Đây là một diễn đàn của tình bạn ! Mong các bạn vui vẻ và hoà nhã với nhau.

  Trang Chính |  Đăng nhập |  Đăng Ký |  Diễn đàn Chính |  Album VNTQ |  FAQ   

Chào bạn! Mời bạn Đăng Ký hoặc Đăng nhập !


KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU.

Đang cùng đọc đề tài này: không
  In Ra
Diễn Đàn chính >> [THƯ VIỆN VNTHUQUAN] >> Đánh máy truyện cho thư viện online >> KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. Trang: [1] 2 3   Tiếp theo >   >>
 
Đăng nhập với tên:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 6.10.2007 14:50:39   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU.
Nguyên tác CRY, THE BELOVED COUNTRY.
Tác giả ALAN PATON.
Người dịch: NGUYỄN HIẾN LÊ.
CADAO xuất bản lần thứ nhất 6/1969.
SAIGON - VIỆT NAM.

 
 

 

TỰA.


KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU!
 

Quê hương yêu dấu, đây là xứ Nam Phi của các dân tộc Bantu, Soxa…đã trên ba thế kỷ nay sống điêu đứng, tủi nhục, căm thù và sợ sệt dưới sự đàn áp dã man kinh khủng của bọn thực dân Hòa Lan và Anh, dã man tới chính một người Âu, ông W.W. Howitt, trong cuốn Colonisation and Christianity ( Londres 1838 ) đã phải phẫn uất thốt lên rằng: “ Trên khắp thế giới, từ cổ tới kim không có một dân tộc nào đối xử với một dân tộc bị chinh phúc lại mọi rợ, thô bạo, tàn nhẫn và đáng phỉ hổ như những dân tộc tự cho là theo Ki Tô giáo đó ”(1)
Bắt đầu là năm 1652. Ba chiếc tàu của công ty Đông Ấn Hòa Lan chở chừng hai trăm người Hoà Lan ghé Table Bay ở Hảo vọng giác ( mỏm cực nam của Phi Châu ), để dựng ở đó một căn cứ nghỉ ngơi và tiếp tế thức ăn nước uống cho các tàu buôn hương liệu trên con đường từ Amsterdam qua Viễn Đông.
Đất cát phì nhiêu, khí hậu mát mẻ, bọn định cư đó làm ăn phát đạt, không chịu sự chi phối của công ty nữa, tách ra khỏi mẫu quốc, chế tạo lấy những thứ cần thiết và chỉ dùng mỗi cuốn Thánh Kinh để dạy con cháu. Người ta gọi họ là bọn Boer. Ngôn ngữ của họ lần lần biến đổi gồm thâu nhiều tiếng Nam Phi, chỉ còn lơ lớ cái giọng Hòa Lan, tới thế kỷ XIX, thành một ngôn ngữ riêng, tiếng Afrikaans, và người ta không gọi họ là người Boer nữa, mà gọi là người Afrikaner.
Từ Hảo vọng giác, họ chiếm lần đất đai, ăn sâu vào nội địa như tằm ăn dâu, đàn áp, tàn sát các thổ dân Hottentot, Bushmen.
Một nhóm người mà muốn làm chúa tể một khu đất mênh mông xa mẫu quốc, ở chân trời góc bể như vậy, tất nhiên phải đoàn kết với nhau, bảo tồn truyền thống, phong tục, sống tách biệt với người bản xứ, và tinh thần kỳ thị chủng tộc phát sinh từ đó: họ coi người bản xứ là dã man, chỉ đáng làm nô lệ cho họ thôi. Để biện hộ cho thái độ kỳ thị đó, họ cho rằng Thượng Đế đã sinh ra giống người da trắng, và giống người da đen thì dĩ nhiên là Ngài tán thành những hành động nào, có mục đích ngăn cản bước tiến của ngươi da đen. Thậm chí ( họ ) còn qui cho Ngài cái ý tạo ra người da đen để cưa củi và xách nước cho người da trắng nữa.
Nhưng tới năm  1814, Hòa Lan nhường thuộc địa Hảo Vọng giác ( Cape Colony ) cho Anh, thời vàng son của họ kết thúc. Họ phải bỏ phía Nam tiến lên phương Bắc, tính lập một quốc gia khác, sau khi đàn áp được thổ dân Bantu. Dĩ nhiên người Anh theo bén gót họ, nhất là khi tìm được mỏ vàng và kim cương, gây ra một cuộc chiến tranh tàn khốc, trong sử gọi là chiến tranh Boer ( 1899 – 1902 ). Người Anh thắng và Liên bang Nam Phi được thành lập năm 1910, gồm cả người Anh và người Boer, lúc này gọi là người Afrikaner; hai ngôn ngữ được cho là chính thức: tiếng Anh và tiếng Afrikaans. Năm 1961 liên bang đó thành một nước Cộng hòa gốm bốn xứ: Transvaal, Natal, Cap, Orange. Diện tích được 1.220.000 cây số vuông, kinh đô là Pretoria; châu thành lớn nhất là Johannesburg. Dân số năm 1966 được 18 triệu gồm:
3,4 triệu người da trắng   ( non 19% )
12,3 triệu người da đen   ( non 68% )
0,6 triệu người châu Á     ( non 3% )
1,7 triệu người lai             ( non10% )
Vậy người da trắng chiếm không đầy một phần năm tổng số dân. Trong số người da trắng, người Afrikaner chiếm non 6 phần 10 ( còn 4 phần 10 kia là người Anh và các kiều dân Âu ), nghĩa là so với tổng số dân thì họ chiếm khoảng 3 phần 100. Nhưng vì đông hơn người Anh, nên họ đóng vai trò quan trọng trong chính sách của Nam Phi.
Chính sách đó là chính sách kỳ thị chủng tộc, mà kế hoạch là kế hoạch phân cách ( Apartheid )
Từ hồi thành lập đảng Quốc Gia năm 1912 ( quốc gia của người da trắng dĩ nhiên, vì người da đen không có một địa vị gì cả trên quê hương của mình ) chủ trương tách xa khỏi mẫu quốc Anh, rồi tổ chức một giáo hội mới năm 1933, giáo hội cải cách Hòa Lan, giải thích Thánh kinh theo một lối mới hợp với chính sách của họ, thì phong trào kỳ thị chủng tộc cho tới nay chỉ mỗi ngày mỗi tăng chứ không giảm, bất chấp những lời cảnh báo của Liên Hiệp Quốc, bất chấp sự phỉ hổ của nhân loại.
Liên tiếp trong mấy nội các của Malan ( 1948 – 1954 ), Strijdom ( 1954 – 1958 ), Verwoerd ( 1958 – 1966 ) ông này bị ám sát năm 1966. Vorster ( 1966 - ….), sự phân cách chủng tộc đã thành một quốc sách được thi hành triệt để.
Người kỳ thị da đen hăng nhất là thủ tướng Malan. Ông ta vốn là một mục sư Tin Lành, có hồi học ở Đức, được thấy Hitler lên cầm quyền và coi cuốn Mein Kampf ( Cuộc chiến đấu của tôi ) của Hitler là sách gối đầu, rồi sau áp dụng chính sách của Đức Quốc Xã cả về lý thuyết lẫn thực hành.
Về lý thuyết ông ta và đảng Quốc Gia tức hầu hết là người Afrikaaner hoàn toàn tin rằng bạch chủng cao quý hơn hắc chủng. Chỉ có một số rất ít mà họ gọi là “ hạng bất lương ” mới nghi ngờ chân lý khách quan đó, luật tự nhiên của trời đó mà bọn đó không đáng kể. “ Vậy bạch chủng là giống người mà Thượng Đế phú cho những đức cao quý, phải lãnh cái thiên chức truyền bá văn minh châu Âu và đạo Ki Tô để dìu dắt người da đen trên con đường thịnh vượng và hạnh phúc. Vì chỉ có người da trắng mới làm tròn được thiên chức đó, mà muốn làm tròn thì phải đừng lai giống, nên họ giữ gìn cho khỏi bị lai tỏ ra nghiêm khắc, không có tình huynh đệ gì với người da đen cả. Giữ nước da trắng của mình chẳng những là bổn phận đối với chính họ, mà còn là bổn phận đối với người da đen nữa ”(2)
Đúng là giọng điệu của Hitler. Chỉ khác Hitler là Malan không cất những lò thiêu Dachau, Auschwitz mà để cho người da đen được sống tủi nhục điêu đứng trên quê hương của họ. Có thể nói cả Nam Phi là một cái ghetto khu tập trung vĩ đại cho người da đen, và trong ghetto ấy họ thỉnh thoảng bị cảnh pogrom ( hành hung ), y như người Do Thái ở Ba Lan, Nga ngày trước.
Muốn gìn giữ cho khỏi bị lai, mà lại không thể diệt hết giống da đen được thì chỉ có cách dựng lên hàng rào màu da ( Colour bar ), nghĩa là dùng kế hoạch phân cách ( Apartheid ). Họ lý luận như vầy: đã không thể sống chung với nhau được, như vậy lần lần sẽ bình đẳng mất, sẽ lai giống mất, thôi thì sống tách biệt nhau ra: cách biệt về lãnh thổ và cách biệt về chính trị. Người da trắng sẽ sống trên khu vực người da trắng, người da đen trên khu vực người da đen; người da trắng sẽ nắm hết quyền hành về chính trị, tuyệt nhiên không cho người da đen dự vào, đại diện cho người da đen ở Quốc Hội phải là người da trắng. Có như vậy người da trắng mới thực hiện được sứ mạng cao quý của mình; mới duy trì được màu da bảo vệ và phát huy được nền văn minh da trắng “ nền văn minh Ki – Tô giáo ”. Họ tự hào về kế hoạch phân cách đó thực là vẻ vang ( Honorable apartheid ) đáng được cả thế giới tôn trọng.
Để thực hiện kế hoạch đó họ:
Chia đất, chiếm hết 88% đất đai, dĩ nhiên là những miền phì nhiêu nhất. Chỉ để lại cho người da đen và người lai 12%, mà dân số của họ chỉ có 10%, còn dân số của người da đen và người lai tới 78%.
Tất cả những tài nguyên về mỏ: mỏ than, mỏ sắt nhất là mỏ kim cương ở Kimberley, mỏ vàng ở Witwatersrand, dĩ nhiên cũng về họ nữa.
Đặt ra không biết bao nhiêu luật lệ cực kỳ phiền toái để đàn áp, kiểm soát người da đen, in thành một cuốn sách dày tới ba trăm trang, mục đích là để bất kỳ lúc nào muốn bắt giam bất kỳ một người da đen nào cũng được. Người ta đã làm thống kê, chỉ nội trong một năm, có 968.000 vụ bắt bớ và 891.800 vụ xử phạt ngưởi da đen riêng về phạm luật thông hành trên tổng số dân da đen hồi đó là 5.000.000, nghĩa là cứ ba người da đen thì có một người bị phạt hoặc bắt giam.
Đại cương luật đó mà họ gọi là Pass Law như sau: người da đen phải luôn luôn đem theo mình giấy thuế thân ( y như chúng ta hồi Pháp thuộc ), giấy chứng nhận có công ăn việc làm, giấy chứng nhận có nhà ở, giấy được chủ sở cho phép ra khỏi trại ( nếu làm trong các mỏ ), giấy cho phép cư trú….Nếu thiếu một tờ giấy nào thì sẽ bị coi là phạm tội nặng.(3)
Tôi xin kể thêm một vài luật nữa
Luật về khu vực của các nhóm người ( Group Areas Act ). Theo luật này, bộ trưởng bộ Nội Vụ có thể bất kỳ lúc nào bắt cả một cộng đồng da đen dỡ nhà cửa, đất cát của tổ tiên đã cấy cầy từ cả chục đời trước, mà di cư lại một miền khác do chính phủ chỉ định. Luật đó cực kỳ tàn nhẫn, làm cho mười mấy triệu người da đen lúc nào cũng lo ngay ngáy phải bỏ hết của cải, đất đai công việc làm ăn mà cuốn gói ra đi. Nhất là hàng vạn ngươi da đen và ngươi lai Á ( vì luật áp dụng vào hết thảy các người không phải gốc Âu ) đã có một nghề sinh sống ở châu thành, có thể nhất đán bị đưa tới một nơi không có cách nào sinh nhai được.
Luật bảo hiểm thất nghiệp ( Unemployment Insurance act ) năm 1946. Chỉ do một chữ ký của nhà cầm quyền, nhất đán tất cả những công nhân bản xứ nào mà tiền công hằng năm không đầy 182 bảng ( họ là đa số ), sẽ phải nghỉ việc, không được làm việc nữa, vì người da trắng cho rằng họ không đủ tiền đóng bảo hiểm chăng? Như vậy là họ cấm thợ dở làm việc, nhưng một mặt khác, do luật về các thợ xây cất bản xứ ( Native Building worker act ) họ lại cấm những thợ da đen giỏi làm những công việc xây cất có tính cách mỹ thuật. Tóm lại là họ chỉ muốn cho người da đen làm cái hạng tôi tớ tạm dùng được cho họ thôi.
Ngoài ra còn có những luật lệ về hàng rào màu da nữa. Đâu đâu cũng có sự phân cách, từ chỗ ở, tới công viên, xe cộ chở chuyên, dưỡng đường, giáo đường, trường học, khách sạn cửa hàng, phòng giấy, nghĩa địa. Người da đen không được vô những công viên, ngồi trên những cái ghế dành cho người Âu (Europeans only ), không được dùng thang máy sợ làm nhơ nhuốc người da trắng, nhưng nực cười thay người ta vẫn dùng họ để điều khiển thang máy. Trên máy bay của công ty Hàng không Nam phi, những áo gối và mền cho hành khách không phải là người Âu đều phải đánh dấu bằng một miếng thẻ đỏ để khỏi lẫn lộn khi đem giặt. Mà giặt thì phải dùng một cách riêng để “ tẩy uế ”. Các nhà thể thao da màu ở nơi khác không được so tài ở Nam Phi.
Ngay bọn người lai cũng bị cự tuyệt hẳn, không được sống chung với người da trắng, người da trắng không còn được cưới một thiếu nữ lai nữa. Thành thử 1,7 triệu người lai sống chơi vơi không biết dựa vào đâu, bị cả người da trắng lẫn da đen hắt hủi, khinh bỉ.
Chính sách kỳ thị và kế hoạch phân cách đó làm cho người bản xứ mất đất đai, mất những quyền căn bản của con người, không được học hành nhất là học nghề, bộ lạc mỗi ngày một tan rã, con người mỗi ngày một trụy lạc. Họ bị nô lệ hóa theo lối mới chỉ có cách làm đầy tớ mãn kiếp cho người da trắng.
Bốn phần năm dân chúng mà chỉ chiếm được một phần mười đất đai, những đất bỏ đi, không được dậy dỗ cách canh tác, không được hưởng một kế hoạch cải thiện nông nghiệp nào cả ( ít nhất trước năm 1950 ), cho nên mỗi ngày họ một nghèo đói, vì đất đai mỗi ngày một cằn cỗi, bị mưa xối hết đất màu mỡ, bị bò gặm hết cây cỏ, chỉ còn trơ lại đá dưới ánh nắng cây cỏ.
Người da trắng cố tình bỏ đói họ như vậy để buộc họ phải bỏ nhà cửa, làng xóm vào làm cu li trong các đồn điền hoặc các mỏ.
Nhiều thung lũng trước kia mơn mởn, nay hóa trụi khô, chỉ còn các ông già bà cả, đàn bà và con nít sống lây lất để chờ chết. Ở khu Umata, trên 2.000 trẻ em mà chỉ có 4% được biết mùi thịt, 50% được ăn rau còn thì toàn ăn bắp, mà 80% trẻ em đi học chỉ được ăn có một bữa một ngày. Chính sách diệt chủng một cách từ từ thực tàn nhẫn không kém chính sách lò thiêu của Hitler.
Vì vậy bao nhiêu thanh niên cường tráng đều làm cu li hết. Năm 1949, 2.250.000 người da đen làm cu li trong các trại ruộng; họ được nuôi cơm và mỗi tuần được lãnh 10 si linh. Trại nào thiếu nhân công, chính quyền cung cấp cho một số người da đen tội nhẹ, chủ đồn điền cứ việc đem xe lại, lùa họ lên xe, chở về đồn điền, bắt làm quần quật và cuối tháng trả tiền lương cho chính phủ ( 9 pe-ni một ngày ), chứ không phải cho họ.
Mặc dù dùng tới biện pháp đó mà có nơi nhân công vẫn không đủ, chính quyền Nam Phi nghĩ ra cách đánh thuế thật nặng, không phải để có tiền chi tiêu, mà để dân da đen muốn có tiền đóng thuế thì phải làm cu li cho người da trắng, mà đời sống gia đình, đời sống bộ lạc họ bị tan rã.
Lạ lùng nhất là thuế đánh vào chó. Bộ lạc Bondel ở miền tây nam Nam Phi sống về nghề chăn nuôi và săn sơn dương, vì vậy họ phải luyện tập một giống chó rất khôn. Muốn bắt họ làm cu li trong các đồn điền da trắng để lãnh số tiền chết đói là 10 si-linh một tháng, năm 1921 chính quyền đặt ra thứ thuế chó: một con chó mỗi năm đóng một bảng ( nghĩa là bằng hai tháng tiền lương của họ ), hai con chó, mỗi năm phải đóng 2 bảng 10 si-linh: bốn con chó, mỗi năm đóng 7 bảng; năm con chó, mười bảng…cứ như vậy mà lũy tiến. Nghĩa là một người Bondel làm quần quật suốt năm không đủ đóng thuế cho con chó! Thực là khắp cổ kim đông tây, không có một chính sách nào tàn nhẫn bằng (4)
Vô làm cu li trong các mỏ vàng, mỏ kim cương, dân bản xứ còn tủi nhục hơn nữa, hơn bọn phu đồn điền cao su của ta thời Pháp thuộc. Họ phải ký giao kèo làm 12 hoặc 14 tháng, nếu chưa hết hạn mà trốn đi thì bị tội rất nặng. Họ phải từ biệt vợ con mà một mình vô sống trong trại dưới sự giám thị của một tên cặp rằn da trắng tàn nhẫn. Vô trại rồi thì cũng như vô khám, hoàn toàn tách biệt với thế giới, muốn ra ngoài phải có giấy phép của giám đốc sở mỏ. Họ phải nằm trên nệm rơm trải trên nền xi măng. Họ được nuôi nấng và mỗi tháng lãnh hai bảng, nhưng tiền xe từ quê hương họ lại mỏ, tiền giầy, mền, người ta bắt họ chịu, trừ lần vào tiền lương của họ và đa số mãn giao kèo, không để dành một đồng nào dành cho vợ con. Tại nhiều mỏ người ta nghi ngờ phu mỏ nuốt vàng hoặc kim cương, nên bắt họ phải uống thuốc xổ trước khi ra ngoài phố nửa ngày hay một ngày. Dĩ nhiên họ còn bị lục soát tỉ mỉ rồi mới được rời trại.
Chính sách dã man tàn khốc đó, làm cho Nam Phi thành một nhà khám mênh mông nhốt hơn 12 triệu dân da đen thành cái xứ của tù đày, phạm pháp và sợ hãi. Từ da trắng tới da đen mọi người đều ngày đêm lo lắng hồi hộp. Người da đen thì lo không có đủ tiền đóng thuế, lo thất nghiệp, lo bị nhốt khám, bị bắt buộc di cư qua một miền khác; còn người da trắng thì lo bị bọn da đen hành hung, ám sát. Đói quá, bị áp bức quá, bộ lạc và gia đình tan rã, người ta có lúc phẫn uất lên, nổi điên lên còn nghĩ gì tới sinh mạng của mình và của người. Cho nên rất nhiều người da trắng vừa sẩm tối là đóng cửa cài then, không dám ra khỏi nhà. Họ sợ cho hiện tại không bằng sợ cho tương lai, họ là thiểu số, một ngày kia tất cả ngươi da đen biết đoàn kết với nhau nổi dậy đuổi họ, tàn sát họ thì họ chống cự thế nào? Bọn người Anh thì có thể trở về mẫu quốc được, còn bọn người Afrikaner, đã không còn mẫu quốc, tiếng Hòa Lan, cả chục thế hệ rồi không còn nói nữa, thì mới biết đi đâu? Mà cái ngày đó sớm muộn rồi cũng tới, vì cả Châu Phi lúc này đương ngửng đầu lên rồi, ở phía bắc sông Limpopo, tức là từ Nam Phi trở lên, cả trăm triệu người da đen đã đòi quyền sống hiên ngang trên đất đai tổ tiên họ rồi đấy.


Một số ít người da trắng ở Nam Phi một phần vì có lòng trắc ẩn đối với người da đen, một phần vì biết nhìn xa, nhận định được tương lai ghê gớm đó, nên chống lại chính sách kỳ thị của đảng Quốc Gia, như thống chế Smuts, người thua Malan năm 1948, các nghị sĩ quốc hội Friedman, Kentrige, Barlow…một số đại diện cho dân bản xứ ( người da đen được bầu đại diện nhưng đại diện của họ phải là người da trắng ) ở lưỡng viện như Ballinger, Brookes. Hết thảy họ đều ở trong đảng Thống Nhất, đảng đối lập với đảng Quốc Gia luôn luôn nắm chính quyền trong hai chục năm nay. Nổi nhất trong bọn họ là cặp bạn thân thiết Jan F. Hofmeyr và Alan Paton tác giả cuốn Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu này.
Alan Paton sanh năm 1903 ở Pietermaritzburg trong xứ Natal ( Nam Phi ). Thân phụ ông là người Tô Cách Lan tới Nam Phi làm công chức hồi chiến tranh Boer sắp phát; thân mẫu ông gốc gác Anh, nhưng tổ tiên bà đã lập nghiệp ở Nam Phi. Alan Paton học ở trường đại học Pietermaritzburg, chuyên về khoa học nhưng được di truyền của cha, thỉnh thoảng cũng làm thơ. Năm hai mươi mốt tuổi mới về thăm nước Anh.
Ở đại học ra, ông viết hai tiểu thuyết rồi xé bỏ, và làm thơ, viết tiểu luận đăng báo; nghề chính của ông là dạy học trong những trường cho những trẻ em nhà giầu da trắng. Có lần ông dạy ở Ixopo ( xứ Natal ) “ một miền đồi núi nhấp nhô, cỏ xanh biếc, đẹp không sao tả xiết, lúc nào cũng véo von tiếng kêu khắc khoải của con chim titihoga ” mà sau này ông dùng làm bối cảnh cho tiểu thuyết Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu của ông. Tại đó, ông gặp cô Dorrie Francis và kết hôn với cô. Kế đó ông dạy ở Pietermariztburg, và hồi ba mươi tuổi ông bị bệnh trường nhiệt5, phải dưỡng bệnh khá lâu. Chính trong lúc đó ông mới có dịp suy nghĩ về đời ông, thấy cái đời chuyên dạy cho bọn trẻ con nhà giầu là vô vị.
Năm đó, 1934, Nam Phi đang có một cuộc biến chuyển. Chính phủ có một cuộc cải cách nhỏ: những trại giam thiếu nhi và thanh niên phạm pháp dưới hai mươi mốt tuổi không thuộc bộ Tư pháp nữa mà giao cho bộ Giáo dục mà bộ trưởng là tiến sĩ Jan Hofmeyr, một người Afrikaner có tinh thần tấn bộ, cam đảm bênh vực người da đen và hô hào người da trắng phải bỏ cái lối đàn áp đổ máu đi mà tôn trọng nhân phẩm con người bất kỳ màu da nào, phải thay lòng oán thù sợ sệt bằng tình thương yêu, tin tưởng. Paton hồi nhỏ đã có lần cắm trại với ông, lúc này coi ông như một bực đàn anh đáng cho mình noi gương. Lòng yêu quý ngưỡng mộ đó không bao giờ giảm: khi Hofmeyr chết, Paton làm một bài thơ để khóc bạn, rồi đề tặng cuốn Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu, lần tái bản ở Nam Phi.
Khi hết bệnh trường nhiệt, bình phục rồi, tư tưởng Paton thay đổi hẳn: ông muốn sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn, hy sinh cho người da đen. Hofmeyr bổ ông làm giám đốc trại cải huấn Diepkloof ở Johannesburg. Trong mười năm, nhờ sự hướng dẫn của Hofmeyr, ông biến đổi hẳn trại đó: hàng rào dây kẽm gai hạ xuống, vườn hoa thay vào, trại không còn cái vẻ u ám, bi thảm của nhà khám nữa. Ông đối xử nhân đạo với các thiếu niên da đen phạm pháp, dạy dỗ, dắt dẫn, giúp đỡ họ nhưng phương tiện để cải tà quy chính. Một số nhờ ông mà thành con người lương thiện, một số khác thì không như Absalom trong Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu.
Trong mười năm đó, Paton vẫn không bỏ công việc văn chương, nhưng không làm thơ, không viết tiểu thuyết nữa, mà viết những bài luận thuyết nghiêm trang. Ông bảo thời gian đó là thời gian “ khô khan ” trong đời cầm bút của ông. Nhờ tiếp xúc với 650 thiếu niên phạm pháp từ 10 đến 21 tuổi, ông hiểu được tâm trạng của họ, hiểu được những nguyên nhân đưa họ tới sự phạm pháp; nguyên nhân chính là sự tan rã của gia đình và bộ lạc bản xứ mà người da trắng phải chịu trách nhiệm; sự tàn nhẫn của một chính sách kỳ thị, phân cách màu da, làm cho người da đen không có cách nào ngóc đầu lên nổi, nên sinh ra uất hận, căm thù, trụy lạc, hung dữ, chứ bản tính của họ vốn hiền lành và trung thực.
Những bài tiểu luận đó tuy thưa thớt nhưng giọng nồng nàn, chân thành được mọi giới chú ý tới và ông trở thành một người có uy tín về những vấn đề xã hội ở Nam Phi.
Thế chiến thứ nhì bùng nổ, kế hoạch cải huấn ở trại Diepkloof phải bãi bỏ vì thiếu tiền. Khi chiến tranh chấm dứt, ông muốn đi nghiên cứu những trại giam thiếu niên ở Na Uy, Thụy Điển, Anh và Mỹ. Ông phải bán các phiếu bảo hiểm nhân mạng của ông để có tiền lộ phí. Bà vợ khuyến khích ông và ở lại Nam Phi với hai người con.
Ở Thụy Điển, ông xúc động khi đọc tiểu thuyết: Men uất hận ( Grapes of Wrath ) của John Stienbeck và nẩy ý định viết một tiểu thuyết tương tự, tả nỗi uất hận của dân da đen Nam Phi. Vì không quen thuộc ai ở Trondheim mà lại không biết nói tiếng Thụy Điển, ông sống cô liêu trong một phòng ở khách sạn, và một hôm, nguồn hứng dào dạt, ông viết một hơi từ năm giờ tới bảy giờ chiều trong chương đầu của quyển tiểu thuyết. Lúc đó ông chưa bố cục, chưa biết tình tiết sẽ biến chuyển ra sao, nhưng đề tài thì đã rõ ràng: ông sẽ chép lại những kinh nghiệm sống của ông.
Từ Trondhiem, ông lại Oslo rồi London rồi Huê Kỳ. Tới khách sạn nào, ông cũng tiếp tục viết và tới San Francisco thì truyện đã hoàn thành ( 1947 ).
Và khi ông trở lại Nam Phi thì trong hành lý của ông có thêm một bản thảo nó làm cho đời sống của ông thay đổi một lần nữa. Tác phẩm Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu xuất bản lần đầu tiên ở Huê Kỳ ( Scribner, 1948 ) khi được hoan nghênh, khi tái bản ở Nam Phi thì bán chạy hơn bất cứ cuốn nào khác chỉ trừ Thánh kinh. Một năm sau, được dịch ra tiếng Pháp ( nhan đề: Pleure, pays bien aimé – nhà Albin Michel ), và tới nay được dịch ra trên hai mươi ngôn ngữ, và quay thành phim.
Ông nổi danh, từ bỏ chức giám đốc Trại cải huấn Diepkloof sau mười ba năm phục vụ, chuyên tâm sáng tác, làm các công việc xã hội và hoạt động cho đảng Tự Do thành lập năm 1953 để bênh vực công lý và dân chủ cho người da đen, đả phá hàng rào màu da của đảng Quốc Gia. Ông làm Phó chủ tịch rồi Chủ tịch đảng, cất một bệnh viện để săn sóc người da đen bị lao phổi, mở một trường học đầu tiên dạy công nghệ cho trẻ em da đen.
Trong thời gian đó ông sáng tác thêm một truyện nữa: The land and the people of Africa ( Non sông và dân tộc Nam Phi ).
Năm 1954 ông qua Huê Kỳ một lần nữa, viết một loạt bài cho tạp chí Colliers và được đại học đường Yale tặng bằng tiến sĩ danh dự vì công phụng sự nhân loại của ông.
Cơ hồ càng được nhân loại chú ý tới thì chính quyền Nam Phi càng tỏ ra gay gắt trong chính sách kỳ thị, để phản ứng lại.
Mùa thu năm 1955 một ngàn người chống luật phân cách chủng tộc bị bắt giam; năm sau 156 trí thức da trắng gồm: giáo sư, luật sư, khoa học gia, dân biểu Quốc hội cũng bị nhốt khám Johannesburg. Paton tổ chức ngay một cuộc mít tinh để phản đối, kêu gọi cả thế giới ủng hộ phong trào đảng Tự Do của ông đã gây nên, phong trào giải thoát người da đen:
“ Chúng tôi, những người Nam Phi, tuyên ngôn cho toàn thể đất nước chúng tôi và thế giới biết: Nước Nam Phi thuộc về tất cả những người sống trên đó, da đen và da trắng, và không chánh phủ nào có thể đòi quyền thống trị nó 6 trừ khi chánh phủ đó dựa vào ý chí toàn dân.”
Như vậy người da đen phải được bình quyền với người da trắng, mà họ đông gấp năm người da trắng, thì người da trắng sẽ vô phương làm mưa làm gió gì ở Nam Phi. Danh tiếng ông lớn quá, người ta gọi ông là : “ người bảo vệ ý thức Nam Phi ”, ông được mọi người trọng vọng vì ông rất nhân từ giản dị - mà cả bà cũng vậy – nên chính quyền thực dân Nam Phi không dám động tới ông, cứ dùng chính sách ỳ ra và làm thinh để đối phó lại: “ hắn nói thì cứ nói, chúng ta kỳ thị thì cứ kỳ thị ”.
Cho nên E . S . Sachs, một chiến sĩ da trắng tích cực chiến đấu cho người da đen, sanh ở Johannesburg trong cuốn The choice before South Africa ( London 1952 ) - bản dịch ra tiếng Pháp, nhan đề là L’Afrique du Sud au carrefour ( Nam Phi ở ngã ba đường ) Ed.du Seuil 1954 – chê ông rằng không thể thay đồi được tình thế chính trị ở Nam Phi, nhiều lắm là chỉ tuyên truyền thôi.
Đúng, đường lối của Paton có vẻ ôn hòa quá. Đọc cuốn Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu này, độc giả sẽ thấy ông dùng những lời nhân ái của chúa Ki Tô để khuyên người da trắng bỏ chính sách kỳ thị, đàn áp đi, lo công việc giáo hoá dân bản xứ và cải thiện phương pháp canh tác để mức sống của họ khá lên, tổ chức lại đời sống cho họ, để gia đình bộ lạc họ khỏi bị tan rã. Đường lối đó không gây căm thù và đổ máu, nhất định là chậm - phải chịu nạn thực dân đàn áp bóc lột như chúng ta mới thấy được cái lòng lang dạ thú của bọn đó không dễ gì lay chuyển được, cải hoá được; nhưng bảo rằng tác phẩm của Paton chỉ có cái công cụ tuyên truyền thôi thì cũng hơi quá: từ hồi Verwoerd lên cầm quyền Thủ tướng ( 1958 ) mặc dầu sự kỳ thị còn gay gắt hơn trước nhưng đời sống của người da đen đã cải thiện được khá - trường học đã được mở nhiều, công tác khuếch trương nông nghiệp đã tăng tiến – như vậy thì biết đâu chẳng là do công lao tuyên truyền của Alan Paton? Vả lại trong một cuộc cách mạng công việc tuyên truyền nào mà chẳng cần thiết.
Có người lại trách Paton rằng vì đưa giải pháp ôn hoà mà làm cho dân da đen quên lãng việc chiến đấu. Xét như vậy là hẹp hòi. Trong việc dành lại cho người da đen cái quyền được sống cho ra con người trên quê hương của họ, người ta phải chia nhau công tác tuỳ khả năng và tính khí cá nhân. Không phải chỉ có mỗi một con đường là đưa tới La Mã.
Ở trên tôi đã nói Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu ghi lại những kinh nghiệm sống của tác giả. Nó là tiểu thuyết mà hơi có tính cách tự truyện.
Bối cảnh, miền thung lũng và đồi núi Ixopo, là nơi Paton đã dạy học. Johannesburg là nơi ông đã sống trên mười năm, khi làm Giám đốc trại Cải huấn Diepkloof; mà trại cải huấn này chính là trại cải huấn ông tả trong truyện.
Trừ hai nhân vật có thực, giáo sư Hoernle và Ernest Oppenheimer tác giả chỉ nhắc qua, còn các nhân vật khác đều do ông xây dựng cả, nhưng xây dựng trên sự thật. Ta có thể chắc chắn rằng viên công chức Anh trẻ tuổi ở trại cải huấn là ông, vợ chồng Arthur Jarvis là ông và vợ ông, và đoạn “ Tâm sự của một người Nam Phi ” ( chương 24 ) chính là ghi tâm sự của ông:
Tôi sinh ra trong một trại ruộng, trong một gia đình nền nếp, được cha mẹ chiều chuộng, cung cấp cho đủ, không thiếu thốn thèm khát gì cả. Cha mẹ tôi là những người ngay thẳng, hiền từ…Các người đã dạy cho tôi tất cả những điều cần biết về danh dự, nhân ái, bao dung. Nhưng về Nam Phi tôi chẳng học được chút gì cả ( nghĩa là chẳng biết được chút gì về bi kịch của Nam Phi, về tình trạng thê thảm của người da đen cả ). Cho nên, tôi sẽ hy sinh đời tôi, thì giờ của tôi, sức lực của tôi, tài năng của tôi để phụng sự Nam Phi….”
Ông tưởng tượng câu chuyện bi đát của gia đình mục sư da đen Stephen Kumalo, tan nát vì chính sách tàn nhẫn của ngườ da trắng; em gái thì thành một gái điếm, còn đứa con trai duy nhất thì thành một kẻ sát nhân, bị xử giảo. Ông tả đời sống của người da đen trong những căn nhà ổ chuột ( hai phòng chứa trên mười người nhà trẻ, trai gái ) ở tại một châu thành xây dựng nhờ vàng của đất đai Nam Phi: châu thành Johannesburg. Châu thành đó, năm 1946, hồi chuyện xảy ra, chỉ có 700.000 người - hiện nay gần hai triệu người ( 1968 ) – mà đã là một ổ trụy lạc, trộm cướp, cờ bạc, rượu chè, đĩ điếm và mọi người sống nơm nớp trong cảnh sợ sệt: người da đen thì sợ thất nghiệp, sợ bị nhốt khám; người da trắng thì sợ bị cướp bóc, hành hung.
Trong lời giới thiệu bản dịch ra tiếng Pháp, tác giả lớn tiếng vạch tội của người đồng chủng:
Người da trắng không phải chỉ xây dựng các châu thành, xưởng máy mà còn đem lại ( cho người da đen ) các thứ rượu mới, các món hàng cám dỗ, súng ống, các bệnh mới lạ nữa….”
Bọn thực dân đó đi tới đâu gây trụy lạc, đổ vỡ căm hờn tới đó. Giọng ông nồng nàn nhất khi đả kích nền văn minh Ki Tô giáo:
“ Sự thực là nền văn minh Ki Tô giáo của chúng ta đầy những mâu thuẫn nan giải. Chúng ta tin ở tình huynh đệ của con người, mà ở Nam Phi này, chúng ta lại không muốn có cái tình huynh đệ đó….Chúng ta tin rằng phải giúp đỡ các huynh đệ hạ đẳng mà chúng ta lại muốn họ ở hoài tình trạng hạ đẳng….Sự thực là nền văn minh của chúng ta chẳng có gì là Ki Tô giáo cả, nó là một sự hỗn hợp bi đát gồm một lý tưởng cao cả lẫn lộn với sự thực hành nhút nhát….một tình nhân ái bao la lẫn lộn với lòng tham lam chụp giật mà sợ sệt…” ( chương 21 )
Nhiều đoạn cảm động như đoạn tả cảnh dân da đen sống chui rúc ở Johannesburg kiếm cả năm không ra một căn nhà, sau phải rủ nhau cất chòi ở bên cạnh đường xe lửa trong một đêm cho xong; đoạn tả tâm trạng của mục sư Kumalo vì đau xót bực tức mà dằn vặt đứa con trai khi vô thăm nó trong khám, dằn vặt thiếu nữ thơ ngây có mang với con trai ông; đoạn Kumalo nói dối để gây nỗi hoang mang sợ sệt trong lòng con trai ông cho bỏ ghét….Những đoạn đó lời văn, nhất là văn đối thoại cực kỳ bình dị, mộc mạc làm cho truyện càng thêm bi đát và Gabriel Marcel phải khen là tiểu thuyết đạt được cái mức trác tuyệt, đáng làm kiểu mẫu, vì không tô chuốt, che dấu một chút gì để làm vừa lòng ai cả.
Nhưng chúng ta còn nhận thấy tác giả còn là một thi sĩ. Chương đầu tả cảnh đồi núi và thung lũng ơ Ixopo, và chương cuối tả tâm trạng của mục sư Kumalo vô núi thức một đêm để cầu nguyện, chờ lúc mặt trời mọc, tức lúc mà con trai ông bị xử tử, hai chương đó đáng được coi là những bài thơ bằng văn xuôi, rất đẹp mà cũng rất buồn. Rõ ràng là tác giả tha thiết yêu Nam Phi, quê hương của người da đen mà cũng là quê hương của ông.
Để giữ màu sắc của Nam Phi, chúng tôi chỉ phiên âm và chú thích chứ không dịch một số tiếng Nam Phi như Umfundisi, Umnumzana, Tixo….và trong những đoạn đối thoại, chúng tôi rán theo sát cái giọng chất phác của các nhân vật da đen.
Chúng tôi mong rằng sẽ có dịp giới thiệu với độc giả một tiểu thuyết nữa cũng về Nam Phi, cũng rất cảm động “ viết bằng máu ” cuốn Tell Freedom của Peter Abrahams, một văn sĩ lai cũng có hồn thơ như Alan Paton.
Saigon ngày 25-11-1968.
NGUYỄN HIẾN LÊ.


