Thiền Tông PHẬT GIÁO

Lượt đọc: 6890 | 3 Đánh giá: 9,3/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TƯ TƯỞNG CĂN BẢN CỦA
vĩnh gia chứng đạo ca

Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca" do Huyền Giác viết. Huyền Giác, họ thế tục là Đái, người Vĩnh Gia, Ôn Châu, xuất gia lúc thiếu niên, ban đầu học chỉ quán Thiên Thai, sau đến Tào Khê, yết kiến Huệ Năng. Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca gồm 266 câu, 56 đoạn, có ảnh hưởng rất lớn trong cả hai giới tăng và tục.  

Một nội dung của Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca là tuyên truyền pháp môn đốn ngộ của Thiền tông Huệ Năng, cho rằng bất kỳ ai cũng có Như Lai Phật tính. Chứng Đạo Ca viết (bản dịch của Trúc Thiên: "Cùng Thích tử, khẩu xưng bần, Thực thị thân bần đạo bất bần, Bần tắc thân thường phi lũ hạt, Đạo tắc tâm tàng vô giá trân" (Hèn con Phật, miệng xưng nghèo, Rõ thực thân nghèo đạo chẳng nghèo, Nghèo ắt thân thường manh áo chắp, Đạo ắt tâm hằng châu báu đeo), "Ma ni châu, nhân bất thức, Như Lai tạng lý thân thu đắc, Lục ban thần dụng không bất không, Nhất lõa viên quang sắc phi sắc" (Ngọc Ma ni, người có biết, Như Lai kho ấy thâu trọn hết, Sáu ban thần dụng không chẳng không, Một điểm viên quang sắc chẳng sắc). Cái "Đạo" "chẳng nghèo" ở đây chính là Phật tính Như Lai tạng, đây chính là căn bản để thành Phật, nên là trân châu vô giá. Nó giống như viên ngọc Ma ni sáng chói nhưng do trần cấu che lấp nên không được người thường biết đến. Nhận thức Như Lai Phật tính cần phải "đốn giác" trong một sát-na, không cần đa văn, đa giải: "Thượng sĩ nhất quyết nhất thiết liễu, Trung hạ đa văn đa bất tín, Đãn tự hoài trung giải cấu y, Thùy năng hướng ngoại khoa tinh tiến" (Bậc cao một quyết là xong hẳn, Kẻ thấp càng nghe lại lắm ngờ, Hãy vứt trong lòng manh áo bẩn, Sá gì tinh tiến hướng ngoài khoe?) Giống như cởi bỏ chiếc áo bẩn khoác ngoài thì lập tức hiển lộ Như Lai Phật tính. "Đốn giác liễu, Như Lai thiền, Lục độ vạn hạnh thể trung viên, Mộng lý minh minh hữu lục thú, Giác hậu không không vô đại thiên" (Thoắt giác rồi Như Lai thiền, Sáu độ muôn hạnh thể tròn nguyên, Trong mộng lao xao bày sáu nẻo, Tỉnh ra bằn bặt chẳng ba nghìn). Đây là cảnh giới đốn ngộ Như Lai thiền, nhận thức trước khi đốn ngộ giống như người trong mộng thấy lục thú (sáu đường luân hồi chuyển sinh), sau khi đốn ngộ thì như bừng tỉnh khỏi cơn đại mộng, vũ trụ nhân sinh "không không vô đại thiên", viễn ly lục đạo luân hồi.

Tượng Bồ-tát đời Đường.

