VIỆT NAM 1920-1945
CÁCH MẠNG VÀ PHẢN CÁCH MẠNG THỜI ĐÔ HỘ THỰC DÂN

Lượt đọc: 15399 | 2 Đánh giá: 7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN THỨ BA -CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TRÊN DIỄN ĐÀN CÔNG KHAI 1933-1939
CHƯƠNG XII
mặt trận thống nhất la lutte-tranh đấu

Phong trào bí mật đổ vỡ, làm sao tiếp tục đấu tranh? Những cựu chiến sĩ từ Pháp về như Nguyễn An Ninh, theo chủ nghĩa quốc gia, vẫn có uy tín trong dân chúng; Trịnh Hưng Ngẫu, vô chính phủ; Nguyễn Văn Tạo, cộng sản xu hướng Staline; Tạ Thu Thâu, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương, cộng sản theo tư tưởng Trotski cùng những người cảm tình như Trần Văn Thạch, Lê Văn Thử, đồng tâm chủ động đấu tranh hợp pháp chống chính quyền thực dân, theo lối Nguyễn An Ninh, người đàn anh của họ, khởi xướng trong báo Chuông Rè(La Cloche Fêlée) năm 1923. Nhân dịp tuyển cử Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn, tháng 4 năm 1933, họ tham gia để mở đường tranh đấu công khai.

Mặt trận thống nhất đầu tiên, tháng 4 năm 1933

Họ thấy thời cơ đã đến, thuận lợi cho họ lợi dụng cuộc vận động bầu cử để thức tỉnh thợ thuyền. Họ đưa ra một ‘’Sổ Lao Động’’, chống đối các sổ tư sản, đặc biệt chống nhóm Lập Hiến, nhóm nầy từ mười năm nay vẫn chiếm ưu thế trong số đại biểu người An Nam tại Hội Đồng Thành Phố.

Thế thường người nào có tên trong sổ danh mục thuế thân hợp lệ thì được quyền tuyển cử. Tuy nhiên, ở Sài Gòn-Chợ Lớn chỉ có 4332 cử tri trong số dân 300.000 người. Nhân viên thư ký, thương nhân, viên chức chiếm đa số. Thợ thuyền và phu phen cho tới lúc bấy giờ không mấyquan tâm tới những cuộc bầu cử đó. Còn người ứng cử, phải đủ 25 tuổi là tối thiểu, và phải có đóng thuế môn bài ít nhất là 25 đồng.

Ngày 21 tháng 4, ứng cử viên Sổ Lao Động triệu tập cuộc họp đầu tiên tại Rạp Hát Thành Xương, hôm ấy chật ních người. Dân Sài Gòn được nếm hương vị tự do hội họp, một thứ tự do mà họ mới chỉ được hưởng đôi chút trước kia qua những cuộc diễn thuyết của Phan Châu Trinh, ở mít ting tại đường Lanzarotte; trong cuộc tiếp đón Bùi Quang Chiêu, và đám táng Phan Châu Trinh những năm 1925-1926. Họ khởi xướng phương thức phổ thông đầu phiếu thô sơ bằng lối giơ tay lên để biểu quyết lựa chọn chủ tịch, và vị chủ tịch đó là Nguyễn An Ninh. Tạo và Thạch giới thiệu những người trong liên danh: Lê Văn Thử, vừa ở tù ra; Lê Văn Lưỡng, thợ cơ khí, người đã từng đình công tại xưởng thủy binh Ba Son; Nguyễn Văn Dinh, tài xế; Trần Văn Vân, thợ may cùng hai thợ in Nguyễn Văn Số và Nguyễn Xuân Vinh.

Các ứng cử viên trình bày mục tiêu của họ: Đòi thực hiện luật lập nghiệp đoàn công nhân, luật bãi công, đòi ngày làm 8 giờ, phổ thông đầu phiếu, và đòi thực hiện ngay những bữa cơm không mất tiền cho người thất nghiệp, lập các ấu trĩ viện...

Thính giả được làm quen với những từ ngữ chưa từng nghe tại diễn đàn: Tư bản, vô sản, công hội, bãi công, giai cấp tranh đấu...mà cho tới bây giờ họ chỉ được đọc bí mật trong sách báo cấm.

Ba ngày sau, các ứng cử viên phát hành tờ báo bằng tiếng Pháp La Lutte(Tranh Đấu) (Báo chí bằng chữ Quốc Ngữ sau khi được phép mới xuất bản), quản lý là người Pháp: Edgar Ganofsky. Trong số 1, in 10.000 tờ, không những chỉ nêu lên cương lĩnh chính trị của Sổ Lao Động mà còn có bài hướng dẫn về công hội và một bài công kích chi tiết chống lại phái Lập hiến.

Ngày 25, nhóm Tranh Đấu chống đối nhóm tư sản tự gọi ‘’thanh niên công nhân’’, tại Rạp Hát Tân Định. Họ thuyết phục được đại đa số trong 2000 người dự giơ tay bầu chủ tịch cuộc họp: Chàng thanh niên Tạ Thu Thâu - mới vừa ra khỏi Khám Lớn - được chọn, thay vì ông Trần Hữu Độ, người lớn tuổi của ban tổ chức đề nghị. Ông Độ có danh tiếng từ lúc ông bị tù vì tác phẩm Hồi Trống Tự Do của ông.

Buổi chiều ngày 27, Rạp Hát Thành Xương tràn ngập người mặc dù có mặt bọn mật thám đứng ám; quần chúng reo hò ủng hộ Nguyễn An Ninh và những ứng cử viên Sổ Lao Động khi những người này công kích cái gọi là lòng yêu nước của phái Lập Hiến: ‘’Họ quan tâm đến đồng bào tổ quốc thật, nhưng đồng bào họ no, đồng bào mình đói’’, Tạo thét lên như vậy. Còn Phương rút trong túi ra vài miếng giấy cắt trong báo cầm tay, lần lượt đập tan một cách có phương pháp những luận điểm về chủ nghĩa hợp tác vớithực dân của nhóm tư sản đó. Phu phen, thợ thuyền, tiểu dân (thầy giáo có bằng tiểu học, lương tháng 20 đồng rưỡi bạc, so với phu phen hơn được 5 đồng) có thể cải thiện được đời sống của họ chỉ bằng cách tập hợp thành công hội theo gương thợ thuyền Pháp.