Chú thích:
1.Do René Dumont dẫn trong L’Afrique noire est mal partie…Ed du Seuil. 1962.
2.Những vấn đề chủng tộc của Pierre Gouron và Georges Balandier trong Ecyclopédie francaise. La Vi Internationale-Conflits-Larousse.
3.Peter Abrahams, trong tiểu thuyết Tell Freedom đã kể ra tất cả chín thứ giấy tờ:
- Một người da đen hoặc lai từ làng muốn ra châu thành ( chẳng hạn Johannesburg ) để làm ăn thì trước hết phải xin một tờ giấy phép đi đường. Tới châu thành rồi phải xin ngay một tờ giấy “ căn cước thông hành ”. Mỗi tháng sẽ xin đổi giấy và phải đóng một số tiền bằng 100 quan hồi 1956. Nếu hết sáu ngày cư trú đặc biệt rồi, không kiếm được việc làm mà không lại Phòng thông hành, xin đổi giấy phép khác, thì sẽ bị nhốt về tội lêu lổng.
- Nếu kiếm được việc làm, thì sẽ được cấp cho một tờ thông hành hàng tháng, sự thực giấy này là tờ giao kèo làm việc. Trong những ngày làm việc thì phải ở trong trại của sở mướn mình tại ngoại ô; cuối tuần được nghỉ, muốn ra châu thành chơi, thì phải xin giấy phép du lịch và chỉ được đi chơi một lát thôi rồi về trại.
- Nếu quen ai ở châu thành, muốn ra thăm cả ngày chủ nhật thì phải có một giấy thông hành đặc biệt cho suốt cả ngày. Người quen đó dỉ nhiên là người da đen hoặc người lai, ở trong một cái “ lỏm đất ” ( enclave ) trên địa phận của một người da trắng; muốn vô cái lỏm đó thì phải xin một tờ thông hành cho vô thăm.
- Làm việc một thời gian, được chủ tin cậy, muốn xin ra ở ngoài trại thì phải xin chủ giới thiệu với Sở thông hành, để sở phát cho một giấy phép cư trú. Ra ở ngoài trại rồi, mà tối, muốn đi đâu chơi sau chín giờ, thì phải có một giấy phép thông hành đặc biệt đi đêm, vô phúc mà thiếu thì bị bắt nhốt khám.
4.Theo cụ Nguyễn Thượng Hiền trong bài “ Tang thương lệ ngữ ” thì trước thế chiến thứ nhất, thực dân Pháp cũng đánh thuế chó trong các châu thành Việt Nam: một đồng một năm. Một đồng hồi đó đủ nuôi một người bình dân trong một năm.
5.Ta thường gọi sai là thương hàn: Enteric Fever – Fievre typhoide.
6.Hoài Khanh, Văn hào Alan Paton và nạn kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi – Bút hoa số 19, năm 1965



< Sửa đổi bởi: Ct.Ly -- 20.11.2007 0:07:34 >
Post #: 1
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 7.10.2007 18:07:18   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
CUỐN MỘT.



Chương 1.
 
 
Một con đường cái đẹp đẽ từ Ixopo vào miền đồi núi. Đồi miền này nhấp nhô, cỏ xanh mướt, đẹp không sao tả xiết. Con đường tiến vào đó, leo mười hai cây số tới Carisbrooke; và ở đây, khi nào không có sương mù, nhìn xuống dưới chân người ta có thể thấy một trong những thung lũng đẹp nhất của Châu Phi. Bốn bề là cỏ và phượng vĩ (1), văng vẳng tiếng kêu khắc khoải của con titihoya (2), một con chim ở miền đồng cỏ. Ở dưới chân là dòng sông Umzimkulu bắt nguồn từ Drakensberg và chảy ra biển; phía bên kia sông, trùng trùng điệp điệp, hết đồi này tới đồi khác, và sau những đồi đó là dãy núi Ingeli và Đông Griqualand (3).
Cỏ tốt và rậm, phủ kín mặt đất. Nó giữ nước mưa và sương, nhờ vậy mà nước mưa và sương thấm xuống đất, thành những dòng suối chảy ra các khe. Cỏ được giữ gìn kỹ lưỡng: ít bò lại ăn mà cũng ít có đám cháy tàn phá nó làm cho nó chết dụi. Bạn nên cởi giầy mà đi vì đất đó thiêng liêng, từ hồi khai thiên lập địa nó ra sao thì nay nó vẫn vậy. Bạn nên duy trì nó, bảo vệ nó, nuôi dưỡng nó vì nó duy trì con người, bảo vệ con người, nuôi dưỡng con người. Diệt nó thì con người sẽ bị diệt.
Chung quanh chỗ bạn đứng đây cỏ tốt và rậm phủ kín mặt đất. Những dãy đồi xanh tốt phì nhiêu này đứt quãng. Nó tiến xuống phía thung lũng và càng xuống nó càng thay đổi. Nó hóa ra đỏ hoe và trụi; nó không còn giữ nước mưa và sương được nữa, mà các dòng suối cạn khô ở dưới khe. Nhiều bò lại ăn cỏ quá và nhiều đám cháy tàn phá nó. Ở đó, bạn nên đi giầy vào, vì đất nhám và cứng, đá nhọn, sẽ cắt gan bàn chân bạn đấy. Cỏ ở đây không được duy trì, bảo vệ, nuôi dưỡng, nó cũng không duy trì con người, bảo vệ con người, nuôi dưỡng con người nữa. Đã từ lâu lắm, không còn nghe thấy tiếng kêu khắc khoải của con titihoya.
Những ngọn đồi lớn đỏ hoe vươn lên tiêu điều, và đất rớt ra từng mảng như da thịt ở cơ thể rã ra vậy. Chớp loé lên sáng rực, mưa trên trời trút xuống, các dòng sông đã cạn khô lại hồi sinh, đầy nước đỏ như máu của đất. Dưới thung lũng, bọn đàn bà rán vun cào chút đất còn lại để trồng bắp, và bắp may lắm cao được tới đầu người. Chỗ đó là thung lũng của các ông già bà cả, của đàn bà và trẻ con. Bọn đàn ông đi hết rồi, bọn thanh niên, trai gái đi hết rồi. Đất không thể nuôi họ được nữa.


 
Chú thích: 
1.Còn gọi là cây tiểu dương xỉ, hoặc cây đuôi chồn. Đừng lầm với cây phương tới mùa thi trổ hoa đỏ.
2.Nghe tiếng hót người ta đặt tên cho nó như vậy: ti-ti-ho-a.
3.Vì còn có Tây Griqualand.


< Sửa đổi bởi: Ct.Ly -- 20.11.2007 0:09:25 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 2
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 8.10.2007 12:12:10   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
      2.
 
 
Một em gái chạy lại ngôi giáo đường vách ván lợp tôn, tay cầm bức thư ra vẻ quan trọng lắm. Em rụt rè gõ cửa một ngôi nhà ở bên cạnh giáo đường. Mục sư Stephen Kumalo đang ngồi viết ở bàn, ngửng đầu lên, bảo: “ Vô đi ”.
Em nhỏ nhè nhẹ đẩy cánh cửa, như sợ sệt không dám đẩy mạnh vì ngôi nhà uy nghiêm quá, rồi rón rén bước vô.
- Thưa Umfundisi (1) con mang lại một bức thư đây.
- Một bức thư ư? Ở đâu vậy con?
- Thưa Umfundisi, ở thương điếm ạ. Ông da trắng ông ấy bảo con đem lại cho Umfundisi.
- Ngoan lắm. Thôi con về mạnh giỏi.
Nhưng em nhỏ không đi ra ngay mà còn đứng lại, chân này cọ vào chân kia, ngón tay rờ rờ mép bàn của mục sư.
- Có lẽ con đói hả?.
- Thưa Umfundisi, con không đói lắm.
- Vậy chắc con hơi đói?
- Dạ, con hơi đói.
- Thế thì vô kiếm mẹ (2) đi. Có lẽ có cái gì cho con ăn đấy.
- Con cám ơn Umfundisi.
Em nhỏ rón rén bước, như ngại chân mình có thể làm hư một ngôi nhà to lớn đẹp đẽ như vậy, có bàn có ghế, có đồng hồ quả lắc, có một cây trồng trong chậu kiểng, và rất nhiều sách, nhiều sách hơn cả ở trường học nữa.
Kumalo ngó bức thư. Nó lem luốc, nhất là ở chung quanh con tem. Chắc chắn nó chuyền qua tay nhiều người. Thư gởi từ Johannesburg. Ông cũng có nhiều bà con ở Johannesburg. Người em của ông tên là John làm thợ mộc, ra đó làm ăn và làm chủ một cửa tiệm ở Sophiatown. Em gái ông tên là Gertrude, nhỏ hơn ông hai mươi lăm tuổi, sanh hồi cha mẹ ông đã già, cũng dắt con trai nhỏ ra đó tìm chồng làm thợ mỏ đã bao lâu không về thăm nhà. Sau cùng người con trai độc nhất của ông cũng ra đó tìm cô là Gretrude và cũng không trở về. Rồi còn nhiều bà con xa cũng làm ăn ở ngoài đó nữa, thành thử khó mà đoán được bức thư đó của ai, vì đã lâu lắm rồi, có ai viết thư từ gì cho ông đâu, làm sao ông nhớ rõ được tuồng chữ.
Ông lật đi lật lại bức thư, không có một dấu hiệu gì cho biết thư của ai. Ông ngại mở bức thư vì mở rồi thì không dán lại được nữa.
Ông gọi vợ ra hỏi.
- Em nhỏ đó đi chưa?
- Nó đương ăn, mình à.
- Để yên cho nó ăn. Nó đem lại một bức thư nè. Có chuyện gì vậy mình có biết không?
- Làm sao em biết được?
- Anh cũng không biết. Này, coi đi.
Bà vợ cầm bức thư lên, rờ nắn. Nhưng rờ nắn bao thư thì làm sao biết được là của ai gởi tới. Bà lớn tiếng, chậm rãi, đọc từng chữ trên địa chỉ:
           Mục sư Stenphen Kumalo.
           Giáo đường Thánh Mark.
                     Ndotsheni.
                      NATAL.

Bà thu hết can đảm lại, bảo:
- Không phải của con mình đâu.
Ông mục sư đáp:
- Không phải của nó. - Rồi ông thở dài.
Bà bảo:
- Nhưng có thể là có tin về nó.
- Ừ, có thể như vậy.
Bà nói:
- Không phải là thư của cô Gretrude.
- Có thể là của chú John?
- Không phải của chú John đâu.
Cả hai đều im lặng, rồi bà vợ nói:
- Chúng mình mong thư biết bao, mà khi thư tới thì sợ không dám mở.
- Ai mà sợ? Mình bóc đi.
Bà chậm chạp, cẩn thận bóc bức thư, vì ít khi bà nhận được thư lắm. Bà mở rộng bức thư, để trước mặt rồi chậm chạp, cẩn thận đọc nho nhỏ tới nỗi ông không nghe rõ được. Ông bảo:
- Mình đọc lớn lên đi.
Bà đọc lớn tiếng, từng từng chữ như các em Zulu đánh vần tiếng Anh vậy.


           Hội truyền giáo, Sophiatown.
           Johannesburg 25 - 09 – 49.
                  Thưa Đạo huynh.
Tôi có dịp được gặp một thiếu phụ ở đây, tại Johannesburg. Thiếu phụ đó tên là Gertrude Kumalo ở giáo đường Thánh Mark Ndotsheni. Thiếu phụ đó đau nặng nên tôi xin Đạo huynh lại ngay Johannesburg. Đạo huynh lại nhà Mục sư Theophilus Msimangu, ở hội truyền giáo Sophiatown và tối đó tôi sẽ chỉ dẫn Đạo huynh. Tôi cũng sẽ tìm một chỗ ở không tốn tiền lắm cho Đạo huynh.
                         Thân ái chào Đạo huynh.
                            Theophilus Msimangu.


Hai ông bà im lặng hồi lâu. Sau cùng bà hỏi:
- Sao, mình?
- Mình hỏi cái gì?
- Bức thư đó. Mình đã nghe kỹ rồi chứ?
- Ừ, anh đã nghe kỹ. Rầy rà thật.
- Ừ, rầy rà thật. Mình tính sao bây giờ?
- Em nhỏ đó đã ăn xong chưa?
Bà vô bếp và dắt đứa nhỏ trở ra.
- Con ăn xong chưa?
- Thưa, xong rồi ạ.
- Thôi con về mạnh giỏi nhé. Cảm ơn con mang lại bức thư nhé. Con nhớ dùm cho nhé.
- Dạ. Thưa Umfundisi ở lại mạnh giỏi. Thưa mẹ ở lại mạnh giỏi.
- Ừ, con về mạnh giỏi.
Em nhỏ rón rén bước ra, khe khẽ khép cửa lại, quay quả nắm thật chậm như sợ thả nó ra thình lình quá.
Khi đứa bé ra rồi, bà vợ hỏi:
- Sao, mình tính sao?
- Về chuyện gì hả mình?
Bà kiên nhẫn đáp:
- Về chuyện bức thư đó.
Ông thở dài bảo:
- Mình đem số tiền Thánh Chad ra cho anh.
Bà bước ra một lát rồi trở vô chìa cho ông một hộp thiếc, hộp thiếc đựng cà phê hay ca cao. Ông cầm cái hộp trong tay, ngắm nghía nó một hồi như thể tìm một giải pháp gì ở trong hộp, cho tới khi bà bảo:
- Mình ạ, phải đi chứ.
Ông nói:
- Tiêu số tiền này ư? Sao đành? Để dành cho thằng Absalom lại học ở Thánh Chad mà.
- Thằng Absalom sẽ thôi không lại học ở Thánh Chad.
Ông gắt lên:
- Sao mà mình ăn nói như vậy được? Sao mà thốt ra một lời như vậy được?
Bà chán nản đáp:
- Nó ở Johannesburg. Có ai ra Johannesburg mà trở về nhà bao giờ đâu?
- Chính mình nói vậy đấy nhé. Đã nói rồi thì thôi. Số tiền này để dành để dùng việc đó, nhưng thôi, sẽ không bao giờ dùng về việc đó nữa. Mình đã mở cửa ra rồi, và cửa đã mở rồi thì phải bước ra. Và chỉ có Tixo (3) là biết được rồi việc này sẽ đi đến đâu.
Thấy chồng đổ lỗi cho mình, bà đáp:
- Đâu phải em mở. Nó đã mở từ lâu rồi mà mình không muốn thấy đấy thôi.
Ông Mục sư có giọng gay gắt:
- Chúng mình có một thằng con trai. Người Zulu thường có nhiều con, mà chúng mình có mỗi một con trai. Nó ra Johannesburg, và như mình nói: có ai ra Johannesburg mà trở về nhà bao giờ đâu. Họ cũng không viết thư về nhà nữa. Họ không lại họ ở Thánh Chad những điều tối cần cho đời sống một người da đen. Họ ra Johannesburg và ở đó họ biệt tăm, không ai có tin tức gì về họ nữa. Và số tiền này….
Thấy vợ làm thinh ông nói tiếp:
- Số tiền này ở trong tay tôi.
Bà vẫn làm thinh ông lặp lại:
- Nó ở trong tay tôi, nè.
Bà vợ bảo:
- Mình cứ làm khổ mình.
- Anh làm khổ anh ư? Anh làm khổ anh ư? Không anh không làm khổ anh, mà chính họ làm khổ anh. Chính con trai anh, chính em gái anh, chính em trai anh làm khổ anh. Họ bỏ nhà ra đi và không viết thư về nữa. Có lẽ họ không biết rằng chúng mình đau khổ. Có lẽ mình đau khổ họ chẳng quan tâm gì tới.
Ông giận dữ lớn tiếng:
- Mình lại hỏi ông da trắng đó đi. Có lẽ còn nhiều bức thư nữa. Có thể rớt đâu dưới quầy hoặc vướng đâu ở đống bao thực phẩm mà không thấy. Rồi nhìn lên ngọn cây xem, chưa biết chừng gió thổi nó bay lên trên đó.
Bà vợ gào lên:
- Mình cũng lại làm khổ tâm em nữa.
Ông bình tĩnh lại, nhỏ nhẹ như xin lỗi:
- Đáng lẽ anh không nên nói vậy.
Ông chìa hộp thiếc bảo vợ:
- Mình mở nó ra.
Hai tay bà run run đỡ lấy hộp thiếc, mở ra, dốc hết lên trên mặt bàn vài tấm giấy bạc cũ lem luốc và một mớ tiền bạc và tiền đồng.
- Mình đếm được xem bao nhiêu.
Bà chăm chỉ đếm, lật cá tấm giấy bạc và các đồng tiền để coi cho chắc xem mỗi tấm, mỗi đồng là bao nhiêu tiền.
- Mười hai bảng, năm si-ling và bảy pen-ni.
Ông Mục sư bảo:
- Anh sẽ lấy đi tám bảng, và hết chỗ tiền lẻ.
- Mình cứ cầm hết đi. Có lẽ phải trả tiền bác sĩ, tiền dưỡng đường và tiêu vào chuyện khác nữa. Mình cầm hết đi. Và mang theo cuốn sổ chương mục bưu điện. Mình còn mười bảng gởi ở đó. Đem theo hết mà tiêu.
- Số tiền đó anh để dành mua lò cho mình.
- Làm sao được. Còn số tiền kia, tuy để dành cho con nó đi học ở Thánh Chad, nhưng em cũng có ý muốn cho mình dùng một phần để may một bộ đồ đen mới, mua một cái nón đen mới và mấy cái cổ cồn trắng mới.
- Cái đó nữa, cũng đành phải dẹp thôi. Thử tính coi, anh sẽ đi…
- Đi ngày mai. Từ Carisbrooke.
- Vậy anh phải viết thư ngay báo cho đức Giám mục hay anh sẽ đi vắng không biết bao giờ mới về được.
Ông Mục sư nặng nề đứng lên, đi lại đứng trước mặt vợ, bảo:
- Anh ân hận đã làm phiền lòng mình. Anh qua bên giáo đường cầu nguyện đây.
Ông bước ra ngoài và bà nhìn qua chiếc cửa sổ nhỏ, thấy ông chậm chạp tiến lại cửa giáo đường. Rồi bà lại ngồi ở bàn, quẹo đầu xuống bàn, im lặng, nhẫn nại đau khổ như mọi phụ nữ da đen, như loài bò, như các sinh vật không nói được.

Con đường nào cũng đưa tới Johannesburg. Suốt các đêm dài, các chuyến xe lửa chạy về Johannesburg. Ánh đèn trong các toa lắc lư chiếu xuống hai bên đường rầy, lên những đám cỏ và tảng đá trên cánh đồng thiêm thiếp. Sung sướng thay những cặp mắt nào chợp được.


Chú thích:
1 -Tiếng của dân tộc Zulu ( một dân tộc ở Nam Phi ) có nghĩa là mục sư, mà cũng trỏ người đáng trọng, tựa như tiếng “ thày ” của ta. Đọc là Um-fun-di-s ( chữ i cuối cùng đọc rất nhẹ ). Chúng tôi tôi để nguyên cho có màu sắc địa phương. Miền này theo đạo giáo phái Anglican của Anh. Cũng thờ chúa Ki tô, nhưng không chịu hệ thống của giáo hội La Mã.
2 - Các mục sư giáo phái Anglican được lập gia đình. Mẹ đây là vợ mục sư. Tín đồ gọi mục sư là cha, nên gọi vợ mục sư là mẹ.
3 - Một tiếng của thổ ngữ Xosa, tựa như tiếng Trời của ta. Đọc là Tích-xo, hoặc Tích-co
 




< Sửa đổi bởi: Ct.Ly -- 20.11.2007 0:11:38 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 3
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 12.10.2007 17:53:55   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
3.
 
 
Chiếc xe lửa như một đồ chơi con nít leo con đường sắt hẹp téo, từ dưới thung lũng Umzimkulu lên miền đồi. Nó leo lên tới tận Carisbrooke rồi ngưng lại một chút, hành khách có thể xuống xe nhìn xuống thung lũng rộng từ đó họ khởi hành. Đừng lo xe chạy mà bỏ mình lại vì hành khách thưa thớt lắm, biết mặt nhau hết. Mà dù xe có chạy, bỏ bạn lại thì chẳng sao vì trừ phi tàn tật hoặc già nua, còn thì ai cũng có thể chạy theo mà đuổi kịp nó được.
Nếu trời có sương mù thì nhìn xuống thung lũng đó không thấy gì đâu. Sương mù như vấn vương chung quanh bạn và ở dưới chân bạn; chiếc xe lửa và hành khách hợp thành một thế giới riêng biệt. Có người không thích sương mù, cho nó là lạnh lẽo, ảm đạm. Nhưng có người lại thích, thấy nó có cái gì bí mật, huyền ảo, hấp dẫn như mở đầu cho một cuộc phiêu lưu, như tiếng gọi của cảnh xa lạ. Chiếc xe đi qua một thế giới hư ảo và nhìn qua những cửa kính đóng sương bạn có thể thấy lờ mờ những đám cỏ và phượng vĩ ở hai bên đường rầy. Ở đây, cứ tới mùa thì trổ đầy hoa lan quan tử xanh, loài đằng rừng, loài từ bi đỏ như lửa, và đôi khi người ta nhìn thấy cả một hai cây ráy ở dưới thung lũng nhỏ. Và luôn luôn sau những đám hoa, hiện lên những bụi miên liễu như những bức tường mù mù, có vẻ những hình ma trong sương.
Đứng đợi xe ở Carisbrooke trong khi nó từ dưới thung lũng lớn leo lên, là một việc thú vị. Những người đã quen biết rồi, có thể nghe mỗi tiếng còi mà cho bạn biết đích xác xe lửa đã tới đâu, nó đương chạy ngang qua con đường nào. Nhưng Stephen Kumalo thì mặc dù tới đây sớm cả giờ đồng hồ mà cũng không để ý nghe những câu chuyện đó. Chuyến đi này xa quá, và cũng tốn tiền quá. Không biết người em gái của ông đau nặng ra sao, tốn bao nhiêu tiền chạy chữa đây? Và nếu phải đưa em gái về quê nhà thì tốn kém thêm bao nhiêu nữa? Và Johannesburg là một đô thị lớn cơ man nào là đường phố tới nỗi người ta bảo đi suốt đời cũng chưa hết một lượt. Lại thêm cái nỗng nỗi phải đi xe buýt nữa, mà không phải như ở đây, chỉ có một chiếc xe buýt nên không thể lầm xe được. Ở đó có vô số xe buýt; mười chiếc, có lẽ hai chục chiếc chạy qua mới có một chiếc đúng đường của mình. Nếu lên lầm xe thì nó có thể đưa mình tuốt tới một chỗ khác. Và người ta còn bảo đi băng qua đường nguy hiểm lắm, mà làm sao không băng qua đường được? Chị Mpanza ở Ndotsheni ra ngoài đó thăm chồng, lúc chồng hấp hối, trông thấy xe cán chết đứa con trai của chị. Thằng nhỏ mười hai tuổi, thấy cái gì cũng lạ, thích lắm, đâm bổ vào chiếc xe còn chị rụt rè đứng ở bờ lề. Và chiếc xe cam nhông bự đã đè bẹp con chị ngay trước mắt chị.
Còn thêm nỗi lo ngại lớn này nữa - nỗi lo ngại lớn nhất vì rất ít khi thổ lộ ra – là đứa con trai của ông bà ở đâu? Tại sao nó chẳng cho biết tin tức gì cả?
Sau cùng một hồi còi vang lên và chiếc xe tiến lại. Ông Mục sư quay lại nói với người thân tín đi tiễn:
- Cảm ơn em, em đã sẵn lòng giúp đỡ tôi.
- Thưa Umfundisi, giúp được Umfundisi là cái vui của tôi. Cái tay nải này nặng lắm. Một mình Umfundisi xách không nổi đâu.
Chiếc xe đã tới gần. Nó sắp vô ga.
- Thưa Umfundisi.
- Cái gì vậy em?
- Thưa Umfundisi, tôi muốn nhờ Umfundisi một việc.
- Cứ nói đi.
- Umfundisi biết anh Sibeko chứ?
- Biết.
- Đứa con gái của Sibeko hồi trước đi làm ở đây cho người da trắng uSmith (1) ở Ixopo. Rồi khi cô con gái của uSmith lấy chồng, ra ở Johannesburg thì con gái của Sibeko cũng theo họ ra ngoài đó làm cho họ. Địa chỉ đây, có ghi tên mới của thiếu phụ đó. Có đến mười, mười hai tháng nay Sibeko không được tin tức gì của con gái. Anh ấy nhờ Umfundisi hỏi thăm giùm.
Kumalo cầm miếng giấy lem luốt và nhàu nát, ngó rồi bảo:
- Springs à? Tôi có nghe nói chỗ đó. Không phải ở Johannesburg nhưng người ta bảo gần đâu đấy. Xe tới rồi kìa. Để tôi rán hỏi thăm cho.
Ông ta nhét chiếc giấy vào trong chiếc túi nhỏ (2) rồi cả hai đứng nhìn chiếc xe tiến tới. Như mọi chuyến xe miền quê Nam Phi, chuyến này chở đầy người da đen. Trên xe thực ra không có hạng người nào khác, vì trong miền này, người Âu nào cũng có xe nhà, gần như không đi xe lửa nữa.
Kumalo lên toa dành cho hạng người – không phải người Âu, và đầy những người nghèo nhất cùng giống với ông, có người bận những bộ đồ tây lố lăng, có người khoác thêm lên bộ đồ tây lố lăng đó một chiếc mền, có kẻ ở trong bận sơ sài hở hang theo lối bản xứ, ngoài khoác chiếc mền, họ là đàn bà vì đàn ông ra ngoài không còn ăn bận theo lối bản xứ nữa.
Trời hôm đó nóng, trong toa hơi người nồng nặc. Nhưng Kumalo vốn thuộc hạng bình dân, quen rồi không để ý tới. Hành khách thấy cái cổ cồn thầy tu của ông đứng dậy nhường chỗ ông ngồi. Ông ngó chung quanh nhìn xem có người nào để nói chuyện, nhưng không thấy ai trong giới của mình cả. Ông lại phía cửa xe, từ biệt người đi tiễn ông. Ông hỏi:
- Tại sao Sibeko không đích thân lại nói với tôi?
- Thưa Umfundisi, anh ấy sợ. Anh ấy không ở trong giáo phái chúng mình.
- Thì cũng là ở trong làng trong xóm với nhau. Hễ có chuyện khó khăn thì chỉ được lại nhờ vả người cùng giáo phái với mình sao?
- Thưa Umfundisi, tôi sẽ cho anh ấy hay.
Kumalo hơi cất tiếng như một em nhỏ hoặc một người lớn khi muốn cho những người ở chung quanh nghe.
- Về nói với anh ấy rằng tới Johannesburg, tôi sẽ lại Springs kiếm nhà đó – Ông vỗ vỗ vào cái túi áo, có miếng giấy đã nhét kỹ vào trong chiếc túi nhỏ của ông - Bảo anh ấy rằng tôi sẽ hỏi thăm tin tức đứa con gái đó cho. Nhưng cũng nói thêm rằng tôi bận việc lắm đấy. Có nhiều công việc ở Johannesburg lắm.
Ông quay mặt đi chỗ khác, có vẻ như nói một mình, mà thực sự là để cho mọi người nghe:
- Luôn luôn như vậy.
- Thưa Umfundisi, tôi xin thay lời anh ấy cám ơn Umfundisi.
Còi vang lên, chiếc xe lắc mạnh. Kumalo lảo đảo xuýt té. Ông nghĩ nên ngồi xuống cho vững hơn và đàng hoàng hơn.
- Em ở lại mạnh giỏi nhé.
- Xin chúc Umfundisi đi đường mạnh giỏi.
Mục sư trở về chỗ ngồi cũ và mọi hành khách chăm chú ngó ông, kính trọng con người đi Johannesburg như đi chợ đó. Chiếc xe lửa lấy đà leo lên sườn các trái đồi cheo leo ở sát bờ các thung lũng, băng qua các bụi phượng vĩ và hoa cỏ, chui vô các đồn điền trồng miêu liễu âm u, chạy ngang qua Staiton rồi xuống Ixopo.
Cuộc hành trình đã bắt đầu. Nỗi sợ hãi trỗi dậy trong lòng Kumalo, sợ không biết rồi ra sao, sợ các đô thị lớn, tại đó trẻ con băng qua đường bị xe cán, sợ cho bệnh tình của Gertrude, sợ cho đứa con trai của ông, nỗi sợ này sâu kín nhất trong lòng ông. Nỗi sợ sâu kín của một người, sống trong một thế giới lạc lõng không hợp với mình, còn chính cái thế giới của mình thì trốn đâu mất, chết đi, biến mất đi không bao giờ trở lại nữa.
Mới lúc nãy ông còn hơi khoe khoang, nói dối chút xíu trước đám người kính phục ông, mà bây giờ đầu gối ông bủn rủn rồi…
Con người khúm núm đó rút trong túi ra cuốn Thánh kinh và bắt đầu đọc. Chỉ có cái thế giới trong đó là không có gì bất trắc.


