ức Phạm Phụ Thiên chấp tay trên đầu. Trăm vạn ức Phạm Chúng Thiên hầu hạ xung quanh. Trăm vạn ức Đại Phạm Thiên ca ngợi vô lượng công đức. Trăm vạn ức Quang Thiên năm vóc gieo xuống đất. Trăm vạn ức Thiểu Quang Thiên ca ngợi khó gặp Phật xuất thế. Trăm vạn ức Vô Lượng Quang Thiên vọng lễ Phật. Trăm vạn ức Quang Âm Thiên tán thán rất khó được thấy Phật. Trăm vạn ức Tịnh Thiên cùng cung điện đồng đến đây. Trăm vạn ức Thiểu Tịnh Thiên dùng tâm thanh tịnh cúi đầu làm lễ. Trăm vạn ức Vô Lượng Tịnh Thiên nguyện muốn thấy Phật. Trăm vạn ức Biến Tịnh Thiên thân cận tôn trọng cúng dường. Trăm vạn ức Quảng Thiên nhớ căn lành đời trước. Trăm vạn ức Thiểu Quang Thiên sanh quan niệm hi hữu đối với Như Lai. Trăm vạn ức Vô Lượng Quảng Thiên quyết định tôn trọng sanh các nghiệp lành. Trăm vạn ức Quảng Quả Thiên cúi mình cung kính. Trăm vạn ức Vô Phiền Thiên tín căn kiên cố kính lễ. Trăm vạn ức Vô Nhiệt Thiên chấp tay niệm Phật không lòng mỏi nhàm. Trăm vạn ức Thiện Kiến Thiên đảnh lễ. Trăm vạn ức Thiện Hiện Thiên mãi nhớ cúng dường Phật. Trăm vạn ức Sắc Cứu Cánh Thiên kính lễ. Trăm vạn ức chư thiên đều rất hoan hỷ lên tiếng tán thán. Trăm vạn ức chư thiên đều khéo tư duy để trang nghiêm. Trăm vạn ức Bồ Tát thiên hộ trì phật tòa không ngớt trang nghiêm. Trăm vạn ức Hoa Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ hoa. Trăm vạn ức Hương Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ hương. Trăm vạn ức Man Thủ Bồ Tát rải tất cả tràng hoa. Trăm vạn ức Y Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ y phục. Trăm vạn ức Cái Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ lọng. Trăm vạn ức Tràng Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ tràng. Trăm vạn ức Phan Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ phan. Trăm vạn ức Bửu Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ bửu. Trăm vạn ức Trang Nghiêm Thủ Bồ Tát rải tất cả đồ trang nghiêm. Trăm vạn ức thiên tử đến dưới bửu tòa. Trăm vạn ức thiên tử cùng cung điện đồng đến đây với tâm tịnh tín. Trăm vạn ức Sanh Quý Thiên Tử dùng thân gìn bửu tòa. Trăm vạn ức Quán Đảnh Thiên Tử cả thân gìn bửu tòa. Trăm vạn ức Tu Duy Bồ Tát cung kính tư duy. Trăm vạn ức Sanh Quý Bồ Tát phát tâm thanh tịnh. Trăm vạn ức Bồ Tát sáu căn vui đẹp. Trăm vạn ức Bồ Tát thâm tâm thanh tịnh. Trăm vạn ức Bồ Tát tín giải thanh tịnh. Trăm vạn ức Bồ Tát ba nghiệp thanh tịnh. Trăm vạn ức Bồ Tát thọ sanh tự tại. Trăm vạn ức Bồ Tát pháp quang chiếu sáng. Trăm vạn ức Bồ Tát thành tựu các bậc. Trăm vạn ức Bồ Tát khéo giáo hóa tất cả chúng sanh. Trăm vạn ức thiện căn sanh ra. Trăm vạn ức Phật hộ trì. Trăm vạn ức phước đức viên mãn. Trăm vạn ức đại nguyện nghiêm khiết. Trăm vạn ức hạnh lành sanh khởi. Trăm vạn ức tâm thù thắng làm thanh tịnh. Trăm vạn ức pháp lành làm kiên cố. Trăm vạn ức thần lực thị hiện ra. Trăm vạn ức công đức làm thành. Trăm vạn ức pháp tán thán để ca ngợi. Như ở thế giới này, Đâu Suất Thiên Vương phụng vì đức Như Lai mà trần thiết bửu tòa, trong tất cả thế giới, các Đâu Suất Thiên Vương cũng vì đức Như Lai mà trần thiết bửu tòa đều đồng sự trang nghiêm, đồng nghi tắc, đồng tín ưa, đồng tâm tịnh, đồng vui thích, đồng mừng rỡ, đồng tôn trọng, đồng quan niệm hi hữu, đồng hớn hở, đồng khát ngưỡng như thế cả. Trần thiết bửu tòa xong, Đâu Suất Thiên Vương với lòng tôn trọng cùng mười vạn ức vô số Đâu Suất Thiên Tử phụng nghinh đức Như Lai. Thiên Vương và chư thiên dùng tâm thanh tịnh rưới vô số mây màu hoa, mây màu hương, mây màu tràng hoa, mây bửu cái, mây thiên y, mây diệu bửu, mây trang nghiêm cụ. Lúc chư thiên từ nơi thân mình tuôn ra vô số thứ mây màu báu đẹp này, trăm ngàn vô số Đâu Suất Thiên Tử cùng chúng thiên tử hiện diện trong hội lòng rất hoan hỷ kính lễ. Vô số thiên nữ hớn hở kính mộ chiêm ngưỡng đức Như Lai. Bất khả thuyết Bồ Tát trụ giữa hư không tinh tấn nhất tâm cúng dường đức Phật nhiều hơn chư thiên và cung kính đảnh lễ. Vô số âm nhạc đồng thời hòa tấu. Bấy giờ, do thần lực của đức Phật, do căn lành ngày trước, do sức tự tại bất tư nghì, nên trong Đâu Suất thiên cung, tất cả thiên tử và thiên nữ đều vọng thấy đức Phật đối trước mình. Họ đồng tự nghĩ rằng: Đức Như Lai xuất thế khó gặp gỡ được, nay tôi được thấy đấng vô thượng chánh giác. Trăm ngàn ức na do tha vô số Đâu Suất thiên tử trụ giữa hư không đều khởi tâm cảnh giới trí huệ, đối với đức Phật, mà đốt những thứ thiên hương, khói hương kết thành mây đẹp thơm trang nghiêm trên hư không. Lại với đức Phật, họ khởi tâm hoan hỷ mà rưới những mây hoa trời trang nghiêm hư không. Lại với đức Phật, họ khởi tâm tôn trọng rưới những mây lọng trời trang nghiêm hư không. Họ lại khởi tâm cúng dường Phật mà rải mây tràng hoa trời trang nghiêm hư không. Họ lại khởi tâm tín giải bủa vô số lưới vàng che trùm hư không, có những bửu linh luôn vang tiếng hòa dịu. Họ lại khởi tâm tối thắng phước điền dùng vô số màn báu trang nghiêm hư không và rưới mây chuỗi ngọc báu không ngớt. Họ lại sanh tâm thâm tín dùng vô số cung điện trời trang nghiêm hư không, tất cả thiên nhạc vang tiếng vi diệu. Họ lại sanh tâm tối thắng khó gặp đối với đức Phật, dùng vô số mây thiên y nhiều màu trang nghiêm hư không và rưới vô tỉ những y phục vi diệu. Họ lại sanh vô lượng tâm hoan hỷ hớn hở dùng vô số thiên bửu quang trang nghiêm hư không và rưới vô lượng thiên quan kết thành mây. Họ lại khởi tâm hoan hỷ dùng vô số báu nhiều màu trang nghiêm hư không và rưới những mây chuỗi ngọc không ngớt. Trăm ngàn ức na do tha vô số thiên tử, đối với đức Phật, đều sanh tâm tịnh tín rải vô số thiên hoa nhiều màu, đốt vô số thiên hương để cúng dường Như Lai. Họ lại khởi tâm đại trang nghiêm biến hóa cầm vô số thiên mạt hương nhiều màu phụng rải cúng dường đức Phật. Họ lại khởi tâm hoan hỷ cầm vô số lọng nhiều màu theo bên Như Lai. Ho lại khởi tâm tăng thượng cầm vô số y báu nhiều màu trải trên đường để cúng dường Như Lai. Họ lại khởi tâm thanh tịnh cầm vô số bửu tràng nhiều màu phụng nghinh Như Lai. Họ lại khởi tâm tăng thượng hoan hỷ cầm vô số trang nghiêm báu cúng dường Như Lai. Họ lại sanh tâm bất hoại tín cầm vô số tràng hoa báu cúng dường Như Lai. Họ lại sanh tâm hoan hỷ vô tỉ cầm vô số bửu phan cúng dường Như Lai. Trăm ngàn ức na do tha vô số thiên tử dùng tâm điều thuận tịch tịnh không phóng dật đem vô số thiên nhạc vang tiếng vi diệu cúng dường Như Lai. Bất khả thuyết Bồ Tát ở trước nơi trời Đâu Suất, sanh ra từ pháp siêu thế gian, từ hạnh ly phiền não, từ tâm vô ngại, từ pháp thậm thâm phương tiện, từ trí quảng đại, từ tín tâm thanh tịnh kiên cố, từ thiện căn bất tư nghì, từ vô số thiện xảo biến hóa, từ tâm cúng dường Phật, từ pháp môn vô tác. Chư Bồ Tát này đem đồ cúng dường hơn cả chư thiên để dâng lên Phật: Những bửu cái từ ba la mật sanh ra, những hoa trướng từ trí giải thanh tịnh sanh ra, những bửu y từ vô sanh pháp nhẫn sanh ra, những lưới bửu linh từ tâm vô ngại sanh ra, những hương báu từ tâm hiểu pháp như huyễn sanh ra, những bửu tòa từ tâm cùng khắp Phật cảnh giới Như Lai tòa sanh ra, những bửu tràng từ tâm cúng dường Phật chẳng lười trễ sanh ra, những bửu điện từ tâm hoan hỷ hiểu pháp như giấc mơ sanh ra, những mây bửu liên hoa từ thiện căn vô trước vô sanh sanh ra, cùng những mây hương, mây hoa, mây bửu y, mây đồ trang nghiêm hơn cả chư thiên dâng lên cúng dường đức Phật. Mỗi thân của chư Bồ Tát nầy đều hiện ra bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha Bồ Tát đầy khắp pháp giới hư không giới. Tâm của chư Bồ Tát này đồng với tam thế chư Phật, bởi từ pháp không điên đảo khởi lên, vô lượng Như Lai gia hộ, khai thị đạo an ổn cho chúng sanh, đầy đủ bất khả thuyết danh vị cú, vào khắp vô lượng pháp trong tất cả môn đà la ni, sanh tạng biện tài chẳng cùng tận, lòng không e sợ, rất hoan hỷ, dùng bất khả thuyết vô lượng vô tận pháp tán thán như thật để ca ngợi đức Phật không mỏi nhàm. Lúc đó, tất cả chư thiên, và tất cả Bồ Tát thấy đức Như Lai vô thượng chánh giác thân vô lượng không thể đếm lường, hiện bất tư nghì thần biến, khiến vô số chúng sanh lòng rất vui mừng, dùng Phật trang nghiêm mà trang nghiêm cả pháp giới hư không giới, khiến các chúng sanh an trụ thiện căn, thị hiện vô lượng Phật thần lực, vượt khỏi tất cả đường ngữ ngôn, chư đại Bồ Tát đồng khâm kính, tuỳ chỗ đáng được độ đều khiến hoan hỷ trụ nơi thân rộng lớn của chư Phật, công đức thiện căn đều đã thanh tịnh, sắc tướng đệ nhất, trí huệ cảnh giới không thể cùng tận, từ vô tỉ tam muội sanh ra, thân Phật không ngằn mé trụ khắp trong thân của tất cả chúng sanh, khiến vô lượng chúng sanh đều vui mừng, khiến Phật chủng tánh chẳn dứt, trụ nơi chỗ trụ rốt ráo của đức Phật, sanh nơi nhà tam thế chư Phật, khiến vô số chúng sanh tín giải thanh tịnh, khiến tất cả Bồ Tát trí huệ thành tựu, căn thân vui thích, pháp vân trùm khắp pháp giới hư không giới giáo hóa điều phục không thừa sót, tùy tâm chúng sanh đều khiến đầy đủ, khiến họ an trụ trí vô phân biệt, được nhất thiết trí, phóng đại quang minh, thiện căn đời trước đều khiến hiển hiện, khiến khắp tất cả phát tâm rộng lớn, khiến tất cả chúng sanh an trụ trí Phổ Hiền, trụ khắp các quốc độ, từ trong chánh pháp bất thối mà sanh, trụ nơi pháp giới bình đẳng, hiểu rõ cơ nghi của tâm chúng sanh, hiện bất khả thuyết bất khả thuyết thân Như Lai sai biệt, có thể khiến tất cả chúng thường nghĩ đến sự niệm Phật, đầy khắp pháp giới rộng độ quần sanh, tuỳ người sơ phát tâm chỗ muốn lợi ích mà đem pháp dạy cho, khiến họ điều phục tín giải thanh tịnh, thị hiện sắc thân bất tư nghì, bình đẳng xem chúng sanh không lòng chấp trước, trụ bậc vô ngại, được Phật thập lực, tâm thường tịch tịnh không tán loạn, trụ nhất thiết trí, khéo có thể khai diễn những nghĩa chân thật của văn cú, có thể nhập trọn trong biển sâu trí huệ, xuất sanh vô lượng huệ tạng công đức, luôn dùng huệ nhật chiếu khắp pháp giới, tùy bổn nguyện lực hiện luôn không ẩn mất, luôn trụ nơi pháp giới, trụ nơi chỗ trụ của Phật không đổi khác, trọn không chấp ngã ngã sở, trụ pháp xuất thế không nhiễm thế pháp, nơi tất cả thế gian dựng tràng trí huệ, trí đó rộng lớn không nhiễm trước vượt hơn thế gian, cứu các chúng sanh khiến ra khỏi bùn lầy để nơi chỗ trí huệ vô lượng, có bao nhiêu phước đức đều đem lợi ích chúng sanh mà vẫn vô tận, rõ biết trí huệ của tất cả Bồ Tát, tin và xu hướng quyết định sẽ thành chánh giác, dùng đại từ bi hiện vô lượng thân Phật đủ sự trang nghiêm, dùng âm thanh vi diệu diễn vô lượng pháp, tùy theo ý của chúng sanh đều khiến đầy đủ, với ba thời lòng luôn thanh tịnh, khiến các chúng sanh chẳng tham chấp cảnh giới, hằng thọ ký cho chư Bồ Tát khiến đều nhập chủng tánh Phật và sanh nhà Phật, được Phật quán đảnh, thường du thập phương không thôi ngớt mà đối với tất cả không nhiễm trước, đều có thể qua khắp các Phật độ trong các pháp giới, biết tất cả tâm chúng sanh, chẳng trụ sanh tử mà như bóng hiện khắp trong thế gian, dùng trí huệ chiếu khắp pháp giới, rõ thấu tất cả đều vô sở đắc, hằng dùng trí huệ biết các thế gian như huyễn, như mộng, như bóng, như hóa, tất cả đều dùng tâm làm tự tánh mà trụ như vậy, tuỳ các chúng sanh nghiệp báo không đồng, sở thích sai biệt, các căn đều khác, mà hiện Phật thân. Đức Như Lai luôn dùng vô số chúng sanh làm sở duyên mà vì họ nói thế gian đều từ duyên mà khởi, biết các pháp tướng thảy đều vô tướng, chỉ là tướng duy nhất, gốc của trí huệ. Muốn khiến chúng sanh lìa sự chấp tướng nên thị hiện tất cả tánh tướng thế gian mà đi trong đời vì họ khai thị vô thượng bồ đề. Vì muốn cứu hộ tất cả chúng sanh nên xuất hiện thế gian khai thị Phật đạo khiến họ được thấy thân tướng của Như Lai, để ghi nhớ siêng tu tập trừ diệt tướng phiền não thế gian, tu hạnh bồ đề tâm chẳng tán động, nơi môn đại thừa đều được viên mãn, thành tựu sự lợi ích của chư Phật, đều có thể quan sát thiện căn của chúng sanh mà chẳng hoại diệt nghiệp báo thanh tịnh, trí huệ sáng rõ vào khắp ba thời, lìa hẳn tất cả sự phân biệt của thế gian, phóng quang minh chiếu khắp mười phương, tất cả thế giới đều đầy khắp, sắc thân tốt đẹp không nhàm. Dùng công đức trí huệ thần thông lớn hiện ra cảnh giới các căn các hạnh của chư Bồ Tát, làm những Phật sự tự tại viên mãn, làm xong liền ẩn. Khéo hay khai thị đạo nhất thiết trí trong ba thời. Vì các Bồ Tát khắp rưới vô lượng đà la ni, khiến phát khởi chí nguyện quảng đại, thọ trì tu tập thành tựu tất cả công đức của chư Phật. Vô biên diệu sắc trang nghiêm nơi thân, tất cả thế gian đều hiện thấy, lìa hẳn tất cả sự chướng ngại. Nơi nghĩa chân thiệt của tất cả pháp đã được thanh tịnh. Nơi pháp công đức đã được tự tại. Làm đại pháp vương chiếu khắp như mặt nhật. Đủ oai đức lớn làm phước điền thế gian. Hiện hóa thân khắp trong tất cả thế gian. Phóng ánh sáng trí huệ đều khiến khai ngộ, muốn cho chúng sanh biết đức Phật đầy đủ vô biên công đức. Dùng trí vô ngại thọ ngôi. Tuỳ thuận thế gian mà phương tiện khai thị dắt dìu. Dùng cánh tay trí huệ an ủi chúng sanh. Làm đại y vương khéo trị lành bệnh chúng sanh. Có thể qua khắp vô lượng quốc độ chưa từng thôi nghỉ. Huệ nhãn thanh tịnh rời những chướng lòa đều có thể thấy rõ cả. Với những chúng sanh làm nghiệp ác thời nhiều cách điều phục khiến họ nhập đạo, khéo năm lấy thời nghi không thôi nghỉ. Nếu các chúng sanh khởi tâm bình đẳng, liền vì họ hóa hiện nghiệp báo bình đẳng. Tùy sở thích của họ, tuỳ nghiệp quả của họ mà vì họ hiện Phật thân các thứ thần biến để thuyết pháp cho họ được tỏ ngộ, được pháp trí huệ, lòng rất hoan hỷ, các căn hớ hởn, thấy vô lượng Phật khởi lòng tin sâu, sanh các thiện căn trọn không thối chuyển. Tất cả chúng sanh theo nghiệp ràng buộc, mãi ngủ trong sanh tử, đức Như Lai xuất thế có thể giác ngộ, an ủi tâm họ khiến không lo sợ. Người được thấy Phật thời đều khiến chứng nhập nghĩa trí vô y, trí huệ thiện xảo rõ thấu cảnh giới, trang nghiêm tốt đẹp không gì chói lấn được, pháp trí đều đã thanh tịnh. Hoặc hiện thân Phật, hoặc hiện thân Bồ Tát, khiến các chúng sanh đến chỗ không khổ hoạn, trang nghiêm với vô số công đức, công hạnh thành tựu hiện nơi thế gian. Tất cả chư Phật trang nghiêm thanh tịnh đều do công hạnh nhất thiệt trí mà thành tựu. Luôn gìn bổn nguyện chẳng bỏ rời thế gian, làm bạn lành bền chắc của các chúng sanh. Quang minh vô cấu thanh tịnh đệ nhất, khiến tất cả chúng sanh đều được hiện thấy. Sáu loài chúng sanh vô lượng vô biên, đức Phật dùng thần lực luôn theo họ không rời. Nếu có ai thuở trước đồng Phật gieo trồng căn lành thời đều khiến được thanh tịnh. Đối với lục đạo chúng sanh chẳng bỏ bổn nguyện, không khi dối, đều dùng pháp lành phương tiện nhiếp thủ khiến họ tu tập hạnh thanh tịnh, xô phá tất cả ma đấu tranh. Từ vô ngại tế sanh ra sức quảng đại, nhật tạng tối thắng không chướng ngại, nơi tịnh tâm giới hiện ra ảnh tượng, tất cả thế gian đều được thấy, đem nhiều pháp môn ban cho khắp chúng sanh. Đức Phật là tạng quang minh vô biên, những trí lực đều viên mãn, luôn dùng quang minh lớn chiếu khắp chúng sanh, tùy sở nguyện của họ đều khiến đầy đủ, lìa các oán địch, là phước điền vô thượng, chỗ nương tựa chung của tất cả chúng sanh, phàm có cúng dường đều khiến thanh tịnh, tu chút ít hạnh lành thọ hưởng vô lượng phước, đều khiến được vào bậc trí vô tận. Là ông chủ những thiện căn thanh tịnh của tất cả chúng sanh. Là ruộng tốt tối thượng phát sanh phước đức cho tất cả chúng sanh. Trí huệ Phật rất sâu, phương tiện thiện xảo có thể cứu tất cả khổ ác đạo. Tin hiểu như vậy, quan sát như vậy, và biển trí huệ như vậy, đi trong biển công đức như vậy, khắp đến trí huệ quảng đại như vậy, biết phước điền của chúng sanh như vậy, chánh niệm hiện tiền quán sát như vậy, quán những nghiệp tướng hảo của Phật như vậy, quán Phật hiện khắp thế gian như vậy, quán Phật thần thông tự tại như vậy. Lúc đó, cả đại chúng thấy thân Như Lai: Mỗi chân lông tuôn ra trăm ngàn ức na do tha vô số quang minh, mỗi quang minh có vô số màu, vô số thanh tịnh, vô số chiếu sáng. Làm cho vô số chúng nhìn xem, vô số chúng hoan hỷ, vô số chúng khoái lạc, vô số chúng thêm lớn lòng thâm tín, vô số chúng chí nguyện thanh tịnh, vô số chúng các căn mát mẻ, vô số chúng cung kính tôn trọng. Lúc đó, cả đại chúng đều thấy thân Phật phóng ra trăm ngàn ức na do tha bất tư nghì đại quang minh. Mỗi quang minh đều có bất tư nghì màu, bất tư nghì ánh sáng chiếu bất tư nghì vô biên pháp giới. Do thần lực của Phật vang ra tiếng lớn vi diệu. Tiếng đó diễn xướng trăm ngàn ức na do tha bất tư nghì lời tán tụng, vượt hơn tất cả ngôn từ thế gian, đây là thiện căn xuất thế làm thành. Lại hiện trăm ngàn ức na do tha bất tư nghì sự trang nghiêm vi diệu, ca ngợi trong trăm ngàn ức na do tha bất tư nghì kiếp cũng không hết được, đây là đức Như Lai vô tận tự tại xuất hiện ra. Lại hiện bất khả thuyết chư Phật Như Lai xuất thế khiến các chúng sanh vào môn trí huệ hiểu nghĩa thậm thâm. Lại hiện tất cả sự biến hóa của bất khả thuyết Như Lai khắp pháp giới hư không giới khiến tất cả thế gian bình đẳng thanh tịnh. Đây đều từ trí vô ngại của Như Lai sanh ra, cũng từ bất tư nghì thắng đức của Như Lai tu hành sanh ra. Lại hiện trăm ngàn ức na do tha bất tư nghì diệu bửu quang diệm, do từ thiện căn đại nguyện thuở trước khởi ra, vì đã từng cúng dường vô lượng Như Lai, vì tu tập hạnh thanh tịnh không phóng dật, vì tâm đại bi vô ngại sanh ra thiện căn, vì hiển bày Phật lực rộng khắp, vì dứt nghi của tất cả chúng sanh, vì khiến đều được thấy Như Lai, vì khiến vô lượng chúng sanh trụ nơi thiện căn, vì hiển bày thần lực tự tại của Như Lai, vì muốn khiến chúng sanh được vào khắp nơi biển rốt ráo, vì khiến tất cả Bồ Tát đại chúng trong các Phật độ đều đến họp, vì muốn khai thị Phật pháp bất tư nghì. Lúc đó, đức Như Lai vì lòng đại vi rộng khắp hiển bày tất cả sự trang nghiêm của nhất thiết trí, muốn cho những chúng sanh trong bất khả thuyết vô số thế giới, kẻ chưa tin thời được tin, đã tin thời thêm lớn, đã thêm lớn thời được thanh tịnh, đã thanh tịnh thời được thuần thục, đã thuần thục thời khiến điều phục, quán sát pháp thậm thâm, đủ vô lượng trí huệ, phát sanh vô lượng tâm quảng đại, tâm từ bi không thối chuyển, chẳng trái pháp tánh, chẳng sợ thiệt tế, chứng lý chân thiệt, đủ tất cả ba la mật, thật hành thiện căn xuất thế đều thanh tịnh như Phổ Hiền, được Phật tự tại rời lìa cảnh giới ma vào cảnh giới Phật, rõ biết thâm pháp, được trí bất tư nghì, trọn không thối chuyển thệ nguyện đại thừa, thường thấy chư Phật chưa từng bỏ rời, thành tựu chứng trí chứng vô lượng pháp, đủ vô biên