Báo Tranh Đấu ra số 2, ngày 29 tháng 4, ngày trước lần bỏ thăm đầu tiên. Tờ báo tập trung kêu gọi chú ý tới những nguyên tắc và sự cần thiết vận động nghiệp đoàn. Có thể có số 3 sẽ phát hành ngày 5 tháng 5 trước lượt bỏ thăm kỳ nhì, có in lại Bản Hiến Chương Amien (Charte d'Amiens)(107). Sổ Lao Động triệu tập họp lần cuối cùng tại Rạp Hát Tân Định. Có cảnh sát Sapuy trấn cửa ra vào, lạm quyền buộc ai tham dự phải có thẻ cử tri. Quần chúng bị ùn lại biến cuộc hội họp tuyển cử thành ra biểu tình trên đường phố do Tạo cầm đầu. Cuộc thị uy chỉ chấm dứt khi Tạo bị tống lên xe tù.

Ngày 7 tháng 5 năm 1933, trong khi Tòa Đại Hình xử 122 người cộng sản tuyên án xử tử 8 người, Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch được đắc cử.

Lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, một số thợ thuyền ra mặt và hai hội đồng ‘’cộng sản’’ dự Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn. Một chiến tích kỳ lạ, coi như một thách thức đối với xã hội thực dân. Sớm muộn gì chính quyền sẽ phản ứng lại.

Ngày 20 tháng 5, tờ báo hàng ngày Trung Lập bị cấm.Vì hướng về giới lao động, có Ninh, Tạo, Thạch và Hùm cộng tác. Ngày 12 tháng 8, Tạo Thạch bị hủy chức Hội Đồng Thành Phố.

Họ vẫn còn kịp thời tham gia vào các buổi nhóm Hội Đồng ngày 1, 14 và 29 tháng 6, đòi số đại biểu người An Nam bằng số người Pháp, quyền bầu cử cho đàn bà, đề nghị trợ cấp hàng tuần người thất nghiệp, mỗi năm ba tuần nghỉ có lương cho người làm mướn, lập nhà an dưỡng cho công nhân, bỏ thuế xe đạp và giảm thuế cho những người buôn bán nhỏ. Dĩ nhiên những đề bạt đó bị toàn thể Hội Đồng bác bỏ, nhưng có tiếng vang trong các tầng lớp dân nghèo.

Tạo và Thạch chỉ được những người đắc cử trong giới thực dân và tư sản tán trợ khi hai người phản đối việc phá hủy các xóm nhà lá và khi họ đòi ân xá cho các tù chính trị.

Tuyển cử thắng lợi, báo Tranh Đấu ra số cuối cùng ngày 2 tháng 6, diễn giải cho thợ thuyền và dân cày những kiến nghị mà hai hội đồng đại diện họ đã đưa ra. Đồng thời phản đối việc ‘’ám sát’’ tờ Trung Lập, đòi tự do ra báo bằng Quốc Ngữ. Đương nhiên là không có kết quả. Tạp chí văn học Đồng Nai do Phan Văn Hùm phụ trách, trong đó có những người như Ninh, Thâu, Tạo, Tường, Chánh...vẫn còn có thể trình bày quan điểm của mình, sẽ bị cấm từ tháng giêng năm 1934. Tờ Phụ Nữ Tân Văn nổi tiếng cũng sẽ bị cấm, tờ báo nầy có cái tên vô hại đã đem lại cho tầng lớp thanh niên một ánh sáng mới rọi vào thế giới. Trong khi đó, một phái đoàn từ Pháp lên đường đi Thượng Hải, đã tới Sài Gòn.

Phong Trào Hòa Bình Amsterdam-Pleyel tới Sài Gòn Tháng 8 năm 1933

Phong trào này do những nhân vật cảm tình cộng sản, những ‘’bạn đồng đi một đường’’ cùng Moscou thành lập, họ tổ chức một cuộc đại hội ở Thượng Hải chống chiến tranh, một đề tài có màu trung lập. Thật ra, họ nhằm hướng giới cần lao đi trệch khỏi nhiệm vụ cách mạng của mình (xem chương X). Phái đoàn do đại biểu cộng sản Pháp là Paul Vaillant Couturier dẫn đầu, cùng với Thượng Nghị Viện Lord Morley phái lao động Anh quốc, Bác Sĩ Marteaux đại biểu ở Bruxelles, Poupy thuộc Đảng Xã Hội Pháp và nhà báo Hamilton, người xứ Irlandais.

Các đại biểu được chính quyền thành phố chính thức đón tiếp, rồi người ta tổ chức cuộc hội họp đầu tiên phản đối chiến tranh tại Nhà Hàng Le Perroquet. Hội Nhân Quyền tập hợp tại đó được 700 người Pháp và Âu Châu Vaillant Couturier, người đã từng lên tiếng phản đối hùng hồn bọn tư bản tài chính thuộc địa, được giới tư bản vỗ tay hoan nghênh - họ hiện đang bị nhà Ngân Hàng Đông Dương siết họng hay hăm he bóp cổ, cùng những viên chức bị giảm lương oán hận Toàn Quyền Pasquier, giới khai thác thuộc địa, chủ đồn điền, đại điền chủ, thương gia...bị cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làm nghiên nghèo hoặc đe dọa phá sản.

Ngày 11 tháng 8, một cuộc họp thứ hai- lần này chống đàn áp và chống chế độ thực dân - tập họp người An Nam tại Rạp Hát Khánh Hội. Trạng Sư Cancellieri cùng Dương Văn Giáo chủ trì, Nguyễn Văn Tạo phó chủ tịch, Nguyễn An Ninh phiên dịch. Một số người An Nam tham gia phong trào thành lập phân bộ Sài Gòn lâm thời.

Ngày 18, phái đoàn rời Sài Gòn đi Thượng Hải, để lại một ảnh hưởng mập mờ trong dân chúng. Một mớ thực dân mặc dù nghịch cộng sản, họ rất thỏa mãn khi nghe ông nghị cộng sản Vaillant Couturier công kích một trong những kẻ họ cho là khả ố nhất, chẳng ai khác hơn là Toàn Quyền Pasquier.

Qua ngày 19 tháng 9, Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ yêu cầu Paris triệu hồi Pasquier về Pháp, đồng thời đề nghị hủy bỏ độc quyền phát hành giấy bạc của Ngân Hàng Đông Dương. Giới thực dân tột bực bất mãn nhóm tư bản tài chính ở đây khi họ biết rằng hồi cuối tháng 9 nhóm này, chúng vừa mới mua được đồn điền La Souchère ở Long Thành với giá rẻ mạc mộttrăm ngàn đồng, họ ước giá phải là hai triệu, chủ đồn điên ấy bị dồn đến bước đường cùng phải bán đấu giá.

