 |
|
 |
| |
 |
| Đây là một diễn đàn của tình bạn ! Mong các bạn vui vẻ và hoà nhã với nhau. |
|
|
Đang cùng đọc đề tài này:
không
|
|
In Ra
|
 |
|
 |
| |
Đăng nhập với tên: | |
|
Tiêu Diệt - 13.8.2007 9:11:01
|
|
|
Quang Khôi
Bài viết đã đăng: 618
Gia nhập ngày: 14.12.2006
Đến từ: Hà Nội Sài Gòn
Hiện trạng: offline
|
Nạn đói Năm Ất Dậu .... Giáo sư Cao Thế Dung dẫn lại tài liệu của Decoux, "A la Barre de l’Indochine" kể rằng: "Nạn đói Ất Dậu bắt đầu vào mùa Đông 1944 kéo dài cho đến tháng 5/1945. Ở Trung Châu Bắc Việt, gà vịt lợn biến mất, dần dần biến mất cả chó, có những xóm không còn một con vật nào. Các tiểu nông đi đến chỗ tuyệt vọng. Ruộng nương trâu bò phải bán đứt hay bán đợ. Lúa phải bán non, đồ đặc phải cấm cố. Làng Thượng Cẩm, phủ Thái Ninh, Thái Bình có 900 suất đinh vào năm 1944, ngày 27/05/1945 chết hết còn 400. Nam phụ lão ấu trong làng Thượng Cẩm Thái Bình là 4000 người chết đi còn lại 2000 người (CTD, sđd, tr.722). Một tác giả người Pháp đã kể lại trong "Témoignages et documents francais relatifs a la Colonisation francaise au Vietnam" cái cảnh tượng thê thảm của nạn đói năm Ất Dậu đó như sau:"Họ đi thành rặng dài bất tận...toàn thân lõa lồ, gầy guộc, trơ xương ra, run rẩy...Thỉnh thoảng, họ dừng lại để vuốt mắt cho một người trong bọn họ ngả xuống và không bao giờ thức dậy được nữa... Nhìn những hình người xấu hơn con vật xấu nhất, nhìn thấy những xác chết co quắp cạnh đường chỉ có một vài nhánh rơm vừa làm quần áo, vừa làm vải liệm, người ta thật lấy làm xấu hổ cho cái kiếp con người" (CTD, sđd, tr.723) Sau Tết Ất Dậu (1945), khoảng tháng 3, nạn đói ngày càng gia tăng và con số người chết có lúc lên cả hai vạn người một ngày. Trong lúc đó lừa ngựa của Nhật vẫn được nuôi ăn đầy đủ bằng bắp và gạo thu được từ trước và được chất đầy trong các kho lương thực dọc theo quốc lộ 1, nhưng người Nhật vẫn không cho mở các kho gạo ra để cứu trợ. Cho đến tháng 5/1945, có làng như làng Thượng Cẩm, phủ Thái Ninh, tỉnh Thái Bình, dân số ước chừng 4000 người thì chết hết 2000 như đã nói ở trên. Và sau đây là những con số đáng ghi nhớ. Dân số Thái Bình 700.200 người, chết đói khoảng trên 260.000. Nam Định là một vựa thóc, dân số khoảng 680.000, chết đói 229.650 người. Ninh Bình dân số 200.000, chết đói 37.936 người. Hà Nam, dân số khoảng 400.000, chết đói 50.383 người (tập san "Nghiên Cứu Lịch Sử" số 4, 1990, tr.50 - 56; Cao Thế Dung, sđd, tr.728) Theo tổng kết của viên Toàn Quyền Decoux thì trận đói năm Ất Dậu (1945) đã khiến khoảng 1 triệu người chết, nhưng thực tế chắc con số này cao hơn nhiều. Qua phần trình bày các tài liệu như trên đây thì lý do để giải thích hợp lý cho trận đói năm Ất Dậu, ngoài lý do thiên tai, hạn hán, mất mùa, là chính sách tàn ác của quân đội Nhật cho lệnh thu mua lúa gạo, ngô (bắp) tích trữ; phần khác cho lệnh phá bỏ những cánh đồng trồng lúa, ngũ cốc để trồng đay phục vụ cho nhu cầu chiến tranh khi phe trục Đức-Ý-Nhật đang làm mưa làm gió trên toàn thế giới trong trận đệ nhị thế chiến. ...... http://www.huongduong.com.au/article_46.html >>>>>>>>>>>>>>
_____________________________
..........Sáu Tỷ ...
|
|
|
|
Tiêu Diệt - 13.8.2007 9:25:12
|
|
|
Quang Khôi
Bài viết đã đăng: 618
Gia nhập ngày: 14.12.2006
Đến từ: Hà Nội Sài Gòn
Hiện trạng: offline
|
THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN Ở HUẾ Lê Tất Đạt Đến bây giờ dù đã 36 năm trôi qua, mỗi lần nghĩ tới cuộc thảm sát Mậu thân ở Huế, ngoài nổi ngậm ngùi những người thân đã mất tôi vẫn bâng khuâng không biết tại sao đất Huế gánh chịu một tai ương khủng khiếp như vậỵ Biến cố Mậu Thân cùng một lúc xảy ra trên toàn cõi miền Nam nhưng không có thành phố nào bị chiếm đóng quá lâu và hứng chịu một tổn thất về sinh mạng và vật chất lớn lao như ở Huế. Trong lịch sử thành phố Huế, chỉ một lần người dân vô tội bị tàn sát đó là lần thất thủ kinh đô năm Ất Dậụ Biến cố xảy ra trong đêm 22 tháng 4 năm 1885, khi hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cầm đầu cuộc tổng khởi nghĩa chống lại quân xâm lược Pháp. Sáng hôm sau, Thống tướng De Courcy ra lệnh phản công, quân ta yếu thế phải bỏ chạỵ Kết quả hàng ngàn người vừa binh sĩ vừa thường dân bị quân Pháp giết chết. Cuộc tàn sát đẫm máu này vẫn còn có thể hiểu được, quân dân ta là kẻ chủ động, chúng ta đã khởi xướng và gây thiệt hại cho thực dân. Trong đợt tấn công vào Tòa Khâm sứ nằm dọc bờ hữu ngạn sông Hương giữa lúc De Courcy đang mở dạ yến quân ta đã giết được 16 tên thực dân và gây bị thương cho 80 tên khác. Sau biến cố đó thành phố Huế không bị ảnh hưởng bởi một biến động lịch sữ nào khác, kể cả hai cuộc Thế Chiến và trong thời kỳ bị bọn Quân phiệt Nhật chiếm đóng năm 1945. Do vai trò lịch sử Huế có trọng trách gánh giữ, Huế được nhìn như chiếc nôi văn hoá của đất nước, cho nên mọi phe phái, thế lực đều thầm lặng nương taỵ Vậy nguyên nhân nào sinh ra cuộc thảm sát dã man Tết Mậu Thân? Lòng người ử. Nhưng trước khi bàn sâu vào vấn đề chúng ta tạm ngưng để nhìn lại những chuyển biến của biến cố nàỵ Đối với người Việt, dù thuộc thành phần nào thì Tết cũng là ngày lễ truyền thống quan trọng nhất. Thời xưa, sau lễ - phất thức- tức lễ rửa ấn, rửa triện vào ngày tiễn đưa ông Táo về chầu trời 23 tháng chạp thì mọi việc công từ triều đình cho đến huyện xã đều ngưng nghỉ cho đến ngày lễ -Khai hạ- mồng 7 tháng giêng. Như vậy Tết kéo dài đến 2 tuần. Thời hiện đại Tết chính thức chỉ có 3 hôm. Và trong 3 hôm đó mọi sinh hoạt của nhà nước đều được đình chỉ để quân nhân cán chính có cơ hội đoàn tụ với gia đình trong những giờ phút linh thiêng nhất của đất nước. Ngay cả việc chém giết nhau cũng cần phải trì hoãn. Sau hiệp định Geneve, miền Nam được hưởng thanh bình một vài năm rồi chiến tranh lại tiếp diễn. Để binh sĩ có cơ hội đón xuân hoặc ít ra cũng đỡ căng thẳng trên phòng tuyến chiến trường, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào mỗi dịp Tết đến đều ra lệnh ngưng chiến một thời gian ấn định nào đó, hoặc đơn phương hoặc song phương. Thường sau một cuộc ngưng chiến thì hai bên tố cáo lẫn nhau về những vi phạm, nhưng tình hình chưa bao giờ quá nghiêm tro.ng. Năm Mậu thân, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker và Đại tướng Westmoreland đã cùng thỏa thuận ra tuyên cáo ngưng chiến 36 giờ kể từ 06 giờ chiều ngày 29 tháng Giêng năm 1968. Phía Cộng sản , -nhân đạo- hơn tuyên bố ngưng chiến 7 hôm từ 27 tháng Giêng đến mồng 3 tháng Haị Tuy nhiên trong đêm 30 rạng ngaỳ 31 tháng Giêng Việt cộng đã nuốt lời hứa, trắng trợn vi phạm ngưng chiến và mở hàng loạt tấn công khắp lãnh thổ miền Nam. Lực lượng Cộng sản gồm hơn 85,000 quân chính qui Bắc Việt, cộng với binh sĩ của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Những cuộc tấn công quan trọng xảy ra tại Sài Gòn, Quảng Trị, Huế, Đa Nẵng, Nha Trang, Qui Nhơn, Kontum, Ban Mê Thuột, Mỹ Tho, Cần Thơ, Bến Trẹ Địch quân đã thành công lúc đầu nhưng chỉ trong vòng 2, 3 hôm là bị đẩy lui, ngoại trừ một vài nơi cuộc chiến đấu kéo dài, có khi gần cả tháng như trường hợp ở Huế. NHÌN LẠI CHIẾN TRƯỜNG HUẾ Sáng tinh sương mồng Một Tết Mậu Thân, khi cả thành phố đang còn yên giấc thì chiến tranh cuồng bạo tràn về trên đất Huế thương yêu, trên người dân lành vô tộị Vào lúc 3giờ 40 phút khuya mồng một Tết -31 tháng 1 năm 1968- Cộng quân cùng một lúc xử dụng mo.t-chê, hỏa tiễn và bộ binh mở cuộc tổng tấn công ào ạt thành phố Huế. Chiến tranh có cơn chấn động như ngọn hỏa diệm sơn đang thời kỳ phun lửa, rực sáng bầu trời, với hằng trăm trái hỏa châu chói lòa cảnh vật. Tiếng động cơ ầm ầm của máy bay trực thăng sà thấp trên những ngọn cây, lướt qua các mái nhà. Đất trời rung chuyển với từng làn sóng địa chấn của hỏa tiễn tầm xạ Những trái đạn rơi khắp mọi nơi trong thành phố tạo thành nhửng âm thanh xé trời, đinh tai, nhức óc. Hằng ngàn quân chính quy Bắc Việt với súng máy cầm tay, óng phóng hỏa tiễn mang vai, chia nhau tiến chiếm các mục tiêu đã được ấn đi.nh. Ở hữu ngạn sông Hương, một thành phần của trung đoàn 4 công quân Bắc Việt tấn công Bộ Chỉ Huy YễmTrợ Quân Sự (Military Assistance Command, Vietnam-MACV) gần đại học Khoa học nhưng bị cầm chân. Phía tả ngạn sông Hương, lúc 4 giờ sáng, 2 tiểu đoàn Cộng quân 800 và 802 thuộc trung đoàn 6 tiến chiếm thành nộị Tiểu đoàn 800 đánh vào sân bay Tây Lộc nhưng bị Đại đội tinh nhuệ Hắc Báo đẩy lui, Tiểu đoàn này đổi hướng chiếm giữ các cửa thành. Tiểu đoàn 802 tiến chiếm Bộ Tư Lệnh Sư Doàn 1 tại Mang cá ở góc đông bắc thành nội và xâm nhập được vào khu y tế của BTLSĐ. Đại đội Hắc báo được gọi về tăng viện cùng 200 binh sĩ cơ hữu đã đẩy địch quân ra khỏi căn cứ. Đến sáng mồng một, ở hữu ngạn sông Hương, Cộng quân chiếm hầu hết cơ quan chính phủ dọc đại lộ Lê Lợi như Đaị học Sư Phạm, Trung Học Kiểu mẫu, Đại học Khoa Học, đài phát thanh Huế, Ty ngân khố, Toà Tỉnh Trưởng, Toà Đại Biểu Trung Phần, Tòa Viện Trưởng Đại Học Huế. Còn bên tả ngạn, 2 tiểu đoàn của trung đoàn 6 chính quy Bắc Việt với sự tăng phái của tiểu đoàn 12 Công binh đã chiếm hết mọi nơi trong thành nội ngoại trừ BTLSD. Mặc dù không chiếm giữ được 2 mục tiêu tối hậu- Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Quân Sự và Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn -nhưng cả hai đều bị địch quân vây hãm, cắt đứt liên lạc bên ngoài và Trung đoàn 6 kiểm soát hầu hết cư dân thành phố Huế. Lá cờ của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng đã được kéo lên cột cờ Phú Văn Lâu, báo hiệu một giai đoạn cực kỳ tang tóc đau thương cho người dân lành vô tộị Trong vòng 26 ngày sắp tới, thành phố Huế sẽ là bãi chiến trường sôi sục nhất trên toàn lãnh thổ với sự tranh hùng của hai phe; một bên là 15 tiểu đoàn Cộng quân, bên kia là một lực lượng gồm 4 tiểu đoàn Bộ binh và 3 tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Mỹ và 11 tiểu đoàn quân lực Việt Nam Cộng Hòạ. Ngày 31 tháng hai, Tiểu Đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 Thủy quân Lục chiến Mỹ từ Phú Bài di chuyển về giải vây Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Quân . Họ gặp sức kháng cự mãnh liệt của Tiểu đoàn 806 Cộng quân đang chiếm cứ quốc lộ 1 dẫn về Huế, đặc biệt lúc còn cách căn cứ 700 mét, hai bên đã dành nhau từng tấc đất, từng mái nhà, từng khu phố nhưng cuối cùng đại đội A thuộc Tiểu đoàn 1 vào đến được căn cứ bộ chỉ huy lúc 2 giờ chiều cùng ngày . Trong vòng 3 hôm kế tiếp nhiều đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đã được gửi về đây để tăng viện. Ngay hôm đầu tiên chiếm đóng Cộng quân phá sập cầu Trường Tiền và bố trí dọc bờ bắc sông Hương. Xe tăng lội nước của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ngay trong hôm 31/01 đã cố gắng vượt qua sông nhưng bị hỏa lực từ bờ bắc quá mạnh đành phải rút về. Sau đó tàu đổ bộ há mồm được dùng để chuyển quân qua sông. Mỹ đã hoàn toàn kiểm soát khu vực chung quanh Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Quân sự và bắt đầu phối hợp với các đơn vị chủ lực của Sư đoàn 1 để tái chiếm các khu vực bị địch chiếm đóng ở hữu ngạn. Qua đến ngày mồng 3 tháng 2 thì các công sở nhà nước dọc đại lộ Lê Lợi đều được giải tỏạ Đến ngày mồng 10 tháng 2 thì toàn thể khu vực hữu ngạn được coi như an ninh. Ngày