 
Chú thích:

1. Chính là Smith, người da đen thêm âm “ u ” ở trước.
2. Thường bằng da, để chìa khoá và giấy tờ lặt vặt.


< Sửa đổi bởi: Ct.Ly -- 20.11.2007 0:12:32 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 4
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 12.10.2007 17:55:56   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
4.
 

Từ Ixopo, chiếc xe lửa như con nít đó leo các ngọn đồi khác, những ngọn đồi xanh nhấp nhô ở Lufala, Eastwolds, Donnybrook. Từ Donnybrook, một đường sắt rộng đưa tới thung lũng lớn ở Umkomaas. Đây là miền của các bộ lạc, đất khô cằn như bị bệnh, cơ hồ không có cách nào chữa được. Chiếc xe leo lên bờ bên kia thung lũng, đi ngang qua Hemu-hemu, tới Elandskop. Nó chạy dọc theo thung lũng dài Umsindusi, qua Edendale và các chòi đen của thành phố xinh đẹp Pietermaritzburg. Tới đây hành khách sang chiếc xe lớn nhất, chiếc xe đi Johannesburg. Chiếc xe này là một phép màu nữa của ngưởi da trắng: không có đầu máy, chỉ có cái gì như cái lồng bằng sắt ở trên nóc, và năng lực từ những dây sắt dăng ở trên cao truyền xuống lồng sắt làm cho xe chạy.(1)
Xe leo tới Hilton và tới sông Sư tử, tới Balgowan, Rosetta, sông Mooi, chạy ngang qua một khu đồi đẹp không sao tả nổi. Nó gầm lên ban đêm khi lăn trên khu chiến trường thời xưa. Nó leo lên Drakensberg rồi trở lại xuống cánh đồng.
Khi trời tờ mờ sáng, hành khách tỉnh dậy trong toa xe lắc lư và rung chuyển. Lại có một chiếc đầu máy phun khói lên và không còn những sợi dây bằng sắt dăng ở không trung nữa. Miền này mới lạ, kỳ dị, trải ra ngút ngàn. Nhưng tên cũng lạ tai và khó đọc cho một người Zulu đã học tiếng Anh. Những tên đó thuộc về một ngôn ngữ, người ta gọi là Afrikaans (2) mà người Zulu chưa bao giờ được nghe.
Có người la:
- Mỏ kìa, mỏ kìa.
Vì trong số hành khách có nhiều người lại miền mỏ này kiếm việc.
Những cánh đồi trắng, lè tè ở đằng xa kia mà lại mỏ ư? Kumalo có thể hỏi câu đó mà không sợ xấu hổ, vì trong toa không còn những người đã nghe ông nói chuyện hôm qua nữa.
- Thưa Umfundisi, đó là những tảng đá đào từ mỏ lên. Vàng lấy ở trong đó ra.
- Làm cách nào đào tảng đá lên được?
- Thưa Umfundisi, người ta xuống hầm rồi đào. Nếu đá cứng quá, không thể đục thì người ta bỏ đi, để cho người da trắng lại dùng những cái gậy lửa (3) làm cho nổ tung lên. Lúc đó người ta trở lại lượm, chất vào xe, đưa nó lên một cái lồng, lồng rút lên theo một ống như ống lò nhưng dài, cao không kể xiết.
- Làm sao nó lên được?
- Nhờ có một bánh xe lớn nó quay. Đợi chút nữa tôi sẽ chỉ cho Umfundisi thấy.
Kumalo làm thinh, tim ông đập nhanh hơn một chút, vì kích thích và vì sợ.
- Đây bánh xe đây, thưa Umfundisi. Bánh xe đây nè.
Một cái giàn lớn, bằng sắt đưa vút lên trời, trên ngọn có một bánh xe bự quay tít, đi nhanh tới nỗi loá mắt không thấy căm của nó nữa. Chung quanh là những ngôi nhà lớn, những ống tua tủa phun khói, và người ta lăng xăng qua lại. Một đoàn xe tải dài vô tận leo lên một ngọn đồi lớn trắng, lên tít trên không.
Ở dưới chân đồi, lộn xộn đủ các xe hơi, xe cam nhông, xe buýt.
Kumalo hỏi:
- Phải Johannesburg đấy không?
Bọn hành khách cười, vẻ tự tin lắm. Có vài người lui tới miền này rất thường.
Họ bảo:
- Đã nhằm gì đâu. Ở Johannesburg, còn có những ngôi nhà cao, cao như…
Nhưng họ không biết phải nói: cao như cái gì cho đúng. Một người hành khách nói với một người bạn:
- Này anh, anh biết ngọn đồi dựng đứng sau khoảng đất rào kín của ba tôi không? Cao như ngọn đồi đó.
Người bạn kia gật đầu, nhưng Kumalo không biết ngọn đồi đó ra sao.
Bây giờ đây nhà cửa nối tiếp nhau không ngừng, nào nhà, nào đồi trắng, rồi những bánh xe hơi lớn, những đường phố nhiều vô kể, rồi xe hơi, xe cam nhông, xe buýt.
Kumalo bảo:
- Chắc đây là Johannesburg rồi?
Hành khách lại cười nữa. Họ đã cảm thấy hôi mệt. Họ bảo:
- Đã nhằm gì đâu.
Đường rầy đâu mà nhiều thế. Bên trái, bên phải, đếm không xuể. Một chuyến xe lửa bỗng chạy vụt qua phía trước, tiếng vang ầm ầm làm cho Mục sư giật mình đánh thót một cái. Ở phía bên kia một chuyến xe khác đuổi theo chiếc xe của họ rồi giảm tốc lực, ở lại phía sau. Hết ga này tới ga khác, không tưởng tượng nổi sao mà nhiều ga thế. Mấy trăm hành khách đứng đợi mà xe cứ chạy vụt qua làm mọi người thất vọng.
Nhà cửa mỗi lúc một cao hơn, đường phố mỗi lúc một nhiều hơn. Cứ chằng chịt thế này làm sao cho khỏi lạc được? Hoàng hôn đã xuống, đèn phố bắt đầu cháy.
Một hành khách đưa tay chỉ:
- Johannesburg đấy, Umfundisi.
Kumalo thấy những ngôi nhà cao thật cao, trên đó có những ánh đèn xanh đỏ, cao cũng gần bằng ngôi nhà. Ánh đèn chớp chớp. Nước từ một cái chai lớn chảy ra, tới khi đầy một cái ly thì ánh đèn tắt. Khi ánh đèn sáng lại thì lạ không, cái chai đã đầy lại rồi, dựng đứng lên còn cái ly thì cạn. Rồi cái chai lại nghiêng xuống. Có hàng chữ đen và trắng. Nhưng đâu phải đen và trắng; xanh và đỏ đấy chứ. Thực chẳng còn hiểu gì hết.
Ông làm thinh, ông nhức đầu, ông hoảng sợ. Vô ga rồi này, một chỗ rộng mênh mông có vô số đường hầm. Chiếc xe lửa ngừng ở dưới một mái lớn, mấy ngàn người đứng ở đó. Có những bậc thang đưa xuống lòng đất, đường hầm đây rồi. Người da đen, người da trắng chen chúc nhau chật đường hầm, kẻ đi tới người đi lui. Kumalo thận trọng bước để khỏi đụng nhằm ai, ôm chặt chiếc tay nải. Ở đầu đường hầm, ông vô một phòng rộng. Ông theo dòng thác người, leo một cầu thang, ra khỏi hầm, tới đường rồi này. Tiếng ồn ào điếc cả tai. Xe hơi, xe buýt chạy nối đuôi nhau, sao mà nhiều thế không biết. Dòng thác người băng qua đường, nhưng ông dám theo họ, vì nhớ lại cái chết của đứa con trai anh Mpanza. Đèn xanh tắt, đèn đỏ bật, rồi đèn xanh lại cháy. Ông có nghe người ta nói, hễ đèn xanh bật thì qua đường được. Nhưng vừa tính qua thì một chiếc xe buýt bự chạy qua mặt ông. Chắc có luật lệ gì đây mà ông không hiểu, ông bước trở lên lề đường. Ông lại dựa lưng vào một bức tường, làm ra vẻ như đợi ai. Tim ông đập thình thịch như tim một em nhỏ, không làm cách nào, suy nghĩ gì cho nó bớt đập được. Ông lẩm bẩm:
- Xin Tixo che chở cho con. Xin Tixo che chở cho con.

 
 
Chú thích:

1. Tức xe điện.
2. Ngôn ngữ của những người Afrikaaner, tức người Hoà Lan sinh trưởng ở Nam Phi. Ngôn ngữ đó là một thứ tiếng Hoà Lan giản dị, tuy đẹp, nhưng bị người Anh ở Nam Phi và cả một số người Hoà Lan nữa khinh bỉ. Tiếng Anh và Afrikaans là hai ngôn ngữ chính thức ở Nam Phi.

3. Tức dùng mìn.


< Sửa đổi bởi: Ct.Ly -- 20.11.2007 0:13:21 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 5
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 13.10.2007 12:21:32   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
4-  tiếp theo
 
Một gã thanh niên lại gần ông, nói một câu gì bằng một ngôn ngữ mà ông không biết. Ông bảo:
- Nói gì tôi không hiểu.
- Vậy ra Umfundisi là người Xosa?
- Người Zulu.
- Umfundisi tính đi đâu?
- Lại Sophiatown, chú em.
- Vậy Umfundisi đi theo tôi, tôi dẫn đường cho.
Ông mang ơn gã đó, nhưng lòng hơi ngài ngại và mừng rằng gã không xin xách giùm chiếc tay nải. Gã ăn nói lễ phép nhưng thứ tiếng Zulu của gã hơi kỳ cục.
Đèn xanh bật và gã bước xuống đường. Một chiếc xe tiến tới, nhưng gã tiếp tục băng qua đường và chiếc xe ngừng lại. Như vậy ông mới vững bụng.
Họ đi quanh quẹo dưới chân mấy ngôi nhà cao, ông không nhớ hết được, nhưng khi cánh tay ông rã rời vì cái tay nải nặng trĩu thì họ tới một chỗ có nhiều xe buýt đậu.
- Umfundisi phải đứng nối đuôi người ta. Umfundisi có tiền mua giấy xe đấy không?
Kumalo vội vàng đặt chiếc tay nải xuống mở túi tiền ra, như muốn tỏ cho gã đó thấy rằng, ông quí tấm lòng sốt sắng của gã lắm. Ông không dám hỏi giấy xe bao nhiêu và lấy ra một bảng.
- Umfundisi muốn để tôi mua giấy xe giùm không? Như vậy Umfundisi giữ được chỗ trong hàng, trong khi tôi lại chỗ bán giấy.
- Ừ, cảm ơn chú em.
Gã cầm đồng bảng rồi đi một quãng ngắn tới một góc đường. Khi hắn quẹo mất hút rồi, Kumalo hơi lo ngại. Hàng người nhích tới và ông ôm chặt chiếc tay nải nhích theo. Nhích tới nữa, tới nữa, sắp phải lên xe buýt rồi mà giấy vẫn chưa có. Rồi như bỗng nhớ ra điều gì, ông bước ra ngoài hàng. lại chỗ góc đường mà gã thanh niên đã quẹo rồi mất hút. Không thấy bóng dáng gã đâu cả. Ông thu hết can đảm lại để kiếm người hỏi thăm, và bước lại gần một ông cao tuổi ăn bận đàng hoàng sạch sẽ.
- Xin ông chỉ giúp tôi chỗ bán giấy xe ở đâu?
- Chỗ bán giấy xe nào Umfundisi?
- Bán giấy xe buýt.
- Lên xe buýt rồi mới mua giấy. Không có chỗ bán giấy.
Người đó có vẻ lương thiện, và mục sư nói giọng khiêm tốn:
- Tôi đã đưa một đồng bảng cho một thanh niên, cậu ấy bảo lại chỗ bán giấy mua giấy cho tôi.
- Hắn lừa gạt Umfundisi rồi. Có nhớ mặt gã không? Không à, mà Umfundisi không bao giờ còn gặp mặt lại hắn đâu. Thôi, đi theo tôi, Umfundisi đi đâu, lại Sophiatown?
- Vâng, lại Sophiatown. Lại hội Truyền Giáo.
- Vậy ư? Tôi cũng theo đạo Anglican. Tôi đứng đây chờ một người, nhưng lâu quá rồi, tôi không chờ được nữa. Để tôi dắt đường Umfundisi. Umfundisi quen mục sư Msimangu?
- Quen chứ, tôi có bức thư của mục sư đây.
Họ lại đứng nối đuôi và một lát sau bước lên xe buýt. Chiếc xe ra khỏi bến, len lỏi vô các con đường đầy xe cộ. Người tài xế thản nhiên hút thuốc, can đảm thật đáng phục. Xe chạy hết đường này tới đường khác, hết đèn xanh đèn đỏ này tới đèn xanh đèn đỏ khác, cơ hồ như bất tận, có lúc chạy nhanh tới nỗi xe lắc lư và máy rồ ù cả tai.
Họ xuống xe, vô một con đường nhỏ mà cũng có cả ngàn người qua lại. Họ đi một quảng xa, đường nào cũng chật ních người. Người bạn mới quen xách giúp tay nải cho Kumalo, nhưng lần này ông không ngại nữa. Sau cùng họ ngừng ở trước một ngôi nhà có đèn sáng rồi gõ cửa.
Cửa mở ra, một thanh niên cao lớn bận áo thầy tu mời họ vô.
- Ông Msimangu, tôi dắt lại cho ông bạn đây, mục sư Kumalo ở Ndotsheni.
- Mời các ông vô. Xin chào ông, ông Kumalo, tôi hân hạnh được gặp ông. Lần này là lần đầu tiên ông lại Johannesburg?
Kumalo hãnh diện vô cùng: đã được dắt dẫn tới nơi tới chốn, lại được tiếp đón niềm nở. Ông khiêm tốn đáp:
- Tôi lấy làm thẹn lắm. Toi mang ơn ông bạn của ông nhiều lắm.
- Thật may mà gặp được ông ấy đấy. Ông Mafolo là một đại thương gia ở đây mà cũng là một tín đồ ngoan đạo nữa.
Mafolo nói:
- Nhưng trước khi gặp tôi, ông ấy đã bị chúng lừa gạt.
Thế là phải kể lại việc đã xảy ra, và hai người kia tỏ vẻ thương hại Kumalo, dặn ông đủ điều.
- Nhưng chắc là ông đói rồi, ông Kumalo. Ông Mafolo ở lại cùng ăn cho vui nhé?
Ông Mafolo có việc phải đi. Cánh cửa khép lại rồi, Kumalo ngồi vào một chiếc ghế bành lớn và mặc dầu không quen hút, nhưng cũng nhận một điếu thuốc. Phòng sáng sủa, phía sau cửa ngoài kia, là đô thị lớn náo nhiệt quay cuồng. Ông phì phào điếu thuốc, phà khói ra như một em nhỏ, trong lòng cảm bội, hân hoan. Thế là xong cuộc hành trình dài tới Johannesburg và ông đã mến ngay vị mục sư trẻ tuổi đáng tin cậy này. Đợi lát nữa chắc chắn họ sẽ nói vì lý do cuộc hành trình may mà tới nơi tới chốn này. Bây giờ ông hãy hưởng cái vui được yên ổn và được tiếp đón niềm nở đã.


< Sửa đổi bởi: Ct.Ly -- 20.11.2007 0:14:08 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 6
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 14.10.2007 17:42:13   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
5.


- Tôi đã giữ cho huynh một phòng trong nhà một bà già, bà Lithebe, một người hiền lương trong giáo khu. Bà ta là người Msutu, nhưng nói thạo tiếng Zulu. Bà ta sẽ lấy làm hân hạnh có một mục sư trong nhà. Tiền phòng rẻ, có ba si-ling một tuần thôi, còn ăn uống thì huynh qua đây ăn với anh em trong hội Truyền Giáo. Ủa, chuông đánh báo tới bữa ăn rồi này. Mời huynh đi rửa tay.
Họ rửa tay trong một phòng rất tân thời, có một la-va-bô trắng tinh, đủ nước nóng nước lạnh, mấy chiếc khăn mặt tuy đã cũ nhưng rất trắng, cầu tiêu cũng tân thời. Xong rồi chỉ cần ấn một cái nút nhỏ là nước ồ ồ chảy ra như có cái gì bể vậy, không biết trước thì giật mình.
Họ vô một căn phòng bàn ăn đã dọn sẵn và Kumalo gặp mấy mục sư nữa cả da trắng lẫn da đen; họ đọc kinh tạ ơn rồi bắt đầu ăn. Kumalo nhìn thấy có nhiều đĩa, dao và nĩa, hơi hoang mang, nhưng rồi để ý ngó các người khác làm ra sao và cũng làm vậy.
Ông ngồi bên một mục sư trẻ tuổi, cặp má hồng hào từ Anh qua; mục sư này hỏi ông từ đâu tới và miền ông ở ra sao. Một mục sư khác, da đen la lên:
- Quê tôi cũng ở Ixopo. Song thân tôi còn sống ở đó, trong thung lũng Lufafa. Miền đó lúc này ra sao?
Và Kumalo nói chuyện về những miền đó cho họ nghe, tả những đồi cao và thung lũng của xứ xa xôi mà ông yêu quí đó. Giọng ông chắc nồng nàn vì mọi người đều làm thinh, chăm chú nghe ông. Ông cũng tả bệnh cằn cỗi của đất đai, cây cỏ chết lụi, khe suối khô cạn; cảnh tiêu điều trong miền chỉ còn các ông già bà cả, đàn bà và con nít; bắp thì cao không tới đầu người mà bộ lạc thì tan tác, nhà cửa hoang tàn, con người thất vọng; mà khi họ bỏ nhà ra đi rồi thì nhiều kẻ không khi nào trở về nữa, nhiều kẻ không viết một bức thư nào về nữa. Ông bảo rằng tình cảnh đó không chỉ riêng ở Ndotsheni, mà chung cho cả các thung lũng Lufafa, Imhlavini, Umkomaas và Umzimkulu. Nhưng về Gertrude và Absalom thì ông không nói gì cả.
Thế là mọi người cùng bàn bạc về bệnh cằn cỗi của đất đai, về những bộ lạc tan tác, nhà cửa hoang tàn, những trai gái bỏ quê hương ra đi, quên cả tục lệ và sống một đời phóng túng, biếng nhác. Họ nói đến bọn thiếu nhi phạm pháp, bọn phạm pháp lớn tuổi hơn và nguy hiểm hơn nữa. Họ bảo rằng người da trắng sống trong cảnh sợ hãi vì bọn bất lương da đen. Một người đi kiếm một tờ nhật báo, tờ Johannesburg Mail, chỉ cho Kumalo một tít in chữ lớn: MỘT CẶP VỢ CHỒNG GIÀ, BỊ ĐÁNH ĐẬP CƯỚP BÓC TRONG NGÔI NHÀ HẺO LÁNH, BỐN THỔ DÂN BỊ BẮT, và bảo:
- Những chuyện như vậy xảy ra gần như hằng ngày. Mà không phải chỉ riêng người Âu sợ hãi đâu. Chúng tôi cũng sợ nữa, ngay ở Sophiatown này. Mới cách đây không lâu, bọn thanh niên đó cướp giật một thiếu nữ Phi, lấy xắc và tiền nong, và nếu người ta không chạy tới kịp thì chắc là thiếu nữ đó đã bị chúng hiếp rồi.
Ông mục sư mặt hồng hào bảo:
- Ở Johannesburg này ông sẽ biết được nhiều chuyện nữa. Không phải chỉ riêng miền của ông bị tàn phá đâu. Chúng ta còn phải nói chuyện với nhau nhiều nữa. tôi muốn được nghe ông nói tiếp về xứ sở của ông, nhưng bây giờ tôi có việc phải cáo biệt.
Câu chuyện tới đó ngừng lại và Misimangu muốn dắt Kumalo về phòng riêng của mình. Ông ta bảo:
- Chúng tôi có nhiều chuyện phải nói với nhau.
Hai người trở lại phòng riêng của Msimangu. Khi cửa khép lại rồi, họ cùng ngồi xuống rồi, Kumalo bảo:
- Xin huynh thứ lỗi cho, tôi nóng ruột muốn biết tin tức về em gái tôi.
- Vâng, vâng, tôi biết chắc rằng huynh nóng ruột lắm, và chắc huynh cho tôi là có vẻ thản nhiên. Nhưng xin lỗi, trước hết tôi muốn biết cô ấy tới Johannesburg này làm gì vậy?
Câu hỏi đó làm Kumalo bối rối, nhưng ông không dám giấu, phải nói thẳng rằng em gái ông ra đây tìm chồng. Chồng đã đăng phu mỏ, hết hạn rồi mà không về, cũng không cho biết tin tức gì cả. Em gái ông không biết chồng còn sống hay chết, đành dắt đứa con nhỏ ra đây tìm chồng.
Thấy Msimangu làm thinh ông lo lắng hỏi:
- Cô ấy đau nặng lắm không?
Msimsngu nghiêm nghị đáp:
- Vâng, đau nặng lắm. Nhưng không phải thứ bệnh đó mà là một thứ bệnh khác; tệ hơn nhiều. Tôi đã nhắn huynh ra đây vì thiếu phụ đó cô độc mà lại là em ruột một mục sư. Tôi không biết cô ấy có tìm được chồng không, nhưng hiện nay cô ấy không có chồng.
Ông ta ngó Kumalo, nói thêm:
- Nói cho đúng hơn cô ta có rất nhiều chồng.
Kumalo khẽ kêu lên:
- Tixo! Tixo!
- Hiện nay cô ấy ở Charemont, cũng gần đây. Khu đó là một trong những khu tồi tệ nhất ở Johannesburg. Sau các cuộc bố ráp của cảnh sát, rượu chảy ra cùng đường. Vô cái khu đó là ngửi thấy nồng nặc mùi rượu, không có mùi gì khác hơn là mùi rượu.
Ông ta nghiêng mình về phía Kumalo, bảo:
- Hồi xưa tôi cũng thường uống rượu, nhưng đó là thứ rượu tốt như rượu của ông cha chúng mình cất. Bây giờ tôi đã thề rồi, không đụng tới một giọt rượu nữa. Thứ rượu ở đây xấu, người ta bỏ thêm vô những cái quái gì đó cho nó thêm nồng mà trước kia người mình có bao giờ dùng đâu. Đó, cái nghề lúc này của cô ấy là chế tạo thứ rượu đó rồi bán. Nói ra thì đau lòng nhưng tôi cũng phải nói hết. Bọn đàn bà đó ngủ với bất kỳ người đàn ông nào để kiếm tiền. Một người đàn ông bị giết ở nhà cô ấy. Họ đùa giỡn, nhậu nhẹt và đâm chém nhau. Cô ấy đã bị nhốt khám mấy lần rồi.
Ông ta ngả lưng vào chiếc ghế bành, đẩy một cuốn sách ở trên bàn ra xa rồi lại kéo nó về, bảo:
- Những tin đó đau xót cho huynh lắm.
Kumalo gật đầu và làm thinh.Msimangu lấy gói thuốc lá mời:
- Huynh hút một điếu.
Kumalo lắc đầu
- Tôi có biết hút thuốc đâu.
- Đôi khi hút thuốc làm cho thần kinh dịu được. Trong con người chắc còn có một thứ an tĩnh nào khác, lúc đó cứ để cho người ta hút để hưởng cái an tĩnh ấy. Nhưng ở Johannesburg, nhiều khi khó mà tìm được cái thứ an tĩnh ấy.
- Tại sao lại ở Johannesburg? Ở đâu mà chẳng vậy? Sự an tĩnh của Thượng Đế rời bỏ chúng ta rồi?
Cả hai lại im lặng, như thể một lời nào đó đã thốt ra rồi thì có nói gì thêm nữa cũng hoá ra vô nghĩa. Sau cùng Kumalo hỏi;
- Đứa nhỏ hiện ở đâu?
- Cùng ở đó với má nó. Nhưng nơi đó không phải là chỗ cho trẻ ở, và đó cũng là lý do tôi đã mời huynh ra đây. Nếu huynh không thể cứu được người mẹ thì may ra có thể cứu được đứa con.
- Nơi đó ở đâu?
- Cách đây không xa. Ngày mai tôi sẽ dắt huyng tới.
- Tôi còn một nỗi rầu rĩ nữa.
- Huynh cứ nói tôi nghe.
- Tôi sung sướng được thổ lộ với huynh.
Nhưng rồi Kumalo làm thinh, ran nói mà không thốt nên lời.
Msimangu bảo:
- Chẳng có gì gấp, huynh ạ…
- Khó nói quá. Đó là nỗi rầu rĩ nhất của chúng tôi.
- Chuyện cậu con trai chăng? Hay là cô con gái?
- Con trai.
- Cứ nói tôi nghe.
- Tên cháu là Absalom. Nó cũng ra đây để tìm cô nó, nhưng đi rồi không về và đã lâu rồi nó không thư từ gì về nhà nữa. Má nó và tôi gởi cho nó mấy bức thư, bức nào cũng gởi trả lại. Bây giờ nghe những lời huynh kể, tôi lại càng lo sợ.
- Chúng mình sẽ rán tìm kiếm nó. Có lẽ cô em đó biết nó ở đâu. Huynh mệt rồi, để tôi đưa huynh lại căn phòng tôi đã giữ cho huynh.
- Vâng, tôi cũng cần phải nghỉ ngơi.
Họ đứng dậy, Kumalo bảo:
- Tôi có thói quen, hễ cầu nguyện thì lại giáo đường. Huynh làm ơn chỉ lối cho tôi.
- Chúng mình đương đi về phía đó đây.
Kumalo có giọng khiêm cung:
- Ước gì huynh cầu nguyện cho tôi.
- Tôi sẵn lòng lắm. Huynh ạ, tôi cũng có nhiều công việc lắm, nhưng huynh còn ở đây ngày nào thì công việc của huynh là công việc của tôi.
- Huynh tốt bụng quá.
Giọng nói của Kumalo có cái gì khúm núm làm cho Msimangu cảm động.Msimangu đáp:
- Tôi không tốt bụng đâu. Tôi là một người ích kỷ và nhiều tội lỗi, nhưng được Thượng Đế ra tay cứu vớt thế thôi.
Ông xách giùm cái tay nải cho Kumalo nhưng trước khi tới cửa, Kumalo níu tay ông lại, bảo:
- Tôi có một điều muốn nói nữa.
- Cái gì vậy?
- Tôi cũng có một người em cũng ở Johannesburg. Chú ấy không bao giờ viết thư cho tôi cả. Tên là John Kumalo, làm thợ mộc.
Msimangu mỉm cười:
- Tôi biết ông ta. Còn thì giờ đâu nữa mà viết thư. Một đại chính trị gia ở Johannesburg đấy.
- Chính trị gia? Chú ấy mà là chính trị gia?.
- Phải, có uy thế về chính trị đấy.
Msimangu ngừng một chút rồi nói tiếp:
- Tôi mong rằng điều tôi nói đây sẽ không làm cho huynh đau lòng thêm nữa. Ông em của huynh từ bỏ giáo hội rồi. Ông ta bảo cái gì mà Thượng Đế không làm cho Nam Phi, thì con người phải làm. Nói vậy đó.
- Chuyến đi này của tôi thật chua chát quá.
- Đúng vậy.
- Đôi khi tôi lo sợ….Đức Giám mục mà hay thì không biết ngài sẽ nói sao? Một mục sư của ngài…
- Một đức Giám mục thì nói gì được? Một cái gì đó đã xảy ra mà không đức Giám mục nào có thể ngăn nổi? Ai có thể ngăn nổi những cái đó xảy ra? Nó đã xảy ra thì nó phải tiếp tục như vậy.
- Sao huynh có thể nói như vậy được? Làm sao huynh có thể nói được rằng những cái đó phải tiếp tục?
Msimangu nghiêm nghị lập lại:
- Nhưng cái đó phải tiếp tục. Không ai có thể ngăn cản được thế giới tiến tới. Tôi là người theo đạo Ki Tô. Trong thâm tâm tôi không oán người da trắng. Chính người da trắng đã kéo thân phụ tôi ra khỏi cảnh tối tăm. Nhưng xin lỗi bạn cho tôi nói thẳng. Cái bi kịch không phải là có những cái đã đổ vỡ. Bi kịch là đổ vỡ mà không sửa chữa lại được nữa. Người da trắng đã làm cho bộ lạc tan rã. Và tôi tin chắc rằng – tôi xin lỗi bạn lần nữa – tôi tin chắc là không sao sửa chữa được nữa. Nhà cửa tan tành, con người phiêu tán, những cái đó mới là bi thảm. mà hậu quả là trẻ ngày nay bất chấp pháp luật mà các người da trắng già thì bị đánh đập, cướp bóc.
Ông đưa tay lên trán, nghiêm nghị nói tiếp:
- Người da trắng cho rằng làm cho bộ lạc tan rã là điều có lợi. Nhưng họ không thấy cần phải xây dựng cái gì để thay thế. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều vế vấn đề đó, và tôi cần phải nói ra vì tôi cho là điều tôi nói đây là sự thực. Không phải mọi người da trắng đều như vậy. Cũng có vài người da trắng hy sinh để rán xây dựng lại cái gì đã đổ vỡ. Nhưng số người đó ít lắm – ông nói tiếp - Họ sợ, sự thực như vậy. Chính sự sợ hãi chi phối, thống trị xứ này.
Ông ngừng lại ở giữa lề đường, nghiêm trang và bình tĩnh nói với bạn:
- Vì người da trắng nắm quyền hành mà chúng ta cũng muốn có quyền hành. Nhưng khi người da đen có được quyền hành, khi họ có nhiều tiền thì sẽ thành một vĩ nhân nếu không tham nhũng. Tôi đã thường thấy như vậy. Họ muốn có quyền hành và tiền bạc để sửa đổi những bất công trong xã hội và khi họ có được cái đó rồi thì họ chỉ lo lợi dụng và hưởng thụ thôi. Lúc đó họ có thể mua vui, có thể tìm cách mua được rượu của người da trắng. Có thể nói với cả ngàn người và nghe người ta vỗ tay hoan nghênh mình.
- Trong bọn chúng ta có vài người nghĩ rằng khi chúng ta có quyền hành thì có thể trả thù những người da trắng trước kia đã có quyền hành, và cái ý muốn đó xấu xa, vì chúng ta xấu xa nên quyền hành của chúng ta không có sức mạnh. Nhưng đa số người da trắng không hiểu sự thực đó về quyền hành và họ sợ chúng ta có quyền hành.
Ông đứng yên như suy nghĩ về những điều mới nói:
- Phải, đúng là quyền hành như vậy đó, nếu nó đồi bại thì không có sức mạnh. Chỉ có mỗi một cái là quyền hành tuyệt đối, tức tình thương. Vì khi có tình thương thì người ta không cầu có quyền hành, mà vì không cầu có quyền hành thì tự nhiên có quyền hành. Tôi chỉ thấy có mỗi một niềm hy vọng cho quê hương chúng ta, là người da trắng và người da đen không cầu có quyền hành và tiền bạc, chỉ mưu cái ích lợi cho xứ này và cùng hợp lực với nhau để thực hiện việc đó.
Ông ngừng nói, vẻ trầm tư, rồi rầu rĩ nói tiếp:
- Tôi sợ nhất một điều là tới khi họ biết có tình thương thì họ thấy chúng mình đã hoá ra thù ghét họ.
Và Kumalo lặng lẽ theo ông ta, lòng thấy trầm uất vì những lời nghiêm nghị và buồn bực đó.


                                                       o o o    

          

Họ tới Doorfontein mà cũng chẳng được việc gì mặc dầu người da trắng ở đó nể nang họ. Msimangu biết cách cư xử với người da trắng và họ chịu khó tìm hỏi, sau cùng hay rằng Absalom Kumalo đã thôi không làm ở xưởng đó một năm rồi. Một người nhớ rằng Absalom chơi thân với một người thợ trong xưởng tên là Dhlamini, và cho gọi anh thợ này lại. Anh ta bảo tin tức cuối cùng anh ta được biết là Absalom ở trọ nhà một bà tên là Ndlela ở đường End, con đường phân cách Sophiatown và khu Westdene của người Âu. Anh ta nhớ mài mại số nhà là 105, nhưng không chắc chắn lắm.
Kumalo và Msimangu lại trở về Sophiatown, quả nhiên gặp được bà Ndlela ở số 106, đường End. Bà nhã nhặn tiếp họ, trong khi mấy đứa con của bà núp sau váy mẹ mà ngó trộm khách. Bà ta bảo Absalom không còn ở đó nữa, nhưng yêu cầu họ đợi một chút, vì bà ta nhớ Absalom có viết cho bà một bức thư để xin lại những đồ vật để lại nhà bà. Và trong khi Kumalo chơi với mấy đứa nhỏ, Msimangu nói chuyện với chồng bà ta thì bà ta lấy ra một hộp lớn chứa đầy giấy má và đồ lặt vặt rồi lục lọi, tìm kiếm bức thư của Absalom. Msimangu nhận xét nét mặt hiền từ mệt mỏi của bà, thấy bà ngừng tay một chút, nhìn Kumalo có vẻ vừa tò mò vừa thương hại. Sau cùng bà ta kiếm được bức thư, chỉ cho họ địa chỉ: 79 đại lộ 23, Alexandra, nhờ bà Mkige giao lại giùm.
Chủ nhân pha trà, họ phải uống một chén, khi họ đứng dậy ra về thì trời đã tối. Ông chồng tiễn Kumalo ra tới tận ngoài đường.
Msimangu ở lại phía sau, hỏi bà vợ:
- Tại sao bà ngó ông bạn tôi mà có vẻ thương hại?
Bà ta nhìn xuống rồi lại ngước mắt lên đáp:
- Ông ấy là một Umfundisi?
- Phải!
- Tôi không ưa bọn bạn bè của con trai ông ấy. Nhà tôi cũng vậy. Vì vậy mà cậu ấy bỏ đi nơi khác.
- Tôi hiểu bà. Nhưng ngoài ra còn có gì nghiêm trọng hơn nữa không?
- Không, tôi không thấy gì khác nhưng tôi không ưa bạn bè của cậu ấy.
Vẻ mặt bà ta chân thành cởi mở, bà không nhìn xuống nữa.
- Xin chào bà.
- Xin chào Umfundisi.
Ra tới đường, Msimangu và Kumalo từ biệt người chồng rồi đi về phía hội Truyền giáo.
Msimangu bảo:
- Ngày mai chúng ta lại Alexandra.
Kumalo đặt bàn tay lên cánh tay bạn:
- Tôi lại Johannesburg này toàn là vì những chuyện không vui, nhưng được quen biết huynh, thật là niềm vui sướng cho tôi.
- Thôi chúng mình mau lên, kẻo trễ bữa tối rồi.


