Thằng Bé Thợ Rèn

Lượt đọc: 726 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
tên mã phu mới tuyển…

Trại quân Nguyên đóng ở phía nam, phố Phủ Bình Lộc. Nhà cửa trong Phủ đã bị chúng  thiêu hủy hết sạch, nay chỉ còn trơ lại những khung nhà cháy xạm, gẫy rập xuống  đống than đỏ. 

Dân phố Phủ phần bị giết tróc, phần bị bắt theo làm phu tráng phục dịch trong doanh  trại giặc, còn già trẻ lớn bé bồng bế nhau tản mác hết vào nương náu trong các làng  mạc lân cận. 

Trên một bãi đất trống rộng non sáu mẫu, giặc dùng đóng trại, nhà cửa đã cất lên  như bát úp. Tre lá chúng đều đi cướp ở các làng chung quanh. Kiểu nhà thì thật đặc  biệt, trông giống như những cái lồng chim gáy: lá cọ và rạ phủ kín từ nóc xuống đất,  chỉ trừ có cái cửa ra vào.Có lẽ bên xứ sở chúng rét và nhiều tuyết, cũng như những  miền băng tuyết chúng đã đến chinh phục, nên chúng mới có cái lối dựng nhà kín đáo  như vậy. Mái và tường liền hẳn với nhau. Trên nóc mỗi căn trại đều có một cây tre cật  vót nhọn, mũi nhô hàng thước trên nền trời và thân cắm sâu suốt xuống đất dừng  làm cột cái. 

Dưới ngọn tre vót nhọn có một nắmlá thông trông xa như cái ngù của ngọn giáo. Hình  như đã có một khuôn khổ nhất định, căn trại nào cũng lớn bằng nhau ăm ắp. Duy có  căn trại của tên chủ tướng là rộng rãi hơn cả và trên nóc có thêm một lá cờ vàng, mỗi  khi gặp gió bay lên phần phật trông rõ hai chữ “Đại Nguyên” thêu bằng chỉ đen đã  bạc phếch. 

Trời hôm ấy rét thậm, gió cuốn từng cơn quật vào mái rạ ào ào. 

Giặc Nguyên ngại rét còn nằm kín cả trong trại. Chúng nằm ngả nghiêng quây quanh  những bàn đèn thuốc phiện thay phiên nhau hút không dứt. 

Trừ có những tên đến phiên phải đi đánh phá, cướp bóc lương thực ở những làng xa là  phải lên ngựa đi từ sáng sớm tinh sương. 

Mỗi lần đoàn giặc lên ngựa đi trận như vậy chỉ có bọn mã phu là khổ cực nhất. Mặc  dầu trời rét như kim châm vào da thịt chúng cũng phải trở dậy từ canh hai cho đàn  ngựa đi trận ăn uống no đủ. 

Tuy không phải đóng ngựa, vì giặc Nguyên cưỡi ngựa không cần đến yên cương,  nhưng nếu vô ý để ngựa ăn thiếu, hoặc no quá, để những tên giặc đi trận dờ nắn  bụng ngựa thấy, là cũng đủ bị nhừ đòn: mấy cái đá hoặc dăm quả thôi sơn không biết  chừng! 

Bọn mã phu hầu hết là người Nguyên gốc Mông Cổ. Đấy là những tên kỵ mã cực kỳ  thiện chiến trên lưng ngựa ngày xưa, nay đã già không còn sức đi trận nữa, nên được 

đặc cách chăm nom những con chiến mã. Giống ngựa Mông Cổ rất quý, nhưng cũng  rất khó chăm nom. 

Săn sóc cái ăn, thức uống, tắm rửa cho chúng là cả một công trình. Ngày chúng đi  trăm dặm như không nhưng có thể vì thiếu ăn, hoặc ăn no quá mà sinh bệnh và có  khi lăn ra chết bất thần. 

Nếu không phải là những người suốt đời sống trên lưng ngựa như bọn mã phu kia, tất  không thể săn sóc nổi. Giặc Nguyên quý ngựa cũng như quý tính mạng của chúng  vậy. Cho nên chúng đã ra nghiêm lệnh cấm ngặt những người An Nam bị chúng bắt,  không ai được bén mảng đến những tầu ngựa ấy. 