Toàn Quyền Pasquier bỏ mạng ngày 15 tháng giêng năm 1934 trong một tai nạn máy bay. Báo Thư Tín Đồng Dươngngày 19 viết:

Ông Pasquier đã qua đời, nhưng trước khi ông rời bỏ chúng ta, ông thốt ra một lời thú nhận quan trọng trước lối 15 đại biểu của công chúng: ‘’Bọn tài chính ở đây cũng mạnh thế lực như ở Pháp. Ông thủ tướng làm gì được đối với các nhà băng, một khi hàng tháng bộ trưởng tài chính buộc mình đi gõ cửa các nhà băng để có tiền trả lương công chức? Mình phải xụi tay.’’

Một tháng sau, chính tờ báo đó lại tố cáo chính phủ thông đồng với bọn tài chính trong vụ tai tiếng về muối: Công ty tài chính Pháp quốc và Thuộc địa được phép khai khẩn ruộng muối, ký giao kèo với chính phủ để cung cấp 450.000 tấn muối với giá 4$50 một tấn, trong khi giá muối trong xứ là 2$70 một tấn.

Nhưng chúng ta hãy quay trở lại tháng 9 năm 1933, với các bạn của chúng ta trong nhóm Tranh Đấu.

Nguyễn An Ninh lại bị truy tố lần thứ ba, lần này bởi anh mở phòng tư vấn pháp luật ở Sài Gòn sinh sống. Ngày 16 tháng 9 anh tuyên bố:

Người ta muốn làm gì tôi? Từ lúc ra tù tôi thử làm tới năm nghề khác nhau. Tôi phải bỏ hết các nghề đó vì những lý do tương tự gần các cái lý do đã dẫn tôi đến trước tòa ngày hôm nay. Nếu như người ta ngăn cản không cho tôi kiếm sống thì tôi sẽ phải làm gì đây? Thật ngạo nghễ buồn cười mà thấy hiện nay tôi bị truy tố vì trước cửa nhà tôi có treo biển ‘’Tư vấn pháp luật’’, thế mà năm 1923, ông Thống Đốc Cognacq đã mời tôi vào làm trạng sư kia mà.

Dù sao tôi cũng cần phải sống. Nhưng người ta lại ngăn cản tôi kiếm sống. Không phải với một trăm đồng bạc một tháng tôi có thể kiếm được ở văn phòng tư vấn của tôi, mà tôi làm thiệt hại các ông trạng sư. Nhưng quả thật trong thời buổi này - anh kết thúc với một nụ cười cay đắng - công việc làm ăn thật hết sức khó khăn đối với họ.(108)

Anh nhớ lại trước khi bị bắt lần thứ hai, anh từng đi bán rong những sách anh viết. Anh từng thử kiếm sống bằng cách bán thứ dầu cù là tự mìnhchế tạo, cù là An Ninh, mà chính anh cỡi xe đạp đi giao cho các điểm bán lẻ ở các tỉnh. Sen đầm Pháp và lính cảnh sát làm khó dễ những người bán lẻ dầu cù là của anh. Ở Sa Đéc, tên Cò Bazin cấm anh qua lại trong tỉnh... Anh đã từng làm phu đánh xe thổ mộ.

Sau khi bị bãi chức Hội Đồng Thành Phố, Tạ Thu Thâu và các bạn tổ chức những cuộc diễn thuyết để truyền bá chủ nghĩa Karl Marx. Ngày 1 tháng 11, tại Hội Tương Tế Giáo Dục, Phan Văn Hùm nói về biện chứng, vượt qua những mâu thuẫn đi đến một tổng kết mới, một khái niệm có thể áp dụng được trong vận động của lịch sử. Ngày 15 Tạ Thu Thâu cũng nói tiếp về đề tài đó, một đề tài mặc dù khó khăn, nhưng trong những ngày tăm tối đó đã phấn khởi số đông thanh niên, thư ký, giáo viên, thợ thuyền...Anh nhấn mạnh tới những mâu thuẫn xã hội dẫn tới những cuộc đấu tranh giai cấp, phong trào cách mạng sẽ đưa đến một xã hội tốt đẹp hơn. Không lâu, Hội Tương Tế Giáo Dục bị mật thám đe dọa, không dám tiếp họ nữa. Liền theo đó tạp chí văn nghệ Đồng Nai bị cấm. Thế chỉ còn cây viết: Tạ Thu Thâu dịch cuốn Những nguyên lý triết học(Politzer, Principes de Philosophie) ra Quốc Ngữ còn Phan Văn Hùm thảo và xuất bản quyển Biện chứng pháp phổ thông. (La dialectique vulgarisée).

1934 ở Pháp: Phát xit bạo động,xã hội và cộng sản hiệp nhứt

Chúng ta đang ở vào tháng 2 năm 1934. Hitler đã nắm chính quyền được một năm: Moscou cảm thấy bị đe dọa và đi tìm đồng minh, trước hết họ ngó về Đảng Xã Hội.

Tại Paris, một cuộc bạo động nổ ra trong đêm 6 tháng hai, toan lật đổ chế độ Cộng Hòa. Các nhóm Bảo Hoàng (Camelots du Roy), Ái Hữu Pháp (Solidarité Française), Thanh Niên Ái Quốc (Jeunesses Patriotes), Hành Động Pháp (Action Française)...tập họp tại Đại Lộ Chapms Élysée, thái độ hằm hằm đe dọa, rồi tỏa về phía Dinh Nghị Viện, cảnh sát nạp đạn bắn tỉa: 15 người chết. Chính phủ Daladier từ chức. Báo Nhân Đạo (Humanité) ngày 7 và 8 tiếp tục tố cáo Đảng Xã Hội là một trong số những kẻ chịu trách nhiệm thực sự, và cùng với phái cấp tiến, họ đã ‘’dọn đường cho bọn phát-xít’’.

Nhưng đảng viên xã hội cơ sở thì khuynh hướng lập mặt trận thống nhất chống nguy cơ phát xít: Ngay từ ngày 7, Tổng Liên Đoàn Lao Động (CGT) thuộc phía Đảng Xã Hội kêu gọi tổng bãi công 24 giờ ngày 12 tháng hai, rồi Tổng Liên Đoàn Lao Động Thống Nhất) (CGTU) dưới ảnh hưởng đảng cộng sản cũng đồng thanh. Cuộc bãi công này sẽ được hưởng ứng đông đảo.

Ngày 8, trong cuộc mít ting do đảng cộng sản Pháp triệu tập tại Quảng Trường Cộng Hòa lập tức một số thanh niên phái xã hội tham dự. Cảnh sát tiếp tục gây tiếng vang: 8 người chết.

Ngày 12, đảng viên xã hội và cộng sản ở cơ sở thân thiện đệ huynh nhau trong cuộc biểu tình khổng lồ tại Vườn Vincennes: Hai đoàn biểu tình thuộc cộng sản và xã hội, đồng hô to ‘’Mặt trận thống nhất!’’