< Sửa đổi bởi: Ct.Ly -- 20.11.2007 0:15:02 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 7
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 17.10.2007 18:04:28   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
6.


Sáng hôm sau, ăn điểm tâm ở hội Truyền giáo rồi, Msimangu và Kumalo đi qua một con đường lớn rất rộng có nhiều xe buýt qua lại.
Msimangu bảo:
- Ở đây đón thì chuyến xe nào cũng tới chỗ.
Kumalo mỉm cười vì bạn muốn giãi nỗi sợ đón lầm xe của mình.
Msimangu bảo:
- Tất cả xe buýt ở đây đều đi Johannesburg. Vậy khỏi phải sợ lầm xe.
Họ đón ngay chiếc xe buýt đương chạy tới, và chiếc xe đưa họ tới chỗ mà mấy hôm trước Kumalo đã bị mất một bảng. Từ đó họ đi ngang qua nhiều con đường đầy xe hơi, xe buýt, kẻ qua người lại và sau cùng tới bến xe buýt đi Alexandra. Nhưng họ bị ngăn cản bất ngờ, vì một người tiến lại họ, hỏi Msimangu:
- Umfundisi muốn đi Alexandra?
- Phải!
- Chúng tôi đứng đây để cản Umfundisi. Không phải bằng sức mạnh đâu - người đó đưa tay chỉ - cảnh sát đứng sẵn kia rồi. Chúng tôi dùng lời lẽ để thuyết phục. Đi xe buýt đó là Umfundisi làm hại quyền lợi của người da đen. Chúng tôi đã quyết định tẩy chay những xe buýt đó cho đến khi nào họ phải trở lại giá cũ là 4 pen-ni thì mới thôi.
- À! Phải, tôi có nghe nói về chuyện đó.
Msimangu quay lại nói với Kumalo:
- Tôi điên rồi huynh ạ. Tôi quên bẵng rằng không có xe buýt, quên rằng đương có cuộc tẩy chay xe buýt.
Kumalo nói nhỏ nhẹ, như năn nỉ:
- Chúng tôi có viêc khẩn cấp.
Người đó lễ phép đáp:
- Vụ tẩy chay này cũng cấp thiết. Họ đòi chúng tôi phải trả 6 pen-ni, như vậy là mỗi ngày mất 1 si-ling, một tuần 6 si-ling, mà anh em chúng tôi có người chỉ kiếm được mỗi tuần 35 hay 40 si-ling.
Kumalo hỏi:
- Đi bộ có xa không?
- Thưa xa Umfundisi. Mười bẩy cây số.
- Xa quá, đối với một người già.
- Thưa, có những người già như Umfudisi mà ngày nào cũng phải đi đấy. Rồi đàn bà nữa, có người đau, có người tàn tật, cả con nít cũng phải đi đấy. Họ ra đi từ bốn giờ sáng và tám giờ tối mới về tới nhà. Nuốt vội một miếng, vừa mới ngả đầu trên gối chợp mắt được một chút thì phải dậy rồi để ra đi, có khi bụng rỗng không, chỉ uống có hớp nước nóng. Tôi không thể ngăn cấm Umfundisi đi xe buýt được, nhưng tôi nghĩ nó là một quyền lợi đáng cho chúng ta tranh đấu. Nếu chúng ta thua phen này thì những người khác ở Sophiatown, Claremont, Kliptoonn, Pimville cũng phải trả tiền xe tăng lên.
- Tôi hiểu lắm bạn. Chúng tôi sẽ không đi xe buýt đâu.
Người đó cảm ơn họ, rồi tiến lại gần một người khác có vẻ muốn đi xe buýt.
Kumalo bảo:
- Người đó có tài thuyết phục thật.
Msimangu nói, giọng dịu dàng:
- Ông ta là Dubula, con người nổi tiếng, bạn của ông John lệnh đệ đấy. Người ta bảo – huynh thứ lỗi cho nhé. Tomlinson có đầu óc, lệnh đệ có được cái giọng nói, còn ông này thì có nhiệt tâm. Chính quyền sợ ông ta nhất, vì chính ông ta không sợ gì cả. Ông ta không mưu tính cái gì riêng cho mình cả. Người ta bảo ông ta đã bỏ chỗ làm của mình để đứng gác ở đây cản người ta đi xe buýt, và vợ cũng đứng gác ở bến xe buýt Alexandra như chồng.
- Hai vợ chồng như vậy thật hãnh diện. Johannesburg là một nơi có nhiều cái đáng kỳ dị.
Msimangu nói, giọng có vẻ tiếc hận:
- Trước họ ở trong giáo phái của mình đấy, nhưng rồi bỏ ra ngoài. Cũng như ông em của huynh, họ bảo rằng giáo hội nói thì hay mà không hành động. Sao bây, bây giờ chúng mình tính sao?
- Tôi tính đi bộ.
- Đi mười bảy cây số, về mười bảy cây nữa. Xa lắm đấy huynh hiểu cho chứ, Johannesburg này không phải là chỗ hợp với một người con trai ở một thân một mình.
- Vậy thì đi.
Họ đi bộ mấy cây số qua khu của người Âu, lên con đường Twist tới Clarenton Cricle rồi xuống con đường Louis Botha tới Vườn cam. Xe hơi, xe cam nhông qua lại không ngớt, chiếc đi lên, chiếc đi xuống. Họ đi một lúc lâu, thì một chiếc xe hơi thắng lại ở bên cạnh họ, và một người da trắng ló đầu ra hỏi:
- Hai ông đi đâu đấy?
Msimangu cất nón chào, và nói:
-Thưa ngài, chúng tôi đi Alexandra.
- Tôi đoán không sai, lên xe tôi đưa đi.
Thật là may mắn cho họ; tới chỗ quẹo vào Alexandra, họ xuống xe ngỏ lời cảm ơn.
Người da trắng bảo:
- Đường xa quá, mà tôi biết rằng không có xe buýt….
Họ đứng nhìn chiếc xe chạy đi. Nhưng chiếc xe không chạy tới mà quay trở lại, đi ngược về Johannesburg.
Msimangu bảo:
- Thật là một chuyện lạ.
Từ chỗ đó tới đại lộ Hai mươi ba, đường còn xa, và trong khi họ đi hết đại lộ này tới đại lộ khác, Msimangu giảng cho bạn hiểu rằng Alexandra nằm ở ngoài ranh giới thành phố Johannesburg là một khu mà người da đen có quyền mua đất cất nhà. Nhưng đường phố tệ quá, lại không có đèn và nạn khan nhà trầm trọng tới nỗi, ai có phương tiện thì cũng cất thêm một vài cái chòi trong sân để cho mướn lại. Nhiều chòi là những ổ trộm cướp, gái điếm, chỗ nấu rượu lậu.
Msimangu bảo:
- Tình trạng thảm hại quá đến nỗi bọn người da trắng ở Vườn cam, ở Norwood và Highlands North cùng đứng đơn yêu cầu nhà cầm quyền san phẳng khu đó đi. Một thanh niên mình đã giật cái xắc của một bà già da trắng, bà ta té xuống, xúc động sợ quá mà chết tại chỗ. Rồi còn một chuyện ghê rợn này nữa: một người đàn bà da trắng ở một mình trong một căn nhà cách đây không xa, một bọn thanh niên mình xông vô cướp, bà ta chống cự lại mà bị chúng giết. Cũng có đôi khi đàn ông và đàn bà da trắng ban đêm ngừng xe hơi lại dưới tàn cây trên đường Oretoria; và bọn thanh niên mình có đứa lại cướp giật của họ, đánh đập họ, hiếp dâm đàn bà của họ nữa. Đành rằng hạng đàn bà đó thường là xấu xa, nhưng dù sao cũng là một trọng tội ghê gớm quá.
Msimangu ngừng lại một chút rồi nói tiếp:
- Tôi còn nhớ một vụ nữa ở phía bên kia Johannesburg. Một ông bạn của tôi ở một ngôi nhà cô lập trên con đường Potchefstroom. Giữa một đêm đông lạnh lẽo, còn lâu trời mới sáng mà ông ta nghe thấy có người gõ cửa. Ra coi thì là một người đàn bà da trắng gần như lõa lồ. Y phục bà ta đã bị xé toạc, còn mấy mảnh bà ta thu thu lại để che thân, mà da thì tìm đi vì lạnh. Một người đàn ông da trắng đã hiếp bà ta, ép bà ta lên xe hơi của hắn, và sau khi đã thoả mãn rồi - thoả mãn hay không thực ra tôi không biết rõ, vì tôi không có ở đó - hắn tống bà ta ra ngoài trời lạnh với mảnh áo tả tơi trên mình đó, rồi lái xe về Johannesburg. Hai vợ chồng ông bạn tôi kiếm cho bà ta được một chiếc áo dài cũ và một chiếc áo khoác cũ, nấu nước pha trà và quấn mền cho bà ta. Trẻ trong nhà thức dậy hỏi có chuyện gì vậy, nhưng vợ chồng ông bạn bảo chúng ngủ đi và không cho chúng vô phòng để coi bà nọ. Rồi đương đêm, ông bạn tôi lại nhà một chủ trại da trắng ở gần đó. Chó nhà này dữ quá, ông ta sợ nhưng cứ bước vô và khi người da trắng bước ra, ông ta kể chuyện đã xảy ra, bảo việc này nên làm kín đáo, không cho ai hay. Người da trắng bảo: “Được tôi sẽ lại ngay bây giờ ” rồi đánh xe ra, cả hai người trở về nhà ông bạn tôi. Bà da trắng muốn đưa một số tiền để trả ơn vợ chồng ông bạn tôi, nhưng không có tiền. Vợ chồng ông bạn tôi đều bảo bà ta rằng không nên đưa tiền. Người đàn ông da trắng bảo ông bạn tôi: “ Jy is’n goeie Kaffer ” ( chú là một tên Cafre (1) tốt ), và lặp câu đó tới hai lần…Ông ta cảm động, và bập bẹ mấy tiếng Bantu đó.
- Nghe chuyện, tôi cũng cảm động.
- Lúc nãy tôi nói về đơn thỉnh nguyện xin san phẳng khu này. Các bạn da trắng của chúng ta phản đối, bảo rằng ở Alexandra cái tốt vẫn nhiều hơn cái xấu, và để cho người dân ở đây có một miếng đất, một căn nhà của riêng mình để nuôi con, một nơi họ có quyền ăn nói, cảm thấy rằng mình được ở trên nơi chôn nhau cắt rốn của mình, cái đó là điều đáng kể chứ. Giáo sư Hoernle – ông ta đã mất rồi, xin Thượng Đế độ trì hương hồn ông – là người chiến đấu hăng nhất cho chúng ta. Thực đáng tiếc là huynh không được nghe ông ấy diễn thuyết. Vì một mình ông ấy có đủ đầu óc của Tomlinson, cái giọng nói của ông John và cái nhiệt tâm của Dubula. Khi ông ta nói thì không một người da trắng nào tranh biện nổi. Bây giờ tôi còn nhớ. Ông ta thường nói rằng cái này ở đây, cái kia ở kia và cái đằng kia nữa ở đằng kia và cái nào ông đã đặt ở đâu thì ở đó, không ai có thể dời chỗ nó đi được dù chỉ là một vài phân. Dù là Anh hay Afrikaaner (2) thì cũng không ai dời chỗ những cái đó được cả.
Msimangu rút khăn mùi xoa ra chùi mồ hôi trên mặt.
- Tôi đã nói nhiều quá, đã tới căn nhà mà chúng ta kiếm rồi đây.
Họ gõ cửa, một người đàn bà ra mở cửa, không chào hỏi họ và khi họ cho biết mục đích của họ thì thím ta miễn cưỡng để họ vô.
- Thím Mkize, thím nói thanh niên đó đã dọn đi chỗ khác rồi ư?
- Phải, và tôi không biết đi đâu.
- Đi hồi nào vậy?
- Cách đây nhiều tháng rồi. Có lẽ tới một năm rồi.
- Cậu ấy có ở chung với một người bạn nào không?
- Có, một cậu nữa cùng họ Kumalo, một người em con chú. Họ dắt nhau đi.
- Và thím không biết họ đi đâu?
- Họ có nói tới mấy chỗ. Nhưng bọn thanh niên ấy nói, thì ông còn lạ gì.
Kumalo hỏi:
- Thanh niên tên là Absalom đó hạnh kiểm ra sao?
Rõ ràng là trong mắt thím ta có vẻ sợ hãi. Và rõ ràng là thấy vậy, Kumalo cũng đâm ra sợ hãi. Trong nhà này có không khí sợ hãi.
Thím ta đáp:
- Tôi không thấy có gì bậy.
- Nhưng thím ngờ rằng có cái gì bậy chứ?
- Không có gì bậy cả.
- Thế thì tại sao thím lại sợ?
- Tôi sợ gì đâu?
- Thế thì tại sao thím lại run?
- Vì lạnh.
Thím ta nhìn hai người lạ, vẻ cau có, giữ ý.
Msimangu cáo từ:
- Chúng tôi cám ơn thím. Thím ở lại mạnh giỏi.
- Hai ông đi mạnh giỏi.
Ra tới đường, Kumalo bảo:
- Có cái gì không hay rồi đây.
- Tôi cũng thấy vậy. Huynh ạ, cả hai chúng ta tới thì đông quá. Huynh quẹo tay trái ở góc con đường lớn đi, rồi lên dốc, sẽ thấy một quán giải khát. Huynh ngồi đó đợi tôi.
Kumalo nghe lời, bước đi, trong lòng ưu tư rầu rĩ; Msimangu chậm chạp bước theo, tới khi bạn quẹo ở góc đường rồi mới quay trở lại, gõ cửa căn nhà lúc nãy.
Thím ta lại ra mở cửa, cũng cau có như trước, bây giờ thím đã bình tĩnh lại rồi, cau có nhiều hơn là sợ.
Msimangu bảo:
- Tôi không phải ở ty cảnh sát đâu, không liên can gì tới ty đó cả. Và tôi mong rằng không có chuyện gì liên can tới họ. Nhưng có một ông già đau khổ không tìm ra được người con trai.
Thím ta đáp một cách xã giao:
- Tội nghiệp.
- Tội nghiệp lắm, và tôi sẽ không chịu đi đâu, nếu thím không cho tôi biết những điều mà lúc nãy thím không muốn nói.
- Có gì đâu mà nói.
- Thím không có gì để nói vì thím sợ. Và thím run không phải vì lạnh.
- Thế thì tại sao tôi lại run?
- Điều đó tôi không biết. Nhưng tôi sẽ không chịu đi đâu nếu không kiếm ra được tại sao. Và nếu cần thì sẽ phải tới ty cảnh sát vì còn có cách nào nữa đâu.
Thím ta có giọng oán hận:
- Đàn bà mà ở một mình thì thật khổ quá.
- Một ông già đi tìm con cũng đau khổ vậy.
- Tôi sợ.
- Ông ấy cũng sợ. Thím không thấy ông ấy có vẻ sợ sao?
- Có, tôi có thấy, Umfundisi.
- Vậy thím làm ơn cho tôi hay hồi ở đây, đời sống của hai thanh niên đó ra sao?
Nhưng thím ta vẫn làm thinh, vẻ sợ hãi hiện trong cặp mắt đã muốn rưng rưng, Msimangu thấy khó mà thuyết phục thím ta được.
- Tôi là mục sư, thím không tin tôi ư?
Thím ta vẫn làm thinh.
- Thím có một cuốn Kinh Thánh không?
- Có .
- Vậy tôi sẽ cầm Kinh Thánh mà thề.
Thím ta vẫn không đáp, Msimangu lập lại:
- Tôi cầm Kinh Thánh mà thề
Thấy vị mục sư quyết tâm không để cho mình yên, thím ta do dự đứng dậy, bước vô một phòng ở phía sau, rồi một lát trở ra với cuốn Kinh Thánh.
Msimangu bảo:
- Tôi là mục sư. Hễ nói có là có, nói không là không, không bao giờ sai. Nhưng vì thím đã muốn và vì ông bạn già của tôi lo sợ, nên tôi xin thề trên cuốn Kinh Thánh này rằng thím sẽ không bị lôi thôi gì về chuyện này cả, vì chúng tôi chỉ muốn tìm một thanh niên thôi. Cầu xin Tixo phù hộ tôi.
Rồi ông ta hỏi tiếp:
- Đời sống của họ ra sao?
- Thưa Umfundisi, tới lúc thật khuya khoắt, họ đem về nhà này nhiều thứ lắm. Quần áo, đồng hồ, tiền bạc này, thức ăn đựng trong bao này, và nhiều thứ khác nữa.
- Có thấy máu me gì trên người họ không?
- Thưa Umfundisi, không bao giờ tôi thấy máu me trên người họ cả.
- Được. Tuy chưa biết gì nhiều, nhưng bây nhiêu cũng được…Và tại sao họ lại đi nơi khác?
- Tôi không biết, Umfundisi. Nhưng tôi ngờ rằng công việc của họ sắp bị lộ.
- Họ đi hồi nào?
- Đã được gần một năm rồi, Umfundisi. Như tôi đã nói lúc nãy.
- Và thím có thể thề trên cuốn Kinh Thánh này, rằng thím không biết họ đi đâu chứ?
Thím ta đưa tay về cuốn Kinh Thánh. Msimangu bảo:
- Thôi được rồi.
Ông chào thím ta, rồi hấp tấp bước ra để tìm bạn. Thím ta gọi giật lại, bảo:
- Họ chơi thân với một người lái tắc-xi là Hlabeni. Người này ở gần bến xe buýt. Tới đó ai cũng biết.
- Cảm ơn thím cho tôi biết chi tiết đó. Chúc thím ở lại mạnh giỏi.
Ông ta thấy bạn ngồi trong quán giải khát. Ông già này vội vàng hỏi ngay:
- Biết thêm được điều gì không?
- Tôi biết thêm được điều này: họ chơi thân với một người lái tắc-xi tên là Hlabeni. Để tôi ăn vài miếng đã rồi chúng mình đi tìm.
Ăn xong rồi, Msimangu đi kiếm một người hỏi thăm xem làm sao tìm được chú Hlabeni, lái xe tắc-xi. Người đó đáp:
- Chú ấy ngồi trong xe tắc-xi, ở góc đường kia kìa.
Msimangu tiến lại phía xe tắc-xi, chào người ngồi trong xe.
- Chào chú.
- Kính chào Umfundisi.
- Tôi kiếm xe tắc-xi đây. Từ đây về Johannesburg, chú tính bao nhiêu? Tôi đi với một ông bạn nữa.
- Umfundisi đi thì tôi xin mười một si-linh.
- Đắt thế.
- Chiếc xe khác sẽ đòi Umfundisi mười lăm hay hai chục si-linh.
- Ông bạn tôi già và mệt. Tôi sẽ trả giá đó.
Chú ta tính cho rồ máy thì Msimangu bảo khoan đã:
- Người ta bảo tôi chú có thể chỉ chỗ cho tôi kiếm một thanh niên tên là Absalom.
Lần này cũng vậy, chú ta có vẻ sợ hãi rõ rệt. Nhưng Msimangu vội vàng nói cho chú ta yên tâm:
- Tôi kiếm chú không phải để gây chuyện lôi thôi cho chú đâu. Tôi hứa với chú rằng tôi không làm chuyện gì lôi thôi cho chú hoặc cho tôi đâu. Nhưng ông bạn tôi, già và mệt rồi, chính là thân phụ của thanh niên đó và từ Natal lại đây tìm con. Chúng tôi đi hỏi thăm nơi nào người ta cũng bảo, thanh niên đó đã đi chỗ khác rồi và ông bạn già của tôi lo lắng lắm.
- Vâng, tôi biết thanh niên đó.
- Bây giờ cậu đó ở đâu, hở chú?
Tôi nghe nói anh ấy đã đi Orlando và sống ở đó với bọn vô gia cư tại Shanty Town (3). Tôi chỉ biết vậy thôi.
Msimangu bảo:
- Khu Orlando rộng lớn mà.
- Nhưng xóm bọn vô gia cư thì không lớn lằm, Umfundisi. Có những nhân viên ở toà thị chính làm việc với họ và biết mặt họ hết. Umfudisi có thể hỏi thăm các nhân viên ấy.
- Lời khuyên của chú giúp tôi được nhiều đấy. Tôi có quen vài nhân viên trong số đó. Bây giờ chú chở chúng tôi đi nào.
Ông ta gọi Kumalo lại, bảo đi về bằng tắc-xi. Họ leo lên xe và chiếc xe lạch cạch chạy ra khỏi Alexandra, tới con đường cái rộng đưa từ Pretoria về Johannesburg. Lúc đó đã xế chiều, con đường chật xe cộ vì là giờ người ta đổ về Johannesburg hoặc ở Johqnnesburg đổ ra ngoại ô.
- Huynh nhìn xem những chiếc xe đạp kìa. Có mấy ngàn người ở Alexandra tan sở về nhà, và chúng ta sắp thấy mấy ngàn người nũa đi bộ vì tẩy chay xe buýt.
Quả nhiên, một lát sau thấy hai bên lề đường người đi bộ chen chúc nhau. Họ đông tới nỗi lấn xuống cả mặt đường và xe cộ phải chạy chầm chậm lại. Có những người già cả, có những người mệt mỏi và có cả những người tàn tật nữa như người ta đã để cho nghe, nhưng hầu hết đều kiên nghị bước và họ chịu cực như vậy tới nay đã được mấy tuần rồi. Nhiều người da trắng ngưng xe lại, đón họ cho đi nhờ về Alexandra.
Khi xe ngừng lại ở một chỗ đèn đỏ, hai vị mục sư thấy một cảnh sát công lộ hỏi một người da trắng có giấy phép chở người da đen không.
Người da trắng đáp:
- Tôi chở giùm họ, không lấy tiền.
- Nhưng ông vẫn là chở khách trên một lộ trình của xe buýt.
- Vậy thì cứ đưa tôi ra toà.
Đèn xanh bật lên, chiếc tắc-xi tiếp tục chạy và hai vị mục sư không được nghe nốt.
Msimangu bảo:
- Tôi đã nghe nói. Nghe người ta bảo rằng họ kiếm cách ngăn cản người da trắng chở giúp chúng ta và họ còn định đưa những người da trắng này ra toà nữa.
Trời đã tối, nhưng con đường vẫn còn chật những người trở về nhà ở Alexandra. Và vẫn còn nhiều chiếc xe ngừng lại cho họ lên, nhất là các người già cả, các phụ nữ và các người tàn tật. Kumalo nở một nụ cười, một nụ cười kỳ dị, khắp thế giới không đâu có, nụ cười của một người da đen khi thấy một người đồng chủng được một người da trắng giúp đỡ ở chỗ công cộng, vì việc đó đâu phải dễ dàng. Ông ta mải trầm tư cho nên giật mình khi Msimangu thình lình nói lớn tiếng:
- Thật quá sức tưởng tượng, huynh ạ.
- Cái gì quá sức tưởng tượng?
- Không, nói thực ra tôi không ngờ được chuyện đó.
Msimangu ngồi thẳng người lên, đầm mạnh vào ngực, nói:
- Cứ, đưa tôi ra toà đi.
Kumalo ngạc nhiên ngó bạn. Msimangu bảo:
- Cái đó quá sức tưởng tượng của tôi.


Chú thích:

1. Cũng gọi là Bantu, một bộ lạc ở Phi châu.
2. Một số người Afrikaaner muốn dùng tiếng đó theo nghĩa rộng, trỏ tất cả những người da trắng ở Nam Phi nhưng nghĩa này chưa được mọi người chấp nhận.
3. Shanty Town là ấp nhà lá.
 


< Sửa đổi bởi: Ct.Ly -- 20.11.2007 0:15:56 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 8
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 18.10.2007 17:35:18   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
7.
 
 
Con đường nào cũng đưa tới Johannesburg. Dù bạn là da trắng hay da đen thì nó cũng đưa bạn tới Johannesburg. Thất mùa thì lại Johannesburg kiếm việc. Thuế má nặng quá thì lại Johannesburg kiếm việc. Vườn ruộng nhỏ quá, không thể chia manh mún ra được nữa thì một người trong nhà phải lại Johannesburg kiếm việc. Sắp tới ngày sanh mà muốn giấu giếm thì có thể lại sanh lén ở Johannesburg.
Người da đen lại Alexandra, Sophiatown hoặc Orlando rán mướn một căn phòng hoặc mua lại một phần một căn nhà.
- Bà có phòng nào cho mướn không?
- Không, tôi không có phòng cho mướn.
- Bà có phòng nào cho mướn không?
- Đã có người mướn rồi.
- Bà có phòng nào cho mướn không?
- Có, tôi có một phòng có thể cho mướn được, nhưng tôi lại không muốn cho mướn. Tôi chỉ có hai phòng mà trong nhà có cả thảy sáu người mà trẻ lại sắp lớn hết cả rồi. Nhưng sách học đắt quá mà nhà tôi lại đau, ngay khi khoẻ mạnh, nhà tôi cũng chỉ kiếm được ba mươi lăm si-linh mỗi tuần. Phải trả sáu si-linh tiền mướn nhà, mất ba si-linh tiền đi xe buýt, đóng một si-linh để khi chết người ta chôn cất cho đàng hoàng, rồi một si-linh tiền sách cho trẻ, ba silinh tiền may mặc, hà tiện lắm đấy, rồi một si-linh cho nhà tôi uống bia, một si-linh nữa cho nhà tôi mua thuốc hút, thứ tiêu pha này không thể bớt xén được, vì nhà tôi là một người đứng đắn không cờ bạc, không đem tiền nuôi gái. Rồi thêm một si-linh cúng vào giáo đường, một si-linh nữa tiền thuốc thang. Vậy chỉ còn mười si-linh nữa cho sáu người ăn, cho nên nhà lúc nào cũng đói. Có, tôi có một phòng nhưng không muốn cho mướn. Bà trả tôi bao nhiêu?
- Tôi có thể trả ba si-linh mỗi tuần.
- Tôi không ham.
- Ba si-linh rưỡi đấy.
- Ba si-linh rưỡi. Muốn ở cho thong thả không chen chúc nhau quá thì bao tử lép kẹp. Khi trẻ bắt đầu lớn rồi thì cần ở đừng chen chúc nhau quá nhưng như vậy thì bao tử lép xẹp. Được, ba si-linh rưỡi thì tôi cho mướn được.
Nhà ở chật quá thì nó không nứt ra, nhưng nó tràn ra. Mười người trong hai phòng, mà có mỗi một cửa vô, và khi bạn ngủ thì người ta phải bước qua bạn để đi. Nhưng trẻ sẽ được thêm miếng ăn và có thể mỗi tháng một lần, được đi coi hát bóng.
Tôi không ưa mụ đàn bà đó và cái vẻ mụ ngó chồng tôi. Tôi không ưa đứa con trai đó và cái vẻ nó ngó con gái tôi. Tôi không ưa gã đàn ông đó, tôi không ưa cái vẻ hắn ngó tôi, tôi không ưa cái vẻ hắn ngó con gái tôi.
- Tôi ân hận lắm, nhưng xin ông bà dọn đi nơi khác cho.
- Tôi có chỗ nào đâu mà dọn đi.
- Tôi ân hận lắm, nhưng nhà chật quá, làm sao chứa được bây nhiêu người.
- Chúng tôi đã ghi tên để xin mướn nhà rồi. Bà chịu phiền đợi khi chúng tôi kiếm được nhà đã.
- Ở Orlando có người đợi đã năm năm vẫn chưa kiếm được nhà.
- Tôi có ông bạn chỉ một tháng kiếm được nhà.
- Tôi nghe nói có trường hợp như vậy. Người ta bảo là hãy đút lót.
- Chúng tôi không có tiền đút lót.
- Tôi rất ân hận, nhưng nhà chật quá.
- Thực vậy, căn nhà này chật quá, và căn nhà kia cũng chật quá. Vì ai cũng đổ tới Johannesburg. Từ Transkei và từ Free State, từ Zululand và từ Sekukuniland. Người Zulu, người Swazi, người Shangaan và người Barenda, người Bapedi và người Basuto, người Xosa và người Tembu, người Pondo và người Fingo, hết thảy đều đổ lại Johannesburg.
Tôi không ưa mụ đàn bà đó. Tôi không ưa đứa con trai đó. Tôi không ưa gã đàn ông đó. Tôi ân hận lắm, nhưng xin ông bà dọn đi nơi khác cho.
- Tôi xin bà cho tôi một tuần nữa thôi.
- Được, một tuần nữa thì được.
- Bà có phòng nào cho mướn không?
- Không, tôi không có phòng cho mướn.
- Bà có phòng nào cho mướn không?
- Đã có người mướn rồi.
- Bà có phòng nào cho mướn không?
- Có, tôi có một phòng có thể cho mướn được, nhưng tôi không muốn cho mướn. Vì tôi đã thấy nhiều người chồng đã bị đàn bà quyến rũ, và nhiều người vợ bị đàn ông quyến rũ. Tôi đã thấy nhiều đứa con gái bị con trai làm cho hư đốn. Nhưng nhà tôi chỉ kiếm được có ba mươi bốn si-linh mỗi tuần.

