Phan Tây Hồ, Tiên Sinh Lịch Sử

Lượt đọc: 422 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHAN TÂY-HỒ TIÊN-SINH DẬT SỰ

Dân nước văn-minh có một cái tâm lý sâu xa, khác hẳn những dân nước hèn, là đối với một người ái-quốc, không những tượng đồng bia đá, sử truyền kỷ niệm, phiến biểu cái công-nghiệp, cái danh-dự của người ấy, mà cho đến một nét bút, một câu thơ, một tấm ảnh lu, một tờ giấy rách, cũng trân trọng gìn giữ như một vật quí báu nhất trong thế giới, để mà tỏ ý sùng bái người danh nhân. Xem thế thì biết quốc dân có cái đặc tánh sùng bái người ái-quốc, mà sau người ái-quốc mới xuất hiện ; nước mạnh dân khôn, nguyên nhân cũng nhiều, mà cái tâm lý ấy là một cái quan hệ to tát vậy.

Nước Nam ở đầu thế-kỷ hai mươi này, chìm dưới vực sâu nòi giống tiêu mòn, non sông vắng vẻ, tự người ngoài xem vào thì cho là không còn có anh hùng nào ; song tự trong nước mà xem thì không gọi là không có được. Từ nay về sau không biết có xuất hiện ra được người nào, chứ đây trở lên, trong khoảng hai mươi năm nay, ngoài ông Sào-Nam ra, thì Phan-Tây-Hồ tiên-sinh thật là một người quan hệ, không có không được, mà đáng cho là anh hùng.

Lịch-sử tiên-sinh xuất bản đã nhiều, duy có bình sinh dật sự, nhiều điều có giá trị, đủ làm gương cho người sau, không phải người thân thiết thì không ai biết. Vậy lấy theo tâm-lý quốc-dân nói trên, lặt ghi từng tập phụ theo truyện nầy, cống hiến cho đồng bào ta xem, tưởng cũng nhiều người hoan-nghênh lắm. Vì một đời người anh hùng, bất kỳ điều gì, cũng có vẻ khác người tầm thường :

1) Tiên-sinh nhỏ côi mẹ, trên mười mấy tuổi lại côi cha, anh lớn là Phan-văn-Cư, tài đương chỉnh đốn việc nhà, thờ anh như cha, chị dâu như mẹ. Cho đến ba mươi tuổi đầu, thân đăng khoa-giáp, mà trong gia đình không có việc gì không hỏi đến anh chị. Nhà có bà Thứ-mẫu, thường cùng bà chị dâu có chuyện rầy, hai đàng không chịu thua, được tiên-sinh một lời nói, tức thì hòa thuận nhau như không.

2) Tánh hay vì người ta gỡ chuyện rối rắc, có cái thói như sách sĩ đời Chiến-quốc : anh em có điều gì khốn nạn không phân giải được, tiên-sinh tới phân giải một đôi câu thì yên ngay. Nhiều khi người ta biện chiết trăm ngàn câu, mà không rõ rạch được, thì sao cũng mời tiên-sinh, tiên-sinh mới nhân tình lý, lời lẽ rõ ràng, nên đàn bà trẻ con ai cũng hiểu mà thích nghe nữa.

Tiên-sinh thích xem tiểu-thuyết Liêu-trai, Thủy-hử, Hài-đạc, Tây-du, Kỳ-quan tình sự (đều sách tiểu-thuyết xưa), cho đến tiểu-thuyết mới, nhiều thứ thuộc lòng, mà kể chuyện lại hay lắm. Đồng một chuyện đó, người ta kể thì ngồi mà buồn ngủ, không muốn nghe chút nào ; đến tiên-sinh kể thì có đầu đuôi, có tằng thứ, có hứng thú, ai ai cũng thích, như xem một lớp tuồng hay. Vì thế nên trên từ văn bằng học hữu, dưới đến bồi bếp phu xe, đều cho tiên-sinh là ông vui chuyện.