tạng phước đức, phát tâm hoan hỷ vào bậc vô nghi, thanh tịnh lìa ác, nương nhất thiết trí thấy pháp bất động, được vào Bồ Tát hội, thường sanh nhà Như Lai. Đức Thế Tôn hiện sự trang nghiêm như vậy đều do những thiện căn nhóm họp từ thời quá khứ làm thành, vì muốn điều phục chúng sanh, vì khai thị oai đức lớn của Như Lai, vì chiếu sang tạng trí huệ vô ngại, vì thị hiện vô biên thắng đức rất hùng mãnh của Như Lai, vì hiển thị bất tư nghì thần biết lớn của Như Lai, vì dùng thần lực hiện Phật thân trong tất cả loài, vì thị hiện thần thông biến hóa vô biên của Như Lai, vì bổn nguyện đều thành tựu viên mãn, vì hiển thị trí huệ dũng mãnh có thể đến khắp nơi của Như Lai, vì tự tại với tất cả pháp mà thành pháp vương, vì xuất sanh tất cả môn trí huệ, vì thị hiện thân Như Lai thanh tịnh, vì hiện thân Phật rất vi diệu, vì hiển thị chứng được pháp bình đẳng của tam thế Phật, vì khai thị tạng thiện căn thanh tịnh, vì hiển bày sắc thân vi diệu tuyệt thế gian, vì hiển bày tướng đầy đủ thập lực khiến người thấy không nhàm, là mặt nhật của thế gian vì chiếu suốt ba đời. Đấng Pháp Vương tự tại tất cả công đức đều từ thiện căn thuở trước hiện ra. Dầu tất cả Bồ Tát ca ngợi tuyên duyên trải qua tất cả kiếp cũng chẳng cùng tận được. Lúc bấy giờ, Đâu Suất Thiên Vương cùng trăm ngàn ức na do tha vô số Đâu Suất Thiên Tử chấp tay hướng Phật bạch rằng: "Lành thay đấng Thế Tôn, đấng Thiện Thệ, đấng Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác! Xin đấng đại từ thương xót chúng tôi mà ngự nơi cung điện này." Đức Thế Tôn vì muốn cho tất cả chúng sanh được hoan hỷ, tất cả Bồ Tát được tỏ ngộ thâm pháp, tất cả Đâu Suất Thiên Tử thêm lớn chí nguyện, Thiên Vương cúng dường không nhàm, chúng sanh vì nhớ đến Phật mà phát tâm, mà chủng thiện căn phước đức thấy Phật, thường phát khởi lòng tin thanh tịnh, thấy Phật cúng dường không lòng mong cầu, tất cả chí nguyện đều thanh tịnh, siêng tu tập thiện căn không lười nghỉ, phát đại nguyện cầu nhất thiết trí, nên thọ lời thỉnh của Thiên Vương mà vào ngự trong điện Bửu Trang Nghiêm. Tất cả thế giới ở mười phương cũng đều như vậy cả. Liền lúc đức Như Lai ngự trên bửu tòa, điện Bửu Trang Nghiêm tự nhiên trang nghiêm vượt hẳn trên sự trang nghiêm của chư thiên. Vô số bửu võng giăng khắp bốn phía, khắp nơi rưới mây báu vi diệu vô lượng mây đồ trang nghiêm, mây bửu y, mây hương chiên đàn, mây hương kiên cố, mây lọng báu, mây hoa báu. Khắp nơi vang bất tư nghì tiếng kỹ nhạc ca ngợi nhất thiết chủng trí của Như Lai. Tiếng nhạc này đều tương ưng với diệu pháp. Do thần lực của đức Phật khiến tâm của Đâu Suất Thiên Vương không động loạn, thiện căn thuở trước đều được viên mãn, vô lượng thiện pháp càng thêm kiên cố, tăng trưởng lòng tin thanh tundefinednh, khởi đại tinh tấn, sanh đại hoan hỷ, chí nguyện thanh tịnh phát bồ đề tâm, niệm pháp không dứt, tổng trì chẳng quên. Đâu Suất Thiên Vương thừa oai lực của đức Phật, liền tự nhớ căn lành đã gieo trồng nơi chư Phật quá khứ, nên nói kệ rằng: Xưa có Phật hiệu Vô Ngại Nguyệt Trong những cát tường là bậc nhất Phật từng vào điện Trang Nghiêm này Thế nên chốn này rất cát tường. Xưa có Như Lai hiệu Quảng Trí Trong những cát tường là bậc nhất Phật từng vào điện Kim Sắc này Thế nên chốn này rất cát tường. Xưa có Như Lai hiệu Phổ Nhãn Trong những cát tường là bậc nhất Phật từn vào điện Liên Hoa này Thế nên chốn này rất cát tường. Xưa có Như Lai hiệu San Hô Trong những cát tường là bậc nhất Phật từng vào điện Bửu Tạng này Thế nên chốn này rất cát tường. Xưa có Phật hiệu Luận Sư Tử Trong những cát tường là bậc nhất Phật từng vào điện Sơn Vương này Thế nên chốn này rất cát tường. Xưa có Như Lai hiệu Nhật Chiếu Trong những cát tường là bậc nhất Phật từng vào điện Chúng Hoa này Vì thế chốn này rất cát tường. Xưa có Phật hiệu Vô Biên Quang Trong những cát tường là bậc nhất Phật từng vào điện Thọ Nghiêm này Thế nên chốn này rất cát tường. Xưa có Như Lai hiệu Pháp Tràng Trong những cát tường là bậc nhất Phật từng vào điện Bửu Cung này Thế nên chốn này rất cát tường. Xưa có Như Lai hiệu Trí Đăng Trong những cát tường là bậc nhất Phật từng vào điện Hương Sơn này Thế nên chốn này rất cát tường. Xưa có Phật hiệu Công Đức Quang Trong những cát tường là bậc nhất Phật từng vào điện Ma Ni nầy Thế nên chốn này rất cát tường. Trong tất cả thế giới ở mười phương các Đâu Suất Thiên Vương cũng đều thừa thần lực của Phật mà nói kệ tán thán chư Phật quá khứ như vậy. Lúc đó, đức Thế Tôn ngồi kiết già trên tòa sư tử ma ni bửu tạng, trong điện Bửu Trang Nghiêm, pháp thân thanh tịnh diệu dụng tự tại, đồng một cảnh giới cùng tam thế chư Phật, trụ nhất thiết trí đồng vào một tánh với tất cả Phật, phật nhãn sáng rõ thấy tất cả pháp đều vô ngại, có oai lực lớn đi khắp pháp giới chưa từng thôi nghỉ, đủ đại thần thông tuỳ chỗ có chúng sanh có thể hóa độ thời đều qua đến, dùng tất cả sự trang nghiêm vô ngại của tất cả chư Phật để tự trang nghiêm, khéo biết thời cơ mà vì chúng sanh thuyết pháp. Bất khả thuyết chúng Bồ Tát đều từ những quốc độ phương khác cùng đến nhóm họp. Chúng hội thanh tịnh, pháp thân không hai, không sở y mà có thể tự tại khởi thân hạnh của Phật. Khi chúng hội an tọa xong, trong điện Bửu Trang Nghiêm tự nhiên có vô lượng vô số đồ đẹp lạ hơn những đồ cúng dường của chư thiên, những là tràng hoa, y phục hương thoa, hương bột, lọng báu, tràng phan, kỹ nhạc, ca tán, tất cả đều chẳng thể đếm kể được, dùng tâm quảng đại cung kính cúng dường đức Phật. Tất cả Đâu Suất thiên cung ở mười phương đều như thế cả.
< Sửa đổi bởi: canary -- 17.11.2009 8:09:43 >
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 11.11.2009 13:16:09
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 3 Phẩm Đâu Suất kệ tán Thứ hai mươi bốn Hán bộ quyển thứ hai mươi hai Lúc đó, do thần lực của đức Phật, mười phương ngoài vạn phật sát vi trần số thế giới, mỗi phương đều có một đại Bồ Tát cùng vạn phật sát vi trần số Bồ Tát câu hội. Kim Cang Tràng Bồ Tát từ Diệu Bửu thế giới của đức Phật Vô Tận Tràng; Kiên Cố Tràng Bồ Tát từ Diệu Lạc thế giới của đức Phật Phong Tràng; Dũng Mãnh Tràng Bồ Tát từ Diệu Ngân thế giới của đức Phật Giải Thoát Tràng; Quang Minh Tràng Bồ Tát từ Diệu Kim thế giới của đức Phật Oai Nghi Tràng; Trí Tràng Bồ Tát từ Diệu Ma Ni thế giới của đức Phật Minh Tường Tràng; Bửu Tràng Bồ Tát từ Diệu Kim Cang thế giới của đức Phật Thường Tràng; Tinh Tấn Tràng Bồ Tát từ Diệu Ba Đầu Ma thế giới của đức Phật Tối Thắng Tràng; Ly Cấu Tràng Bồ Tát từ Diệu Ưu Bát La thế giới của đức Phật Tự Tại Tràng; Tinh Tú Tràng Bồ Tát từ Diệu Chiên Đàn thế giới của đức Phật Phạm Tràng; Pháp Tràng Bồ Tát từ Diệu Hương thế giới của đức Phật Quan Sát Tràng. Chúng Bồ Tát khi đến trước đức Phật và đảnh lễ Phật xong, tuỳ theo phương của mình đến, đều hóa hiện tòa sư tử diệu bửu tạng rồi ngồi kiết già trên đó. Thân của chư Bồ Tát đều phóng trăm ngàn ức na do tha vô số quang minh thanh tịnh cùng đại nguyện rời lìa những lỗi ác mà phát khởi, hiển thị pháp tự tại thanh tịnh của tất cả Phật. Bởi chư Bồ tát có nguyện lực có thể cứu hộ khắp tất cả chúng sanh, tất cả thế gian đều thích thấy. Ai thấy Bồ Tát đều được lợi ích được điều phục. Chúng Bồ Tát này đều đã thành tựu vô lượng vô đức. Những là đi khắp tất cả cõi Phật không chướng ngại, thấy pháp thân thanh tịnh không nương đỗ, dùng trí huệ thân thiện vô lượng thân, đến khắp mười phương phụng thờ chư Phật, vào nơi vô lượng vô biên bất tư nghì pháp tự tại của chư Phật, trụ nơi vô lượng môn nhất thiết trí, dùng trí quang minh khéo rõ các pháp, ở trong các pháp được vô úy biện tài thuyết pháp vô tận, dùng đại trí huệ khai môn tổng trì, huệ nhãn thanh tịnh thâm nhập pháp giới cảnh giới trí huệ không ngằn mé, rốt ráo thanh tịnh như hư không. Tất cả Đâu Suất thiên cung trong thập phương thế giới đều có chư Bồ Tát đồng sống lượng, đồng danh hiệu, thế giới và chư Phật cũng đồng như nơi đây cả. Bấy giờ đức Thế Tôn từ hai gối phóng trăm ngàn ức na do tha quang minh, chiếu khắp tất cả thế giới tận pháp giới hư không giới. Chúng Bồ Tát ở các cõi kia đều thấy thần biến của đức Phật ở đây. Chúng Bồ Tát ở cõi đây đều thấy biến của tất cả chư Phật kia. Tất cả chúng Bồ Tát như vậy, cùng với đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, từ thuở xưa, đồng trồng căn lành tu Bồ Tát hạnh, đều đã ngộ nhập thậm thâm giải thoát tự tại của chư Phật, được pháp giới thân bình đẳng, vào tất cả thế giới mà vô trụ, thấy vô lượng Phật đều qua kính thờ, trong một niệm đi khắp pháp giới tự tại vô ngại, tâm ý thanh tịnh như bửu châu vô giá, vô lượng vô số chư Phật thường hộ niệm và đồng ban cho thần lực, đến nơi bờ rốt ráo đệ nhất kia luôn dùng tịnh niệm trụ vô thượng giác, niệm niệm luôn vào chỗ nhất thiết trí, đem nhỏ vào lớn, đem lớn vào nhỏ đều tự tại, thông đạt vô ngại đã được Phật thân, cùng Phật đồng an trụ, được nhất thiết trí, từ nhất thiết trí mà sanh ra thân, đều có thể theo vào chỗ sở hành của tất cả Như Lai mà khai xiển vô lượng pháp môn trí huệ, đến bờ kim cang tràng đại trí kia, được kim cang định dứt các điều nghi hoặc, đã được tự tại thần thông của chư Phật, vào khắp tất cả quốc độ mười phương, giáo hóa điều phục trăm ngàn muôn ức vô số chúng sanh, dầu không tham trước nơi tất cả số lượng mà có thể tu học thành tựu cứu cánh, phương tiện an lập các pháp. Trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết vô lượng tạng công đức thanh tịnh vô tận như vậy, chúng Bồ Tát này đều được thành tựu. Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Như Lai chẳng xuất thế Cũng chẳng nhập niết bàn Dùng sức bổn nguyện lớn Thị hiện pháp tự tại. Pháp này khó nghĩ bàn Tâm không duyên đến được Trí huệ đến bờ kia Mới thấy cảnh giới Phật. Sắc thân chẳng phải Phật Âm thanh cũng chẳng phải Nhưng chẳng lìa sắc, thanh Thấy thần lực của Phật. Trí kém chẳng biết được Cảnh giới thiệt của Phật Tu hạnh thanh tịnh lâu Mới thấy được cảnh Phật. Chánh giác không chỗ lại Đi cũng chẳng từ đâu Sắc thân diệu thanh tịnh Do thần lực hiển hiện. Trong vô lượng thế giới Thị hiện thân Như Lai Nói rộng pháp vi diệu Trong tâm không trụ trước. Trí huệ không ngằn mé Rõ thấu tất cả pháp Vào khắp các pháp giới Thị hiện sức tự tại. Chúng sanh và các pháp Rõ thấu đều vô ngại Khắp hiện các sắc tượng Cùng khắp tất cả cõi. Muốn cầu nhất thiết trí Chóng thành vô thượng giác Phải dùng tâm tịnh diệu Tu tập hạnh bồ dề. Nếu ai thấy Như Lai Oai thần lực như vậy Nơi đức Tối Thắng Tôn Nên cúng dường chớ nghi. Kiên Cố Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Phật tối thắng vô tỷ Rất sâu bất khả thuyết Vượt khỏi đường ngôn ngữ Thanh tịnh như hư không. Quán sát đấng Đạo Sư Sức tự tại thần thông Đã lìa nơi phân biệt Mà khiến phân biệt thấy. Đức Phật vì khai diễn Pháp vi diệu thậm thâm Vì do nhân duyên ấy Hiện thân vô tỷ này. Đây là chỗ chư Phật Đại trí huệ sở hành Nếu ai muốn biết rõ Phải nên gần gũi Phật. Ý nghiệp thường thanh tịnh Cúng dường chư Như Lai Trọn không lòng mỏi nhàm Hay vào nơi Phật đạo. Đủ vô tận công đức Trụ chắc tâm bồ đề Do đây trừ lưới nghi Quán Phật không nhàm mỏi. Thông đạt tất cả pháp Mới phải chân Phật tử Người này rõ biết được Sức tự tại chư Phật. Trí quảng đại đã nói Làm căn bổn các pháp Nên sanh lòng hy vọng Chí cầu vô thượng giác. Nếu ai tôn kính Phật Nhớ báo đáp ơn Phật Người đó chẳng xa lìa Chỗ an trụ của Phật. Đâu có người trí huệ Nơi Phật thường thấy nghe Chẳng tu nguyện thanh tịnh Nơi đường Phật đã đi. Dũng Mãnh Tràng Bồ Tát thừa thần lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Ví như mắt tỏ sáng Ban ngày thấy hình sắc Tâm thanh tịnh cũng vậy Nhờ Phật lực thấy Phật. Như dùng sức tinh tấn Hay tột nguồn đáy biển Trí lực cũng như vậy Thấy được vô lượng Phật. Ví như ruộng phfi nhiêu Gieo trồng tất tươi tốt Tâm thanh tịnh như vậy Xuất sanh các Phật pháp. Như người được bửu tạng Lìa hẳn khổ nghèo cùng Bồ Tát được Phật pháp Tâm ly cấu thanh tịnh. Ví như thuốc già đà Tiêu được tất cả độc Phật pháp dùng như vậy Diệt các hoạn phiền não. Chơn thiệt thiện tri thức Hạng Như Lai ngợi khen Vì do oai thần kia Được nghe những Phật pháp. Giả sử vô số kiếp Của báu cúng dường Phật Chẳng biết Phật thiệt tướng Cũng chẳng gọi cúng dường. Vô lượng những hình sắc Trang nghiêm nơi thân Phật Chẳng phải trong hình sắc Mà thấy được đức Phật. Như Lai đẳng chánh giác Tịch nhiên hằng bất động Có thể khắp hiện thân Đầy khắp mười phương cõi. Ví như hư không giới Bất sanh cũng bất diệt Phật pháp cũng như vậy Rốt ráo không sanh diệt. Quang Minh Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Nhân gian và thiên thượng Tất cả các thế giới Khắp thấy đức Như Lai Sắc thân diệu thanh tịnh. Ví như một tâm niệm Hay sanh các thứ tâm Như vậy một Phật thân Khắp hiện tất cả Phật. Bồ đề không hai pháp Cũng không có các tướng Mà ở trong hai pháp Hiện thân tướng trang nghiêm. Rõ pháp tánh không tịch Sanh khởi như huyễn hóa Sở hành luôn vô tận Đạo Sư hiện như vậy. Tam thế tất cả Phật Pháp thân đều thanh tịnh Tùy kia chỗ đáng độ Khắp hiện diệu sắc thân. Như Lai chẳng nghĩ rằng Ta hiện thân như vậy Tự nhiên mà thị hiện Chưa từng có phân biệt. Pháp giới không sai biệt Cũng không chỗ tựa nương Mà ở trong thế gian Thị hiện vô lượng thân. Phật thân chẳng phải hóa Cũng chẳng phải chẳng hóa Nơi trong pháp không hóa Thị hiện thân biến hóa Chánh giác chẳng lường được Đồng pháp giới hư không Sâu rộng không bờ đáy Đường ngôn ngữ tuyệt hẳn. Như Lai khéo thông đạt Tất cả xứ hành đạo Pháp giới các quốc độ Qua đến đều vô ngại. Trí Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Nếu người tin thọ được Nhất thiết trí vô ngại Tu tập hạnh bồ đề Tâm đó chẳng thể lường. Trong tất cả quốc độ Khắp hiện vô lượng thân Mà thân không chỗ ở Cũng chẳng trụ nơi pháp. Mỗi mỗi chư Như Lai Thần lực thị hiện thân Bất tư nghì kiếp số Tính đếm chẳng hết được. Tam thế các chúng sanh Trọn biết được số lượng Việc thị hiện của Phật Số lượng chẳng thể được. Có lúc hiện một hai Nhẫn đến vô lượng thân Hiện khắp mười phương cõi Thiệt ra không hai thứ. Ví như trăng tròn sáng Hiện khắp các dòng nước Bóng hình dầu vô lượng Mặt trăng vẫn không hai. Trí vô ngại như vậy Thành tựu bậc chánh giác Hiện khắp tất cả cõi Phật thể cũng không hai. Chẳng một cũng chẳng hai Cũng chẳng phải vô lượng Tùy chỗ đáng hóa độ Thị hiện vô lượng thân. Phật thân chẳng quá khứ Cũng chẳng phải vị lai Một niệm hiện xuất sanh Thành đạo và niết bàn. Hiện hình sắc như huyễn Không sanh cũng không khởi Phật thân cũng như vậy Thị hiện không có sanh. Bửu Tràng Bồ Tát thừa thần lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Phật thân vốn vô lượng Thị hiện thân hữu lượng Tùy chúng chỗ nhìn thấy Đạo Sư hiện như vậy. Phật thân không nơi chỗ Đầy khắp tất cả chỗ Như hư không vô biên Khó nghĩ bàn như vậy. Chẳng phải chỗ tâm duyên Tâm chẳng khởi trong đó Trong cảnh giới chư Phật Rốt ráo không sanh diệt. Như mắt lòa xem thấy Chẳng trong cũng chẳng ngoài Thế gian thấy chư Phật Phải biết cũng như vậy. Vì lợi ích chúng sanh Nên Phật hiện ra đời Chúng sanh thấy có hiện Thiệt thì không có hiện. Chẳng thể dùng quốc độ Ngày đêm mà thấy Phật Năm tháng một sát na Phải biết đều như vậy. Chúng sanh nói như vậy Ngày đó Phật thành đạo Như Lai được bồ đề Thiệt chẳng thuộc thời gian. Như Lai lìa phân biệt Rời thời gian, không gian Tam thế chư Như Lai Xuất hiện đều như vậy. Ví như mặt trời sáng Chẳng hiệp cùng đêm tối Mà nói ngày đêm ấy Phật pháp đều như vậy. Tam thế tất cả kiếp Chẳng cùng Như Lai hiệp Mà nói tam thế Phật Phật pháp đều như vậy. Tinh Tấn Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Tất cả các Đạo Sư Thân đồng nghĩa cũng đồng Khắp cả mười phương cõi Tùy nghi mà thị hiện. Quan sát đấng Mâu Ni Chỗ làm rất kỳ đặc Đầy khắp cả pháp giới Tất cả đều không thừa. Phật thân chẳng ở trong Cũng chẳng ở nơi ngoài Thần lực nên hiển hiện Đạo Sư pháp như vậy. Theo các loài chúng sanh Nghiệp đã họp đời trước Những loại thân như vậy Thị hiện đều chẳng đồng. Thân chư Phật như vậy Vô lượng chẳng đếm được Chỉ trừ đấng Đại Giác Không ai nghĩ bàn được. Như ngã nan tư kia Tâm nghiệp chẳng đến được Phật nan tư cũng vậy Chẳng phải tâm nghiệp hiện. Như quốc độ nan tư Mà thấy tịnh trang nghiêm Phật nan tư cũng vậy Diệt tướng đều hiện đủ. Ví như tất cả pháp Do các duyên sanh khởi Thấy Phật cũng như vậy Tất nhờ ác thiện nghiệp. Ví như châu như ý Hay thỏa mãn lòng chúng Chư Phật pháp như vậy Thỏa mãn tất cả nguyện. Trong vô lượng quốc độ Đạo Sư hiện ra đời Vì tuỳ theo nguyện lực Ứng hiện khắp mười phương. Ly Cấu Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Như Lai không sở trụ Mà trụ tất cả cõi Tất cả cõi đều qua Tất cả nơi đều thấy. Phật tuỳ tâm chúng sanh Hiện khắp tất cả thân Thành đao chuyển pháp luân Và cùng nhập niết bàn. Chư Phật bất tư nghì Ai tư nghì được Phật. Ai thấy đươc Chánh Giác Ai hiện được tối thắng Tất cả pháp đều "Như" Cảnh giới Phật cũng vậy. Nhẫn đến không một pháp Trong Như có sanh diệt. Chúng sanh vọng phân biệt Là Phật là thế giới Người liễu đạt pháp tánh Không Phật không thế giới. Như Lai khắp hiện tiền Khiến chúng sanh tin mừng Phật thể bất khả đắc Cũng lại không sở kiến. Nếu được nơi thế gian Trọn xa lìa chấp trước Vô ngại lòng hoan hỷ Nơi pháp được khai ngộ. Thần lực tự tại hiện Chính đây gọi là Phật Trong tất cả thế giới Tìm cầu trọn không có. Nếu biết được như vậy Tâm ý và các pháp Thấy biết trọn tất cả Chóng được thành Như Lai. Trong ngôn ngữ hiển thị Tất cả Phật tự tại Chánh giác siêu ngôn ngữ Giả mượn ngôn ngữ nói. Pháp Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Thà nên luôn thọ đủ Tất cả khổ thế gian Trọn chẳng xa Như Lai Chẳng rời đấng Tự Tại. Nếu có những chúng sanh Chưa phát tâm bồ đề Được nghe danh hiệu Phật Quyết định thành chánh giác. Nếu có bậc trí huệ Một niệm phát đạo tam Quyết thành đấng vô thượng Cẩn thận chớ sanh nghi. Như Lai đấng tự tại Vô lượng kiếp khó gặp Nếu sanh một niệm tin Mau chứng đạo vô thượng. Giả sử trong mỗi niệm Cúng dường vô lượng Phật Chưa biết pháp chân thật Chẳng gọi là cúng dường. Nếu nghe pháp như vậy Chư Phật từ đây sanh Dầu bị vô lượng khổ Chẳng bỏ hạnh bồ đề. Một lần nghe đại trí Pháp sở nhập của Phật Khắp ở trong pháp giới Thành tam thế đạo sư, Dầu tận vị lai thế Đi khắp các cõi Phật Chẳng cầu diệu pháp này Trọn chẳng thành bồ đề. Chúng sanh vô thủy lại Mãi lưu chuyển sanh tử Chẳng rõ pháp chân thật Nên chư Phật ra đời. Các pháp chẳng thể hoại Cũng không ai hoại được Tự tại đại quang minh Hiện khắp nơi thế gian.
