Thiền Tông PHẬT GIÁO

Lượt đọc: 6882 | 3 Đánh giá: 9,3/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THỜI KỲ CỰC THỊNH
của thiền tông

Từ cuối đời Đường, Thiền tông bắt đầu bước vào thời kỳ hưng thịnh, đến đời Ngũ Đại, Tống sơ đạt đến cực thịnh. Tiêu chỉ của sự cực thịnh là sự thành lập lần lượt của Ngũ gia thiền.  

Giữa cuối thế kỷ 8, khi Thạch Đầu Hi Thiên và Mã Tổ Đạo Nhất hoằng pháp ở Hồ Nam và Giang Tây, Thiền tông phương nam đã dần dần định hình rõ nét. Trong phần truyện Hi Thiên của bộ Tống Cao Tăng Truyện có nói Mã Tổ và Thạch Đầu là hai vị pháp chủ ở Giang Tây và Hồ Nam, "ai không đến bái kiến hai đại sĩ này là kẻ bất minh sự lý!" Hi Thiên sau khi đắc pháp nơi Thanh Nguyên Hành Tư quay về chùa Nam tự ở núi Hoành Sơn, Hồ Nam. Gần chùa có một khối đá lớn bằng phẳng, Hi Thiên lập am ở trên đó nên được gọi là "Thạch Đầu hòa thượng". Thiền phong và phương pháp tiếp dẫn người học của Thạch Đầu rất hiểm hóc nên còn có danh là "Thạch Đầu lộ hoạt" (Thạch Đầu đường trơn). Cũng do "đường trơn" nên càng lôi cuốn nhiều người đến tham học. Đạo Nhất là thiền sư rất đặc biệt, truyền thuyết kể thầy của Mã Tổ là Nam Nhạc Hoài Nhượng khi còn trẻ tham kiến Huệ Năng, Huệ Năng có lời tiên tri: "Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện một con ngựa tơ (mã câu) đạp chết người trong thiên hạ". Con ngựa to này chính là Mã Tổ Đạo Nhất sau này.

            Trong Ngũ gia thiền, Qui Ngưỡng tông vào đời Ngũ Đại rất hưng thịnh, đến đời Bắc Tống, từ Ngưỡng Sơn Huệ Tịch truyền tiếp ba đời thì pháp hệ không rõ. Tào Động tông xuất hiện cuối đời Đường, từ Tào Sơn Bản Tịch truyền đến ba đời thì dứt, sau nhờ đệ tử của Động Sơn Lương Giới là Vân Cư Đạo Ưng mới hưng thịnh trở lại. Pháp Nhãn tông vào thời Thiên Thai Đức Thiều rất phát triển, đến đầu Bắc Tống đạt đến đỉnh thịnh. Vân Môn tông hưng thịnh vào đời Ngũ Đại, vào đời Bắc Tống, cùng với Lâm Tế tông phát triển rất mạnh. Trong năm tông, chỉ có Lâm Tế tông được sáng lập ở phương bắc, bốn tông còn lai đều sáng lập và lưu truyền ở phương nam. Trong quá trình phát triển sau này, khu vực lưu truyền của các tông cũng có xu hướng biến đổi, như Vân Môn tông vốn lưu truyền ở vùng Quảng Đông, đến đời vua Tống Nhân Tông đã truyền lên phương bắc, còn Lâm Tế tông qua năm đời đã truyền đến Hồ Nam, Giang Tây. Tình hình Thiền tông thời đó phát triển rất mạnh, như Tán Ninh đầu đời Tống có nói: "Thiền tông trong thiên hạ như gió thổi cỏ rạp". Thiền tông không chỉ độc chiếm địa vị chủ đạo trong Phật giáo mà còn ảnh hưởng sâu sắc đối với xã hội thế tục. Truyền thuyết kể Đạt-ma từng tiên tri "Một hoa nở năm cánh, Kết trái tự nhiên thành" ứng với sự thành lập lần lượt năm tông phái vào cuối thời Đường, Ngũ Đại. Khu vực lưu truyền Ngũ gia thiền chiếm hơn nửa Trung Quốc, dưới sự ủng hộ của triều đình và quan lại địa phương, các tông ra sức phát dương thiền pháp, Thiền tông phát triển rất mạnh.

.