3) Tiên-sinh có tính không chịu khuất, không kỳ người bậc nào, lấy đều trái lẽ mà gạt mình thì cự lại ngay, dầu cho kẻ quyền thế cũng vậy. Lệ thường học trò với quan Huấn, quan Giáo (Huấn đạo, Giáo-thọ là quan dạy trong một huyện, một phủ, quan đặt ra có quyền xá học trò trong lúc khoa hạch) không kỳ mình có học hoặc không có học với quan đó, đến kỳ mồng năm, ngày Tết, phải có lễ thúc-tu 12 tới làm lễ tết thầy. Một ngày nọ tiên-sinh cùng hai người bạn, bưng một mâm gạo, trên đặt ba quan tiền, tới trường xin vào yết kiến quan Huấn Ngô… tên hầu cửa quan xem thấy, liếc mắt ngó một cái, rồi đi vào, (có ý ghét lễ ít, khác những học trò khác, thường thường đến kỳ khoa hạch là mùa của quan Huấn, quan Giáo, học trò không những tết nhứt hậu lễ mà thôi, lại còn lo lót nữa, vì muốn lấy cho mình đỗ, học dốt mà lễ nhiều cũng đỗ được. Ấy thôi thầy dậy cùng học trò nước ta, đến bây giờ vẫn còn, chán chưa !!) gõ cửa không thấy ra, tiên-sinh gõ cửa đại, làm như chừng muốn xô mà vào, tên hầu ra ngăn trở rằng quan có khách, và la lớn rằng : « Trò này vô lễ ! » Tiên-sinh giả làm đụng tên hầu một cái, sẩy tay đổ mâm gạo, lặt tiền đi về. Quan Huấn nghe tên hầu bẩm, giận lắm, tư giấy vào huyện xin quan huyện bắt tiên-sinh trị tội (anh huyện lúc đó là Hồ… một tay ác có tiếng, thường bắt người vô tội giam phạt ăn tiền mới tha). Huyện nọ nghe lời quan Huấn, hạ trát cho sai nha tới bắt tiên-sinh. Ai thấy vậy cũng chắc rằng sẽ bị nhục. Tiên-sinh tự nhiên ra đi, đem đồ câu theo, đến cầu cống làng Chiên-Đàn (là làng sở tại trường Huấn, đường đi vào Huyện phải đi ngang qua), bảo người bạn rằng : « Chiều nay tôi lại câu tại cống đây ».

Đến Huyện, anh Huyện ta tác sắc lập nghiêm, nạt rằng : « Sao anh là học trò mà lại vô lễ với thầy anh ? » Tiên-sinh nói học trò đã bưng lễ thúc-tu đến xin yết thầy sao gọi là vô lễ ? cự không cho vào và xô đẩy mắng nhiếc, làm ra sự bất lịch-sự, là tại tên hầu ; không trị tên hầu đó, mà phiên nộ tới học trò, lại làm phiền đến quan lớn, phải hạ trát văn, phải sai dịch đi tới làng tận nhà, bắt một anh học trò như nã một tên bợm. Ấy thầy tôi đã tự xử chỗ vô lễ rồi, quan lớn không cần hỏi kỹ nữa.

Anh Huyện thấy tiên-sinh nói ngay lý thẳng, và xem khí sắc cũng coi vững vàng, không thể lấy đều phi lý mà dọa được. Phát lạc qua loa cho rồi chuyện. Chiều hôm ấy, tiên-sinh hẳn về câu cống Chiên-Đàn. Người ta hỏi sao, chắc anh Huyện không làm đều nhục mà giam phạt (giam phạt là một sự chắc phải chịu, không luận việc gì, tới cửa nha thì thế, nực cười chưa !) Tiên-sinh nói rằng : « Hồ là một tay lão hoặc rành việc lại, lấy một ông huyện trị một anh học trò, hơn không ai khen, nếu thua hoặc có xảy ra việc gì, thì mang tiếng, huống việc nầy xuất tự ý riêng anh Huấn, cậy thế dọa bậy đó thôi ; ma bắt coi mặt người, tên Hồ gian hùng có chịu ra tay làm những việc đó đâu ! »