mồng 9 tháng 2, Mỹ gửi 2 Tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn Dù 101 ra tăng phái Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1. Một Tiểu đoàn bảo vệ an ninh cho Tiểu đoàn Công Binh 35 đang tu sửa quốc lộ 1 từ Đà Nẵng ra Huế. Tiểu Đoàn thứ hai được đưa ra Phi trường Phú bài để bảo đảm an ninh cho phía nam thành phố. Qua ngày 12 tháng 02, Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ được đưa sang sông bằng tàu đổ bộ và trực thăng vận. Tiểu đoàn này thay thế Lực Lượng Đặc Nhiệm Nhảy dù chiếm giữ một phần bờ thành đông nam. Cùng lúc 2 Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam tiến đến chiếm giữ góc thành tây nam với chủ đích càn quét về đông. Phía tả ngạn, Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh Trung đoàn 3, Lực Lương Đặc Nhiệm Nhảy Dù và đại đội 3 Thiết giáp di chuyển vào nội thành giải tỏa vòng vây cho Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1. Lực lượng này cùng vơi sự tăng cường thêm 2 tiểu đoàn, các đơn vị thiết giáp và đại đội Thám Báo cùng đại đội tinh nhuệ Hắc Báo đã chiếm đóng các cứ điểm chiến lược phiá nam bộ Tư Lênh Sư Đoàn, cũng như bảo vệ an ninh cho sân bay Tây Lộc. Về sau, Tiểu đoàn 4 và 9 Nhảy dù được gửi từ Đồng Hà vào tăng viện. Qua ngày thứ 5, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã kiểm soát được cửa thành Thượng Tứ và cố tìm cách đánh bật Cộng quân ra khỏi các giao thông hào quanh các bờ thành và trên thành. Trong lúc đó ở bên ngoài các khu phố Trịnh Minh Thế,Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu và Huỳnh Thúc Kháng đều nằm trong vòng kiểm soát của tạ Bên kia cầu Gia Hội về đến Bãi Dâu là vùng bị địch chiếm 100%. Sân trường Trung Học Gia Hội là nơi được thiết lập toà án Nhân Dân, một hình thức công trường đấu tố ở Hà Nội thời kỳ cải tổ ruộng đất, để xử tử hình những người khác ý thức hê.. Từ ngày 13 đến 22 tháng 2, chiến trận giằng co trong nội thành giữa bộ đội Bắc việt và các lực lượng Thủy quân Lục Chiến Mỹ, Thủy Quân Lục Chiến VNCH và bộ binh Sư Đoàn 1. Trọng pháo từ các chiến hạm Mỹ và pháo binh đất liền và hỏa pháo từ trực thăng được dùng tối đa để yểm trợ đơn vị bạn trong nỗ lực càn quét cộng quân ra khỏi các địa đạo, giao thông hào trong thành nội cũng như chận đường tiếp tế và xâm nhập của địch quân vào nội thành. Trong đêm 23 rạng ngày 24 tháng 2, Tiểu đoàn 2 của trung đoàn 3, thuộc Sư đoàn 1 QLVNCH đã mở một cuộc tấn công bất ngờ vào cửa Tâỵ Địch quân bị phá vỡ phòng tuyến nhưng vẫn chống chọi mãnh liệt, phía QLVNCH, họ chiến đấu gan dạ, can trường và không bị nao núng. Trong đêm họ đã buộc địch quân phải rút lui và tái chiếm được cột cờ Phú Văn Lâụ Đến 5 giờ sáng 24 thì lá cờ vàng 3 sọc đỏ thân yêu trở lại bay phất phới trên bầu trời hừng đông. Cuộc tái chiếm thành phố Huế gợi lại hình ảnh chiến trường Âu châu một phần tư thế kỷ trước, hai bên giẳng co từng tấc đất, chỉ chờ một sơ hở là tàn sát nhau không nương taỵ Trên chiến trường chỉ còn một chọn lựa duy nhất: Giết hoặc bị giết. Vì thế con người nhiều lúc biến thành dã thú, chỉ hành động theo bản năng sinh tồn. Những hình ảnh tàn bạo này được phản ảnh khá đầy đủ trong cuốn phim Full Metal Jacket do Stanley Kubrick đạo diễn năm 1987. Ký giả John Lawrence của CBS có mặt tại Bộ Chỉ Huy Yễm Trơ Quân Sự, Huế, viết: Trong hơn 26 hôm, họ đã thấy những quân sĩ này trở thành tương đồng hơn, gần gũi hơn với những binh sĩ lạc hậu, man rợ nhất chứ không có cái nét văn minh của người chiến sĩ khác màu da và văn hóa thời naỵ Rốt cuộc nhân tính biến mất chỉ còn hành động máy móc để lùng săn, lẩn tránh và bắn giết nhaụ Cuối cùng cái làm họ thưc sự chia thành 2 phe là lòng trung kiên của họ - over the twenty six days, they had seen the combatants become more alike, more akin to the most primitive warriors than to mordenđay soldiers with differrent races and cultures, more savage than civilized, reduced finally to the mechanical action of hunting, hiding and killing each other. At the end, all that really separated the two sides were their loyalties. page 79 Trong lúc trên mặt trận quân sự cộng quân đang sống chết để bám lấy từng tấc đất trong nội thành thi trên mặt trận chính trị họ thiết lập những toà án nhân dân tại những vùng chiếm đóng an toàn để xử tội những người không đứng cùng chung chiến tuyến. Sau 26 ngày căng thẳng, khốc liệt, bạo tàn, vô nhân cuối cùng Huế đã được giải phóng. Cuộc chiến này cả 2 bên đều cùng trả một giá quá đắt. Phía địch quân, riêng tại Huế có hơn 5000 thương vong cộng thêm 3000 binh sĩ bỏ mạng tại các vùng phụ cận. Về phiá ta, QLVNCH có 365 tử thương, Mỷ 119 người và hàng chục ngàn người Huế trỏ nên vô gia cư, 1,900 thường dân bi thương và 844 người bị chết vì bom đạn, 5,800 người dân bị chết hoặc mất tich bởi bàn tay Cộng sản hay bọn nằm vùng. Trong đó 3,500 người được tìm thấy trong những mồ chôn thập thể hoặc cá nhân những tháng sau đó. Sau đây là bảng liệt kê thành quả lẫy lừng của quân đội gỉai phóng Hà Nội đã mang đến làm quà xuân cho người dân Huế. NHÌN LẠI MỒ CHÔN - Ngày 29 tháng 2, 1968: Tìm thấy các nhóm mồ tập thể thứ nhất ngay sau khi tái chiếm cố đô gồm 1,173 tử thi trong đó có mồ chôn 100 người gồm công chức và sĩ quan Việt Nam Cộng hòa tại trường Trung học Gia Hộị - Ngày 14 tháng 3, 1968: Tìm thấy mồ chôn tập thể của 5 Giáo sĩ và 300 giáo dân. - Tháng 3, 1968: Khu lăng vua Minh Mạng tìm được 26 hố rãnh với hơn 200 nạn nhân. - Ngày 25 tháng 4, 1968: Tìm thấy 342 xác trong một hầm nông tại ấp Vĩnh Lưu cách Huế 10 cây số, trong đó 142 xác được thân nhân nhận diện. - Tháng 5, 1968: Xác của 3 Bác sĩ Đức dạy tại Đại học Y khoa Huế, Bác sĩ Krainick, Bác sĩ Discher, Bác sĩ Alterkoster và bà Krainick được tìm thấy cách chùa Tường Vân hơn nửa cây số về phía nam. Các vị này bị bắn sát từ sau gáy và đầu nên khuôn mặt họ một phần bị bung rạ - Tháng 4 dến tháng 11, 1968: Tại hai ấp Vĩnh thái và Phú Xuân thuộc Quận Phú Thứ, cách Huế 14 cây số , tim thấy nhiều mồ chôn tập thể, nạn nhân bị trói chùm từng 15 người xô chung xuống một hố. Khu vực này có 230 tử thi, trong đó có 15 học sinh tuổi 15. - Tháng 7 năm 1969: Tìm được 809 xác ở các mồ chôn tập thể tính luôn cả Gò Cát. - Tháng 9, 1969 (20 tháng sau): Tìm thấy một mồ chôn 428 thi thể ở suối Đá Mài thuộc quận Nam Hoà, cách Huế 15 cây số. Ờ đây cách bờ khoảng 100 mét, người ta tìm thấy hàng trăm chiếc sọ người, hàng trăm mẩu xương vụn nằm chung một chỗ. Những xác này đã không được chôn, nằm phơi bày cho nên dòng nước đã rửa sạch trắng những bộ xương. Nhà chức trách Việt Nam Công Hoà sau đó đã phổ biến danh sách nạn nhân và cho biết 25% nạn nhân là thành phần Quân nhân mọi cấp, 25% là sinh viên, học sinh, 50% còn lại là công chức và thường dân. - Số người còn mất tích: 1946 NHÌN LẠI NGÀY THÁNG SÔI ĐỘNG Huế những năm đầu thập niên 1960 dẫn đến thời điểm biến cố Mậu Thân là giai đoạn vô cùng sôi đô.ng. Kể từ sau biến cố ở Đài Phát Thanh Huế trong đêm Phật Đản thứ 2507 (1963), những cuộc biểu tình chống Ngô triều liên tiếp xảy rạ Các cuộc bố ráp, lùng bắt, giam cầm các thành phần đối lập, sinh viên học sinh Phật tử đã gây căm phẫn trong dân chúng. Trong giai đoạn này một số nhỏ thành phần hoạt đầu thuộc hàng ngũ được xem là trí thức đã lợi dụng niềm tin của quần chúng để thiết lập đầu cầu nhắm vào những toan tính về saụ Đất Huế mảnh đất hội tụ mọi tinh hoa dân tộc, nơi các học thuyết chủ yếu của các tôn giáo Phật, Nho, Lão, được nghiêm túc gìn giữ và phát huy . Nơi biểu tượng cho nền văn hóa và văn minh của dất nước. Người dân Huế hãnh diện đôi khi kiêu căng , tự hào đôi khi quá đáng, nhưng họ có lý do vì dưới mắt mọi người dân Việt cũng như thế giới thì Huế là cái nôi văn minh dân tộc Việt nam. Người Huế do đó không dễ dàng chấp nhận những tư tưởng, học thuyết đi ngược lại truyền thống đạo lý dân tộc. Nhưng những phần tử hoạt đầu đã không nắm vững được yếu tố đó, cứ nghĩ rằng, dân Huế đã bị dồn đến cuối đường, không thể sống dưới chế độ kỳ thị tôn giáo của nhà Ngô thì chỉ còn một chọn lựa khác: Cộng sản. Họ đã lầm, hoặc họ bị mê hoặc nghĩ dân Huế đã lầm. Kể từ sau khi cuộc cách mạng Bolshevik 1917, chính thể Cộng sản Sô Viết trong vòng 74 năm từ 1917-1991 đã giết hại 35 triệu công dân của ho.. Riêng một minh Stalin đã giết 20 triệu người . Theo nhà nghiên cứu tội ác học R.J. Rummel và văn hào Nga sô Aleksandre Solzhenitsyn thì con số này lên đến 60 triệu người! Sử gia tiếng tăm Stephane Courtois, một thành viên của đảng Cộng sản Pháp thức tỉnh và các sử gia Robert Conquest, Daniel Chirot, Adam Hochschild, Tina Rosenberg, Wallechinsky trong quyển Hắc thư về chủ nghĩa Cộng sản (Le livre noir du Communisme), xuất bản lần đầu tại Paris năm 1997 đưa ra những con số: - Từ năm 1917 đến 1953 có 25 triệu công dân Liên Bang Sô Viết bị giết. - Dưới tay Mao Trạch Đông 65 triệu người dân Hoa Lục đã biến mất. - Pol Pot đã biến Đô thị thành nông thôn với sinh mạng của 2 triệu ngườị - Việt nam dưới sự lãnh đạo anh minh của bác Hồ, một triệu người dân lành vô tội đã bị giết dưới hình thức thanh trừng, thủ tiêu, đấu tố. - Hằng triệu nạn nhân khác trên lục địa Phi châu, Đông Âu và Châu Mỹ La tinh. Những người trí thức thuộc thành phần giáo sư, sinh viên, nghệ sĩ chẳng lẽ nào không thấy sự khác biệt trời vực giũa cái bạo tàn của thể chế Cộng sản và chế đô Ngô triềụ Tôi là người sinh ra cùng thời với quý vị, thế hệ của những kẻ trên dưới 60, trải qua và chứng kiến nhiều biến động lịch sử, cũng là kẻ được thừa hưởng thể chế dân chủ giao thờị Tôi cũng như bạn có thể từng là nạn nhân của thời buổi nhập nhằng, tranh tối tranh sáng nàỵ Làng tôi Dưỡng Mong những năm cuối thập niên 1940 đầu thập niên 1950 nằm dưới vùng xôi đậụ Ban ngày có lúc Việt minh bày quân bố trận, có lúc Tây về ruồng bố, đốt nhà vô cớ. Đêm nào thôn xóm nghe xôn xao thì sáng ra ở đình chợ có một chiếc đầu lâu lăn lóc, ngay cây cau trong vườn nhà tôi ở đầu xóm Hoái là điểm tựa chặt đầu viên lý trưởng trong làng, khi ông ta chạy qua sân và bị đuổi bắt kịp. Sau hiệp định Geneve, miền Nam được dìu dắt bởi nhà l-ãnh tụ anh minh- Ngô Đình Điệm, chúng ta được học bài học dân chủ đầu tiên trong cuộc Trưng Cầu dân ý: Phiếu xanh bỏ giỏ, Phiếu đỏ bỏ thùng. Hẳn nhiên phiếu đỏ mang hinh họ Ngô còn phiếu xanh của Bảo Đạị Bài học đó không tốt đẹp gì nhưng vẫn cho người dân một ý niệm dân chủ phôi thaị Nền dân chủ mà con người đã đấu tranh ròng rã suốt gần 18 thế kỷ- kể từ Tây lịch kỷ nguyên- mãi đến năm 1789 mới được thành hình. So với đất nước ta, Tây phương có gân 200 năm để điều chỉnh, sưả đổi và đánh bóng nền dân chủ đó nhưng dù sao ta cũng nên tự hào đã may mắn nằm trong quỹ đạo chủ nghĩa tự do nàỵ Quý vị lạm dụng , đòi hỏi một sớm một chiều tất cả mọi đặc quyền của một nền dân chủ trưởng thành để từ đó làm bàn đạp xiễn dương, gieo rắc chủ nghĩa Cộng sản. Quý vị đem so sánh chính sách kỳ thị tôn giáo của Ngô Đình Diệm với chính sách miền Bắc thì hoặc là qú vị không biết gì hết hoặc quí vị chính là những con ngựa già của Chúa Trịnh, bị che hết hai bên mắt chỉ còn thấy được trước mặt thôi và trước mặt quý vị chỉ còn hinh ảnh bác Hồ. Miền Bắc đâu có tôn giáo để kỳ thị, đâu có quyền tự do nào để vi phạm, đâu