Mùa thu hoạch xương

Lượt đọc: 747 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 31

Buổi chiều hôm Yves và tôi rời trạm xá trên một chiếc xe tải, nền trời phủ một màu xám nhờ như màu bộ lòng của một con cá nướng chín. Ở phần này của đất nước, đôi mắt chúng tôi được thỏa mãn trước những dãy núi xanh màu chàm, những cánh đồng xương rồng, hay những đàn chim diệc và hồng hạc. Phong cảnh hữu tình ấy đủ khiến cho những người, dù đang thương tích đầy mình, cũng phải ngoái đầu lại nhìn ra bên ngoài, rùng mình cảm tạ rằng mình đã may mắn còn sống để trở về với đất mẹ.

Yves và tôi phải ngồi ép vào một góc trên một băng ghế chật ních phía đuôi xe. Tôi biết rằng chân tôi đang đè lên mạng sườn của anh, nhưng tôi không còn chỗ nào khác để dựa chân nữa. Yves đang ân hận vì anh đã không tìm thấy Mimi và Sebastien vào sáng hôm đó. Anh ngồi im lặng, mắt cúi xuống vân vê các ngón tay. Mỗi khi xe phanh gấp và chân tôi thúc vào mạng sườn anh, anh chỉ nhăn mặt chứ tuyệt không kêu ca phàn nàn. Có lẽ anh nghĩ rằng tôi căm ghét anh và muốn dằn vặt anh vì anh đã sống sót chứ không phải Sebastien. Có thể anh còn nghĩ rằng anh xứng đáng nhận một hình phạt nào đó vì đã không ở bên Sebastien như một người bạn.

Cap 1 vẫn là một thành phố cũ với nhiều nét mới khi chúng tôi trở về với nó, một thành phố đã nhiều lần bị thiêu rụi trong nỗ lực tự cứu rỗi chính mình. Lũ trẻ nơi đây đứa nào cũng biết những câu chuyện về những trận cháy đó, vì đôi khi tàn tích đã chôn vùi trong lòng đất của chúng vẫn được tìm thấy: một đồng xu bằng vàng hay một cái đĩa nhỏ bằng bạc trồi lên khỏi mặt đất dưới cơn mưa, như xương cốt của những người được chôn dưới những huyệt đất nông choèn mà không có quan tài. Mơ ước của lũ trẻ là tìm thấy một cái ja, một cái rương đầy vàng bạc mà một chủ đồn điền người Pháp đã chôn cùng với những người nô lệ mà ông ta đã cho giết nhằm trấn yểm linh hồn họ và biến họ thành những hồn ma canh giữ kho báu.

1 Tên gọi tắt của Cap-Haïtien, cố đô của Haiti.

Henry I đã từng nói với những viên tướng người Pháp quay trở lại trên những hạm đội để đòi lại gia tài cũng như linh hồn những người nô lệ của họ, “Ta sẽ không chịu đầu hàng cho tới khi thành phố Cap cháy thành tro bụi. Và ngay cả sau đó ta vẫn sẽ tiếp tục chiến đấu trên mớ tro tàn này.” Ông chính là người đã ra hiệu lệnh bắt đầu đám cháy bằng cách châm lửa đốt ngôi nhà của mình trước tiên.

Giờ đây, những ngôi nhà mới đã được xây lên dọc theo con đường mang tên Tướng Toussaint Louverture. Chiếc xe tải thả chúng tôi xuống cạnh một bức tượng đài của Toussaint. Những ngôi nhà mới của Cap không còn vẻ khang trang đường bệ như trước, cái cao nhất cũng chỉ có hai tầng với ban công có lan can bằng gỗ và cửa chớp hai cánh ở bên trên. Chúng không giống như những căn nhà đồn điền trên những mảnh đất rộng lớn, vốn được xây để đứng vững qua nhiều thế kỷ.

Ngay khi chúng tôi bước xuống xe, Yves lập tức tách ra khỏi đoàn người. Tôi đi theo anh, mắt nhìn lên tìm kiếm hướng chân trời.