            Một điểm quan trọng khác của Chứng Đạo Ca là quan niệm đối với thiền. Huyền Giác cho rằng, bản chất của thiền tuy là đốn ngộ, nhưng vẫn nên tham thiền vấn đạo: "Du giang hải, thiệp sơn xuyên, Tòng sư phỏng đạo vi tham thiền, Tự tòng nhận đắc Tào Khê lộ, Liễu tri sinh tử bất tương quan" (Chơi biển cả, dạo rừng thiên, Tìm thầy hỏi đạo ấy tham thiền, Từ ngày rõ nẻo Tào Khê ấy, Mới hay sống chết chẳng tương can). Thiền không phải cứ tọa suốt ngày, mà phải "đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói im động tĩnh thể an nhiên". Vĩnh Giác lấy sự thể nghiệm của chính mình để nói lên thiền đốn ngộ là lưu lộ tự nhiên của Phật tính, việc nghiên tập kinh điển, tích lũy học vấn là có hại mà vô ích: "Ngô tảo niên lai tích học vấn, Diệc tầng thảo sớ tầm kinh luận, Phân biệt danh tướng bất tri hưu, Nhập hải toán sa đồ tự khốn" (Ta sớm bao năm chuyên học vấn, Từng viết sớ sao tìm kinh luận, Phân biệt danh tướng mãi không thôi, Vào biển đếm cát tự chuốc hận).

            Tư tưởng căn bản của Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca là kế tục thiền đốn ngộ Huệ Năng, nhưng bài ca chứng đảo này được hậu thế tôn sùng còn do nguyên nhân đặc biệt khác. Trong Chứng Đạo Ca có đoạn: "Nhất tính viên thông nhất thiết tính, Nhất pháp biến hàm nhất thiết pháp, Nhất nguyệt phổ hiện nhất thiết thủy, Nhất thiết thủy nguyệt nhất nguyệt nhiếp" (Một tánh viên thông muôn tánh hệt, Một pháp bao gồm muôn pháp hết, Một trăng hiện khắp tất cả nước, Tất cả trăng nước, một trăng nhiếp). Đây là ví dụ, muốn nói rằng tính chất của một sự vật đẳng đồng với tất cả sự vật, đều phản ánh "thực tướng" đồng nhất bản chất; tính của mỗi người đều cộng thông với tính của chư Phật, tính cộng thông là Như Lai Phật tính. Do đó hai câu tiếp theo: "Chư Phật pháp thân nhập ngã tính, Ngã tính đồng cộng Như Lai hiệp" (Chư pháp thân Phật vào tánh ta, Tánh ta cùng với Như Lai hiệp). Nguyên nhân căn bản để mỗi người có thể đốn ngộ thành Phật chính là ở đây. Tư tưởng này được diễn tả qua ví dụ tuy trên trời chỉ có một vầng trăng, khi soi sáng khắp sông hồ huyễn hóa thành vô số vầng trăng, nhưng vô số vầng trăng này đều dung nhiếp vào một vầng trăng trên trời.

Tiểu Phật ở chùa Mật Ấn.

            Sau này Lý học gia Chu Hi cho rằng, cái "Lý" tối căn bản của vũ trụ chỉ là một "Thái cực", Thái cực là một chính thể không thể phân cắt, nên gọi là "Lý nhất" (Lý là một). Mà vạn vật thì mỗi một đều có cái "Lý" khác nhau, cái "nhất Lý" của mỗi vật phân biệt thể hiện chính thể của Thái cực, nên gọi là "phân thù" (chia ra khác biệt). Chu Hi từng trực tiếp dẫn những câu trong Chứng Đạo Ca để luận chứng quan điểm của ông: "Vốn chỉ có một Thái cực, vạn vật đều bẩm thụ, và tự mình có đủ một Thái cực. Như mặt trăng trên trời, chỉ một mà thôi, khi tán ra khắp trên sông hồ thì thấy ở khắp nơi". (Chu Tử Ngữ Loại, quyển 94), "Họ Thích nói: Nhất nguyệt phổ hiện nhất thiết thủy, Nhất thiết thủy nguyệt nhất nguyệt nhiếp. Đây là họ Thích cũng thấy được những đạo lý này". (Chu Tử Ngữ Loại, quyển 18). Chu Hi dùng học thuyết này để thuyết minh theo duy tâm mối quan hệ giữa trừu tượng và cụ thể, giữa bản thể và hiện tượng, tạo ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử triết học Trung quốc.

Đánh máy: Nguyễn Đ Thanh
Nguồn: Tủ sách Bách Khoa Phật Giáo - NXB TO6N GIÁO
VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 2 tháng 3 năm 2019

« Lùi
Tiến »