Chẳng bao lâu đảng cộng sản Pháp bỏ từ ngữ ‘’xã hội-phát xít’’, miệt thị Đảng Xã Hội rồi bắt tay với đảng này, phù hợp với sách lược mới của Moscou. Ngày 27 tháng 7, hai đảng công nhân ký kết một ‘’hiệp ước thống nhất hành động để bảo vệ các quyền tự do dân chủ’’.

Rồi sau đó không lâu, cùng đảng tư sản cấp tiến, họ sẽ thành lập một Mặt Trận Bình Dân mạnh mẽ chống lại các đảng phái phát xít.

Sài Gòn, tiến tới một mặt trận thống nhất Tranh Đấu thứ hai tháng 10 năm 1934

Ngày 18 tháng 2, một ‘’Phái đoàn công nhân điều tra’’ từ Paris tới. Một cách chính thức, phái đoàn này do Ủy ban đòi ân xá và Hội Cứu Tế Đỏ Quốc Tế (Secours Rouge International) lập ra. Cuộc điều tra mà họ dự kiến tiến hành bao hàm một dự án mới của mặt trận thống nhất. Phái đoàn do Gabriel Péri, đại biểu của đảng cộng sản Pháp dẫn đầu cùng với Barthel (Cứu Tế Đỏ)(SRI) và Bruneau (Công Đoàn), đã rời Paris ít lâu trước cuộc bạo động nói trên. Péri tiếp xúc Nguyễn An Ninh, sẽ trở thành người đối thoại chính của anh, cùng với Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu, Lê Văn Thử, Phan Văn Chánh...là những người sẽ hướng dẫn họ trong cuộc điều tra.

Họ đã thấu đáo được những gì? Họ nghe thấy trong những xí nghiệp thuộc khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn không hề có gì đảm bảo lao động về mặt luật pháp, thế nên giai cấp cần lao bị phó mặc cho giới chủ người Pháp, người Tàu, cũng như người An Nam. Ngày làm việc quá nặng nề (tới 12 tiếng đồng hồ tại các nhà máy lúa gạo Chợ Lớn, nơi mà người lao động phải thay nhau làm theo ca suốt ngày đêm; 10 tới 11 tiếng tại sở xe điện Sài Gòn; 10 tiếng tại các nhà máy đường ở Hiệp Hòa); tiền phạt, hay gọi là ‘’tiền cúp’’ thường tương đương với một ngày lao động; những lời chửi mắng và những hành động thô bạo không phải là hiếm thấy trong những xưởng nhỏ cũng như trong các đồn điền, đuổi việc và giảm lương là những điều không kêu nài được. Việc bồi thường tai nạn lao động là do giới chủ tùy ý định đoạt. Bãi công là một sự phạm tội; nghiệp đoàn và cả ngay hội ái hữu cũng bị coi là những hội kín và bị truy tố. Từ khi khủng hoảng xảy ra,nạn thất nghiệp càng nghiêm trọng (từ 1930 tới 1933, 40% những người làm công nhật bị sa thải trong 38 xí nghiệp Sài Gòn-Chợ Lớn), nhưng lao động của trẻ em lại được coi là hợp pháp! Tầng lớp phu phen và thợ thuyền không chuyên, chiếm một số lượng lớn trong nhân công Sài Gòn-Chợ Lớn, chỉ kiếm được cả nam lẫn nữ, mỗi ngày 55 xu và 43 xu. Vậy làm sao họ có thể trả được thuế thân, món thuế người nghèo cũng trả đồng như kẻ giàu? Nếu như các đại biểu phái đoàn điều tra ở lại cho đến tháng 6 thì họ sẽ được dự trên các đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn những cuộc săn đuổi người không có giấy thuế thân hoặc chưa đóng thuế thân, thường thường trong thời gian hết hạn nộp giấy này, như tờ Thư Tín Đông Dương ngày 18 tháng 6 mô tả:

Các xe cam nhông nhỏ của mật thám cứ lừ lừ chạy, trong khi hai bên vệ đường mã tà lính kín hô khách qua lại giơ thẻ thuế ra. Những ai không có thẻ hoặc thẻ không hợp lệ đều bị tống lên xe bịt thùng.Mức thuế quá cao đối với giới phu phen và lao động nghèo, họ đành chịu nhốt một ngày và một đêm trong bót khi bị bắt, vì họ không sao kiếm nổi 6 đồng bạc để đóng thuế.

Trong vùng nông nghiệp quanh Sài Gòn, ở Bà Hom, Đức Hòa, Hiệp Hòa, Lộc Giang... những nơi mà trận khủng bố 1930-1931 còn làm cho con tim của từng người se thắt lại, những nơi mà biết bao kẻ ‘’tay lấm chân bùn, cày sâu cuốc bẫm’’ đã ngã gục xuống trước làn đạn trong các cuộc biểu tình hòa bình chống lại thứ thuế thân ấy, cảnh tượng thật rõ ràng: Dù là làm mướn thường trực, từng mùa hay công nhật, những công nhân nông nghiệp bao giờ cũng sống trong cảnh tột bực khốn cùng. Những người làm mướn thường xuyên (1 hoặc 2 người làm công khai thác 10 hecta) mỗi năm kiếm được khoảng 30 đồng bạc hèn mọn; nông dân làm mùa hay làm công nhật (công cấy, công gặt...) mỗi năm làm mướn từ 4 đến 5 tháng, di chuyển từ miệt ruộng này sang miệt bưng khác tìm cách cho thuê đôi cánh tay lao động của mình để đốn củi, chèo ghe, khuân vác, phu phen tạp dịch khi công việc đồng áng đã hết...

Đối với tá điền, một điện tín của Trạng Sư Idylle, một nhà thực dân, gửi Thống Đốc Nam Kỳ, và một bức thư, cũng của ông Idylle, gửi chủ tỉnh Châu Đốc, đăng trong tờ Thư Tín Đông Dương ngày 27 tháng 3 sẽ cho ta biết coi các vị đại biểu phái đoàn điều tra có thể nhận xét về điều gì:

Xin trân trọng gửi tới quý ông lời cực lực phản kháng những vụ khuấy nhiễu công việc nhà nông chủ yếu xảy ra trên đồn điền của ông Dargelots và Idylle ở Tri Tôn (Châu Đốc), vụ các đội lính lưu động đi tuân tra bắt thuế thân ngày thứ Sáu các tá điền bị đe dọa bắt bỏ tù, ngày thứ Ba họ áp dụng quá lạm Chế độ đặc biệt đối dân bản xứ (Indigénat), chế độ vô nhân đạo, chế độ ấy đã bị giả định là hủy bỏ.