_____________________________
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu, Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu, Em cũng hiểu, cho nên cười nụ, Chút mưu toan, khơi một bể sầu. canary
|
|
|
|
RE: Kinh Hoa Nghiêm - 12.11.2009 14:40:39
|
|
|
canary
Bài viết đã đăng: 494
Gia nhập ngày: 12.10.2003
Đến từ: Thành Phố Thiên Thần
Hiện trạng: online
|
Kinh Hoa Nghiêm Tập 3 Phẩm Đâu Suất kệ tán Thứ hai mươi lăm (phần trên) Hán bộ từ phần dưới của quyển thứ 23 đến hết quyển thứ 30) Hán bộ quyển thứ 23 Lúc bấy giờ, Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của Phật nhập Bồ Tát trí quang tam muội. Nhập tam muội này rồi, mười phương đều quá mười vạn phật sát vi trần số thế giới, có mười vạn phật sát vi trần số Phật đồng một hiệu Kim Cang Tràng hiện ra trước Bồ Tát mà đồng khen rằng: "Lành thay! Ông có thể nhập Bồ Tát trí quang tam muội này! Thiện nam tử! Đây là mười phương đều mười vạn phật sát vi trần số chư Phật dùng thần lực cùng gia hộ ông. Mà cũng là oai lực bổn nguyện của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Và vì ông được trí huệ thanh tịnh, cùng chư Bồ Tát thiện căn tăng thắng, khiến ông nhập tam muội này để thuyết pháp, vì khiến chư Bồ Tát được thanh tịnh vô úy, vì để đủ vô ngại biện tài, vì nhập trí địa vô ngại, vì trụ đại tâm nhất thiết trí, vì thành tựu vô tận thiện căn, vì đầy đủ pháp lành vô ngại, vì nhập phổ môn pháp giới, vì hiện thần lực tất cả Phật, vì niệm trí về thời quá khứ chẳng dứt, vì được tất cả Phật hộ trì các căn, vì dùng vô lượng môn nói rộng các pháp, vì nghe rồi trọn hiểu rõ thọ trì chẳng quên, vì nhiếp tất cả căn lành của chư Bồ Tát, vì trọn nên những pháp trợ đạo xuất thế, vì chẳng dứt nhất thiết chủng trí, vì khai phát đại nguyện, vì giải thích thiệt nghĩa, vì rõ biết pháp giới, vì khiến chư Bồ Tát đều trọn hoan hỷ, vì tu tất cả Phật bình đẳng thiện căn, vì hộ trì chủng tánh Phật. Sẽ diễn thuyết pháp gì? Chính là diễn nói thập hồi hướng của chư Bồ Tát vậy. Thiện nam tử! Ông nên thừa thần lực của Phật mà diễn pháp ấy, vì để được Phật hộ niệm, vì an trụ nhà Phật, vì thêm lớn công đức xuất thế, vì được đà la ni quang minh, vì nhập Phật pháp vô ngại, vì đại quang chiếu khắp pháp giới, vì học pháp thanh tịnh không lỗi, vì trụ cảnh giới trí quảng đại, vì được pháp quang vô ngại." Chư Phật liền ban cho Kim Cang Tràng Bồ Tát vô lượng trí huệ cùng vô ngại biện, ban cho thiện phương tiện phân biệt cú nghĩa, ban cho pháp quang minh vô ngại, ban cho thân Như Lai bình đẳng, ban cho vô lượng âm thanh thanh tịnh sai biệt, ban cho Bồ Tát bất tư nghì thiện quán sát tam muội, ban cho thiện căn hồi hướng trí kiên cố, ban cho quan sát nhất thiết pháp thành tựu xảo phương tiện, ban cho biện tài ở tất cả chỗ, thuyết tất cả pháp vô đoạn. Tại sao vậy? Vì do sức căn lành nhập tam muội này thì được như vậy. Chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh Kim Cang Tràng Bò Tát. Được chư Phật xoa đảnh xong, Kim Cang Tràng Bồ Tát xuất định nói với chúng Bồ Tát rằng: "Thưa chư Phật tử! Đại Bồ Tát có đại nguyện bất tư nghì đầy khắp pháp giới cứu hộ được tất cả chúng sanh. Chính là tu học tam thế chư Phật hồi hướng. Thưa chư Phật tử! Đại Bồ Tát hồi hướng có mấy thứ? Đại Bồ Tát hồi hướng có mười thứ sau đây, tam thế chư Phật đồng diễn thuyết: Một là cứu hộ tất cả chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng. Hai là bất hoại hồi hướng. Ba là đẳng nhất thiết chư Phật hồi hướng. Bốn là chí nhất thiết xứ hồi hướng. Năm là vô tận công đức tạng hồi hướng. Sáu là nhậpt nhất thiết bình đẳng thiện căn hồi hướng. Bảy là đẳng tuỳ thuận nhất thiết chúng sanh hồi hướng. Tám là chơn như tướng hồi hướng. Chín là vô phược, vô trước giải thoát hồi hướng. Mười là nhập pháp giới vô lượng hồi hướng. Thưa chư Phật tử! Thế nào là đại Bồ Tát cứu hộ nhất thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng? Đại Bồ Tát này thật hành đàn ba la mật, thanh tịnh thí ba la mật, tu nhẫn nhục ba la mật, khởi tinh tấn ba la mật, nhập thiền ba la mật, trụ bát nhã ba la mật, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, tu vô lượng thiện căn như vậy. Lúc tu thiện căn tự nghĩ rằng: Nguyện những thiện căn này có thể khắp lợi ích tất cả chúng sanh đều làm cho thanh tịnh đến nơi rốt ráo, lìa hẳn vô lượng khổ não địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Diêm La Vương, v.v... Đại Bồ Tát lúc trồng thiện căn, đem thiện căn của mình hồi hướng như vầy: Tôi sẽ làm nhà cho tất cả chúng sanh để họ khỏi tất cả sự khổ; tôi sẽ làm chỗ cứu hộ của tất cả chúng sanh khiến họ đều được giải thoát phiền não; tôi sẽ làm chỗ quy y của tất cả chúng sanh khiến họ đều được lìa sự bố úy; tôi sẽ làm chỗ xu hướng của tất cả chúng sanh khiến họ được đến nơi nhất thiết trí; tôi sẽ làm chỗ an ổn cho tất cả chúng sanh khiến họ được chỗ an ổn rốt ráo; tôi sẽ làm ánh sáng cho tất cả chúng sanh khiến họ được trí quang diệt si ám; tôi sẽ làm ngọn đuốc cho tất cả chúng sanh để phá tất cả tối vô minh cho họ; tôi sẽ làm đèn cho tất cả chúng sanh khiến họ an trụ nơi rốt ráo thanh tịnh; tôi sẽ là đạo sư cho tất cả chúng sanh dẫn dắt họ vào pháp chơn thiệt; tôi sẽ làm đại đạo sư của tất cả chúng sanh ban cho họ trí huệ lớn vô ngại. Đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng như vậy, bình đẳng lợi ích tất cả chúng sanh, rốt ráo đều khiến được nhất thiết trí. Đại Bồ Tát lợi ích hướng cho hàng chẳng phải thân hữu đồng như đối với hàng thân hữu của mình. Vì đại Bồ Tát đã nhập tánh bình đẳng của tất cả pháp, với các chúng sanh không có một quan niệm là chẳng phải thân hữu. Giả sử có chúng sanh nào đem lòng oán hại Bồ Tát, Bồ Tát này cũng vẫn thương mến họ trọn không hờn giận. Bồ Tát này làm thiện tri thức cho khắp tất cả chúng sanh, đem chánh pháp diễn thuyết khiến họ tu tập. Ví như biển cả, tất cả chất độc, không làm biến hoại được. Bồ Tát này cũng vậy. Tất cả kẻ ngu mông vô trí, vô ân, sân độc, kiêu mạn, mê tối không biết pháp lành, những kẻ ác này đủ cách làm bức hại vẫn không làm động loạn tâm Bồ Tát này được. Ví như mặt nhật hiện ra thế gian, chẳng do vì kẻ sanh manh kia mà lại ẩn đi không sáng. Lại cũng chẳng vì sương mù, tay a tu la, cây diêm phù đề, gò cao, hang sâu, bụi khói mây mù che hướng mà ẩn đi không sáng. Lại cũng chẳng vì thời tiết biến đổi mà ẩn đi không sáng. Đại Bồ Tát cũng như vậy. Có phước đức lớn, tâm sâu rộng chánh niệm quán sát không thối khuất. Vì muốn rốt ráo công đức trí huệ nên đối với pháp thắng thượng lập chí nguyện pháp quang chiếu khắp thấy tất cả nghĩa, nơi các pháp môn trí huệ tự tại, thường vì lợi ích chúng sanh mà tu pháp lành, chẳng bao giờ lầm sanh lòng tổn hại chúng sanh. Chẳng vì chúng sanh tệ ác tà kiến khó điều phục mà rời bỏ chẳng tu hồi hướng. Chỉ dùng giáp trụ đại nguyện để tự trang nghiêm, luôn cứu hộ chúng sanh không thối chuyển. Chẳng vì chúng sanh vô ân mà thối Bồ Tát hạnh, bỏ bồ đề đạo, chẳng vì ở chung với kẻ phàm ngu mà lìa bỏ tất cả thiện căn như thiệt, chẳng vì chúng sanh thường sanh lỗi ác khó nhẫn thọ được mà sanh lòng nhàm mỏi. Như mặt nhật kia chẳng vì có một sự nào che chướng mà lại ẩn đi không chiếu sáng. Đại Bồ Tát chẳng phải chỉ vì cứu hộ một chúng sanh mà tu các thiện căn hồi hướng vô thượng bồ đề, mà chính vì khắp cứu hộ tất cả chúng sanh vậy. Chẳng phải chỉ vì thanh tịnh một Phật độ, tin một đức Phật, thấy một đức Phật, rõ một pháp, nhưng chính vì thanh tịnh khắp tất cả Phật độ, tin khắp tất cả chư Phật, thấy khắp tất cả chư Phật, hiểu tất cả Phật pháp mà phát khởi đại nguyện tu các thiện căn hồi hướng vô thượng bồ đề. Đại Bồ Tát dùng các Phật pháp mà làm duyên khởi, phát tâm quảng đại, tâm bất thối, trong vô lượng kiếp tu tập tâm bửu hy hữu nan đắc, trọn đều bình đẳng với tất cả chư Phật. Đại Bồ Tát quán sát các thiện căn như vậy, tín tâm thanh tịnh, đại bi kiên cố, dùng thâm tâm, hoan hỷ tâm, thanh tịnh tâm, tối thắng tâm, nhu nhuyến tâm, từ bi tâm, lân mẫn tâm, nhiếp hộ tâm, lợi ích tâm, an lạc tâm, mà khắp vì chúng sanh hồi hướng chân thiệt, chẳng phải chỉ là lời suông. Đại Bồ Tát lúc đem các thiện căn hồi hướng tự nghĩ rằng: Do thiện căn của tôi đây, nguyện tất cả loài, tất cả chúng sanh đều được thanh tịnh, công đức viên mãn, chẳng bị trở ngại hư hoại, không cùng tận, thường được tôn trọng chánh niệm chẳng quên, được trí huệ quyết định, đủ vô lượng trí, thân, khẩu, ý ba nghiệp tất cả công đức viên mãn trang nghiêm. Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng: Do căn lành này khiến tất cả chúng sanh thừa sự cúng dường tất cả chư Phật không bỏ qua, khởi lòng tin chư Phật thanh tịnh không hư hoại, được nghe chánh pháp dứt các sự nghi hoặc, và ghi nhớ không quên, tu hành đúng pháp, cung kính chư Phật, thân nghiệp thanh tịnh an trụ vô lượng thiện căn rộng lớn, lìa hẳn sự nghèo cùng, đầy đủ bảy thánh tài, thường the chư Phật tu học, thành tựu vô lượng thiện căn thắng diệu, tỏ ngộ bình đẳng trụ nhất thiết trí, dùng vô ngại nhãn bình đẳng nhìn chúng sanh, các tướng hảo nghiêm thân không tỳ vết, lời nói tinh diệu, công đức viên mãn, các căn điều phục, thành tựu thập lực, tâm lành đầy đủ, không chỗ y trụ, khiến tất cả chúng sanh đều được sự vui của Phật, trụ nơi chỗ Phật an trụ. Đại Bồ Tát thấy các chúng sanh gây tạo ác nghiệp, chịu nhiều khổ, bị đây làm chướng mà không thấy được Phật, chẳng được nghe pháp, chẳng biết tăng, Bồ Tát bèn nghĩ rằng: Tôi sẽ ở trong các ác đạo kia, thay thế các chúng sanh chịu các sự khổ, khiến họ được giải thoát. Lúc Bồ Tát chịu khổ thế chúng sanh như vậy càng tinh tấn hơn, chẳng bỏ chẳng tránh, chẳng kinh chẳng sợ, không nhàm mỏi. Vì đúng như bổn nguyện: Quyết muốn đảm nhiệm chúng sanh khiến họ được giải thoát. Bồ Tát nghĩ rằng: Tất cả chúng sanh ở trong chỗ sanh, già, bệnh, chết, các khổ nạn, theo nghiệp mà lưu chuyển, tà kiến vô trí mất các pháp lành, tôi phải cứu họ, cho họ được xuất ly. Lại các chúng sanh bị lưới ái vấn, lọng si che, mà nhiễm trước cõi hữu lậu theo mãi không rời bỏ, vào trong lồng củi khổ não, thật hành nghiệp ma, phước trí đều hết thường ôm lòng nghi hoặc, chẳng thấy chỗ an ổn, chẳng biết đạo xuất ly, ở trong sanh tử luân hồi mãi, luôn bị ngập chìm trong khổ bùn lầy. Bồ Tát thấy chúng sanh như vậy nên khởi tâm đại bi, tâm lợi ích, muốn làm cho chúng sanh đều được giải thoát nên đem tất cả thiện căn hồi hướng, dùng tâm quảng đại hồi hướng, như chỗ tu hành của tam thế Bồ Tát hồi hướng, như lời dạy trong kinh đại hồi hướng mà hồi hướng. Nguyện các chúng sanh đều khắp được thanh tịnh, rốt ráo thành tựu nhất thiết chủng trí. Bồ Tát lại nghĩ rằng: Chỗ tu hành của tôi, muốn làm cho chúng sanh đều được thành bậc trí huệ vô thượng. Tôi chẳng vì tự thân mà cầu giải thoát, chỉ vì cứu tế tất cả chúng sanh, khiến họ đều được nhất thiết trí, qua khỏi vòng sanh tử thoát tất cả khổ. Bồ Tát lại nghĩ rằng: Tôi sẽ vì khắp tất cả chúng sanh chịu đủ sự khổ, khiến họ ra khỏi hố sanh tử khổ. Tôi vì khắp tất cả chúng sanh mà tận vị lai kiếp chịu tất cả khổ trong ác đạo nơi tất cả thế giới, nhưng vẫn luôn vì chúng sanh mà tu thiện căn. Tôi thà riêng mình chịu mọi sự khổ, đem thân chuộc tất cả ác đạo chúng sanh khiến họ được giải thoát, chớ chẳng để chúng sanh đoạ nơi địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, Diêm La Vương, và các ác đạo. Bồ Tát lại nghĩ rằng: Tôi nguyện bảo hộ tất cả chúng sanh trọn chẳng rời bỏ. Đây là lời nguyện thành thật không hư vọng. Tại sao vậy? Tôi vì cứu độ tất cả chúng sanh mà phát bồ đề tâm, chớ chẳng phải vì tự thân mà cầu đạo vô thượng. Cũng chẳng phải vì cầu hưởng phước lạc trong ba cõi mà tôi tu bồ đề hạnh. Tại sao vậy? Vì phước lạc thế gian không gì chẳng phải là khổ, là cảnh giới ma, chư Phật luôn quở trách, chỉ có kẻ ngu mới tham trước, tất cả khổ hoạn đều nhân đó mà có. Những ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chỗ Diêm La Vương, giận thù kiện cáo hủy nhục nhau, v.v... đều do tham trước ngũ dục mà gây nên. Kẻ tham ngũ dục thời xa lìa chư Phật, chướng ngại sanh lên cõi trời, huống là được vô thượng bồ đề. Bồ Tát quán sát thế gian như vậy, vì tham chút ít dục lạc mà bị vô lượng sự khổ, nên trọn chẳng vì cảnh ngũ dục mà cầu bồ đề, Bồ Tát hạnh, chỉ vì an lạc tất cả chúng sanh mà phát tâm tu tập thành tựu viên mãn đại nguyện, cắt đứt những dây khổ của chúng sanh khiến họ được giải thoát. Bồ Tát lại nghĩ rằng: Tôi phải đem căn lành hồi hướng như vậy khiến tất cả chúng sanh được vui rốt ráo, vui lợi ích, vui bất thọ, vui tịch tịnh, vui vô động, vui vô lượng, vui bất xả bất thối, vui bất diệt, vui nhất thiết trí. Bồ Tát lại nghĩ rằng: Tôi sẽ vì tất cả chúng sanh mà làm điều ngự sư, làm chủ tinh thần, cầm đuốc đại trí, chỉ đường an ổn khiến họ lìa hiểm nạn, dùng thiện phương tiện khiến họ biết thiệt nghĩa. Nơi biển sanh tử làm thuyền trưởng khéo giỏi đủ trí đưa các chúng sanh đến bờ kia. Thưa chư Phật tử! Đại Bồ Tát đem các thiện căn hồi hướng như vậy. Chính là tùy nghi cứu hộ tất cả chúng sanh khiến họ thoát sanh tử, thờ cúng tất cả chư Phật, được trí vô ngại, lìa các ma, xa bạn ác, gần bạn lành Bồ Tát, dứt trừ tội lỗi, thành tựu tịnh nghiệp, đầy đủ hạnh nguyện rộng lớn của Bồ Tát và vô lượng thiện căn. Đại Bồ Tát đem thiện căn chánh hồi hướng rồi, tự nghĩ rằng: Chẳng vì tứ châu thiên hạ đông chúng sanh mà có nhiều mặt nhật hiện, chỉ một mặt nhật mọc lên đủ soi sáng khắp tất cả chúng sanh. Lại các chúng sanh chẳng phải từ mình có ánh sáng để biết ngày đêm, đứng đi hành động, mà đều do mặt nhật mọc lên. Mặt nhật kia chỉ có một. Cũng thế, đại Bồ Tát lúc tu tập thiện căn hồi hướng, nghĩ rằng: Các chúng sanh kia chẳng thể tự cứu, đâu có thể cứu người khác. Riêng một mình tôi lập chí nguyện tu tập thiện căn hồi hướng như vậy. Những là: Vì muốn quảng độ tất cả chúng sanh, vì chiếu khắp tất cả chúng sanh, vì chỉ dẫn tất cả chúng sanh, vì khai ngộ tất cả chúng sanh, vì đoái lại tất cả chúng sanh, vì nhiếp thọ tất cả chúng sanh, vì thành tựu tất cả chúng sanh, vì khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ, vì khiến tất cả chúng sanh vui đẹp, vì khiến tất cả chúng sanh dứt nghi. Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng: Tôi phải như mặt nhật, chiếu khắp tất cả mà chẳng cầu báo ân; chúng sanh có kẻ ác hại tôi, tôi đều dung thọ trọn chẳng do đây mà bỏ thệ nguyện; chẳng vì một chúng sanh ác mà bỏ tất cả chúng sanh, tôi chỉ riêng tu tập thiện căn hồi hướng, khiến khắp chúng sanh đều được an lạc. Thiện căn dầu ít, nhưng vì nhiếp khắp chúng sanh tôi dùng tâm hoan hỷ hồi hướng quảng đại. Nếu có thiện căn mà chẳng muốn lợi ích tất cả chúng sanh thời chẳng gọi là hồi hướng. Tùy một thiện căn dùng khắp chúng sanh làm cảnh sở duyên mới gọi là hồi hướng. Hồi hướng đặt để chúng sanh nơi pháp tánh vô trước. Hồi hướng thấy chúng sanh bất động bất chuyển. Hồi hướng vô y vô thủ đối với sự hồi hướng. Hồi hướng chẳng chấp lấy tướng thiện căn. Hồi hướng chẳng phân biệt nghiệp báo thể tánh. Hồi hướng chẳng tham trước tướng ngũ uẩn. Hồi hướng chẳng phá hoại tướng ngũ uẩn. Hồi hướng chẳng chấp lấy nghiệp. Hồi hướng chẳng cầu báo. Hồi hướng chẳng nhiễm trước nhân duyên. Hồi hướng chẳng phân biệt nhân duyên khởi. Hồi hướng chẳng chấp xứ sở. Hồi hướng chẳng chấp pháp hư vọng. Hồi hướng chẳng khởi tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo. Hồi hướng chẳng chấp đường ngôn ngữ. Hồi hướng quán tánh chơn thật của tất cả pháp. Hồi hướng quán tán bình đẳng của tất cả chúng sanh. Hồi hướng dùng ấn pháp giới ấn các thiện căn. Hồi tướng quán các pháp lìa tham dục. Hiểu tất cả pháp không gieo trồng, thiện căn cũng như vậy. Quán các pháp không hai, không sanh, không diệt, hồi hướng cũng như vậy. Dùng những thiện căn hồi hướng như vậy mà tu hành pháp đối trị thanh tịnh. Bao nhiêu thiện căn thảy đều tùy thuận pháp xuất thế, chẳng làm hai tướng. Chẳng phải tức nghiệp tu tập nhất thiết trí. Chẳng phải lìa nghiệp hồi hướng nhất thiết trí. Nhất thiết trí chẳng phải tức nghiệp, nhưng cũng chẳng phải lìa nghiệp mà được nhất thiết trí. Bởi nghiệp thanh tịnh như bóng sáng. Báo như bóng sáng thanh tịnh bóng sáng, lìa ngã ngã sở tất cả động loạn tư duy phân biệt. Rõ biết như vậy, đem các thiện căn phương tiện hồi hướng. Lúc Bồ Tát hồi hướng như vậy, Bồ Tát luôn độ thoát chúng sanh không thôi, chẳng trụ pháp tướng. Dầu biết các pháp không nghiệp, không báo, mà khéo hay xuất sanh tất cả nghiệp báo không trái nghịch, Bồ Tát phương tiện khéo tu hồi hướng như vậy. Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy lìa tất cả lỗi, được chư Phật khen ngợi. Đây là đại Bồ Tát cứu hộ nhất thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng thứ nhất." Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Tu hành trong bất tư nghì kiếp Tinh tấn kiên cố tâm vô ngại Vì muốn lợi ích các quần sanh Thường cầu khắp công đức của Phật. Bậc thế gian không ai sánh bằng Tu sửa tâm ý rất sáng sạch Phát tâm cứu khắp các hàm thức Bậc này khéo vào tạng hồi hướng. Dũng mãnh tinh tấn sức đầy đủ Trí huệ thông đạt ý thanh tịnh Cứu khắp tất cả các quần sanh Lòng kia kham nhẫn chẳng khuynh động Tâm khéo an trụ không ai sánh Ý thường thanh tịnh rất vui thích Như vậy vì người siêng tu hành Ví như mặt đất khắp dung thọ. Chẳng vì tự thân cầu khoái lạc Chỉ muốn cứu hộ các chúng sanh Như vậy phát khởi tâm đại bi Chóng được vào nơi bậc vô ngại. Tất cả thế gian ở mười phương Bao nhiêu chúng sanh đều nhiếp thọ Vì cứu họ nên khéo trụ tâm Như vậy tu học các hồi hướng Tu hành bố thí rất vui thích Hộ trì tịnh giới không sai phạm Dũng mãnh tinh tấn tâm chẳng động Hồi hướng nhất thiết trí của Phật. Tâm đó rộng lớn không ngằn mé Nhẫn lực an trụ chẳng lay động Thiền định rất sâu luôn chiếu rõ Trí huệ vi diệu khó nghĩ bàn. Trong tất cả thế giới mười phương Tu tập đầy đủ hạnh thanh tịnh Công đức như vậy đều hồi hướng Vì muốn an lạc các chúng sanh Đại sĩ siêng tu những thiện nghiệp Vô lượng vô biên chẳng đếm được Đều đem lợi ích các chúng sanh Khiến trụ nơi trí huệ vô thượng Khắp vì tất cả các chúng sanh Mà ở địa ngục vô số kiếp Nhưng vẫn không có lòng nhàm mỏi Dũng mãnh quyết định thường hồi hướng. Chẳng cầu sắc, thinh, hương cùng vị Cũng chẳng mong cầu các diệu xúc Chỉ vì cứu độ các quần sanh Thường cầu trí tối thắng vô thượng. Trí huệ thanh tịnh như hư không Tu tập vô biên hạnh đại sĩ Như những công hạnh Phật đã làm Bậc này luôn tu học như vậy. Đại sĩ du hành các thế giới Đều hay an ổn các quần sanh Khiến khắp tất cả đều vui mừng Tu Bồ Tát hạnh không nhàm đủ. Dứt trừ tất cả những tâm độc Tư duy tu tập trí vô thượng Chẳng vì tự mình cầu an lạc Chỉ nguyện chúng sanh được lìa khổ. Bậc này hồi hướng được rốt ráo Tâm thường thanh tịnh lìa các độc Tam thế chư Phật phó chúc cho Trụ nơi thành đại pháp vô thượng Chưa từng nhiễm trước nơi các sắc Thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng nhiễm Tâm đó thoát hẳn nơi ba cõi Tát cả công đức đều hồi hướng. Những chúng sanh mà Phật thấy biết Đều trọn nhiếp thủ không thừa sót Thệ nguyện đều khiến được giải thoát Vì kia tu hành rất hoan hỷ, Lòng kia niệm niệm luôn an trụ Trí huệ rộng lớn không ai sánh Rời si, chánh niệm thường vắng lặng Tất cả các nghiệp đều thanh tịnh. Như Bồ Tát kia ở thế gian Chẳng nhiễm nội pháp như ngoại pháp Như gió trong hư không vô ngại. Đại sĩ dụng tâm cũng như vậy. Bao nhiêu thân nghiệp đều thanh tịnh. Tất cả ngôn ngữ không lỗi lầm Tâm thường quy hướng nơi Như Lai. Hay khiến chư Phật đều hoan hỷ Thập phương vô lượng các quốc độ Nơi tất cả Phật đều qua đến Trong đó xem thấy đấng đại bi Người đều cung kính mà thờ phụng. Lòng thường thanh tịnh lìa các lỗi Vào khắp thế gian không e sợ Đã trụ đạo vô thượng của Phật Làm ao pháp lớn cho ba cõi. Tinh tấn quán sát tất cả pháp Tùy thuận tư duy hữu phi hữu. Như vậy thẳng đến lý chân thật Được vào chỗ vô tránh rất sâu. Do đây tu thành đạo kiên cố Tất cả chúng sanh chẳng hoại được Khéo hay rõ thấu các pháp tánh Khắp trong tam thế không chấp trước. Như vậy hồi hướng đến bờ kia Khiến khắp quần sanh lìa cấu nhiễm Lìa hẳn tất cả những sở y Được vào chỗ vô y rốt ráo. Ngôn ngữ của tất cả chúng sanh Tùy theo chủng loại đều sai khác Bồ Tát trọn hay phân biệt nói Mà lòng vẫn vô trước vô ngại. Bồ Tát tu hồi hướng như vậy Công đức phương tiện bất khả thuyết Hay khiến trong thế giới mười phương Tất cả chư Phật đều khen ngợi. Hán bộ quyển thứ 24 "Thưa chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát bất hoại hồi hướng? Đại Bồ Tát này được đức tin bất hoại đối với tam thế chư Phật, vì hay trọn phụng thờ tất cả chư Phật vậy, lại được đức tin bất hoại đối với tất cả chư Bồ Tát, nhẫn đến đối với các Bồ Tát sơ phát tâm cầu vô thượng đạo, vì thệ tu tất cả Bồ Tát thiện căn không mỏi nhàm vậy; được đức tin hoại đối với tất cả Phật pháp, vì phát chí nguyện sâu vậy; được đức tin bất hoại đối với tất cả Phật giáo, vì thủ hộ trụ trì vậy; được đức tin bất hoại đối với tất cả chúng sanh, vì lòng từ bình đẳng xem chúng sanh đem thiện căn hồi hướng khắp lợi ích vậy; được đức tin bất hoại đối với tất cả pháp lành thanh tịnh, vì khắp họp vô biên thiện căn vậy; được đức tin bất hoại đối với đạo hồi hướng của tất cả Bồ Tát, vì đầy đủ những thắng nguyện vậy; được đức tin bất hoại đối với các Bồ Tát pháp sư, vì đối với Bồ Tát tưởng là Phật vậy; được đức tin bất hoại đối với thần thông tự tại của tất cả Phật, vì thâm tín chư Phật khó nghĩ bàn vậy; được đức tin bất hoại đối với phương tiện thiện xảo của tất cả Bồ Tát, vì nhiếp thủ vô lượng vô số công hạnh vậy. Đại Bồ Tát lúc an trụ đức tin bất hoại như vậy, đối với Phật, Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn, Phật pháp, Phật giáo, chúng sanh, v.v... đều ở trong đó khéo vun trồng thiện căn vô lượng vô biên, khiến thêm tâm bồ đề, lớn lòng từ bi, quán sát bình đẳng, tùy thuận tu học chỗ làm của chư Phật, nhiếp thủ tất cả thiện căn thanh tịnh vào nghĩa chân thật, nhóm công hạnh phước đức thực hành bố thí lớn, tu các công đức, xem tam thế bình đẳng. Đại Bồ Tát dùng thiện căn công đức như vậy hồi hướng nhất thiết trí, nguyện thường thấy Phật, gần bạn lành, cùng ở với chư Bồ Tát, nhớ nhất thiết trí không rời, thọ trì Phật giáo siêng thủ hộ, giáo hóa thành thục tất cả chúng sanh, tâm thường hồi hướng đạo xuất thế, cúng dường hầu hạ tất cả pháp sư, hiểu rõ các pháp ghi nhớ chẳng quên, tu hành đại nguyện đều khiến đầy đủ. Đại Bồ Tát như vậy mà chứa nhóm thiện căn, thành tựu thiện căn, tăng trưởng thiện căn, tư duy thiện căn, hộ niệm thiện căn, phân biệt thiện căn, mến thích thiện căn, tu tập thiện căn, an trụ thiện căn. Đại Bồ Tát chứa nhóm những thiện căn như vậy rồi, dùng những y báo của thiện căn này mà tu Bồ Tát hạnh, trong mỗi niệm thấy vô lượng Phật và phụng thờ cúng dường. Dùng vô số châu báu, hoa, tràng hoa, y phục, lọng, tràng phan, đồ trang nghiêm vô số lượng thoa, hương bột, hương hòa trộn, hương đốt, đồ trán đất, vô số sự hầu hạ, thâm tín, mến ưa, tâm thanh tịnh, tôn trọng, ca ngợi, lễ kính, vô số bửu tòa, hoa tòa, hương tòa, man tòa, chiên đàn tòa, y tòa, kim cang tòa, ma ni tòa, bửu tăng tòa, bửu sắc tòa, vô số chỗ kinh hành trải hoa, trải báu, trải hương, trải tràng hoa, trải y phục, trải lụa màu, vô số chỗ kinh hành trồng cây bửu đa la, lan can báu, lưới linh báu giăng che, vô số cung điện báu, cung điện hoa, cung điện tràng hoa, cung điện hương, cung điện chiên đàn, cung điện diệu hương tạng, cung điện kim cang, cung điện ma ni, tất cả đều quý đẹp hơn ở cõi trời, vô số cây báu, cây hương, cây bửu y, cây âm nhạc, cây diệu âm thanh, cây đồ trang nghiêm, cây hàng lụa báu, cây vòng báu, vô số cây hoa hương tràng phan trọng trang nghiêm che mát các cung điện, lại có vô số mái hiên trang nghiêm, vô số cửa chính cửa song trang nghiêm, vô số lâu các trang nghiêm, vô số hình bán nguyệt trang nghiêm, vô số màn trang nghiêm, vô số lưới vàng giăng che, vô số hương thơm tỏa khắp nơi, vô số thảm báu trải đất, tôn kính cúng dường tất cả chư Phật trải qua vô lượng vô số bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, cúng dường luôn không thối chuyển không thôi nghỉ. Sau khi mỗi đức Như Lai diệt độ, Bồ Tát cũng cúng dường xá lợi như vậy, vì muốn khiến chúng sanh khởi lòng tin thanh tịnh, nhiếp thiện căn, lìa các khổ, hiểu biết rộng, dùng đại trang nghiêm để tự trang nghiêm, chỗ tu hành được rốt ráo, biết chư Phật xuất thế rất khó gặp, được đủ vô lượng trí lực của Như Lai, trang nghiêm cúng đường tháp miếu của chư Phật, trụ trì Phật pháp. Bồ Tát cúng dường hiện tại chư Phật và xá lợi của Phật như vậy, dầu cả vô số kiếp nói cũng không thể biết. Bồ Tát tu tập vô lượng công đức này đều vì thành thục tất cả chúng sanh, không thối chuyển, không dứt nghỉ, không nhàm, không chấp, lìa tâm tưởng, không y chỉ, tuyệt hẳn sở y, xa lìa ngã ngã sở, dùng pháp ấn như thiệt ấn các nghiệp môn, được pháp vô sanh, trụ chỗ trụ của Phật, quán tánh vô sanh, ấn các cảnh giới, chư Phật hộ niệm, phát tâm hồi hướng, hồi hướng tương ưng với pháp tánh, hồi hướng phương tiện nhập pháp vô tác chỗ làm được thành tựu, hồi hướng phương tiện bỏ lìa chấp trước, phương tiện hồi hướng an trụ nơi vô lượng thiện xảo, hồi hướng ra khỏi hẳn tất cả cõi hữu lậu, hồi hướng khéo tu hành chẳng trụ nơi tướng, hồi hướng nhiếp khắp tất cả thiện căn, hồi hướng thanh tịnh khắp tất cả Bồ Tát hạnh rộng lớn, hồi hướng phát tâm vô thượng bồ đề, hồi hướng đồng trụ tất cả thiện căn, hồi hướng đầy đủ tâm tín giải vô thượng. Đại Bồ Tát lúc đem thiện căn hồi hướng như vậy, dầu theo sanh tử mà chẳng biến đổi, cầu nhất thiết trí chưa từng thối chuyển, ở trong tam giới tâm không động loạn, trọn có thể độ thoát tất cả chúng sanh, chẳng nhiễm pháp hữu vi, chẳng mất trí vô ngại, Bồ Tát hằng vì nhân duyên vô tận, các pháp thế gian không biến động được, thanh tịnh đầy đủ các ba la mật, trọn có thể thành tựu nhất thiết trí lực. Bồ Tát như vậy lìa các si ám, thành tâm bồ đề, khai thị quang minh, tăng trưởng tịnh pháp, hồi hướng thắng đạo, đầy đủ các hạnh, dùng ý thanh tịnh khéo hay phân biệt, rõ tất cả pháp đều tuỳ tâm hiện, biết nghiệp như huyễn, báo như tượng, hành như hóa, pháp nhơn duyên sanh đều như vang, tất cả Bồ Tát hạnh như bóng, xuất sanh pháp nhãn thanh tịnh vô trước, thấy cảnh giới vô tác rộng lớn, chứng tánh tịch diệt, rõ pháp không hai được pháp thiệt tướng, đủ Bồ Tát hạnh, nơi tất cả tướng đều không chấp trước khéo hay thật hành những việc đồng sự, hằng không rời bỏ các pháp lành thanh tịnh, lìa tất cả chấp trước trụ hạnh vô trước. Bồ Tát như vậy khéo léo tư duy không mê hoặc, chẳng trái các pháp, chẳng hoại nghiệp nhơn, thấy rõ chơn thiệt, khéo hồi hướng, biết pháp tánh, dùng sức phương tiện thành tựu nghiệp báo đến bờ kia, dùng trí huệ quan sát tất cả pháp được trí thần thông, vô tác mà thật hành các nghiệp thiện căn tùy tâm tự tại. Đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng như vậy, vì muốn độ thoát tất cả chúng sanh, chẳng dứt Phật chủng, lìa hẳn nghiệp ma, thấy nhất thiết trí không ngằn mé tin ưa không bỏ, lìa các cảnh giới, dứt những tạp nhiễm, cũng nguyện tất cả chúng sanh được trí thanh tịnh, vào phương tiện sâu, ra khỏi pháp sanh tử, được thiện căn của Phật, dứt hẳn tất cả sự nghiệp ma, dùng ấn bình đẳng ấn khắp các nghiệp, phát tâm vào thẳng nhất thiết chủng trí, thành tựu tất cả pháp xuất thế gian. Đây là đại Bồ Tát bất hoại hồi hướng thứ hai. Đại Bồ Tát lúc trụ nơi hồi hướng này, được thấy vô số chư Phật, thành tựu vô lượng diệu pháp thanh tịnh, được tâm bình đẳng với khắp chúng sanh, với tất cả pháp không nghi hoặc, được tất cả chư Phật thần lực gia hộ, hàng phục chúng ma lìa hẳn nghiệp ma, thành tựu sanh quý viên mãn bồ đề tâm, được trí vô ngại hiểu chẳng do người, khéo hay khai xiển nghĩa của tất cả pháp, có thể tùy năng lực tư tưởng vào tất cả cõi, soi sáng khắp chúng sanh đều khiến thanh tịnh. Đại Bồ Tát dùng sức bất hoại hồi hướng này nhiếp các thiện căn." Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Bồ Tát đã được ý bất hoại Tu hành tất cả những nghiệp lành Nên có thể khiến Phật hoan hỷ Người trí do đây mà hồi hướng Cúng dường vô lượng vô biên Phật Bố thí trì giới phục các căn Vì muốn lợi ích các chúng sanh Khiến khắp tất cả đều thanh tịnh. Tất cả những hương hoa thượng diệu Vô lượng sai biệt thắng y phục Bửu cái nhẫn đến đồ trang nghiêm Cúng dường tất cả chư Như Lai. Như vậy cúng dường lên chư Phật Vô lượng vô số nan tư kiếp Cung kính tôn trọng thường hoan hỷ Chưa từng một niệm sanh nhàm mỏi. Chuyên tâm tưởng niệm nơi chư Phật Đèn sáng trong tất cả thế gian Mười phương tất cả chư Như Lai Thảy đều hiện tiền như mắt thấy. Bất khả tư nghì vô lượng kiếp Các thứ bố thí tâm không nhàm Trong trăm ngàn muôn ức kiếp số Tu những nghiệp lành đều như vậy. Chư Như Lai kia diệt độ rồi Cúng dường xá lợi không nhàm đủ Đều dùng các loại diệu trang nghiêm Xây dựng vô lượng những tháp miếu Tạo lập vô lượng hình tượng Phật. Châu báu vàng bạc dùng trang nghiêm Cao lớn vòi vọi như núi cả Số đó vô lượng trăm ngàn ức Tịnh tâm tôn trọng cúng dường rồi Lại khởi lòng hoan hỷ lợi ích Bất tư nghì kiếp ở thế gian Cứu hộ chúng sanh khiến giải thoát Rõ biết chúng sanh đều vọng tưởng Nơi kia tất cả vô phân biệt Mà hay khéo biết căn chúng sanh Vì khắp chúng sanh làm lợi ích. Bồ Tát tu tập các công đức Rộng lớn tối thắng không ai sánh Rõ thấu thể tánh đều chẳng có Quyết định như vậy đều hồi hướng. Dùng trí tối thắng quán các pháp Trong đó không có một pháp sanh Như vậy phương tiện tu hồi hướng Công đức vô lượng không thể hết. Dùng phương tiện này khiến tâm tịnh Đều cùng tất cả Như Lai đồng Phương tiện lực này chẳng cùng tận Nên phước đức cũng không cùng tận. Phát khởi tâm bồ đề vô thượng Tất cả thế gian vô sở y Đến khắp mười phương các thế giới Mà tất cả nơi đều vô ngại Tất cả Như Lai xuất thế gian Vì muốn khải đạo lòng chúng sanh Như tâm tánh kia mà quán sát Rốt ráo tìm cầu chẳng thể được. Tất cả các pháp trọn không thừa Đều vào chơn như không thể tánh Dùng tịnh nhãn mà hồi hướng Mở ngục sanh tử ở thế gian. Đều khiến các cõi đều thanh tịnh Cũng chẳng phân biệt nơi các cõi Biết tánh các cõi đều không có Mà khiến ý hoan hỷ thanh tịnh. Nơi một Phật độ không sở y Tất cả Phật độ đều như vậy Cũng chẳng nhiễm trước pháp hữu vi Biết pháp tánh kia không y xứ. Do đây tu hành nhất thiết trí Do đây trí vô thượng trang nghiêm Do đây chư Phật đều hoan hỷ Đây là hạnh Bồ Tát hồi hướng. Bồ Tát chuyên tâm niệm chư Phật Trí huệ vô thượng phương tiện khéo Như Phật tất cả không sở y Nguyện tôi tu thành công đức này. Chuyên tâm cứu hộ tất cả chúng Khiến họ xa lìa các nghiệp ác Như vậy lợi ích các chúng sanh Chuyên niệm tư duy chưa từng có. Trụ nơi pháp thủ hộ trí đia Chẳng lấy niết bàn nơi thừa khác Chỉ nguyện được Phật đạo vô thượng Bồ Tát như vậy khéo hồi hướng. Chẳng chấp lấy ngôn ngữ chúng sanh Tất cả sự hữu vi hư vọng Dầu chẳng y tựa đường ngôn ngữ Cũng lại chẳng chấp không ngôn thuyết Thập phương tất cả chư Như Lai Rõ thấu các pháp không còn sót Dầu biết các pháp đều không tịch Mà chẳng sanh niệm trụ nơi không. Dùng một trang nghiêm nghiêm tất cả Cũng chẳng phân biệt nơi các pháp Như vậy khai ngộ các quần sanh Tất cả vô tánh vô sở quán. Chư Phật tử! Thế nào là Bồ Tát đẳng nhất thiết Phật hồi hướng? Đại Bồ Tát này tuỳ thuận tu học đạo hồi hướng của tam thế chư Phật. Lúc tu học đạo hồi hướng như vậy, Bồ Tát này thấy tất cả lục trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp hoặc tốt hoặc xấu, chẳng sanh lòng ưa hay ghét, tâm được tự tại, không lỗi lầm, rộng lớn thanh tịnh, hoan hỷ vui thích, lìa những ưu não, tâm ý như nhuyến các căn thanh lương. Lúc đại Bồ Tát được an lạc như vậy, lại phát tâm hồi hướng chư Phật, tự nghĩ rằng: Nguyện đem thiện căn của tôi vun trồng hiện nay làm cho sự vui của chư Phật càng thêm. Những là sự vui nơi an trụ bất tư nghì của Phật, sự nơi tam muội vô tỷ của chư Phật, sự vui đại thần thông ngằn mé, sự vui đại tự tại rất mực tôn trọng, sự vui vô lượng lực rốt ráo rộng lớn, sự vui tịch tịnh lìa những tri giác, sự vui thường chánh định trụ nơi vô ngại trụ, sự vui thực hành hạnh vô nhị không đổi khác. Đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng Phật xong, lại đem thiện căn hồi hướng Bồ Tát. Nghĩa là người chưa viên mãn làm cho được viên mãn, người tâm chưa thanh tịnh làm cho được thanh tịnh, người chưa tròn đủ ba la mật làm cho được tròn đủ, an trụ nơi tâm kim cang bồ đề, nơi nhất thiết trí được bất thối chuyển, chẳng bỏ đại tinh tấn, thủ hộ môn bồ đề, tất cả thiện căn có thể khiến chúng sanh bỏ lìa ngã mạn phát bồ đề tâm chí nguyện được thành tựu viên mãn, an trụ nơi chỗ trụ của Bồ Tát, được các căn minh lợi của Bồ Tát, tundefined tập thiện căn chứng Phật chủng trí. Đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng Bồ Tát như thế rồi, lại đem hồi hướng tất cả chúng sanh, nguyện cho tất cả chúng sanh có bao nhiêu thiện căn nhẫn đến rất ít chừng khoẳng khảy ngón tay, đều được thấy Phật nghe pháp, kính tăng, những thiện căn kia đều lìa chướng ngại, niệm Phật viên mãn, niệm pháp phương tiện, niệm tăng tôn trọng, chẳng lìa thấy Phật, tâm được thanh tịnh được các Phật pháp, họp vô lượng đức, thanh tịnh những thần thông, bỏ niệm nghi pháp an trụ đúng Phật giáo. Bồ Tát này vì Thanh Văn và Bích Chi Phật hồi hướng cũng như vậy. Lại nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Diêm La Vương, v.v... Tất cả nơi ác khổ, tăng trưởng tâm vô thượng bồ đề, chuyên ý siêng cầu nhất thiết chủng trí, lìa hẳn hủy báng chánh pháp chư Phật được Phật an lạc thân tâm thanh tịnh chứng nhất thiết trí. Đại Bồ Tát có bao nhiêu thiện căn đều do đại nguyện phát khởi, chánh phát khởi, tích tập chánh tích tập, tăng trưởng chánh tăng trưởng, đều rộng lớn đầy đủ. Đại Bồ Tát tại gia cùng vợ con ở chung chưa từng tạm bỏ tâm bồ đề, chánh niệm tư duy cảnh nhất thiết chủng trí, tự độ độ người khiến được rốt ráo. Dùng thiện phương tiện giao hóa quyến thuộc của mình, khiến vào trí Bồ Tát, khiến thành thục giải thoát. Dầu cùng ở chung mà không lòng chấp trước. Vì bổn đại bi mà hiện ở nhà, vì từ tâm mà tùy thuận vợ con, nơi đạo thanh tịnh của Bồ Tát vẫn không chướng ngại. Đại Bồ Tát dầu ở nhà tạo lập sự nghiệp, nhưng chưa từng tạm bỏ tâm nhất thiết trí. Nghĩa là trong những lúc mặc y phục, ăn thực phẩm, uống thuốc men, tăm rửa, xoay ngó, đi, đứng ngồi, nằm, thân, ngữ, ý hoặc ngủ, hoặc thức v.v... lòng Bồ Tát luôn hướng đến đạo vô thượng giác chuyên nhiếp niệm tư duy nơi đây không lúc nào tạm bỏ rời. Vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh, mà Bồ Tát an trụ vô lượng đại nguyện bồ đề, nhiếp thủ vô số thiện căn rộng lớn, siêng thực hành những điều lành, cứu độ khắp tất cả mọi loài, xa tất cả kiêu mạn phóng dật, quyết định đến bậc nhất thiết trí, trọn chẳng tâm đến những đạo khác, thường quán sát chư Phật bồ đề, bỏ hẳn tất cả những pháp tạp nhiễm, tu hành tất cả chỗ sở học của Bồ Tát, nơi đạo nhất thiết trí, không bị chướng ngại, trụ nơi trí địa, ưa thích tụng tập, dùng vô lượng trí huệ họp những thiện căn, tâm chẳng luyến thích tất cả thế gian, cũng chẳng nhiễm trướcc nơi công hạnh của mình thực hành, chuyên tâm thọ trì giáo pháp của chư Phật. Bồ Tát ở tại gia nhiếp khắp những thiện căn khiến được tăng trưởng mà hồi hướng chư Phật vô thượng bồ đề như vậy. Bấy giờ, Bồ Tát nhẫn đến thí cho súc sanh ăn một nắm một hột, đều nguyện rằng: Tôi sẽ làm cho các loài này thoát khỏi báo súc sanh mà được lợi ích an vui rốt ráo giải thoát, khỏi hẳn biển khổ, dứt hẳn khổ thọ, trừ hẳn khổ uẩn, dứt hẳn khổ giác, khổ tụ, khổ hạnh, khổ nhơn, khổ bổn và các khổ xứ. Nguyện cho những chúng sanh kia đều được giải thoát tất cả khổ. Bồ Tát chuyên tâm tưởng nhớ tất cả chúng sanh như vậy, dùng thiện căn này làm trên hết, vì họ mà hồi hướng nhất thiết chủng trí. Bồ Tát sơ phát tâm bồ đề nhiếp khắp chúng sanh tu những thiện căn đều đem hồi hướng cả, muốn cho họ thoát hẳn sanh tử, được sự khoái lạc vô ngại của các Như Lai, ra khỏi biển phiền não, tu Phật đạo, từ tâm cùng khắp, bi lực rộng lớn, khiến khắp tất cả được vui tịch tịnh, gìn giữ thiện căn, gần gữi Phật pháp, ra khỏi cảnh ma, vào cảnh Phật, dứt giống thế gian, gieo giống Phật, trụ trong pháp tam thế bình đẳng. Bao nhiêu thiện căn đã, sẽ và hiện tập họp đều đem hồi hướng như vậy cả. Bồ Tát lại nghĩ rằng: Như chư Phật và Bồ Tát quá khứ thực hành những sự cung kính cúng dường chư Phật, độ chúng sanh khiến được giải thoát, siêng năng tu tập tất cả thiện căn đều đem hồi hướng mà không chấp trước. Nghĩa là chẳng tựa nơi sắc, chẳng nhiễm nơi thọ, không tưởng điên đảo, chẳng khởi hành, chẳng theo thức, bỏ rời sáu trần, chẳng trụ thế pháp, thích đạo xuất thế, biết tất cả pháp đều như hư không, không từ đâu đến, bất sanh, bất diệt, không chân thiệt, không nhiễm trước, xa lìa tất cả những kiến chấp phân biệt; động, chẳng chuyển, chẳng mất, chẳng hoại, trụ nơi thiệt kế không tướng lìa tướng chỉ là nhất tướng. Bồ Tát thâm nhập tất cả pháp tánh như vậy, thường thích tu tập thiện căn phổ môn, đều thấy tất cả chúng hội chư Phật. Như thiện căn hồi hướng của tất