- Không kiếm được nhà mới thì làm sao bây giờ?
- Bạn có thể đợi năm năm, mà vẫn không có hy vọng gì hơn ngày đầu.
- Người ta bảo chỉ riêng ở Orlando có tới một vạn người phải ở chung chạ như chúng mình.
- Anh có nghe Dubula nói đấy không? Rằng chúng ta phải tự cất nhà lấy ở Orlando này thôi.
- Cất ở chỗ nào?
- Dubula bảo cất ở khu đất trồng hai bên đường rầy xe lửa.
- Cất bằng cái gì?
- Bất kỳ cái gì. Bao bố, ván, cỏ tranh, cọc ở trong các sở trồng cây, kiếm được cái gì thì dùng cái đó.
- Thế khi trời mưa thì sao?
- Siyafa (1). Thì chết chứ sao.
- Không, khi trời mưa thì họ phải cất nhà cho chúng ta.
- Nói bậy. Rồi tới mùa đông thì sao?
Đợi sáu năm để có một căn nhà. Và nhà nào nhà nấy đã chật cứng rồi mà vẫn phải chứa thêm người nữa, vì thiên hạ vẫn tiếp tục đổ tới Johannesburg. Một cuộc đại chiến mới tàn phá dữ dội Châu Âu và Bắc Phi và không ai cất nhà cả.
- Đã có căn nhà nào cho tôi chưa?
- Vẫn chưa có.
- Ông chắc rằng tên tôi có ghi trong sổ đấy chứ?
- Ghi rồi.
- Số tôi trong sổ là số mấy?
Số sáu ngàn ở trong sổ. Như vậy nghĩa là không bao giờ tôi kiếm được một căn nhà, mà không thể ở chỗ tôi đương ở được nữa. Chúng tôi đã gây lộn về cái lò, chúng tôi đã gây lộn về bầy trẻ, và tôi không ưa cái vẻ gã đàn ông đó ngó tôi. Có một khu đất trống hai bên đường rầy xe lửa, nhưng khi trời mưa và tới mùa đông thì sao? Người ta bảo mười bốn bữa nữa phải lại đó, rủ nhau lại cả đó. Người ta bảo phải thu nhập các tấm ván, bao bố, những miếng tôn, cây cọc rồi cùng nhau lại đó. Người ta bảo phải trả mỗi si-linh mỗi tuần cho Uỷ ban để Uỷ ban chở các đồ đạc của chúng ta lại và cất cầu tiêu cho hợp vệ sinh. khỏi sinh bệnh. Nhưng trời mưa và tới mùa đông thì làm sao?
- Đã có căn nhà nào cho tôi chưa?
- Vẫn chưa có.
- Tôi đã ghi tên trong sổ hai năm nay rồi.
- Hai năm còn là mới đấy.
- Người ta bảo nếu biết phải chăng…
Ông ta không nghe tôi nói và lo tiếp tới người sau. Nhưng một ông khác ở đâu không biết, tiến lại gần tôi và nói một câu làm tôi rất đỗi ngạc nhiên..
- Bà Seme, tôi rất ân hận rằng họ không kiếm được nhà cho bà. Nhân tiện đây, nhà tôi muốn được bàn bạc với bà về công việc của Uỷ ban. Nhà tôi bảo bảy giờ tối nay. Bà biết địa chỉ tôi đấy chứ, số 17852, gần giáo đường Hoà Lan cải cách. Đây, để tôi ghi số nhà lại cho bà. Thôi, xin chào bà.
Tôi định đáp ông ta, thì ông ta đã quay đi rồi.
- Ông ta làm cho tôi ngạc nhiên hết sức. Vợ ông ta là ai, tôi có quen biết gì đâu. Còn cái Uỷ ban đó là Uỷ ban nào? Tôi có biết uỷ ban uỷ biếc nào đâu.
- Bà thực thà quá, bà ơi. Họ muốn biết bà chịu đưa cho họ bao nhiêu tiền để có một căn nhà đấy.
- À, nếu vậy tôi sẽ lại nhà ông ta. Tôi mong rằng ông ta đừng đòi tôi một số tiền lớn quá, chỉ có ba mươi bảy si-linh mỗi tuần thì tiền đâu mà đưa nhiều được. Nhưng thế nào cũng phải kiếm cho được một căn nhà. Tôi sợ cái chỗ tôi đương ở đây quá chừng rồi. Tới giờ ngủ của những người đứng đắn thì họ đi tới đi lui nhộn quá. Có nhiều thanh niên ra vô quá, cơ hồ như họ không bao giờ ngủ và cũng không bao giờ làm việc. Họ ăn bận sang quá, nhiều quần áo quá, như người da trắng. Một ngày kia họ sẽ bị tra hỏi, lôi thôi, mà vợ chồng tôi chưa bao giờ bị chuyện lôi thôi cả. Thế nào cũng phải kiếm cho được một căn nhà.
- Năm bảng, nhiều quá. Tôi không có đủ.
- Có được căn nhà, năm bảng đâu phải là nhiều, bà Seme.
- Sao? Chỉ để cho tên tôi được đưa lên chỗ cao hơn trong sổ ư?
- Việc đó đâu có dễ, nguy hiểm lắm. Ông giám đốc người Âu đã bảo sẽ trừng trị nghiêm khắc kẻ nào ghi gian trong sổ.
- Tôi rất tiếc, không thể đưa bấy nhiêu tiền được.
Tôi chưa kịp ra về thì vợ ông ta và một người đàn bà nữa bước vô.
- Mình ạ, chắc mình lầm rồi. Em đâu có quen bà này. Bà không ở trong Uỷ ban mà.
- Vậy ư, anh xin lỗi em. Xin bà Seme thứ lỗi cho. Tôi cứ tưởng bà trong Uỷ ban chứ. Chúc bà về mạnh giỏi.
Tôi không đáp lại: “ Ông bà về mạnh giỏi ”. Họ có mạnh giỏi hay không thì tôi cần quái gì. Về phần tôi, chẳng có cái gì ưng ý cả. Tôi mệt mỏi, cô độc. Ôi, mình ơi, tại sao chúng mình lại bỏ quê hương xứ sở mà ra đây? Ở quê hương xứ sở, kiếm chẳng được bao nhiêu nhưng còn hơn là ở đây. Thức ăn thiếu thốn đấy, nhưng mọi người chia sẻ với nhau. Và khi mọi người đều nghèo cả thì cảnh nghèo không đến nỗi bi thảm lắm. Mà cảnh bờ sông đẹp làm sao, trong khi giặt dũ, gió thổi hây hẩy bên tai, nước chảy róc rách trên đá. Hai tuần nữa là ngày dọn nhà. Lại đây, mình ơi, hai đứa mình đi kiếm ván, tôn, bao bố và cọc đi nào. Em ngán cái chỗ mình đương ở đây quá.
Ở dưỡng đường Baragwanath, thợ xây cất xong rồi để lại nhiều tấm ván đấy. Đêm nay tụi mình lại đó khiêng về đi. Ở trại cải huấn có tôn uốn đấy, người ta dùng để che các đống gạch. Đêm nay mình lại lấy ít tấm. Có bao bố ở ga Nancefield, cột thành từng bó kỹ lưỡng. Đêm nay mình lại lấy ít bó. Trong mỏ Crown Mines có nhiều cây cối. Đêm nay mình lại đó cưa lén lấy ít cành làm cọc.
Đêm nay ở Orlando, người nào cũng bận rộn. Nhà nào cũng đốt đèn. Anh khiêng tôn, còn mình, mình bồng em bé nhé. Thằng Hai, con vác hai cây cọc này, còn con bé Ba, xách bao bố, rán xách cho được thật nhiều đi con, đem lại bên cạnh đường rầy xe lửa ấy. Nhiều người đương dọn lại đó, đã nghe thấy tiếng thuổng và tiếng búa. May quá, đêm nay ấm áp không mưa. Cảm ơn, ông Dubula, miếng đất này vừa ý chúng tôi lắm. Cảm ơn ông Dubula, đây chúng tôi đóng một đồng cho Uỷ ban.
Shanty Town dựng lên trong nội một đêm. Sáng hôm sau, bừng con mắt dậy, ai nấy đều ngạc nhiên. Khói từ vải bố bay lên và một vài nhà đã có ống khói. Có một ống khói xinh xinh nằm ở gần bót cảnh sát Kliptown, nhưng tôi không dại gì mà lượm.
Shanty Town dựng lên trong nội một đêm. Nhật báo đăng đầy tin tức của chúng tôi. Có những hàng tít lớn và nhiều hình ảnh.
- Coi này, có hình nhà tôi đây này, đứng bên cạnh căn nhà nè. Uổng quá, tôi lại trễ không được các ông nhà báo chụp ảnh. Các ông ấy gọi chúng tôi là bọn vô gia cư. Chúng tôi là bọn vô gia cư. Trong cái làng lớn dựng bằng ván, tôn, bao bố, khỏi phải trả tiền nhà, chỉ phải đóng một si-linh cho Uỷ ban.
Shanty Town dựng lên nội trong một đêm. Đứa con gái nhỏ ho quá và trán nó nóng như lửa. Tôi ngại không muốn cho nó ra ngoài, nhưng đêm đó dọn nhà. Gió lạnh thổi qua vải bố. Rồi khi trời mưa, khi mùa đông tới mới biết làm sao? Nín đi con, má ở bên cạnh con đây nè. Nín đi con, đừng ho quá như vậy con, má ở bên cạnh con đây nè.
Đứa nhỏ ho quá đỗi, trán nó nóng hơn lửa. Nín đi con, má ở bên cạnh con đây nè. Ở ngoài kia có tiếng cười, tiếng giỡn, tiếng thuổng, tiếng búa, tiếng gọi nhau ơi ới, có nhiều ngôn ngữ mà tôi không hiểu Nín đi con ơi, có một thung lũng đẹp nơi đó con ra đời. Nước chảy róc rách trên đá, gió thổi hây hẩy bên tai. Đàn bò xuống uống nước ở bờ sông, dưới tàn cây. Nín đi con, xin Trời làm con tôi nín đi. Xin Trời thương chúng con. Xin chúa Ki Tô thương chúng con. Hỡi người da trắng thương chúng tôi với.
- Ông Dubula ơi, bác sĩ ở đâu?
- Sáng mai bác sĩ sẽ tới, thím đừng ngại gì cả, Uỷ ban sẽ trả tiền bác sĩ cho.
- Nhưng cháu nó gần chết rồi. Ông coi máu me này.
- Đợi một chút, trời sắp sáng rồi.
- Khi trẻ hấp hối, khi lòng người ta sợ hãi, sao thời gian lâu quá. Ông Dubula ơi, ông có thể đi mời bác sĩ ngay bây giờ có được không?
- Tôi rán xem. Tôi đi ngay bây giờ đây.
- Đội ơn ông, ông Dubula.


Phía ngoài có tiếng hát, hát chung quanh một đống lửa. Họ hát khúc Nksi sikelel’i Africa (2). Xin Thượng Đế che chở Châu Phi. Cầu xin Thượng Đế che chở đứa con nhỏ của Châu Phi này, nó là của con, mà con đã mang nặng đẻ đau, cho bú mớm, hết lòng yêu thương vì bản tính của đàn bà như vậy.
- Nằm yên đi con ơi. Ông bác sĩ ơi, ông không tới được hay sao?
- Tôi đã cho đi mời bác sĩ rồi, thím ạ. Uỷ ban đã cho người lái xe đi mời bác sĩ. Một bác sĩ da đen, trong bọn chúng mình.
- Đội ơn ông Dubula.
- Thím có muốn tôi yêu cầu họ đừng làm ồn không?
- Không cần, cháu nó không nghe thấy gì đâu.
Giá mời một bác sĩ da trắng có lẽ hơn, nhưng thôi, bác sĩ nào cũng được, miễn là ông ấy tới. Những tiếng ồn ào của những người xứ lạ kia, dù không im đi thì cũng không sao. Mình ơi em sợ quá. Con nó nóng hừng hực như lửa trong bàn tay em đây nè.

Thôi không cần bác sĩ nữa. Dù bác sĩ da trắng hay da đen thì cũng không cứu được nó nữa rồi. Ôi, đứa con tôi mang nặng đẻ đau, trước kia ôm cặp má nhỏ của nó trong lòng bàn tay, thấy những ngón tay nó níu chặt lấy mình, thấy cái miệng xinh xinh của nó nút vú mình, thích làm sao. Bản tính đàn bà như vậy. Số phận của đàn bà là mang nặng, chịu đựng, giữ gìn rồi mất hết.


Những người da trắng lại Shanty Town. Họ chụp hình chúng tôi và quay phim để đưa lên màn ảnh. Họ tới và tự hỏi họ sẽ làm được cái gì vì chúng tôi đông quá. Khi trời mưa thì bọn khốn nạn đó sẽ ra sao? Một bọn người tới, đem máy móc tới và họ bắt đầu cất nhà cho chúng tôi. Ông Dubula thông minh tài giỏi thật, ông ấy đã bảo rằng họ sẽ cất nhà cho chúng ta. Và họ mới bắt đầu cất nhà cho chúng ta, thì ban đêm đã có nhiều người da đen khác từ Pimville, từ Alexandra, từ Sophiatown lại dựng chòi bằng tôn, bằng cọc, bằng bao bố, bằng cỏ tranh. Rồi bọn người da trắng trở lại, lần này không có vẻ thương hại chúng ta nữa mà có vẻ giận dữ. Cảnh sát tới và đuổi chúng tôi đi. Trong số những người họ đuổi đi đó, có cả những người ở tại Orlando nữa. Bọn này phải trở về chỗ ở cũ của họ, nhưng có kẻ phòng cũ đã có người khác ở rồi, có kẻ trở về thì chủ nhà không chịu cho ở nữa.
Không nên xấu hổ rằng phải ở Shanty Town. Báo chí đã đăng tin đăng ảnh rồi và có hình nhà tôi đứng bên cạnh căn nhà đấy. Một ông ở đây có một số báo ở Durban và trên mặt báo này cũng có hình nhà tôi đứng bên cạnh căn nhà. Ở đây cũng có thể cho địa chỉ được, chỉ cần đề Shanty Town. Ai cũng biết Shanty Town ở đâu; rồi ghi thêm số mà Uỷ ban cấp cho bạn.
Khi trời mưa, chúng ta sẽ ra sao? Rồi tới mùa đông nữa. Đã có vài người bảo: ngó những căn nhà trên đồi kìa, chưa cất xong nhưng mái đã lợp rồi kìa. Một đêm nào đó chúng ta sẽ dọn lại đó ở, khỏi lo mưa và lạnh.


Chú thích:
1. Đọc là Si-da-fa. Tiếng thổ dân có nghĩa là: Chúng ta chết.
2. Khúc hát này đã thành bài Quốc ca của người da đen. Nkosi phát âm gần như Inkosi; sikelel: chữ k phát âm gần như g, e phát âm gần như ê.


< Sửa đổi bởi: Ct.Ly -- 20.11.2007 0:19:22 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 9
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 24.10.2007 13:20:30   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
8.
 
 
Trong khi đợi Msimangu lại đón và dắt tới Shanty Town. Kumalo ngồi chơi với Gertrude, và đứa cháu. Nhưng quay về phía đứa cháu nhỏ có vẻ nghiêm trang mà chơi với nó nhiều hơn vì ông đã ngoài hai mươi rồi cô Gertrude mới ra đời, nên tình anh em không thân mật lắm. Với lại ông là mục sư, điềm đạm, có lẽ buồn tẻ nữa, tóc ông đã bạc nhiều mà Gertrude còn là một thiếu phụ. Ông không nong gì nàng kể cho ông nghe những nỗi trầm trọng xảy ra ở Johannesburg này, vì chính nàng đã tìm cuộc sống và công việc trong những nỗi nó làm cho ông buồn rầu và hoang mang đó.
Những nỗi đó thật là nghiêm trọng, quá đỗi nghiêm trọng đối với một thiếu phụ học mới hết lớp nhì trường làng. Nàng kính trọng anh, theo cái lễ đối với một người anh cả và một mục sư, và hai anh em chỉ nói chuyện với nhau theo nghi thức, chứ không bao giờ nhắc lại những nông nỗi đã làm cho nàng té xuống gào khóc trên đất.
Cũng may có bà Lithebe hiền hậu ở bên cạnh; bà và Gertrude kể lể dài dòng về tâm sự của đàn bà, và họ cùng hát với nhau trong khi làm những công việc hằng ngày trong nhà.
Phải, ông Kumalo quay về phía đứa cháu gái có vẻ nghiêm trang và chơi với nó. Ông đã mua cho nó một bộ gồm nhiều khúc cây nhỏ rẻ tiền và nó ngồi sắp xếp hoài, chăm chú lắm, như dự tính một việc gì người lớn không hiểu được mà nó lấy làm say mê. Kumalo bồng nó lên, luồn tay vào trong áo sơ-mi của nó, rờ cái lưng nhỏ ấm áp của nó, vuốt ve nó, cù nó, cho tới khi vẻ mặt nghiêm trang của nó, nở một nụ cười rồi nụ cười thành tiếng cười sằng sặc. Hoặc ông nói về thung lũng lớn nơi nó sanh, kể cho nó tên những ngọn đồi, những dòng sông, tả cho nó ngôi trường nó sẽ tới học, tả những đám sương mù bao phủ những ngọn núi ở phía trên Ndotsheni. Đứa nhỏ không hiểu gì về những cái đó cả; nhưng chắc có một cái gì đó làm nó cảm thích vì cặp mắt nghiêm trang của nó mở tròn ra ngó ông bác, trong khi nó chăm chú nghe những tên thanh âm trầm trầm và du dương. Những lúc đó bác nó thích lắm vì ở giữa châu thành lớn này ông động lòng nhớ quê; trong thâm tâm ông rất thích thú được nhắc lại những tên ở quê hương ông. Đôi khi Gertrude nghe tiếng ông, bèn tiến lại, e lệ đứng ở cửa phòng, nghe ông tả những cảnh đẹp nơi chôn nhau cắt rốn của nàng. Lúc đó, Kumalo lại càng vui, và thỉnh thoảng ông lại hỏi em:
- Em còn nhớ không?
Và nàng đáp:
- Dạ, em còn nhớ – Nàng mừng rằng anh mình đã hỏi han mình.
Nhưng cũng có những lúc, đương vui thì ông sực nhớ đến đứa con trai của ông. Những lúc đó, trong một thoáng, ông thấy những ngọn đồi tên trầm trầm và du dương kia hiện lên, hoang tàn dưới ánh nắng như thiêu như đốt, thấy dòng suối cạn khô, đàn bò gầy ốm, uể oải, lang thang trên mặt đất đỏ không có lấy một cọng rễ. Chỉ còn là một xứ của các ông già bà cả, các bà mẹ và trẻ thơ, nhà nào cũng có một vài người bỏ ra đi rồi, cũng mất một cái gì rồi. Giọng ông ngập ngừng, run run rồi tắt, ông im bặt, vẻ trầm ngâm.
Có thể là vì ông không kể truyện nữa, cũng có thể là vì ông thình lình ghì chặt đứa nhỏ, nên nó mất vui, vùng vẫy để tụt xuống đất và chơi với mấy khúc cây của nó. Và như kiếm một cái gì để chấm dứt cái nỗi đau lòng tự nhiên nó tới đó, ông bèn nghĩ tới bà vợ, tới các bạn thân, tới những đứa trẻ từ trên đồi xuống, lần lần ló ra khỏi đám sương mù để tới trường. Những hình ảnh đó thân thiết với ông quá, ông thấy hết đau khổ và lặng lẽ gần như bình tĩnh ngắm nó trong tưởng tượng.
Ai biết được cái bí mật của kiếp sống gởi trên cõi trần này. Ai biết được tại sao trên cái thề giới sầu khổ này, con người thỉnh thoảng gặp được một niềm an ủi? Xin cảm ơn Thượng Đế, trên cõi trần khổ ải này có được một người yêu làm cho lòng ta bớt chua sót, được một đứa trẻ để chơi với nó. Xin cảm ơn Thượng Đế vì cái tên du dương như nhạc của một ngọn đồi, vì cái tên của một dòng sông làm cho tâm hồn ta nhẹ nhàng, dù là tên một con sông đã khô cạn không còn chảy nữa.
Ai biết được cái bí mật của kiếp sống gởi trên cõi trần này? Ai biết được tại sao chúng ta sống, chiến đấu rồi chết? Ai biết được có cái sức gì làm cho chúng ta vẫn sống và chiến đấu trong khi mọi cái sụp đổ chung quanh ta. Ai biết được tại sao da thịt của một đứa trẻ lại làm ấm lòng ta như vậy khi chính đứa con của ta lưu lạc đâu mất, không tìm được? Các nhà thông thái viết biết bao nhiêu sách, dùng những tiếng khó hiểu quá. Nhưng còn cái đó, cái mục đích của đời sống, cái cứu cánh của tất cả các cuộc chiến đấu của ta, thì con người không sao hiểu nổi. Ôi, Thượng Đế, xin Thượng Đế đừng bỏ con. Vâng, mặc dầu con tiến vào cái cõi u minh của sự chết, con cũng không sợ một tai nạn gì cả nếu có Thượng Đế ở bên cạnh con…
Kumalo đứng dậy. Có tiếng Msimangu ở ngoài cửa tới đón để đi tìm Absalom.


- Shanty Town đây, huynh ạ.
Ngay ở nơi đây, mà trẻ con cũng cười giỡn trong những đường hẻm ngăn cách những dãy nhà thê thảm làm bằng một miếng tôn, mấy miếng ván, vải bố, cỏ tranh, và một cánh cửa cũ nát ở một căn nhà đã phá nào đó. Có làn khói cuồn cuồn toả lên từ những lỗ đục rất khéo có mùi thức ăn, có tiếng nói, không phải tiếng giận dữ đau khổ, mà là tiếng chuyện trò hằng ngày về một đứa trẻ mới sanh, một đứa khác đã chết, một đứa nữa siêng năng học hành, và một đứa hiện nay trong khám. Miền này bị hạn hán và mặt trời chói lọi chang chang trên từng không xanh ngắt, không vẩn một đám mây. Nhưng khi trời mưa thì họ làm sao? Và khi mùa đông tới thì họ làm sao?
- Thấy cảnh này tôi buồn quá.
- Huynh ngó, người ta đương xây cất trên kia kìa. Đã mấy năm nay người ta không xây cất nữa. Bây giờ xây cất như vậy chắc là sẽ có cái gì tốt  đây. Mà đó cũng là công trình của Dubula nữa.
- Cơ hồ như ở đâu cũng có ông ta.
- Coi kìa, có một nữ y tá người mình nữa kìa. Đội cái nón đó, bận áo đỏ và trắng đó, coi được đấy nhỉ.
- Phải coi được lắm.
- Người da trắng đào tạo thêm mỗi ngày mỗi nhiều nữ y tá. Lạ thật, chúng ta tiến bộ về một phương diện nào đó, ngừng lại ở một phương diện khác và thụt lùi ở phương diện khác nữa. Về vấn đề đào tạo các nữ y tá đó, chúng ta được nhiều bạn da trắng giúp đỡ. Khi chính quyền quyết định cho một số thanh niên của ta theo học y khoa ở trường đại học Witwaterstrand thành lập cho ngươi da trắng, thì tiếng phản đối mạnh mẽ nổi lên. Nhưng các bạn của chúng ta cương quyết và tiếp tục dạy dỗ họ cho tới khi chúng ta có một chỗ đứng riêng của chúng ta. Chào cô y tá.
- Kính chào Umfudisi.
- Cô làm việc nơi đây có lâu chưa?
- Từ hồi nơi này mới thành lập.
- Và cô có biết một thanh niên tên là Absalom Kumalo không?
- Thưa biết. Nhưng anh ta không còn ở đây nữa. Tôi biết chỗ cũ của anh ta. Hồi đó anh ta ở với gia đình Hlatshways và những người này hãy còn ở đây. Umfundisi thấy cái khoảng đất có nhiều đá quá, không xây cất gì được kia không? Có một em trai đương đứng đó.
- Có, tôi thấy rồi.
- Phía sau chỗ đó, Umfundisi thấy một căn nhà, có khói toả từ một ống khói lên đó không?
- Có tôi thấy rồi.
- Umfundisi đi xuống con đường này, sẽ thấy gia đình Hlatshways ở căn nhà thứ ba hay thứ tư, bên tay Umfundisi lấy thức ăn.
- Cảm ơn cô, chúng tôi lại đó ngay bây giờ.
Lời chỉ dẫn rõ ràng quá, nên họ kiếm ngay được căn nhà.
- Chào thím.
Người đàn bà này ăn bận sạch sẽ có vẻ dễ thương. Thím ta thân mật mỉm cười.
- Chào Umfundisi.
- Chúng tôi kiếm một thanh niên tên là Absalom Kumalo.
- Thưa Umfundisi anh ấy trước kia ở nhà tôi. Chúng tôi thương hại anh ta vì anh ta không có chỗ nào ở nhờ được. Nhưng tôi ân hận cho Unfundisi hay rằng, họ đã lại bắt anh ta đi rồi và nghe nói quan Toà đã cho anh ta vào trại cải huấn.
- Trại cải huấn?
- Vâng, ngôi trường lớn ở đằng kia kìa, sau dưỡng đường quân y đó. Không xa lắm, đi bộ lại được.
- Xin cảm ơn thím. Thím ở lại mạnh giỏi. Huynh ơi lại đây.
Hai vị mục sư lặng lẽ đi vì họ không có gì để nói với nhau cả. Kumalo vấp mặc dầu con đường thẳng băng, không gồ ghề và Msimangu phải nắm lấy cánh tay bạn.
- Can đảm lên huynh ạ.
Ông liếc mình bạn, nhưng Kumalo cúi gầm mặt xuống nên ông không nhìn thấy gì cả, chỉ thấy một giọt nước mắt nhỏ xuống đất, và ông xiết chặt cánh tay bạn.
- Can đảm lên huynh ạ.
- Có lúc tôi thấy không còn chút cam đảm nào nữa.
- Tôi có nghe nói về trại cải huấn đó. Ông bạn mục sư Anh khen nó lắm. Ông ấy bảo thanh niên thực tâm muốn cải hoá thì trong trại người ta giúp cho. Vậy huynh nên cam đảm lên.
- Trước kia tôi vẫn ngại ngại việc đó xảy ra.
- Tôi cũng vậy.
- Vâng, tôi còn nhớ lần đầu huynh bắt đầu ngại ngại như vậy. Hôm đó ở Alexandra huynh bảo tôi cứ đi trước đi, còn huynh thì trở lại hỏi thăm bà chủ nhà đó nữa.
- Tôi thấy tôi không giấu huynh được điều gì cả.
- Không phải vì tôi lanh trí đâu, chỉ vì nó là con tôi.
Họ ra khỏi Shanty Town, vô Orlando rồi theo con đường tráng nhựa nó đưa ra con đường cái đi Johannesburg, tới chỗ có mấy cây xăng lớn của người da trắng ở cửa châu thành, vì người da đen không được phép xây dựng cây xăng ở Orlando.
- Thím đó nói với huynh những gì vậy?
- Thím ấy bảo rằng bọn thanh niên đó làm vài việc bậy bạ lén lút. Họ đem về nhà nhiều hàng hoá, hàng hoá của người da trắng.
- Trong trại cải huấn đó, người ta cải hoá họ được không?
- Tôi không biết rõ. Người nói thế này, kẻ nói thế khác. Nhưng ông bạn mục sư người Anh khen trại đó lắm.
Họ im lặng một lúc lâu, Msimangu vớ vẩn nghĩ chuyện khác. Rồi Kumalo lại nói tiếp:
- Tôi chỉ mong sao người ta cải hoá được họ.
- Tôi cũng mong vậy.
Họ đi gần một giờ thì tới con đường đưa lên trại cải huấn. Họ tới nơi thì đã giữa trưa, và trẻ từ mọi phía, xếp hàng tiến vô trại cải huấn. Chúng từ khắp nơi đổ tới, thành hàng dài cơ hồ như bất tuyệt.
- Chúng đông quá huynh nhỉ?
- Phải, tôi không rắng ngờ chúng đông như vậy.
Một người da đen như họ, tính tình vui vẻ, nét mặt tươi cười, lại gấn họ hỏi họ có việc gì không. Họ đáp rằng muốn kiếm một thanh niên tên Absalom Kumalo. Người đó bèn dắt họ vô một phòng giấy có một người da trắng trẻ tuổi, người này dùng tiếng Afrikaans hỏi họ muốn gì.
Msimangu cũng đáp lại bằng tiếng Afrikaans:
- Thưa ngài, chúng tôi muốn tìm đứa con trai của ông bạn tôi đây, tên nó là Absalom Kumalo.
- Absalom Kumalo. Có, tôi biết nó lắm. Lạ lùng không, nó bảo tôi không có bà con họ hàng gì cả.
Msimangu dịch ra tiếng Zulu cho Kumalo hiểu:
- Cháu nó thưa với ông ấy rằng không có bà con họ hàng gì cả.
Kumalo nói:
- Chắc nó lấy làm xấu hổ -  Ông nói tiếp bằng tiếng Zulu – Tôi tiếc rằng không nói được tiếng Afrikaans.
Vì ông nghe nói rằng có một số người Anh không ưa những người da đen không nói được tiếng Afrikaans.
Người da trắng trẻ tuổi đó bảo:
- Ông muốn nói tiếng gì tuỳ ý. Con trai ông hồi ở đây có hạnh kiểm tốt. Nó đã thành một học sinh tốt trong hạng lớn tuổi, và tôi hy vọng nhiều cho tương lai của nó.
- Thưa ngài, như vậy là nó không còn ở đây nữa?
- Phải, nó đã được thả cách đây không đầy một tháng. Chúng tôi đã gia ơn đặc biệt cho nó, một phần vì hạnh kiểm nó tốt, một phần vì tuổi của nó, nhưng thứ nhất là vì nó có một người vợ trẻ đương có mang. Vợ nó thường lại đây thăm nó, nó có vẻ yêu vợ nó lắm và lo lắng cho đứa con sắp sanh. Mà thiếu nữ đó cũng có vẻ yêu nó lắm, vì vậy và cũng vì nó long trọng hứa với tôi sẽ làm lụng nuôi vợ con nên chúng tôi đã đề nghị với ngài bộ trưởng cho nó ra. Dĩ nhiên, trong những trường hợp như vậy, không phải luôn luôn chúng tôi thành công, nhưng khi thấy họ có vẻ thành thực yêu nhau thì chúng tôi cứ thử, may mà nó cải hoá được. Có một điều chắc chắn là nếu có sa ngã nữa thì không có cách gì cứu nó cả.
- Thưa ngài, như vậy nó đã làm hôn thú rồi sao?
- Chưa đâu, Umfundisi. Nhưng đã thu xếp mọi việc cả rồi. Thiếu nữ đó không có bà con họ hàng gì, mà con trai ông cũng bảo là không có bà con họ hàng gì cả, và chính tôi với người phụ tá bản xứ của tôi đứng ra thu xếp chuyện đó.
- Ngài thật là người phúc đức. Tôi xin thay mặt chúng cảm ơn ngài.
- Đó là phận sự của chúng tôi. Ông đứng nên quan tâm tới điều đó mà cũng đừng lo ngại về chuyện chúng không có hôn thú.

Viên công chức trẻ tuổi có vẻ từ tâm nói với Kumalo như vậy. Điểm quan trọng là nó có săn sóc vợ con không và có sống cuộc đời lương thiện không.
- Vâng tôi hiểu vậy, nhưng cái đó làm tôi xúc động.
- Dĩ nhiên, tôi có thể giúp ông được. Mời ông ra ngồi chơi ở ngoài một chút đợi tôi làm xong công việc rồi đưa ông lại Pimville để kiếm Absalom và thiếu nữ đó. Lúc này không gặp nó đâu vì tôi đã kiếm được việc cho nó trong châu thành và tôi nhận được những lời báo cáo tốt về nó. Tôi đã thuyết phục nó mở một trương mục gởi tiền ở sở bưu điện và nó đã gởi vô đó được đâu ba bốn bảng.
- Ngài tốt bụng quá, thật tôi không biết cảm ơn ngài ra sao.
- Đó là phận sự của tôi mà. Thôi bây giờ ông để cho tôi làm nốt công việc rồi tôi sẽ đưa ông lại Pimville.
Họ ra tới ngoài thì người da đen vẻ mặt dễ thương lại hỏi chuyện họ, biết dự định của họ rồi bèn mời họ vô nhà ngồi nghỉ. Hai vợ chồng ông ta cho một số con trai ở đậu, chúng đã được trại cải huấn cho ra ngoài sống tự do. Chủ nhà mời họ uống trà, ăn vài miếng và cũng bảo rằng Absalom ở trong trại là họ sinh giỏi, hạnh kiểm rất tốt. Rồi họ nói chuyện về trại cải huấn, về tình trạng những trẻ sống lang thang ở Johannesburg, không gia đình, không đi học, không ai nâng đỡ che chở; về bộ lạc tan rã phiêu tán, về đất đai khô cằn. Sau cùng một người vô cho hay người da trắng trẻ tuổi đã rảnh việc, sửa soạn đi được rồi.
Xe hơi chạy một lát thì tới Pimville, một làng mà nhà cất tạm bằng những bi-đông từ mấy năm trước mà tới bây giờ vẫn chưa cất lại được. Vì lúc nào cũng không đủ nhà cho những người tứ xứ lại Johannesburg. Tới cổng rào, người Anh trẻ tuổi phải xin phép vô, vì đã có lệnh cấm người da trắng vô làng nếu không được phép.
Họ dừng lại trước một căn nhà làm bằng thùng sắt đó và người da trắng dắt họ vô. Một thiếu nữ còn có vẻ con nít đứng dậy chào hỏi họ.
Người da trắng trẻ tuổi bảo:
- Chúng tôi lại hỏi tin tức về anh Absalom đây. Umfundisi này là thân phụ của anh ta.
Thiếu nữ ấy đáp:
- Anh ấy đi Springs từ thứ bảy vẫn chưa về.
Người Anh cau mày, làm thinh một lát, vẻ bực mình hoặc ngần ngừ không biết tính sao.
- Hôm nay là thứ ba rồi, mà vẫn không có tin tức gì ư?
- Không.
- Bao giờ anh ấy về?
- Tôi không biết được.
Người da trắng có vẻ thản nhiên, hỏi lơ lửng:
- Rồi có về hay không đây?
- Tôi không biết được.
Thiếu nữ có cái giọng thờ ơ không hy vọng như một người đã quen chờ đợi, quen bị người khác bỏ rơi rồi. Nàng như một người không còn trông mong gì ở cái kiếp người bảy chục năm trên cõi trần này. Không có chút phản kháng, chẳng đòi hỏi điều gì và cũng chẳng giận dữ. Lòng nàng không biểu lộ một cái gì cả. Nàng thản nhiên sanh những đứa con của những kẻ đàn ông gạt nàng rồi bỏ nàng, quên nàng.
Tuổi nàng nhỏ, thân hình nàng bé bỏng tới nỗi Kumalo mặc dầu đau sót trong lòng mà cũng thương hại nàng.
Ông hỏi lai:
- Cháu tính sao?
- Cháu không biết tính sao.
Msimangu chua chát bảo:
- Có lẽ rồi lại kiếm một người đàn ông khác.
Kumalo chưa kịp nói một câu gì để gột cái ý nghĩ chua chát đó đi, không cho nàng thấy, thì nàng đã lặp lại:
- Cháu không biết tính sao.
Một lần nữa, Kumalo chưa kịp nói gì thì Msimangu đã quay lưng lại thiếu nữ, nói nho nhỏ với bạn.
- Ở đây chẳng làm được gì đâu. Thôi chúng mình đi đi.
- Huynh ạ…
- Tôi bảo rằng ở đây chẳng làm được gì đâu. Huynh lo lắng cho bản thân chưa đủ sao? Huynh nghe tôi này, ở Johannesburg này có cả mấy ngàn ả như vậy. Dù cái lưng của huynh rộng bằng cả vòng trời, túi huynh đầy nhóc vàng, và lòng trắc ẩn của huynh trải mênh mông từ cõi trần này xuống tới địa ngục đi nữa, thì huynh cũng chẳng làm gì được đâu.
Họ lặng lẽ rút lui. Mọi người đều lặng thinh; mỗi người một tâm sự: người da trắng trẻ tuổi thì chán nản vì thất vọng, Kumalo thì rầu rĩ vì đứa con, còn Msimangu vẫn còn chua chát vì những lời nói của mình. Hai người kia đã lên ngồi trong xe rồi mà Kumalo còn đứng ở ngoài. Ông bảo:
- Huynh không hiểu. Đứa con trong bụng thiếu nữ đó sẽ là cháu nội tôi.
Msimangu quạu quọ, vẫn chưa nén được nỗi chua chát.
- Ngay cái đó nữa, huynh cũng không biết chắc được. Mà dù có đúng vậy chăng nữa thì huynh cũng còn biết bao cháu nội nữa, chúng ta sẽ đi tìm chúng ngày này qua ngày khác sao? Biết bao giờ cho xong.
Kumalo vẫn đứng trên đám đất cát, trơ trơ như bị sét đánh. Rồi không nói thêm gì cả, ông leo lên xe.
Chiếc xe ngừng lại ở cổng rào. Người da trắng lại xuống xe, vô phòng giấy của viên giám thị người Âu. Khi trở về xe, mặt ông ta lạnh lùng, đau khổ. Ông ta bảo:
- Tôi đã kêu điện thoại lại xưởng. Đúng rồi, tuần lễ này nó không đi làm.
Tới cửa châu thành Orlando, họ lại ngừng xe gần cây xăng lớn. Người da trắng trẻ tuổi bảo họ:
- Hai ông xuống đây thôi.
Hai người xuống xe và người da trắng nói với Kumalo:
- Tôi rầu chuyện đó quá.
- Vâng, thực là khổ tâm.
Rồi như không tìm được tiếng Anh để diễn tả, ông nói bằng tiếng Zulu với Msimangu:
- Tôi cũng rầu rĩ vì ông ấy đã hết lòng mà kết quả như vậy.
Msimangu dịch ra tiếng Afrikaans:
- Ông ấy bảo ông ấy rất rầu rĩ vì ngài đã tốn công toi.
- Đó là phận sự của tôi, còn nó là con ông ấy.
Rồi ông ta quay về phía Kumalo, nói tiếng Anh:
- Chúng ta đừng nên tuyệt vọng. Đôi khi có trường hợp một thanh niên bị bắt giam hoặc bị thương vì tai nạn, rồi người ta chở vô dưỡng đường, chúng ta không biết thực sự xảy ra sao. Tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm nó.
Chiếc xe chạy đi. Hai người đứng nhìn theo.
Kumalo bảo:
- Ông ấy tốt bụng. Tôi chúng ta đi thôi.
Nhưng Msimangu vẫn đứng yên, bảo:
- Tôi xấu hổ với huynh.
Mặt ông ta nhăn nhó, có vẻ khổ não lắm.
Kumalo ngạc nhiên ngó ông ta. Ông ta nói:
- Tôi đã thốt những lời đê tiện quá. Huynh tha thứ cho.
- Huynh muốn nói vể việc đi tìm cháu nội tôi ấy ư?
- Vậy ra huynh đã hiểu rồi ư?
- Vâng, tôi hiểu rồi.
- Huynh may hiểu thật.
- Tôi già rồi, đã từng trải ít nhiều. Thôi chuyện đó nhắc tới làm chi.
- Đôi khi tôi thấy tôi không đáng làm mục sư. Tôi muốn nói với huynh…
- Không sao.Có lần huynh đã bảo rằng huynh nhu nhược và ích kỷ, nhưng Thượng Đế đã ra tay cứu vớt. Cơ hồ như lời đó đúng đấy.
- Huynh an ủi tôi đấy.
- Nhưng tôi muốn xin huynh một việc.
Msimangu chăm chú ngó bạn, rồi đáp:
- Sẵn sàng.
- Sẵn sàng cái gì?
- Sẵn sàng dắt huynh trở lại gặp thiếu nữ đó nữa.
- Huynh cũng mau hiểu đấy chứ.
- Phải cho người khác cũng mau hiểu như mình với chứ.
Nhưng tâm trạng họ lúc đó chưa cho họ nói đùa được. Họ đi dọc theo con đường nóng như lửa đốt tới Orlando, không ai nói với ai câu nào, người nào người nấy tâm sự bồi hồi.