Pháo đài khổng lồ, báu vật của vua Henry I, vẫn đang nhìn xuống cả thành phố từ phía sau một quầng mây lấp lóa ánh mặt trời. Tôi băn khoăn tự hỏi liệu Yves có nhận thấy những điều này, hay thậm chí anh có để ý đến những món hàng được bày bán trong các cửa tiệm hai bên đường trong lúc chúng tôi cuốc bộ qua những đường phố trải nhựa. Từng nhóm người đang đi lại chậm rãi quanh các cửa hiệu bán vải và đóng giày trên phố Rue du Quai. Tôi đã bị Yves bỏ xa trong lúc mải mê ngắm nhìn bầu trời, cố gắng quên đi hai cẳng chân đang nhức nhối. Từng lóng xương nhỏ dưới bàn chân trần của tôi đang cứa vào nhau. Sau mỗi bước chân, tôi phải dừng lại để định hình xem mình đang làm gì, và hai chân tôi có đang đi đúng hướng tôi muốn không.

Một vài người lái buôn, chủ tiệm, cùng những người làm công của họ khẽ thốt lên những tiếng cảm thán khi chúng tôi đi ngang qua. Bọn họ nhận ra chúng tôi mà chưa cần biết chúng tôi là ai. Chúng tôi là những kẻ suýt chết, những người đã trốn thoát từ phía bên kia con sông.

Tôi lê chân mình bước đi, chốc chốc lại cảm giác như chúng đang bị ai dẫm lên. Ánh mắt của họ chỉ cách tôi chưa đầy một gang tay. Bàn tay và những ngón tay của họ tìm đường về phía tôi. Môi họ như la hét vào tai tôi, “Ôi linh hồn tội nghiệp đáng thương!” 1 .

1 Tiếng Creole ở Haiti và tiếng Anh: Podyab, poor devil.

“Đi nào, đi nào,” Yves gọi tôi trong lúc chúng tôi tiếp tục đi ngang qua cánh cửa đan mắt cáo của khách sạn New York cũ, rồi đi tiếp qua một vỉa hè nơi có người đang diễn tả cách sử dụng một cái máy quay đĩa và một cái máy may trong một cửa tiệm trên đường La Rue A. Dường như Yves đang loay hoay tìm kiếm một cánh cửa nào đó để bước vào, nhưng anh đã bị lạc và không còn nhận ra nơi mình cần đến ở đâu.

Trên đường La Rue B, anh đứng giữa một khu chợ cho dân du lịch, gãi gãi những miếng vảy đóng trên cái đầu chưa cạo trong lúc đợi tôi bắt kịp. Khi tôi tới nơi, anh bảo tôi đứng yên bên cạnh một cây cột đằng trước tiệm thuốc và chờ anh chạy vào trong để mua một bao thuốc lá hiệu La Nationale. Khi chúng tôi tới được nhà thờ thì anh đã kịp hút gần hết cả bao.

Một bà già đứng đằng trước nhà thờ tiến lại gần tôi đến mức tôi có thể ngửi thấy mùi thuốc lá nhai trong hơi thở của bà ta, mùi những giọt mồ hôi không ngừng tuôn ra trên trán bà, và mùi ngai ngái của những trái cam vỏ dày cui chất trong một cái thúng nằm thăng bằng trên đỉnh đầu bà. Không cần đưa mắt nhìn, bà với tay lên lấy một quả cam từ trong thúng và đưa nó cho tôi.

“Cô hãy hơ quả cam này trên một bếp lửa đang đượm,” bà nói với tôi, “và để cho nó cháy đến lúc vỏ cam chuyển màu đen.”

“Cháu cảm ơn bà,” tôi đáp.

“Ta vẫn chưa nói hết,” bà cắt lời. “Khi toàn bộ vỏ cam đã chuyển sang màu đen là lúc cô biết nó có thể dùng được. Cô hãy cắt nó ra trong lúc nước cam bên trong vẫn còn đang nóng, chà nó lên khắp người, rồi sau đó tắm trong nước ấm và lau sạch tép cam dính trên da. Tất cả những vết cắt của cô sẽ lành. Những cơn nhức xương của cô sẽ dừng lại.”

Tôi cầm chắc quả cam trong tay để không làm rơi nó. Bà già vẫn đi sau lưng tôi, tiếp tục ban phát cam cùng lời dặn dò tương tự cho những người khác.

Yves giảm tốc độ để đi bên cạnh tôi. Một vài người đi đường nhận ra anh trong lúc chúng tôi đi xuống một con đường rải sỏi, xa khỏi khu buôn bán sầm uất. Một người thanh niên cầm trên tay một chồng áo thêu bán cho khách du lịch đi theo sau chúng tôi và loan báo cho tất cả những cư dân sống trong những ngôi nhà chật hẹp bằng đá vôi ở hai bên đường, “Đây là Yves, con trai của Man Rapadou! Cậu ấy đã trở về từ phía bên kia.”

Anh ta thò tay ra từ dưới chồng áo và bắt tay Yves một cách nồng nhiệt.