Thế mà trong bọn mã phu già, mấy hôm nay lại có thêm một tên mã phu trẻ tuổi.  Người đó gầy và đen, nhỏ nhắn như đứa trẻ 13. Nó được bộ quần áo Tàu, mặc vào  rộng thùng thình. Đầu nó cũng đội cái mũ có lông thú đã cũ, chụp xuống gần ngang  mí mắt và che kín cả hai tai. 

Đôi mắt nó luôn luôn long lanh sáng quắc, ẩn sau những lớp lông thú lả tả phủ xuống  gần kín mặt nó. 

Nó nhanh nhẹn và rất được việc nên bọn mã phu xem ý cũng hài lòng có được một  đứa giúp việc như nó. Sáng nào nó cũng dậy sớm để sửa soạn sẵn sàng những thúng  ngô, thúng thóc, hay những bao cỏ cho ngựa. Tên mã phu nào muốn hút điếu thuốc,  uống hớp nước, còn ngại rét chưa buồn rút chân ra khỏi chăn, nó đã vui vẻ đón ý  chạy lại lấy giúp. Hôm mới nhận nó vào làm, thấy nó khai cha mẹ chết hết, bơ vơ  không người thân thích, bọn mã phu cũng bán tín, bán nghi. 

Nhưng chỉ sau vài ngày, nó đã chiếm được lòng tin của cả mọi người. Tên mã phu  trưởng cũng đã không ngần ngại đưa nó vào trình với chủ tướng. Trong những lúc rỗi  rãi công việc, thằng bé còn được một tên mã phu già chỉ bảo cho những nết hay, tật  xấu của giống ngựa Mông Cổ. Thành ra mới có ít ngày nó đã thuộc tên từng con ngựa  một, và biết cả con ngựa nào của chủ tướng, con nào của phó tướng, và những con  nào của những tên giặc khác. 

Thằng bé hình như thích nghề chăn ngựa lắm, vì nó hết sức chăm chú nghe mỗi khi  tên mã phu già kia giảng giải cách nuôi ngựa, và có khi cao hứng, cả cách luyện ngựa  nữa. 

Thằng bé chỉ còn mong có hôm nào được đặt mình lên những con chiến mã ấy phi  một vài vòng quanh trại. Tên mã phu già đã hứa hẹn với nó. 

Nhờ một đôi khi được phép vào quét dọn trong doanh trại riêng của chủ tướng, thằng  bé cũng đã có nhiều tín nhiệm. Nó quen gần hết và cũng đã đi lại dễ dàng khắp trại.  Duy chỉ có căn trại giam những người trọng phạm là nó chưa bén mảng đến được.

Điều đó đã làm cho nó không được hài lòng. Tên giặc râu quai nón giữ trại ấy rất  nghiêm. Nó không hề cười với thằng bé chăn ngựa lấy một lần, mặc dầu thằng bé đã  nhiều lần mon men đến làm quen. 

Một lần nó bị tên giặc kia cau mặt xua đi, từ đấy nó không hề lại gần khu trại giam ấy  nữa. 

Sáng nay vẻ mặt thằng bé chăn ngựa bỗng đờ đẫn không vui như mọi ngày. Nó uể  oải mang nước cho ngựa uống, rồi ngồi bệt xuống bao cỏ nghĩ ngơi. Nhưng thấy tên  giặc nào đi ngang qua mặt, nó cũng vờ nhoẻn một nụ cười, hoặc làm ra vẻ mặt tươi  tỉnh như không. 

Vào khoảng giờ Thìn, bỗng có tiếng thanh la nổi lên hồi dài dõng dạc, ngay từ phía  doanh trại của chủ tướng. 

Hết thẩy bọn giặc trong trại đều vội vàng kéo nhau từ torng những cái lồng chui ra.  Chúng sốc lại sống áo và khoác cả mã tấu lên lưng, như sắp đi trận vậy. 

Chỉ trong giây lát, chúng đã tề tựu đông đủ, sắp thành hình cánh cung trước đại bản  doanh của tên tướng giặc. 