còn chút nhân phẩm nào để lo bị chà đạp. Sau khi cách mạng lật đổ Ngô triều thành công, lợi dụng tinh thần trọng vọng khoa bảng của người Huế, quý vị đóng vai trò trí thức yêu nước, hướng dẫn quần chúng vào những cuộc tranh đấu quá khích chống lại chính phủ miền Nam. Nhưng tôi không trách bởi tự do bộc bày tư tưởng là đặc tính ưu việt của thể chế dân chủ. Điều làm tôi phiền buồn là, trong khi đào bới nhửng xấu xa của mìền Nam thì quí vị nhìn chế độ bao ngược vô nhân miền Bắc như một thiên đường. Chẳng lẽ quý vị không biết qua các hệ thống truyền thông thế giới nói về phong trào caỉ cách ruộng đất ở miền Bắc từ 1953-1956 do Trường Chinh Đặng Xuân Khu lãnh đạo dưới chỉ thị của họ Hồ đã đấu tố hành quyết 500,000 người và 500,000 người khác bị chết dân mòn trong các trại lao động cưỡng bách. Quí vị chẳng lẽ nào không mủi lòng trước cảnh máu đổ thịt rơi, gia đình tan nát. Điều mà ngay cả bác Hồ thân yêu của quý vị cũng phải chồn chân để cuối cùng ra lệnh hạ tầng công tác và buộc Trường Chinh phải thú nhận sai lầm trước nhân dân. Thực ra thì không phải bác nhân đạo, nếu vậy chẳng hoá ra bác là người, bác chỉ áp dụng đúng sách lược -Vắt Chanh Bỏ Vỏ- của Machiavelli trong tập binh thư bá đạo The Princẹ Quý vị chẳng lẽ nào không nghe nói đến phong trào Nhân Văn và Giai Phẩm giữa thập niên 1950 lúc mà Trần Dần đã báo động cho chúng ta hay -Tôi đi giữa phố Sinh từ, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ - Miền Bắc là cả một biển máu đàọ Một bầu trời ảm đạm thê lương, nơi mọi quyền làm người bị khước từ hoặc nằm trong tay những thành viên đảng Cộng sản. Song song với những phong trào đấu tố, thanh trừng, hủy diệt tôn giáo, cấm cản mọi đức tin ở Việt Nam, các quốc gia nằm dưới ách thống trị của Cộng sản đều áp dụng cùng sách lược nhằm bần cùng hoá nhân dân, khủng bố, thanh trừng và ra tay triệt hạ những phần tử khác tư tưởng không nương taỵ Ở Hoa Lục phong trào -Bách Hoa Khai Phóng, Bách Gia Tranh Minh- (Trăm hoa đua nở, Trăm nhà đua tiếng) năm 1956 đã triệt hạ hằng triệu người có tư tưởng hủ hoá và chống lại đảng. Phong trào -Bước Nhảy vọt Vĩ Đại- từ 1958-1962 đã giết hơn 30,000,000 ngườị Phần vì lao động cưỡng bách quá độ, phần vì thiếu thực phẩm chết đói và phần bị thanh trừng đoạ đầỵ Năm 1966, -Cuộc Cách Mạng Văn Hoá Vô sản Vĩ Đại- do Giang Thanh cầm đầu với bọn Hồng Vệ Binh đã triệt hạ mọi phần tử tri thức và giết chết 11,000,000 ngườị Ở Liên sô những Gulag ở miền Tây Bá Lợi Á là những trại tù khổng lồ dùng để ém miệng mọi thành phần không đứng cùng giới tuyến với người cộng sản. Hằng chục triệu người đã chết dần mòn tại đây đó là chưa kể dến 6 triệu nguời Ukrain bị chết đói vì thực phẩm bị tước đoạt để dành nuôi người anh em Cộng sản dưới trướng Stalin . Quý vị, những nhà trí thức số một của kinh thành Huế, chẳng lẽ nào quý vị không nhận ra bản chất thâm độc của người cộng sản trước những sự thật quá hiễn nhiên và được phơi bày mỗi ngày trên các phương tiện truyền thông quốc tế. Việc làm này của quý vị chỉ có thể hiểu được nếu quý vị là những cán bộ cốt cán nằm vùng ngoài ra không thể nào mường tượng nổị Quý vị thuộc thành phần ưu đãi trong xã hội miền Nam, cha ông quý vị là những người chịu ơn mưa móc của chế độ, quý vị được nuôi ăn học trong những điều kiện dễ dãị Tuổi trẻ hiếu động, thích tính chuyện đội đá vá trời, thế thiên hành đạo là một điều không có gì đáng trách, có trách chăng là cái ngu xuẩn không nhận ra cái thiện cái ác, cái đúng cái saị Cái phải cái trái, cái trắng cái đen, cái tròn cái méo, cái đạo đức cái vô luân. Nếu đường biên làm thành bởi thịt xương, máu huyết của 100 triệu sinh linh không đủ cho quý vị thấy rõ sự khác biệt giữa hai thể chế Cộng sản và Tự do thì có lẽ quý vị thuộc vào một loại sinh vật nào khác. Những quấy phá liên tục trong những năm sau cách mạng 1963 dẫn đến mùa xuân Mậu thân hẳn nhiên đều nằm trong sách lược Hà Nộị Quý vị tiếp tay thi hành hoặc vì ngu xuẩn hoặc vì lợi lộc. Những vụ xách động để tạo hố ngăn cách giữa Huế nói riêng và các tỉnh miền Trung nói chung với chính quyền Saigòn đã là lợi khí cho Cộng sản tuyên truyền. Trong lúc đại đa số dân Huế vì niềm khao khát tự do, vì ý thức sâu sắc về dân chủ, họ tham gia với kỳ vọng nói lên tiếng nói của minh để làm đẹp hơn nền dân chủ thì quý vị nhân đó chứng tỏ cho chính quyền miền Bắc thấy rằng tình trạng đã chín mùi, chỉ cần một cuộc tổng tấn công là toàn dân Huế sẽ vùng lên tham giạ Quý vị đã quên một bài học lịch sử: Người Huế kiêu lắm, họ không dễ dàng chấp nhận một thứ học thuật tà ma như Cộng sản. Quý vị nhìn thử lại xem có bao nhiêu người Huế ở trong hàng ngủ lảnh đạo chủ chốt của đảng Cộng sản Việt nam? Sau khi họ Hồ (người Nghệ An) mất năm 1969, trong Tam đầu chế Lê Duẩn, Trường Chinh và Phạm Văn Đồng thì Lê Duẩn(Tổng Bí Thư) là người Quảng Trị, Trường Chinh (Chủ Tịch Quốc Hội) người Nam Định còn Phạm Văn Đồng (Thủ Tướng chính phủ) là người Quảng Ngảị Từ những ngày đầu dân Huế đã nhận rõ khuôn mặt Cộng sản, không mấy người tham gia cho nên trong Bộ Chính Trị -cơ quan lãnh đạo tối cao của chính phủ Hà Nội- không có một ủy viên thường trực hay dự khuyết nào gốc Huế. Trong thời kỳ phôi thai của đảng Cộng sản Việt Nam, Huế, có 2 người đó là Nguyễn Kim Thành và Lê Đức Anh cùng tuổi (sinh năm 1920). Nguyễn Kim Thanh được mọi người biết đến qua tên Tố Hữu, là nhà thơ cách mạng vĩ đại nhất miền Bắc nhờ tài làm thơ ngợi ca bác và Stalin: Stalin ơi, Stalin ơi! Thương cha, thương mẹ,ỉ thương chồng Thương thời thương một, thương ông thương mườị. Cũng bởi cái tính ninh bợ lố lăng này mà khi Stalin bị hạ bệ, Tố Hữu cũng bị thất sủng. Mãi về sau, 1976 mới trở thành Ủy Viên dự khuyết Bộ Chính Trị và 4 năm sau thành ủy Viên thường trực, năm giữ chúc vụ Phó Thủ Tướng Đặc trách Văn Hoá. Còn Lê Đức Anh, ở thời điểm 1968 chỉ là một sĩ quan không được biết đến. Mãi đến năm 1975, sau khi tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam cùng với Tướng Văn Tiến Dũng (tư lệnh), Phạm Hùng (ủy viên chính trị) và Tướng Trần văn Trà thì ngôi sao Lê Đức Anh mới bắt đầu nổị Đúng ra thành phần tập kết gốc Huế còn có hai vị y sĩ đào tạo ở Pháp rất giỏi đó là Bác sĩ Tôn Thất Tùng và Bác sĩ Hồ Đắc Dị Bác sĩ Tùng (1912-1982), nổi tiếng về giải phẩu gan, đã có thời làm phó Thủ Tướng đặc trách Y tế Chính phủ Hà Nộị Bác sĩ Hồ Đác Di (1900-1984) từng là Khoa Trưởng Đại học Y Khoa Hà Nộị Cả hai vị này thuộc thành phần trí thức, du học nước ngoài, theo tiếng gọi của đất nước trong thời kỳ kháng Pháp nên đã từ bỏ vinh hoa trở về. Thật ra theo lời của Bác sĩ Hồ Đắc Di thì ông chẳng có khái niệm gì về cuộc cách mạng ở Việt Nam mà chỉ mê hình ảnh hào hùng, can đảm của bác Hồ nên đi theọ Họ cũng như trường hợp của Thạc sĩ triết học Trần Đức Thảo và Tiến sĩ Luật khoa Nguyễn Mạnh Tường ở Bắc nhưng may mắn hơn đã được trọng dụng tuy nhiên cũng chẳng có hậu thuẩn gì về chính trị hoặc quân sư.. Nhóm đầu não từ Nam bộ thì có Tôn Đức Thắng (Long Xuyên), Trần văn Trà (Saigon), Nguyễn Hữu Thọ (Chơ Lớn), Huỳnh Tấn Phát (Mỹ Tho), Phạm Hưng (Vĩnh Long) và Phan Văn Khải (Củ Chi). Nhóm miền Trung thi có Lê Duẩn, Võ Chí Công (Quảng Nam) và Phạm Văn Đồng. Còn lại Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Duy Trinh, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Linh, Văn Tiến Dũng đều là người miền Bắc. Sự kiện người Huế không đóng góp gì tích cực cho thành quả cách mạng hẳn nhiên là một bất lợi và Huế bị xem là mảnh đất của thành phần phản đô.ng. Cũng vì lẽ này mà khi biến cố Mậu thân xảy ra đã không có một thế lực lớn naò ở trung ương làm cho đàn em nể mặt mà nương nhẹ bàn tay giết chóc. Nguyên nhân thứ hai là những tên cán bộ nằm vùng, những phần tử hoạt đầu như quý vi.. Cuốn sổ đen ghi tên thành phần phản động Mỹ ngụy do ai thiết lập mà có. Làm sao bọn người từ bắc phương mới vào lại biết tung tích từng người ở đâu mà ruồng bắt, xử tử ngay từ ngày đầu tiên. Ai chủ mưu giết 3 vị Bác sĩ khả kính người Đức, BS Krainick và phu nhân, BS Discher và BS Alterkoster. Các vị Bác sĩ này là các vị thầy của quý vị, họ đã sống đúng tinh thần nhân ái của người y sĩ giàu lương tâm. Ngoài việc dạy học họ còn làm việc ở bệnh viện Huế, tân trang bệnh viện cuì và xây thêm một bệnh viện tâm thần. Vợ chồng Bác sĩ Krainick còn lập phòng chẩn bệnh miễn phí 30 giường ở Đa Nghi, một vùng nằm sâu trong khu vực Cộng sản kiểm soát để chữa bệnh luôn cho người Cộng sản và hưởng thù lao bằng một viên đạn bắn sát từ sau gáỵ Quý vị trả lời làm sao để biện bạch cho tội ác dã man nàỷ Ai là người lại nở tay giết chết những kẻ một đời chỉ biết phụng sự nhân loại một cách vô vị lợi, 8 năm trời dạy trường y, xuôi ngược xin tiền nuôi bệnh viện, xây bệnh xá để cuối cùng bị chết thảm khốc. Các cán bộ chính trị, trong đó có Trần Độ lúc đó là phó Chính Ũy chiến trường Trị Thiên đã sững sờ vì những báo cáo quá lạc quan mà quý vị đã dâng lên cho ho.. Huế chưa chín mùi để theo gót cách ma.ng. Huế không phải là hình ảnh những buổi biểu tình, đập phá, xuống đường náo loạn do quý vị đã khéo dàn dựng và xách đô.ng. Người Huế chống Thiệu Kỳ nhưng không chống cơ chế Dân chủ, Tự do vì họ hiểu rằng cái Tự do và Dân chủ họ đang thừa hưởng dù có bị hạn chế cũng còn hơn xa hẳn thể chế Cộng sản. Người Huế chống Thiệu Kỳ nhưng không bao giờ sẵn sàng đi theo các lãnh tụ miền Bắc, vì hơn ai hết người Huế biết rằng dù Thiệu, dù Kỳ hay ai nữa ở miền Nam thì tư cách vẫn còn vượt hơn các lãnh tụ bên kiạ Chế độ miền Bắc có một thứ tự do tuyệt đối mà miền Nam không có được: Đó là tự do mạt sát quân thù, tự do ngợi ca lãnh tụ, tự do thanh toán những kẻ khác ý thức hê.. Có lẽ quý vị là những kẻ bảo hoàng hơn vua đã xữ dụng quyền tự do ấy một cách rất tích cực. Thật ra quý vị có ngợi ca bác cũng bằng thừa, vì tất cả ngôn từ thẩm mỹ, tuyệt đẹp nhất đều đã được bác xử dụng để tự ngợi ca mình. Chẳng lẽ nào quý vị không biết tất cả huyền thoại anh hùng về bác đều do chính bác gọt dũa, bác có ngoài 75 bút hiệụ William J. Duiker trong quyển -HO CHI MINH- viết: Quyển sách được nhiều người biết đến nhất trong số những sách nói về cuộc đời bác được xuất bản dưới tựa đề việt ngữ: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, tác giả tưởng tượng Trần Dân Tiến, là một trong rất nhiều (ngoài 75) bút hiệu của Hồ Chí Minh.