“Chúng nó không thể bắt được cậu, đúng không,” anh ta nói. “Chúng chẳng thể nào bắt nổi cậu. Cũng như bọn Yanki cũng chẳng tài nào bắt được tôi vậy!”

Người đàn ông với chồng áo cho khách du lịch thao thao bất tuyệt về những việc đã xảy ra kể từ khi Yves đi, rằng quân Yanki đã cuốn gói về nước từ ba năm trước, và rằng mẹ của Yves vẫn khỏe mặc dù bà lúc nào cũng lo lắng cho anh tới mòn mỏi tâm can.

Ngôi nhà của anh nằm bên cạnh vô số những căn nhà khác được xây từ những thanh gỗ và mái tôn rỉ sét chắp vá lại. Yves chạy như bay xuống một con dốc thoải dẫn tới cửa nhà mẹ anh. Một người đàn bà to béo đang đứng trên bậc thềm, chật vật xỏ tay vào chiếc áo khoác ngắn tay màu cầu vồng. Ngón tay bà mắc kẹt trong lớp vải và bà vùng vẫy hết sức để gỡ chúng ta. Ngực bà để trần với nước da màu nâu mật mía. Bà đang chuẩn bị chạy ra đường mà không thèm mặc áo khi Yves nhảy chồm tới trước mặt bà. Anh giúp bà xỏ những ngón tay siết chặt vào ống tay áo và nhẹ nhàng cài cúc lại cho bà. Trong lúc đó, bà chỉ biết ngắm nhìn anh, vừa vung vẩy tay chân vừa gọi tên con trai. Khi anh cài xong chiếc cúc cuối cùng, bà ghì chặt đầu anh vào cổ bà, vừa bật khóc nức nở vừa đưa tay vuốt ve những vết thương đã đóng vảy trên đầu anh.

Mẹ anh không nhìn thấy tôi đứng ở mé cửa gần một đám đông hiếu kỳ đang bu đen bu đỏ lại xem. Tôi xoay quả cam trên tay và cố gắng không bóp nó quá mạnh vì lo lắng.

“Man Rapadou, bà hẳn là rất vui mừng khi gặp lại thằng con đúng không ?” Người thanh niên với chồng áo cho khách du lịch trên tay nói to.

Yves tiến lại, nắm lấy tay tôi, và dắt tôi ra khỏi đám đông.

“Và con đã mang về một người đàn bà. Đây có phải là vợ con không ?” Mẹ anh hỏi.

“Mẹ đừng hấp tấp thế, Man Rapadou,” Yves đáp.

Bà gật đầu và mở rộng vòng tay về phía tôi. Lúng túng không biết phải phản ứng thế nào, tôi chỉ biết đứng cạnh Yves, giả vờ không hiểu bà đang muốn điều gì. Bà kéo tay tôi và ôm chặt tôi vào lòng. Đám đông phá lên cười lớn. Bà mẹ Yves phẩy tay rồi xua họ đi với một cái quay đầu.

“Cô ấy tên là Amabelle,” Yves nói. Lắng nghe anh nói tên mình, và sau đó đến mẹ anh nhắc lại nó, tôi cảm thấy mình được chào đón trong căn nhà của họ.

“Các con vào nhà đi,” bà mẹ vừa nói vừa vẫy tay chào những người hàng xóm. Bà chỉ mang mỗi một chiếc dép. Chiếc còn lại bà đã để quên trong nhà trong lúc vội vàng chạy ra đón con trai.

Chúng tôi đang ở trong gian phòng thứ nhất của căn nhà. Phòng thứ hai dẫn ra một khoảnh sân sau mà gia đình Yves chia sẻ với nhiều gia đình khác. Nó làm tôi nhớ đến khu nhà máy của Don Carlos.

Yves đi chào hỏi những người họ hàng đang sống xung quanh mảnh sân. Họ mang ghế ra cho anh ngồi xuống dưới một cây chuối rẻ quạt cao lớn và xanh tốt ở giữa sân, với những tán lá hình cọ vươn dài như những ngón tay trên một bàn tay.

Mẹ anh pha cho mỗi người một tách cà phê mặn. Nó làm cho khoang miệng tôi tê rát, nhưng tôi cố gắng không nhổ nó ra. Vị mặn của cà phê làm trôi đi dư vị của mùi tây và máu vẫn còn phảng phất trên lưỡi tôi từ sau trận đòn ở quảng trường.