Những ai là tá điền trên những đồn điền của tôi và của ông Dargelots họ đượccái may mắn là được lãnh trước thóc ăn và lúa giống mà họ chỉ có thể hoàn trả chút đỉnh thôi. Tôi phải buộc mình hủy bỏ tất cả các khoản nợ nần của họ toàn bộ và vĩnh viễn. Quả thực tôi phải nhìn nhận rằng số thóc còn lại cho họ, sau khi góp địa tô, sẽ không đủ cho họ - bởi giá lúa bị sụp -, chu cấp cho mình những nhu cầu tối cần thiết và càng không thể đóng nổi thuế thân.

Những cư dân trong vùng mà không được trợ giúp, không vay mượn trước được giống má và thực phẩm thì họ còn rơi vào tình trạng thảm hại hơn nữa. Tất cả bỏ ruộng đồng, họ trở thành một chòm dân hoang đàng bị lính lưu động của ngài đi tuần tra giải tán.

Trong thời gian ba đại biểu của phái đoàn lưu lại trong xứ, luôn luôn một lũ mật thám bám gót. Người ta ngăn cản họ điều tra ở Trung Kỳ, nơi mà tình cảnh khốn khổ trần truông trước mắt, và sau khi đi Phnom Pênh trở về, mọi cuộc hội họp điều trần của họ đều bị cấm.

Khi phái đoàn rời Sài Gòn ngày 18 tháng ba, Gabriel Péri đã trù bị được một dự án thỏa hiệp giữa các nhóm cách mạng theo Staline, Trotski và xu hướng quốc gia, đạng tái bản tờ báo Tranh Đấu có đảng cộng sản Pháp ủng hộ. Nguyễn An Ninh kiên trì nhấn mạnh với Péri về sự cần thiết phải có Tạ Thu Thâu cùng các bạn của anh hợp tác, họ là những chiến sĩ đấu tranh nhiệt tâm hăng hái và có khả năng sử dụng Pháp văn, họ có thể là một thuận lợi may mắn cho tờ báo tiếng Pháp.

Cuộc liên minh nói trên, do một lãnh tụ quan trọng của đảng cộng sản theo Staline ở Pháp gây dựng lên dường như nghịch lý: Ở Liên Sô, phải chăng Staline đã truy nã những phần tử khả nghi có đôi chút theo ‘’chủ nghĩa Trotski’’ đó sao ? Và các đảng cộng sản trên thế giới đã chẳng theo gương Staline mà tới tấp chửi rủa cánh cộng sản Tả Đối Lập quốc tế đó sao? Tuy thế liên minh đó cũng tồn tại được gần ba năm.

Dù theo Staline hay theo Trotski, những người trong liên minh cũng đều đồng ý với Nguyễn An Ninh trong cuộc đấu tranh chung chống kẻ thù trước mắt là chính quyền thực dân và Đảng Lập Hiến, chỉ giới hạn trong một tờ báo chuyên bênh vực thợ thuyền, phu phen và dân quê, không màng đến chủ nghĩa Staline hay chủ nghĩa Trotski, trong khi cùng nhau truyền bá tư tưởng Karl Mac, cơ sở lý luận chung. Các bài báo sẽ không ký tên dưới (không quảng cáo cá nhân, không biểu lộ những xu hướng ly tâm).

Báo Tranh Đấu (La Lutte) lại tái bản ngày 4 tháng 10 năm 1934.

Trịnh Hưng Ngẫu rời khỏi nhóm sau tờ số 3, dường như bất mãn vì anh không được phát biểu lý tưởng vô chính phủ trong tờ báo. Một người từ Moscou về là Dương bạch Mai, và một người khác từ Côn Đảo về là Nguyễn Văn Nguyễn, theo Staline, nhập vào tăng cường nhóm vào năm 1935-1936.

Đợt phát hành đầu tiên của tờ Tranh Đấu mới (số 5) có mang tiêu đề Một giai cấp bị áp bức là điều kiện sống còn của mọi xã hội xây dựng trên sự đối kháng giữa các giai cấp. Chính giai cấp bị áp bức đó, bao gồm phu phen, thợ thuyền, bồi bếp, bần nông, cố nông...mà báo Tranh Đấu không ngưng lên tiếng bênh vực, bằng thông tin, bằng từng ngày tố cáo chế độ thực dân trong mọi sự bất công lớn nhỏ, hướng dẫn họ có mức độ vào cuộc đấu tranh cho một đời sống khác.

Thống Đốc Pagês nói như thế nầy trong bản tường trình của y ngày 29 tháng 10 năm 1935:

Tờ báo chuyền từ tay người này sang tay người khác, được dịch ra nếu cần thiết, được bình luận trong các nhóm nhỏ. Nó đại diện cho những tập đơn thỉnh nguyện của tất cả những ai bất mãn với nhà chức trách, hoặc bị kích thích hoặc tự phát ý, toàn cả những điều thỉnh nguyện từ trước tới giờ chưa hề có. Tờ báo thể hiện sự dũng cảm của lực lượng dân chúng tự ý thức được quyền lợi của mình, dám ngỏ lời với một chính quyền đang bị bối rối trước làn sóng đấu tranh dâng cao.(109)

Ta hãy xem qua số 5 của tuần báo đó. Tờ báo mở đầu bằng một bài lý luận bàn về cuộc khủng hoảng kinh tế đã tác động đến Đông Dương từ bốn năm qua. Đối với các đề cập của giai cấp tư sản thực dân và bản xứ, để giải quyết từ hiện tượng địa phương bằng giải pháp hành chính, báo Tranh Đấuđưa ra giải pháp riêng của mình: Cuộc khủng hoảng có nguồn gốc từ những mâu thuẫn đối kháng của chủ nghĩa tư bản; mở đầu là vụ phá sản phát ra năm 1928 ở New York, rồi lan tràn khắp các địa phận khác trên thế giới. Muốn tránh khỏi khủng hoảng thì phải đánh đổ chế độ kinh tế đó, ‘’như nhà kinh tế học Karl Marx đã chứng minh’’; giải pháp có tính chất cách mạng và toàn cầu.

Bên cạnh bài báo số 5 đó, có những bài công kích chớp nhoáng, dễ đọc, tập trung quanh những chủ đề xã hội An Nam, làm cho độc giả chú ý: Một bài về tiểu sử trả đũa Bùi Quang Chiêu, một kẻ lập hiến hành tiến, tự nguyện phục vụ cho bọn ‘’cá mập Rượu Fontaine và Homberg’’; một bàicông kích Toàn Quyền Robin về những biện pháp của hắn ân xá tù gần đây, những biện pháp để làm cho ‘’những nhà cách mạng đích thực phải chết dần chết mòn trên nền đất ẩm ướt trong hầm giam’’; một bài về ‘’sự giễu cợt cay đắng’’, là việc giảm thuế thân một cách tiểu mọn (một nửa đồng), theo lẽ công bằng thì phải hủy bỏ thứ thuế đó đi; về việc không có tự do nghiệp đoàn, bài báo mới đây minh họa tình trạng ấy, lấy vụ Ngô Văn Hoan, thợ bạc, cộng sản, người đã chủ trương lập nghiệp đoàn thủ công bị kêu án một năm tù.