( The most widely known of his autobiographies was published in Vietnamese under the title Nhung mau chuyen ve doi hoat dong cua Ho Chu tich, authored by the fictitious Tran Dan Tien, one of Ho Chi Minh's many (exceed 75) pseudonyms, page 582) Cái thái độ không hợp tác, không yểm trợ, không về hùa của đại đa số người Huế đã nói lên đầy đủ sự khinh bỉ của ho.. Người Cộng sản hẳn nhiên uất hận lắm, dân chúng xứ này vẫn phản động như ngày nàọ Và chính thái độ xấc xược này hay là sự thất bại về mặt chính trị cộng thêm sự thất bại về mặt quân sự mà họ đổ dồn mọi giận dữ lên đầu người dân lành vô tội: Trên đường rút quân họ đã ra tay tàn sát trọn hết tù nhân và tàn sát một cách man rợ như để giải tỏa căm hờn. NHÌN LẠI BẰNG HỮU Bạn thân, hôm nói chuyện điện thoại với bạn, nhân nhắc đến T., mình nói hắn đi theo Việt cộng hồi Tết Mậu thân; bạn cười trả lời, hồi đó thằng nào mà chẳng theọ Nghe bạn nói làm mình khựng lạị Hơn ai hết, bạn và mình có một thời như hình với bóng. Cũng như mình, bạn là một cậu học sinh con nhà nghèo và cô thế nhưng bạn đã thành công nhờ bạn thông minh và chuyên cần. Điều này làm mình suy nghĩ và muốn nói với bạn từ lâu, cái chế độ thối nát miền Nam đầy tham nhũng, hối lộ, bè phái, bất công như nhiều người kết án, trong đó có bạn lại dành cho bạn một cơ hội tiến thân. Đỗ Tú tài hai ban B, bạn đã dễ dàng đỗ vào Sư phạm Anh Văn, rồi chỉ một thời gian ngắn sau khi ra trường (hình như bạn có dạy ở Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị một năm?) bạn lại được đổi về dạy ở Trung học Kiểu mẫu và sau đó được gửi du học Mỹ. Có thế lực nào đàng sau bạn không? Dù bạn nói có minh cũng chắc chắn không. Cùng năm, còn nhiều đứa nghèo rớt mồng tơi như bọn mình đã chen chân được vào những trường Canh Nông, Y, Duợc, Phú Thọ, Quốc gia Hành Chánh, những nơi mà mọi ngưởi đều nghĩ nếu không có tiền thì phải con ông cháu cha mới vào lọt. Tất cả những đứa giỏi đều đỗ vào trường chuyên môn, học dốt mà chạy chọt vào những trường chuyên môn đó liệu có theo nổi không? Cùng niên khóa mình, trường Quốc Học có ít nhất 10 đứa du học, bạn có thấy đứa nào học dốt mà được xuất dương không. Như vậy cái xã hội mà bạn cho là bất công hóa ra khá công bằng. Nếu bạn đồng ý với mình riêng trong lãnh vực giáo dục có sự công bằng thì mình có thể loại bỏ thêm 1 yếu tố nữa: Tham nhũng. Và đã không tham nhũng thì hối lộ cho aỉ Bây giờ thử lướt nhìn ra khỏi lãnh vực giáo dục một chút nhé. Bạn chỉ có 2 anh em, em bạn tình nguyện đi Sĩ quan Thủ Đức, bạn tự động được hưởng qui chế miễn dịch ở nhà phụng dưỡng mẹ chạ Bạn đâu phải tốn đồng nào, phải không? Cái đạo luật miễn dịch vì gia cảnh này thật nhân đạo, hẳn nhiên có trường hợp nó bị lạm dụng để bảo vệ kẻ giàu nhưng chắc chắn người nghèo, cô thế như bạn vẫn được ưu tiên. Miền Nam đào tạo cán bộ tương lai, trước nhất dựa vào khả năng chứ không dựa vào thành tích cách ma.ng. Thời điểm -hồi đó- mà bạn chê trách, miền Nam chúng ta không bị học tập cải tạo tư tưỏng mỗi tối, không bị lao động cưỡng bách, xóm giềng không rình rập tố cáo lẫn nhau, con cái không lôi cha mẹ ra đấu trương luận tộị Mỗi giờ không phải nghe máy phóng thanh tuyên truyền bên taị Mọi sự di chuyển bạn không bị hạn chế, kiểm soát. Bạn được hưởng nhiều quyền tự do ngay cả quyền chửi rủa Thiệu Kỳ, tự do chọn tôn giáo mình thích, Phật, Khổng, Lão, Chúa, Muhammad, Juda , thậm chí bạn còn có quyền mang bàn thờ xuống đường chận đứng quyền tự do đi lại của người khác. Vậy thì -hồi đó- mà vào bưng biền thì chỉ có thể giải thích: - Thứ nhất: Tuổi trẻ nhẹ dạ, bị cái hào nhoáng của ngôn ngữ huyễn hoặc cách mạng thúc dục ra đị - Thứ hai: -Hồi đó- khi cộng quân vào thành trong dịp Tết Mậu Thân, những thành phần nằm vùng, hoạt đầu, trộm cắp lưu manh lộ diện tiếp tay với kẻ thắng trận, giết hại bà con, láng giềng và bè bạn. Khi cộng quân rút lui thành phần này không còn chọn lựa nào khác hơn là đi làm -cách mạng-. Nhóm trí thức hoạt đầu tráo trở ở Huế hẳn bạn biết rõ là ai, mình không muốn chỉ danh vì họ đã bị nọc độc cộng sản tiêm nhiễm quá sâu xa khó mà hóa giảị Một vị giáo sư, sau tháng 4/1975 nói với một người bạn của bọn mình, -anh biết không, nhờ ơn cách mạng mà vùng Cà Mâu bây giờ trù phú vô cùng, ăng-ten mọc lên ngợp trời-. A! cách mạng có đôi đủa thần, một sớm một chiều biến miền Nam thành những vùng phồn thịnh, trù phú. Ngôn ngữ ngợi ca này con người bình thường hẳn nhiên không có được. Mình bây giờ đã ngoài 60, bạn cũng vậỵ Ở cái thời điểm chúng ta nên bỏ hết chuyện đời ngoài tai để tìm về vùng tĩnh mịch tâm hồn. Có lẽ đây là lần cuối cùng mình đối chất với bạn và nhân tiện xin xác nhận với bạn một lần nữa, bạn có thể không đồng ý với mình trên những quan điểm về nghệ thuật vì cái đó tùy thuộc vào nhãn quan, thị hiếu và sở thích từng mỗi cá nhân, đường biên biến dạng theo trạng thái tâm hồn không có gì phân ranh rõ rệt. Nhưng giữa cộng sản và tự do một đường biên quá đậm nét, trãi dài gần suốt thế kỷ 20, từ khi bắt dầu cuộc cách mạng Bolshevik và những vụ thanh toán tranh chấp quyền hành khởi đầụ. Đường biên đó được thành hình với 100 triệu thây người uẩn tử . Đường biên ấy được vẽ với máu đào tuôn chảy suốt chiều dài cai trị của Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồâ Chí Minh, Kim Nhật Thành và Pol Pot. Đường biên ấy là than khóc tỉ tê, là hờn căm ngút ngàn, là kêu thương khổ ảị Đường biên ấy quá hiển hiện, như trắng vớí đen. Như đêm với ngàỵ Như sáng vớí tốị Như nưóc với lửạ Như cánh kiến vớiụ con voị Như số không vớí vô cực. Như hố thẳm với trời xanh. Như mưa nguồn vớiụ nắng ha.. Như suối rạch với đại dương. Nếu bạn không thấy là tại bạn không muốn thấy, hay bạn cố tình làm ngơ, hay bạn tự dối lừa minh đấy thôị Năm Mậu Thân bạn ở trong khu vực Cộng sản chiếm đóng, Bãi Dâụ Khu vực này được xem là sôi bỏng nhất, bừng bừng khí thế cách mạng hẳn bạn có thấy được vài hình ảnh -hồi đó-. Hy vọng bạn sẽ kể cho nghe một ngày gần. Nhân tiện cũng xin khẳng định lại với bạn một điều: Miền Nam thua không phải vì thối nát, tham nhũng, bất lực, bè phái mà vì người miền Nam nhìn đối thủ mình với trái tim đồng loạị NHÌN LẠI HUẾ THÂN YÊU Năm 1995 trở về, sau 20 năm biệt xứ hay 23 năm kể từ lần sau cùng tôi ra Huế. Nói như nhà văn Trần Kiêm Đoàn thì -Không có năm 1975, tôi sẽ không bao giờ về Huế. Dù tôi có vào tận Sài Gòn thì cũng mới chỉ la Ra Huế. Dù có ra Hà Nội thì rồi cũng Vô Huế. Có về làng vớí mẹ thì cũng sẽ Qua Huế. Và, có xuống tận biển Thuận An thì cũng sẽ Lên Huế mà thôị Còn người khách lạ viễn phương thì cũng chỉ Tới Huế là cùng. Chuyện Khảo Về Huế, trang 20- . Người khách lạ viễn phương không trở về mà chỉ tới vì chỉ là tạm điểm dừng trên hành trình phiêu lãng. Mình có ra đi mà không Về được bởi ý thức vong suỵ Đó chính là điều làm mình đau đớn lắm phải không anh. Nhưng không, anh còn Về được, hẳn là một phúc hạnh không cùng. Còn tôi, tôi về đến quê hương, rút ngắn không gian, rút ngắn quốc lộ 1 tiêu điều ra tới Huế mà không Về được mảnh đất thân yêu tích lũy trong tâm hồn. Có cái gì đổi thay ngày ấỵ Sông vẫn sông xưa, nước vẫn nước biếc. Nuí ngự vẫn không câỵ Chim ngàn vẫn đậu đất. Lê Lợi gió ngàn vẫn lồng lô.ng. Cổ thành 4 hướng vẫn thâm cung. Những con lộ hàng cây vẫn giao bóng. Những buổi chiều mây xuống vẫn mênh mang. Bến cồn, chợ Xép; Nam Pho, chợ Dinh; Bao Vinh, Bến Ngự; Chợ Cống, Thuận An; Đông Ba, Gia Hộị Tất cả vẫn còn đó vậy mà mình mất hết dấu vết xa xưạ Đúng ra thì không phải dấu xa xưa mất vết mà thế sự thăng trầm che lấp lối về. Cáí -thành quả chiến thắng mùa xuân- vẫn còn âm hưởng. Tiếng hờn căm nghe vất vưởng đâu đâỵ Anh có về đất xưa nghe hờn lên tiếng hát. Đất tội tình chi đất ngập máu dân lành. Đất tội tình chi đất chan hòa nước mắt. Có cái gì đổi thay ghê gớm lắm. Huế không còn như ngày trước. Trong cái tĩnh mịch có cái gì u uất. Trong cái lặng lờ có cái gì sắp nổ tung. Huế vẫn yêu kiều nhưng mất dáng thơ ngâỵ Áo trắng vẫn vờn bay nhưng không còn chở chuyên tiếng cười ròn rã. Tóc thề vẫn buông nhưng bờ vai trĩu nă.ng. Bây giờ mọi thứ trĩu nặng với cảnh nghèo da diết. Hơn 10,000 đồng bào Huế bỏ ra đi tha phương cầu thực vì giải phóng về cướp hết áo cơm. Khắp mọi nơi trong thành phố Saigon, từ các chợ, dến các công viên, nơi nào cũng có người Huế, họ bán vé số, bán những đồ chơi rẻ tiền. Trong vườn bách thảo, sở thú Saigon, một buổi chiều năm 1995 tôi đã gặp ít nhất 20 người Huế bán hàng rong. Đúng ra thì hầu hết con buôn đắp đổi qua ngày hôm đó đều là người Huế. Một buổi chiều trên Thuận An, tôi thấy ngoài 30 em bé tuổi dưới 13 đi mời bán những chiếc bánh, vài miếng khô mực và những thứ linh tinh khác. Tôi vốn sinh ra từ vùng quê, nghèo xơ xác nhưng chưa bao giờ mường tượng ra được cái cảnh các em dành giật, chào mời khách trên bãi biển Thuận An hôm ấỵ Tôi ngẩn ngơ, đi giữa đất trời quê hương mà hồn thờ phách thẩn. Tự nhiên mình lạc mất lối về. Bảy năm sau vụ thảm sát Mậu Thân, thế hệ con mất cha, vợ mất chồng, anh mất em, chú mất cháu vẫn chưa đứng vững đôi chân thì lại bị cuốn vào cơn trầm luân khác. Sau năm 75, thành phần ngụy quân, ngụy quyền không có công ăn việc làm trở thành một tân giai cấp xác xơ, tương phản sâu xa giai cấp lãnh đạo một sớm một chiều nhờ đũa thần cách mạng mà nhà cửa xe cộ xênh xang. Tôi không chịu được cảnh đó. Đất Huế thôi đừng gần để mà phiền, thôi đành xa để mà nhớ. Tôi giữ khoảng cách để nhớ. Từ năm 1975, khi cơn gió bạo tàn cuốn tôi ra khỏi quê nhà, tôi vẫn ấp ủ một hình ảnh ngọt ngào Huế thân yêụ Tôi phấn đấu với những tháng ngày nghiệt ngã bằng một dòng sông êm chảy qua tâm hồn. Dòng sông Hương dịu xoa tôi những ngày tháng muộn phiền lê thê, tưới hồn tôi tươi mát những tháng ngày giông bão, miệt mài, mãi miết luân lưu đem chất phù sa vun bồi và nuôi dưỡng linh hồn tôi những ngày tháng xa cách. Tôi biết mỗi ngày tôi một yêu Huế nồng nàn và tha thiết hơn bởi dòng sông đó ngoài 30 năm nay cũng là dòng sông yêu dấu Thư Hương. Lê Tất Đạt Tháng12/03 ÂN ĐỀN NGHĨA TRẢ Cô Tố Lan, chủ bút tờ báo -Hương Xưa- mỗi lần gặp tôi là đòi nợ văn chương. Năm lần ba bận tôi từ chối vì tất cả vốn liếng văn chương chữ nghĩa tôi đã xử dụng hết láng cho một người trong 6 năm cách lỵ Lần gặp cô cuối cùng, cô đổi chiến thuật, không nhờ vả nữa mà nói như phân công, anh viết cho -Hương Xưa- một bài về biến cố Tết Mậu Thân Huế, vì chỉ có anh mới đủ thẩm quyền viết. Cô nói như đinh đóng cột làm tôi thấy -oai- ghê, đến lúc về nhà bình tĩnh mới nhớ ra, chiều mồng một tết Mậu Thân tôi khăn gói lên trình diện Quân Trấn Sài Gòn. Năm đó đang học ở Đà Lạt vì không đủ tiền vé may bay về Huế nên đành ăn tết Sài Gòn. Vậy là tôi đâu có thẩm quyền gì nói về biến cố đó nhưng cứ từ chối mãi nghĩ cũng kỳ, phân trần cho cô ấy thông cảm đôi khi còn khó hơn. Tôi định năn nỉ phu nhân mượn lời từ chối dùm nhưng biết cũng vất vả lắm nên thôi đành viết. Tôi không phải là chứng nhân nên chỉ đem cái tâm tình mà kể lể, đem cái bâng khuâng mình để tỏ bày, đem cái ray rứt mình để trang trảị Những chi tiết về hành quân tôi dựa vào tài liệu huấn luyện Lục Quân Hoa Kỳ của Trung Tướng hồi hưu Willard Pearson. Phần nhân danh, địa danh và vị trí của các cơ quan trọng yếu Huế trước năm 1975 do bạn Nguyễn Văn Bình giúp gợi nhớ. ----------------------------------------------------------------------- Tài liệu lấy từ : THE WAR IN THE NORTHEN PROVINCES 1966-1968 của Trung Tướng hồi hưu Willard PEARSON do Department of the Army- Washinton DC, xuất bản năm 1975. Trích từ The Cat from Hue của John Lawrence, Published by PublicAffairs, New York, 2002- sách dày 845 trang. Phân dầu nói về chiến trận Mậu Thân, phần sau nói về chiến tranh Việt nam. Theo Alexander Yakovlev, author of the excellent new book on Soviet tyranny and mass murder entitled "A Century of Violence in Soviet Russia," Theo các Sử gia: Robert Conquest, Daniel Chirot, Adam Hochschild, Tina Rosenberg, Wallechinsky Truyện của Phùng Quán, một nhà văn trong phong trào Nhân Văn và Giai Phẩm. Truyên này đăng trong tác phẩm http://kiengiangthuquan.tripod.com/36namV.html
_____________________________
..........Sáu Tỷ ...