"Sơn âm đồ" của Vương Duy. Vương Duy rất sùng tín đạo Phật, tự là Ma Cật, đọc liền với tên thành Duy Ma Cật. Tranh của ông có phong cách thanh nhã u tịch, đầy thiền vị. Tô Đông Pha từng khen là "Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi" (Trong thơ có họa, trong họa có thơ).

.

Tập Vương thư thánh giáo tự, bản rập đời Bắc Tống. Huyền Trang sau khi thỉnh kinh từ Ấn Độ về, ở Trường An chủ trì dịch kinh. Đường Thái Tông viết bài tựa biểu dương công tích, đưa vào đầu các bộ kinh, toàn tên là "Đại Đường Tam Tạng thánh giáo tự", gọi tắt là Thánh giáo tự, có tất cả bốn bản thạch khắc. Các bản rập đều là chữ của các danh gia, trong đó "Tập Vương thư thánh giáo tự" là trứ danh nhất.

            Thiền tông bước vào thời kỳ cực thịnh, thiền tăng đã có tự viện riêng, không còn nương tựa vào tự viện của các tông phái khác và qui mô của tự viện Thiền tông cũng lớn lên không ngừng. Số lượng tăng chúng theo học rất đông, ít thì năm ba trăm, nhiều thì đến hai ngàn người, như theo quyển Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện, thiền sư Diên Thọ ở chùa Vĩnh Minh Tự, Tây Hồ có đến hai ngàn tăng chúng theo học. Tình hình cực thịnh này liên quan mật thiết với sự hưng thịnh trở lại của nền kinh tế tự viện đương thời.

CÔNG ÁN "MÀI GẠCH THÀNH GƯƠNG"

 

Thiền của Thiền tông không như tọa thiền Phật giáo theo ý nghĩa truyền thống. Thành Phật chỉ là sự chuyển đổi ý thức tư tưởng, thế giới quan, không do tọa thiền quyết định. Tọa thiền không chỉ không thể thành Phật mà ngược lại tạo thành sự chấp trước nghiêm trọng.  

Mã Tổ Đạo Nhất từ nhỏ theo Đường hòa thượng (tức Xứ Tịch) ở Tư Châu xuất gia, năm Khai Nguyên thứ 21 (733) Mã Tổ đến Hoành Sơn, Nam Nhạc, lập am tọa thiền suốt ngày, thường có ai đến cũng không tiếp. Tương truyền Mã Tổ có dung mạo dị thường với các dấu hiệu của bậc thánh nhân, mắt sáng như hổ, dáng đi như trâu, lưỡi dài thè qua mũi. Luc này Nam Nhạc Hoài Nhượng ở chùa Bát-nhã, thấy Mã Tổ hình tướng phi phàm, biết là "pháp khí" bèn hỏi: "Đại đức tọa thiền để làm gì?" Mã Tổ đáp: "Làm Phật". Hoài Nhượng bèn lượm một miếng gạch rồi mài lên tảng đá trước am. Lúc đầu Mã Tổ không để ý đến, nhưng mãi hồi lâu thấy kỳ quái cuối cùng không nhịn được bèn hỏi: "Thầy mài gạch để làm gì vậy?" Hoài Nhượng đáp: "Mài gạch để làm gương soi".

            Mã Tổ hỏi tiếp: "Mài gạch sao có thể thành gương được!?" Thế là Hoài Nhượng hỏi ngược lại: "Mài gạch không thể thành gương, vậy tọa thiền có thể thành Phật sao?" Nghe nói xong, Mã Tổ vội đứng lên xin Hoài Nhượng chỉ giáo. Hoài Nhượng nói: "Như trâu kéo xe, xe không đi, vậy đánh xe hay đánh trâu mới phải? Ngươi suốt ngày tọa thiền ở đây, rốt cuộc là học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền thì thiền không ở ngồi hay nằm, nếu học ngồi Phật thì Phật không có tướng nhất định. Thiền môn yếu đạo, không nên thủ xả. Ngươi nếu muốn ngồi Phật cũng bằng như giết Phật. Ngươi chấp ở tướng ngồi chứng tỏ chưa hiểu được thiền". (Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 6). Đây chính là công án "mài gạch thành gương" nổi tiếng trong thiền sử.

            Mã Tổ nghe Hoài Nhượng thuyết giáo hoát nhiên khế hội, bèn bái làm sư phụ, theo hầu hạ mười năm. Về sau Mã Tổ rời Nam Nhạc, một mình đến Giang Tây truyền thiền pháp, khai sáng phái thiền Hồng Châu.