Anh Huấn ta vì việc đó, căm giận lắm, sau đến khi hạch thi, bọn môn hạ (mấy tên học dốt đua hót) lại thúc anh ta, anh thảo một tờ tư với quan Đốc-học tỉnh, cùng quan Tỉnh rằng, tên Phan vô hạnh và lại con quan ngụy (Chuyển-vận-Sứ…) xin đừng cho vào hạch thi. Tờ Tư chưa kịp phát, có người nói với tiên-sinh, tiên-sinh tức giận, đi thẳng tới nơi trọ, tìm anh Huấn giữa đám học trò đông, tiên sinh biện bác rầy rà, lời lẽ ngay thẳng, và giọng nói dữ dội lắm, anh Huấn ta không trả lời được câu nào, tiên-sinh nói câu cuối cùng rằng : « Tờ Tư ấy phát bố ra, thì cái thù không đội trời chung, chớ không còn thầy còn trò chi nữa ». Anh Huấn có bụng khiếp, cầm tờ tư đó, chỉ bẩm miệng mà thôi, rồi cũng vô sự. (Tiên-sinh độ ấy học tại trường Tỉnh, đã có tiếng, nên quan Đốc Mã-Sơn có binh vực cho).

4) Ở trong đám quan trường mà có lòng sợ được sợ mất, sao cũng bị người ta ngu lộng. Tiên-sinh làm một chức thuộc-viên ở Bộ mà xem cũng như không, nên không ai dọa nạt dược.

Một ngày nọ, trong cửa Ngọ-Môn, đang bài thiết triều nghi, anh Thị-lang nọ bận áo triều-bào, coi quân lính trần thiết nghi-trướng, tiên-sinh cầm dù đi ngay vào, anh Thị ta cho là phạm tất, bảo bọn lính xô ra (vì tiên-sinh không đeo thẻ bài, nên giả làm không biết là ai). Tiên-sinh cầm dù đùa cả bọn lính, anh Thị ta lại gần, tiên-sinh tay nắm áo bào, cãi chống hồi lâu, không chịu khuất, anh Thị ta thấy tiên-sinh khẳng khái, lại sợ xé rách áo bào không nói câu chi, bọn liêu thuộc xúm lại phân giải ra, anh Thị ta về nhà giận lắm, rao lên rằng sẽ dâng sớ tham cách, ý muốn tiên-sinh tới nói một câu, đặng giải xấu với công chúng ; những bọn liêu thuộc cũng khuyên tiên-sinh hãy tới nói một câu cho xong chuyện. Tiên-sinh nhất định không chịu tới, nói rằng : « Có làm chi nữa, đến mất cái Thừa-biện nầy là cùng ». Rồi bỏ đi chơi, việc ấy cũng yên ; vì biết tên nghịch hán nọ không lấy quan chức có không làm cần, không phải như người khác mà lấy đều tham cách dọa được.

Lại một lần nữa tại nhà ông Đào-nguyên-Phổ (đỗ Hoàng-Giáp ở Kinh, ham sách mới lắm, sau làm Chủ-bút báo Đại-Việt) cùng anh em bàn văn ông Âu, ông Tô, xẩy có Ngự-sử anh Huỳnh… đến, chính lúc bàn luận đang say. Anh Huỳnh ta nói rằng : « Các anh không phải Âu, Tô, sao dám bàn văn Âu, Tô 13 ». Tiên-sinh vừa chào mà trả lời rằng : « Cứ như lời quan lớn nói đó thì chức Ngự-sử Triều-đình cũng là hư thiết đó thôi ». Huỳnh mỗ ngạc nhiên, không hiểu, hỏi rằng : « Anh nói cái gì vậy ? » Tiên-sinh nói : « Không phải Thiên-tử, không được nói việc Thiên-tử, không phải Tể-tướng, không dám bàn việc Tể tướng, thì chức Ngự-sử không phải hư-thiết hay sao ? » Cả nhà cười ồn lên, anh Huỳnh ta có hơi thẹn.

5) Tiên-sinh là người thích thảng, không có cách cẩn-thủ mực thước như bọn hủ đạo-đức kia ; bình sanh trong trường quan cõi sắc, đám bạc cuộc say, chỗ nào cũng chui mình vào, không thèm trớ tránh chi cả. Song đã biết là lụy thì tức thì gò ngựa, không bước vào nữa, chứ không có chút gì là quyến luyến. Thường bảo ông Nghè Trần (Trần-quí-Cáp, Tiến-sĩ trong tỉnh, bạn thiết với tiên-sinh) rằng : « Người ta lâm cái cảnh tình dục ham muốn, vào trong ấy mà lại ra được, mới là hào kiệt, mới là không nịch ; như các anh là đứng ngoài xa trông vào mà đã sinh lòng sợ, không dám lại gần đó thôi ; nhất đán vào trong, biết đâu không mê mà bị nó lụy mình như các người khác ? »

Ông Nghè Trần thâm phục câu nói ấy, song trả lời rằng : « Để cho đến vào trong mà không ra được, thà không vào là hơn ! »

Một đời tiên-sinh hẳn đã làm được như lời nói. Hãy kể một chuyện như sau nầy :

Ở Kinh, ông Hầu nọ có một người con gái, có tư sắc, biết nghề đờn, nghề thơ, tuổi độ vài mươi, chưa chồng, tường đông ong bướm đi về xôn xao. Một ngày nọ, anh em cùng tiên-sinh tới chơi, nàng ấy thấy tiên-sinh dung mạo khác thường, có lòng ái tài, như Trác-văn-Quan với Tương-Như 14 , cậy người ngỏ ý, tiên-sinh cũng nhận lời, song hứa rằng : để cáo với phu-nhân nhà đã. Từ đó thi văn qua lại hơn vài tháng, có ý triền miên (trong tập thi có mấy bài tuyệt cú, có câu rằng : Biết đấng danh lưu giữa bụi hồng, gặp nhau há lẽ một cười không ?…) tức là làm hồi đó.

Ít lối tiên-sinh về thăm nhà, nàng ấy sắm tiễn-vật đưa lên đò, tiên-sinh không nhận, nói rằng đợi về cáo với phu-nhân đã. Về đến nhà hồi lâu, thấy phu-nhân ở ngoài đi vào, quần áo lang thang, tay chưn bùn lầy, hỏi ra thì coi cấy ngoài ruộng về nấu cơm trưa, đặng đem cho bọn cấy. Tiên sinh thấy thế, như nước lạnh xối sau lưng, nghĩ thầm trong bụng rằng, cái người trong mắt mình với cái người trong ý mình, khác nhau xa lắm : một mai mang người ấy về, biết đặt vào chỗ nào ? Ngẫm nghĩ một hồi, cái cao hứng mấy lâu đeo đuổi, và hăm hở mang về đó, biến đi đâu mất, không hở một điều gì ; cái dây tình dăn díu mấy lâu, chỉ một lưỡi dao đứt hẳn, như không có vậy. Nàng ấy lấy làm lạ, gởi thư oán trách, tiên-sinh không trả lời, chỉ viết một câu rằng : « Đừng lấy cớ ta mà lầm ! »

Than ôi !! Sóng sắc đắm người, xưa nay biết bao mà kể ! Câu chuyện tiên-sinh đó, thật nên nêu ra để làm gương cho bọn thiếu-niên sau nầy vậy. (Chuyện đó là tiên-sinh lấy nghĩa lý mà đoạn tình dục chớ không phải bọn cụ nội sợ vợ, không được lớt miệng).

6) Nam-du về đi ngang Phan-Rang, người Quản-đạo đó là người trong Nam, hơi thông chữ Hán, có tánh tự phụ khinh người ; tiên-sinh vẫn không quen biết, song nghe người ta nói, vào chơi đi thẳng vào ngồi nói chuyện, anh Quản ta lấy làm lạ, tiên-sinh nói : « Ông quên tôi sao ? Sao không có ký tánh thế ? » Anh Quản ta ngồi nghĩ hồi lâu, tiên-sinh lại nói : « Thong thả ông sẽ nhớ lại, xin cứ ngồi nói chuyện đã ». Tiên-sinh thuật chuyện Nam-du và nói rằng : « Trước nghĩ rằng Nam-Trung là đất Yên, Triệu 15 nước ta, chắc nhiều người bi ca khẳng khái… nay xem lại chỗ thấy không được như chỗ nghe ». Nhân đọc cái thư gửi cho Trương công-tử một dạo (Trương là con nhà thế gia ở Nam-Trung ra Phan-Rí chịu giới thiệu việc Nam-du cho tiên-sinh, đi vào Nam trước mấy lần, rồi gởi cho tiên-sinh một cái thư, không nói điều gì, chỉ giục tiên-sinh vào, tiên-sinh viết thư nầy trả lời, và từ đi về Bắc, đại khái nói thời cuộc cạnh tranh, cùng nước nhà suy sút, nòi giống tiêu mòn, người có huyết tánh không lẽ ngồi yên được…) Anh Quản ta biết tiên-sinh kích mình, khen rằng : « Như ông thật là người có đại chí ». Tiên-sinh nói : « Sinh trong nước Nam ta ngày nay, mà không có lòng lo đến chủng tộc, thì không phải người nữa, có gì là đại chí ? » Quản ta biết tiên-sinh là người khác thường, đãi cách kính trọng, tiên-sinh nói tên họ rồi đi.

Đến Bình-Định, vào thăm ông Huyện Phù-cát, ông Nguyễn-quí-Long, ông ấy làm quan mà có tánh thích thảng, ưa nghe tiên-sinh nói chuyện. Hồi ra về, đưa ra sân dùng dằng mãi, không chịu rời tay, và sách câu lưu-đản, tiên-sinh đọc liền rằng : « Lòng nhọc chánh thời ươn, một cõi đơn ca nghe đất dậy, kẻ đi người ở lại, hai ta tâm sự phú trời soi… » Ông Huyện mừng lắm như được một của báu, từ về xem đắc ý lắm.

Ra Quảng-Ngãi, vào nhà ông Án-Ba (Bố-chánh hưu, Lê-Khiết, ở làng An-Ba, trước là môn hạ ông Thạch-Trì Nguyễn-Thân, gần đây thôi quan ở nhà, Thạch-Trì có ý sợ, ông ấy có tư-tưởng mới nhiều ít), trong lúc nói chuyện, tiên-sinh muốn dẫn tới đường mới, bàn nhân-vật hiện thời và môn hạ Thạch-Trì, tiên-sinh nói : « Môn-hạ ông Thạch-Trì không có người ».

- Sao mà ông biết ?

- Tài lực oai vang như Thạch-Trì, và cầm quyền nước đã lâu, mà không làm được công danh sự-nghiệp lớn lao, chỉ rút cuộc đến phú quí một mình mà thôi. Môn-hạ có người, rao lại như thế ?

Ông Bố An-Ba, người phụ-khí, vì câu nói khích trên, có ý tức, nói : « Ông chưa biết, chứ trong cũng có người… »

Nói chưa dứt lời, tiên-sinh liền đỡ lời : « Nếu có người thì ông Thạch-Trì lại không tin dùng ».

Ông Bố đắc ý, vỗ bàn cả cười, nói : « Thật như lời ông » (vì lúc ấy ông Bố bị đãi lạt lẽo).

Than ôi ! Chỉ một bữa nói chuyện đó, mà ông An-Ba đổi ngay chí-khí, cổ lệ sĩ phu trong tỉnh, sau chết về cuộc dân biến năm 1908.

7) Cụ Đề-Thám cứ hiểm miền Phồn-xương chống với người Pháp, hơn hai mươi năm, tiếng tăm lừng lẫy trong nước. Tiên-sinh vào ra mắt, cùng nói chuyện, khuyên cụ nên mở cửa dung nạp… Cụ Đề muốn cầm tiên-sinh lưu giúp việc mà tiên-sinh không khấn. Sau nghe tiên-sinh Đông-độ, và bị bắt ở Hà-Nội, cụ Đề lấy làm tiếc, bảo thủ hạ rằng : « Phải ông Phan ở đây đã khỏi cái nạn ấy ».

8) Tiên-sinh Đông-độ về, nhà đương-cuộc thường cho người tới thăm. Tiên-sinh muốn tới nói chuyện với Công-sứ Tỉnh, lại nghĩ rằng đường đột đi tới, có lẽ người ta khinh dễ. Tiên-sinh viết một cái thư cậy người quen dẫn giao đem tới Ông… Cố Đạo ở Trà-Kiệu, có ý muốn nói chuyện. Cố ấy đã có nghe tiếng tiên-sinh, lại nghe nói đi Nhật-Bản về và có làm bài điều trần, định ngày tới nhà thờ làng Phước-Kiều nói chuyện. Ông Cố hỏi tiên-sinh việc đi Nhật-Bản có không ? Tiên-sinh nói việc ấy khó nói ; nói có thì người ta cũng không tin, nói không thì người ta nghĩ rằng có, chỉ tôi biết lấy tôi mà thôi, không phải nói.

- Đi Nhật-Bản thì đi đường nào ?

- Thế-giới giao-thông nầy, đàng nào lại không đi được ? và tôi nghĩ giáo-sĩ như các ngài đều là người nước văn-minh bên Tây, nay sang bên nầy ôm một lòng bình-đẳng bác-ái, lo dìu dắt nhân-loại, rõ xét thời cuộc, nghĩ việc tương lai, nên tôi muốn hầu chuyện, đặng tỏ tấm lòng uất-ức một đôi chút, không ngờ ngài lại hỏi những câu không khác chi giọng hỏi quan trường Annam như thế.

Ông… biết tiên-sinh có ý khích mình, trả lời một cách lạt lẽo rằng : « Nhà tôn giáo chỉ quản bên phần hồn mà thôi ».

Ông Cố… biết tiên-sinh có hoài-bão khác người, bèn nói rằng : « Ông đã có lòng như thế, sao không tới nói với Công-sứ ? »

Tiên-sinh nói : « Tôi sẵn lòng như thế, đã làm bức thư gửi cho Toàn-quyền Khâm-sứ rồi, song có một điều nầy nên tôi không muốn tới : Quan Tây sang bên này, hằng ngày chỉ tiếp kiến có đám quan-trường mà thôi, mà trong ấy thì nhiều kẻ ô mỵ không nhân cách. Vì thế nên người Tây có ý khinh người Annam, cho sĩ-dân cũng một bọn như thế, ấy là một đều lầm, nên tôi không muốn tới, và tôi muốn nói là việc quan-hệ đến lợi hại cả hai bên nước Pháp cùng Nam, chứ không việc riêng chi tôi. Quan Sứ có chịu đãi một cách khác, cách đãi quan Annam thì tôi mới tới ».

Ông Cố nói : « Để tôi làm giới thiệu cho ». Ông Cố mới viết thư cho Công-sứ tỏ ý tiên-sinh yêu-cầu như thế. Công-sứ bằng lòng định ngày tới nói chuyện, hơn mấy giờ đồng hồ, từ đó quan Nam không lấy ông Sứ mà nhát nữa.

