Thiền Tông PHẬT GIÁO

Lượt đọc: 6915 | 3 Đánh giá: 9,3/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỮNG TÁC PHẨM
thiền sử đời minh thanh

Thời kỳ Minh Thanh, những học giả thiền sử tiếp nối truyền thống soạn "đăng lục" của đời Tống, cho ra đời nhiều bộ đăng lục mới.  

Những bộ đăng lục này là: Tục Truyền Đăng Lục, 36 quyển do Huyền Cực đời Minh soạn vào năm Hồng Võ (1368-1398); Tăng Tập Tục Truyền Đăng Lục, 6 quyển do Văn Tú đời Minh soạn vào năm Vĩnh Lạc thứ 15 (1417); Thủy Nguyệt Trai Chỉ Nguyệt Lục, 32 quyển do Cù Nhữ Tắc đời Minh soạn vào năm Vạn Lịch thứ 23 (1595); Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược, 4 quyển do Tịnh Trụ đời Minh soạn vào năm Sùng Trinh thứ 17 (1644); Ngũ Đăng Nghiêm Thống, 25 quyển do Dung Thông đời Minh soạn vào năm Vĩnh Lịch thứ 4 (1650); Tục Đăng Lục, 6 quyển do Nguyên Hiền đời Minh soạn vào năm Vĩnh Lịch thứ 5 (1651); Cư Sĩ Phân Đăng Lục, 2 quyển do Chu Thời Ân đời Minh soạn vào năm Sùng Trinh thứ 4 (1631); Tục Đăng Tồn Cảo, 12 quyển do Thông Vấn đời Thanh soạn vào năm Khang Hy thứ 5 (1666); Tục Đăng Chính Thống, 42 quyển do Tính Thống đời Thanh soạn vào năm Khang Hy thứ 30 (1691); Ngũ Đăng Toàn Thư, 120 quyển do Siêu Vĩnh đời Thanh soạn vào năm Khang Hy thứ 32 (1693); Tục Chỉ Nguyệt Lục, 20 quyển do Nhiếp Tiên đời Thanh soạn; Cẩm Giang Thiền Đăng, 20 quyển do Thông Túy đời Thanh soạn vào năm Khang Hy thứ 11 (1672); Kiềm Nam Hội Đăng Lục, 8 quyển do Như Thuần đời Thanh soạn vào năm Khang Hy thứ 41 (1702).

            Trong các bộ trên, bộ Tục Truyền Đăng Lục, Tăng Tập Tục Truyền Đăng Lục và Tục Đăng Lục đều thuộc loại nối tiếp "đăng lục" đời Tống. Huyền Cực không hài lòng bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên, cho rằng "dụng tâm là thiện nhưng không thể tôn sùng bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục là mẫu mực không thể san hiệu, lại lấy dem vào, như vậy là trùng lặp". Vì thế Huyền Cực "sau khi cắt từ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, bắt đầu từ Phần Dương Thiện Chiếu sau Đại Giám (Huệ Năng) vài đời, biên soạn tiếp đến các đời sau". Tổng cộng 11 đời, số người khoảng một nghìn, dừng ở thời cuối Tống đầu Nguyên. Về sau, Văn Tú cho rằng do thời gian hoàn thành Tục Truyền Đăng Lục quá gấp rút nên tư liệu thu lục chỉ sơ lược, để bổ sung những thiếu sót nên soạn Tăng Tập Tục Truyền Đăng Lục. Bộ Tục Đăng Lục của Nguyên Hiền lại tiếp tục tăng bổ lần nữa các quyển trên. Như vậy, những thiền sư quan trọng của hai đời Nguyên Minh đến thời điểm này đã được thu lục đầy đủ.

.

Tháp gồm nghìn Phật ở chùa Dũng Tuyền, Phúc Châu, trên tháp có 1078 tượng Phật, được dựng vào năm Nguyên Phong thứ 5, Bắc Tống (1082).

            Ngũ Đăng Toàn Thư của Siêu Vĩnh được căn cứ trên bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên của Phổ Tế và bộ Toản Tục của Hải Khoan đời Thanh, "bỏ bớt rườm rà, thêm phần chưa đủ", mất thời gian khoảng 30 năm mới hoàn thành, là bộ tập đại thành các đăng lục, tổng số người hơn bảy ngàn.