Báo Tranh Đấu sẽ luôn luôn giữ cái xu hướng kép là: Một chút lý luận, nhưng cũng phô bày nhiều sự kiện lấy từ trong những diễn biến trực tiếp trong đời sống thợ thuyền (bãi công, công hội, lương, tai nạn lao động v.v...), trong cuộc sống của nông dân (tố cáo bọn địa chủ tước đoạt đất đai, những hào lý tham nhũng, phô bài những hành động thô bạo của bọn thực dân), sự độc đoán và lạm dụng của bọn cầm quyền cai trị, những đòn tra tấn của bọn mật thám, những hành vi bạo tàn của lính cảnh sát. Có những bài về đời sống trong ngục thất tù đồ, những vụ án, thái độ trơ trẽn vô liêm của quân có của, về những người lập hiến...Cứ thế đó tờ báo toan dẫn dắt người đọc đi tới chỗ tự giải phóng.

Để giải thích những quan điểm của Karl Marx, tờ Tranh Đấu bàn về phong trào công nhân Thế Kỷ XIX, và cứ hàng tuần như thế minh họa bằng lịch sử đang hình thành trên thế giới. Tờ báo làm cho độc giả xúc động qua việc giới thiệu những cuốn sách như Người Mẹ của Gorki, Đông Dương kêu cứu (Indochine SOS) của Andrée Viollis, Mười ngày rung chuyển thế giới của John Reed. Tờ báo làm cho độc giả cười qua mục ‘’Những cây đinh nhỏ’’ (Petits Clous) từ tháng 6 năm 1935 như: Tuần lễ lố bịch nực cười (La semaine du ridicule), Tính e thẹn tư sản (La pudeur bourgeoise), Lợn vạn tuế! (Vivent les cochons!), Cảnh sát cấm cười(La police défend le rire), Vô khiếm nhã, đạo đức của thực dân (Immodestie, vertu coloniale)... Tính hài hước khoáng đạt của tờ báo làm cho người ta ham đọc, những ‘’truyện cực ngắn’’ vẫn hấp dẫn những ai buồn ngủ, và một mục ‘’Diễn đàn độc giả’’ để mọi người tự do phát biểu ý kiến.

Ngày tháng dần qua, những thông tín viên tự nguyện nảy sinh khắp chỗ, họ viết bài thông tin tức lao động trong các xí nghiệp, các trường học ở Sài Gòn-Chợ Lớn, trong các đồn điền, sở cao su cùng ở tận những miền quê xa xôi. Thông qua họ, ảnh hưởng của những người hoạt động ‘’hợp pháp’’ mở rộng thêm song song với những người hoạt động ‘’bí mật’’.

Thường thường một tờ báo được truyền từ tay nọ sang tay kia, họ cùng nhau dịch, cùng nhau tìm cách hiểu được nội dung.

Năm 1935 tại Nam Kỳ

Đầu năm 1935 đã thấy nông dân Sóc Trăng (Cù Lao Dung) phản kháng, cầm dao mác chống lại bọn cảnh binh đến tịch thâu 8000 giạ lúa. Rồi đến dân ở rừng núi (Phnong và Mọi) tấn công các đồn lính, họ không sao trả được thuế thân vì cuộc khủng hoảng đã làm tê liệt các trại sở làm của nhà nước, nơi mà họ cố gắng một cách vô vọng để kiếm được đủ số tiền ghi trên thẻ.

Tháng 5.1935, một mẻ lưới mật thám tung ra: Bốn người ‘’từ Moscou trở về’’, trong đó có Trần văn Giàu, và hơn 150 đảng viên và cảm tình cộng sản (6 phụ nữ), cùng với cả Deschamps, liên lạc viên giữa đảng cộng sản Pháp và đảng cộng sản Đông Dương, thợ cơ khí trên tàu D'Artagnan, đều bị bắt. Hai mươi bốn người trong số đó bị tòa tiểu hình kết án từ 10 tháng đến 7 năm tù, vì mưu toan tái lập đảng cộng sản. Trong khi chờ đợi kháng án, họ bị đưa lên tàu ngày 29 tháng 7 ra Côn Đảo, một sự lạm pháp, mà chính ông Biện Lý Dupré đã tố cáo với Thống Đốc Pagês (báo La Lutte ngày 9 tháng 11 có đăng thư ấy). Tòa Thượng Thẩm xét án lại vào tháng 8, chỉ xác nhận hoặc gia tăng án tù.

Đàn áp và náo động liên miên tới cuối năm. Tại Tòa Thượng Thẩm xử mươi nông dân cộng sản Bến Tre vào tháng 11, họ phản đối tại pháp đình tung hô ‘’Đả đảo đế quốc!’’. Mỗi anh bị tăng thêm án tù 5 năm vì tội ‘’phản loạn’’.

Ở Côn Đảo, vào tháng 8 và tháng 9, tù tuyệt thực nhiều đợt để phản đối việc ăn uống tồi tệ, lao dịch nặng nề và chống bọn ngục tốt đối xử vũ phu. Tại Khám Lớn Sài Gòn, tù chính trị cũng tuyệt thực như thế, Thống Đốc Pagês đành phải cho cải thiện đôi chút về chế độ nhà tù (hai gian khám giam lớn tương đối có thoáng khí và thường mở cửa, mỗi gian khám có đặt vài khạp nước, mỗi buổi sáng tù người Miên khiêng nước lên đổ đầy vào; mỗi tuần hai lần được tắm thoải mái ở hồ tắm chung đồng thời được giặt giũ ở đó; mỗi ngày được thả ra đi đứng trong sân hẹp dài theo cửa khám hai tiếng vào buổi sáng và buổi chiều; mỗi tháng một lần được phép mua đồ ăn, thuốc lá và các dụng cụ vệ sinh, có thể nhận sách vở).

Mấy anh phu đánh xe thổ mộ bãi công, họ bị bắt buộc phải mua giấy phép lái xe mới được lưu hành. Những khoản tiền phạt và những bó buộc khác nữa làm cho họ phải bỏ nghề, có lợi cho Công ty xe điện Pháp. Nhiều nhà nông trồng thuốc lá bị phá sản, họ bị nhà nước ra chỉ thị năm 1931 hạn chế bắt buộc nhiều đều gắt gao về việc trồng thuốc lá, nhằm thiết lập một độc quyền nhà nước, khiến nông dân trồng thuốc phải nhổ đi hàng ngàn cây thuốc lá trong các Tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một; tất cả những cái đó làm cho người ta bất mãn không xiết.