|
|
|
|
Tiêu Diệt - 13.8.2007 9:28:56
|
|
|
Quang Khôi
Bài viết đã đăng: 618
Gia nhập ngày: 14.12.2006
Đến từ: Hà Nội Sài Gòn
Hiện trạng: offline
|
THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN Ở HUẾ Lê Tất Đạt
_____________________________
..........Sáu Tỷ ...
|
|
|
|
Tiêu Diệt - 13.8.2007 9:33:36
|
|
|
Quang Khôi
Bài viết đã đăng: 618
Gia nhập ngày: 14.12.2006
Đến từ: Hà Nội Sài Gòn
Hiện trạng: offline
|
Du Lịch: Hiroshima: 62 Năm Nhìn Lại [07/08/2007 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review] Lê Minh 07-08-2007 Hình (LM): Đài tưởng niệm nạn nhân bom nguyên tử tại Hiroshima, Nhật Bản. Phía sau là tòa nhà duy nhât còn sót lại sau sự tàn phá khủng khiếp của trái bom. LGT: Lê Minh, cây viết quen thuộc của nhật báo người Việt trong mục Đất Nước và Con Người, nay đổi thành “Thế Giới, Đất Nước và Con Người” của những năm 2005 và 2006. Ông là một trong những người thường viết về du lịch, thu thập hình ảnh, tin tức con người và những giải đất khác nhau. Ông phối hợp nét đẹp của nhiếp ảnh nghệ thuật và ký sự đăng tải trên hệ thống truyền thông của cộng đồng Việt. Lê Minh trở lại với bạn đọc lần này qua hình ảnh và cảm nhận về nước Nhật. Mời bạn đọc thưởng thức phong thái đặc biệt của Lê Minh qua bài thời sự viết về nước Nhật. Bạn đọc muốn tìm lại những bài viết, hình ảnh của Lê Minh và nhóm thân hữu, xin vào trang nhà www.leminh.us. Mọi góp ý xin e-mail: leminh.us@gmail.com oo0oo Chúng tôi trở lại thăm nước Nhật lần thứ hai nhân chuyến viếng thăm thiện chí của Dân Biểu tiểu bang Trần Thái Văn đáp lời mời đặc biệt của Bộ Ngoại Giao Nhật vào đầu mùa hoa anh đào vừa qua. Chuyến đi kéo dài 10 ngày, theo lịch trình tự chọn. Ông Văn đã chọn hành trình đi qua 3 thành phố nổi tiếng, bắt đầu từ Tokyo, đến Osaka và điểm cuối cùng là Hisroshima. Riêng cá nhân chúng tôi dùng thời giờ riêng để ghé thăm thêm cố đô Kyoto. Nói về nước Nhật, khởi đầu từ Hiroshima vì vào đúng thời điểm này 62 năm về trước, 2 trái bom nguyên tử đầu tiên do đồng minh sáng chế đã được “thử” trên đất Nhật. Vụ nổ bom đã chấm dứt Thế Chiến Thứ Hai giữa đồng minh và phe trục gồm Nhật bản, Ðức Quốc và Ý Ðại Lợi. Chuyến tàu tốc hành từ thành phố Osaka đưa chúng tôi đến Hiroshima sau gần 4 giờ. Phương tiện di chuyển bằng hệ thống tàu điện của Nhật có thể dẫn đầu thế giới, giờ giấc di chuyển đúng hẹn, nhanh chóng, phương cách phục vụ khách hàng hệ thống xe điện bên Âu Châu khó có thể so sánh. Ðến Hiroshima vào đúng ngọ, chúng tôi yêu cầu người hướng dẫn Nhật cho ăn trưa tại một tiệm chỉ dành riêng cho người địa phương. Bà đề nghị chúng tôi đến một quán chuyên bán mì Nhật bình dân. Tiệm tuy nhỏ không bảng hiệu nằm trong một khu khố bình thường, người đến ăn trưa nối đuôi nhau đợi đến phiên mình. Cả hai chúng tôi đều không biết tiếng Nhật, đành phải đánh bài “nhà quê”, quan sát một lúc các món ăn từ bếp đưa ra cho những khách ngồi chung quanh. Cuối cùng, chúng tôi nhờ người hướng dẫn viên đặt cho 2 bát mì vịt quay. So với bữa ăn trưa tại Mỹ, số lượng chỉ bằng 1/3. Cách ăn uống của Nhật không biết có theo quan niệm “ăn để sống” hay không, nhưng quả thật phần ăn trưa của Nhật chỉ vừa “ấm bụng”. Tiệm thật sách sẽ, đông người, không tiếng cười, nói ồn ào. Tiếng động duy nhất chỉ là tiếng hút những sợi mì vào miệng một cách sảng khoái. Ðây là cách ăn mì đặt biệt của 2 dân tộc Ðại Hàn và Nhật, một thứ văn hóa đặc thù khác hẳn với dân tộc Việt. Người địa phương đến quán chỉ để ăn, họ ăn nóng, gọn ghẽ và chỉ một thoáng xong bữa ăn trưa, đứng dậy nhường chỗ cho người khác. Trả 75 Mỹ kim cho bữa ăn trưa chỉ non dạ, nhìn nhau chúng tôi học thêm được một kinh nghiệm về đời sống đắt đỏ ở Nhật. Lợi dụng dịp này, tôi quay qua nói chuyện với người người hướng dẫn, tìm hiểu thêm về đời sống của người Nhật. So sánh với Mỹ, lương bổng của một công chức, kỹ sư hay những người đi làm hãng xưởng Nhật không mấy cao hơn. Do nếp sống đắt đỏ, họ thu vén, chung sống với nhau trong một nơi chốn nhỏ, ban ngày làm nơi sinh hoạt, ban đêm, trải chiếu ra để ngủ. Phần lớn những người độc thân còn sống với gia đình, họ không có xe, hệ thống di chuyển công cộng là phương tiện chính của đại đa số người Nhật. Tuy vậy, đường sá lúc nào cũng ngập những xe. Chúng tôi đã sử dụng hệ thống xe điện ngầm ở Tokyo, Kyoto. Sau vài lần làm quen, chúng tôi cảm thấy thấy tự tin, tiện nghi, thích dùng phương tiện giao thông công cộng hơn là lấy taxi để di chuyển quanh thành phố. Như người Nhật, xe điện luôn đến đúng giờ, đường hầm an toàn, sạch sẽ, không có kẻ ăn xin hay người vô gia cư. Hệ thống thoát hơi và máy lạnh tối tân khiến cho việc chờ đợi, nhất là vào Hè thú vị hơn khi đứng trong đường hầm chờ chuyến đi. Chúng tôi trực chỉ đến địa điểm 62 năm về trước, nơi trái bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới được thử nghiệm. Thay vì biến nơi này thành nơi chốn nuôi dưỡng hận thù chiến tranh của kẻ thua trận, người Nhật đã chuyển hóa sự thất bại thành cao trào hòa bình, đánh động lương tri thế giới về hiểm họa chiến tranh nguyên tử với khẩu hiệu “No more Hiroshima, Nagasaki”. Họ đã đặt tên cho khu vực này là Công Viên Hòa Bình Quốc Tế. Công viên được xây cất trên một khoảng đất trống vài chục mẫu. Du khách đến thăm địa điểm, đầu tiên sẽ vào viện bảo tàng di tích lịch sử về bom nguyên tử và những hậu quả thảm khốc của nó. Tòa nhà 2 tầng. Tầng dưới, người ta thiết kế lại bản đồ địa điểm Hiroshima trước thời gian nhận quả bom nguyên tử để so sánh với một mô hình khác sau khi quả bom được thả xuống. Một không khí nặng trĩu trong lòng du khách khi nhìn quang cảnh một khu vực bị bình địa, trơ trọi chỉ còn duy nhất một tòa nhà xây cất kiên cố với 4 bức tường và chiếc mái vòm xơ xác. Ðứng trước quang cảnh tàn phá của bom nguyên tử được dựng lại, du khách có thể tự cảm thấy chán ghét chiến tranh, ghê sợ sự tàn phá của bom nguyên tử, thương xót cho nạn nhân và nước Nhật, giúp chúng tôi hiểu được tâm trạng của nhà vật lý học Robert Oppenheimer. Sau khi được được tường trình kết quả của quả bom dội xuống Hiroshima, Giáo Sư Oppenheiner đã từ chức giám đốc Trung Tâm Thí Nghiêm Nguyên Tử Los Alamos vào Tháng Mười năm 1945. Trong buổi giã từ, ông đã thẳng thắn nói với Tổng Thống Truman: “Thưa tổng thống, tay tôi nhuốm máu(nhân dân Nhật),” như nỗi ân hận việc ông đã can dự vào cuộc tàn phá, thảm sát hàng trăm ngàn người vô tội tại thành phố Hiroshima. Bước lên tầng hai, nơi trưng bày những hình ảnh và di vật còn sót lại sau biến cố. Hình ảnh những nạn nhân tập thể bị cháy sém, cảnh con người quằn quại lê lết trên cảnh hoang tàn như con thú thương tích trầm trọng khắp thân thể . Hình những vật dụng cá nhân như chiếc đồng hồ quả lắc, chiếc kính lão của một nạn nhân vô danh bị chảy thành một cục kim loại vô dụng. Nhìn chiếc xe đạp 3 bánh của trẻ nhỏ méo mó đặt bên cạnh chiếc nón sắt của người chiến binh Nhật, cho người ta liên tưởng đến sự tàn khốc chết chóc của bom nguyên tử không chừa một ai, dù lính chiến hay những đứa bé còn thơ dại. Càng đi sâu vào căn phòng triển lãm, căn phòng càng tối dần, du khách được sống lại trong hoạt cảnh sống động, đàn người tóc tai rối bù, đi thất thểu như những con ma mất hồn, kẻ nằm quằn quại với vết thương của mình trong cảnh tượng các dãy phố đổ nát. Căn phòng ngột ngạt không khí thời chiến tranh, tiếng nức nở từng cơn bên tai, chúng tôi cứ ngỡ do máy phát âm từ một tối nào đó phát ra. Quay qua bên phải chúng tôi thấy 2 cô gái Nhật, tuổi chừng đôi mươi không giữ được xúc động khi nhìn lại sự thống khổ của những người đồng hương, nạn nhân của chiến tranh. Nhìn qua bên trái, một đôi nhân tình cũng khóc thút thít. Có lẽ vì sự đồng cảm tự nhiên của con người đứng trước cảnh ngộ đau xót, nước mắt chúng tôi lưng tròng lúc nào không biết, cổ họng cứng lại. Cơn xúc động đến với chúng tôi lúc nào không biết. Chúng tôi vội bước nhanh ra khỏi căn phòng tôi, thoát khỏi sự yếu đuối của mình. Bước xuống nhà dưới, một bia đá cẩm thạch màu đen đập vào mắt du khách trước khi rời bảo tàng viện. Hàng chữ của Ðức Giáo Hoàng Jonh Paul Ðệ Nhị khi ngài đi thăm nơi đây vào ngày 25 Tháng Hai năm 1981, đã được khắc trên đá một cách trang trọng: War is work of man. War is destruction of human life. War is death. To remember the past is to commit oneself to the future. To remember Hiroshima is to abhor nuclear war. To remember Hiroshima is to commit oneself to peace. Xin tạm dịch: Chiến tranh do con người gây ra. Chiến tranh hủy hoại đời sống con người. Chiến tranh đồng nghĩa với sự chết. Nhớ lại quá khứ, có nghĩa tự cam kết cho mình một tương lai. Tâm niệm về Hiroshima, thì hãy từ bỏ chiến tranh nguyên tử. Nhớ đến Hiroshima, tự cam kết cho mình một nền hòa bình. Tháng Ba, khí trời mới bắt đầu vào Xuân. Ngày hôm ấy nắng thật đẹp, trời xanh cao, khí hậu Mùa Ðông còn sót lại, chiếc áo ấm bên mình, khăn quàng cổ vắt ngang vai đủ ấm cho chúng tôi thong dong nhìn quang cảnh của công viên. Công Viên Hòa Bình Quốc Tế đã được Tổ Chức Văn Hóa Liên Hiệp Quốc công nhận là một danh thắng cảnh của thế giới. Ðịa điểm thu hút hàng triệu du khách khắp nơi trên thế giới thăm Nhật, phần lớn họ đều đến Hiroshima. Ðài tưởng niệm những nạn nhân tử nạn về bom nguyên tử nằm giữ trung tâm của công viên. Kiến trúc của đài rất đơn giản. Một vòm như hình chữ “V” ngược bằng đá hoa cương. Phía dưới, một mộ bia nổi bằng cẩm thạch đen, biểu tượng cho những mộ phần của nạn nhân chết trong biến cố này. Dân Biểu Trần Thái Văn loay hoay tìm một chỗ thích hợp đặt bó hoa tưởng nhớ nạn nhân dưới chân đài. Nén trầm hương được đốt lên cầu cho những kẻ xấu số bình yên trong giấc ngủ ngàn thu. Tôi ngạc nhiên, không biết ông đã sửa soạn nghi lễ tưởng niệm này từ lúc nào. Người hướng dẫn viên Nhật chăm chú nhìn ông về sự tế nhị, kính cẩn của ông đã dành cho những đồng hương của bà. Hướng dẫn viên dẫn chúng tôi đến địa điểm đã chôn cất hơn 10,000 nạn nhân chiến tranh. Thân xác họ đã được hỏa thiêu thành tro bui, đặt trong những chiếc hộp và được chôn cất tập thể. Hàng năm cứ vào ngày 6 Tháng Tám, Hiệp Hội Ðài Tưởng Niệm Hiroshima đều tổ chức một lễ cầu siêu trọng thể cho những nạn nhân chết tại đây. Ðịa điểm bắt mắt mọi du khách đều phải ghé qua là tòa nhà xây bằng bê tông cốt sắt 2 tầng có mái hình bầu tròn (dome). Trước ngày giội bom, tòa nhà này là nơi dùng để quảng bá, khuyến mại sản phẩm kỹ nghệ cho vùng (tiểu bang) Hiroshima. Tòa nhà này cách trung tâm quả bom nguyên tử nổ khoảng 1 dặm Anh. Khi quả bom nguyên tử nổ, tất cả nhà cửa, cây cối trong vòng 5 dặm đều bị thiêu đốt, sụp đổ, cháy tan thành tro, toàn thể khu vực bị bình địa. Riêng tòa nhà này hoàn toàn bị hư hỏng, chỉ để lại 4 bức tường và chiếc vòm sắt cong queo bởi sức nóng hơn 9,000 độ C của bom tỏa ra. Ðây là biểu tượng, dấu vết lịch sử để lại về sự tàn phá do bom nguyên tử gây ra tại Hiroshima . Vóc dáng tòa nhà rất tiêu biểu, mang nhiều ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, dưới mắt những tay săn ảnh chuyên nghiệp, họ sẽ hơi thất vọng vì hậu cảnh của tòa nhà này là những tòa cao ốc ngạo nghễ, tối tân, không phù hợp cho một khung cảnh lịch sử của nó. Điạ điểm cuối cùng, chúng tôi đến ngay địa điểm của trái bom nổ cách tòa nhà nóc tròn một dặm Anh. Nhu cầu phát triển đô thị, đất đai hiếm hoi, người ta đã cho xây cao ốc chung quanh địa điểm, họ chỉ để