            Câu chuyện "mài gạch thành gương" này khẳng định Thiền tông không như tọa thiền Phật giáo theo ý nghĩa truyền thống. Thành Phật chỉ là sự chuyển đổi ý thức tư tưởng, thế giới quan, không do tọa thiền quyết định. Tọa thiền không chỉ không thể thành Phật mà ngược lại tạo thành sự chấp trước nghiêm trọng. Tư tưởng này có từ Lục tổ Huệ Năng, nhưng Hoài Nhượng thông qua động tác cụ thể, hình tượng hóa để truyền cho Mã Tổ, càng có ý nghĩa đặc biệt.

Điện Thánh Đế ở miếu Nam Nhạc, Hoành Sơn, Hồ Nam.

Lò hương bằng đồng men pháp lang.

            Thứ nhất, câu chuyện này phản ánh sau Huệ Năng, Thiền tông tiếp tục phát triển theo con đường Huệ Năng đã khai mở, vận dụng nguyên tắc tư tưởng chủ nghĩa duy tâm chủ quan, dốc toàn bộ sức lực vào phương pháp luận giải thoát. Hoài Nhượng nói rõ với Mã Tổ, mài gạch không thể thành gương, tọa thiền không thể thành Phật, vì nguyên nhân rất đơn giản: Gương không do gạch tạo ra, Phật không do tọa thiền mà ngộ. Căn bản của thành Phật là ở tự tâm, vì tự tâm cũng chính là Phật tính, nếu không phát hiện Phật tính thì dù có tọa thiền suốt đời cũng không thể thành Phật. Tư tưởng này yêu cầu thiền tăng phải chú trọng hướng vào nội tâm.

            Sau khi Mã Tổ thay đổi tư tưởng, Hoài Nhượng liền đọc một bài kệ để diễn tả đạo lý này: "Tâm địa chứa Phật chủng, Gặp ướt liền nảy mầm; Hoa tam muội không tướng, Thì sao có hoại thành?" (Tâm địa hàm Phật chủng, Ngộ trạch tất giai manh; Tam muội hoa vô tướng, Hà hoại phục hà thành). Bài kệ yêu cầu cần phải dụng công ở "tâm địa" (chỉ tâm, tư tưởng, ý niệm, tâm như đại địa sinh ra vạn pháp). Sau này Mã Tổ cũng dùng tư tưởng này để khai thị cho đệ tử là Đại Châu Huệ Hải: "Chính cái nay ngươi hỏi ta, là kho báu của ngươi, tất cả đầy đủ, không thiếu gì hết, tự tại sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài!" và nói với tăng chúng: "Các ông nên tin tự tâm là Phật, tâm này chính là Phật tâm", "ngoài tâm không có Phật nào khác, ngoài Phật không có tâm nào khác". (Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 6). Phương pháp luận giải thoát đối với Thiền tông đặc biệt trọng yếu, đây là một nhân tố khá quan trọng để Thiền tông hướng tới sự phát triển phồn thịnh.

            Thứ hai, cách giảng dạy cụ thể hóa, hình tượng hóa đã đưa Thiền tông tiến thêm một bước phát triển theo khuynh hướng chủ nghĩa thần bí. Phương thức "mài gạch làm gương" chỉ cần vài động tác và lời nói đã giảng giải sáng rõ nguyên tắc của Thiền tông. Thiền tông đời sau thịnh hành việc dùng đủ các kiểu ví dụ, ẩn ngữ, ám thị, động tác... để biểu thị tư tưởng và kiến giải độc đáo đối với thiền, xuất hiện các công án lừng danh như "Qui Tông giết rắn", "Nam Tuyền chém mèo", "Triệu Châu phóng hỏa", "Tử Hồ đêm kêu bắt cướp", từ đó phát triển đến thái độ và hành vi cực kỳ phóng túng "la Phật mắng Tổ", nhạo báng thiêu hủy kinh điển, đẩy Thiền tông tiếp tục phát triển theo hướng càng mãnh liệt, tự do, cuồng phóng. Trong lịch sử Thiền tông, người đầu tiên chấn khởi thiền phong với thiền pháp dữ dội độc đáo chính là Mã Tổ Đạo Nhất, có thể thấy Mã Tổ sở đắc nơi Hoài Nhượng không ít.

« Lùi
Tiến »