Lời người dịch Nếu được phép, tôi sẽ đặt tên cho bản dịch tiếng Việt này là Trí thức phải làm gì?. Rồi thêm vào một tiểu đề với cỡ chữ nhỏ hơn: Để xây dựng và bảo vệ dân chủ. Và có lẽ tôi sẽ nài nhà xuất bản thêm một dòng nhỏ hơn tí nữa: Những bài học từ hiểm họa bá quyền hiện nay của Hoa Kỳ. Tôi tin rằng khi đọc hết cuốn sách này với tinh thần của một người ham học và nặng lòng với cả quá khứ lẫn tương lai của quê hương, bạn có thể sẽ đồng ý với tôi về cái đầu đề nói trên. Rồi chắc rằng, cũng như tôi, bạn sẽ vội vàng giới thiệu nó với mọi người; bởi lẽ cũng như tôi, bạn sẽ thấy rằng những gì bạn học được hoặc vỡ nhẽ ra từ những câu chuyện trong cuốn sách này thật quan trọng và cần thiết với tất cả chúng ta. Đây không phải là những bài luận thuyết hàn lâm về chính trị, mà là những câu chuyện sinh động đầy ắp thông tin và phân tích khúc chiết của hai trí thức Mỹ nói với nhau về những vấn đề của chính nước Mỹ, có liên quan mật thiết đến nhiều vấn đề của thế giới, trong đó có Việt Nam. Không có gì hay và bổ ích bằng những hội thoại tức thời và không có dàn dựng gì như thế. Chúng giúp ta hiểu được chính sự Mỹ sâu sắc hơn rất nhiều những bài giảng thông thường. Có lẽ đây là phần tri thức rất cần cho chúng ta, đặc biệt là hiện nay, khi quan hệ Việt-Mỹ đang bước vào một giai đoạn mới. Và khi đã hiểu thêm về người, ta cũng sẽ hiểu thêm về mình, những vấn đề của mình, những việc mình cần phải làm. Ấy là cái giá trị rất đặc biệt của cuốn sách này. Noam Chomsky là một nhà khoa học thực chứng nghiêm cẩn, nhưng cũng là một con người nhân văn lí tưởng không bao giờ chịu thỏa hiệp và đầu hàng với cái xấu, và nhiều xác tín của ông về tương lai có vẻ xuất phát từ giả định “nhân chi sơ tính bản thiện” – một giả định có lẽ đang bị tất cả chúng ta nghi vấn. Nhưng ông bắt chúng ta phải nhớ lại lòng trung thực và dũng cảm của mình, và quan trọng hơn, nhớ ra trách nhiệm của mình. Trách nhiệm đặt câu hỏi. Trách nhiệm thực chứng mọi vấn đề. Trách nhiệm nói lên sự thật. Trách nhiệm phải vượt thoát và biết khinh bỉ căn bệnh vô cảm vốn là mảnh đất mầu mỡ nhất của cái xấu và tội ác. Cuốn sách này cũng khiến ta hiểu ra rằng muốn có dân chủ thực sự, nền giáo dục và cơ chế chính trị của một quốc gia phải có ý thức và mục đích đào luyện nên những trí thức và công dân có tư tưởng tự do và độc lập, có trách nhiệm, can đảm, và khả năng cải biến xã hội, chứ không phải chỉ để sản xuất ra một hàng ngũ “tay sai đắc lực” cho thế lực bá quyền thống trị hoặc một lực lượng lao động mù quáng chỉ có kĩ năng tinh xảo và mong muốn đáp ứng có hiệu quả nhu cầu ốc vít tay quay trong bộ máy làm tiền khổng lồ của xã hội toàn cầu hóa hiện đại. Bài giới thiệu của David Barsamian và phần nói về Dự án Bá quyền Mỹ ở cuối sách sẽ giúp bạn hiểu thêm về bối cảnh rất đáng chú ý của cuốn sách này, tôi không cần phải nói gì thêm. Một vài tiêu đề như “Ngôn ngữ song hành” hoặc “Tự vệ tri thức” có thể được dịch khác đi để phản ánh nôm na hơn chủ đề của những chương này, nhưng tôi đã quyết định để nguyên như vậy, vì chúng là những khái niệm đáng được có mặt trong từ vựng chính trị đương đại của tiếng Việt. Để bạn đọc tiện tra cứu, tôi vẫn giữ nguyên tên tiếng Anh của các nguồn tài liệu, nhất là trong phần Chú thích đánh số theo từng chương xếp ở cuối sách. Còn với những chi tiết là hiển nhiên với người Mỹ mà chưa chắc đã hiển nhiên với người Việt thì tôi có giải thích ngay ở dưới trang, đánh số liên tục chứ không theo từng chương. Tôi xin tri ân sâu sắc Nhà xuất bản Tri thức đã chấp nhận cuốn sách này vào Tủ sách Tinh hoa của mình. Quả thực, hằng số hiển nhiên nhất của tri thức nhân loại có lẽ là tính sống động và cấp thiết của nó. Và Nhà xuất bản Tri thức đã thấy rõ cái hằng số này trong những tác phẩm viết về chính trị của Noam Chomsky. Hy vọng chúng ta sẽ có thêm những tác phẩm khác nữa của ông được dịch và giới thiệu ở Việt Nam. Hà Nội, 1/8/2006 [1].Trịnh Lữ.