cả Như Lai thời quá khứ, tôi cũng hồi hướng như vậy hiểu pháp như vậy, chứng pháp như vậy, y pháp như vậy mà phát tâm tu tập chẳng trái pháp tướng, biết chỗ tu hành như huyễn, như ảnh, như trăng đáy nước, như tượng trong gương, nhân duyên hòa hiệp mà hiển hiện nhẫn đến bậc Như Lai rốt ráo. Bồ Tát lại nghĩ rằng: Như chư Phật thời quá khứ lúc tu hạnh Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng như vậy, chư Phật hiện tại và vị lai đều cũng như vậy. Nay tôi cũng nên phát tâm như chỗ phát tâm của chư Phật, đem những thiện căn mà dùng hồi hướng: Hồi hướng đệ nhất, hồi hướng thắng, hồi hướng tối thắng, hồi hướng thượng, hồi hướng vô thượng, hồi hướng vô đẳng, hồi hướng vô đẳng đẳng, hồi hướng vô tỉ, hồi hướng vô đối, hồi hướng tôn, hồi hướng diệu, hồi hướng bình đẳng, hồi hướng chánh trực, hồi hướng đại công đức, hồi hướng quảng đại, hồi hướng thiện, hồi hướng thanh tịnh, hồi hướng ly ác, hồi hướng bất tùy ác. Bồ Tát đem những thiện căn chánh hồi hướng như thế rồi, thời thành tựu thân, ngữ, ý, nghiệp thanh tịnh, trụ nơi an trụ của Bồ Tát, không có các lỗi lầm, tu tập nghiệp lành, lìa sự ác nơi thân, ngữ, tâm, ý không tội lỗi, tu nhất thiết trí, trụ pháp xuất thế, chẳng nhiễm thế pháp, phân biệt rõ biết vô lượng các nghiệp, thành tựu hồi hướng phương tiện khéo léo, nhổ hẳn tất cả cội gốc chấp trước. Thưa chư Phật tử! Đây là đại Bồ Tát nhất thiết Phật hồi hướng thứ ba. Đại Bồ Tát trụ bậc hồi hướng này, thâm nhập nghiệp hạnh của tất cả Như Lai, xu hướng công đức thắng diệu của Như Lai, vào sâu trong cảnh giới trí huệ thanh tịnh, chẳng rời hạnh nghiệp của tất cả Bồ Tát, hay khéo phân biệt phương tiện xảo diệu, nhập thâm pháp giới, khéo biết thứ đệ tu hành của Bồ Tát, vào chúng tánh của Phật, dùng phương tiện xảo diệu phân biệt rõ biết vô lượng vô biên tất cả các pháp. Dầu hiện thân sanh vào thế gian nhưng không nhiễm trước thế pháp." Bấy giờ, Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Chư Bồ Tát ma ha tát đó Tu pháp hồi hướng Phật quá khứ Cũng học công hạnh của chư Phật Hiện tại cùng chư Phật vị lai. Nơi các cảnh giới được an vui Chỗ ngơi khen của tất cả Phật Mắt sáng suốt thanh tịnh rộng lớn Đều đem hồi hướng đại trí huệ. Bồ Tát thân căn các sự vui Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt cũng như vậy. Vô lượng sự vui thượng diệu ấy Đều đem hồi hướng bậc tối thắng Những pháp lành của các thế gian Và chỗ thành tựu của chư Phật Nơi đó nhiếp cả không để thừa Trọn tùy hỷ lợi ích chúng sanh Thế gian tùy hỷ vô lượng thứ Khiến vì chúng sanh mà hồi hướng Những sự vui của đấng nhân sư Nguyện cho chúng sanh đều viên mãn. Tất cả quốc độ tất cả Phật Phàm chỗ thấy biết những sự vui Nguyện cho chúng sanh đều được cả. Làm đèn sáng lớn chiếu thế gian Bồ Tát chỗ được vui thắng diệu Đều đem hồi hướng cho quần sanh Dầu vì quần sanh nên hồi hướng Nhưng không chấp trước nơi hồi hướng Bồ Tát tu hành hồi hướng này Hưng khởi vô lượng tâm đại bi Như đức hồi hướng của Phật tu Nguyện tôi tu hành trọn viên mãn. Như chư Như Lai đã thành tựu Đạo nhất thiết trí vui vi diệu Và việc làm ở đời của tôi Công hạnh Bồ Tát vui vô lượng Thị hiện vào các loài an vui Luôn gì các căn vui tịch tịnh Đều đem hồi hướng các quần sanh Khiến khắp tu thành trì vô thượng. Chẳng phải thân ngữ, ý, là nghiệp Cũng chẳng rời đây mà có riêng Chỉ dùng phương tiện diệt si tối Như vậy tu thành trí vô thượng Bồ Tát tu hành các công hạnh Chứa họp vô lượng thắng công đức Tùy thuận Như Lai sanh nhà Phật. Yên lặng chẳng loạn chánh hồi hướng Tất cả thế giới ở mười phương Bao nhiêu chúng sanh đều nhiếp thọ Đều đem thiện căn hồi hướng kia Nguyện họ đầy đủ vui an ổn. Chẳng vì thân mình cầu lợi ích Muốn khiến tất cả đều an vui Chưa từng tạm khởi tâm hí luận Chỉ quán các pháp không vô ngã. Thập phương vô lượng chư Như Lai Thấy biết tất cả chơn Phật tử Đều đem thiện căn hồi hướng cho Mong mau được thành vô thượng giác. Tất cả loài hàm thức thế gian Bình đẳng nhiếp thủ không bỏ sót Đem những nghiệp lành của tôi tu Khiến chúng sanh kia mau thành Phật Vô lượng vô biên những đại nguyện Vô thượng đạo sư đã diễn thuyết Nguyện các Phật tử đều thanh tịnh Tùy tâm họ thích đều thành tựu Xem khắp các thế giới mười phương Đều đem công đức thí chúng sanh Nguyện họ đều đủ diệu trang nghiêm Bồ Tát tu hồi hướng như vậy. Lòng chẳng gẫm suy pháp sai biệt Chỉ luôn rõ thấu pháp vô nhị Các pháp hoặc hai hoặc chẳng hai Trong đó rốt ráo không chấp trước. Tất cả thế gian trong mười phương Đều là chúng sanh tưởng phân biệt Nơi tưởng, phi tưởng không chỗ được Với các tưởng rõ thấu như vậy. Bồ Tát kia thân đã thanh tịnh Thời ý thanh tịnh không lỗi lầm Ngữ nghiệp thanh tịnh không sái quấy Phải biết ý thanh tịnh không nhiễm. Nhất tâm chánh niệm Phật quá khứ Cũng nhớ chư Phật đời vị lai Và nhớ hiện tại đấng Thế Tôn Bồ Tát đều học pháp của Phật. Tất cả chư Phật trong ba thời Trí huệ sáng suốt tâm vô ngại Vì muốn lợi ích các chúng sanh Nên họp công hạnh mà hồi hướng. Trí huệ đệ nhất, huệ rộng lớn Huệ chẳng hư vọng, huệ vô đảo Thiệt trí bình đẳng, huệ thanh tịnh Đấng huệ tối thắng nói như vậy. Thưa chư Phật tử! Thế nào là đại Bồ Tát chí nhất thiết xứ hồi hướng? Đại Bồ Tát này lúc tu tập tất cả thiện căn tự nghĩ rằng: Nguyện năng lực của thiện căn công đức này đến tất cả chỗ. Ví như thực tế không chỗ nào là chẳng đến, đến tất cả vạt, đến tất cả thế gian, đến tất cả chúng sanh, đến tất cả quốc độ, đến tất cả pháp, đến tất cả không gian, đến tất cả thời gian, đến tất cả hữu vi và vô vi, đến tất cả ngôn ngữ âm thanh. Nguyện thiện căn này cũng như vậy, đến khắp mọi chỗ của tất cả Như Lai, cúng dường tất cả chư Phật trong ba thời, chư Phật quá khứ nguyện hạnh đều viên mãn, chư Phật vị lai đầy đủ sự trang nghiêm, chư Phật hiện tại cùng quốc độ đạo tràng chúng hội cùng khắp tất cả hư không pháp giới. Nguyện do tín giải oai lực lớn, do trí huệ rộng lớn không chướng ngại, do tất cả thiện căn đều hồi hướng, nên dùng những đồ cúng dường như của chư thiên để dâng lên chư Phật, khắp vô lượng vô biên thế giới. Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng: Chư Phật Thế Tôn cùng khắp tất cả hư không pháp giới, những hạnh nghiệp tạo ra bất khả thuyết thế giới ở mười phương, bất khả thuyết Phật độ, Phật cảnh giới, các loại thế giới, vô lượng thế giới, thế giới xoay chuyển, thế giới nghiêng, thế giới úp, thế giới ngửa. Trong tất cả thế giới như vậy, chư Phật hiện tại trụ thế thị hiện những thần thông biến hóa. Trong những thế giới đó, có Bồ Tát dùng sức thắng giải vì những chúng sanh đáng được giáo hóa mà khắp khai thị vô lượng thần lực tự tại của Như Lai, pháp thân đến khắp không sai biệt, bình đẳng vào khắp tất cả pháp giới, thân Như Lai tạng bất sanh bất diệt, dùng phương tiện thiện xảo hiện khắp thế gian chứng pháp thiệt tánh, vi vượt hơn tất cả vậy, vì được sức bất thối vô ngại vậy, vì sanh ở trong tri kiến vô ngại đức tánh rộng lớn của Như Lai. Thưa chư Phật tử! Đại Bồ Tát đem tất cả thiện căn của mình vun trồng, nguyện ở nơi chư Phật như vậy, dùng hoa đẹp, hương thơm, tràng hoa, lọng, tràng phan, y phục, đèn đuốc và tất cả những đồ trang nghiêm khác đều dâng lên đức Phật. Nơi tượng Phật, tháp Phật cũng đều cúng dường như vậy. Đem thiện căn này hồi hướng như vậy: Những là bất loạn hồi hướng, nhất tâm hồi hướng, tự ý hồi hướng, tôn kính hồi hướng, bất động hồi hướng, vô trụ hồi hướng, vô y hồi hướng, không tâm chúng sanh hồi hướng, không tâm đua tranh hồi hướng, tâm tịch tịnh hồi hướng. Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng: Khắp không gian, tột thời gian, trong tất cả kiếp, Phật Thế Tôn được nhất thiết trí thành đạo bồ đề, có vô lượng danh tự sai biệt. Trong những lúc hiện thành bậc chánh giác trọn đều trụ thọ tận thuở vị lai. Chư Phật đều dùng pháp giới trang nghiêm mà trang nghiêm thân mình, đạo tràng chúng hội khắp cùng pháp giới tất cả quốc độ, tùy lúc xuất thế mà làm Phật sự. Tất cả chư Phật Như Lai như vậy, tôi đem thiện căn đều hồi hướng khắp cả. Nguyện dùng vô số lọng thơm, tràng thơm, phan thơm, trướng thơm, lưới thơm, tượng thơm, ánh sáng thơm, ngọn lửa thơm, mây thơm, tòa thơm, chỗ kinh hành thơm, chỗ ở thơm, thế giới thơm, núi thơm, biển thơm, sông thơm, cây thơm, y phục thơm, hoa sen thơm, cung điện thơm... mỗi thứ đều vô số. Lại dùng vô biên lọng tràng hoa nhẫn đến vô đẳng cung điện tràng hoa. Lại dùng vô đẳng lọng hương thoa nhẫn đến vô đẳng cung điện hương thoa. Lại dùng vô đẳng lọng hương thoa nhẫn đến vô đẳng cung điện hương thoa. Lại dùng bất khả sổ lọng hương bột nhẫn đến bất khả sổ cung điện hương bột. Lại dùng xưng lọng y phục nhẫn đến bất khả xưng cung điện y phục. Lại dùng bất khả tư lọng báu nhẫn đến bất khả tư cung điện lọng báu. Lại dùng bất khả lượng đèn sáng nhẫn đến bất khả lượng cung điện đèn sáng, lại dùng bất khả thuyết lọng đồ trang nghiêm. Lại dùng bất khả thuyết bất khả thuyết lọng ma ni bửu nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết cung điện ma ni bửu. Trong mỗi mỗi cảnh giới như vậy đều có vô số lan can, vô số cung điện. Vô số lâu các, vô số cửa cái, vô số cửa song, vô số hình bán nguyệt, vô số báu thanh tịnh, vô số đồ trang nghiêm. Đem những vật cúng dường như vậy mà cung kính dưng lên tất cả chư Phật đã kể ở trên. Nguyện cho tất cả thế gian đều được thanh tịnh, tất cả chúng sanh đều được giải thoát trụ bậc thập địa, trong tất cả pháp được pháp minh vô ngại, khiến tất cả chúng sanh đầy đủ thiện căn đều được điều phục, tâm họ quảng đại vô lượng khắp cõi hư không, qua tất cả cõi mà không chỗ đến, vào tất cả cõi thực hành pháp lành, thường được thấy Phật vun trồng căn lành, thành tựu đại thừa chẳng chấp trước các pháp, đủ các điều lành lập vô lượng hạnh, vào khắp vô biên pháp giới, thành tựu thần lực của chư Phật, được Phật trí. Ví như vô ngã nhiếp khắp các pháp, cũng vậy những căn lành của tôi nhiếp khắp tất cả chư Phật Như Lai vì đều cúng dường không sót vậy, nhiếp khắp tất cả vô lượng pháp vì đều có thể chứng ngộ vô ngại vậy, nhiếp tất cả chúng Bồ Tát vì rốt ráo đều đồng thiện căn vậy, nhiếp khắp tất cả hạnh Bồ Tát vì bổn nguyện lực đều viên mãn vậy, nhiếp khắp tất cả Bồ Tát pháp minh vì rõ thấu các pháp đều vô ngại vậy, nhiếp khắp đại thần lực của chư Phật vì thành tựu vô lượng thiện căn vậy, nhiếp khắp các Phật lực vô úy vì phát tâm vô lượng viên mãn tất cả vậy, nhiếp khắp những tam muội biện tài đà la ni của Bồ Tát vì khéo có thể chiếu rõ pháp vô nhị vậy, nhiếp khắp phương tiện thiện xảo của chư Phật vì thị hiện đại thần lực của Như Lai vậy, nhiếp khắp tám tướng thành đạo của tam thế Phật vì cung kính cúng dường đều khắp cả vậy, nhiếp khắp tất cả thế giới mười phương vì nghiêm tịnh phật sát đều rốt ráo vậy, nhiếp khắp tất cả kiếp rộng lớn vì xuất hiện trong đó tu Bồ Tát hạnh không đoạn tuyệt vậy, nhiếp khắp tất cả mọi loài vì đều hiện thọ sanh trong đó vậy, nhiếp khắp tất cả chúng sanh giới vì đủ hạnh Phổ Hiền vậy, nhiếp khắp tất cả phiền não tập khí vì đều dùng phương tiện khiến thanh tịnh vậy, nhiếp khắp tất cả vô lượng căn tánh sai biệt của chúng sanh vì đều rõ biết vậy, nhiếp khắp tất cả tri giải sở dục của chúng sanh vì khiến họ lìa tạp nhiễm được thanh tịnh vậy, nhiếp khắp tất cả công hạnh giáo hóa chúng sanh vì tùy chỗ họ đáng được độ mà hiện thân vậy, nhiếp khắp tất cả loài chúng sanh đáng được độ vì đều vào tất cả chúng sanh giới vậy, nhiếp khắp tất cả trí tánh Như Lai vì hộ trì tất cả Phật giáo vậy. Lúc đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng vậy, thời dùng vô sở đắc làm phương tiện, ở trong nghiệp chẳng phân biệt báo, ở trong báo chẳng phân biệt báo, ở trong báo chẳng phân biệt nghiệp. Dầu không phân biệt mà vào khắp pháp giới. Dầu vô sở tác mà luôn trụ thiện căn. Dầu vô sở khởi mà siêng tu thắng pháp. Chẳng tin các pháp mà có thể thâm nhập các pháp. Chẳng có nơi pháp mà thấy biết tất cả pháp. Hoặc làm hay chẳng làm đều bất khả đắc. Biết các pháp tánh luôn chẳng tự tại. Dầu đều thấy các pháp mà không sở kiến. Dầu biết khắp tất cả mà không sở trì. Bồ Tát rõ thấu cảnh giới như vậy, biết tất cả pháp lấy nhân duyên làm căn bản, thấy pháp thân của chư Phật, hiểu rõ thế gian đều như biến hóa, thấu rõ chúng sanh chỉ là một pháp không có hai tánh, chẳng bỏ nghiệp cảnh, phương tiện thiện xảo nơi hữu vi giới hiển thị vô vi pháp, mà chẳng hoại diệt tướng hữu vi, nơi vô vi giới hiển thị hữu vi pháp mà chẳng phân biệt tướng vô vi. Bồ Tát quán sát tất cả pháp rốt ráo tịch diệt như vậy, thành tựu tất cả thiện căn thanh tịnh mà khởi tâm cứu hộ chúng sanh, trí huệ thấu suốt biết tất cả pháp, thường thích tu hành pháp lìa ngu si, đã thành tựu đủ công đức xuất thế, chẳng còn tu học pháp thế giới, được trí nhãn thanh tịnh lìa những si tối, dùng phương tiện khéo tu đạo hồi hướng. Đại Bồ Tát đem các thiện căn hồi hướng như vậy, làm vừa lòng chư Phật, nghiêm tịnh tất cả Phật độ, giáo hóa thành tựu tất cả chúng sanh, thọ trì đầy đủ tất cả Phật pháp, làm phước điền tối thượng của tất cả chúng sanh, là đạo sư trí huệ của tất cả người hành đạo, là mặt nhật sáng tất cả thế gian, mỗi mỗi thiện căn rộng khắp pháp giới đều có thể cứu hộ tất cả chúng sanh, đều khiến họ thanh tịnh có đủ công đức. Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy, có thể hộ trì tất cả Phật chủng, có thể thành thục tất cả chúng sanh, có thể chẳng hư hoại tất cả hạnh nghiệp, có thể rõ biết tất cả pháp, có thể bình đẳng quán sát các pháp vô nhị, có thể qua khắp thế giới mười phương, có thể rõ thấu thực tế ly dục, có thể thành tựu tín giải thanh tịnh, có thể đầy đủ căn thân minh lợi. Đây là đại Bồ Tát chí nhất thiết xứ hồi hướng thứ tư. Lúc đại Bồ Tát trụ bậc hồi hướng này được thân nghiệp đến tất cả chỗ vì có thể ứng hiện khắp tất cả thế giới vậy, được ngữ nghiệp đến tất cả chỗ, vì thuyết pháp trong tất cả thế giới vậy, được nghiệp đến tất cả chỗ vì thọ trì tất cả Phật pháp vậy, được thần túc thông đến tất cả chỗ vì tùy theo tâm chúng sanh đều ứng đến vậy, được tùy chứng trí đến tất cả chỗ vì khắp có thể rõ thấu tất cả pháp vậy, được tổng trì biện tài đến tất cả chỗ vì đều tùy theo tâm chúng sanh khiến họ hoan hỷ vậy, được nhập pháp giới đến tất cả chỗ vì trong một chân lông vào khắp tất cả thế giới vậy, được biến nhập thân đến tất cả chỗ vì nơi một thân chúng sanh vậy, được phổ kiến kiếp đến tất cả chỗ vì trong mỗi mỗi kiếp thường thấy tất cả Phật vậy, được phổ kiến niệm đến tất cả chỗ vì trong mỗi mỗi niệm tất cả chư Phật đều hiện tiền vậy. Đại Bồ Tát được bậc chí nhất thiết xứ hồi hướng thời có thể đem thiện căn hồi hướng như vậy." Bấy giờ, Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng: Tất cả những thế gian trong ngoài Bồ Tát thảy đều không chấp trước Chẳng bỏ hạnh lợi ích chúng sanh Đại Sĩ tu hành trí như vậy. Tất cả quốc độ ở mười phương Tất cả vô y và vô trụ Chẳng lấy những pháp mạng sống thảy Cũng chẳng vọng khởi những phân biệt Những chúng sanh trong mười phương cõi Nhiếp khắp tất cả không để sót Quán thể tánh kia không sở hữu Chí nhất thiết xứ khéo hồi hướng Nhiếp khắp pháp hữu vi vô vi Chẳng ở trong đó sanh vọng niệm Nơi pháp thế gian cũng như vậy Bậc Chiếu Thế Đăng được giác ngộ. Bồ Tát tu hành những nghiệp hạnh Phẩm thượng, trung, hạ đều sai khác Đều đem thiện căn hồi hướng đến Tất cả chư Phật ở mười phương. Bồ Tát hồi hướng đến bờ kia Theo Phật tu học đều thành tựu Thường dùng diệu trí khéo tư duy Thắng pháp nhân gian đều đầy đủ. Thiện căn thanh tịnh khắp hồi hướng Lợi ích chúng sanh thường chẳng bỏ Đều khiến tất cả các chúng sanh Thành đấng Chiếu Thế Đăng vô thượng. Chưa từng phân biệt chấp chúng sanh Cũng chẳng vọng tưởng nhớ các pháp Dầu không nhiễm trước nơi thế gian Cũng lại chẳng bỏ các hàm thức. Bồ Tát thường thích pháp tịch diệt Tuỳ thuận được đến cảnh niết bàn. Cũng chẳng bỏ rời đạo chúng sanh Mà được trí vi diệu như vậy. Bồ Tát chưa từng phân biệt nghiệp Cũng chẳng chấp lấy các quả báo Tất cả thế gian từ duyên sanh Chẳng rời nhân duyên thấy các pháp. Cảnh giới như vậy đều thâm nhập Chẳng ở trong đó khởi phân biệt Bậc Điều Ngự Sư của chúng sanh Nơi đây sáng tỏ khéo hồi hướng. Hán bộ quyển thứ 25 "Thế nào là đại Bồ Tát vô tận công đức tạng hồi hướng. Thưa chư Phật tử! Đại Bồ Tát này đem thiện căn do sám trừ những nghiệp chướng nặng mà phát sanh, thiện căn do lễ kính tam thế chư Phật mà phát sanh, thiện căn do khuyến thỉnh chư Phật thuyết pháp mà phát sanh, thiện căn do nghe Phật thuyết pháp siêng năng tu tập ngộ cảnh giới rộng lớn bất tư nghì mà phát sanh, thiện căn do lòng tùy hỷ những căn lành của tất cả Phật, của tất cả chúng sanh mà phát sanh, thiện căn do siêng năng tu tập căn lành vô tận của tam thế chư Phật mà phát sanh, thiện căn do lòng tùy hỷ trong khi biết những sự thành Phật thuyết pháp điều phụg chúng sanh của tam thế chư Phật mà phát sanh, tất cả do lòng tùy hỷ nơi sự phát tâm đến thành Phật nhập niết bàn, chánh pháp trụ thế diệt tận của tam thế chư Phật mà phát sanh. Vô lượng thiện căn quảng đại niệm cảnh giới của bất khả thuyết chư Phật và cảnh giới của Bồ Tát nhẫn đến cảnh giới bồ đề vô ngại, phàm chỗ chứa họp, phàm chỗ tin hiểu, phàm chỗ tùy hỷ, phàm chỗ viên mãn, phàm chỗ thành tựu, phàm chỗ tu hành, phàm chỗ chứng được, phàm chỗ tri giác, phàm chỗ nhiếp trì, phàm chỗ tăng trưởng, tất cả thiện căn đều đem hồi hướng trang nghiêm tất cả Phật độ. Như chỗ sở hành của chư Phật trong tất ả thế giới nơi vô biên kiếp quá khứ, những là vô lượng vô số thế giới chủng, chỗ Phật trí biết, chỗ Bồ Tát biết, chỗ đại tâm nhẫn thọ, cõi Phật trang nghiêm do nghiệp hạnh thanh tịnh cảm ra ứng theo chúng sanh thần lực của Như Lai thị hiện ra, tịnh nghiệp xuất thế của chư Phật làm thành, diệu hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát hưng khởi. Trong đó, chư Phật thành đạo thị hiện những thần lực tự tại. Cũng trong đó, cùng tận thời vị lai, tất cả chư Phật Như Lai sẽ thành Phật đạo, sẽ được tất cả Phật độ công đức trang nghiêm thanh tịnh. Cùng tột pháp giới hư không giới, vô biên, vô tế, vô đoạn, vô tận đều từ trí huệ của Như Lai sanh ra, trang nghiêm với vô lượng diệu bửu. Tất cả những hương trang nghiêm, hoa trang nghiêm, y phục trang nghiêm, công đức tạng trang nghiêm, Phật lực trang nghiêm, Phật độ trang nghiêm. Nơi đây là chỗ ngự trị của đức Như Lai. Là chỗ cùng đồng ở của bất tư nghì chúng thanh tịnh đồng duyên đồng hành, sẽ thành chánh giác ở thời vị lai. Đây là chỗ thành tựu của chư Phật, thế gian chẳng thấy được, tịnh nhãn của Bồ Tát mới có thể thấy. Chư Bồ Tát này có đủ oai đức lớn đời