Sơn môn chùa Dũng Tuyền, Phúc Châu.

            Ngoài các đăng lục, liên quan đến Thiền tông sử còn có các bộ sau: Thiền Tông Chính Mạch, 10 quyển do Như Cẩn đời Minh soạn; Giáo Ngoại Biệt Truyền, 16 quyển do Lê Mi đời Minh soạn; Tri Môn Cảnh Huấn, 10 quyển do Như Cẩn soạn; Thiền Lâm Bảo Huấn, 4 quyển do Tịnh Thiện đời Minh soạn; Thiền Quan Sách Tiến, 1 quyển do Chu Hoằng đời Minh soạn; Tông Môn Bảo Tích Lục, 93 quyển do Bản Tích đời Thanh soạn; Tông Thống Biên Niên, 32 quyển do Kỷ Âm đời Thanh soạn; Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện, 15 quyển do Tự Tâm, Tính Lỗi đời Thanh soạn; Yêm Hắc Đậu Tập, 9 quyển do Tâm Viên, Hỏa Liên đời Thanh soạn. Những bộ này có hình thức thể loại không đồng nhất, nội dung chú trọng cũng thiên lệch khác nhau.

            Ngoài ra, thời kỳ Minh Thanh cũng có nhiều ngữ lục của các thiền sư. Thuộc Lâm Tế tông có Tiếu Nham Tập, 4 quyển là ngữ lục của Tiếu Nham Đức Bảo; Mật Vân Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục, 13 quyển, do Đạo Mân biên soạn, là ngữ lục của Thiên Đồng Viên Ngộ; Hán Nguyệt Tạng Thiền Sư Ngữ Lục, 16 quyển, do Hoằng Trữ biên soạn; là ngữ lục của Hán Nguyệt Pháp Tạng; Phổ Tế Ngọc Lâm Quốc Sư Ngữ Lục, 10 quyển, là ngữ lục của Ngọc Lâm Thông Tú; Cửu Hội Ngữ Lục, Bách Thành Bắc Du Lục, Hoằng Giác Mân Thiền Sư Ngữ Lục là ngữ lục của Mộc Trần Đạo Mân. Ngữ lục của các thiền sư Tào Động tông có Vô Minh Huệ Kinh Thiền Sư Ngữ Lục, 4 quyển; Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục, 35 quyển; Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Ngữ Lục, 30 quyển; Trạm Nhiên Viên Trừng Thiền Sư Ngữ Lục, 8 quyển. Những ngữ lục này là những tư liệu quan trọng để nghiên cứu tư tưởng Thiền tông thời kỳ Minh Thanh.

CHỈ NGUYỆT LỤC

 

Chỉ Nguyệt Lục toàn thư 32 quyển, tên đầy đủ là Thủy Nguyệt Trai Chỉ Nguyệt Lục, do văn nhân đời Minh là Cù Nhữ Tắc biên soạn, đây là tác phẩm do Nho gia viết về thiền.  

"Chỉ Nguyệt" là một ví dụ thường dùng trong Phật giáo, "chỉ" (ngón tay) tượng trưng cho ngôn giáo, "nguyệt" (mặt trăng) tượng trưng cho Phật pháp. Ví dụ này có từ Kinh Lăng Già, quyển 2: "Như người ta dùng ngón tay để chỉ mặt trăng, nhờ ngón tay mà thấy được mặt trăng, nếu xem ngón tay là mặt trăng thì chẳng những đánh mất mặt trăng và còn quên mất ngón tay, vì sao vậy? Vì xem ngón tay là mặt trăng vậy". Long Thụ trong Đại Trí Độ Luận, quyển 9, cũng có viết: "Như người dùng ngón tay để chỉ mặt trăng, chỉ cho người mê thấy, người mê nhìn ngón tay mà không nhìn mặt trăng, Người chỉ nói: "Ta dùng tay chỉ mặt trăng, để cho ngươi thấy, sao ngươi lại nhìn ngón tay mà không thấy mặt trăng?" Cũng như vậy: "Ngôn ngữ là ngón tay, mà không phải là nghĩa". Ngôn ngữ văn tự (ngón tay) chỉ là một biện pháp dạy người ta nhận thức Phật pháp (mặt trăng), mục đích là lãnh ngộ tinh thần Phật giáo, nếu chấp trước vào danh tướng ngôn giáo, cho đó chính là Phật pháp thì vĩnh viễn không bao giờ lãnh ngộ được. Thiền tông sau khi thành lập đã theo tư tưởng này, phát huy tinh thần "bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền".