< Sửa đổi bởi: ĐạoCấy -- 24.10.2007 13:23:01 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 10
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 25.10.2007 12:09:09   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
9.
 
 
Ngồi trên xe về Sophiatown, Msimangu bảo:
- Tôi nghĩ huynh hãy nên nghỉ ngơi ít bữa.
Kumalo ngó bạn đáp:
- Làm sao tôi có thể nghỉ ngơi bây giờ?
- Tôi hiểu huynh muốn nói gì rồi.Tôi biết rằng huynh đang lo lắng, nhưng người Anh trong trại cải huấn tìm kiếm có kết quả hơn chúng ta nhiều. Hôm nay thứ ba; ngày mốt tôi lại phải làm lễ ở Ezenzeneli, nơi có trại nuôi người mù xong rồi tôi lại phải săn sóc tín đồ nữa. Tôi phải nghỉ đêm tại đó, hôm sau mới về được. Tôi sẽ kêu điện thoại hỏi viên Giám đốc trại xem tôi có thể dắt huynh theo được không. Trong khi tôi làm việc huynh có thể nghỉ ngơi. Nơi đó phong cảnh đẹp; có một tiểu giáo đường, đất thoai thoải đưa xuống thung lũng ở dưới sâu. Nhìn thấy công trình của người da trắng xây cất cho những người mù của chúng ta, lòng huynh sẽ thấy phấn khởi. Rồi chúng ta sẽ trở về, đủ sức mạnh tinh thần để làm mốt công việc của chúng ta.
- Thế còn công việc của huynh?
- Tôi đã thưa với bề trên rồi. Bề trên đã cho phép tôi và tôi phải giúp huynh cho tới khi nào tìm được cậu đó mới thôi.
- Các vị bề trên quả là nhân từ. Vâng, tôi sẽ đi cùng với huynh.







Ở hội Truyền giáo, không khí buổi tối đó rất vui vẻ. Cha Vincent, vị mục sư má hồng hào như trẻ em đó, hôm đó cũng có mặt và người ta chuyện trò về miền Kumalo sinh trưởng và làm việc. Rồi người da trắng đó kể chuyện về quê hương của mình cho mọi người nghe, tả các hàng rào cây, các cánh đồng, tu viện Wesminter và các giáo đường danh tiếng rải rác khắp nơi. Nhưng nỗi vui đó cũng không hoàn toàn vì một mục sư da trắng ở châu thành lại, chìa tờ Evening Star, chỉ cho họ một hàng tít lớn: GIẾT NGƯỜI Ở PARKWOLD, MỘT KỸ SƯ RẤT CÓ DANH VỌNG Ở CHÂU THÀNH CHÚNG TA BỊ BẮN CHẾT TRONG NHÀ, NGỜ RẰNG KẺ SÁT NHÂN LÀ NGƯỜI BẢN XỨ.
Vị mục sư da trắng nói:
- Thật là một sự thiệt hại lớn cho Nam Phi. Vì ông Arthur Jarvis đó là một thanh niên rất can đảm, hăng hái chiến đấu cho công lý. Mà cũng là một cái tang lớn cho Giáo hội nữa vì ông ta một trong những thanh niên đáng quí nhất trong số những người không theo đạo (1)
Msimangu bảo:
- Ông Jarvis ư? Quả thực tin này ghê gớm quá. Ông ấy làm hội trưởng câu lạc bộ Thanh niên Phi, ngay ở Claremont này, tại đường Gladiolus.
Cha Vincent nói với Kumalo:
- Có lẽ ông không biết ông ta? Trong báo bảo rằng ông ta là người con trai duy nhất của ông James Jarvis, ở High Place, Carisbrooke.
Kumalo rầu rĩ đáp:
- Tôi biết người cha. Còn người con, tôi biết tên, biết mặt nhưng chưa nói chuyện với nhau lần nào. Trại ông ta ở trên đồi, phía trên Ndotsheni và đôi khi ông ta cưỡi ngựa đi qua giáo đường. Hồi đó tôi nhớ là một cậu bé đẹp trai, nhưng không nhớ rõ lắm.
Nói xong, Kumalo lại im lặng vì làm sao không im lặng được khi hay tin một người mới chết, mà người đó trước kia làm một cậu bé rực rỡ đẹp trai.
Cha Vincent bảo:
Tôi đọc tin đó cho ông nghe nhé?
“ Hồi một giờ rưỡi trưa hôm nay ông Arthur Jarvis ở đường Plantation, Parkwold, bị một kẻ xông vào nhà bắn chết, người ta ngờ rằng kẻ sát nhân là một kẻ bản xứ. Bà Jarvis với hai người con đi vắng, nghỉ ngơi ít bữa, và ông Jarvis đã kêu điện thoại cho các hội viên hay rằng sẽ ở nhà vì bị cảm nhẹ. Người ta đoán rằng một người bản xứ chắc cùng với hai kẻ đồng loã, từ phía sau bếp mà lên nhà, tưởng trong nhà không có ai. Người đầy tớ bản xứ ở trong bếp bị đánh thình lình té bất tỉnh; và ông Jarvis chắc là nghe thấy tiếng động bất thường, xuống coi xem có chuyện gì. Ông ta bị bắn ngay một phát trong hành lang đưa từ cầu thang xuống bếp, hình như súng dí gần sát người ông. Không thấy một dấu vết gì tỏ ra có sự chiến đấu.
“ Người ta thấy ba thanh niên bản xứ đi dọc theo con đường Plantation vài phút trước khi án mạng đó xẩy ra, và người ta đã phái ngay một đội thám tử hùng hậu lại tại chỗ. Cuộc điều tra rất kỹ lưỡng đương tiến hành và các đồn điền ở Parkwold Ridge đương được lục soát. Người đầy tớ bản xứ Richard Mpiring còn nằm bất tỉnh ở dưỡng đường cho những người không phải Âu, và người ta hy vọng rằng khi chú ta tỉnh lại rồi sẽ có thể cho Ty cảnh sát biết được nhiều điều quan trọng. Nhưng hiện thời tình trạng của chú ta nghiêm trọng.
“ Một ông hàng xóm, ông Michael Clarke nghe thấy tiếng súng nổ vội vã chạy sang và thấy cảnh bi thảm đó. Chỉ sau vài phút cảnh sát tới liền. Trên chiếc bàn kê ở đầu giường nạn nhân người ta thấy một bản thảo viết dở nhan đề là: Sự thật về tình trạng phạm pháp của người bản xứ và hình như ông đương viết thì đứng dậy đi tới chỗ chết. Cảnh sát thấy ống điếu của ông đặt trên bàn còn nóng.
“ Ông Jarvis để lại một bà vợ goá, một cậu con trai chín tuổi, và một cô con gái năm tuổi. Ông là con trai duy nhất của ông James Jarvis ở trại High Place, Carisbrooke; Natal, và là hội viên của hãng chế tạo máy móc Davis, van der Walt và Jarvis. Nhiều người biết tiếng ông, vì ông quan tâm tới các vấn đề xã hội, gắng sức cải thiện đời sống của những giới không phải gốc Âu trong châu thành ”.
Mọi người đều lặng thinh. Phòng im phăng phắc. Không phải là lúc nói về hàng rào cây, cánh đồng, về cảnh đẹp của mỗi xứ nữa. Buồn rầu, sợ hãi, oán hận, những nỗi niềm đó nổi lên trong lòng và trong óc ta mỗi khi ta mở những trang tin tức về chết chóc. Khóc than đi cho cảnh bộ lạc bị tan rã, cho những luật pháp tục lệ bị bỏ quên. Ôi! Khóc lớn lên đi, vì người chồng đã chết, vì người vợ goá và lũ con côi. Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu, những chuyện như vậy chưa hết đâu. Ánh mặt trời tuôn xuống mặt đất, lên trên cái xứ đẹp đẽ này mà con người không biết hưởng. Trong lòng con người chỉ còn có nỗi sợ hãi thôi.
Kumalo đứng dậy, bảo:
- Tôi xin cáo biệt và chúc các ông yên giấc.
- Tôi cùng đi với huynh.
Họ đi tới cái cổng căn nhà nho nhỏ của bà Lithebe. Kumalo ngửng lên nhìn bạn và Msimangu thấy vẻ rất đau khổ trên mặt ông ta. Ông ta bảo:
- Cái đó. Cái đó. Trong tim tôi đây nè, chỉ có niềm sợ hãi, không có gì khác. Sợ, sợ, sợ….
- Tôi hiểu. Tuy nhiên, thật là điên mà sợ rằng chính cái điều đó xảy ra trong châu thành lớn có cả ngàn, cả ngàn người này.
- Không phải là chuyện sáng suốt hay điên khùng. Chỉ là chuyện sợ thôi.
- Ngày mốt chúng ta sẽ lại Ezenzeleni. Có thể lại đó huynh sẽ tìm được cái gì nó làm cho huynh bình tĩnh lại.
- Chắc vậy, chắc vậy. Nhưng điều tôi mong mỏi nhất thì tôi sẽ không tìm thấy được ở đó.
- Huynh đi cầu nguyện đi.
- Trong lòng tôi không còn lời cầu nguyện nào nữa. Thâm tâm tôi như câm rồi. Tôi không còn tiếng nào để cầu nguyện.
- Chúc an giấc.
- Chúc an giấc.
Msimangu nhìn Kumalo lên con đường dốc nho nhỏ. Ông ta có vẻ già sọm. Msimangu quay trở lại hội Truyền giáo. Phải, có những lúc mà Thượng Đế như không còn ở trên trái đất này nữa.


1. Đọc những chương sau chúng ta thấy song thân Arthur Jarvis theo đạo và làm lễ táng cho Arthur ở giáo đường. Bản tiếng Pháp dịch là “ theo đạo ”.


< Sửa đổi bởi: ĐạoCấy -- 25.10.2007 12:11:07 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 11
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 29.10.2007 15:33:51   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
10.


Rõ ràng là niềm sợ hãi xâm chiếm xứ này rồi, vì con người có thể làm gì được khi mà có biết bao kẻ lớn lên mà bất chấp cả luật pháp. Làm sao có thể ngắm cảnh đẹp, làm sao có thể hưởng bảy mươi tuổi trời và hưởng nắng rực rỡ đổ xuống mặt đất khi mà lòng người ta sợ hãi? Làm sao có thể thong dong dạo dưới bóng những cây Tử Uy (1) khi mà vẻ đẹp của nó là một nỗi đe doạ? Làm sao có thể nghỉ ngơi trên giường được khi mà trong bóng tối có cái gì bí mật, bất trắc. Làm sao mà trai gái yêu nhau có thể êm đềm nằm dưới ánh sao được khi mà càng ở chỗ vắng thì nỗi hiểm nguy càng tăng?
Có cả trăm tiếng, ngàn tiếng thét lên, cảnh cáo, đưa ý kiến. Nhưng tiếng nói đó chẳng giúp gì được cho những kẻ phân vân cả, vì người khuyên thế này, người thì khuyên thế kia, có người lại khuyên một cách khác nữa, không phải thế này không phải thế kia.
- Thưa các ông các bà, thật tệ hại quá đỗi, ty cảnh sát của chúng ta bất lực, thiếu nhân viên. Khu ngoại ô này đóng thuế nhiều hơn đa số các ngoại ô khác của Johannesburg. Vậy mà người ta đã làm gì cho chúng ta? Người ta đã thành lập một tiểu chi cảnh sát hạng ba, chỉ có mỗi nhân viên đi tuần với một nhân viên giữ điện thoại. Vụ hành hung đó là vụ thứ nhì xảy ra trong vòng sáu tháng và chúng ta buộc chính quyền bảo vệ chúng ta hơn nữa.
( Vỗ tay )
- Ông Mc Laren, ông làm ơn đọc cho chúng tôi nghe quyết nghị của ông.


- Tôi bảo rằng hễ người bản xứ ở đây mà vẫn chưa có một mục đích, những mục tiêu đáng cho họ thực hiện thì sự phạm pháp của họ vẫn chưa giảm. Nguyên do chỉ vì họ không nhìn thấy một mục đích, một mục tiêu nào cả, nên họ mới đâm ra uống rượu, phạm pháp, mại dâm, trụy lạc. Chúng ta muốn gì? Muốn rằng dân bản xứ trọng pháp luật, siêng năng, theo đuổi một mục đích, hay là muốn cho họ chẳng coi pháp luật ra gì cả, biếng nhác, không có mục đích? Sự thực là chúng ta không biết chúng ta muốn gì cả, vì chúng ta sợ cả hai cái đó. Và chúng ta còn do dự thì còn phải trả đắt cái an tâm rất giả tạo là khỏi phải quyết định. Và giải pháp không phải là tăng cường lực lượng cảnh sát để bảo vệ chúng ta mà đủ đâu: giải pháp đó chỉ là tạm thời thôi.
( Vỗ tay ).
 

- Ông De Villiers, vậy ông cho rằng mở thêm trường học thì số thiếu nhi phạm pháp sẽ giảm trong đám trẻ em bản xứ ư?
- Thưa ngài chủ tịch, tôi tin chắc như vậy.
- Ông De Villiers, ông có biết tỉ số trẻ em được đi học là bao nhiêu không?
- Thưa ngài chủ tịch, ở Johannesburg, không đầy bốn phần mười trẻ em được đi học, mà trong số bốn em đó không có được một em học hết ban tiểu học. Còn sáu em kia thì chỉ được hưởng sự giáo dục ở đầu đường xó chợ.
- Thưa ngài chủ tịch, ngài cho phép tôi hỏi ông De Villiers một câu.
- Ông cứ hỏi, ông Scott.
- Ông De Villiers, theo ông thì ai phải gánh những phí tổn về giáo dục đó?
- Chúng ta phải gánh lấy. Nếu chúng ta đợi cho phụ huynh bản xứ đủ sức gánh những phí tổn đó, thì chúng ta sẽ phải trả đắt hơn nữa bằng một cách khác.
- Ông De Villiers, ông có nghĩ rằng cho chúng học thêm thì chỉ làm cho chúng thành những kẻ phạm pháp thông minh hơn, tài khéo hơn không?
- Tôi tin chắc không phải vậy.
- Tôi xin kể một thí dụ. Tôi nuôi một đứa đầy tớ có bằng cấp tiểu học. Ra vẻ dân thầy đàng hoàng lắm, cổ đeo cà vạt, mũ đội chếch trên đầu, chân đi giầy kiểu mới nhất. Tôi đối đãi với nó tử tế, trả công nó hậu hĩnh. Vậy mà, ông De Villiers, ông biết không, cái quân vô lại đó…


- Ông Jackson, phải sửa luật thông hành (2) cho gắt thêm.
- Tôi đã bảo rằng luật thông hành không công hiệu gì hết mà.
- Công hiệu chứ, nếu kiểm soát chặt chẽ.
- Nhưng tôi đã bảo rằng vô phương kiểm soát chặt chẽ được mà. Ông có biết không, mỗi năm chúng ta nhốt khám cả trăm ngàn dân bản xứ và ở trong khám chúng sống lẫn lộn với bọn thực sự phạm tội.
- Ông Jackson, điều đó không hoàn toàn đúng. Tôi biết rằng người ta đưa họ lại những trại sửa đường, hoặc tới các trại ruộng…
- Có thể rằng điều ông nói đúng. Nhưng lý lẽ của tôi cũng vẫn vững, không thể nào kiểm soát chặt chẽ giấy thông hành được. Ông có thể đưa họ lại trại sửa đường hoặc trại ruộng hoặc một nơi quái nào đó tùy ý ông, nhưng xin ông đừng nói với tôi rằng mỗi năm bắt cả trăm ngàn người làm khổ dịch là một giải pháp tốt.
- Vậy ông đề nghị cái gì đây?
- Ông hỏi tôi điều đó ư? Tôi cũng không biết phải làm gì nữa, tôi chỉ biết rằng giấy thông hành hoàn toàn vô dụng.


- Chúng tôi lại hồ ở sở Thú, bạn ạ. Nhưng thực là chịu không nổi. Tôi không hiểu tại sao người ta không dành riêng vài ngày cho người bản xứ.
- Tôi thì tôi không lại đó ngày Chủ nhật nữa. Chúng tôi dắt hai cháu John và Penelope lại đó những ngày thường. Nhưng chúng ta cũng nên công bằng một chút, bọn bản xứ tội nghiệp đó không tới đó thì biết đi đâu bây giờ?
- Tại sao người ta không lập những nơi giải trí riêng cho họ?
- Khi chính phủ tính lấy một khu ở bãi chơi gôn tại Hillside, lập một trung tâm giải trí cho họ thì thiên hạ nhao nhao lên phản đối và rốt cuộc chương trình đó phải bỏ.
- Nhưng bạn ạ lập trung tâm giải trí ở đó thì chịu sao nổi. Sẽ ồn ào không tưởng tượng được.
- Vì vậy họ mới tụ tập ở trên lề đường và các góc đường. Và ở những nơi ấy ồn ào cũng không tưởng tượng nổi. Nhưng tại khu bạn ở, người ta đâu có nghe thấy tiếng ồn.
- Đừng nên cay độc, bạn ạ. Tại sao người ta không lập những trung tâm giải trí rộng rãi ở một vài nơi rồi cho xe buýt chở họ lại đó mà không lấy tiền?
- Ở chỗ nào chẳng hạn?
- Bạn cứ vậy hoài! Thì ngay trong châu thành không được ư?
- Họ sẽ phải mất bao nhiêu thì giờ để tới trung tâm giải trí, rồi mất bao nhiêu thì giờ để về nhà? Mà ngày Chủ nhật, bạn cho đầy tớ nghỉ được mấy giờ?
- Trời nóng nực quá, không thảo luận gì được. Lấy chiếc vợt đi, người ta gọi chúng mình kìa. Có bà Harvey và Thelma kìa, phải chơi cho hăng mới được.


Có người đòi phải cấp tốc chia Nam Phi thành hai khu vực riêng biệt, một khu chỉ có người da trắng mà không có người da đen, một khu chỉ có người da đen mà không có người da trắng, để cho người da đen có thể cầy ruộng của họ, khai thác mỏ của họ, áp dụng luật pháp của họ. Lại có kẻ đòi phải bãi bỏ chính sách bắt phu sống trong trại, nó làm phu mỏ phải xa vợ con, làm cho bộ lạc tan rã, gia đình ly tán, con người hư hỏng; họ đòi thành lập những làng cho thợ mỏ và thợ kỹ nghệ có thể sống với gia đình được.
Và các giáo hội cũng lên tiếng nữa. Các giáo hội dùng tiếng Anh thì đòi mở thêm trường học, tăng gia phương tiện cải tiến cho dân bản xứ, bãi bỏ các hạn chế về lao động và kinh doanh cho dân bản xứ. Còn các giáo hội dùng tiếng Afrikaans (3) muốn rằng người ta cho dân bản xứ có nhiều cơ hội phát triển theo bản tính của họ, và nhắc nhở tín đồ rằng sự suy vi của tôn giáo gia đình, của tục lệ cho đầy tớ dự vào các cuộc lễ bái của gia đình, đã một phần nào làm cho luân lý của dân bản xứ đồi trụy. Nhưng ở trong giáo đường và trong Quốc Gia thì không có chuyện bình đẳng.


Vâng, có cả trăm, cả ngàn tiếng nổi lên phản đối, đề nghị. Những kẻ nói thế này, người nói thế khác thì biết làm gì bây giờ? Khi mà số người da đen nhiều gấp mấy số người da trắng, thì ai chỉ cho ta được cách làm sao cho xứ này được yên ổn? Có người bảo đất đai sản xuất đủ nuôi mọi người, rằng tài sản của người nay tăng lên thì không nhất định là tài sản của người khác phải giảm đi, rằng người này phát đạt không nhất định là người khác phải suy bại. Họ bảo rằng nhân công mà trả hạ quá thì Quốc Gia sẽ nghèo, thợ thuyền có được trả công cao thì chẳng những họ tiêu xài nhiều hơn mà còn đọc sách báo nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn, đòi hỏi nhiều hơn, không chịu nín tiếng hoài, không chịu ở hoài địa vị thấp kém…
Ai chỉ cho ta được cách phải tổ chức xứ này ra sao? Vì không những chúng ta sợ mất tài sản, mà còn sợ mất cả ưu thế, mất cả màu da trắng của ta? Có người bảo sự phạm pháp là điều nguy hiểm thật đấy, nhưng tổ chức lại còn nguy hại hơn nữa. Cứ duy trì quyền lợi của chúng ta dù phải trả cái giá là sợ hãi, chẳng hơn ư? Có người lại bảo cảnh sợ hãi đó có thể kéo dài hoài không? Vì chẳng phải là chính vì sợ mà người ta phải suy nghĩ kỹ về tất cả các điều đó sao?


Chúng ta đành chịu, không biết giải quyết cách nào cả. Chúng ta sẽ tiếp tục sống được ngày nào hay ngày đó, chúng ta sẽ đặt thêm chốt cửa, khi con chó cái đẹp và dữ ở nhà bên cạnh đẻ lứa sau thì chúng ta sẽ mua một con chó đẹp và dữ, và sẽ ôm chặt cái xách tay của ta hơn nữa. Và thôi đừng nghĩ tới chuyện ngắm cảnh của cây cối ban đêm, hưởng những phút mê ly của các cặp tình nhân, dưới ánh sao nữa. Nửa đêm say sưa đừng đi qua các đường phố vắng vẻ mà về nhà nữa, và tối tối đừng dạo mát trên bãi cỏ dưới ánh sao nữa. Chúng ta sẽ phải thận trọng gạt bỏ tất cả những thú vui đó, phải tự giam mình, đề phòng thật chắc chắn, kỹ lưỡng. Như vậy đời sống chúng ta sẽ thu hẹp lại nhưng sẽ là đời sống của giống người thượng đẳng; chúng ta sẽ sống trong sự sợ hãi nhưng ít nhất chúng ta cũng biết được là chúng ta sợ cái gì. Và lương tâm của chúng ta sẽ như ngọn đèn chong khêu nhỏ; ánh sáng của đời sống sẽ không tắt mà được che đậy đi để cho một thế hệ khác sẽ có ngày dùng nó; ngày đó sẽ tới cách nào và bao giờ thì tới, thì đừng nên nghĩ tới là hơn.


Tối nay họ tổ chức một cuộc mít tinh ở Parkwold, cũng như đã tổ chức tối qua ở Turffontein và sẽ tổ chức tối mai ở Mayfair. Và người ta sẽ đòi phải tăng cường lực lượng cảnh sát, nghiêm trị tụi trộm cướp bản xứ hơn nữa, phải xử tử tất cả bọn trộm cướp mang khí giới. Và một số người sẽ đòi thành lập một lực lượng cảnh sát bản xứ để dân bản xứ biết được ai làm chủ ở đây; và đòi đàn áp các hoạt động của bọn Kafferboetie (4) và bọn Cộng sản.
Các câu lạc bộ Tả phái cũng tổ chức một cuộc hội họp bàn về “ Một chính sách dài hạn để giải quyết vấn đề phạm pháp của dân bản xứ ” họ đã mời tất cả các diễn giả Âu và không phải Âu tới cùng thảo luận. Hội nghị giáo đường cũng tổ chức một cuộc họp bàn về “ Các nguyên nhân đích thực của sự phạm pháp của dân bản xứ ”, nhưng không khí của buổi họp này sẽ có màu tang tóc, vì người định diễn thuyết ông Arthur Jarvis, mới bị ám sát trong tư gia của ông ở Parkwold.
Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu, khóc cho đứa trẻ chưa sanh mà sẽ phải chịu cái di truyền sợ sệt của chúng ta. Cầu cho nó đừng yêu xứ này thân thiết quá. Cầu cho nó đừng cười ròn rã quá khi nước mắt chảy qua kẽ tay của nó; cầu cho nó đừng trầm lặng quá khi ánh hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồng cỏ. Cầu cho nó đừng xúc động quá khi chim chóc quê hương nó ríu rít; cầu cho nó đừng quyến luyến quá với đồi núi, thung lũng. Vì nếu nó phân phát lòng của nó quá thì nỗi sợ hãi sẽ lấy hết của nó thôi.


- Ông Msimangu?
- À, bàNdela ở đường End!
- Thưa ông Msimangu cảnh sát lại nhà tôi.
- Cảnh sát?
- Vâng, họ muốn điều tra về người con trai của Umfundisi già. Họ đương kiếm anh ấy đấy.
- Kiếm làm gì vậy?
- Họ không cho hay thưa ông Msimangu.
- Có chuyện chẳng lành ư?
- Tôi ngại như vậy.
- Rồi làm sao nữa.
- Thưa Umfundisi, tôi sợ quá. Tôi đã cho họ địa chỉ của bà Mkige, số 79, đại lộ hai mươi ba ở Alexandra. Và một người cảnh sát bảo đúng rồi, người đàn bà có tiếng là làm nhiều điều ám muội.
- Bà đã cho họ địa chỉ ư?
Msimangu đứng yên ở cửa
- Như vậy là bậy sao, Umfundisi?
- Không đâu.
- Tôi sợ quá.
- Luật pháp mà. Chúng ta phải giúp đỡ cơ quan hành pháp.
- Umfundisi, nói vậy là tôi yên tâm.
Msimangu cảm ơn người đàn bà chất phác đó và chúc bà ta ra về mạnh giỏi. Khi bà ta đi rồi, ông còn đứng một chút ở cửa rồi quay ngoắt lại, trở về phòng. Ông lấy một bao thư ở trong ngăn kéo rút ra vài tấm giấy bạc. Ông rầu rĩ nhìn những tấm giấy bạc đó rồi quả quyết đút vào túi, lấy chiếc nón. Thay quần áo rồi, ông lưỡng lự ngó qua cửa sổ về phía nhà bà Lithebe và lắc đầu. Nhưng đã trễ quá, vì ông mới mở cửa thì Kumalo đã đứng trước mặt ông rồi.
- Huynh sắp đi đấy ư?
Msimangu lặng thinh một chút rồi mới đáp:
- Vâng, tôi tính đi chút có chút việc.
- Nhưng huynh bảo hôm nay huynh ở nhà làm việc mà.
Msimangu hơi cáu, đã muốn đáp: “ Tôi có quyền muốn làm gì thì làm chứ ”, nhưng có cái gì ngăn ông ta lại, và ông mời bạn vô.
Kumalo bảo:
- Tôi không muốn làm phiền huynh.
Msimangu lặp lại: “ Huynh vô đi ” rồi khép cửa lại bảo:
- Bà Ndela mới lại thăm tôi. Bà ta ở đường End, tại Sophiatown này mà có lần chúng mình đã lại.
Kumalo nhận thấy giọng của bạn nghiêm trọng, bèn hỏi:
- Có tin tức ư?
Kumalo có vẻ sợ hãi chứ không phải là nóng nảy, muốn biết.
Msimangu đáp:
- Chỉ có vầy: cảnh sát đã tới nhà bà ấy tìm cậu con của huynh, và bà ấy đã cho địa chỉ ở số 79, đại lộ Hai mươi ba, tại Alexandra.
Kumalo hỏi nho nhỏ, giọng run run:
- Họ kiếm nó làm gì?
- Điều đó chúng ta không biết được. Tôi tính lại đó thì huynh tới.
Kumalo ngó Msimangu và Msimangu thấy vẻ nhìn của bạn rầu rĩ và biết ơn, nên hết bực mình.
Kumalo hỏi bạn:
- Huynh tính đi một mình ư?
- Phải, tôi tính đi một mình. Nhưng bây giờ huynh đã hay rồi thì cùng đi với tôi cũng được.
- Huynh tính đi cách nào? Không có xe buýt.
- Thì đi tắc xi. Tôi có tiền đây.
- Tôi cũng có tiền đây. Tôi phải trả chứ.
- Tốn tiền lắm đấy?
Kumalo vạch chiếc áo ngoài ra, lạnh lẹ rút túi tiền ra:
- Tiền đây này.
- Được, để rồi sẽ tiêu tới. Thôi đi kiếm tắc xi.


- Thím Mkige!
Nghe kêu tên, thím lùi lại một bước, vẻ bực mình.
- Cảnh sát có lại đây không?
- Có, họ mới lại đây.
- Họ muốn gì?
- Muốn tìm cậu đó.
- Và thím họ trả lời họ ra sao?
- Tôi bảo cậu ấy đã dọn đi chỗ khác các đây một năm rồi.
- Rồi họ đi đâu?
- Lại Shanty Town.
Thím ta lùi lại một bước nữa, nhớ lại lần trước, ông lạnh lùng hỏi:
- Lại một địa chỉ mà thím không biết?
Thím ta cau có nhìn mục sư, rồi đáp:
- Tôi làm cách nào được? Cảnh sát hỏi mà.
- Không sao. Địa chỉ đó ra sao?
- Tôi đâu có biết. Tôi bảo họ lại Shanty Town.
Thím ta nổi quạu, lớn tiếng:
-Tôi đã bảo tôi không biết địa chỉ mà.


- Thím Hlatshways!
Người đàn bà vẻ mặt dễ thương, mỉm cười rồi né qua một bên, mời họ vô nhà.
- Chúng tôi đứng đây cũng được, hỏi thăm thím một chút thôi. Cảnh sát có tới đây không?
- Thưa Umfundisi có.
- Họ muốn gì?
- Muốn tìm cậu đó, thưa Umfundisi.
- Để làm gì, thím?
- Tôi không biết, Umfundisi.
- Rồi họ đi đâu?
- Lại trường học ( 5 ) , Umfundisi.
Ông ta hỏi nhỏ thím ta:
- Này thím có vẻ nghiêm trọng không?
- Tôi không biết được, Umfundisi.
- Thím ở lại mạnh giỏi.
- Umfudisi đi mạnh giỏi.