Cuộc tuyển cử Hội đồng quản hạt, tháng 3 và Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn tháng 5 năm 1935

Sau khi báo Tranh Đấu ra được hai chục số thì đến thời hạn bầu cử Hội Đồng Quản Hạt, ngày 3 và 17 tháng 3 năm 1935, một loại hội đồng tư vấn không có quyền quyết định, nhưng đấy là một diễn đàn để các đại biểu đắc cử thuộc Sổ Lao Động có thể ‘’phát biểu với toàn dân và đóng góp vào việc tổ chức cuộc đấu tranh giành chính quyền nhân dân’’. Họ sẽ đòi ân xá hết thảy tù chính trị, lập một nghị viện theo lối phổ thông đầu phiếu, tự do lập nghiệp đoàn, tăng lương, phân chia ruộng đất công cho những người làm công nhật, và liền ngay bấy giờ phân phối cho nông dân nghèo số ruộng bỏ hoang 300.000 hecta và chia số lúa thóc trữ trong các kho vựa của địa chủ đã hà lạm vơ vét, và đồng thời đòi bỏ thuế thân.

Nhóm Tranh Đấu giới thiệu 6 ứng cử viên, 3 người xu hướng Staline (Dương bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn) và 3 người theo tư tưởng Trotski (Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường và Trần Văn Thạch). Bị cấm họp mít ting, họ tổ chức những cuộc họp dưới hai chục người, như vậy là hợp pháp, và phân phát hàng ngàn truyền đơn in. Không có người nào được đắc cử (đấy là một cuộc bầu cử hạn chế, phải đóng thuế đến một mức mới có quyền bỏ phiếu hoặc ứng cử, do đó trong số 4 triệu dân Nam Kỳ, chỉ có 28.000 cử tri có quyền bỏ phiếu), nhưng họ được số phiếu bầu hơn nhóm lập hiến 17%. Như vậy chương trình của họ có ảnh hưởng tích cực. ‘’Sắc luật giết tự do’’ ngày 10 tháng 4 năm 1935 nhắc nhở ngay họ rằng ‘’đụng chạm tới uy tín của chính quyền Pháp’’ sẽ bị đàn áp.

Hai tháng sau, ngày 6 và 12 tháng 5, cuộc tuyển cử Hội Đồng Thành Phố đã khẳng định ảnh hưởng lớn mạnh của nhóm Tranh Đấu trong giới tiểu tư sản và dân đen ở châu thành: Một đại biểu xu hướng Trotski, Thâu và một bạn cảm tình là Thạch, và hai đảng viên theo Staline, Tạo và Mai, được bầu làm hội đồng thực thụ, còn nhóm lập hiến thì chỉ được một hội đồng thực thụ.

Ngày 27 tháng 6 năm 1935, Tạ Thu Thâu bị kết án hai năm tù treo, về tội tham gia vào ‘’hội kín Tả Đối Lập’’ những năm 1931-1932, bản án Tòa Thượng Thẩm phúc chuẩn ngày 10 tháng 9; anh vẫn là hội đồng đương nhiệm và tờ báo Tranh Đấu càng được dân chúng hoan nghênh phổ biến thêm rộng rãi: Ấn bản lên tới 1500.

Chính quyền thực dân khó mà chịu đựng được việc sử dụng cái diễn đàn đó để làm cách mạng: Bốn đại biểu của nhóm Tranh Đấu bị bắt ngày 26 tháng chạp năm 1935, sau đợt lục soát nhà riêng của họ và trụ sở báo Tranh Đấu, lấy cớ là họ đã khuyến khích bãi công 2500 phu xe thổ mộ. Quả thực, họ được thả ‘’sau khi xác minh căn cước’’, rồi tờ báo thực dânThư Tín Đồng Dương cũng đồng lòng với họ mà phản đối (báo ấy viết ‘’nếu cứ cho phép người ta dẫm đạp quyền của các đại biểu nhân dân thì một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ trở thành nạn nhân của những sự lạm quyền đó’’). Vụ này đã gây ầm ĩ trong dư luận: Việc bắt bớ đó tỏ ra bọn thống trị quá vụng về.

Hiệp Ước Laval-Staline

Một tiếng sét trong thế giới cách mạng: Ngày 2 tháng 5 năm 1935, Staline ký với Laval ‘’hiệp ước hỗ tương Pháp-Sô’’; Staline chính thức chấp nhận cho nước Pháp phát huy lực lượng quân sự để bảo đảm an ninh. Ngày 3, báo Nhân Đạo, cơ quan của đảng cộng sản Pháp viết: ‘’Staline có lý’’, rồi ngay sau đó đảng cộng sản giải tán bộ máy hoạt động bí mật trong quân đội Pháp. Người ta sẽ thấy đảng cộng sản ngoan ngoãn cố gắng dập tắt mọi tinh thần chống quân sự và ra mặt ủng hộ toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc tam tài. Mặc dù không sao tránh khỏi những phản kháng trong nội bộ, lần lần đảng cộng sản Pháp đứng hẳn theo chỉ thị Staline, đến đổi họ không ngần ngại kêu gọi người An Nam, năm 1938, đứng lên bảo vệ cho ‘’nước Pháp đang bị (Nhật Bản) đe dọa ở Đông Dương’’.

Tại Moscou, Quốc Tế Cộng Sản nhóm đại hội lần thứ 7 và cũng là lần cuối cùng (25 tháng 7 tới 20 tháng 8 năm 1935), hủy bỏ các chỉ thị năm 1928 do đại hội trước gửi cho các phân bộ cộng sản, hủy bỏ chính sách ‘’thời kỳ thứ ba’’, chính sách cấp thời lật đổ chế độ tư bản toàn thế giới. Để ngăn chặn nguy cơ Hitler, Liên Sô kiên quyết dấn bước trên con đường tìm cách liên minh với chủ nghĩa đế quốc Pháp.

Để chống ‘’kẻ thù chính’’, lúc này phải thành lập những Mặt Trận Bình Dân, đó là nhiệm vụ cấp thời của các đảng cộng sản; ở Pháp không những phải liên minh với Đảng Xã Hội cải lương mà còn đưa tay với đảng tư sản cấp tiến. Nói cách khác: Loại bỏ khẩu hiệu lật đổ chủ nghĩa tư bản. Xu hướng này có tiếng vang lớn trong giới cấp tiến Pháp: Daladier, bị đe dọa bên cánh hữu, nên rất hài lòng chuẩn bị một Liên minh mới, mở rộng cho đảng cộng sản Pháp vào, rồi từ đó cộng sản không còn tung hô‘’hãy treo cổ Daladier!’’ nữa, mà họ lại kêu gọi ‘’Daladier lên chính quyền!’’.

