Thiền Tông PHẬT GIÁO

Lượt đọc: 6919 | 3 Đánh giá: 9,3/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHÁP ĐƯỜNG VÀ THIỀN ĐƯỜNG

Pháp đường còn được gọi là "giảng đường", là nơi thuyết giảng Phật pháp và tu hội quy giới. Pháp đường được xây dựng bắt đầu từ Đạo An đời Đông Tấn. Thời kỳ Tùy Đường, các tông phái Phật giáo lần lượt thành lập, đều xem pháp đường là kiến trúc chủ yếu trong tự viện chỉ sau Phật điện. Thiền đường vào thời cổ gọi là "tăng đường" hoặc "vân đường", cũng là một kiến trúc chủ yếu trong Tùng lâm.  

Bách Trượng Hoài Hải lập ra Thanh quy thiền môn, trong đó có quy định không lập Phật điện, chỉ dùng pháp đường, xem đó là biểu hiện sự kế thừa Phật Tổ. Quy định này đã đưa pháp đường lên địa vị tối cao trong chùa thiền. Từ thời Tống Minh về sau, tự viện Thiền tông dần dần có khuynh hướng không chú trọng pháp đường mà xem trọng Phật điện.

            Trong Pháp đường thường bố trí tượng Phật, pháp tòa, chuông trống, rèm trướng hoặc bình phong. Pháp tòa còn được gọi là Sư tử tòa, trong pháp đường lập bục cao, giữa đặt ghế ngồi, dành cho thiền sư thuyết pháp, trước tòa có giảng đài. Phía sau pháp tòa có màn hoặc bình phong, hoặc treo tranh sư tử tượng trưng cho thuyết pháp của Phật. Trong các bộ đăng lục thường nói "thượng đường thị chúng", đây là nơi thiền sư ở pháp đường thuyết pháp khai thị cho tăng chúng. Nhưng hình thức khai thị này rất linh hoạt, không giống như cách thuyết pháp giảng kinh của các tông phải khác (như Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Duy Thức).

            Chẳng hạn như Nam Tuyền Phổ Nguyện có lần thượng đường khai thị như sau: "Vương lão sư (Nam Tuyền tự xưng) muốn bán thân, ai muốn mua?" Một vị tăng lên tiếng: "Tôi muốn mua". Sư nói: "Không ra giá cao, cung không ra giá thấp, ông làm sao mua?" Vị tăng không đáp được. (Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 8). Triệu Châu Tòng Niệm thuyết pháp có đoạn: "...Phật là phiền não, phiền não là Phật". Lúc này có vị tăng hỏi: "Không biệt Phật là phiền não của ai?" riệu Châu đáp: "Phật gây phiền não cho tất cả mọi người". Vị tăng hỏi tiếp: "Làm sao để tránh?" Triệu Châu đáp: "Tránh để làm gì?" (Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 10). Pháp đường của Thiền tông trong một thời kỳ thật sự là nơi quan trọng để thầy và đệ tử khải phát lẫn nhau, kích dương thiền pháp.

Pháp đường chùa Hàn San ở Tô Châu, Giang Tô.

            Theo Thanh quy của Bách Trượng, tăng chúng vô luận nhiều ít cao thấp đều vào hết trong tăng đường, theo thứ tự năm kết hạ mà sắp xếp. Trong tăng đường lập trang thờ thánh tăng, có thể là Kiều Trần Như, Tân Đầu Lư, hoặc là Văn Thù Sư Lợi, Đại Ca Diếp, tùy nghi không nhất định. Thời trước, tăng đường kiêm làm trại đường, nên thường đặt tượng Tân Đầu Lư. Tân Đầu Lư đứng đầu mười sáu đại La Hán, do cố ý khoe khoang thần thông nên bị Phật trừng phạt không được nhập Niết bàn mà phải mãi mãi ở lại thế gian, vì vậy vẫn phải dùng cơm. Truyền thuyết kể Đạo An khi chú giải kinh luận, nghi có chỗ không đúng, đêm nằm mộng thấy Tân Đầu Lư bảo cúng dường thức ăn thì sẽ hỗ trợ giải thích chỗ nghi ngờ. Vì vậy Đạo An lập riêng tòa cho Tân Đầu Lư để cúng dường, từ đó về sau trở thành lễ cố định. Năm Đại lịch thứ tư đời Đường (769), Bất Không Tam Tạng tấu thỉnh lệnh đặt tượng Văn Thù Sư Lợi trên tượng Tân Đầu Lư, vì vậy vào đời Đường, trong trai đường cũng là tăng đường, thánh tăng là Văn Thù Sư Lợi và Tân Đầu Lư. Sau khi tùng lâm phát triển mạnh, tăng đường và trai đường được tách ra. tăng đường phía tây, trai đường phía đông, cách bố trí này dần dần trở thành hình thức cố định của tùng lâm.

Đánh máy: Nguyễn Đ Thanh
Nguồn: Tủ sách Bách Khoa Phật Giáo - NXB TO6N GIÁO
VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 2 tháng 3 năm 2019

« Lùi
Tiến »