Họ hàng của Yves tụ tập lại và nấu một bữa linh đình để thiết đãi anh. Họ chiên và hầm tất cả những món mà anh yêu thích: thịt dê và cà tím, cải xoong nấu trong sốt cá tuyết, cháo ngô, và đậu đen.

Yves ăn tất cả những gì họ bưng ra trước mặt anh. Cứ vài phút mẹ anh lại tạm ngừng việc ăn uống của anh để kể rằng hồi nhỏ anh ăn nhiều như thế nào, rằng anh không chỉ ăn đồ ăn và kẹo ngọt mà còn thích ăn cả đất ẩm bám vào rễ cây đậu, và rằng anh thích chà đất lên lợi mình cho đến khi lợi anh bật máu.

Yves ngừng ăn để nghe mẹ anh kể chuyện, như thể anh cũng mới nghe chúng lần đầu. Tôi nhận ra rằng mẹ anh đang kể chuyện để ngăn anh ăn quá nhanh và cho phép miệng và dạ dày anh được nghỉ.

“Hãy nhớ đến một người đàn ông đã bị bắt bỏ tù.” Mẹ anh đứng ở một góc sân và lấy tay xoa cái bụng bự của bà. “Sau khi được cho ăn toàn bánh mì và nước lã trong suốt ba mươi ngày, chúng thả ông ta ra và ông ấy tìm đường trở về nhà. Điều đầu tiên tôi làm là nấu cho ông ấy tất cả những món ngon mà ông ấy đã mơ đến trong lúc bị giam cầm. Ông ấy ăn ngốn ngấu cho đến lúc gục mặt xuống đĩa giữa bữa ăn. Ông ấy đã chết trong lúc ăn,” bà kể với những người họ hàng giữa những tràng cười dài và đục. “Làm ơn, đừng giết con trai tôi như thế. Một người đàn ông có thể chết vì đói, nhưng anh ta cũng có thể chết vì một đĩa thức ăn nữa đấy.”

Yves đặt thìa xuống và đẩy đĩa của anh ra xa. Mẹ anh lại cười như nắc nẻ, mặc dù chẳng có ai cười cùng với bà hết. Bà có vẻ như là người duy nhất có thể dùng tiếng cười để thoát khỏi nỗi buồn, một nỗi buồn khiến cho giọng cười của bà trở nên âm vang và thâm trầm hơn, tựa như một tiếng hét vọng lên từ dưới đáy giếng.

Tiếp tục cười, bà mẹ đưa tay vuốt quanh cái cằm đầy lông. Bà làm tôi nhớ đến những bà già ở nhà máy mía với gò má bị chẻ làm đôi. Thịt da họ liền lại vì chúng không còn lựa chọn nào khác, nhưng chúng không bao giờ lành lặn như cũ được cả.

Tôi nhớ lại điều cha tôi thường hay nói trong lúc ông hối hả chuẩn bị một túi xách đầy chai lọ đựng rượu rum và lá thuốc để chuẩn bị cho một ca đỡ đẻ hay một bệnh nhân sắp chết, và phải suy tính trong đầu cách để hỗ trợ hay trì hoãn sự kiện đó. “Nỗi bất hạnh sẽ không chạm vào con một cách nhẹ nhàng đâu. Nó sẽ luôn để lại những vết hằn trên người con. Đôi khi nó để lại dấu vết ở những chỗ mà mọi người đều nhìn thấy, đôi khi những vết hằn đó chỉ dành cho con mà thôi.”

Bà mẹ Yves có vẻ là một người đã nếm trải đủ những bất hạnh trong cuộc đời. Điều duy nhất mà bất hạnh có vẻ chưa đụng tới trên người bà là một hàm răng trắng bóng thẳng tắp như vành của một cái cốc tráng men, mặc dù chẳng có cái răng nào trong số đó là tự nhiên cả.

Miệng tôi vẫn còn quá sưng để ăn được thức ăn cứng. Một đĩa đầy thịt cừu chiên vẫn nằm gọn trên đùi tôi. Mẹ Yves ngồi xuống bên cạnh tôi và hỏi, “Cháu ăn một ít súp nhé? Nó không quá nóng hay quá khó nuốt đâu.”

Bà nhấc cái đĩa ra khỏi đùi tôi và quay trở về với một bát súp bí ngô nhỏ. Trong lúc những người khác ngồi nhìn, bà dùng một cái thìa nhỏ xíu để bón súp cho tôi như thể tôi là một đứa bé ốm liệt giường.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mot Sach đưa lên
vào ngày: 14 tháng 10 năm 2024

« Lùi
Tiến »