một mốc bằng mầu cẩm thạch mầu đen ghi lại lịch sự của địa điểm. Nhìn lại quá khứ của 62 năm về trước. Tổng thống Franklin Roosevelt đã chết bất đắc kỳ tử một tuần trước ngày Đức quốc đầu hàng vô điều kiện đồng minh vào ngày 7 tháng 5 năm 1954. Phó tổng thống Harry Truman lên thay. Tổng thống Truman tiếp tục chương trình “Manhatton Project” phát triển một loại bom nguyên tử với mục đích chấm dứt chấm dứt thế chiến thứ hai. Thực tế, khi Tổng thống Truman vào chức vị, sự kiện Nhật thua trận và đầu hàng chỉ còn là vấn đề thời gian. Trong thời gian này, chiến dịch oanh tạc của đội ngũ phi cơ B-29 tư ho hoành hành trên không phận nước Nhật . Chỉ riêng trong tháng 3 năm 1945, cuộc không tập của không quân Hoa kỳ vào thủ đô Tokyo đã làm thiệt hại cho thành phố này hơn 100,000 người. Lần tấn công thứ hai gây thiết mạng cho hơn 80,000 người tại Tokyo. Song song, hải quân Hoa Kỳ đã cắt đứt nguồn tiếp tế nhiên liệu của Nhật. Chấm dứt chiến tranh một ngắn gọn khó có thể thực hiện được với người Nhật. Hoa kỳ biết rằng tự ái dân tộc của người Nhật rất cao, họ sẵn sàng hy sinh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Biết đặc điểm của quân đội Nhật, Hoa kỳ không do dự, gấp rút thực hiện việc chế tạo bom nguyên tử. Phi hành đoàn do Đại tá Paul Tibbets chỉ huy được lệng tập luyện ráo riết về kế hoạch thả một quả bom nặng 5,500 cân Anh (pound) từ oanh tạc cơ B-29 cho một địa điểm sẽ được ấn định sau. Mọi người đều biết quân Đức đã đầu hàng vào tháng 5, 1945. Đại tá Tibbets và phi hành đoàn biết chắc trái bom khổng lồ này sẽ dội xuống đất Nhật. Tin tức về trái bom này hoàn toàn giữ bí mật, phi hành đoàn không biết đó là trái bom nguyên tử đầu tiên của thế giới. Vào đầu tháng 5 năm 1945, Tổng thống Truman họp nội các và các nhà khoa học trong chương trình Manhatton chế bom nguyên tử. Họ đã bàn về cách sử dụng trái bom nguyên tử để chấm dứt đệ nhị thế chiến ít đổ máu nhất cho phía đồng minh. Họ đã đi đến quyết định giữ bí mật với mọi người, moị phe về việc chế biến, cũng như thả bom nguyên tử cho đến sau ngày quả bom được thả xuống đất Nhật. Danh sách 4 địa điểm để ném bom gồm có Hokura Arsenal, Hiroshima, Niigata và Kyoto. Bộ trưởng Chiến Tranh Henry Stimson loại bỏ cố đô Kyoto ra khỏi danh sách. Ông cho rằng nơi đây là trung tâm văn hoá của Nhật, không có nhiều cơ sở quân sự phục vụ chiến tranh, nên đã thay thế Kyoto bằng thành phố Nagasaki. Có nguồn tài liệu khác cho biết lý do ông Stimton loại bỏ Kyoto ra khỏi danh sách vì Kyoto là nơi ông đã hưởng tuần trăng mật trước thế chiến thứ hai khởi đầu, ông muốn gìn giữ nơi này là một chốn kỷ niệm không bị tàn phá. Bốn địa điểm đã được đệ trình lên Tổng thống Truman toàn quyền chọn lựa. Ngày 14 tháng 7 năm 1945, cuộc thí nghiệm bom nguyên tử Trinity hoàn tất tốt đẹp. Quả bom nguyên tử đầu tiên được cấu tạo, được gọi là “Little Boy” đúng 5:45 ngày 16 tháng 7, năm 1945, đánh dấu kỷ nguyên bom nguyên tử bắt đầu. Chưa đầy một tháng sau. Vào sáng sớm ngày 6 tháng 8, năm 1945, chiếc pháo đài B-29 lấy tên là Enola Gay cất cánh từ phi trường Tinian để bay đến Hiroshima. Trưởng phi hành đoàn, đại tá Paul Tibbets cho máy bay với tọa độ thấp. Đúng vào 8:15 sáng giờ địa phương, chiếc Enola Gay thả quả bom “Little Boy, nặng 9,700 pound chất phóng xạ nguyên tử và bay ra khỏi khu vực thật nhanh để tránh phóng xạ nguyên tử. Bốn mươi ba phút sau đó, một tiếng nổ vang trời lở đất. Từ đằng xa, chiếc Enola Gay cũng bị chấn động bởi áp xuất của bom. Sau lần chấn động lần thứ hai vào máy bay, phi hành đoàn của chiếc Enola Gay nhìn từ trong phi cơ thấy một nấm khói đen khổng lồ hiện trên bầu trời Hiroshima Vào thời gian đó, thành phố Hiroshima có khoảng 300,000 dân, 45,000 lính và nhiều căn cứ quân sự quan trọng. Có nhiều số thống kê khác nhau về số người tử vong vì quả bom nguyên tử "Little Boy". Người ta cho rằng lúc khởi đầu có khoảng 70,000 người thiệt mạng tại chỗ, phần còn lại chết sau đó hay sau một thời gian chết vì ảnh hưởng phóng xạ nguyên tử. Tổng số người chết lên đến 140,000, 60% thành phố bị phá hủy. Ba ngày sau, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ hai "Fat Boy" ném xuốnng Nagasaki. Lần dội bom này ,làm thiết mạng hơn 40,000 người. Số thương vong cuối cùng lên đến 80,000 người tại Nagasaki. Trước ngày hai quả bom dội xuống Hiroshima va Nagasaky, Nhật đã muốn đầu hàng. Họ không thương thuyết trực tiếp với Hoa Kỳ, nhưng qua trung gian nước Nga, một đồng minh của Hoa Kỳ trong thế chiến thứ hai. Tuy nhiên phía tình báo Hoa Kỳ đã biết trước ý định của Nhật nhờ vào sự giải mật các thông tin giữa Nhât và Nga qua hệ thống phản gián. Nhật chỉ muốn đầu hàng với một số điều kiện không làm cho Hoa Kỳ hài lòng. Ngoài ra, phía quân đội Nhật còn rất hiếu chiến. Trong khi đó Hoa kỳ muốn Nhật đầu hàng vô điều kiện. Ngay sau khi hai quả bom phát nổ trên đất Nhật, gần 300,000 người thiệt mạng, Nhật Hoàng đã cho dân Nhật biết cuộc chiến không có lợi cho nước Nhật. Ông dành quyền quyết định xin đầu hàng Hoa Kỳ và đồng minh vào 15 tháng 8, năm 1945. Văn bản chính thức đầu hàng được ký kết vào ngày 2 tháng 9 , năm 1945 trên Mẫu hạm U.S.S Missouri. Hoa kỳ cho phép Nhật Hoàng tại chức và chỉ có tính cách nghi lễ. Cuộc chiến đã chấm dứt sau 62 năm. Hàng năm vẫn còn nhiều khắc khoải về việc Nhật thua trận và tranh luận về việc liệu Hoa Kỳ có nên xử dụng 2 quả bom nguyên tử để chấm dứt chiến tranh với Nhật. Nhà phản chiến Steve Leeper, người Hoa Kỳ đầu tiên cầm đầu tổ chức Hirishima Peace and Cultural Foundation có cùng quan điểm với đại đa số dân Nhật cho rằng nước Nhật đã thua trận chỉ còn là vấn đề ngày tháng. Nên Hoa Kỳ không cần xử dụng 2 quả bom nguyên tử trên đất Nhật để giải quyết chiến tranh. Mới gần đây, Bộ trưởng quốc phòng Nhật tuyên bố với báo chí rằng việc xử dụng bom nguyên tử của Hoa kỳ trên đất Nhật là hợp lý và đã cứu nước Nhật thoát khỏi sự xâm lăng và chiếm đóng của Nga. Vì lập luận này trái với sự suy nghĩ của quần chúng, ông đã buộc phải từ chức. Chủ nhật vừa qua, trước một ngày kỷ niệm năm thứ 62 để tưởng niệm những nạn nhân chết vì bom nguyên tử, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã chính thức xin lỗi dân chúng Nhật về lời tuyên bố của vị Bộ trưởng Quốc phòng trong Nội Các của ông. Để xoa dịu dư luận ông Abe hứa sẽ gia tăng trợ cấp ý tế cho những nạn nhân nguyên tử. Mặt khác, phía Hoa kỳ vẫn lập luận việc xử dụng bom nguyên tử trên đất Nhật là cần thiết để chấm dứt chiến tranh mau lẹ, tiết kiệm sinh mạng cho quân đội Hoa Kỳ khi đổ bộ lên đất liền trước khi chiếm đóng nước Nhật. Một nguồn tin khác, phù hợp với lời tuyên bố của vị Bộ trưởng Quốc Phòng Nhật cho rằng Hoa Kỳ muốn cảnh cáo Nga, ngăn chận Nga lăm le chiế m đóng Nhật, như họ đã chiếm đóng phân nửa nước Đức sau khi Đức đầu hàng. Đây cũng là dịp để thử sức tàn phá của bom nguyên tử mà Hoa Kỳ mới sáng chế. http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=6783
_____________________________
..........Sáu Tỷ ...
|
|
|
|
Tiêu Diệt - 13.8.2007 9:41:09
|
|
|
Quang Khôi
Bài viết đã đăng: 618
Gia nhập ngày: 14.12.2006
Đến từ: Hà Nội Sài Gòn
Hiện trạng: offline
|
_____________________________
..........Sáu Tỷ ...
|
|
|
|
Tiêu Diệt - 13.8.2007 9:49:09
|
|
|
Quang Khôi
Bài viết đã đăng: 618
Gia nhập ngày: 14.12.2006
Đến từ: Hà Nội Sài Gòn
Hiện trạng: offline
|
Vũ khí hạt nhân Vũ khí hạt nhân (tiếng Anh: nuclear weapon) là loại vũ khí mà năng lượng của nó do các phản ứng phân hạch hoặc/và nhiệt hạch gây ra. Một vũ khí hạt nhân nhỏ nhất cũng có sức công phá lớn hơn bất kỳ vũ khí quy ước nào. Vũ khí có sức công phá tương đương với 10 triệu tấn thuốc nổ có thể phá hủy hoàn toàn một thành phố. Nếu sức công phá là 100 triệu tấn (mặc dù hiện nay chưa thể thực hiện được) thì có thể phá hủy một vùng với bán kính 100 - 160 km. Cho đến nay, mới chỉ có hai quả bom hạt nhân được dùng trong Đệ nhị thế chiến: quả bom thứ nhất được ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) vào ngày 6 tháng 8 năm 1945 có tên là Little Boy và được làm từ uranium; quả sau có tên là Fat Man và được ném xuống Nagasaki, cũng ở Nhật Bản ba ngày sau đó, được làm từ plutonium. Hơn hai ngàn vụ nổ hạt nhân sau đó là do việc thử nghiệm hạt nhân, chủ yếu là do các quốc gia sau đây thực hiện: Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan. Các nước hiện nay công bố có vũ khí hạt nhân là Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan. Thêm vào đó, Israel có nhiều dấu hiệu chứng tỏ sở hữu bom hạt nhân mặc dù chưa bao giờ chính thức thừa nhận. Gần đây, CHDCND Triều Tiên cũng công bố đã chế tạo được vũ khí hạt nhân. Ukraina cũng có thể sở hữu một quả bom hạt nhân cũ từ thời Liên Xô do sai lầm của thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Việc phi quân sự hóa năng lượng hạt nhân đã được đề xuất cho rất nhiều các ứng dụng dân sự. Mục lục // Các loại vũ khí hạt nhân Thiết kế cơ bản của hai loại bom nguyên tử. Vũ khí hạt nhân đơn giản nhất lấy năng lượng từ quá trình phân hạch (còn gọi là phân rã hạt nhân). Một vật liệu có khả năng phân rã được lắp ráp vào một khối lượng tới hạn, trong đó khởi phát một phản ứng dây chuyền và phản ứng đó gia tăng theo tốc độ của hàm mũ, giải thoát một năng lượng khổng lồ. Quá trình này được thực hiện bằng cách bắn một mẫu vật liệu chưa tới hạn này vào một mẫu vật liệu chưa tới hạn khác để tạo ra một trạng thái gọi là siêu tới hạn. Khó khăn chủ yếu trong việc thiết kế tất cả các vũ khí hạt nhân là đảm bảo một phần chủ yếu các nhiêu liệu được dùng trước khi vũ khí tự phá hủy bản thân nó. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom nguyên tử, còn gọi là bom A. Các loại vũ khí cao cấp hơn thì lấy năng lượng nhiều hơn từ quá trình nhiệt hạch (còn gọi là tổng hợp hạt nhân). Trong loại vũ khí này, bức xạ nhiệt từ vụ nổ phân rã hạt nhân được dùng để nung nóng và nén đầu mang tritium, deuterium, hoặc lithium, từ đó xảy ra phản ứng nhiệt hạch với năng lượng được giải thoát lớn hơn rất nhiều. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom khinh khí, còn gọi là bom hydro, bom H hay bom nhiệt hạch. Nó có thể giải thoát một năng lượng lớn hơn hàng ngàn lần so với bom nguyên tử. Người ta còn tạo ra các vũ khí tinh vi hơn cho một số mục đích đặc biệt. Vụ nổ hạt nhân được thực hiện nhờ một luồng bức xạ neutron xung quanh vũ khí hạt nhân, sự có mặt của các vật liệu phù hợp (như đồng hoặc vàng) có thể gia tăng độ ô nhiễm phóng xạ. Người ta có thể thiết kế vũ khí hạt nhân có thể cho phép neutron thoát ra nhiều nhất; những quả bom như vậy được gọi là bom neutron. Về lý thuyết, các vũ khí phản vật chất, trong đó sử dụng các phản ứng giữa vật chất và phản vật chất, không phải là vũ khí hạt nhân nhưng nó có thể là một vũ khí với sức công phá cao hơn cả vũ khí hạt nhân. Năng lượng của vụ nổ hạt nhân Năng lượng này được xác định theo công thức nổi tiếng của Albert Einstein: E = mc2 Trong đó: E là năng lượng có thể được giải phóng m là khối lượng vật chất tham gia phản ứng c là vận tốc ánh sáng trong chân không Ảnh hưởng của vụ nổ hạt nhân Một hình cầu lửa phóng xạ ở đỉnh của cột khói phát ra từ một vụ thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Năng lượng từ vụ nổ vũ khí hạt nhân thoát ra ở bốn loại sau đây: Lượng năng lượng giải thoát của từng loại phụ thuộc vào thiết kế của vũ khí và môi trường mà vụ nổ hạt nhân xảy ra. Bức xạ dư là năng lượng được giải thoát sau vụ nổ, trong khi các loại khác thì được giải thoát ngay lập tức. Năng lượng được giải thoát bởi vụ nổ bom hạt nhân được đo bằng kiloton hoặc megaton - tương đương với hàng ngàn và hàng triệu tấn thuốc nổ TNT (tri-nitro-toluen). Vũ khí phân hạch đầu tiên có sức công phá đo được là vài ngàn kiloton, trong khi vụ nổ bom khinh khí lớn nhất đo được là 10 megaton. Trên thực tế vũ khí hạt nhân có thể tạo ra các sức công phá khác nhau, từ nhỏ hơn một kiloton ở các vũ khí hạt nhân cầm tay như Davy Crockett của Hoa Kỳ cho đến 54 megaton như Bom Sa hoàng (Tsar-Bomba) của Liên Xô (bom này chỉ đưa ra với mục đích chính trị chứ khó thao tác được). Hiệu ứng quan trọng nhất của vũ khí hạt nhân là áp lực và bức xạ nhiệt có cơ chế phá hủy giống như các vũ khí quy ước. Sự khác biệt cơ bản là vũ khí hạt nhân có thể giải thoát một lượng lớn năng lượng tại một thời điểm. Tàn phá chủ yếu của bom hạt nhân không liên quan trực tiếp đến quá trình hạt nhân giải thoát năng lượng mà liên quan đến sức mạnh của vụ nổ. Mức độ tàn phá của ba loại năng lượng đầu tiên khác nhau tùy theo kích thước của bom. Bức xạ nhiệt suy giảm theo khoảng cách chậm nhất, do đó, bom càng lớn thì hiệu ứng phá hủy do nhiệt càng mạnh. Bức xạ ion bị suy giảm nhanh chóng trong không khí, nên nó chỉ nguy hiểm đối với các vũ khí hạt nhân hạng nhẹ. Áp lực suy giảm nhanh hơn bức xạ nhiệt nhưng chậm hơn bức xạ ion. Phóng bom hạt nhân Thuật ngữ vũ khí hạt nhân chiến lược được dùng để chỉ các vũ khí lớn với các mục tiêu phát hủy lớn như các thành phố. Vũ khí hạt nhân chiến thuật là các vũ khí hạt nhân nhỏ hơn được dùng để phá hủy các mục tiêu quân sự, viễn thông hoặc hạ tầng cơ sở. Theo tiêu chuẩn hiện đại thì các quả bom ném xuống Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945 có thể được coi là các vũ khí hạt nhân chiến thuật (sức công phá là 13 và 22 kiloton), mặc dù, các vũ khí hạt nhân chiến thuật nhẹ hơn và nhỏ hơn đáng kể. Các phương pháp phóng vũ khí hạt nhân là: Bom hấp dẫn Những quả bom hạt nhân đầu tiên, giống như Fat Man, lớn hơn và phức tạp hơn bom hấp dẫn. Không một vũ khí hạt nhân nào đủ tiêu chuẩn là bom gỗ - đó là từ lóng mà quân đội Hoa Kỳ dùng để chỉ một loại bom hoàn thiện, không phải bảo hành sửa chữa, không nguy hiểm dưới mọi điều kiện trước khi cho nổ. Bom hấp dẫn là loại bom được thiết kế để được thả xuống từ các máy bay. Yêu cầu của loại bom này là phải chịu được các dao động và thay đổi về nhiệt độ và áp suất của không khí. Lúc đầu, các vũ khí thường có một cái chốt an toàn ở trạng thái đóng trong quá trình bay. Chúng phải thỏa mãn các yêu cầu về độ ổn định để tránh các vụ nổ hoặc rơi bất ngờ có thể xảy ra. Rất nhiều loại vũ khí có một thiết bị đóng ngắt để khởi động quá trình nổ. Các vũ khí hạt nhân của Mỹ thỏa mãn các tiêu chuẩn an toàn nói trên sẽ được ký hiệu bởi chữ cái "B", và tiếp theo (không có dấu nối) là các ký hiệu vật lý cần thiết. Ví dụ bom B61 là một loại bom như vậy, được Mỹ chế tạo rất nhiều và lưu trữ trong các kho chứa đạn dược trong nhiều thập kỷ. Có nhiều kỹ thuật ném bom như thả bom tự do trong không khí, thả bom bằng dù với cơ chế cho nổ chậm để máy bay ném bom có thời gian thoát khỏi vùng nguy hiểm khi bom nổ. Những quả bom hấp dẫn đầu tiên chỉ có thể được mang bằng pháo đài bay B-29. Thế hệ bom tiếp theo vẫn rất lớn và nặng, chỉ có các pháo đài bay B-52, máy bay ném bom lớn V mới có thể mang được. Nhưng vào giữa những năm 1950, người ta có thể chế tạo được các vũ khí nhỏ, nhẹ hơn và có thể được mang bằng các máy bay chiến đấu kiêm ném bom bình thường. Tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hạt nhân Tên lửa đạn đạo có thể mang nhiều đầu đạn hạt nhân trong một lần phóng. Các tên lửa đạn đạo là các tên lửa có chất nổ, được máy tính hoặc người điều khiẻn, sau khi phóng thì chúng chỉ chịu ảnh hưởng của lực hấp dẫn và lực cản của không khí gây ra. Tên lửa đạn đạo dùng để mang các đầu đạn với tầm xa từ mười cho đến vài trăm km. Các tên lửa đạn đạo liên lục địa hoặc các tên lửa đạn đạo vượt đại châu được phóng từ các tàu ngầm có thể theo các lộ trình dưới quỹ đạo hoặc quỹ đạo với tầm xa xuyên lục địa. Các tên lửa đầu tiên chỉ có thể mang một đầu đạn, thường với sức công phá khoảng megaton. Các tên lửa như vậy yêu cầu phải có khả năng hoạt động với tính chính xác rất cao để đảm bảo phá hủy mục tiêu. Từ những năm 1970, các tên lửa đạn đạo hiện đại được phát triển với khả năng nhắm tới mục tiêu với độ chính xác cao hơn nhiều. Điều này làm cho một tên lửa, trong một lần phóng, có thể mang đến hơn một chục đầu đạn và nhắm tới các mục tiêu độc lập với nhau. Mỗi đầu đạn có thể có sức công phá vài kiloton. Đây là một điểm mạnh quan trọng của tên lửa đạn đạo có nhiều đầu đạn. Nó không chỉ cho phép phá hủy các mục tiêu khác nhau, độc lập với nhau mà còn có thể cùng công phá một mục tiêu theo kiểu bủa vây hoặc có thể tác chiến với các vũ khí chiến thuật khác để vô hiệu hóa tất cả các hệ thống phòng thủ của đối phương. Vào những năm 1970, Liên Xô công bố kế hoạch nhằm chế tạo ra các tên lửa đạn đạo nhiều đầu đạn. Số tên lửa như vậy đủ lớn để cứ mỗi 19 giây đến 3 phút thì phóng một tên lửa tới các thành phố lớn của nước Mỹ, và việc đó có thể được thực hiện liên tục trong một giờ đồng hồ. Tên lửa mang đầu đạn ở trong các kho lưu trữ đạn được của Hoa Kỳ được ký hiệu bằng chữ "W" ở đầu, ví dụ W61 có các tính chất như B61 nói ở trên nhưng có các yêu cầu về môi trường khác hẳn. Tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân Tên lửa hành trình có tầm tác dụng ngắn hơn tên lửa đạn đạo xuyên lục địa nhưng rất khó bị đối phương phát hiện và ngăn chặn. Tên lửa hành trình có thể mang đầu đạn hạt nhân, bay ở độ cao rất thấp, khoảng cách ngắn và được dẫn đường bởi các hệ thống điều khiển bên trong hoặc bên ngoài (như hệ thống định vị toàn cầu - GPS) làm cho chúng khó có thể bị đối phương phát hiện và ngăn chặn. Tên lửa hành trình mang được trọng lượng nhỏ hơn tên lửa đạn đạo rất nhiều nên sức công phá của đầu đạn mà nó mang thường là nhỏ. Tên lửa hành trình không thể mang nhiều đầu đạn nên không thể công phá nhiều mục tiêu. Mỗi tên lửa như vậy chỉ mang một đầu đạn mà thôi. Tuy nhiên, do gọn nhẹ nên tên lửa hành trình quy ước có thể được phóng đi từ các bệ phóng di động trên mặt đất, từ các chiến hạm hoặc từ các máy bay chiến đấu. Tên của các đầu đạn dành cho tên lửa hành trình của Mỹ không khác biệt với tên của các đầu đạn dành cho tên lửa đạn đạo. Các phương pháp khác Súng cối Davy Crockett là loại vũ khí hạt nhân nhỏ nhất của Mỹ. Các phương pháp mang đầu đạn hạt nhân khác gồm súng cối, mìn, bom phá tàu ngầm, ngư lôi,... Vào những năm 1950, Hoa Kỳ còn phát triển một loại đầu đạt hạt nhân với mục đích phòng không có tên là Nike Hercules. Sau đó, nó được phát triển thành loại tên lửa chống tên lửa đạn đạo với đầu đạn lớn hơn. Phần lớn các vũ khí hạt nhân phòng không đều không được dùng vào cuối những năm 1960, các bom phá tàu ngầm không được dùng vào năm 1990. Tuy vậy, Liên Xô (và sau đó là Nga) vẫn tiếp tục duy trì tên lửa chống tên lửa đạn đạo với đầu đạn hạt nhân. Một loại vũ khí chiến thuật nhỏ, nhẹ, hai người mang (thường hay bị gọi nhầm là bom xách tay) cũng khá phổ biến mặc dù nó không chính xác và không tiện lợi lắm. Xem danh sách vũ khí hạt nhân để biết thiết kế các loại vũ khí hạt nhân. Lịch sử vũ khí hạt nhân Hậu quả của vụ nổ bom ở Hiroshima, Nhật Bản. Những vũ khí hạt nhân đầu tiên được Hoa Kỳ chế tạo cùng với sự giúp đỡ của Anh Quốc trong Đệ nhị thế chiến, đó là một phần của dự án Manhattan tối mật. Lúc đầu, việc chế tạo vũ khí hạt nhân là sự lo sợ Đức Quốc xã có thể chế tạo và sử dụng trước quân đội đồng minh. Nhưng cuối cùng thì hai thành phố của Nhật Bản là Hiroshima và Nagasaki lại là nơi chịu sức tàn phá của những quả bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1945. Liên Xô chế tạo và thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên vào năm 1949. Cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều phát triển vũ khí hạt nhân nhiệt hạch vào những năm giữa của thập niên 1950. Việc phát minh ra các tên lửa hoạt động ổn định vào những năm 1960 đã làm cho khả năng mang các vũ khí hạt nhân đến bất kỳ nơi nào trên thế giới trong một thời gian ngắn trở thành hiện thực. Hai siêu cường của chiến tranh Lạnh đã chấp nhận một chiến dịch nhằm hạn chế việc chạy đua vũ khí hạt nhân nhằm duy trì một nền hòa bình mong manh lúc đó. Vũ khí hạt nhân từng là biểu tượng cho sức mạnh quân sự và sức mạnh quốc gia. Việc thử nghiệm hạt nhân thường để kiểm tra các thiết kế mới cũng như là gửi các thông điệp chính trị. Một số quốc gia khác cũng phát triển vũ khí hạt nhân trong thời gian này, đó là Anh Quốc, Pháp, Trung Quốc. Năm thành viên của "câu lạc bộ các nước có vũ khí hạt nhân" đồng ý một thỏa hiệp hạn chế việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở các quốc gia khác mặc dù có ít nhất hai nước (Ấn Độ, Nam Phi) đã chế tạo thành công và một nước (Israel) có thể đã phát triển vũ khí hạt nhân vào thời điểm đó. Vào đầu những năm 1990, nước kế thừa Liên Xô trước đây là nước Nga cùng với Hoa Kỳ cam kết giảm số đầu đạn hạt nhân dự trữ để gia tăng sự ổn định quốc tế. Mặc dù vậy, việc phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn tiếp tục. Pakistan thử nghiệm vũ khí đầu tiên của họ vào năm 1998, CHDCND Triều Tiên công bố đã phát triển vũ khí hạt nhân vào năm 2004. Vũ khí hạt nhân là một trong những vấn đề trọng tâm của các căng thẳng về chính trị quốc tế và vẫn đóng vai trò quan trọng trong các vấn đề xã hội từ khi nó được khởi đầu từ những năm 1940. Vũ khí hạt nhân thường được coi là biểu tượng phi thường của con người trong việc sử dụng sức mạnh của tự nhiên để hủy diệt con người. Xem thêm Vũ khí giết người hàng loạt Sắp xếp theo loại Vũ khí sinh học Vũ khí hóa học Vũ khí hạt nhân Vũ khí phóng xạ Sắp xếp theo quốc gia Anh Quốc Ấn Độ Ba Lan Brasil Canada Đài Loan Hà Lan Hoa Kỳ Iran Iraq Israel Nam Phi Nga Pakistan Pháp Triều Tiên Trung Quốc Vũ khí hạt nhân Các nước có vũ khí hạt nhân Sự phổ biến vũ khí hạt nhân Chiến lược phát triển vũ khí hạt nhân Khủng bố bằng vũ khí hạt nhân Chiến tranh hạt nhân Lịch sử vũ khí hạt nhân Thiết kế vũ khí hạt nhân Vụ nổ hạt nhân Thử nghiệm hạt nhân Xem thêm Bom bẩn Chiến tranh phóng xạ Tham khảo - Chú giải 1: p. 54. Bethe, Hans Albrecht. The Road from Los Alamos. Simon and Schuster, New York. (1991 ISBN 0-671-74012-1)
- Glasstone, Samuel and Dolan, Philip J., The Effects of Nuclear Weapons (third edition), U.S. Government Printing Office, 1977. PDF Version
- NATO Handbook on the Medical Aspects of NBC Defensive Operations (Part I - Nuclear), Departments of the Army, Navy, and Air Force, Washington, D.C., 1996.
- Hansen, Chuck. U.S. Nuclear Weapons: The Secret History, Arlington, TX: Aerofax, 1988.
- Hansen, Chuck. The Swords of Armageddon: U.S. nuclear weapons development since 1945, Sunnyvale, CA: Chukelea Publications, 1995 [1].
- Smyth, Henry DeWolf. Atomic Energy for Military Purposes, Princeton University Press, 1945. (The first declassified report by the US government on nuclear weapons) (Smyth Report)
- The Effects of Nuclear War, Office of Technology Assessment (May 1979).