Uy nghi trong bộ chiến bào dát sắt lấp lánh như một chiếc ghế vải rộng, miệng ngậm  cái tẩu “thuốc lào” dài gần sát mặt đất. Khói thuốc tỏa ra trước mặt y nghi ngút từng  luồng. Y khẽ đưa mắt ra lệnh. Một hồi tù và rúc lên, ghê rợn như tiếng cú kêu đêm.  Từ phía trại giam, tên giặc râu quai nón dắt một tù nhân tiến lại. Đến trước mặt chủ  tướng, tên giặc dúi mạnh người tù quỳ xuống. Có lẽ vì quá yếu sức, người tù ngã sấp  mặt xuống đất. Gã lúi húi bò dậy và ngồi xếp khoanh trên mặt đất. Nếu có ai chú ý  tất sẽ thấy sắc mặt thằng bé chăn ngựa biến hẳn đi. Nó núp sau mấy tên mã phu ghé  mắt nhìn chằm chằm vào tên tù. Một tên giặc chạy đến, cúi đầu trước mặt tên chủ  tướng đợi lệnh. 

Tên tướng giặc lẩm bẩm nói một hồi, giọng oaivệ. Tên giặc nọ quay ra, đứng trước  tên tù rằn giọng: 

- Tắc (1): Mày chịu khai đã kiên lạc rèn binh khí với những lò rèn nào, đem binh khí  đi lối nào, và giao cho ai, chủ tướng sẽ tha cho. Nếu không mày bị chém đầu. 

Tên tù, chính là Cả Đức, con trai Già Bản, anh ruột thằng Ân da mặt xanh nhợt như  tầu lá chuối non, khẽ ngẫng đầu lên. 

Nếu không có đôi mắt sáng quắc của gã còn đọng nhiều sinh khí, thì người ta có thể  tưởng rằng y chỉ còn là một thây ma. 

Cả Đức hổn hển, nhọc mệt lắm mới trả lời được môt câu ngắn ngủi nhưng đầy vẻ quả  quyết. 

- Tôi không khai!

Tên tướng già nhích đôi môi xám xịt mỉm cười một nụ cười nham hiểm rồi đưa mắt ra  hiệu cho một tên giặc đứng cạnh. 

Lập tức một lò than hồng đã đốt sẵn được mang ra đặt trước mặt Cả Đức. Thằng bé  chăn ngựa mím chặt môi lại khi nó trong thấy hai cái kìm vùi trong lớp than hồng. 

Những tên giặc đứng vòng quanh hắn biết cái trò chơi ấy nên coi bộ lao xao thú vị  lắm. 

Cả Đức nhắm mắt lại và ngảnh đầu sang một bên để khỏi nhìn những hình cụ tra tấn  kinh tởm trước mắt. 

Được cái lệnh gật đầu của tên chủ tướng, tên giặc vạm vỡ có lẽ được đặc cách dùng  vào các cuộc tra tấn, chạy lại rỡ mấy cái kìm đều đã hung hung đỏ hồng. Nó cầm lấy  một cái từ từ iến lại phía Cả Đức. Vòng người im phắc, chăm chú nhìn vào bàn tay  cầm kìm của tên giặc. Có lẽ không ai chú ý đến thằng bé chăn ngựa. Nó nhắm nghiền  đôi mắt lại để mặc hai giòng lệ tuôn ràn rụa trên gò má. Chiếc kìm đưa vào phía đùi  non Cả Đức rồi nhanh như chớp cặp lấy một miếng thịt đùi. Cả Đức kêu thét lên một  tiếng ngã ngửa người ra dẫy lên đành đạch. Mặc! Chiếc kìm cứ bám chặt lấy miếng  đùi, mùi thịt cháy xông lên khét lẹt. 

Bọn giặc cười rộ lên một hồi tán thưởng, tên giặc vòng tay đứng cạnh chủ tướng nói  lớn: 

- Hôm nay hãy cho nó một miếng! Ngày mai nếu nó không chịu khai sẽ cho thêm hai  miếng, kỳ đến bao giờ nó chịu khai thì thôi! 

Trong khi mấy tên giặc đi lấy nước vỗ vào mặt cho Cả Đức tỉnh lại, thằng bé chăn  ngựa đã biến đâu mất…

Chú thích:

(1)Tắc: Đức. tức Cả Đức, anh cả của Ân.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang