Tôi đang học hỏi đây. Gã mick xuất thân từ những con hẻm nghèo nàn ở Limerick đang phơi trần lòng đố kỵ của hắn ra đây. Tôi có quan hệ với những người di dân thế hệ thứ nhất và thứ hai là những người giống như tôi vậy, song tôi cũng quan hệ cả với những tầng lớp trung lưu và trên trung lưu. Tôi không thể không mỉm cười dè bỉu. Thật ra tôi nào có ý khinh rẻ họ đâu, nhưng cái nết đến chết không chừa mà. Đó là lòng đố kỵ. Không phải căm hận đâu. Chỉ đố kỵ thôi. Tôi lắc đầu ngao ngán trước những chuyện mà họ bận tâm bận trí, toàn những chuyện vặt vãnh của giới trung lưu, nóng quá, lạnh quá hay em không thích loại kem đánh răng này. Sau ba thập kỷ sống trên đất Mỹ tôi còn cảm thấy sung sướng khi bật điện thấy có đèn sáng hay khi tắm xong với tay có được tấm khăn lau người. Tôi đang đọc một người tên là Krishnamurti [146] mà tôi thích ông ở chỗ ông không hợm mình là guru [147] như một số người đã ào ạt từ Ấn Độ sang đây rồi cầm hộp thiếc đi quyên góp bạc triệu [148] . Ông ta không nhận mình là guru, là bậc thông tuệ hay bất cứ danh xưng nào khác. Ông bảo, ông gợi ý, rằng anh bạn ơi, rút cục thì anh chỉ có thể trông cậy vào chính anh thôi đấy. Có một tiểu luận "lạnh người" của Thoreau tên là "Đi", trong đó ông viết rằng khi ta ra khỏi nhà để đi thì ta nên thật tự do, thật không vướng mắc để không bao giờ phải quay về điểm xuất phát. Ta cứ việc đi mãi, vì ta tự do. Tôi cho học trò đọc tiểu luận này, chúng nói, Ô không được đâu, chúng chịu không làm nổi. Cứ việc đi mãi à? Thầy nói đùa ư? Kể cũng lạ thật đấy, vì khi tôi kể chúng nghe chuyện Kerouac và Ginsberg [149] ngao du thì chúng lại thấy thật tuyệt vời. Hoàn toàn tự do. Cần sa, đàn bà và rượu trên ba nghìn dặm đường. Tôi nói với chúng cũng là nói với chính mình. Cái mà chúng ta đều có là sự bức xúc. Chúa ơi, ở tuổi trung niên tôi mới phát hiện ra những điều mà một người Mỹ thông minh vừa phải đã biết khi mới đôi mươi. Cái mặt nạ thường được gỡ ra và tôi có thể thở được.
Lũ học trò của tôi trải lòng chúng trên các bài viết và trong những cuộc thảo luận và tôi được dẫn đi, qua những trang văn ấy, một vòng đời sống của một gia đình Mỹ, từ những ngôi nhà ở East Side tới khu chung cư ở Phố Tàu. Đó là một đám rước của dân bản địa và dân mới nhập cư, đâu đâu cũng có rồng và ma quỷ.
Phyllis viết bài kể chuyện gia đình cô bé đã tụ họp nhau như thế nào vào buổi tối Neil Armstrong [150] đáp xuống mặt trăng, mọi người chạy như thoi ra sao giữa phòng sinh hoạt có đặt máy truyền hình và phòng ngủ là nơi ông bố đang hấp hối. Chạy ra rồi lại chạy vào. Ai cũng lo cho ông bố nhưng lại không muốn hụt cảnh đáp xuống mặt trăng. Phyllis kể em đang ở bên cạnh bố thì mẹ em gọi ra xem Armstrong đặt chân lên mặt trăng. Em chạy ra phòng sinh hoạt, ai nấy reo hò và ôm chầm lấy nhau, cho tới lúc em cảm thấy điều bức xúc ấy, điều bức xúc quen thuộc ấy, em vội chạy vào phòng ngủ thì thấy bố đã đi rồi. Em không gào, không khóc mà lo không biết phải quay ra phòng sinh hoạt báo thế nào cho những người đang sung sướng kia rằng bố đã vĩnh viễn ra đi.
Giờ đây em đang òa khóc trước cả lớp. Phải chi em trở về chỗ của em ở bàn đầu. Tôi mong em quay về chỗ, vì tôi lúng túng không biết phải làm gì. Tôi đi tới bên em, quàng tay trái lên vai em. Nhưng chưa đủ. Tôi kéo em sát lại, ôm bằng cả hai tay, để em thổn thức trên vai tôi. Những khuôn mặt trong lớp đầm đìa nước mắt, cho tới khi có em nào đấy kêu lên Phyllis, hết sẩy, rồi một đôi em vỗ tay, rồi cả lớp vỗ tay hoan hô khiến Phyllis quay khuôn mặt đẫm nước mắt nhìn các bạn mỉm cười, rồi khi tôi dẫn em về chỗ thì em quay người vuốt má tôi. Tôi nghĩ vuốt má chứ có phải động đất đâu, nhưng tôi sẽ không bao giờ quên câu chuyện về Phyllis, ông bố quá cố của em và Amstrong đặt chân lên mặt trăng.
Nghe đây. Các em có nghe không nào? Các em không chịu nghe. Thế thì thầy nói với những em nào trong lớp này thích viết văn vậy.
Mỗi khoảnh khắc trong đời các em đều viết cả đấy. Thậm chí các em viết cả trong mơ. Đi trong những hành lang nhà trường các em gặp người này người nọ và các em viết điên cuồng trong đầu óc. Kia là ông hiệu trưởng. Các em phải quyết định, quyết định chào như thế nào. Gật đầu chào ư? Hay mỉm cười? Hay là nói chào thầy Baumel? hay chỉ đơn giản nói "Hi"? Các em gặp một người mình không ưa. Các em lại viết như điên trong đầu. Lại quyết định. Quay đi? Nhìn chòng chọc khi đi ngang qua? Gật đầu? "Hi" một tiếng qua kẽ răng? Gặp người mình quý mến các em "Hi" thật nồng nàn, một tiếng "Hi" như tiếng mái chèo quẫy nước, như tiếng đàn violin ngân, như đôi mắt sáng ngời trong đêm trăng. Có nhiều cách "Hi" lắm. Rít, láy, quát, hát, rống, cười, khạc. Chỉ một lần thơ thẩn trong hành lang thôi đủ đòi hỏi nhiều đoạn văn, nhiều câu trong đầu các em và bao nhiêu là quyết định.
Thầy nói thế dưới nhãn quan một người đàn ông, vì với thầy thì phụ nữ vẫn là một bí ẩn lớn. Về điều này thì thầy có thể kể rất nhiều chuyện. Các em có nghe thầy nói không nào? Thí dụ một em trai phải đoạn tuyệt với một cô gái trong trường này. Tình cờ em được biết cô nàng đã đoạn tuyệt với một anh chàng khác, nghĩa là chiến trường sạch bóng quân thù. Em muốn đi chơi với cô nàng. Chà, lúc ấy văn chương chữ nghĩa xôn xao trong đầu có. Có thể em là một trong những anh chàng rất "ngầu", dám sán lại gần Helen thành Troy hỏi nàng định làm gì sau khi thành hết bị vây hãm và em biết có một quán dễ thương bán thịt cừu vào ouzo [151] trong khu phế thành ở Ilium. Ai "ngầu", ai duyên dáng không cần chuẩn bị kịch bản gì mấy. Còn những kẻ như chúng ta phải viết ra đầu ra đũa. Em gọi điện hỏi nàng có bằng lòng đi chơi với em vào tối thứ Bảy không. Em bồn chồn. Nàng mà từ chối thì chắc em đến phải lao xuống vực thẳm hay uống thuốc quá liều mất. Em bảo, qua điện thoại, rằng em cùng học môn vật lý với nàng mà. Nàng đáp, đầy hoài nghi, thế à? Em hỏi tối thứ Bảy nàng có bận không. Nàng bận. Nàng đã có chương trình rồi, nhưng em ngờ rằng nàng nói dối. Một cô gái không thể nhận rằng mình chẳng có việc gì làm vào tối thứ Bảy. Vì như thế thật không Mỹ tí nào. Nàng phải đóng kịch chứ. Lạy Chúa, nếu không thì người ta sẽ nói sao về nàng? Em viết kịch bản trong đầu rồi hỏi thế tối thứ Bảy tới và hết thảy mọi tối thứ Bảy tiếp theo cho tới vô tận nàng có bận không. Nàng định sao thì em, gã cả thộn nhóc con khốn khổ, cũng xin chấp nhận cả, miễn là được gặp nàng trước khi em đến tuổi xin trợ cấp dưỡng lão. Nàng lại em chã, bảo tuần sau gọi lại nàng lần nữa xem sao. Vâng, nàng sẽ tính. Tối thứ Bảy nàng ngồi nhà xem truyền hình với mẹ và bà dì Edna có cái miệng như súng liên thanh. Tối thứ Bảy em ở nhà với bố mẹ, cả hai người cứ câm như hến. Em đi ngủ, mơ tuần tới, vâng, lạy Chúa, tuần tới có thể nàng đồng ý và nếu nàng đồng ý thì em đã lên sẵn chương trình rồi, cái quán Ý dễ thương trên đại lộ Columbus trải khăn bàn kẻ ô đỏ trắng và những cây nến trắng nhỏ giọt cắm trên các vỏ chai Chianti.
Mơ, ước, lên chương trình: đó chính là viết văn đấy, song sự khác biệt giữa các em và người thường là các em chú ý những điều này, các em ạ, sắp xếp trong đầu óc mình, nhận ra được tầm quan trọng của điều không quan trọng rồi viết lên giấy. Có thể các em đang khổ sở vì tình yêu hay vì buồn đau đấy, nhưng các em sắc bén trong quan sát. Các em là chất liệu của chính mình. Các em là nhà văn và một điều chắc chắn là: bất kể chuyện gì xảy ra vào tối thứ Bảy hay bất kỳ một tối nào khác, các em sẽ không bao giờ thấy nhàm chán nữa. Không bao giờ. Không có gì của con người còn lạ lẫm với các em nữa. Thôi, đừng vỗ tay mà hãy đưa bài làm của các em lên đây.
Thưa thầy McCourt, thầy thật may mắn. Thầy từng sống một tuổi thơ khốn khổ nên thầy có chuyện để viết. Chứ chúng em biết viết gì bây giờ? Chúng em được sinh ra, rồi đi học, đi nghỉ hè, vào đại học, yêu đương, ra trường rồi làm nghề nào đó, lập gia đình, có 2 phẩy ba đứa con như thầy luôn nói, cho chúng đi học, rồi ly dị như năm mươi phần trăm người đân, rồi phát phì, bị nhồi máu cơ tim lần đầu, về hưu, rồi chết.
Jonathan ạ, đó là viễn cảnh thê thảm nhất của đời người Mỹ thầy từng được nghe trong một lớp trung học. Nhưng em vừa đưa ra những chất liệu cho quyển tiểu thuyết Mỹ vĩ đại. Em vừa thâu tóm những tiểu thuyết của Theodore Dreiser, Sinclair Lewis và F.Scott Fitzgerald đấy.
Chúng bảo tôi nói đùa.
Tôi bảo các em biết những chất liệu của cuộc đời thầy McCourt rồi. Các em cũng có chất liệu riêng mà các em sẽ sử dụng khi viết về đời mình. Hãy ghi những chất liệu của các em vào sổ tay. Hãy nâng niu chúng. Quan trọng lắm đấy. Do Thái. Trung lưu. New York Times. Triều Tiên. Tiếng Ý. Tiếng Tây Ban Nha. Một tờ báo ngoại ngữ trên bàn bếp. Tiếng nhạc sắc tộc từ radio. Các ông bố bà mẹ mơ về thăm cố hương. Bà nội ngồi lặng lẽ một góc phòng sinh hoạt nhớ tới những hình ảnh loáng thoán trong các nghĩa trang ở Queens. Cả nghìn mộ bia và thánh giá. Bà cụ nằn nì: Làm ơn đừng chôn tôi ở đây. Hãy đưa tôi về Trung Quốc. Xin làm ơn làm phước. Nào, các em hãy tới ngồi với bà nội đi. Bảo bà kể chuyện cho mà nghe. Ông bà nội ngoại nào cũng đều có nhiều chuyện cả, và nếu các em để họ nhắm mắt xuôi tay mà không ghi chép lại chuyện của họ là một tội ác đấy. Các em sẽ bị phạt cấm không được vào căng tin nhà trường.
Dạ. Ha, ha.
Các bậc cha mẹ, các ông bà nội ngoại sẽ sinh nghi khi con cháu bỗng dưng thích nghe chuyện đời họ. Hỏi gì mà lắm thế? Chuyện của bà đâu liên can đến ai, chuyện cần làm thì bà đã làm cả rồi.
Bà đã làm những gì nào?
Chẳng liên can đến ai cả. Lại bị cái ông thầy giáo thích gí mũi vào chuyện người khác xúi bẩy chứ gì?
Không phải đâu, bà ơi. Cháu chỉ nghĩ là bà muốn kể cho cháu về đời bà để cháu có thể kể lại cho lũ con của cháu, rồi chúng sẽ kể cho lũ con của chúng và mọi người sẽ mãi nhớ đến bà.
Cháu thưa với ông thầy hãy lo chuyện của mình đi. Người Mỹ giống nhau cả, cứ luôn thóc mách. Còn gia đình mình quý trọng chuyện riêng tư.
Nhưng bà ơi, ông thầy này người Ireland mà.
Vậy à? Họ là bọn tệ lậu nhất đấy, toàn nói với hát về những chuyện vớ vẩn hoặc họ là nhưng quân bị bắn hay treo cổ.
Những đứa khác tham gia kể, chúng hỏi người lớn về quá khứ của họ như thế nào, họ được dịp kể lể không ngừng, không ngăn nổi, kể tới giờ đi ngủ, kể quá giờ đi ngủ luôn, về những chuyện thương tâm và đầy nước mắt, về lòng nhung nhớ cố hương, lòng yêu nước Mỹ. Quan hệ gia đình được chấn chỉnh lại. Thằng bé Milton mười sáu tuổi nhìn ông nội bằng đôi mắt khác.
Trong Thế chiến thứ hai ông nội tớ đã trải qua lắm chuyện mạo hiểm, các bạn không tin nổi đâu. Chẳng hạn ông phải lòng con gái một viên sĩ quan SS [152] , vì thế mà suýt nữa ông bị giết. Ông chạy thoát rồi trốn trong một bãi rác, trong một cái, ta gọi là gì của con bò nhỉ?
Bộ da bò, phải không?
Đúng đấy. Sở dĩ trong bãi rác có bộ da bò, vì nó đã bị chuột gặm hết nửa rồi và ông phải chống trả lũ chuột. Suốt bà ngày ông chui trong bộ da bò, chống trả lũ chuột cho tới khi một ông cố đạo trông thấy, mới đem giấu ông trong một nhà thờ, một năm sau lính Mỹ mới tới. Bao nhiêu năm qua ông nội tớ ngồi trong một góc phòng, tớ không hề trò chuyện với ông mà ông cũng không hề trò chuyện với bố. Ông vẫn chưa nói thạo tiếng Anh, nhưng đó không phải là lý do để bào chữa. Nay tớ đã thu chuyện này vào băng và bố mẹ tớ, bố mẹ tớ, Chúa ạ, hỏi để làm gì?
Clarence là một học sinh da đen, thông minh và nhút nhát. Nó ngồi cuối lớp với ba em da đen khác và không bao giờ tham gia thảo luận. Nó với mấy đứa kia thì thầm thì kể chuyện để cười riêng với nhau và cái trò bè đảng xấu xa này khiến tôi bực mình. Song đồng thời tôi lại nghĩ rằng nếu tôi là da đen thì đó chính là nơi tôi cũng sẽ ngồi, tuốt phía sau cái ghế ghetto [153] nhỏ của tôi, để có thể kín đáo giễu cợt thầy giáo da trắng.
David cũng da đen, thông minh và không nhút nhát tí nào. Nó ngồi cạnh chiếc cửa sổ lớn với đám bạn da trắng, đi ra đi vào có nhau. Khi tôi đặt câu hỏi cho cả lớp thì nó giơ tay, rồi khi nó trả lời sai thì nó lắc đầu bực dọc nói "Ô mẹ kiếp". Cả đám bắt chước nhưng không đứa nào nói "Ô mẹ kiếp" được như David. Không đứa nào gây được vui nhộn như David. Nhiều học sinh đổi giờ học chỉ để được học cùng lớp với David. Mỗi thứ Sáu, khi nó đọc truyện và tiểu luận của nó thì cả lớp cười bò. Sáng thứ Hai vừa rồi tôi ra khỏi giường. Hay tôi không ra khỏi giường. Tôi chỉ mơ thấy mình ra khỏi giường thôi và bây giờ tôi không thể đoan chắc được với các bạn rằng tôi nằm hay không nằm trên giường hay tôi chỉ mơ thôi hoặc có thể tôi mơ rằng mình mơ về chuyện ấy. Tất cả là lỗi của thầy Lipper vì trong giờ dạy về triết Trung Hoa thầy đã kể chuyện một người mơ thấy mình là bướm hay một con bướm mơ thấy nó là người [154] . Hay nó mơ thấy nó là bướm? Ô, mẹ kiếp.
Mọi người cười ồ, trừ Clarence. Ba đứa bạn của nó cũng cười, tuy hơi gượng gạo. Tôi hỏi hôm nay có muốn đọc truyện không. Nó lắc đầu. Tôi bảo nó rằng đây là lớp viết văn, mọi người cần tham gia và nếu nó ngại đọc thì cứ để ai khác đoc bài của nó vậy. Sự lãnh đạm của nó khiến tôi bực mình. Tôi muốn có được một lớp thật đông vui gồm toàn những học trò như David nói "Ô, mẹ kiếp".
Hôm ấy tôi có nhiệm vụ phải kiểm tra căng tin. Clarence ngồi dựa tường với một nhóm học sinh da đen. Chúng cười ồ khi nó làm trò để giống Hitler: một cái dồi kẹp giữa mũi và môi trên giả làm ria mép, một cái bát to trên đầu, tay phải duỗi thẳng hô "Sieg Heil" [155] . Clarence trong căng tin khác hẳn Clarence trong lớp.
David ngồi quan sát ở một bàn khác, im lặng chứ không cười.
Sau bữa ăn trưa tôi hỏi Clarence có muốn đọc vào một ngày khác không. Không, nó chẳng có gì để nói cả.
Không ư?
Dạ, em không bao giờ như David được.
Em đâu cần phải như David.
Thầy sẽ không thích đâu. Chuyện em biết toàn chuyện đường phố. Những chuyện xảy ra trên đường phố nhà em.
Ừ, thế thì em hãy viết về đường phố nhà em.
Em không viết được. Toàn là ngôn ngữ bậy bạ thôi mà.
Clarence, hãy nói thầy nghe thử một từ mà thầy chưa từng biết. Một từ thôi, nào Clarence.
Nhưng em tưởng là chúng ta phải dùng thứ tiếng Anh đứng đắn.
Cứ dùng thứ tiếng Anh nào em thích, miễn là em viết ra được trên giấy.
Ngày thứ Sáu sau đó nó sẵn sàng đọc. Những em khác đứng đoc, còn nó muốn ngồi. Nó nhắc tôi là bài của nó có ngôn ngữ vỉa hè, tôi có ngại gì không?
Tôi đáp không có gì của con người là lạ lẫm với tôi, rồi tôi bảo nó tôi không nhớ câu này của nhà văn Nga nào.
Nó nói thế ạ, rồi bắt đầu đoc bài nó viết về chuyện các bà mẹ trên đường nhà nó đã đối phó với một tay bán ma túy như thế nào. Họ đòi hắn phải cuốn gói khỏi con đường này nhưng hắn bảo hắn phải kiếm sống chứ và họ nên xéo đi cho hắn nhờ. Thế là một đêm nọ sáu bà đã tóm cổ hắn, lôi tới một bãi đất trống. Họ làm gì với hắn ở đó thì Clarence không được biết, nhưng có nghe đồn. Nó không thể thuật lại tin đồn dù nếu được phép, vì sẽ phải dùng thứ ngôn ngữ quá thô lỗ đối với học sinh trường Stuyvesant. Nó chỉ có thể kể rằng một trong các bà mẹ kia đã gọi xe cấp cứu, nên tay bán ma túy mới không bỏ mạng ở bãi đất trống kia. Cảnh sát có đến, dĩ nhiên rồi, nhưng chẳng ai biết gì để mà khai và chắc là cảnh sát cũng hiểu thôi. Trên đường phố của Clarence người ta sống như thế đấy.
Im lặng. Rồi Wow, chúng vỗ tay ào ào. Clarence ngả lưng vào thành ghế, đưa mắt nhìn David là người vỗ tay nồng nhiệt nhất. David không nói "Ô, mẹ kiếp". Nó biết vừa rồi là giây phút vinh quang của Clarence.
Chúng muốn biết anh chàng kỳ quặc nào đứng trước cửa lớp thế kia. Anh ta trắng bệch, khật khừ say thuốc, trông như xác chết. Anh ta có thể gọi tôi là Frank được, nhưng không, anh chào thầy McCourt, tỏ lòng kính trọng thầy giáo.
Tôi bước ra ngoài hành lang để gặp anh ta một lát, anh ta giải thích rằng tình cờ qua đây, nhớ đến tôi, không biết lúc này tôi mạnh khỏe ra sao. Với lại anh ta đang cạn tiền, không biết tôi có thể giúp được tí tiền lẻ nào chăng. Anh ta rất trân trọng lòng nhân ái của tôi trong quá khứ và tuy khó có khả năng đền đáp được, nhưng anh ta sẽ mãi mãi nhớ đến tôi với tình cảm nồng nàn. Anh ta rất vui được ghé thăm tôi để thấy tuổi trẻ của nước Mỹ, những thanh niên tuyệt vời trong lớp này, được những bàn tay đầy năng lực và hào phóng của tôi chăm sóc. Anh chàng cám ơn tôi, hy vọng sớm gặp lại tôi tại quán Montero ở Brooklyn, cách căn hộ của anh ta vài con đường. Chỉ vài phút nữa thôi là số tiền mười đôla tôi dúi cho anh ta sẽ vào tay một gã bán ma túy trên quảng trường Stuyvesant thôi.
Huncke đấy, tôi bảo học trò. Mở bất cứ bài viết nào về văn học Mỹ đương đại hay thế hệ mệt mỏi, các em đều sẽ tìm thấy tên Hertbert Huncke trong danh mục.
Anh ta không có thói quen uống rượu, nhưng anh ta sẵn sàng để ta mời một ly trong quán Montero. Giọng anh ta trầm, êm và du dương. Anh ta không bao giờ tỏ ra bất lịch sự và ta khó có thể nghĩ rằng anh ta nghiện ma túy. Anh ta tôn trọng luật pháp nhưng không tuân thủ.
Anh ta từng ở tù vì tội móc túi, cướp của, tàng trữ và bán ma túy. Anh ta là dân móc túi, lừa bịp, đĩ đực, dân chài gái và là văn sĩ. Anh ta được coi là người đã tạo ra từ "thế hệ mệt mỏi". Anh ta lợi dụng người khác cho đến khi họ hết kiên nhẫn, hết nhẵn cả tiền và họ bảo anh ta thôi đủ rồi nhé, Huncke. Xéo ngay, ngay lập tức. Anh ta hiểu và không hề thù oán. Anh ta chẳng để tâm. Thầy biết anh ta lợi dụng thầy, nhưng anh ta quen biết mọi người trong phong trào mệt mỏi và thầy thích nghe anh ta nói về Burroughs, Corso, Kerouac, Allen Ginsberg. R'lene Dahlberg có lần bảo thầy rằng Ginsberg từng ví Huncke với thánh Francis ở Assisi [156] . Đúng, anh ta là một kẻ phạm pháp, sống ngoài vòng pháp luật, song anh ta chỉ ăn cắp để thỏa cơn nghiện chứ không phải để kiếm chác. Hơn nữa anh ta rất cân nhắc khi lấy cắp. Anh ta không bao giờ lấy những món nữ trang có vẻ là đồ gia truyền. Anh ta biết nếu để lại cho khổ chủ một món quý thì sẽ tạo được thiện cảm và họ sẽ bớt đau khổ vì mất những món khác. Nghĩa là việc này sẽ đem lại may mắn cho anh ta. Anh ta thừa nhận đã phạm mọi tội trạng, trừ tội sát nhân, thậm chí đã có lần định tự sát trong nhà của R'lene ở Majorca. Thỉnh thoảng cho anh ta mười đôla thì thầy được bảo đảm không bị anh ta đột nhập vào nhà, tuy anh ta nói rằng lúc này việc đột nhập vào tầng một cũng hơi quá sức của anh ta rồi và thường thì anh ta phải kiếm trợ thủ nếu biết có mối nào hấp dẫn. Khu Lower East Side không thiếu những kẻ xung phong. Herbert Huncke không leo thang cứu hỏa và máng xối nữa rồi. Có nhiều cách khác để đột nhập vào thành lũy của người giàu, anh ta nói.
Chẳng hạn?
Hẳn thầy không tin nổi rằng trên Park và Fifth có biết bao dân gác cổng và quản gia khác đời [157] . Nếu tôi thỏa thuận được với họ, dàn xếp được chuyện thân xác tôi với thân xác họ thì họ sẽ phất tay cho tôi vào ngay thôi, có khi tôi còn được ngủ một giấc đẫy trong mấy căn hộ ấy nữa cơ. Thời vàng son ấy mà, khi tôi còn trẻ, tôi đã tự mình chào hàng như thế và làm ăn rất khấm khá, cám ơn. Có một lần bị một tay gộc trong giới bảo hiểm bắt quả tang, tôi đã cầm bằng sẽ ngồi tù một năm rồi đấy chứ, nào ngờ hắn gọi vợ mang rượu Martini, cuối cùng ba chúng tôi quần thảo một trận thật tuyệt trên giường. Chà, một thời oanh liệt. Hồi đó chúng tôi chưa thật là dân đồng tính luyến ái đâu, mới khác đời thôi.
Hôm sau trên bàn tôi có một bức thư phản đối, ký tên: "một bà mẹ". Bà không chịu tiết lộ tên vì e tôi trút giận lên con gái bà. Bà cho biết rằng đi học về cô bé đã kể cho cả nhà nghe về gã Honky đê tiện nọ; theo như con gái bà kể thì hắn hoàn toàn không thể là một hình ảnh gây cảm hứng cho giới thanh thiếu niên Mỹ được. Bà biết có những kẻ như thế bên lề xã hội Mỹ, nhưng chẳng lẽ tôi không thể tìm được những khuôn mặt xứng đáng hơn, điển hình cho "cái Chân và cái Thiện" ư? Những người như Elinor Glynn hay John P.Marquand chẳng hạn.
Tôi không thể phản ứng về bức thư, thậm chí không thể nói với cả lớp được vì ngại con gái bà sẽ khó xử. Tôi hiểu nỗi âu lo của bà mẹ, nhưng nếu đây là lớp dạy sáng tác dính sơ sơ tới văn học thì đâu là giới hạn cho thầy giáo? Nếu học sinh, nam hay nữ, viết chuyện về sex thì tôi có được cho phép đọc bài viết ấy trong lớp không? Sau bao năm dạy cả nghìn thanh thiếu niên, nghe chúng nói và đoc bài làm của chúng thì tôi biết rằng bố mẹ chúng có một quan niệm quá đáng về sự ngây thơ vô tội của con cái. Hàng nghìn học trò này từng là những người phụ đạo của tôi đấy.
Tôi dọ dẫm quanh vấn đề này mà không đả động gì đến Huncke. Các em hãy nhìn cuộc đời của Marlowe, Nash, Swift, Villon, Beaudelaire, Rimbaud, chứ chưa nói đến những kẻ đáng phỉ nhổ như Byron và Shelley, tới tận Hemingway sống phóng túng với đàn bà và rượu, hoặc Faulkner uống cho tới chết ở Oxford, Mississippi. Hay là nghĩ tới Ann Sexton đã tự sát, Sylvia Plath cũng thế luôn và John Berryman đã nhảy cầu tự tử.
Chà, tôi đúng là rành rẽ những chuyện u ám.
Lạy Chúa, McCourt ơi, đừng làm tình làm tội lũ trẻ nữa. Tốp lại đi. Cứ để mặc chúng, chúng sẽ về tới nhà mà; nếu chúng không vẫy đuôi [158] thì đó là tại vì mấy chuyện nhảm nhí của ông thầy Anh văn đã khiến chúng bị tê liệt đấy.
Những học sinh chuyên cần giơ tay hỏi tôi sẽ cho điểm chúng thế nào trong học bạ. Vì rốt cuộc tôi không bắt chúng phải làm bài thi như bình thường: không làm trắc nghiệm, không điền vào chỗ trống, không hỏi đúng hay sai. Phụ huynh nào quan tâm đều sẽ hỏi.
Tôi bảo chúng các em hãy tự cho điểm mình đi.
Sao ạ? Làm sao chúng em tự cho điểm mình được chứ?
Các em vẫn luôn tự cho điểm đấy thôi. Chúng ta đều làm thế cả. Tự cho điểm là một quá trình liên tục. Hãy tự vấn lương tâm, các em ạ. Hãy thành thật đặt cho mình câu hỏi: Ta học hỏi được gì không, sau khi đã đọc những cách nấu ăn như thể đọc thơ, thảo luận về "Little Bo Peep" như thể đó là một bài thơ của T.S. Elliot, tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của bài "Điệu Valse của cha tôi", nghe James và Daniel kể về bữa ăn tối của hai bạn này, ăn uống linh đình ở quảng trường Stuyvesant, đọc các bài phê bình quán ăn của Mimi Sheraton. Thầy nói thế này nhé: Nếu các em không học hỏi được gì cả từ những việc vừa nói thì hoặc các em đã ngủ gật trong lúc Michael chơi violin thật tuyệt vời và Pam thổi bản tụng ca cho món vịt, hoặc, mà điều này hoàn toàn có khả năng, các em ạ, thầy là một nhà giáo tồi.
Chúng reo lên. Vâng, đúng thế. Thầy là một nhà giáo tồi, chúng tôi cười ồ vì điều đó đúng phần nào, vì chúng được phát biểu tự do và vì tôi hiểu đó là chúng nói vui.
Những em chăm chỉ không hài lòng. Chúng bảo rằng ở những lớp khác các thầy cho học trò biết cần phải học những gì. Thầy dạy và học trò học. Rồi thầy cho bài thi và học trò được điểm tương xứng.
Những em chăm chỉ nói rằng chúng sẽ hài lòng nếu biết trước cần học những gì để chúng chuyên cần học cái đó. Chúng nói rằng trong lớp này học sinh không bao giờ biết cần học cái gì, thành ra làm sao chúng học và tự cho điểm mình được? Trong lớp này học sinh không biết ngày sắp tới sẽ nảy ra chuyện gì. Câu hỏi lớn đặt ra là cuối khóa học thầy giáo làm sao cho điểm?
Thầy cho các em biết thầy cho điểm thế nào nhé. Trước hết các em hiện diện như thế nào? Cho dù các em chỉ ngồi yên ở cuối lớp, ngẫmnghĩ về các buổi thảo luận và các buổi đọc thì chăc schắn các em vẫn học được gì đấy. Hai là các em có tham gia không? Những thứ Sáu các em có lên đứng đây đọc không? Đọc gì cũng được. Truyện, tiểu luận, thơ, kịch. Ba là các em có phát biểu ý kiến về bài làm của các bạn không? Bốn là, cái này hoàn toàn tùy thuộc vào các em, các em nghiền ngẫm về kinh nghiệm này và tự hỏi mình đã học được gì? Năm là, các em có chỉ ngồi đấy mơ màng không? Nếu có thì hãy tự cho điểm mình đi.
Tới đây thầy giáo trở nên nghiêm trang đặt câu hỏi lớn: Nói chung, giáo dục là gì? Chúng ta làm gì trong trường này? Các em có thể nói rằng các em muốn tốt nghiệp để lên được đại học, chuẩn bị sự nghiệp. Nhưng, các em thân mến ạ, còn hơn thế nữa cơ. Thầy đã phải tự hỏi mình làm cái quái quỷ gì trong lớp này. Thầy đã lập cho mình một phương trình. Bên trái tấm bảng thầy viết một chữ S, bên phải một chữ T. Thầy vạch một mũi tên từ trái sang phải, từ SỢ HÃI sang TỰ DO.
Thầy không nghĩ rằng có ai đạt được tự do hoàn toàn, nhưng điều thầy cùng làm với các em là xua nỗi sợ hãi vào một góc.