Ngày 14 tháng 7, theo lời kêu gọi của Hội Nhân Quyền, Blum (thủ lĩnh Đảng Xã Hội), Thorez (cộng sản) và Daladier (Cấp Tiến) công khai tuyên thệ ‘’đoàn kết để bảo vệ những quyền tự do dân chủ nhân dân nước Pháp đã giành được’’.

Từ tháng 9, người ta bắt đầu thảo luận một chương trình tuyển cử chung trong đó cấp tiến và cộng sản sẽ thanh toán mọi tinh thần cách mạng. Những lĩnh vực do đảng viên xã hội đề nghị quốc hữu hóa bị lược bỏ, chỉ giới hạn quốc hữu hóa kỹ nghệ chiến tranh. Tuần lễ làm việc 40 giờ không thấy nêu ra.

Đối với đảng cộng sản Đông Dương, một ít lâu về sau họ mới điều chỉnh con đường chính trị của mình. Ngày 1 tháng 7 năm 1935, bản tuyên ngôn thảo cho Đại Hội Macao còn viết: ‘’Hãy phản đối khủng bố trắng trợn dã man của đế quốc Pháp ở Đông Dương. Cách mạng chống đế quốc và cách mạng ruộng đất ở Đông Dương muôn năm!’’.

Cuối năm 1935, khuynh hướng cách mạng phản đế và cách mạng điền địa đó vạch ra từ năm 1930, bấy giờ phải thay đổi cho phù hợp với những quyết định cải lương của đại hội 7 Quốc Tế Cộng Sản. Lần lược đảng cộng sản Đông Dương sẽ nối gót đảng cộng Sản Pháp, đứng dưới bóng cờ tam sắc để phòng thủ Đông Dương.

Phái đối lập theo Trotski hoạt động bí mật

Báo Tranh Đấu im tiếng đối với Hiệp Ước Laval-Staline. Họ dằn lòng không phê phán chính sách hữu khuynh của Quốc Tế Cộng Sản. Những người xu hướng Trotski hoạt động hợp pháp làm thinh, vì đã giao ước với phái theo Staline - không chỉ trích nhau - trong mặt trận thống nhất Tranh Đấu. Sự suy thoái của Quốc Tế Cộng Sản, đường lối mới áp đặt cho đảng cộng sản Đông Dương cần phải cấp bách phê phán tận gốc. Những người theo Trotski hoạt động bí mật sẽ thực hiện nhiệm vụ đó.

Người ta nhớ lại Lư Sanh Hạnh, phần tử phân liệt của đảng cộng sản Đông Dương, người đã tiếp xúc với phái Tả Đối Lập, bị án 15 tháng tù hồi tháng 9 năm 1933. Vừa được thả ra năm 1935, anh gặp Hồ Hữu Tường khuyến khích, Lư Sanh Hạnh cùng Ngô Văn Xuyết, một nhân viên thư ký và Trịnh Văn Lầu, sinh viên (học trò cũ của Tạ Thu Thâu) bí mật thành lập ‘’Chánh đoàn cộng sản quốc tế chủ nghĩa-Phái tán thành Đệ Tứ Quốc Tế’’, cảm hứng theo cái tên do Phái Tả Đối Lập quốc tế đặt ra từ 1933, trước tình hình ‘’không thể chiến đấu chung dưới một mái nhà cùng Staline’’, như Trotski đã nói.

Tháng 10 năm 1935 tổ chức này bí mật xuất bản một tạp chí lý luận, nhan đề Cách mạng thường trực, (chữ nhà in) và một tờ báo chiến đấu (in Roneo) Tiền Đạo. Hành động thực tế đầu tiên là ủng hộ cuộc bãi công những người đánh xe thổ mộ hồi tháng chạp năm ấy.

Tổ chức này nhắc lại những luận điểm phê phán cũ của những người cộng sản đối lập, và nêu thêm rằng các đảng cộng sản không nên để mìnhbiến thành một lực lượng chỉ đóng vai trò phò trợ chính sách đối ngoại của Liên Sô. Họ nói nếu chiến tranh đế quốc nổ lên, thì nhiệm vụ của các đảng cộng sản là phải biến đổi đế quốc chiến tranh thành nội chiến cách mạng. Giai cấp vô sản phải hành động cách mạng để bảo vệ Liên Sô.

CHÚ THÍCH

107.- Ba chục năm sau cụộc đàn áp khủng khiếp tiếp theo Công Xã Paris năm 1871, các lực lượng thợ thuyền tập hợp lại trong tổ chức CGT (Tổng Liên Đoàn Lao Động). Trong Đại Hội lần III tại Amiens năm 1906, những nguyên tắc chủ nghĩa công đoàn cách mạng, hình thành từ năm 1902, đã khẳng định trong một bản quyết nghị nổi tiếng gọi là Hiến Chương Amiens, và đây là những điều chủ yếu: ‘’Yêu sách hàng ngày chỉ là một mặt của sự nghiệp công đoàn; nó song song cho việc chuẩn bị giải phóng hoàn toàn giai cấp vô sản. Chiến thuật là hành động trực tiếp (nghĩa là không qua nghị viện) với đỉnh cao là tổng bãi công. Trong tương lai (sau cách mạng), công đoàn sẽ là các nhóm sản xuất và phân phối, cơ sở để tổ chức lại xã hội. Công đoàn tuyên bố không dính dáng gì đến mọi đảng chính trị và các phái triết học. Công đoàn cách mạng chủ nghĩa cũng tự biểu thị như một hệ thống toàn vẹn, đối diện các tổ chức khác, xu hướng xã hội và vô chính phủ. Chỉ tổ chức này là duy nhất có khả năng bảo đảm quyền lợi cho giai cấp công nhân ngày nay và cũng là tổ chức duy nhất có khả năng hướng dẫn giai cấp công nhân trong tương lại đi tới hoàn toàn giải phóng cho mình. Thế nên về mặt hình thức nó mang tính chất đối lập với mọi đảng phái. Lập trường này của công đoàn chủ nghĩa cách mạng đã được duy trì và khẳng định trong mọi trường hợp cho mãi tới cuộc chiến tranh (1914-1918)’’ (Alfred Rosmer, Le mouvement ouvrier pendant la guerre, de l'union sacrée à Zimmerwald (Phong trào công nhân trong thời gian chiến tranh, từ liên minh thần thánh cho tới Zimmerwald), Paris 1936, trang 21-22).

108.- L'Impartial, 18.9.1933.

109.- D. Hémery, Révolutionnaires vietnamiens...,trang 76.

« Lùi
Tiến »