.

Quan Âm của các chùa Kim Sơn, Trấn Giang, Giang Tô. Chùa Kim Sơn được xây vào năm Thiên Giám thứ 4 đời Lương thời kỳ Nam Bắc Triều (505). Lương Võ Đế Tiêu Diễn từng mở thủy lục đạo trường ở đây.

            Cù Nhữ Tắc là học trò của Nho gia đời Minh là Quản Chí Đạo (Đông Minh). Quản Chí Đạo đề xướng hòa hợp thống nhất Nho Phật, làm cho "Nho không cản Thích, Thích không cản Nho", "Nho không lạm Thích, Thích không lạm Nho". Cù Nhữ Tắc chịu ảnh hưởng của thầy, rất đam mê Phật học nên soạn bộ Chỉ Nguyệt Lục.

            Nội dung của Chỉ Nguyệt Lục là ngôn hành của 650 vị của pháp hệ truyền thừa của Thiền tông từ bảy vị Phật quá khứ đến Đại Huệ Tông Cảo. Từ quyển 1 đến quyển 3 là quá khứ thất Phật, ứng hóa thánh hiền, Tổ sư Tây Thiên (28 vị Tổ ở Tây Thiên); quyển 4 là sáu vị Tổ ở Đông Phổ, từ Đạt-ma đến Huệ Năng; quyển 5 đến quyển 30 là từ đời thứ nhất đến đời thứ 16 sau Huệ Năng; quyển 31, 32 là ngữ lục của Đại Huệ Tông Cảo.

Sơn môn chùa Kim Sơn.

            Chỉ Nguyệt Lục là tác phẩm viết về thiền của Nho gia, không chỉ chép lịch sử truyền pháp của Thiền tông mà còn có ý giúp người đọc kiến đạo, vì tất cả ngôn giáo đều là phương tiện được lập ra để đưa người nhập đạo, như dùng ngón tay chỉ để thấy được mặt trăng. Chỉ Nguyệt Lục vừa là một bộ đăng lục nhưng lại không hoàn toàn giống như đăng lục, về cách sắp xếp tài liệu cũng như sử dụng ngôn ngữ, đều có sức hấp dẫn khá lớn. Đối tượng chủ yếu của bộ sách này là tín đồ không xuất gia, đặc biệt là giới trí thức phổ thông. Do vậy, Chỉ Nguyệt Lục được lưu truyền rộng rãi, đến ngày nay vẫn được độc giả phổ thông, tăng cũng như tục yêu thích. Nhưng do biên soạn chỉnh lý từ các tài liệu đăng lục của thời trước nên không thích hợp lắm trong việc nghiên cứu học thuật.

            Do Chỉ Nguyệt Lục chỉ viết đến đời thứ 16 sau Huệ Năng, nên Nhiếp Tiên (tự Lạc Độc) đời Thanh soạn tiếp bộ Tục Chỉ Nguyệt Lục, có nội dung từ đời thứ 17 sau Huệ Năng, năm Long Hưng thứ hai đời Tống Hiếu Tông (1164) đến đời thứ 38 sau Huệ Năng, năm Khang Chiếu mười tám đời Thanh Thánh Tổ (1679). Chỉ Nguyệt Lục, tuy viết đến đời thứ 16 nhưng thực ra đời thứ 16 của các tông Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn vẫn còn thiếu sót, vì vậy bộ Tục Chỉ Nguyệt Lục ra đời thu tập những cơ duyên ngữ cú liên quan, soạn riêng thành một quyển Cù Lục Bổ Di, xếp vào đầu sách và từ Nam Tống về sau, cứ ai chưa rõ sư thừa thì liệt riêng vào một quyển Tôn Túc Tập, xếp cuối, toàn thư 20 quyển.

Đánh máy: Nguyễn Đ Thanh
Nguồn: Tủ sách Bách Khoa Phật Giáo - NXB TO6N GIÁO
VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 2 tháng 3 năm 2019

« Lùi
Tiến »