- Chào bạn!
Người phụ tá bản xứ chào lại
- Chào Umfundisi.
- Ông người da trắng trẻ tuổi ở đâu?
- Ông ấy ra châu thành. Mới đi tức thì đây.
- Cảnh sát có tới đây không?
- Có mới tới tức thì đây, rồi đi rồi.
- Họ muốn gì?
- Muốn tìm thanh niên Absalom Kumalo, con trai ông già ngồi trong tắc xi ngoài kia.
- Họ tìm người thanh niên đó làm gì?
- Tôi không biết. Lúc đó tôi có công việc khác, nên bước ra trong khi họ bước vô với ông da trắng.
- Và bạn không biết họ muốn gì sao?
- Thực tình tôi không biết, Umfundisi.
Msimangu làm thinh một lát rồi hỏi:
- Có vẻ nghiêm trọng không?
- Tôi không biết. Thực tình tôi không thể đáp được.
- Còn ông da trắng có vẻ…bận trí lắm không?
- Có.
- Làm sao bạn biết được?
Người phụ tá cười
- Tôi biết chứ sao không biết.
- Rồi họ đi đâu?
- Lại Pimville, Umfundisi. Lại nhà thiếu nữ đó.
- Bạn bảo mới đi tức thì hả?
- Phải, mới đi tức thì.
- Chúng tôi cũng lại đó ngay bây giờ. Bạn ở lại mạnh giỏi. Và nói với ông da trắng rằng chúng tôi có lại thăm ông nhé.
- Vâng, tôi sẽ nói lại với ông ấy. Umfundisi, đi mạnh giỏi.


- Này con!
- Thưa Umfundisi.
- Cảnh sát có tới đây không?
- Thưa, mới tức thì đây.
- Họ muốn gì?
- Muốn tìm anh Absalom, thưa umfundisi.
- Thế con trả lời họ ra sao?
- Con bảo con không gặp ảnh từ hôm thứ bảy, Umfundisi.
Kumalo khổ não, la lên:
- Họ tìm nó để làm gì đây?
Thiếu nữ sợ hãi lùi lại.
Kumalo lại la lên:
- Thế sao con không hỏi họ?
Thiếu nữ rưng rưng nước mắt.
- Con sợ.
- Không có người nào hỏi họ sao?
- Có mấy bà hàng xóm đứng đó. Có thể một bà nào đó đã hỏi họ.
Msimangu hỏi:
- Bà nào đâu? Chỉ cho tôi.
Thiếu nữ chỉ vài người đàn bà, nhưng mấy người này cũng không biết gì hết.
Một người bảo:
- Họ không muốn cho hay.
Msimangu kéo người đó tới một chỗ hỏi nhỏ:
- Thím thấy có vẻ nghiêm trọng không?
- Thưa Umfundisi, có vẻ nghiêm trọng. Mà chuyện chi vậy?
- Chúng tôi không biết.
Người đàn bà đó nói:
- Đời bây giờ nhiều chuyện lo lắng quá.
Ông trở ra tắc xi và Kumalo đi theo. Thiếu nữ lệt bệt chạy theo vì đương có mang:
- Họ bảo con rằng, nếu ảnh về thì báo cho họ hay.
Vẻ lo lắng hiện trong cặp mắt nàng. Nàng hỏi:
- Con phải làm sao?
Msimangu bảo:
- Thì phải báo cho họ hay. Và cũng phải báo cho bọn tôi hay nữa. Dặn cháu này, cháu lại phòng giấy ông giám thị xin phép ông ấy kêu điện thoại về hội truyền giáo ở Sophiatown. Tôi ghi số điện thoại cho: 49-3041.
- Vậy, con sẽ làm theo lời Umfundisi dặn.
- Này, các thầy cảnh sát có nói rồi sẽ đi đâu nữa không?
- Thưa không, Umfundisi. Nhưng con có nghe họ nói chỗ Die spoor loop loop, tới đây là mất dấu.
- Cháu ở lại mạnh giỏi.
- Umfundisi đi mạnh giỏi.
Nàng quay lại để chào vị mục sư kia nữa, nhưng ông ta đã ngồi trong xe tắc xi gục đầu trên cây gậy.


Msimangu hỏi:
- Bao nhiêu tiền đó?
- Hai bảng và mười si-linh, Umfundisi.
Kumalo tay run run móc tiền
Msimangu bảo:
- Để tôi trả cho. Tôi lấy làm vui được giúp huynh.
Kumalo đáp giọng run run:
- Huynh tốt bụng quá. Nhưng tôi phải trả chứ.
Ông ta rút mấy tấm ở xấp giấy bạc, nó nhẹ lần đi.
- Huynh run kìa.
- Tôi lạnh, lạnh quá.
Msimangu nhìn lên vòm trời không gợn mây; mặt trời Phi Châu giọi ánh nắng xuống mặt đất. Ông bảo:
- Huynh vô phòng tôi. Tôi đốt lửa để huynh sưởi.

1. Jacaranda.
2. Pass law: coi bài tựa.
3. Chủ trương kỳ thị.
4. Đọc là Cáp phơ bu ti. Một tiếng có nghĩa khinh bỉ mới đầu trỏ những người da trắng thân thiết với người bản xứ da đen, sau trỏ tất cả những người hoạt động cho quyền lợi của những người không phải Âu.
5. Trại cải huấn


< Sửa đổi bởi: ĐạoCấy -- 30.10.2007 17:38:29 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 12
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 30.10.2007 17:33:46   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
11.
 
 
Trên đường đi Ezenzeleni, họ làm thinh, và mặc dầu đi bộ từ nhà ga tới trại người mù, Msimangu rán gợi chuyện, nhưng Kumalo có vẻ không muốn nói mà cũng không để ý tới những cái ở chung quanh.
Msimangu hỏi:
- Trong khi tôi mắc việc, huynh tính làm cái gì?
- Tôi muốn lại ngồi một trong những chỗ mà huynh đã nói với tôi đó, và khi huynh xong công việc rồi thì có lẽ tôi xin huynh dắt tôi đi coi Ezenzeleni.
- Đồng ý.
- Tôi mong rằng, tôi không làm cho huynh phiền lòng chứ?
- Tôi hiểu hết rồi. Thôi đừng nhắc lại chuyện đó nữa.
Msimangu giới thiệu Kumalo với ông giám đốc người Âu và ông này trân trọng khác thường gọi Kumalo bằng ông. Chắc Msimangu đã nói riêng gì với ông giám đốc, nên ông này không mời Kumalo đi theo họ, mà dắt Kumalo lại cái chỗ đất đồi thoai thoải đưa xuống cánh đồng và bảo tới bữa ăn họ sẽ lại gọi về.
Trong mấy giờ, Kumalo ngồi ở đó dưới ánh nắng, thấy tâm hồn nhẹ nhàng, phấn khởi lên, không hiểu là tại không khí ấp áp, hay tại cảnh cánh đồng mênh mông trải ở dưới chân tuốt tới dãy núi xanh lam ở chân trời, hay là tại Thượng Đế chí nhân an ủi các tâm hồn khổ não.
Phải, Msimangu đã nói đúng. Tại sao lại lo sợ chính cái điều đó xảy ra trong một châu thành có cả ngàn người này? Con trai ông đã lầm lạc trong châu thành lớn này cũng như bao nhiêu người trước, và bao nhiêu người khác nữa sau nó, cho tới khi nào người ta tìm được một bí quyết mà hiện nay chưa ai biết được. Nhưng còn cái việc giết người, giết một người da trắng! Không ông nhớ lại các việc đã qua thì không thấy một cái gì, một chút gì làm cho ông ngờ rằng việc đó có thể xảy ra được.
Ông nghĩ tới thiếu nữ và tới đứa nhỏ chưa sanh, nó sẽ là cháu nội ông. Đáng tiếc rằng ông, một vị mục sư mà lại có một đứa cháu nội ra đời như vậy. Nhưng cái đó có thể cứu vãn được. Nếu hai đứa làm lễ cưới rồi, thì ông, ông sẽ rán xây dựng lại cái gì đó đã đổ vỡ. Có thể con trai ông và thiếu nữ đó sẽ cùng về Ndotsheni với ông, có thể vợ chồng ông sẽ nuôi nấng dạy dỗ đứa nhỏ đó kỹ hơn là nuôi nấng con mình. Nhưng vợ chồng đã thất bại ở chỗ nào? Đã làm cái gì hoặc không làm cái gì để tới nỗi con trai thành một tên ăn trộm, đổi chỗ ở hoài như một tên du đảng sống với một con điếm còn con nít, làm cha một đứa con hoang. Ông tự an ủi, nhủ thầm rằng tại châu thành Johannesburg làm hư hỏng nó. Nhưng rồi - nỗi sợ lại xâm chiếm ghê gớm hơn bao giờ hết – nhưng rồi con trai ông đã bỏ thiếu nữ đó với đứa con chưa sanh, bỏ công ăn việc làm mà người da trắng trẻ tuổi đã tìm cho nó mà trở lại cuộc đời du đảng. Mà bọn du đảng làm cái gì? Chúng sống chẳng theo một luật pháp tục lệ gì cả, không có lòng tin tưởng, không có mục đích, thế thì chúng đánh đập một người khác, hạ sát bất kỳ người nào cản trở chúng kiếm cái lợi đê tiện của chúng, điều đó có gì là lạ?
Có cái gì làm tan rã trong tâm hồn để đến nỗi một kẻ đang tâm giết người đồng loại? Có cái gì đã tan rã để đến nỗi hắn đang tâm đâm lưỡi dao vào da thịt nóng ấm của người khác, hạ lưỡi rìu lên đầu một người, bửa cái sọ làm hai ở khoảng giữa cặp mắt đương ngó, bắn một phát vào một trái tim đương đập.
Ông rùng mình, cố xua đuổi những hình ảnh kinh khủng đó đi. Vậy mà chính những hình ảnh ấy đã làm ông vững lòng lại. Vì không có cái gì, tuyệt nhiên không có cái gì trong những năm ở Ndotsheni, trong cả các tuổi thơ của con ông, có thể làm cho con ông có một hành động rùng rợn như vậy được. Phải, ông Msimangu có lý. Chỉ là cái tâm trạng còn ngờ ngợ, nó làm cho Kumalo lo sợ chính là cái điều đó xảy ra trong châu thành có cả ngàn người, cả ngàn người này.
Ông thấy khuây khoả trong lòng mà nghĩ tới chuyện xây dựng lại, tưởng tượng cảnh nhà cửa mà ông và vợ ông, lúc về già, xây cất cho Gertrude và đứa con của nàng, cho chính con trai của ông bà, cho con dâu và cháu nội. Đã thấy Johannesburg rồi, ông sẽ hiểu biết sâu sắc hơn khi trở về Ndotsheni. Phải, và ông sẽ khiêm tốn tự hạ mình hơn nữa vì chính em gái ông đã chẳng là một gái điếm đấy ư? Và con trai ông đã chẳng là tên ăn trộm đấy ư? Còn chính ông, ông sẽ chẳng là ông nội một đứa con hoang đấy ư? Ông đau khổ nghĩ tới điều đó, nhưng không chua xót trong lòng.
Người ta có thể trở về quê hương được khi người ta biết rõ những cái mình phải trừ diệt và những cái mình phải xây dựng. Ông sẽ trở về quê hương mà sẽ quan tâm hơn tới trường học, nó không phải chỉ là nơi dạy trẻ tập đọc, tập viết, tập đếm, mà còn phải là nơi chuẩn bị cho trẻ ra đời sau này, bất kỳ là chúng sẽ có số phận ra sao. Người ta phải giáo dục dân tộc ông, mở trường khắp nơi để xây dựng một cái gì sau này có thể giúp trẻ khi chúng ra châu thành lớn, một cái gì có thể thay luật pháp và tục lệ của bộ lạc.
Trong lúc ông miên man và tưởng tượng cảnh đó, như hầu hết mọi người khi ngồi trên một đống tro tàn, đổ nát.
Phải, thì ra điều đó đứng. Ông đã tự thú rằng bộ lạc đã tan rã và không thể thành lập lại được nữa. Ông cúi gầm đầu xuống. Y như một người bay bổng trên không, thình lình thấy cặp cánh màu nhiệm rời ra, rớt xuống, mà lo ngại hoảng hốt nhìn xuống dưới đất. Bộ lạc đã tan rã và không thành lập lại được nữa. Bộ lạc đã nuôi nấng dạy dỗ ông, thân phụ ông và thân phụ của thân phụ ông, bộ lạc đó đã tan rã. Vì đàn ông đã bỏ đi nơi khác, thanh niên đã bỏ đi nơi khác, mà bắp thì không cao hơn đầu người.


- Bữa ăn đã dọn sẵn cho chúng mình rồi.
- Đã tới bữa rồi ư?
- Huynh ngồi ở đây đã lâu rồi mà.
- Vậy mà tôi không hay đấy.
- Huynh thấy cái gì không?
- Không.
- Không ư?
- Không thấy gì cả. Chỉ thấy sợ hãi hơn nữa, đau khổ hơn nữa. Trên cõi trần này chỉ còn toàn sợ hãi và đau khổ.
- Huynh a…
- Cái gì vậy?
- Tôi ngần ngại không muốn nói với huynh.
- Huynh có quyền được nói mà. Có quyền hơn ai hết.
- Vậy thì nghe tôi: tới lúc nên về thôi. Lời huynh mới nói điên khùng và xấu xa đấy. Mà cũng là một tội lỗi, cái đó mới nặng nhất, tôi lấy tư cách một mục sư mà nói với huynh đấy.
Kumalo cúi đầu:
- Huynh nói có lý. Tôi không nên ngồi một mình ở đây lâu nữa.


Ezenzeleni là một nơi lạ lùng. Vì những người mù kéo dài kiếp sống của mình trong một thế giới họ không thấy được gì hết, những người đó ở đây có được cặp mắt. Ở đây họ làm những việc mà Kumalo, mặt tỏ như vậy mà cũng không thể làm được. Họ đan những cái rổ chắc chắn bằng một thứ miên liễu có đủ màu, và những nan miên liễu đó bắt chéo vào với nhau như do một phép màu, thành những hình đẹp đẽ, nan đỏ ghép với nan đỏ, nan xanh ghép với nan xanh, trong những bàn tay không có mắt thấy được. Kumalo nói chuyện với họ, và con ngươi mù loà của họ long lanh, chiếu ra một ánh sáng nó chỉ có thể là ánh sáng của nội tâm. Chính những người da trắng làm việc từ thiện đó, người thì nói tiếng Anh, người thì nói tiếng Afrikaans đó đã hợp lực với nhau, để mở mắt cho những người da đen mù loà này.
Bạn ông ta, mục sư Msimangu chiều đó phải thuyết giáo trong tiểu giáo đường. Vì ở đây không phải mọi người cùng theo một giáo phái, nên không có bàn thờ và một cây thánh giá trên đó, mà thánh giá là hai lỗ hổng để lại trong tường không dùng gạch bít lại. Và Msimangu cũng không bận y phục giáo phẩm mà ông bận ở Sophiatown, và sáng sớm hôm sau ông sẽ bận để làm lễ cho những người theo giáo phái của ông.


Msimangu mở thánh kinh và bắt đầu đọc một đoạn cho họ nghe. Kumalo không ngờ bạn mình có cái giọng như vậy. Vì giọng đó là giọng vàng, đọc tiếng nào cũng ra vẻ âu yếm. Giọng đó rung động, ngân nga, run rẩy không như giọng rung động, ngân nga, run rẩy của một ông già, cũng không như âm thanh rung động, ngân nga, run rẩy của cành lá, mà như tiếng chuông trầm trầm, thánh thót. Vì nó không phải chỉ là tiếng vàng, mà còn là tiếng của một người mà trái tim là vàng, đọc một cuốn sách lời lẽ là vàng ngọc. Mọi người im lặng, Kumalo cũng im lặng, vì có bao giờ hội được đủ ba cái đó đâu.
Ta là đức Chúa, ta đã gọi con về đường đạo đức.
Và ta sẽ nắm tay con, sẽ giữ con.
Sẽ cho con một thánh ước.
Như một ánh sáng cho các người dị giáo.
Để làm sáng tỏ cho những cặp mắt đui.
Để giải thoát tù nhân ra khỏi ngục.
Và giải thoát cho những kẻ ngồi trong bóng tối.
Ra khỏi nhà giam.
Giọng đưa bổng lên mà ngôi ngữ Zulu như được nâng cao lên, biến đổi đi, và người nói cũng cao thượng lên, biến đổi đi như đạt được một cái gì to lớn hơn hết thảy chúng ta. Và mọi người im lặng nghe, vì chẳng phải họ là những người được nói trong Thánh Kinh đó ư? Kumalo cũng im lặng nghe vì đã nhận được con người đui mù mà Msimangu đọc họ nghe những câu này:
Ta sẽ dắt những người đui qua một con đường họ không biết.
Ta sẽ dẫn họ trên những nẻo mà họ không hay.
Ta sẽ làm cho bóng tối hoá ra ánh sáng trước mắt họ.
Ta sẽ uốn thẳng lại những vật cong.
Ta sẽ làm những việc đó cho họ.
Và ta không bao giờ bỏ quên họ.


Phải rồi, chính bạn ấy nói với mình đây, không còn ngờ gì nữa. Bạn ấy bảo rằng chúng ta không bao giờ bị bỏ quên. Vì trong khi mình tự hỏi chúng ta sống, chiến đấu rồi chết để làm gì, trong khi mình có cái gì giữ cho mình sống và chiến đấu như vậy? Thì có những người lại đây săn sóc những người đui, người da trắng lại đây săn sóc những người đui da đen. Đúng lúc này đây, ai đã phái một bạn thân làm cho bóng tối hoá ra ánh sáng trước mặt mình? Đúng cái lúc này đây, ai đã làm cho một người trẻ như vậy hoá ra minh triết thế kia, để an ủi một người già như mình vậy? Ai làm cho mình động lòng trắc ẩn đối với một thiếu nữ mà con trai mình đã bỏ?
Phải, rồi chính bạn ấy nói về mình đây bằng những lời bình tĩnh, giản dị mức đó. Bạn ấy bảo: Chúng ta mang ơn những vị thánh đã làm cho lòng ta phấn khởi lên những ngày khổ não. Lẽ nào chúng ta không làm hết sức ta? Vì nếu không làm hết sức ta thì sẽ không còn một vị thánh nào, để làm cho lòng chúng ta phấn khởi nữa. Bạn ấy bảo: Đức Ki Tô đã là chúa Ki Tô, đức chúa chân chính trên trời, đức Chúa chân chính của loài người, thì ở đời này có cái gì mà chúng ta từ nan, mặc dầu chúng ta phải chịu mọi nỗi đau khổ?
Tôi nghe bạn rồi, bạn ơi. Không có một lời nào mà tôi bỏ qua.
Bạn ấy sắp ngưng rồi đây. Nghe giọng nói cũng đoán được như vậy. Người ta thấy bạn ấy nói hết rồi và lời nào đã nói cũng tròn trịa, tô chuốt thực là hoàn hảo. Bạn ấy mở Thánh kinh để đọc nữa này. Bạn ấy đọc cho mình nghe đây:
Con có biết không, có nghe thấy rằng.
Thượng Đế, đức Chúa.
Đức sáng tạo vũ trụ.
Không khi nào nản chí, không khi nào mệt mỏi?
Và giọng lại đưa bổng lên, mà ngôn ngữ Zulu như được nâng cao lên, biến đổi đi mà người nói cũng cao thượng lên…
Dù bọn trẻ nản chí, mệt mỏi.
Dù những người ít tuổi hoàn toàn sa ngã.
Những kẻ nào còn thời Chúa.
Thì nghị lực sẽ hồi sinh.
Họ sẽ bay bổng lên bằng cặp cánh đại bàng.
Họ sẽ chạy mà không biết mệt.
Và họ sẽ đi mà không té xỉu.


Mọi người thở dài, Kumalo thở dài vì đã được nghe một lời cao cả. Quả vậy, Msimangu là một nhà thuyết giáo danh tiếng ở Johannesburg; người ta bảo thật là may mắn cho chính quyền vì Msimangu thuyết giáo về một thế giới không do tay người tạo ra, vì ông ta làm cảm động lòng người vì dắt người nghe lên cõi Thiên đường chứ không phải dắt họ tới Pretoria. Và có nhiều người da trắng kinh ngạc bảo rằng:
- Một con dân của một dân tộc dã man mới cách đây không lâu, khi ở dưới quyền một chúa tể tàn ác chưa từng thấy, còn cướp bóc, chém giết cả ngàn, cả vạn người, mà bây giờ thốt ra được những lời cao đẹp làm sao.
Phải, có vài kẻ khinh ông ta không dùng cái giọng vàng có thể lôi cuốn cả một dân tộc đó vào một việc gì khác cái việc thuyết giáo đó, nhưng ông ta cho rằng cái cõi khổ ải này mà một ngày kia con người có thể thoát ra khỏi được nếu có tiếng nói nào như vậy đoàn kết họ lại được, cõi đó không phải là một cõi liên tục (1). Người ta chê ông chỉ nói về một thế giới không do tay người tạo ra, trong khi trên các đường phố chung quanh ông có biết bao người đau khổ, chiến đấu và chết. Người ta tự hỏi con người đó mắc chứng điên gì và biết bao kẻ cùng giống với họ mắc chứng điên gì mà làm cho những kẻ đó nhẫn nhục chịu cảnh đói, những kẻ đau khổ nhẫn nhục chịu cảnh đau khổ, và những kẻ hấp hối bình tĩnh đón cái chết?
Và những kẻ im lặng hân hoan nghe ông, và thở dài khi ông thuyết giáo xong, thật là điên mới nhồi vào bụng lép kẹp của mình những lời rỗng tuếch đó được.
Kumalo tiến lại gần bạn.
- Huynh ạ, tinh thần tôi lành mạnh lại rồi.
Khuôn mặt Msimangu rạng rỡ lên, nhưng ông ta không tự cao, cũng không giả nhũn, mà đáp một cách khiêm tốn.
- Tôi rán sức lại sát các bạn, nhưng tôi không tới gần được. Chúng ta nên đội ơn trên và lấy làm sung sướng.


1. Có lẽ ý nghĩa cũng như tiếng “ chỉ là một cõi tạm ” của ta?


< Sửa đổi bởi: ĐạoCấy -- 30.10.2007 17:37:38 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 13
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 5.11.2007 16:30:51   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
12.
 
 
Ngày ở Ezenzeleni về, Kumalo ăn bữa trưa ở hội Truyền giáo rồi trở về nhà bà Lithebe để chơi với đứa con của Gertrude, trong nhà đương có việc trả giá vì bà Lithebe đã kiếm được một người muốn mua những bàn ghế, đồ làm bếp của Gertrude. Bán tất cả được ba bảng, kể ra cũng được giá rồi vì cái bàn đã hư, mất màu và bị rạch bằng cái gì, Kumalo cũng chẳng buồn hỏi; còn mấy cái ghế thì lung lay tới nỗi ngồi xuống phải coi chừng kẻo té. Thực ra, được giá đó là nhờ những đồ làm bếp bằng nhôm. Người da đen ít ai mua những đồ đó, nhưng Gertrude bảo của một người bạn cho, và Kumalo cũng chẳng hỏi là ai.
Nàng tính dùng số tiền đó để mua giầy và áo đi mưa vì bắt đầu mùa mưa rồi; Kumalo tán thành vì chiếc áo và đôi giầy cũ của nàng không hợp với chiếc áo dài đỏ và chiếc khăn trắng mà ông đã mua cho.
Khi mọi vật đã đưa lên xe, tiền đã giao và chiếc xe cam nhông đã đi rồi, ông muốn chơi với đứa cháu thì bỗng hoảng sợ tới nỗi đau nhói trong lòng, vì thấy Msimangu và người da trắng trẻ tuổi đương đi ngược con đường, lại phía nhà ông. Vốn có lễ độ, ông rán tiến ra tới cổng để đón họ và lo lắng nhận thấy họ có vẻ mặt lạnh lùng, nghiêm nghị, nói chuyện nho nhỏ với nhau.
Người da trắng hỏi:
- Chào Umfundisi. Có chỗ nào nói chuyện được không?
Kumalo đáp, giọng hơi run run:
- Vô phòng tôi.
Vô phòng rồi, ông khép cửa lại rồi đứng đó mà không nhìn họ.
Người da trắng nói:
- Tôi được biết điều ông lo ngại rồi. Đúng đấy.
Kumalo vẫn đứng, lưng lom khom, không dám nhìn họ. Rồi ông ngồi xuống ghế, mắt đăm đăm nhìn xuống đất.
Biết nói gì bây giờ? Có nên ôm vai ông ta, xiết tay ông ta không? Msimangu và người da trắng không biết nên làm sao, nên nói với nhau nho nhỏ như thể trong phòng có người chết.
Người da trắng trẻ tuổi nhún vai, nói lớn hơn một chút gần như thản nhiên:
- Cái đó có hại cho tiếng tăm trại cải huấn.
Kumalo gật đầu, không phải một mà hai, ba bốn lần như biểu đồng tình: Phải, cái đó có hại cho tiếng tăm trại cải huấn.
Người trẻ tuổi nói:
- Phải, có hại cho chúng tôi. Người ta trách chúng tôi cho nó ra sớm quá - Ông ta nói thêm - được điều này là hai đứa kia không phải ở trại chúng tôi ra. Nhưng chính nó đã nổ súng.
Msimangu rán làm ra cái giọng tự nhiên, bảo:
- Huynh ạ, một trong hai đứa kia là con ông em của huynh đấy.
Kumalo lại gật đầu một, hai, ba, bốn lần rồi lại gật đầu nữa như cũng để nói rằng một trong hai đứa kia là con người em trai của ông.
Rồi ông đứng dậy ngó chung quanh, hai người khách nhìn theo ông. Ông gỡ chiếc áo bành tô treo ở móc xuống, bận vào mình, đội nón rồi cầm cây gậy. Xong rồi ông quay về phía họ, lại gật đầu lần nữa. Nhưng lần này họ không hiểu ông nói gì.
- Huynh đi đấy ư?
- Umfundisi muốn lại nhà khám hả? Tôi đã thu xếp việc đó cho ông rồi.
Và Kumalo gật đầu. Ông quay lại ngó quanh căn phòng lần nữa và thấy mình đã bận áo để đi ra ngoài này; ông rờ cái áo, cái nón, ngó cây gậy cầm ở tay. Ông bảo:
- Tôi muốn lại thăm em tôi trước hết, chỉ xin huynh làm ơn dẫn đường cho tôi thôi.
- Tôi sẽ dẫn đường cho huynh.
Người trẻ tuổi bảo:
- Còn tôi, tôi sẽ ngồi đợi hai ông ở hội Truyền giáo.
Msimangu vừa đặt tay vào quả nắm ở cửa, thì Kumalo ngăn lại bảo:
- Tôi sẽ rón rén ra trước, rồi huynh sẽ ra sau. Huynh nên cho họ hay….
Ông trỏ căn phòng bên cạnh.
- Phải, tôi sẽ vô cho họ hay…
Msimangu vô cho họ hay rồi đi ra, khép cửa lại; trong phòng vang lên tiếng gào khóc của đàn bà, vì họ có tục như vậy. Msimangu chậm chạp bước theo ông lão khòm lưng lên dốc, thấy bạn vừa đi vừa gục gặc cái đầu làm cho người qua đường quay lại ngó. Ông tự hỏi không biết bạn mình lúc này có bỗng già sọm đi không? Không biết bạn mình có gục gặc cái đầu như vậy từ nay cho tới suốt đời không? Đến nỗi người khác phải nói lớn trước mặt bạn: “ Có gì đâu, ông ấy già rồi, quên lẫn hết rồi ”. Và không biết nghe vậy, bạn mình có gục gặc cái đầu, cơ hồ như cũng muốn nói: “ Có gì đâu, tôi già rồi, quên lẫn hết rồi ”. Nhưng họ biết đâu rằng bạn mình chỉ muốn nói: “ Tôi nhớ lại chuyện cũ, chứ có khác gì đâu ”.
Tới đầu dốc, Msimangu đuổi kịp bạn, nắm cánh tay bạn. Ông có cảm tưởng đi cùng với một em bé hoặc một người bệnh. Họ tới tiệm thợ mộc. Tới trước cửa tiệm, Kumalo quay lại, nhắm mắt, mấp máy môi. Rồi mở mắt ra, nói với Msimangu:
- Thôi huynh ở lại đây. Để mình tôi làm cái việc đó.
Rồi ông bước vô tiệm.
Phải, cái giọng bò mộng vẫn vang lên mạnh mẽ, tự tín. John, người em ông, ngồi trên chiếc ghế bệ vệ như một ông sếp, đương nói gì với hai người nữa. Vì Kumalo quay lưng ra ánh sáng ngoài đường nên John không nhận ra.
- Chào chú.
- Chào ông.
- Chào chú, anh ruột chú đây mà.
- A, anh đấy ư? Em mừng quá. Anh vô đây cùng nói chuyện.
Kumalo ngó hai người khách, bảo:
- Xin lỗi chú, tôi lại lần này có chút việc rất quan trọng.
- Em chắc các ông bạn của em sẽ thứ lỗi cho em. Xin các bạn thứ lỗi cho chúng tôi.
Rồi mọi người chào nhau: “Ông ở lại mạnh giỏi ”; “ Ông đi mạnh giỏi ”. Khách ra rồi, hai anh em ngồi lại một mình với nhau.
- Được gặp anh, em mừng lắm. Sao công việc tìm kiếm của anh tới đâu rồi? Anh đã tìm thấy đứa con đi hoang đó không? Anh thấy em chưa quên hết giáo lý cương yếu đấy nhé (1)
Nói rồi cười oang oang, như tiếng bò mộng.
- Nhưng phải uống trà đã chứ.
Rồi đứng lại tiến lại cửa trong nói gì với một người ở phía sau cửa hàng.
Khi trở ra John bảo:
- Vẫn người đàn bà lần trước. Anh thấy không, em vẫn có những ý nghĩ…người Anh gọi là gì nhỉ - Rồi lại cười, cười oang oang chỉ để trêu anh – À, chung thủy, kiếm ra rồi! Cái tiếng ấy đẹp quá, em sẽ không quên nó đâu. Cái ông Msimangu của anh thông minh đấy. Rồi sao, có kiếm được cậu con đi hoang đó không?
- Kiếm được rồi chú. Nhưng không như trong sách giáo lý cương yếu đâu. Nó hiện nằm trong khám, bị buộc tội là giết một người da trắng.
- Giết người?
Con người đó không còn nói giỡn nữa. Chuyện giết người mà ai còn nói giỡn cho được, nhất là giết một người da trắng.
- Phải, giết người. Nó bẻ khoá vào một ngôi nhà ở một nơi gọi là Parkwold, và giết người da trắng chạy ra cản nó lại.
- Ủa, em nhớ rồi. Chuyện đó mới xảy ra một hai ngày nay phải không? Hôm thứ ba?
- Phải.
- Em nhớ ra rồi.
Phải, ông ta nhớ ra rồi. Ông ta cũng nhớ rằng con ông ta với con anh ông ta thân thiết với nhau lắm. Mấy đường gân nổi lên trên cần cổ bò mộng của ông ta, mồ hôi đóng giọt trên trán. Vẻ sợ hãi hiện trong cặp mắt ông ta, không còn ngờ gì nữa. Ông ta rút chiếc khăn mùi xoa chặm mổ hôi trên trán. Đáng lẽ ông ta còn có thể hỏi nhiều câu nữa rồi mới tới cái nông nỗi đó chứ (2). Nhưng ông ta chỉ nói:
- Phải, đúng rồi, em nhớ ra rồi.
Kumalo thấy thương em vô hạn, rán lựa lời kể lại cho em hay.
- Thật là đau khổ anh ạ.
Biết nói gì bây giờ? Có nên nói: “ Dĩ nhiên là anh đau khổ lắm ”. Hay là nói: “ Dĩ nhiên, thằng con của anh đấy ”. Làm sao có thể nói như vậy được khi người ta hiểu những lời đó có ý nghĩa gì rồi? Vậy thì nên im đi, nhưng cặp mắt kia cứ nhìn trừng trừng mình đây này. Mình hiểu rồi, cặp mắt đó muốn xin mình điều gì rồi.
- Anh muốn nói…
- Phải, con của chú cũng ở đó nữa.
John thở dài:
- Tixo, Tixo.
Rồi lại thở dài nữa:
- Tixo, Tixo.
Kumalo lại gần, đặt tay lên vai em.
- Có nhiều điều anh có thể nói…
- Nhưng anh không nói. Anh chỉ nói rằng, anh chỉ biết chú đau khổ vì cái gì rồi.
- Dạ phải, ai có thể biết rõ cái đó hơn anh?
- Phải, đó là một trong những điều anh có thể nói với chú. Có một người da trắng trẻ tuổi hiện đương đợi anh ở hội Truyền giáo, để dắt anh vô khám. Có lẽ ông ta cũng cho chú đi theo được.
- Anh cho em khoác cái áo và lấy cái nón.
Họ không đợi người nhà bưng trà ra mà vội đi về hội Truyền giáo. Msimangu lo lắng đứng đợi họ, thấy họ tiến lại. Ông lão bây giờ bước vững hơn, còn người kia có vẻ khòm lưng đau khổ lắm.
Tới hội Truyền giáo, cha Vincent, vị mục sư Anh có cặp má hồng hào, nắm lấy bàn tay Kumalo, bảo:
- Tôi sẽ tận lực, tận lực. Ông muốn gì, xin cứ cho hay. Bất kỳ việc gì, giúp được, tôi sẽ giúp.


