“Con có đồng ý đâu,” Bailey nói.
Chúng tôi đang đứng ngoài một khu chợ trời ở Berkeley. Hiếm khi Owen và Bailey căng thẳng thế này. Owen muốn vào chợ. Điều duy nhất Bailey muốn là về nhà.
“Con đồng ý rồi mà,” Owen nói. “Lúc con đồng ý đi San Francisco. Nên giờ con thôi ngay có được không?”
“Con chỉ đồng ý mua dimsum thôi,” con bé nói.
“Và dimsum quá ngon còn gì nữa?” Owen nói. “Bố còn cho con cả miếng há cảo cuối cùng của bố nữa. Cô Hannah cũng cho con luôn. Vậy là con được thêm hẳn hai há cảo.”
“Thế thì liên quan gì đến chuyện này?” con bé nói.
“Thế thì tỏ ra tử tế và vào trong chợ với bố và cô tầm ba mươi phút được không?”
Nó xoay gót giày cao gót rảo bước vào chợ trước chúng tôi - điều kiện thiết yếu là cách xa năm mét để không ai biết ba người đi cùng nhau.
Nó không buồn mặc cả với Owen nữa. Và rõ ràng là cũng không thèm để ý đến sinh nhật tôi nữa.
Owen nhún vai đầy vẻ có lỗi. “Mừng em lên đầu bốn,” anh nói.
“Em đã đầu bốn đâu,” tôi nói. “Em mới hai mươi mốt.”
“À, phải rồi!” Anh mỉm cười. “Tuyệt lắm. Vậy là anh có những mười chín lần nữa để sửa lại sinh nhật này.”
Tôi cầm tay anh, anh đan ngón tay với tôi. “Mình về nhà cũng được mà?” tôi nói. “Bữa ăn ngon tuyệt. Nếu nó muốn về...”
“Nó có sao đâu.”
“Owen, em chỉ muốn nói là vào chợ hay không không thành vấn đề với em.”
“Không, có thành vấn đề,” anh nói. “Vấn đề nằm ở chỗ nó không nên cãi, chỉ nên vui hưởng không khí tuyệt vời ở đây thì hơn. Đi lòng vòng nửa tiếng đồng hồ thì có sao đâu.”
Anh cúi xuống hôn tôi trước khi chúng tôi vào chợ. Tìm Bailey. Vừa qua cổng chính thì một người đàn ông cao lớn đi ngược chiều dừng bước gọi với về phía Owen.
“Không lẽ nào,” anh ta nói.
Anh ta đội mũ lưỡi trai bóng chày và áo jersey cùng bộ. Áo kéo căng trên bụng, tay cầm một chiếc chụp đèn - một chiếc chụp đèn nhung vàng vẫn còn nguyên nhãn giá.
Anh ta chìa tay ra định ôm Owen, khiến chụp đèn vướng víu va vào lưng Owen.
“Không thể tin mình lại gặp cậu ở đây,” anh ta nói. “Bao lâu rồi ý nhỉ?”
Owen lùi lại, thận trọng né vì không muốn làm hỏng chụp đèn.
“Hai mươi năm? Hay là hai mươi lăm năm?” anh ta nói. “Làm sao mà vua dạ hội lại bỏ lỡ hết các cuộc họp lớp thế!”
“Anh bạn, rất tiếc phải nói thế này, nhưng cậu nhận nhầm người rồi,” Owen nói. “Tôi chưa bao giờ làm vua gì hết, cứ hỏi vợ tôi thì biết.”
Owen chỉ tay về phía tôi.
Và anh chàng lạ mặt kia nở một nụ cười với tôi. “Rất vui được gặp cô,” anh ta nói. “Tôi là Waylon.”
“Hannah,” tôi nói.
Rồi anh ta quay lại với Owen. “Chờ chút. Vậy nghĩa là cậu không học ở Roosevelt? Khóa học tốt nghiệp năm 1994?”
“Không, tôi học ở trường trung học Newton ở Massachusetts,” Owen nói. “Nhưng tốt nghiệp đúng năm cậu nói.”
“Trời ạ, cậu giống như đúc anh bạn cùng trường của tôi. Đúng là tóc thì hơi khác, và anh ta thì đô con hơn cậu. Tôi không có ý gì đâu. Hồi ấy tôi cũng to con hơn giờ.”
Owen nhún vai. “Ai cũng thế.”
“Nhưng mà giống như đúc.” Anh ta lắc đầu. “Nhưng có lẽ không phải anh ta lại tốt cho cậu. Anh ta xấu tính lắm.”
Owen cười lớn. “Chúc vui,” anh nói.
“Cậu cũng thế,” Waylon nói.
Rồi anh ta tiếp tục ra cửa, về phía bãi đậu xe. Nhưng lại quay người.
“Cậu có quen ai học ở trường trung học Roosevelt ở Texas không?” anh ta nói. “Anh em họ chẳng hạn? Nhất định hai người phải có họ hàng.”
Owen mỉm cười hiền lành. “Tiếc quá, anh bạn,” anh nói. “Không thích làm cậu thất vọng chút nào, nhưng tôi không biết người cậu nói đến là ai hết.”