❊ ❊ ❊
Chú Thích.
[1]Ngày Ủy ban Tài chính Thượng viện Mỹ bỏ phiếu thông qua qui chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt Nam
[2]Bản tin thế giới của đài BBC ngày 03/12/2004
[3]Thomas E. Ricks, Washington Post, 09/05/2004
[4]PIPA/Knowledge Networks Poll, thông cáo báo chí, 03/12/2003; cùng các điều tra dư luận khác của PIPA
[5]Edmund L. Andrews, New York Times, 03/12/2004
[6]“baby boomers”: những người ra đời trong thời kỳ sau Đại chiến Hai, nghĩa là trong những năm từ 1945 đến 1955, khi các gia đình ở Mỹ đẻ rất nhiều con theo đà kinh tế thịnh vượng lúc bấy giờ.
[7]Adam Smith, An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations (1776) (University of Chicago Press, 1996), tập 4, chương
[8]David Ricardo, The Principles of Political Economy and Taxation (Dover, 2004), trang 83-84
[9]Lord Hutton, “Report of the Inquiry into the Circumstances Surrounding the Death of Dr. David Kelly C.M.G.,” 28/01/2004
[10]Nguyên văn: “sexed up”
[11]Noam Chomsky, Necessary Illusions (South End Press, 1989), trang viii
[12]David Hume, Of the First Principles of Government (Longmanns, Green and Company, 1882), chương 1
[13]KidsPost, Washington Post, 12/11/2004
[14]Xem Howard Zinn, SNCC, ấn bản cập nhật (South End Pres, 2002); và Zinn, You Can’t Be Neutral on a Moving Train, ấn bản cập nhật (Beacon, 2002).
[15]Ralph Atkins và các tác giả khác, Financial Times, 22/11/2004
[16]Xem thêm chi tiết: Roger Morris, New York Times, 14/03/2003; và Said K. Aburish, Saddam Hussein (Bloomsbury, 2002).
[17]Reginald Dale, Financial Times, 01/03/1982. Xem thêm Reginald Dale, Financial Times, 28/11/1984.
[18]Thomas L. Friedman, New York Times, 14/05/2003
[19]Xem: Anthony Armove (chủ biên), Iraq Under Siege, ấn bản cập nhật (South End Press, 2002); và John Mueller & Karl Mueller, Foreign Affairs 78, số 3 (tháng 5-6, 1999).
[20]Les Roberts và các tác giả khác, The Lancet 364, số 9448 (20/11/2004). Xem thêm bài bình luận về bản tường trình này của Richard Horton, The Lancet 364, số 9448.
[21]H. Bruce Franklin, War Stars (Oxford University Press, 1988).
[22]Lyndon Johnson, Congressional Record, 15/03/1948, Hạ Nghị viện, Khóa họp 80, Kỳ họp 2, tập 94, phần II (Government Printing Office, 1948), trang 2883.
[23]Lyndon Johnson, Nói chuyện với binh sĩ Mỹ và Triều Tiên tại Camp Standley, Triều Tiên, ngày 01/11/1966, Public Paper of the Presidents, 1966, Book II (Government Printing Office, 1967), trang 253
[24]Noam Chomsky, Hegemony or Survival (Owl Books, 2004), trang 1-2, 236-37
[25]John Steinbruner & Nancy Gallagher, Daedalus 133, số 3 (Hè 2004)
[26]Noam Chomsky là tác giả của rất nhiều sách best-seller về chính trị, từ cuốn Thế lực Mỹ và những tên quan lại mới ra đời từ thập kỷ 60 đến cuốn Bành trướng hay sống còn xuất bản năm 2003. Là giáo sư Ngôn ngữ và Triết học tại MIT, ông được thế giới công nhận là người đã làm một cuộc cách mạng trong lĩnh vực ngôn ngữ học hiện đại. Ông sống gần thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts. David Barsamian là người sáng lập và chủ trì chương trình phát thanh hàng tuần lên sóng rộng rãi trên nhiều hệ thống và từng được giải thưởng dưới tên gọi Đài Phát thanh phá cách (Alternative Radio). Ong đã soạn lại thành sách những cuộc phỏng vấn của mình với nhiều nhà tư tưởng chính trị hàng đầu tại Hoa Kỳ, trong đó có Arundhati Roy, Howard Zinn, Edward Said, và đặc biệt là Noam Chomsky. Ông sống tại Boulder, tiểu bang Colorado.
Nguồn: Chương 7, Tham vọng bá quyền (Imperial Ambitions) - Hội thoại về tình hình thế giới sau sự kiện 11/9 giữa GS Ngôn ngữ và Triết học Noam Chomsky và nhà báo David Barsamian [26], NXB Tri thức và Công ty sách Alpha, Hà Nội 2006