Họ bước qua cửa rào sắt nặng nề, đục trong bức tường cao màu ảm đạm. Người trẻ tuổi, nói thay họ và công việc không gặp gì trở ngại. Người ta dắt John Kumalo vô một căn phòng, còn người trẻ tuổi với Stephen Kumalo vô một phòng khác, rồi dẫn đứa con của Stephen vô đó.
Hai cha con xiết tay nhau, đúng là ông lão đưa hai tay ra nắm lấy tay của con, và những giọt nước mắt nong nóng rớt trên tay. Đứa con đứng yên, không sung sướng, mừng rỡ. Nó quay cái đầu qua phía này, rồi qua phía kia như thể chiếc áo của nó cài chật quá, mà thực sự là lỏng chứ không chật.
- Con ơi, con.
- Dạ.
- Bây giờ mới tìm được con.
- Dạ.
- Thì trễ quá rồi, con ơi.
Đứa con không đáp gì cả. Thấy nó làm thinh, người cha cơ hồ như hy vọng một chút, lại gặng hỏi:
- Có trễ quá không con?
Nhưng nó cũng không trả lời. Người cha lại gặng hỏi nữa, gần như cố hỏi cho được: có trễ quá không? Nó quay đầu phía này rồi qua phía kia, nó bắt gặp ánh mắt của người trẻ tuổi da trắng, vội vàng ngó đi chỗ khác. Nó đáp:
- Thưa ba, như ba nói đó.
- Ba đã kiếm con khắp nơi.
Nghe cha nói vậy mà cũng vẫn làm thinh. Ông lão buông bàn tay con ra, và bàn tay đứa con rơi thõng xuống như không còn sinh khí. Ở đây có một bức rào, một bức tường, có cái gì ngăn cách hai cha con.
- Tại sao con lại làm cái điều khủng khiếp đó hả con?
Người trẻ tuổi da trắng hơi dao động, còn người coi khám da trắng không nhúc nhích, có lẽ không hiểu ngôn ngữ Zulu. Đứa con dơm dớm nước mắt, nó quay đầu qua phía bên này rồi phía bên kia mà không đáp.
- Trả lời ba đi con.
- Con không biết.
- Tại sao con lại cầm khẩu súng lục?
Lần này thì người coi khám cũng dao động vì tiếng “ súng lục ”, trong ngôn ngữ Zulu, Anh và Afrikaans cũng phát âm như nhau. Đứa con cũng có vẻ xúc động. Nó đáp:
- Để đề phòng. Johannesburg là một nơi nguy hiểm. Ai cũng có thể hành hung bất ngờ.
- Nhưng tại sao con lại cầm khẩu súng mà vào nhà đó?
Câu hỏi này, nó không trả lời được.
- Họ bị hả?
- Vâng.
- Người ta biết chắc là con chứ?
- Thưa ba, con có nói với người ta như vậy.
- Con nói với người ta ra sao?
- Con nói rằng khi thấy người da trắng vô tới, con hoảng hốt. Nên con nổ súng. Con không có ý giết ông ta.
- Thế còn em con? Và đứa kia nữa?
- Dạ, con có khai rằng hai người đó đi với con, và chính con bắn người da trắng.
- Bọn con tới đó phải để ăn trộm không?
Câu hỏi này nó cũng không trả lời được.
- Con đã ở trong trại cải huấn phải không?
Đứa con ngó chiếc giày, và đưa chân ra cà cà trên mặt đất.
- Vâng, con có ở trong trại.
- Trong trại người ta đối đãi với con có tốt không?
Đôi mắt nó lại dơm dớm, nó quay đầu qua bên này, rồi qua bên kia, cúi xuống nhìn chiếc giày cà cà trên mặt đất.
- Người ta đối đãi với con tử tế.
- Và con trả ơn như vậy hả?
Câu hỏi này nó cũng không đáp được. Người trẻ tuổi da trắng bước tới vì biết rằng việc hỏi han đó không ích lợi gì, không đưa tới đâu. Có lẽ ông ta không muốn hai cha con đó làm khổ lẫn nhau.
- Sao, Absalom?
- Thưa ngài hỏi chi?
- Tại sao anh bỏ việc làm, tôi đã kiếm cho anh?
Ông da trắng ơi, nó cũng không trả lời ông đâu. Không thể trả lời những cái đó được.
- Tại sao anh lại bỏ việc làm đó, Absalom?
Không thể trả lời những cái đó được.
- Thế còn người bạn gái của anh. Thiếu nữ đã làm cho anh lo lắng tới nỗi chúng tôi thương hại anh, và đã cho anh ra khỏi trại để săn sóc chị ta.
Nó lại rưng rưng nước mắt. Nào ai biết được nó khóc vì gì? Vì thiếu nữ đã bị nó bỏ? Vì một lời hứa mà nó đã không giữ? Hay khóc cho một con người khác của nó, một Absalom khác muốn làm việc nuôi vợ, đóng thuế, dành dụm ít tiền, tôn trọng pháp luật, yêu con, nhưng không được vì luôn luôn không làm chủ được mình? Hay là nó chỉ khóc cho cái cảnh của nó lúc đó, để mong người ta để yên cho nó một mình đừng tra hỏi nó nữa, đừng bắt nó đáp tại sao thế này, tại sao thế nọ, tại sao, tại sao, nó có biết tại sao tại siếc gì đâu. Người ta không chuyện trò với nó, không nói đùa với nó, không ngồi xuống và cho nó ngồi xuống thong thả, mà cứ tàn nhẫn hỏi hoài hỏi huỷ, tại sao, tại sao, tại sao… Từ cha nó, ông da trắng, tới các nhân viên trong khám, các cảnh sát, các thẩm phán - tại sao, tại sao, tại sao…
Người trẻ tuổi da trắng, nhún vai, mỉm cười có vẻ thản nhiên. Nhưng thực ra ông ta không thản nhiên và ông ta cau mày đau khổ. Ông ta bảo:
- Thế giới như vậy đó.
- Trả lời ba một câu, con. Con chịu trả lời không?
- Con xin trả lời.
- Con không viết một bức thư nào cả, không có tin tức gì cả. Con giao du với những bạn xấu. Con đã ăn cắp, ăn trộm, ừ con đã làm tất cả những cái đó. Tại sao vậy con?
Đứa con vin ngay lấy lời của cha:
- Tại các bạn xấu.
Kumalo bảo:
- Con biết dư rằng như vậy, không phải là trả lời.
Nhưng ông hiểu rằng cứ dùng cách đó thì nó không đáp gì khác, nên ông nói thêm:
- Phải, ba hiểu, tại các bạn xấu. Phải ba hiểu. Nhưng còn con, chính con thì cái gì làm cho con có những hành động đó?
Thật là hai cha con cứ làm khổ lẫn nhau? Đứa con bị làm tình làm tội, lại linh động thêm một chút.
- Tại quỷ nó xúi.
Ôi! Gã kia, sao mày không nói đã chiến đấu với quỷ, vật lộn với nó, chống cự với nó suốt đêm suốt ngày tới nỗi mồ hôi đổ ra đầu mình và kiệt lực? Sao mày không nói đã khóc lóc vì tội lỗi, đã thề sẽ tu tỉnh, đã đứng thẳng lên, rồi lại vấp, lại té? Mày nói như vậy có phải là an ủi con người đau khổ kia không, để ông ấy hỏi hoài một cách tuyệt vọng rằng, tại sao mày không chống cự với quỷ?
Và đứa con lại ngó xuống chân và đáp:
- Con không biết.
Ông già kiệt sức, đứa con cũng kiệt sức mà sắp hết giờ thăm nhau rồi. Người trẻ tuổi da trắng trở lại gần họ, hỏi Kumalo:
- Nó còn muốn cưới thiếu nữ đó không?
- Con còn muốn cưới thiếu nữ đó không, con?
- Thưa ba, còn.
Người trẻ tuổi bảo:
- Để tôi coi xem có thể làm được cái gì. Thôi hết giờ rồi, chúng mình phải ra thôi?
- Chúng ta còn trở lại được nữa không?
- Được. Ra cửa chúng ta sẽ hỏi giờ nào được vào thăm.
- Ở lại mạnh giỏi con.
- Ba về mạnh giỏi.
- Này con, ba nghĩ ở đây con có thể gửi thư được. Nhưng đừng viết thư cho má con vội, đợi ba vô thăm con lần nữa đã. Để ba viết cho má con trước.
- Dạ.
Họ đi ra, khỏi cửa rào thì gặp John Kumalo. Con người to lớn như bò mộng này đã tươi tỉnh hơn. Ông ta bảo:
- Nào, phải đi kiếm ngay một luật sư mới được.
- Một luật sư ư, chú? Làm chi cho tốn tiền như vậy? Sự kiện minh bạch rồi, còn ngờ gì nữa đâu.
John Kumalo bảo:
- Sự kiện nào?
- Sự kiện nào ư? Ba đứa đó vô một ngôi nhà chúng tưởng là vắng người. Chúng đập người đầy tớ làm cho người này té bất tỉnh. Người da trắng nghe thấy tiếng động, xuống xem có chuyện gì. Rồi thì…rồi thì… con tôi…con tôi chứ không phải con chú…bắn chết ông ta. Nó bảo nó sợ nên nó mới bắn.
John Kumalo bảo:
- Phải, phải, đúng như vậy – Ông ta có vẻ vững bụng, lặp lại - Phải, phải, đúng vậy. Và nó nói vậy với anh trước mặt các ông ấy chứ?
- Tại sao không, vì thực sự như vậy mà.
John Kumalo có vẻ vững bụng.
- Có lẽ anh không cần nhờ luật sư chứ? Nếu quả thực nó bắn người da trắng, thì có lẽ chẳng còn cách nào bênh vực được nữa.
- Thế con chú, chú có nhờ luật sư không?
John Kumalo mỉm cười nói:
- Có lẽ em cần mướn luật sư. Trước hết vì luật sư có quyền được nói chuyện riêng với con tôi.
Ông ta có vẻ suy nghĩ, rồi nói tiếp:
- Này anh, anh thấy không, có chứng cớ gì tỏ rằng con tôi và thằng thanh niên kia có mặt lúc đó đâu.
John Kumalo nghĩ vậy, mỉm cười, có vẻ hoàn toàn an tâm.
- Không có mặt lúc đó? Nhưng con tôi…
John Kumalo mỉm cười ngắt lời
- Phải, phải. Nhưng ai tin lời con anh chứ?
Ông ta nói câu đó có ý nghĩa lắm, một ý nghĩa độc ác, tàn nhẫn. Kumalo đứng sựng lại, và người trẻ tuổi da trắng bước lên xe. Kumalo nhìn ông ta như để chờ đợi một lời khuyên bảo, nhưng ông ta chỉ nhún vai, rồi lạnh lùng đáp:
- Ông muốn làm gì thì tùy ý. Cái nghề của tôi không phải là đi kiếm luật sư. Nhưng nếu ông muốn về Sophiatown thì lên đây, tôi chở.
Thái độ lạnh lùng đó làm cho Kumalo càng bực tức, do dự, không bước lên xe. Thấy ông ta do dự, người da trắng trẻ tuổi giận dữ, thò đầu ra ngoài xe, lớn tiếng bảo:
- Cái nghề của tôi không phải là đi kiếm luật sư. Nghề của tôi là huấn cải con người, giúp đỡ, nâng cao tâm hồn.
Ông ta giận dữ, đưa tay lên tỏ cái ý nâng cao rồi thụt đầu vô trong xe, định cho xe chạy. Nhưng rồi lại đổi ý, lại thò đầu ra ngoài.
- Nghề đó rất đẹp đẽ, rất đẹp đẽ cao thượng.
Ông ta lại thụt đầu vô, rồi lại thò đầu ra một lần nữa, nói với Kumalo:
- Xin ông đừng nghĩ rằng, nghề mục sư cao thượng hơn đâu.
Có lẽ ông ta thấy mình nói lớn tiếng quá, nên mím môi lại hạ giọng xuống:
- Ông cứu rỗi linh hồn - thốt mấy tiếng này ông ta có cái giọng như cho sự cứu rỗi linh hồn là một chuyện đùa chua chát – Nhưng tôi, tôi cũng cứu rỗi linh hồn vậy. Ông thấy thiên hạ chào đời rồi lìa đời. Tôi cũng vậy. Tôi đã thấy thằng Absalom đó tái sinh bước vào một cuộc đời mới, và giờ tôi thấy nó rời bỏ cuộc đời mới đó.
Ông ta hằm hằm nhìn Kumalo, nói tiếp:
- Chúng ta sẽ thấy nó rời bỏ cuộc đời mới đó.
Ông ta lại thụt đầu vô, nắm chặt tay lái như muốn bẻ gãy nó, hỏi:
- Sao, ông có về Sophiatown không?
Nhưng Kumalo lắc đầu. Làm sao có thể ngồi cùng xe với người lạ đó được? Người trẻ tuổi lại thò đầu ra bảo:
- Ông là một người thông minh, nhưng nhờ trời, ông không phải là anh tôi.
Ông ta mở máy, chiếc xe chạy vụt đi, ông ta vẫn giận dữ lẩm bẩm câu gì đó.
Kumalo ngó em, nhưng John bước đi mà không nhìn ông. Chán ngán, mệt mỏi ông bước ra khỏi cổng rào, tiến ra ngoài đường.
- Tixo, xin Tixo đừng bỏ con.
Ông nhớ lại lời cha Vincent: “ Tôi sẽ tận lực, tận lực, ông muốn gì, xin cứ cho hay. Bất kỳ việc gì, giúp được, tôi sẽ giúp ”. Vậy, phải đi tìm cha Vincent.


1. Trong Thánh kinh ( Thánh Luc – XV ), có chép một chuyện ngụ ngôn về một đứa con hoang tàn, bỏ nhà ra đi, hoá ra nghèo khổ, phải nuôi heo. Sau trở về nhà, được cha mẹ tha thứ và đón tiếp niềm nở. Truyện ngụ ý khuyên đừng nên sa đoạ theo thị dục của mình.
2. Nghĩa là: hỏi vụ đó đã xảy ra sao, con ông ta có dính líu gì vào không, nếu có thì mới đáng sợ.


< Sửa đổi bởi: ĐạoCấy -- 5.11.2007 16:32:58 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 14
RE: KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. - 6.11.2007 11:26:50   
ĐạoCấy

 

Bài viết đã đăng: 363
Điểm: 0
Gia nhập ngày: 10.5.2007
Hiện trạng: offline
13.
 
 
Kumalo về nhà bà Lithebe, mệt nhọc và chán nản. Hai người đàn bà làm thinh, ông không muốn nói chuyện với họ mà cũng không muốn chơi với đứa cháu. Ông rút vô phòng, lặng lẽ ngồi ở đó, đợi lấy lại đủ sức để qua hội Truyền giáo. Nhưng ông đương ngồi thì có tiếng gõ cửa và bà Lithebe với người trẻ tuổi da trắng bước vô. Nỗi đau khổ vì cuộc tiếp xúc vừa rồi chưa dịu nên Kumalo bất giác thụt lại. Thấy vậy người trẻ tuổi cau mày, nói với bà Lithebe bằng tiếng Sesuto và bà này rút lui.
Kumalo đứng dậy, vẻ già nua lọm khọm. Ông muốn khúm núm xin lỗi, nhưng không thốt được lời nào cả. Và vì ông không thể nhìn mặt người trẻ tuổi được nên cúi gầm mặt xuống sàn.
- Umfundisi.
- Thưa ngài!
Người trẻ tuổi có vẻ giận dữ hơn bao giờ nữa.
- Umfundisi, tôi ân hận rằng đã thốt những lời bực tức đó. Tôi lại để bàn với Umfundisi về cái chuyện kiếm luật sư đây.
- Thưa ngài!
Thực khó mà nói được gì với một người đứng khúm núm như vậy trước mặt mình.
- Umfundisi, có muốn chúng mình bàn về chuyện đó không?
Kumalo phải rán tự chủ. Vì đã có những tình thế khó xử cho một người da đen, đã quen có thái độ khúm núm, mà lại muốn có vẻ tự trọng.
Ông lặp lại:
- Thưa ngài!
Người trẻ tuổi kiên nhẫn nói nữa:
- Umfundisi, tôi hiểu tâm sự của ông. Sao ông không ngồi xuống?
Kumalo ngồi xuống và người trẻ tuổi vẫn còn bực tức, đứng nói với ông ta:
- Lúc nãy tôi nói như vậy vì tôi rầu rĩ, và vì tôi có tánh tận lực làm công việc của tôi. Khi tôi thấy công việc của tôi hỏng, thì tôi tự dằn vặt tôi và dằn vặt những người khác nữa. Nhưng sau đó tôi nghĩ lại mà xấu hổ, nên tôi lại đây.
Thấy Kumalo vẫn làm thinh. Ông ta bèn hỏi:
- Umfundisi, hiểu tôi không?
Kumalo đáp:
- Vâng, tôi hiểu. Tôi hiểu lắm.
Ông quay mặt lại, và người trẻ tuổi thấy rằng vết thương lòng của ông đã dịu.
Người trẻ tuổi không cau mày nữa, nói:
- Về chuyện kiếm luật sư tôi nghĩ rằng nên đấy. Không phải nhờ luật sư che dấu sự thực, nhưng vì tôi không mấy tin người em của ông. Ông thấy em ông trù tính cái gì đấy chứ. Ông ta muốn chối rằng con ông ta với người thứ ba không cùng đi với Absalom. Ông và tôi, chúng ta đều không biết như vậy có hại thêm cho con ông không, nhưng một luật sư thì biết được. Lại còn điều này nữa: Absalom bảo vì sợ mà nổ súng chứ không có ý giết người da trắng. Cần nhờ một luật sư thuyết phục quan toà rằng điều đó là sự thực.
- Vâng, tôi hiểu.
- Ông có quen một luật sư nào không? Một người trong giáo phái của ông chẳng hạn?
- Thưa ngài không. Nhưng tôi có ý qua nhờ cha Vincent ở hội Truyền giáo, sau khi nghỉ ngơi một chút cho bớt mệt.
- Bây giờ ông hết mệt rồi chứ?
- Thưa ngài, ông lại thăm tôi, làm cho lòng tôi phấn khởi lên rồi. Tôi cảm thấy….
- Tôi hiểu rồi.
Người trẻ tuổi cau mày và tự nói với mình.
- Tôi đã lầm lẫn. Mình đi bây giờ được không?
Họ qua hội Truyền giáo, người ta dắt họ vô phòng cha Vincent, và họ nói chuyện một hồi lâu với vị mục sư Anh mặt hồng hào này. Cha Vincent bảo:
- Tôi quen một người đàng hoàng có thể lãnh vụ đó được. Tôi chắc chúng ta đều đồng ý rằng phải nói sự thực và chỉ được nói sự thực thôi, và nhờ luật sư biện hộ cho rằng vì sợ mà nó nổ súng chứ không có ý muốn giết người. Luật sư của chúng ta sẽ cho chúng ta biết cần phải làm gì về điểm thứ nhì, tức là trường hợp đứa cháu của bạn và đứa kia nữa chối không có ở đó. Vì hình như chỉ có một mình con bạn là khai rằng có bọn họ ở đó. Về phần chúng ta, chúng ta chỉ nói sự thực và chỉ nói sự thực; với lại, nếu không vậy luật sư mà tôi sẽ nhờ cậy sẽ không khi nào chịu biện hộ cho đâu.
Người trẻ tuổi hỏi:
- Thế còn cái việc làm lễ cưới?
- Tôi cũng sẽ nói với ông ta nữa. Tôi không biết có thể làm lúc này được không, nhưng nếu được thì tôi sẽ sung sướng được làm lễ cho họ.
Hai người đứng dậy cáo biệt và cha Vincent đặt tay lên trên cánh tay ông già, bảo:
- Bạn can đảm lên. Dù sao thì con bạn cũng bị nghiêm trị đấy, nhưng lời biện hộ được chấp nhận thì sẽ không bị tử hình đâu. Hễ còn sống thì còn hy vọng cải thiện đời sống được.
Kumalo đáp:
- Tôi luôn tự nhủ như vậy, nhưng ít hy vọng lắm.
Cha Vincent bảo:
- Bạn ở lại đây nói chuyện với tôi.
Người trẻ tuổi da trắng nói:
- Còn tôi phải đi. Nhưng nếu tôi giúp Umfundisi được việc gì thì tôi sẵn sàng giúp.
Khi người trẻ tuổi đi rồi, Kumalo và vị mục sư Anh ngồi uống và Kumalo bảo:
- Bạn hiểu rằng chuyến đi này của tôi rầu rĩ quá.
-Tôi hiểu bạn.
- Trước hết là cuộc tìm kiếm. Mới đầu tôi lo ngại rồi khi cuộc tìm kiếm tiến hành, từng bước một thì nỗi lo ngại biến thành sợ hãi, và nỗi sợ hãi này cứ mỗi bước được tăng lên. Lần đầu tiên tôi thấy sợ là hôm ở Alexandra, nhưng chính ở đây, trong hội Truyền giáo này, buổi tối hay tin vụ giết người đó mà nỗi sợ của tôi tăng lên tới cái mức chịu không nổi.
Ông già ngưng lại, mắt đăm đăm nhìn xuống, hoàn toàn chìm đắm trong mớ hồi ức. Một lúc lâu như vậy rồi mới nói tiếp:
- Ông Msimangu bảo tôi, tại sao lại sợ chính cái điều đó xảy ra, trong châu thành có cả ngàn, cả ngàn người này. Lời đó làm cho tôi yên tâm.
Giọng ông ta nói câu: “ Lời đó làm cho tôi yên tâm ” sao mà đau đớn thế, đến nỗi cha Vincent sững người ra, gần như nín thở mong rằng câu chuyện sắp chấm dứt. Nhưng Kumalo nói tiếp:
- Lời đó làm cho tôi yên tâm, mà lại không làm cho tôi yên tâm. Và ngay bây giờ đây tôi vẫn khó tin được rằng cái điều một ngàn lần mới xảy ra một lần đó lại xảy ra cho chính tôi. Phải, đôi khi trong một hoặc hai giây tôi bỗng tin rằng cái việc đó không xảy ra thật, chỉ là một giấc chiêm bao và mình sắp tỉnh dậy, thấy quả nhiên nó không xảy ra thật. Nhưng chỉ tin như vậy trong một hai giây thôi.
Kumalo nói tiếp:
- Nghĩ rằng hai vợ chồng tôi sống một đời lương thiện, ở quê nhà Ndotsheni mà không hay rằng cái việc đó đương tiến lại từng bước, từng bước một.
- Ờ, nếu có ai báo cho chúng tôi rằng: Cái bước đó đã vượt qua rồi đấy, sắp vượt qua rồi đấy; phải nếu có ai báo cho chúng tôi như vậy nhỉ.
- Nhưng không có ai báo cho chúng tôi cả. Bây giờ chúng tôi thấy rồi, nhưng hồi đó chúng tôi có thấy gì được đâu. Vậy mà có nhiều người thấy việc đó đương xảy ra chứ. Những người không liên can gì tới việc đó thì lại được biết. Họ thấy nó xảy ra từng bước, từng bước một. Họ bảo: Johannesburg đấy, có một thanh niên đổ đốn như nhiều thanh niên khác ở Johannesburg. Nhưng việc đó là việc sinh tử đối với chúng tôi mà chúng tôi lại chẳng biết gì cả.
Cha Vincent đưa tay lên che mắt để khỏi loá vì ánh sáng và cũng để không thấy người đương nói. Ông ta cũng muốn nói để phá tan cái đau khổ, nó như một tà thuật đương bủa vây ông nhưng có cái gì ngăn ông lại. Vả chăng, ông biết nói gì bây giờ?
Kumalo bảo:
- Có một người đương ngủ trên bãi cỏ. Ở trên trời cơn dông lớn nhất trong đời người đó đương nổi lên. Những sấm chớp kinh khủng chưa từng thấy sắp hiện ra, gieo chết chóc và tàn phá. Mọi người vội vàng chạy về nhà, đi ngang qua chỗ người đó nằm để kiếm chỗ núp. Và hoặc vì nhìn không thấy người đó nằm trong cỏ, hoặc thấy mà sợ mất công ngừng lại dù chỉ một chút xíu, nên họ không đánh thức người đó dậy, cứ để người đó nằm yên.
Kumalo ngồi yên lặng một hồi lâu có vẻ như trút hết nỗi lòng rồi. Cha Vincent suy nghĩ cả chục câu, chưa thấy câu nào thích hợp. Sau cùng ông ta nói:
- Bạn ạ!
Rồi thôi, không nói gì thêm nữa, mong rằng Kumalo cho hai tiếng đó là một dấu hiệu mở đầu cho nhiều tiếng khác nữa, nhưng Kumalo vẫn làm thinh.
Ông ta bèn nói:
- Bạn ạ!
- Cha nói gì?
- Bạn ạ, nỗi lo lắng của bạn đã biến thành sợ hãi, rồi sợ hãi biến thành âu sầu. Âu sầu vẫn hơn là sợ hãi, vì sợ hãi luôn luôn làm cho tâm hồn ta nghèo nàn đi, chứ âu sầu có thể làm cho nó phong phú lên.
Kumalo đăm đăm ngó ông ta; thật là lạ. Một con người khúm núm, khó dò như vậy mà sao lại có vẻ nhìn đó.
- Tôi không hiểu, tâm hồn tôi phong phú lên được ở chỗ nào?
Cha Vincent vẫn khăng khăng lập lại:
- Âu sầu vẫn hơn là sợ hãi. Sợ hãi là một cuộc hành trình, một hành trình rùng rợn. Còn âu sầu ít gì cũng tới chốn rồi.
Kumalo hỏi:
- Tới chồn nào kia?
Cha Vincent dùng một ngôn ngữ bóng bẩy, giống với ngôn ngữ Zulu:
- Khi cơn dông nổi lên, người ta lo sợ cho ngôi nhà của mình. Nhưng khi ngôi nhà bị tàn phá rồi thì người ta có công việc để làm. Không ngăn được cơn dông, nhưng có thể xây lại căn nhà.
Kumalo hỏi:
- Ở cái tuổi này của tôi mà xây dựng lại căn nhà ư? Căn nhà tôi xây dựng hồi còn trẻ mạnh, bây giờ như vậy đó.Tôi xây dựng lại căn nhà ra sao bây giờ?
Cha Vincent tỏ vẻ thất vọng:
- Không ai có thể hiểu được con đường của Thượng Đế.
Kumalo nhìn ông ta, không chua xót cũng không trách cứ.
- Tôi có cảm tưởng rằng Thượng Đế đã bỏ tôi.
- Đôi khi thấy cơ hồ như vậy, nhưng điều đó không bao giờ xảy ra cả, không bao giờ, không bao giờ…
Kumalo từ tốn đáp:
- Được nghe cha nói vậy tôi mừng lắm.
Ông mục sư da trắng bảo:
- Chúng ta đã nói về sự cải thiện đời sống, về sự cải thiện đời sống của con ông. Và vì ông là mục sư, ông phải cho việc đó là quan trọng hơn hết thảy, hơn cả nỗi âu sầu của ông và của bà nhà.
- Phải, nhưng tôi không biết một cuộc đời như vậy sẽ cải thiện cách nào được?
- Bạn không được nghi ngờ điều đó. Bạn thờ Chúa Ki Tô. Hồi xưa có một tên ăn trộm bị đóng đinh trên cây thập ác….
Kumalo có giọng gay gắt:
- Con trai tôi không phải chỉ ăn trộm mà thôi. Có một người da trắng, một người tốt, yêu vợ yêu con. Hơn nữa, người đó còn yêu cả dân tộc chúng tôi. Và người vợ đó, những đứa con đó hoá ra goá bụa côi cút chỉ vì thằng con tôi. Tôi không tưởng tượng nổi có tội ác nào lớn hơn vậy nữa.
- Bất kỳ mắc tội nào, người ta cũng có thể ăn năn được.
Kumalo chua chát đáp:
- Nó sẽ ăn năn. Nếu tôi hỏi nó: “ Con có ăn năn không con? ”, thì nó đáp: “ Như ba nói đó ”.” Phải, như vậy có xấu không? ”, thì nó đáp: “ Dạ xấu ”. Nhưng nếu tôi đổi cách nói, không mớm lời cho nó như vậy, chẳng hạn nếu tôi hỏi nó: “ Bây giờ con tính sao? ”, thì nó sẽ đáp: “ Con không biết ” hoặc “ Ba tính sao con cũng chịu ”
Giọng Kumalo cao lên có vẻ lo lắng:
- Nó như một kẻ xa lạ. Tôi không đụng chạm được nó, lại sát nó được (1). Tôi không thấy nó xấu hổ, không thấy nó có lòng trắc ẩn đối với những nạn nhân của nó. Nó rưng rưng nước mắt đấy, nhưng chỉ là khóc cho nó thôi, khóc vì nó sẽ bị tội thôi, chứ không khóc vì tội ác của nó.
Ông hét lên:
- Một con người có thể mất hết ý thức về cái ác chăng? Một đứa đã được dạy dỗ như nó? Nó làm cho hai đứa trẻ hoá ra côi cút mà tôi chỉ thấy nó thương hại cái thân nó thôi. Tôi thưa với cha rằng, kẻ nào mà làm cái gì hại cho một trong hai đứa trẻ đó thôi, thì là….
Cha vIncent cũng lớn tiếng:
- Thôi đừng nói nữa. Ông mất trí rồi. ông đi cầu nguyện đi, đi nghỉ đi. Và đừng vội vã phán xét con ông như vậy. Biết đâu chừng nó cũng chẳng vì xúc động quá mà làm thinh. Vì vậy nó mới bảo: “ Như ba muốn đó ”, và: “ Vâng, như vậy đó ”, và: “ Con cũng không biết ”.
Kumalo đứng dậy:
- Tôi cũng nghĩ vậy, nhưng tôi không còn chút hy vọng gì cả. Cha mới bảo tôi phải làm gì đấy nhỉ? À, phải cầu nguyện và đi nghỉ.
Giọng ông ta không có chút gì trào lộng và cha Vincent biết rằng ông ta bẩm sinh không biết trào lộng. Nhưng trong lời nói của ông ta có cái gì trào lộng tới nỗi cha Vin cent phải nắm lấy cánh tay ông ta mà ra lệnh:
- Ông ngồi xuống, Tôi phải lấy tư cách mục sư mà nói với ông.
Kumalo ngồi xuống, cha Vincent bảo:
- Phải, vừa lúc nãy tôi bảo ông phải cầu nmguyện và đi nghỉ. Dù chỉ là cầu nguyện ở ngoài môi, và chỉ nằm dài trên giường để nghỉ. Và đừng cầu nguyện cho bản thân ông, đừng cầu nguyện để hiểu được con đường của Thượng Đế, vì những con đường đó bí ẩn lắm. Không ai hiểu được đời sống đó ra sao vì nó là một bí mật. Tại sao ông lại có lòng thương hại một thiếu nữ mà không thương hại cho chính ông, đó là một bí mật. Và tại sao ông vốn sống khi mà chết đi có phần lại hơn, đó cũng là một bí mật nữa. Lúc này đây ông đừng cầu nguyện, đừng trầm tư về những điều đó vội, để sau này sẽ hay. Bây giờ ông hãy cầu nguyện cho cô Gertrude, cho đứa con của cô ấy, cho thiếu nữ sắp thành con dâu của ông, cho đứa nhỏ sẽ ra đời và sẽ thành cháu nội của ông. Ông cầu nguyện cho bà nhà, cho hết thảy những người ở Ndotsheni. Cầu nguyện cho người vợ goá và hai đứa con côi. Cầu nguyện cho linh hồn của người bị giết. Cầu nguyện cho hết thảy chúng tôi ở hội Truyền giáo, cho những người ở Ezenzeleni đương rán xây dựng lại trên khu đổ nát. Cầu nguyện cho sự phục hồi của chính ông. Cầu nguyện cho tất cả những người da trắng, cho những người làm những điều công bằng, và những người nếu không sợ hãi thì cũng sẽ làm những việc công bằng. Và đừng ngại cầu nguyện cho con của ông, cho nó được cải hoá.
Kumalo khúm núm đáp:
- Tôi sẽ nghe lời cha.
- Và ông thấy muốn cảm ơn thì cứ cảm ơn. Không có gì tốt hơn cái đó. Chẳng hạn cảm ơn bà nhà, bà Lithebe, ông Msimangu và ông trẻ tuổi ở trại cải huấn. Còn về đứa con trai của ông, về sự cải hoá nó, thì ông cứ để mặc ông Msimangu và tôi, vì ông hiện đương hoang mang dữ dội, không nhận ra được ý chí của Thượng Đế đâu. Và bây giờ đây, đi cầu nguyện, đi nghỉ đi.
Ông đỡ ông lão đứng dậy, đưa cho cái nón. Kumalo ngỏ lời muốn cảm ơn thì ông bảo:
- Chúng ta làm theo cái tiếng nói ở trong lòng chúng ta và tại sao nó ở trong lòng chúng ta, thì cũng là một bí mật nữa. Chính đức Ki Tô ở trong lòng chúng ta bảo rằng, phải cứu giúp tha thứ cho mọi người mà Ngài thì lại bị bỏ rơi.
Ông tiễn ông lão ra tới cửa hội Truyền giáo, rồi họ chia tay nhau.
- Tôi sẽ cầu nguyện cho ông đây, cầu nguyện suốt ngày suốt đêm. Và đừng bao giờ quên rằng, bất kỳ việc gì ông muốn cậy tôi, tôi cũng sẽ hết lòng giúp đỡ.


1. Cũng có thể hiểu là: Tôi không làm cho nó cảm động được.
 






























< Sửa đổi bởi: ĐạoCấy -- 6.11.2007 11:28:40 >

(trả lời: ĐạoCấy)
Post #: 15
Trang:   [1] 2 3   Tiếp theo >   >>
 
Diễn Đàn chính >> [THƯ VIỆN VNTHUQUAN] >> Đánh máy truyện cho thư viện online >> KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. Trang: [1] 2 3   Tiếp theo >   >>
Nhảy cóc tới:


Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 Ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


 
Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode

Vận tốc truy cập: 6.843