- Rhodes, Richard. Dark Sun: The Making of the Hydrogen Bomb. Simon and Schuster, New York, (1995 ISBN 0684824140)
- Rhodes, Richard. The Making of the Atomic Bomb. Simon and Schuster, New York, (1986 ISBN 0684813785)
- Weart, Spencer R. Nuclear Fear: A History of Images. Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1988.
http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_kh%C3%AD_h%E1%BA%A1t_nh%C3%A2n
_____________________________
..........Sáu Tỷ ...
|
|
|
|
Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh - 13.8.2007 9:54:57
|
|
|
Quang Khôi
Bài viết đã đăng: 618
Gia nhập ngày: 14.12.2006
Đến từ: Hà Nội Sài Gòn
Hiện trạng: offline
|
Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh - Câu chuyện truyền hình trong ngày: "Bomb Lady" Dương Nguyệt Ánh tâm sự ...
-
Nhân dịp khoa học gia Dương Nguyệt Ánh từ Hoa Thịnh Đốn bay về miền Bắc ... danh đất Việt, nữ khoa hoc gia Dương Nguyệt Ánh sẽ về thuyết trình với giới phụ ...www.tinvietonline.com/0/0/2007/7/144888 - 70k - Cached -
VietBao Daily Online - Cộng Đồng - Chân Dung Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh ... tiên tôi dịp gặp Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh là lúc Cô làm MC cho một Chương ... thành tích kỹ luật này, KHG Dương Nguyệt Ánh được Hải Quân trao Giải thưởng cao ...www.vietbao.com/?ppid=45&pid=5&nid=110828 - 40k - Cached -
Việt Nam: Sử địa ghi chiến tích Cô Dương Nguyệt Ánh dường như không hài lòng cho lắm. ... Dương Nguyệt Ánh, một người tị nạn cộng sản từ Việt Nam, đặt chân đến Hoa Kỳ vào ...forums.thuyngaonline.com/fb.aspx?m=641802 - 61k - Cached -
www.freewebs.com/suytuong/35.htm Cô Dương Nguyệt Ánh dường như không hài lòng cho lắm. ... Dương Nguyệt Ánh, một người tị nạn cộng sản từ Việt Nam, đặt chân đến Hoa Kỳ vào ...www.freewebs.com/suytuong/35.htm - 16k - Cached -
Phong van Duong Nguyet Anh Chuyên gia về chất nổ Dương Nguyệt Ánh chỉ huy một nhóm khoa học gia, chỉ trong ... vấn cho Ngũ Giác Đài, bà Dương Nguyệt Ánh đang trách nhiệm về việc phát ...www.thienlybuutoa.org/Misc/DuongNguyetAnh.htm - 27k - Cached -
Vietmedia: Vietnam Music Lyrics Culture Chat Midi Picture Image News ... ... tiên tôi dịp gặp Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh là lúc Cô làm MC cho một Chương ... tiếp xúc gần đây, Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh cho biết, cô cùng gia đình đến ...www.vietmedia.com/news/?L=grabstory.html&Cat=NguoiVietHaiNgoai&ID=2271 - 22k - Cached -
Vietnam Review | Chuyên Mục | Washington Post Phỏng Vấn Chuyên Gia Chất ... Washington Post Phỏng Vấn Chuyên Gia Chất Nổ Dương Nguyệt Ánh ... Chuyên gia về chất nổ Dương Nguyệt Ánh chỉ huy một nhóm khoa học gia, chỉ trong ...www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=3722 - 68k - Cached -
Phỏng vấn cô Dương Nguyệt Ánh, Tổng Giám Đốc về Khoa Học và Kỹ Thuật ... ... về chất nổ, trong đó có một phụ nữ tị nạn Việt Nam, đó là cô Dương Nguyệt Ánh. ... Nam thất thủ, nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã dành cho đặc phái viên Trần ...voanews.com/vietnamese/archive/2005-04/2005-04-29-voa14.cfm?... - 58k - Cached -
Hoa Thịnh Ðốn - Thủ Ðô Hoa Kỳ - Vietnamese American in Washington DC ... Vietnamese Americans Information in Washington DC metropolitan ... Bài tiếng Việt của TUYẾT MAI trên Việt Báo: Chân Dung Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh 07/09/07 ...hoathinhdon.net - 20k - Cached
_____________________________
..........Sáu Tỷ ...
|
|
|
|
Di họa - 13.8.2007 10:01:34
|
|
|
Quang Khôi
Bài viết đã đăng: 618
Gia nhập ngày: 14.12.2006
Đến từ: Hà Nội Sài Gòn
Hiện trạng: offline
|
12 Tháng 8 2007 - Cập nhật 20h27 GMT Di họa cộng sản nhức nhối và cay đắng Lê Diễn Đức viết từ Atlanta, Hoa Kỳ Trong tuần qua, vào ngày 08/08/2007, hàng ngàn người Nga tại Moscow đã tập trung làm lễ tưởng nhớ các nạn nhân bị đàn áp chính trị dưới chế độ Stalin. Lễ tưởng niệm này cũng đã được thực hiện tại tất cả các nhà thờ của Chính Thống Giáo của thủ đô Moscow. Cách đây đúng 70 năm, trong giai đoạn 1937-1938, chế độ cộng sản của nhà độc tài máu sắt Stalin mở đầu hàng loạt vụ bắt bớ, thủ tiêu và thanh trừng chính trị. Từ tháng 08/1937 đến tháng 10/1938, chỉ riêng trong nhà tù tại Ủy ban an ninh quốc gia, chế độ Stalin đã bắn bỏ 20.760 người, trong đó có khoảng 1.000 người lãnh đạo tôn giáo. Giáo chủ giáo phận St. Petersburg Serafin cũng bị giết vào thời gian này. Trong thời cải cách “Perestroika” của Michail Gorbachev, một phong trào rất có tiếng vang của các trí thức Nga tìm hiểu sự thật về các tội ác thời Liên Xô đã dày công nghiên cứu tư liệu tại Butov và tìm ra con số nạn nhân. Phong trào này đã “phát hiện” đa số trong 1,7 triệu hồ sơ “những tên phản cách mạng” trong giai đoạn 1937-1938. Hơn 700 ngàn người bị giết. Theo Alexandr Solzhenitsyn, nhà văn đoạt giải thưởng Nobel văn học, có khoảng 60 triệu người đã bị chết trong chế độ Xô Viết trong giai đoạn từ 1917 đến 1956. Năm nay, người ta đặt tại nơi lễ tưởng niệm cây Thánh giá lớn được làm tại tu viện Đảo Sloviecki trên Biển Trắng (phía Đông Bắc nước Nga), nơi có trại giam kinh hoàng thời Xô-Viết. Buổi lễ tưởng niệm 70 năm ngày các nạn nhân đầu tiên bị chết oan ức dưới bàn tay của an ninh cộng sản Xô-Viết được nhiều giáo chủ các địa phận nước Nga và cả nước ngoài tham dự. Sự nhìn nhận tương phản về tội ác cộng sản và Stalin Khi nói về quá khứ cộng sản, ngày 21/06/2007, tiếp các đại diện khoa học-chính trị tại dinh thự riêng ở ngoại ô Moscow, Putin nói: “Không thể cho phép người khác bắt nước Nga chúng ta phải chịu lỗi cho lịch sử của nó. Mỗi một nước đều có mặt tối của lịch sử. Chúng ta còn có ít hơn cả các nước khác”. Kêu gọi những người Nga tưởng niệm nạn nhân của bi kịch năm 1937-1938, Putin nhấn mạnh: “Dù sao thì chúng ta cũng chưa sử dụng bom nguyên tử giết hại thường dân; chúng ta chưa rải chất độc hoá học trên hàng ngàn cây số vuông và chúng ta cũng chưa ném bom vào một nước nhỏ bé với khối lượng bom bằng bảy lần nhiều hơn cả Thế chiến thứ II, đó là Việt Nam”. Mọi người đều thấy rất rõ rằng, mặc dù “phi cộng sản” là một trong những khẩu hiệu chính của Kremli, nhưng những nhà cải cách hậu cộng sản - mà thường hầu hết gắn bó với quá khứ cộng sản - đều không thiết tha gì với những trang lịch sử đen tối của Liên Xô. Dư luận vẫn không đồng nhất quan điểm về tộc ác Stalin Nhật báo “Viedomosti” đã nhắc mọi người rằng, lễ tưởng niệm 70 năm các nạn nhân bị chế độ cộng sản thảm sát trong 1937-1938 đã không được dư luận chú ý một cách đúng mức. Tờ báo viết : “Năm 2007 với nước Nga tất cả là: Năm cổ động cho ngôn ngữ Nga, Năm Trung Quốc – chứ không phải năm tưởng nhớ đến nạn nhân bị áp bức”. Cảm xúc của người Nga đối với tội ác Stalin - mặc dù mức độ rất lớn – cũng không đồng nhất. Như thủ lĩnh đảng dân chủ (đối lập) “Yabloko” Grigori Iavlinski, nhận xét: “Chủ nghĩa Stalin, đúng với bản chất của nó, đáng tiếc vẫn không được nhìn nhận đúng bằng lịch sử. Theo thăm dò dư luận xã hội, có đến 20% đồng bào của chúng ta sẵn sàng bỏ phiếu cho Stalin nếu như ông ta sống lại và ứng cử tổng thống.” Người ta nhận xét rằng, dù sao chăng nữa thì Kremlin cũng đã có những động thái tích cực, thậm chí có người cho là bước ngoặt đối với buổi lễ vừa qua. Đôi điều cảm nghĩ Chủ nghĩa cộng sản là tội ác của nhân loại. Đó là chân lý. Chân lý này đã được chứng minh bằng các sự kiện lịch sử và sáng tỏ thêm bằng nghị quyết của Nghị Viện châu Âu thông qua với đa số phiếu áp đảo vào tháng 1/2006. Một nơi đã sản sinh ra cái chủ nghĩa quái thai này, thể nghiệm nó hơn nửa thế kỷ và vứt bỏ nó, thì không ai có thể bào chữa được, trừ phi những người bào chữa là những kẻ bị mất trí, bệnh hoạn. Ấn tích đau thương của các dân tộc dưới thời cộng sản được ghi lại muôn đời bằng những tượng đài tưởng niệm các nạn nhân tại Ba Lan, CH Czech, các nước vùng Baltic… và gần đây nhất tại Washington, Hoa Kỳ. Thế nhưng, vấn đề thanh toán quá khứ cộng sản không đơn giản, nếu không nói là vô cùng phức tạp. Không phải cứ có một chính phủ dân chủ là có thể trả thù và tận diệt cộng sản như những người chống Cộng và mang nặng hận thù (dù chính đáng) với cộng sản suy nghĩ một cách đơn giản và hô hào bạt mạng. Xoá bỏ chế độ cộng sản không đồng nghĩa với tận diệt những người cộng sản! Trong xã hội tự do, dân chủ, ai cũng có quyền phê phán ai, hoặc chỉ trích chính quyền và những người trong bộ máy nhà nước, nói lên chính kiến khác biệt của mình, nhưng luật pháp cấm vu khống, phỉ báng trước công luận. Trả lại Hồ Chí Minh cho sự thật là vô cùng cần thiết và là đòi hỏi chính đáng của nhân dân Việt Nam, nhất là với thế hệ tương lai. Nhưng thái độ thoá mạ hạ cấp và phủ nhận hoàn toàn vai trò lịch sử của ông trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (bất luận dưới ý thức hệ nào), theo tôi, không có gì đảm bảo sẽ được toàn xã hội chấp nhận. Kinh nghiệm và kiến thức Tôi chưa nhìn thấy một ứng xử cực đoan quá đáng, thiếu văn hoá công cộng nào khi nói về các lãnh tụ cộng sản, thậm chí với Hitler trong giới trí thức tại các nước cựu cộng sản Đông Âu. Nếu có, từ một số ít ỏi cá nhân, đều không được dư luận xã hội đồng tình. Người ta rất nghiêm túc khi phân tích và nhận định. Mọi vấn đề phải được thực hiện trong khuôn khổ của một hiến pháp dân chủ, được quốc hội từ bầu cử tự do chuẩn y và được toàn dân chấp nhận. Lech Walesa, cựu thủ lĩnh Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan từng kết luận: "Vấn đề đưa những người lãnh đạo cộng sản ra trước toà để họ phải chịu trách nhiệm về các hành vi tội ác gây ra với nhân dân không nhằm vào mục đích đưa họ vào nhà tù để trả thù. Vấn đề là công luận phải biết sự thật về các sự kiện lịch sử". Phải thừa nhận rằng, câu phát biểu này biểu hiện một tinh thần thượng võ và nhân bản của người thắng trận. Cũng nên chú ý rằng, khi chế độ cộng sản được thay thế bằng hệ thống chính trị đa nguyên, không phải cứ là đảng phái chính trị không cộng sản thì luôn luôn thắng trong các cuộc bầu cử tự do và có thể tha hồ thao túng xã hội theo ý muốn. Thiếu hụt kinh nghiệm và kiến thức trong quá trình dân chủ hoá, thiếu những phân tích sâu sắc, tầm nhìn viễn kiến và những bài học bổ ích từ thời cộng sản và hậu cộng sản của các nước đã đi trước, sẽ dẫn đến tranh đấu theo cảm tính duy ý chí thù hận, ngộ nhận, chủ quan và trở nên quá khích hoặc thiếu sáng suốt trong phương thức, thái độ, đường hướng, nhất là khi Việt Nam vẫn còn trong chế độ độc tài. Vấn đề thanh toán quá khứ cộng sản tại Nga và Đông Âu, đã sau 18 năm, vẫn chưa thể kết thúc và luôn là đề tài nhức nhối. Nó không chỉ phụ thuộc vào phương pháp, thiện chí và mục đích của đảng cầm quyền mà còn của cả toàn xã hội. Quan trọng hơn nữa, nó phụ thuộc vào các nhà khoa học, lịch sử, xã hội, nhân văn có lương tâm trong sáng, cũng như các tổ chức phi chính phủ, trong việc tìm tòi, nghiên cứu và công khai hoá sự thật các tài liệu lịch sử. Song song là việc nhà nước dân chủ phải có chương trình quảng bá, giáo dục ý thức chính trị trước lịch sử và trách nhiệm công dân đối với đất nước. Và tối thượng, mọi vấn đề phải được thực hiện trong khuôn khổ của một hiến pháp dân chủ, được quốc hội từ bầu cử tự do chuẩn y và được toàn dân chấp nhận qua trưng cầu dân ý bản hiến pháp đó. Bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Quý vị có đóng góp hay bình luận, xin gửi thư về vietnamese@bbc.co.uk hoặc sử dụng hộp tiện ích bên tay phải. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2007/08/070812_ledienduc_stalin.shtml
_____________________________
..........Sáu Tỷ ...
|
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
Bài Mới |
Không có Bài Mới |
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) |
Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới) |
Khóa (có bài mới) |
Khóa (không bài mới) |
|
Đăng Đề Mục Mới
Trả Lời
Trưng Cầu
Ý Kiến của Bạn
Xóa bài của mình
Xóa đề mục của mình
Đánh Giá Bài Viết |
|
|
|
 |
|
 |
|
|