trước đã vun trồng thiện căn, biết tất cả pháp như huyễn như hóa, khắp thật hành những nghiệp thanh tịnh của Bồ Tát, nhập bất tư nghì tam muội tự tại, phương tiện thiện xảo có thể làm Phật sự, phóng Phật quang chiếu khắp thế gian không giới hạn. Hiện tại tất cả chẳng phải cũng đều trang nghiêm thế giới như vậy: Vô lượng hình tướng, vô lượng quang sắc, đều do công đức làm thành, có vô lượng hương, vô lượng báu, vô lượng cây, vô số trang nghiêm, vô số cung điện, vô số âm thanh. Tuỳ thuận các bậc thiện tri thức có duyên đời trước thị hiện tất cả công đức trang nghiêm không cùng tận. Những là tất cả hương trang nghiêm, tràng hoa trang nghiêm, phan trang nghiêm, lụa màu báu trang nghiêm, lan can báu trang nghiêm, vô số lưới vàng trang nghiêm, vô số sông trang nghiêm, vô số mây trang nghiêm, vô số âm nhạc vi diệu. Tất cả Phật độ mà Phật rõ biết, Phật tuyên nói, những là Phật độ trang nghiêm, Phật độ thanh tịnh, Phật độ bình đẳng, Phật độ tốt đẹp, Phật độ oai đức, Phật độ rộng lớn, Phật độ an lạc, Phật độ bất khả hoại, Phật độ vô tận, Phật độ vô lượng, Phật độ vô động, Phật độ vô úy, Phật độ quang minh, Phật độ không trái nghịch, Phật độ khả ái, Phật khắp soi sáng, Phật độ nghiêm tốt, Phật độ rực rỡ, Phật độ khéo đẹp, Phật độ đệ nhất, Phật độ thắng, thù thắng, tối thắng, cực thắng, Phật độ thượng, vô thượng, vô đẳng, vô tỷ, vô thí dụ. Tất cả Phật độ trong ba thời có bao nhiêu sự trang nghiêm, đại Bồ Tát đem thịên căn của mình mà phát tâm hồi hướng. Nguyện dùng tất cả sự trang nghiêm của tất cả quốc độ trong ba thời mà trang nghiêm nơi một thế giới, cũng đều thành tựu, đều thanh tịnh, đều tu tập, đều hiển hiện, đều tốt đẹp, đều trụ trì. Một thế giới được trang nghiêm như vậy, tất cả thế giới tận pháp giới hư không giới cũng trang nghiêm như vậy. Đại Bồ Tát lại đem thiện căn hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả phật sát của tôi tu đều đầy dẫy những bậc đại Bồ Tát. Những Bồ Tát này thể tánh chân thật, trí huệ thông đạt, khéo phân biệt được tất cả thế giới và chúng sanh giới, thâm nhập pháp giới và hư không giới, lìa bỏ ngu si, thành tựu niệm Phật, niệm pháp chân thật bất tư nghì, niệm tăng vô lượng đều cùng khắp, chỗ thấy vô ngại, từ vô đắc mà sanh và sanh các Phật pháp, là ông chủ thiện căn thắng thượng của đại chúng, phát sanh tâm vô thượng bồ đề, trụ nơi Phật lực, hướng đến Phật trí, pháp ma nghiệp, tịnh chúng sanh, thâm nhập pháp tánh, lìa hẳn điên đảo, thiện căn đại nguyện đều chẳng luống. Chúng đại Bồ Tát như trê đây đầy dẫy trong quốc độ của tôi tu. Những bậc Bồ Tát sanh chỗ như vậy, có đức như vậy, luôn thực hành Phật sự, được Phật bồ đề quang minh thanh tịnh, đủ trí pháp giới, hiện sức thần thông một thân đầy khắp pháp giới, có trí huệ lớn vào cảnh giới sở hành của nhất thiết trí, có thể phân biệt vô lượng vô biên pháp giới cú nghĩa, nơi tất cả cõi đều không chấp trước mà có thể hiện khắp tất cả Phật độ, lòng như hư không chẳng y tựa mà có thể phân biệt tất cả pháp giới có thể khéo nhập xuất những tam muội rất sâu bất tư nghì, đến Phật trí, trụ Phật độ, được Phật lực khai thị diễn thuyết vô số pháp mà vẫn vô úy, tùy thuận thiện căn của tam thế chư Phật, chiếu khắp Phật pháp giới, đều có thể thọ trì tất cả Phật pháp, biết vô số ngôn ngữ, khéo hay diễn nói bất tư nghì âm thanh sai khác, vào nơi bậc Phật tự tại vô thượng, đi khắp tất cả thế giới mười phương mà không bị chướng ngại, thực hành pháp vô tánh, vô y, vô phân biệt, tu tập thêm rộng tâm bồ đề, được trí thiện xảo khéo biết cú nghĩa có thể theo thứ đệ mà khai thị diễn thuyết. Nguyện được chư đại Bồ Tát như trên đây trang nghiêm cõi nước của tôi tu. Thưa chư Phật tử! Đại Bồ Tát đem những thiện căn mà phương tiện hồi hướng tất cả Phật, phương tiện hồi hướng tất cả Bồ Tát, phương tiện hồi hướng tất cả Như Lai, phương tiện hồi hướng Phật bồ đề, phương tiện hồi hướng tất cả nguyện rộng lớn, phương tiện hồi hướng tất cả đạo xuất yếu, phương tiện hồi hướng thanh tịnh tất cả chúng sanh giới, phương tiện hồi hướng nơi tất cả thế giới thường thấy chư Phật hiện ra đời, phương tiện hồi hướng thường thấy Như Lai thọ mạng vô lượng, phương tiện hồi hướng thường thấy chư Phật cùng khắp pháp giới chuyển pháp luân vô ngại bất thối. Lúc đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng như vậy, vì vào khắp tất cả Phật độ nên tất cả cõi Phật đều thanh tịnh, vì đến khắp tất cả chúng sanh giới nên tất cả Bồ Tát thảy đều thanh tịnh, vì nguyện chư Phật xuất thế khắp tất cả thế giới nên tất cả pháp giới tất cả Phật độ đều có Phật thân xuất hiện. Đại Bồ Tát dùng vô tỷ hồi hướng như vậy để đến Phật trí, lòng Bồ Tát rộng lớn như hư không không có hạn lượng, vào bất tư nghì, biết tất cả nghiệp và cùng quả báo thảy đều tịch diệt, tâm thường bình đẳng không có biên tế, có thể vào tất cả pháp giới. Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy, thời chẳng phân biệt ngã cùng ngã sở, chẳng phân biệt Phật pháp, chẳng phân biệt cõi nước cùng nghiêm tịnh, chẳng phân biệt chúng sanh và điều phục, chẳng phân biệt nghiệp và quả báo, chẳng chấp nơi tư và chỗ khởi của tư, chẳng hoại nhân, chẳng hoại quả, chẳng lấy sự, chẳng lấy pháp, chẳng cho rằng sanh tử có phân biệt, chẳng cho rằng niết bàn thường tịch tịnh, chẳng cho rằng đức Như Lai chứng cảnh giới Phật, chẳng có chút pháp nào cùng ở với pháp. Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy, đem các thiện căn thí khắp chúng sanh quyết định thành thục, bình đẳng giáo hóa, không tướng, không duyên, không cân nhắc, không hư vọng, xa lìa tất cả phân biệt chấp trước. Đại Bồ Tát hồi hướng như vậy rồi, được vô tận thiện căn. Những là vì niệm tam thế chư Phật nên được vô tận thiện căn, vì niệm tất cả Bồ Tát nên được vô tận thiện căn, vì thanh tịnh Phật độ nên được vô tận thiện căn, vì tịnh chúng sanh giới nên được vô tận thiện căn, vì thâm nhập pháp giới nên được vô tận thiện căn, vì hiểu sâu cảnh giới Phật nên được vô tận thiện căn, vì nơi Bồ Tát hạnh siêng tu tập nên được vô tận thiện căn, vì rõ thấu tam thế nên được vô tận thiện căn. Lúc đại Bồ Tát đem tất cả thiện căn hồi hướng như vậy, rõ chúng sanh giới không có chúng sanh, hiểu tất cả pháp không có thọ mạng, biết tất cả pháp không có tác giả, ngộ tất cả pháp không có ngã, rõ tất cả pháp không có giận hờn tranh cãi, quán tất cả pháp đều từ duyên khởi không có trụ xứ, biết tất cả vật đều không sở y, rõ tất cả cõi đều không sở trụ, quán tất cả Bồ Tát hạnh cũng không xứ sở, thấy tất cả cảnh giới đều không sở hữu. Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy, mắt trọn chẳng thấy phật sát bất tịnh, cũng chẳng thấy chúng sanh dị tướng, không có chút pháp nào là sở nhập của trí, cũng không có chút trí nào nhập nơi pháp, hiểu thân Như Lai chẳng phải như hư không vì do vô lượng diệu pháp tất cả công đức mà được viên mãn, vì nơi tất cả chỗ khiến các chúng sanh chứa họp thiện căn đều đầy đủ. Đại Bồ Tát này ở trong mỗi niệm được bất khả thuyết bất khả thuyết thập lục địa, đầy đủ tất cả phước đức, thành tựu thiện căn thanh tịnh làm phước điền của tất cả chúng sanh. Đại Bồ Tát này thành tựu tạng công đức như ý, vì chỗ cần dùng tất cả đồ thích ý thời đều được có đủ, vì tùy chỗ nào mà Bồ Tát này đặt chân đến đều có thể nghiêm tịnh tất cả Phật độ, khiến bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh đều thanh tịnh cả, vì nhiếp thủ phước đức tu tập các công hạnh vậy. Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy thời tu tất cả Bồ Tát hạnh, phước đức thù thắng, sắc tướng vô tỷ, oai lực quang minh đều siêu việt thế gian, ma và ma dân chẳng đối lập được, đầy đủ thiện căn, thành tựu đại nguyện, tâm rộng rãi đồng nhất thiết trí, trong một niệm đều có thể cùng khắp vô lượng cõi Phật, trí lực vô lượng có thể rõ thấu tất cả cảnh giới Phật, với tất cả Phật được tín giải sâu, trụ nơi trí vô biên, tâm bồ đề rộng lớn như pháp giới rốt ráo như hư không. Đây gọi là đại Bồ Tát vô tận công đức tạng hồi hướng thứ năm. Đại nhất thiết trụ bậc hồi hướng này được mười thứ vô tận tạng sau đây: Được kiến Phật vô tận tạng vì nơi một chân lông thấy vô số Phật xuất thế. Được nhập pháp vô tận tạng vì dùng Phật trí lực quán tất cả pháp đều vào một pháp. Được ức trì vô tận tạng, vì thọ trì tất cả Phật pháp không quên mất. Được quyết định huệ vô tận tạng vì khéo biết tất cả Phật pháp bí mật phương tiện. Được giải nghĩa thú vô tận tạng vì khéo biết tế hạn lý thú của các pháp. Được vô biên ngộ giải vô tận tạng vì dùng trí như hư không thông đạt tam thế tất cả pháp. Được phước đức vô tận tạng vì làm cho ý của tất cả chúng sanh được sung mãn chẳg cùng tận. Được dũng mãnh trí giác vô tận tạng vì đều có thể trừ diệt sự ngu si của tất cả chúng sanh. Được quyết định biện tài vô tận tạng vì diễn thuyết tất cả Phật pháp bình đẳng khiến chúng sanh đều hiểu rõ. Đươc thập lực vô úy vô tận tạng vì đầy đủ Bồ Tát hạnh, được ly cấu đến nhất thiết trí vô ngại." Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quán sát khắp mười phương nói kệ rằng: Bồ Tát thành tựu thâm tâm lực Nơi các pháp được khắp tự tại Do nên phước khuyến thỉnh tuỳ hỉ Phương tiện vô ngại khéo hồi hướng. Tam thế tất cả chư Như Lai Nghiêm tịnh Phật độ khắp thế gian Tất cả công đức đều đầy đủ Hồi hướng tịnh độ cũng như vậy. Tam thế tất cả những Phật pháp Bồ Tát thảy đều tư duy kỹ Dùng tâm nhiếp lấy không để thừa Như vậy trang nghiêm các Phật độ. Cùng tận tam thế tất cả kiếp Khen những công đức một Phật độ Những kiếp số kia còn cùng tận Công đức Phật độ không cùng tận Như vậy tất cả những Phật độ Những kiếp số kia còn cùng tận Công đức Phật độ không cùng tận. Như vậy tất cả những Phật độ Bồ Tát đều thấy không còn thừa Đều đem trang nghiêm một cõi Phật Tất cả Phật độ đều như vậy. Có những Phật tử tâm thanh tịnh Đều từ Phật pháp mà hóa sanh Tất cả Phật độ đều sung mãn Chư Bồ Tát kia đều đầy đủ Vô lượng tướng hảo trang nghiêm thân Biện tài diễn thuyết khắp thế gian Ví như biển cản không cùng tận. Bồ Tát an trụ các tam muội Tất cả công hạnh đều đầy đủ Tâm đó thanh tịnh không ai sánh Quang minh chiếu khắp mười phương cõi. Những Phật độ như vậy không thừa Chư Bồ Tát đây đều đầy dẫy Chưa từng nhớ tưởng Thanh Văn thừa Lại cũng chẳng cầu Duyên Giác đạo. Bồ Tát tâm thanh tịnh như vậy Thiện căn hồi hướng khắp quần sanh Muốn khiến tất cả thành chánh đạo Rõ biết đầy đủ các Phật pháp. Mười phương tất cả các ma oán Bồ Tát oai lực đều phá trừ Trí huệ dũng mãnh không ai hơn Quyết định tu hành pháp rốt ráo. Bồ Tát dùng sức đại nguyện này Tất cả hồi hướng không chướng ngại Vào nơi vô tận công đức tạng Khứ, lai, hiện tại luôn vô tận. Bồ Tát khéo quán các hành pháp Rõ thấu tánh nó chẳng tự tại Đã biết các pháp tánh như vậy Chẳng vọng lấy nghiệp và quả báo. Không có pháp sắc pháp vô sắc Cũng không pháp tưởng pháp vô tưởng Pháp có tánh không thảy đều không Rõ biết tất cả vô sở đắc. Tất cả các pháp nhân duyên sanh Thể tánh chẳng có cũg chẳng không Mà nhân duyên và sanh khởi Trong đó trọn hẳn không chấp trước. Những ngôn ngữ của các chúng sanh Trong đó rốt ráo vô sở đắc. Rõ biết danh tướng đều phân biệt Hiểu rõ các pháp đều vô ngã Như tánh chúng sanh vốn tịch diệt Như vậy rõ biết tất cả pháp Tam thế nhiếp lấy không thừa sót Quyết định các nghiệp đều bình đẳng. Dùng trí như vậy mà hồi hướng Tùy chỗ ngộ hiểu phước nghiệp sanh Những phước tướng này như chỗ hiểu Há lại trong đó có sở đắc. Hồi hướng như vậy tâm vô cấu Trọn chẳng cân lường các pháp tánh Rõ pháp tánh đó đều phi tánh Chẳng trụ thế gian cũng chẳng xuất. Tất cả công hạnh những thiện nghiệp Đều đem hồi hướng các quần sanh Đều rõ thấu cả chân tánh kia Tất cả phân biệt đều trừ bỏ Tất cả những kiến chấp hư vọng Thảy đều trừ bỏ không để sót Rời những nhiệt não thường thanh lương Trụ nơi bậc giải thoát vô ngại. Bồ Tát chẳng hoại tất cả pháp Cũng chẳng diệt hoại các pháp tánh Hiểu rõ các pháp như bóng vang Đối với tất cả đều vô trước. Rõ những chúng sanh suốt tam thế Đều từ nhân duyên hòa hiệp khởi Cũng biết tâm thích và tập khí Chưa hoại diệt tất cả pháp. Rõ thấu nghiệp tánh chẳng phải nghiệp Mà cũng chẳng trái các pháp tướng Lại cũng chẳng hoại nghiệp quả báo Nói các pháp tánh từ duyên khởi Rõ biết chúng sanh không có sanh Cũng không chúng sanh bị lưu chuyển Không thật chúng sanh nói đến được Chỉ dựa thế tục giả tuyên nói. "Thế nào là đại Bồ Tát tùy thuận kiên cố nhất thiết thiện căn hồi hướng? Thưa chư Phật tử! Bậc Bồ Tát này hoặc làm đế vương ngự nơi đại quốc, có oai đức lớn danh chấn thiên hạ, phàm các oán địch đều quy thuận, hiệu lịnh ban ra đều dựa theo chánh pháp, cầm một cây lọng che mát mười phương, đi khắp cõi nước không bị trở ngại, đầu vấn lụa ly cấu, tự tại đối với các pháp, người thấy đều phục tùng. Chẳng cần đến hình phạt, chỉ dùng đức cảm hóa. Dùng pháp tứ nhiếp, nhiếp các chúng sanh. Làm chuyển luân vương châu cấp tất cả. Đại Bồ Tát an trụ công đức tự tại như vậy. Có đông quyến thuộc chẳng ai làm trở ngại phá hoại được. Lìa khỏi lỗi lầm người thấy không nhàm, phước đức trang nghiêm tướng hảo viên mãn. Được thân na la diên kiên cố có đại lực không ai khuất phục được. Được nghiệp thanh tịnh lìa các nghiệp chướng. Tu hành đầy đủ tất cả bố thí hoặc thí thực phẩm, hoặc thí xe cộ, hoặc thí y phục, hoặc thí tràng hoa, các thứ hương, giường ghế, nhà cửa, đèn đuốc, thuốc men, những khí cụ báu, ngựa giỏi, voi hay đều hoan hỷ bố thí. Hoặc có kẻ đến xin ghế của vua ngự, hoặc xin lọng, phan, vật báu, đồ trang nghiêm, mão vua, minh châu, cả đến ngôi vua cũng sẵn sàng bố thí không hối tiếc. Nếu thấy người bị cầm tù, liền xả thí của cải quyến thuộc hoặc đến thân mình đểu giải cứu. Nếu thấy kẻ tử thù, liền xả thân thế mạng. Có ai đến xin bất luận vật gì nơi thân: Mắt, tai, mưỡi, lưỡi, da, thịt, xương, tủy, đầu, mặt, tay, chân, tạng, phủ, v.v... đều vui lòng xả thí. Hoặc vì cầu thỉnh pháp vị tằng hữu mà gieo mình vào hầm lửa. Hoặc vì hộ trì chánh pháp mà đem thân nhẫn thọ tất cả sự khổ độc. Hoặc vì cầu chánh pháp nhẫn đến một chữ mà có thể thí xả tất cả sở hữu. Thường đem chánh pháp giáo hóa chúng sanh, khiến tu hạnh lành lìa bỏ điều ác. Nếu thấy kẻ giết hại, thời dùng tâm từ cứu vớt khiến bỏ nghiệp ác. Nếu thấy đức Như Lai thành đẳng chánh giác thời truyền rao ca ngợi cho mọi nơi đều được hay biết, hoặc thí đất để xây dựng tăng đường, điện nhà, vì chúng sanh mà cúng dường thờ phụng đức Phật. Lúc đại Bồ Tát bố thí như vậy, phát tâm khéo nhiếp thọ đều đem hồi hướng cả. Những là khéo nhiếp sắc, thọ, tưởng, hành, thức tùy thuận kiên cố tất cả thiện căn. Khéo nhiếp đồ cần dùng tùy thuận kiên cố tất cả thiện căn. Khéo nhiếp huệ thí tùy thuận kiên cố tất cả thiện căn. Đại Bồ Tát bố thí vật thân mạng thứ nào cũg đến số vô lượng vô biên, đem thiện căn đó hồi hướng như vậy: Như lúc bố thí thức ăn, lòng Bồ Tát thanh tịnh đối với vật bố thí, không tham trước, không bỏn xẻn luyến tiếc, cầu nguyện cho tất cả chúng sanh được món ăn trí huệ, tâm được vô ngại rõ biết tánh chất của thức ăn nên không tham trước, chỉ thích món ăn pháp hỷ xuất ly, đầy đủ trí huệ dùng pháp kiên trụ nhiếp thủ thiện căn, pháp thân và trí thân thanh tịnh du hành. Vì từ tâm làm phước điền cho chúng sanh mà thị hiện thọ đoàn thực. Đây là Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, lúc bố thí thức ăn. Đại Bồ Tát lúc bố thí thức uống, đem thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sanh uống nước pháp vị, siêng năng tu tập đầy đủ Bồ Tát đạo, dứt sự khát ái thế gian, thường cầu Phật trí, lìa cảnh dục được sự vui pháp hỷ. Từ nơi pháp tịch tịnh sanh ra thân mình, thường dùng tam muội mà điều nhiếp tâm mình. Vào biển trí huệ, nổi mây pháp lớn, xối mưa pháp lớn. Đây là đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, lúc bố thí thức uống. Đại Bồ Tát lúc bố thí những thứ uống ăn thượng vị thanh tịnh có thể làm cho thân tứ đại điều hòa tráng kiện, da thứa tươi nhuần, căn khiếu minh mẫn, tạng phủ mạng tốt, không nhiễm độc, không nhuốm bịnh, luôn được an vui, trong lòng thanh tịnh thường hoa hỷ, đem thiện căn này hồi hướng như vậy: Nguyện cho tất cả chúng sanh được đầy đủ cam lồ tối thượng vị. Nguyện cho tất cả chúng sanh được pháp trí vị rõ biết nghiệp dụng của tất cả vị. Nguyện cho tất cả chúng sanh được vô lượng pháp vị rõ thấu pháp giới an trụ trong thành trì đại pháp thực tế. Nguyện cho tất cả chúng sanh làm mây đại pháp khắp tất cả pháp giới rưới pháp võ giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh. Nguyện cho tất cả chúng sanh được thắng trí vị, pháp hỷ vô thượng sung mãn thân tâm. Nguyện cho tất cả chúng sanh không tham trước tất cả thượng vị, chẳng nhiễm tất cả vị thế gian, thường siêng tu tập tất cả Phật pháp. Nguyện tất cả chúng sanh được pháp nhất vị rõ các Phật pháp đều không sai khác. Nguyện tất cả chúng sanh được vị tối thắng trọn không thối chuyển nơi nhất thiết trí. Nguyện cho tất cả chúng sanh được vào pháp vị bình đẳng của chư Phật đều có thể phân biệt được tất cả những căn tánh. Nguyện cho tất cả chúng sanh thêm lớn pháp vị thường được đầy đủ Phật pháp vô ngại. Đây là đại Bồ Tát lúc bớ thí thượng vị đem thiện căn hồi hướng, khiến tất cả chúng sanh siêng tu phước đức đều được đầy đủ trí thân vô ngại. Đại Bồ Tát lúc bố thí xe cộ, đem thiện căn hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sanh đều được đầy đủ nhất thiết trí ngồi xe đại thừa, xe bất hoại, xe tối thắng, xe tối thượng, xe tốc tật, xe đại lực, xe phước đức đầy đủ, xe xuất thế, xe xuất sanh vô lượng Bồ Tát. Đây là đại Bồ Tát đem thiện căn hôi hướng lúc bố thí xe cộ. Đại Bồ Tát lúc bố thí y phuc đem các thiện căn hồi hướng như vậy: Nguyện tất cả chúng sanh được y phục tàm quý để che thân họ, bỏ lìa tà đạo ác pháp, da thứa mịn màng, nhan sắc tươi sáng, thành tựu sự vui đệ nhất của Phật, được nhất thiết chủng trí. Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí y phục đem thiện căn hồi hướng. Đại Bồ Tát thường đem các thứ hoa thơm đẹp cúng dường chư Phật hiện tại, và cúng dường điện tháp thờ Phật, cũng cúng dường người thuyết pháp, tỳ kheo tăng, chư Bồ Tát, các thiện trí thức, hành Than Văn, Độc Giác, cha mẹ, sư trưởng, nhẫn đến kẻ nghèo cùng côi cút. Lúc bố thí, Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh đều được hoa tam muội của Phật có thể đơm nở tất cả pháp. Nguyện tất cả chúng sanh đều được như Phật, ai xem thấy cũng đều hoan hỷ không chán. Nguyện tất cả chúng sanh tâm không động loạn, chỗ thấy đều thuận hiệp. Nguyện tất cả chúng sanh làm đủ những nghiệp hạnh rộng lớn thanh tịnh. Nguyện tất cả chúng sanh luôn nhớ thiện hữu lòng không đổi dời. Nguyện tất cả chúng sanh như thuốc a già đà có thể trừ tất cả độc phiền não. Nguyện tất cả chúng sanh trọn nên đại nguyện đều thành bậc pháp vương vô thượng. Nguyện tất cả chúng sanh phóng trí quang phá tối ngu si. Nguyện tất cả chúng sanh đầy đủ trí giác. Nguyện tất cả chúng sanh gặp thiện trí thức thành tựu đầy đủ tất cả thiện căn. Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí hoa đẹp đem thiện căn hồi hướng khiến chúng sanh được trí huệ thanh tịnh vô ngại. Lúc bố thí tràng hoa, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sanh được người thích thấy, người thấy đều mến kính, thân thiện, khát ngưỡng, người thấy đều trừ sự ưu phiền, được hoan hỷ, lìa ác, thường được gần gủi chư Phật, được nhất thiết trí. Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí tràng hoa đem thiện căn hồi hướng. Lúc bố thí các thứ hương, đại Bồ Tát hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sanh được đầy đủ giới hương, được giới hạnh chẳng kém thiếu, chẳng tạp, chẳng nhiễm ô, chẳng hối hận, được giới hạnh lìa triều phược, không nhiệt não, không sai phạm, được giới vô biên, giới xuất thế, giới Bồ Tát ba la mật. Nguyện tất cả chúng sanh do giới hạnh này mà đều được thành tựu giới thân của chư Phật. Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí các thứ hương đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh đều được viên mãn giới tụ vô ngại. Lúc đại Bồ Tát bố thí hương hoa, đem thiện căn hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sanh được thí hương xông khắp đều có thể huệ xả tất cả sở hữu. Nguyện cho tất cả chúng sanh được giới hương xông khắp đều được tịnh giới rốt ráo của Như Lai. Nguyện cho tất cả chúng sanh được nhẫn hương xông khắp lìa bỏ tâm hiểm hại. Nguyện cho tất cả chúng sanh được tinh tấn hương xông khắp thường mặc mão giáp tinh tấn đại thừa. Nguyện cho tất cả chúng sanh được định hương xông khắp an trụ nơi chánh định hiện tiền của chư Phật. Nguyện cho tất cả chúng sanh được huệ hương xông khắp trong một niệm được thành trí vương vô thượng. Nguyện cho tất cả chúng sanh được pháp hương xông khắp nơi pháp vô thượng được vô úy. Nguyện cho tất cả chúng sanh được đức hương xông khắp thành tựu hương đại công đức. Nguyện cho tất cả chúng sanh được bồ đề hương xông khắp được Phật thập lực đến nơi bờ kia. Nguyện cho tất cả chúng sanh được hương bạch pháp thanh tịnh xông khắp dứt hẳn tất cả pháp bất thiện. Đây là đại Bồ Tát bố thí hương hoa đem thiện căn hồi hướng. Lúc bố thí giường ghế, đại Bồ Tát đem tất cả hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế chư thiên và chứng trí huệ lớn. Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế thánh hiền bỏ ý phàm phu trụ tâm bồ đề. Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế an lạc lìa tất cả khổ não sanh tử. Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế rốt ráo thấy thần thông tự tại của Phật. Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế bình đẳng, luôn huân tu khắp tất cả pháp lành. Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế tối thắng đủ nghiệp thanh tịnh, thế gian không sánh kịp. Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế an ổn chứng pháp chân thật rốt ráo đầy đủ. Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế thanh tịnh tu tập tịnh trí của Như Lai. Nguyện cho tất cả chúng sanh được an trụ nơi giường ghế, được hành thiện tri thức luôn theo che chở. Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế sư tử thường nằm nghiêng hông mặt như Phật. Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí giường ghế đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh tu tập chánh niệm khéo thủ hộ các căn. Lúc đại Bồ Tát bố thí phòng nhà đem thiện căn hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sanh đều được an trụ Phật độ thanh tịnh, siêng năng tu tập tất cả công đức, an trụ cảnh giới tam muội thậm thâm, rời bỏ tất cả chỗ chấp trước, rõ chỗ trụ đều là vô sở hữu, lìa thế gian mà nơi nhất thiết trí, nhiếp lấy chỗ trụ của Phật, trụ nơi đạo rốt ráo, nơi chốn an vui, luôn trụ nơi thiện căn thanh tịnh đệ nhất, trọn chẳng rời bỏ chỗ trụ vô thượng của Phật. Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí phòng nhà đem thiện căn hồi hướng, vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh tùy chỗ họ đáng được độ mà tư duy cứu độ. Lúc đại Bồ Tát bố thí chỗ ở, đem thiện căn hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sanh thường được lợi lành lòng họ an vui. Nguyện cho tất cả chúng sanh y tựa đức Phật mà trụ, y tựa đại trí mà trụ, y tựa thiện trí thức mà trụ, y tựa tôn thắng mà trụ, y tựa thiện hạnh mà trụ, y tựa đại từ mà trụ, y tựa đại bi mà trụ, y tựa sáu môn ba la mật mà trụ, y tựa đại bồ đề tâm mà trụ, y tựa Bồ Tát đạo mà trụ. Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí chỗ ở đem thiện căn hồi hướng để cho tất cả phước đức được thanh tịnh, rốt ráo thanh tịnh, trí thanh tịnh, đạo thanh tịnh, pháp thanh tịnh, giới thanh tịnh, chí nguyện thanh tịnh, tín giải thanh tịnh, tất cả thần thông công đức thanh tịnh. Đại Bồ Tát lúc bố thí các thứ đèn sáng: Đèn tô, đèn dầu, đèn báu, đèn ma ni, đèn sơn, đèn lửa, đèn trầm thủy, đèn chiên đàn, tất cả đèn thơm, đèn vô lượng màu sắc sáng chói... vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh, vì muốn nhiếp thọ tất cả chúng sanh, nên đem thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh được vô lượng quang chiếu khắp chánh pháp của chư Phật. Nguyện tất cả chúng sanh được thanh tịnh quang soi thấy sắc cực vi tế của thế gian. Nguyện tất cả chúng sanh được ly tế quang rõ biết chúng sanh giới rỗng không vô sở hữu. Nguyện tất cả chúng sanh được vô biên quang, thân phóng áng sáng vi diệu chiếu khắp tất cả. Nguyện tất cả chúng sanh được phổ chiếu quang, tâm không thối chuyển đối với Phật pháp, nguyện tất cả chúng sanh được Phật tịnh quang, thảy đều hiển hiện trong tất cả cõi. Nguyện tất cả chúng sanh được vô ngại quang, một ánh sáng chiếu khắp pháp giới. Nguyện tất cả chúng sanh được vô đoạn quang, ánh sáng chiếu các Phật độ chẳng gián đoạn. Nguyện tất cả chúng sanh được trí tràng quang chiếu khắp thế gian. Nguyện tất cả chúng sanh được vô lượng sắc quang chiếu tất cả cõi thị hiện thần lực. Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí các thứ đèn sáng đem thiện căn hồi hướng như vậy không bị chướng ngại, khiếp khắp chúng sanh an trụ trong thiện căn. Lúc bồ thí thuốc men, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh rốt ráo ra khỏi những phiền não. Nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn thân bịnh được thân Như Lai. Nguyện tất cả chúng sanh làm thuốc hay, dứt trừ tất cả bịnh bất thiện. Nguyện tất cả chúng sanh thành thuốc a già đà an trụ bậc bất thối. Nguyện tất cả chúng sanh thành thuốc Như Lai có thể nhổ tất cả tên độc phiền não. Nguyện tất cả chúng sanh gần gũi hiền thánh dứt trừ phiền não tu hạnh thanh tịnh. Nguyện tất cả chúng sanh làm vị dược vương trừ hẳn các bịnh chẳng cho tái phát. Nguyện tất cả chúng sanh làm cây thuốc bất hoại có thể chữa lành tất cả loài. Nguyện tất cả chúng sanh được ánh sáng nhất thiết trí nhổ tên các bịnh tật. Nguyện tất cả chúng sanh khéo hiểu phương thuốc thế gian chữa trị cho những người bịnh. Vì muốn lợi ích cho tất cả chúng sanh, nên lúc bố thí thuốc men, Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vậy. Đại Bồ Tát lúc đem những khí cụ bằng thất bửu đựng đầy châu báu bố thí cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát, các thánh tăng, cúng dường hàng Thanh Văn, Độc Giác, cha mẹ, sư trưởng, nhẫn đến bố thí cho những kẻ nghèo cùng côi cút, chẳng chấp có vật thí người lãnh, tất cả thiện căn đều hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sanh thành tạng vô biên đồng như hư không, niệm lực rộng lớn, có thể thọ trì trọn vẹn tất cả kinh sách thế gian và xuất thế gian không quên sót. Nguyện tất cả chúng sanh thành khí cụ thanh tịnh tỏ ngộ được chánh pháp thậm thâm của chư Phật. Nguyện tất cả chúng sanh thành bửu khí vô thuọg có thể thọ trì trọn vẹn tam thế Phật pháp. Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu pháp khí rộng lớn của Như Lai dùng lòng tin bất hoại nhiếp thọ pháp bồ đề của tam thế Phật. Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu khí cụ bửu trang nghiêm tối thắng trụ tâm bồ đề oai đức lớn. Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu khí cụ làm chỗ tựa cho tất cả công đức, tin hiểu thanh tịnh đối với vô lượng trí huệ của Như Lai. Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu khí cụ nhập nhất thiết trí rốt ráo giải thoát vô ngại của Như Lai. Nguyện tất cả chúng sanh được khí cụ Bồ Tát hạnh có thể làm cho mọi loài đều được an trụ nhất thiết trí. Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu thắng công đức tam thế Phật tánh, có thể thọ trì pháp âm của chư Phật. Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu khí cụ dung nạp tất cả Phật hội đạo tràng khắp pháp giới, là thượng thủ ca ngợi Phật và khuyến thỉnh chuyển pháp luân. Vì muốn tất cả chúng sanh đều được viên mãn hạnh Phổ Hiền, nên lúc bố thí khí cụ, Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vậy." Hán bộ quyển thứ 26 "Đại Bồ Tát lúc bố thí các loại xe cộ, những là xe bằng vàng bạc thất bửu, hoặc ngựa kéo hay voi kéo, trang nghiêm với những thứ châu ngọc vật báu, cúng dường lên chư Phật, hoặc dâng lên điện tháp thờ Phật, đem công đức này hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sanh đều biết cúng dường phước điền vô thượng, tin chắc rằng cúng Phật được vô lượng quả báo. Nguyện tất cả chúng sanh nhất tâm hướng đến Phật, thường gặp vô lượng phước điền thanh tịnh. Nguyện tất cả chúng sanh không lẫn tiếc đối với Như Lai, thành tựu trọn vẹn lòng đại xả. Nguyện tất cả chúng sanh ở chỗ chư Phật, tu hành hạnh bố thí rời tâm nhị thừa, đến được nhất thiết chủng trí vô ngại giải thoát của Như Lai. Nguyện tất cả chúng sanh chỗ chư Phật thực hành vô tận thí vào vô lượng công đức trí huệ của Phật. Nguyện tất cả chúng sanh nhập thắng trí của Phật được thành bậc trí vương thanh tịnh vô thượng. Nguyện tất cả chúng sanh được thần thông vô ngại của Phật, muốn đến nơi nào đều tự tại cả. Nguyện tất cả chúng sanh thâm nhập đại thừa được vô lượng trí an trụ bất động. Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể xuất sanh pháp nhất thiết trí làm phước điền vô thượng của hàng nhân, thiên. Nguyện tất cả chúng sanh ở chỗ chư Phật không có tâm hiểm hận, siêng vun trồng căn lành thích cầu Phật trí. Nguyện tất cả chúng sanh nhiệm vận có thể qua đến tất cả Phật độ, trong một sát na đi khắp pháp giới mà không mỏi nhọc. Nguyện tất cả chúng sanh được Bồ Tát tự tại thần thông, phân thân khắp pháp giới thân cận cúng dường tất cả Phật. Nguyện tất cả chúng sanh được thân vô tỷ đến khắp mười phương vẫn không mỏi nhàm. Nguyện tất cả chúng sanh được thân quảng đại phi hành mau chóng, chỗ đến tùy ý trọn không lười trễ. Nguyện tất cả chúng sanh được oai lực tự tại rốt ráo của chư Phật, trong một sát na hiện Phật thần thông biến hóa khắp hư không giới. Nguyện tất cả chúng sanh tu hạnh an lạc tùy thuận tất cả Bồ Tát đạo. Nguyện tất cả chúng sanh được mau chóng thực hành rốt ráo thập lực trí huệ thần thông. Nguyện tất cả chúng sanh bình đẳng vào khắp pháp giới. Nguyện tất cả chúng sanh không thối chuyển hạnh Phổ Hiền đến bờ kia thành nhất thiết trí. Nguyện tất cả chúng sanh lên bậc trí huệ vô tỷ tuỳ thuận pháp tánh thấy lý chân thật. Đây là lúc cúng dường xe cộ cho chư Phật hoặc điện tháp thờ Phật, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vậy, vì muốn cho chúng sanh được Phật thừa rốt ráo giải thoát vô ngại. Lúc bố thí các loại xe cộ cho chư Bồ Tát các thiện tri thức, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh tâm thường ghi nhớ lời dạy của thiện trí thức, chuyên cần gìn giữ chẳng để quên mất. Nguyện tất cả chúng sanh đồng được lợi ích như thiện tri thức, nhiếp khắp tất cả cùng đồng một thiện căn. Nguyện tất cả chúng sanh gần thiện tri thức tôn trọng cúng dường, xả trọn sở hữu để thuận theo lòng thiện tri thức. Nguyện tất cả chúng sanh được chí muốn lành chẳng rời thiện hữu. Nguyện tất cả chúng sanh thường được gặp gỡ các thiện tri thức, kính thờ chẳng trái lời dạy. Nguyện tất cả chúng sanh mến thích thiện tri thức, chẳng rời, chẳng hở, chẳng lầm lỗi. Nguyện tất cả chúng sanh có thể đem thân bố thí cho thiện tri thức tùy ý sai bảo chẳng hề trái nghịch. Nguyện tất cả chúng sanh được thiện tri thức nhiếp thọ tự tại đại từ xa lìa điều ác. Nguyện tất cả chúng sanh theo thiện tri thức nghe chánh pháp của Phật dạy. Nguyện tất cả chúng sanh cùng thiện tri thức đồng một thiện căn đồng một nghiệp quả thanh tịnh, đồng một hạnh nguyện với chư Bồ Tát đến rốt ráo thập lực. Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể thọ trì pháp thiện tri thức đến được tất cả định huệ thần thông. Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể thọ trì tất cả chánh pháp, tu tập các hạnh đến nơi bờ kia. Nguyện tất cả chúng sanh thừa nơi đại thừa không bị chướng ngại thành tựu rốt ráo đạo nhất thiết trí. Nguyện tất cả chúng sanh đều được lên xe nhất thiết trí đến chỗ an ổn không bị thối chuyển. Nguyện tất cả chúng sanh biết hạnh như thiệt phàm nghe Phật pháp đều được rốt ráo trọn không quên sót. Nguyện tất cả chúng sanh được chư Phật nhiếp thọ được trí vô ngại. Nguyện tất cả chúng sanh được thần thông tự tại, phàm muốn đến chỗ nào, tùy niệm liền đến. Nguyện tất cả chúng sanh đều đi tự tại giáo hóa rộng khắp khiến đều an trụ nơi đại thừa. Nguyện tất cả chúng sanh chỗ thực hành chẳng luống, chở chuyên bằng xe trí đến bậc rốt ráo. Nguyện tất cả chúng sanh được xe vô ngại, dùng trí vô ngại đến tất cả chỗ. Đây là lúc bố thí xe cộ cho các thiện tri thức, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng vì muốn cho tất cả chúng sanh đầy đủ công đức đồng với Phật và Bồ Tát. Lúc Bồ Tát bố thí xe báu cho chư tăng, liền khởi tâm học tất cả hạnh bố thí, tâm trí huệ khéo rõ biết, tâm công đức thanh tịnh, tâm tùy thuận hạnh xả, tâm tăng bửu khó gặp, tâm tin sâu tăng bửu, tâm nhiếp trì chánh pháp, trụ nơi chí muốn thù thắng được chưa từng có làm hội đại thí, xuất sanh vô lượng công đức rộng lớn, tin sâu Phật pháp không bị ngăn trở pháp hoại. Đem thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh vào khắp Phật phát ghi nhớ chẳng quên. Nguyện tất cả chúng sanh rời pháp phàm ngu, vào chỗ thánh hiền. Nguyện tất cả chúng sanh mau vào ngôi thánh có thể đem Phật pháp tuần tự dạy bảo. Nguyện tất cả chúng sanh được toàn thể thế gian tôn trọng, lời nói tất được tin dùng. Nguyện tất cả chúng sanh khéo vào tất cả pháp bình đẳng rõ biết pháp giới tự tánh không hai. Nguyện tất cả chúng sanh từ nơi trí cảnh Như Lai mà sanh, những người điều thuận theo làm quyến thuộc. Nguyện tất cả chúng sanh trụ pháp ly nhiễm dứt trừ tất cả trần cấu phiền não. Nguyện tất cả chúng sanh đều được thành tựu tăng bửu vô thượng lìa hạng phàm vào thàng thánh. Nguyện tất cả chúng sanh siêng tu pháp lành được trí vô ngại đủ công đức vô thượng. Nguyện tất cả chúng sanh được tâm trí huệ chẳng chấp trước nơi thế gian, ở giữa chúng được tự tại như vua chúa. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe trí huệ chuyển chánh pháp luân. Nguyện tất cả chúng sanh có đủ thần thông, trong khoảng một niệm có thể qua đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới. Nguyện tất cả chúng sanh thừa thân hư không được trí huệ vô ngại thấu suốt tất cả thế gian. Nguyện tất cả chúng sanh vào khắp chúng hội của chư Phật trong tất cả hư không giới và thành tựu đệ nhất ba la mật. Nguyện tất cả chúng sanh được trí huệ thù thắng thân thể nhẹ nhàng có thể đến khắp tất cả Phật độ. Nguyện tất cả chúng sanh được thần túc thiện xảo vô biên tế, trong khoảng sát na hiện thân khắp mọi nơi. Nguyện tất cả chúng sanh được thân vô sở y dùng thần lực hiện khắp mọi nơi như bóng. Nguyện tất cả chúng sanh được thần lực tự tại bất tư nghì, tùy kẻ đáng độ liền hiện ra trước họ mà giáo hóa điều phục. Nguyện tất cả chúng sanh được phương tiện vô ngại nhập pháp giới khoảng một niẹm đi khắp cõi nước mười phương. Đây là lúc bố thí xe báu cho chư tăng đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh đều ngồi xe vô thượng trí thanh tịnh, chuyển pháp luân trí huệ vô ngại nơi tất cả thế gian. Lúc đại Bồ Tát bố thí xe báu cho Thanh Văn và Độc Giác, liền khởi những tâm phước điền, công đức, tôn kính, tâm xuất sanh công đức trí huệ, tâm từ thế lực công đức của Như Lai sanh ra, tâm tu tập từ trăm ngàn ức na do tha kiếp, tâm có thể tu Bồ Tát hạnh nơi bất khả thuyết kiếp, tâm giải thoát tất cả sự hệ phược của ma, tâm trừ diệt tất cả ma quân, tâm huệ quang chiếu rõ pháp vô thượng. Đem thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh được thế gian tin là phước điền đệ nhất trọn đủ đàn ba la mật vô thượng. Nguyện tất cả chúng sanh rời bỏ lời nói vô ích thích ở một mình, tâm không có hai niệm. Nguyện tất cả chúng sanh thành phước điền thanh tịnh đệ nhất, nhiếp các chúng sanh khiến tu phước nghiệp. Nguyện tất cả chúng sanh thành vực sâu trí huệ có thể đem lại vô lượng vô số thiện quả cho chúng sanh. Nguyện tất cả chúng sanh trụ hạnh vô ngại trọn đủ phước điền thanh tịnh đệ nhất. Nguyện tất cả chúng sanh trụ pháp vô tránh, rõ tất cả pháp đều vô sở tác, đều lấy vô tánh làm tánh. Nguyện tất cả chúng sanh thường được gần gũi phước điền vô thượng tu hành trọn đủ vô lượng phước đức. Nguyện tất cả chúng sanh có thể hiện vô lượng thần thông tự tại dùng phước điền thanh tịnh nhiếp các hàm thức. Nguyện tất cả chúng sanh trọn đủ vô tận công đức phước điền có thể đem quả Phật thừa đệ nhất cho các chúng sanh. Nguyện tất cả chúng sanh là phước điền chơn thực hành nhất thiết trí và phước tụ vô tận. Nguyện tất cả chúng sanh được pháp diệt tội, trọn thọ trì được cú nghĩa Phật pháp chưa từng nghe. Nguyện tất cả chúng sanh thường siêng nghe thọ tất cả Phật pháp và đều tỏ ngộ tất cả. Nguyện tất cả chúng sanh thường siêng nghe lãnh tất cả Phật pháp, tùy thuận diễn nói đúng như chỗ đã nghe. Nguyện tất cả chúng sanh tin hiểu tu hành theo Phật pháp, bỏ lìa tất cả chín mươi sáu phái ngoại đạo tà kiến. Nguyện tất cả chúng sanh thường gặp hiền thánh tăng trưởng những thiện căn tối thắng. Nguyện tất cả chúng sanh tâm thường tin ưa bậc trí huệ, cùng ở cùng vui với các đấng thánh triết. Nguyện tất cả chúng sanh tin hiểu công đức chân thật của Phật pháp, trọn bỏ sở hữu để cung kính cúng dường. Đây là lúc bố thí xe báu cho Thanh Văn, Độc Giác, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh đều được thành tựu trí huệ thần thông thanh tịnh đệ nhất, tinh tấn tu hành được trí lực vô úy. Đại Bồ Tát đem xe báu nhẫn đến bố thí cho những kẻ nghèo cùng côi cút, tuỳ họ cầu xin đều đem cho cả, lòng luôn hoan hỷ không nhàm mỏi mà còn bảo họ rằng đáng lẽ tôi phải tự mình mang đến phân phát cho các ngài, không dám để các ngài phải nhọc nhằn tìm đến. Đem thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sah ngồi xe pháp luân quảng đại vô ngại bất thối thẳng đến dưới cội cây bồ đề bất tư nghì. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe pháp trí thanh tịnh lớn, mãi mãi tu Bồ Tát không thối chuyển. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe tất cả pháp vô sở hữu lìa hẳn sự phân biệt chấp trước mà thường tu tập đạo nhất thiết trí. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe chánh trực, không dua dối, qua đến các Phật độ tự tại vô ngại. Nguyện tất cả chúng sanh tùy thuận an trụ nơi xe nhất thiết trí cùng nhau hoan lạc nơi Phật pháp. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe Bồ Tát thạnh thanh tịnh đầy đủ mười đạo xuất ly của Bồ Tát và vui nơi tam muội. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe bốn bánh: Nghĩa là ở quốc độ tốt, y tựa bậc thiện nhân, họp phước đức thù thắng, phát thệ nguyện lớn, dùng bốn điều này thành tựu viên mãn tất cả Bồ Tát hạnh thanh tịnh. Nguyện tất cả chúng sanh được xe pháp quang chiếu khắp mười phương, tu học Phật trí lực. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe Phật pháp rốt ráo đến bờ kia. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe pháp chở những phước lành hiển bày đạo chơn chánh an ổn khắp mười phương. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe đại thí bỏ lòng bỏn xẻn. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe tịnh giới trì vô biên giới hạnh thanh tịnh. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe nhẫn nhục, rời lòng sân hận. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe tinh tấn lớn, bền tu tập công hạnh thù thắng đến đạo bồ đề. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe trí huệ phương tiện khéo hóa thân khắp cả Phật độ trong pháp giới. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe pháp vương thành tựu vô úy luôn ban bố pháp nhất thiết trí khắp tất cả. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe trí huệ vô trước đều có thể vào khắp tất cả mười phương mà chẳng động chơn pháp tánh. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe Phật pháp thị hiện thọ sanh khắp mười phương cõi mà chẳng hư mất đạo đại thừa. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe báu nhất thiết trí vô thượng, trọn đủ hạnh nguyện Phổ Hiền. Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí các loại xe báu cho tất cả phước điền, đem thiện căn hồi hướng vì muốn cho chúng sanh đủ vô lượng trí, vui mừng hớn hở rốt ráo đều được xe nhất thiết trí. Đại Bồ Tát thí tượng bửu cùng mã bửu, trang nghiêm với bành vàng, yên ngọc, giây vàng, lục lạc báu, cho cha mẹ, thiện hữu, nhẫn đến kẻ nghèo cùng, không chút hối tiếc, đem thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe điều thuận thêm lớn công đức của Bồ Tát. Nguyện tất cả chúng sanh được xe thiện xảo, có thể tùy ý xuất sanh tất cả Phật pháp. Nguyện tất cả chúng sanh được xe tín giải chiếu khắp trí lực vô ngại của Như Lai. Nguyện tất cả chúng sanh được xe phát thu, có thể khắp phát hưng tất cả đại nguyện. Nguyện tất cả chúng sanh đầy đủ xe ba la mật bình đẳng, trọn nên tất cả thiện căn bình đẳng. Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu xe báu xuất sanh bửu trí vô thượng. Nguyện tất cả chúng sanh được xe Bồ Tát hạnh trang nghiêm nở bông tam muội của Bồ Tát. Nguyện tất cả chúng sanh được xe mau chóng vô biên trong vô số kiế thanh tịnh tâm Bồ Tát, siêng tư duy rõ thấu các pháp. Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu đại thừa điều thuận tối thắng dùng phương tiện khéo trọn đủ Bồ Tát địa. Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu đại thừa kiên cố rất cao rộng có thể khắp chuyên chở tất cả chúng sanh đều được đến bậc nhất thiết trí. Đây là lúc bố thí voi, ngựa, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh đều được ngồi nơi xe vô ngại trí viên mãn Phật thừa. Lúc bố thí các thứ tòa ngồi, hoặc bửu tòa sư tử vô lượng trang nghiêm dâng lên đức Phật, chư Bồ Tát, thiện tri thức, thánh tăng, pháp sư, cha mẹ, tôn nhân, Thanh Văn, Độc Giác, người xu hướng Bồ Tát thừa, hoặc tháp miếu của Như Lai, nhẫn đến kẻ nghèo cùng, tuỳ họ cần dùng thứ chi đều ban cho cả, Bồ Tát đem công đức này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh ngồi tòa bồ đề đều có thể giác ngộ chánh pháp của chư Phật. Nguyện tất cả chúng sanh ngồi tòa tự tại được pháp tự tại có thể trừ dẹp các quân ma. Nguyện tất cả chúng sanh được tòa sư tử tự tại của Phật, được tất cả chúng sanh chiêm ngưỡng. Nguyện tất cả chúng sanh được bất khả thuyết bất khả thuyết tòa trang nghiêm báu đẹp tự tại giáo hóa chúng sanh. Nguyện tất cả chúng sanh được tòa thù thắng trong tất cả thế gian do thiện căn rộng lớn nghiêm sức. Nguyện tất cả chúng sanh được toà rộng khắp bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vô số kiếp khen ngợi vô tận. Nguyện tất cả chúng sanh được mãn tất cả pháp giới. Nguyện tất cả chúng sanh được bửu tòa bất tư nghì tùy bổn nguyện của họ mà ban bố pháp thí cho chúng sanh. Nguyện tất cả chúng sanh được tòa thiện diệu hiện bất khả thuyết thần thông của chư Phật. Nguyện tất cả chúng sanh được tòa tất cả bửu, tòa tất cả hương, tòa tất cả hoa, tòa tất cả y phục, tòa tất cả tràng hoa, tòa tất cả ma ni, tòa tất cả lưu ly, v.v... bất tư nghì bửu tòa, tòa vô lượng thế giới, tòa trang nghiêm thanh tịnh, tòa kim cang thị hiện oai đức tự tại thành vô lượng vô thượng chánh giác. Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí bửu tòa đem thiện căn hồi hướng vì muốn cho chúng sanh được tòa đại Bồ Tát xuất thế gian tự nhiên giác ngộ tất cả Phật pháp. Lúc đại Bồ Tát với âm thanh tịnh đem vô lượng bửu cái trang nghiêm thù thắng dâng cúng chư Phật, tháp miếu của chư Phật, hoặc vì pháp mà dâng cúng chư Bồ Tát, các thiện tri thức, đại pháp sư, chư tăng, cha mẹ, dâng cúng Phật pháp, bậc phát bồ đề tâm, nhẫn đến kẻ nghèo cùng, tất cả thiện căn này đều hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh siêng tu thiện căn luôn được chư Phật che chở. Nguyện tất cả chúng sanh dùng công đức trí huệ làm lọng lìa hẳn tất cả phiền não. Nguyện tất cả chúng sanh dùng thiện pháp để tự che trừ diệt trần cấu nhiệt não thế gian. Nguyện tất cả chúng sanh được tạng trí huệ khiến đại chúng thích thấy tâm không nhàm đủ. Nguyện tất cả chúng sanh dùng pháp lành tịch tịnh để tự che chở rốt ráo chẳng hoại Phật pháp. Nguyện tất cả chúng sanh khéo che thân mình rốt ráo được pháp thân thanh tịnh. Nguyện tất cả chúng sanh làm lọng to rộng che trùm thế gian với thập trí lực. Nguyện tất cả chúng sanh được lọng ứng cúng thành phước điền thọ tất cả sự cúng dường. Nguyện tất cả chúng sanh được lọng tối thượng được vô thượng trí tự nhiên giác ngộ. Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí lọng báu đem thiện căn hồi hướng khiến tất cả chúng sanh được lọng che trùm tất cả, hư không pháp giới, tất cả cõi nước, thị hiện thần thông tự tại không thối chuyển, có thể trang nghiêm mười phương thế giới để cúng dường Phật, có thể dùng tràng phan tốt và bửu cái đẹp để cúng dường tất cả Phật, có thể được bửu cái phổ trang nghiêm che khắp trọn vẹn tất cả Phật độ, được bửu cái quảng đại che khắp chúng sanh khiến họ đối với Phật sanh lòng tín giải, khiến tất cả chúng sanh dùng bất khả thuyết bửu cái cúng dường một đức Phật, với bất khả thuyết đức Phật, cũng cúng dường như vậy, khiến tất cả chúng sanh được bửu cái bồ đề rộng lớn che khắp tất cả Phật, khiến tất cả chúng sanh được bửu cái ma ni trang nghiêm, bửu cái tất cả hương trang nghiêm, bửu cái tất cả trang nghiêm, bửu cái thanh tịnh trang nghiêm, lưới báu giăng che, linh báu treo thòng gió động reo tiếng vi diệu che khắp Phật thân trong tất cả thế giới, khiến tất cả chúng sanh được bửu cái trí huệ trang nghiêm vô chướng vô ngại che khắp tất cả Phật. Lại vì muốn khiến tất cả chúng sanh được trí huệ đệ nhất, được Phật công đức trang nghiêm, có chí nguyện thanh tịnh đối với công đức của Phật, được vô lượng vô biên tâm bửu tự tại, được toàn vẹn trí huệ tự tại. Lại muốn khiến chúng sanh dùng những thiện căn che trùm tất cả, thành tựu bửu cái trí huệ tối thắng, thành tựu bửu cái thập lực, với tất cả pháp được tự tại làm đấng pháp vương. Lại muốn khiế chúng sanh được tâm tự tại oai đức lớn, được trí rộng lớn không gián đoạn, được vô lượng công đức che khắp tất cả đều trọn vẹn. Lại muốn khiến tất cả chúng sanh dùng lọng công đức che tâm mình, dùng tâm bình đẳng che chúng sanh, được trí huệ lớn bình đẳng, được phương tiện thiện xảo hồi hướng lớn, được tâm nguyện thanh tịnh thù thắng, được tâm nguyện thanh tịnh thuần thiện, được đại hồi hướng che khắp tất cả chúng sanh. Chư Phật tử! Đại Bồ Tát với tâm tín giải thanh tịnh đem vô lượng tràng phan cực tốt đẹp vi diệu trang nghiêm toàn vàng ngọc, châu báu dâng lên hiện tại chư Phật và tháp miếu của chư Phật đã diệt độ, hoặc dâng lên pháp bửu, tăng bửu, hoặc dâng cho chư Bồ Tát thiện tri thức, hàng Thanh Văn, Độc Giác, hoặc thí cho đại chúng, cùng tất cả người đến cầu xin. Đại Bồ Tát dùng thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể kiến lập tràng phan thiện căn phước đức kiên cố chẳng hư hoại, kiến lập tràng phan tự tại nơi tất cả pháp tôn trọng mến thích siêng năng giữ gìn, thường dùng lụa báu biên chép chánh pháp hộ trì pháp tạng của chư Phật Bồ Tát. Nguyện tất cả chúng sanh kiến lập tràng cao hiển thắp đèn trí huệ soi khắp thế gina. Nguyện tất cả chúng sanh kiến lập tràng kiên cố trừ dẹp tất cả nghiệp ma, kiến lập tràng trí huệ tất cả loài ma không phá hư được, kiến lập tràng kim cang đại trí huệ trừ dẹp tất cả sự ngạo mạn của thế gian. Nguyện tất cả chúng sanh được tràng trí huệ đại quang chiếu khắp pháp giới. Nguyện tất cả chúng sanh có đủ vô lượng tràng báu trang nghiêm sung mãn thập phương tất cả thế giới cúng dường chư Phật. Nguyện tất cả chúng sanh được tràng Như Lai xô dẹp tất cả chín mươi sáu phái ngoại đạo tà kiến. Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí tràng phan đem thiện căn hồi hướng khiến tất cả chúng sanh được tràng Bồ Tát hạnh cao rộng thậm thâm và được tràng thanh tịnh đạo hạnh thần thông của Bồ Tát. Chư Phật tử! Đại Bồ Tát khai những bửu tạng đem trăm ngàn ức na do tha thứ trân bửu cấp cho vô số chúng sanh, tuỳ theo ý của họ muốn không hề lẫn tiếc. Đại Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh thường thấy Phật bửu, rời bỏ ngu si mà tu hành chánh niệm. Nguyện tất cả chúng sanh được đầy đủ pháp bửu sáng chói hộ trì pháp tạng của chư Phật. Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể nhiếp thọ tất cả tăng bửu châu cấp cúng dường luôn không hề nhàm. Nguyện tất cả chúng sanh được nhất thiết trí tâm bửu vô thượng, tâm bồ đề thanh tịnh bất thối. Nguyện tất cả chúng sanh được trí bửu vào khắp tất cả pháp tâm không nghi hoặc. Nguyện tất cả chúng sanh đầy đủ những công đức bửu của Bồ Tát, khai thị diễn thuyết vô lượng trí huệ. Nguyện tất cả chúng sanh được vô lượng công đức bửu vi diệu tu thành chánh giác mười trí lực. Nguyện tất cả chúng sanh được diệu tam muội mười sáu trí bửu rốt ráo thành tựu trí huệ rộng lớn. Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu báu phước điền đệ nhất, ngộ nhập trí huệ vô thượng của Như Lai. Nguyện tất cả chúng sanh được thành bửu vương vô thượng đệ nhất dùng biện tài vô tận khai diễn các pháp. Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí các châu báu đem thiện căn hồi hướng khiến tất cả chúng sanh thành tựu trí bửu đệ nhất và nhãn bửu thanh tịnh của Như Lai. Chư Phật tử! Đại Bồ Tát xem tất cả chúng sanh ở thế gian như con một, muốn cho họ đều được thân thanh tịnh trang nghiêm, thành tựu sự an lạc tối thượng ở thế gian và sự vui trí huệ của Phật, an trụ Phật pháp lợi ích chúng sanh, nên đem vô lượng thứ trang nghiêm cụ báu đẹp chuyên cần bố thí, mà hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh thành tự đồ nghiêm sức tốt đẹp vô thượng dùng các công đức trí huệ thanh tịnh trang nghiêm nhân, thiên. Nguyện tất cả chúng sanh được tướng trang nghiêm thanh tịnh dùng phước đức thanh tịnh trang nghiêm thân mình. Nguyện tất cả chúng sanh được tướng trang nghiêm thượng diệu dùng tướng trăm phước trang nghiêm thân mình. Nguyện tất cả chúng sanh được tướng trang nghiêm chẳng tạp loạn dùng tất cả tướng trang nghiêm thân mình. Nguyện tất cả chúng sanh được tướng ngôn ngữ trang nghiêm thuần thiện thanh tịnh đầy đủ biện tài vô tận. Nguyện tất cả chúng sanh được tướng tiếng trang nghiêm đủ công đức, thanh âm thanh tịnh người nghe vui mừng. Nguyện tất cả chúng sanh được tướng ngôn ngữ trang nghiêm khả ái của Phật, khiến các chúng sanh nghe pháp vui mừng tu hạnh thanh tịnh. Nguyệnt tất cả chúng sanh được tướng tâm trang nghiêm, nhập thâm thiền định thấy khắp chư Phật. Nguyện tất cả chúng sanh đươc tướng tổng trì trang nghiêm chiếu sáng tất cả Phật pháp. Nguyện tất cả chúng sanh được tướng trí huệ trang nghiêm, dùng trí huệ của Phật trang nghiêm tâm mình. Đây là bố thí các thứ trang sức đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, khiến tất cả chúng sanh đầy đủ vô lượng Phật pháp, công đức trí huệ đều viên mãn trang nghiêm rời hẳn tất cả sự kiêu mạn, phóng dật. Chư Phật tử! Đại Bồ Tát đem bửu quang ma ni và bửu châu trong búi tóc thí cho chúng sanh không lòng lẫn tiếc, thường siêng tu tập làm đại thí chủ, tu học trí huệ, tăng trưởng xả căn, trí huệ thiện xảo, tâm lượng quảng đại. Đại Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh được pháp quán đảnh của chư Phật thành bậc nhất thiết trí. Nguyện tất cả chúng sanh tròn đủ đảnh tướng được trí đệ nhất đến bờ kia. Nguyện tất cả chúng sanh dùng trí bửu vi diệu nhiếp khắp mọi loài đều khiến rốt ráo đảnh công đức. Nguyện tất cả chúng sanh đều được thành tựu bửu đảnh trí huệ kham thọ sự lễ kính của thế gian. Nguyện tất cả chúng sanh dùng minh châu trí huệ cột trên đảnh đầu mình, tất cả thế gian không ai thấy đến được. Nguyện tất cả chúng sanh đều kham thọ sự đảnh lễ của thế gian, thành tựu huệ đảnh chiếu sáng Phật pháp. Nguyện tất cả chúng sanh đầu đội mão thập lực trang nghiêm, đầy đủ trí huệ thanh tịnh. Nguyện tất cả chúng sanh đến đảnh đại địa, được nhất thiết trí rốt ráo thập lực phá các loài ma ở đảnh cõi dục. Nguyện tất cả chúng sanh được thành đảnh vương vô thượng đệ nhất, được đảnh nhất thiết trí sáng chói, không gì là lu mờ được. Đây là lúc bố thí mão báu, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng khiến chúng sanh được bậc trí huệ thanh tịnh đệ nhất, dùng trí huệ làm bửu quang ma ni vi diệu vậy. Chư Phật tử! Đại Bồ Tát thấy có chúng sanh bị giam cầm cùm xiềng nơi lao ngục tối tăm quá khổ sở không ai cứu vớt, liền liều bỏ của cải vợ con nhẫn đến tự thân mà vào ngục tù cứu các chúng sanh ấy, như Đại Bi Bồ Tát, Diệu Nhãn Vương Bồ Tát. Khi đã cứu độ rồi, tùy theo chỗ cần dùng của họ mà cung cấp đầy đủ, khiến họ được an ổn. Sau đó mới ban cho họ pháp bửu vô thượng, khiến họ tu hành rời phóng dật, gieo căn lành, chẳng thối chuyển nơi Phật pháp. Chư Phật tử! Đại Bồ Tát lúc cứu chúng sanh như vậy, đem công đức này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh giải thoát rốt ráo sự triền phược của tham ái. Nguyện tất cả chúng sanh dứt giòng sanh tử lên bở trí huệ. Nguyện tất cả chúng sanh trừ diệt ngu si sanh trưởng trí huệ dứt hẳn phiền não. Nguyện tất cả chúng sanh dứt sự trói buộc của ba cõi được nhất thiết trí giải thoát rốt ráo. Nguyện tất cả chúng sanh dứt hẳn tất cả phiền não đến nơi bờ trí huệ vô ngại kia. Nguyện tất cả chúng sanh lìa động niệm tư duy phân biệt vào nơi trí địa bồ đề bất động. Nguyện tất cả chúng sanh xa lìa tất cả sự tham dục của thế gian và không nhiễm trước trong ba cõi. Nguyện tất cả chúng sanh được chí nguyện thù thắng, luôn được chư Phật thuyết pháp cho. Nguyện tất cả chúng sanh được tâm giải thoát không nhiễm trước, không hệ phược, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không. Nguyện tất cả chúng sanh được Bồ Tát thần thông, đến tất cả thế giới điều phục chúng sanh khiến lìa thế gian trụ nơi đại thừa. Đây là đại Bồ Tát lúc cứu độ chúng sanh thoát khổ ngục tù đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh khắp vào bậc trí huệ của Như Lai vậy. Chư Phật tử! Đại Bồ Tát thấy tù nhân: Cổ mang gông, tay chân bị trói, sắp bị xử tử, hoặc lóc thịt, hoặc giáo đâm, hoặc hỏa thiêu, hoặc bêu đầu, phải xa bỏ gia đình thân tộc mà bị mọi điều thống khổ. Bồ Tát liền đem thân mình chịu khổ thay thế cho họ, như A Dật Đa Bồ Tát, Thù Thắng Hạnh Vương Bồ Tát, v.v... Chư Phật tử! Lúc đại Bồ Tát tự xả thân mạng cứu chúng sanh, đem thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sanh được thân mạng rốt ráo tận, lìa hẳn tất cả tai hoạ bức não. Nguyện tất cả chúng sanh y chư Phật mà trụ được thọ ký sẽ thành Phật. Nguyện tất cả chúng sanh cứu khắp hàm thức khiến lìa bố úy thoát hẳn ác đạo. Nguyện tất cả chúng sanh được tất cả thọ mạng vào cảnh trí huệ bất tử. Nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn oán địch nạn khổ, luôn được chư Phật, và thiện hữu nhiếp thọ. Nguyện tất cả chúng sanh lìa bỏ tất cả dao gươm, võ khí nghiệp ác, tu hành những nghiệp lành thanh tịnh. Nguyện tất cả chúng sanh lìa khỏi sự bố úy, dưới cội bồ đề phá quân ma. Nguyện tất cả chúng sanh lìa đại bố úy, nơi pháp vô thượng tâm thanh tịnh vô úy có thể làm bậc đại sư tử hống vô thượng. Nguyện tất cả chúng sanh được trí vô ngại tu hành chánh nghiệp nơi các thế gian. Nguyện tất cả chúng sanh đến chỗ vô úy, thường nhớ cứu hộ những chúng sanh khổ. Đây là đại Bồ Tát lúc tự xả thân cứu những tử tù sắp bị hành hình mà đem thiện căn hồi hướng, muốn cho chúng sanh lìa khổ sanh tử được sự vui vi diệu vô thượng của Như Lai." Hán bộ quyển thứ 27 "Chư Phật tử! Đại Bồ Tát bố thí cả búi tóc liền với da đầu cho kẻ đến xin, như Bửu Kế Vương Bồ Tát, Thắng Diệu Thân Bồ Tát và vô lượng Bồ Tát khác. Lúc tay cầm dao bén lóc trọn da đầu, liền với búi tóc cung kính trao cho kẻ đến xin, đại Bồ Tát không lòng động loạn, chỉ | | |