9) Mới ra Côn-Lôn còn giam tạm trong Bagne (nhà ngục), tiên-sinh gởi tiền cho một tên Ma-tà nọ mua thuốc giấy, v.v… lâu mà không thấy đưa vào, tiên-sinh ra cửa nhà giấy đòi mãi, tên nọ giận lắm, vu rằng tiên-sinh chưởi mắng lính. Gardien-Chef vào hỏi, tiên-sinh biện bạch cứng cõi, Chef Tây cầm roi mây lăm lại, tiên-sinh giựt mà bẻ gãy, anh Chef giận, xin với Tham-biện phạt 4 ngày xiềng.

Theo lệ thường tù tội ra ở ngoài làng An-Hải, phải có lý hào nhận lãnh ; tiên-sinh ra ngoài xuất tự ý quan Tây, người làng không nhận không được ; tánh lại ngay thẳng, không chịu khuất như tụi tù khác, hào lý ghét lắm, được hơn một năm, nhân dịp trong Bagrne có dịch, ngày chết năm ba người, bọn Lý dịch làng đó muốn trả đũa, lấy cớ tiên-sinh không di trình duyệt (người tội ra ở làng mỗi đêm phải tới hương hội trình duyệt rồi về) đến kêu với Tham-biện rằng tiên-sinh không tuân lệ làng, lại tánh ngang lắm, nhất định trả cho quan làng không giám lãnh nữa. Tiên-sinh nói rằng : « Con ma chuyên chế, con sát cường quyền, cũng kiêng ông thần tự-do trong mình tau, đồ dịch quỷ làm gì ». Tiên-sinh vào Bagne ở với anh em mấy ngày cũng bình yên không có việc gì.

Một ngày nọ tiên-sinh ăn xong vào trước (thường thường ở một phòng mở cửa ra ăn một lần, đợi xong hết vào một lượt với nhau, tên cai Ma-tà cầm xâu chìa khóa giáng lên, muốn đánh, tiên-sinh thuận tay bắt lấy, quẳng một cái rủi nhằm trên trán tên cai ấy đổ máu, cai nọ thưa với Gardien-Chef nói với Tham-biện bị bốn ngày ngục tối (cachot ou cellule : ngục tối).

10) Ở bên Pháp cuộc Âu-chiến xảy ra, tiên-sinh không chịu đương binh, có người vu hãm, bị giam chín tháng, sau được thả ra, tiên-sinh làm lấy mà nuôi mình, thường ở quán khách về tầng lầu thứ chín thứ mười (ở thành Paris những người nghèo thường ở trên lầu cao nhất, vì ít giao-thiệp với ai), sau các nơi đô-thành hay bị nạn trái phá, tiên-sinh ra bãi biển ở với làng chài đánh cá, thường mời đi diễn-thuyết.

11) Ở Tây về đến cửa Ô-Cấp, đem đồ hành-lý vào tòa Thương-chánh kiểm, quan Thương-chánh hỏi tên họ, tiên-sinh nói : « Đồ của tôi đó, ông hãy kiểm đi, không phải hỏi tên họ ». Quan Thương-chánh giận nói rằng : « Tôi qua An-nam đã mười năm, chưa thấy người An-nam nào như anh ». Tiên-sinh nói : « Tôi ở Pháp mười bốn năm cũng không thấy người Pháp nào như ông ». Nói rồi giở túi lấy thuốc hút, quan Thương chánh hỏi : « Sao lại ở đây mà hút thuốc ? » Tiên-sinh nói : « Tôi xem cả tờ yết-thị dán đó, không thấy cấm hút thuốc ». Thương-chánh cố cầm đồ lại mấy ngày, sau lại trả hết.

12) Ở Sài-Gòn mang bệnh, nằm nhà thương mấy hôm, nằm phòng hạng nhất như người Tây. Người làm Bếp mỗi bữa ăn, thường mang tới Tây trước, tiên-sinh biết mà ghi đó, bữa nọ bảo người Bếp rằng : « Ngày mai là phiên phải đem tới tôi trước, nếu không, chú phải bị kiện đó ». Người Bếp sợ cứ thứ tự mà đem, không dám làm qua nữa.

« Lùi
Tiến »