Park Chung Hee và Ferdinand Marcos đều sinh năm 1917, lớn lên vào thời kỳ đất nước dưới chế độ thực dân, nổi lên làm lãnh đạo quốc gia những năm 1960, và ban hành thiết quân luật gần như cùng lúc vào cuối năm 1972. Đất nước họ cầm quyền đều có những gắn kết lịch sử và kinh tế sâu sắc với Hoa Kỳ và Nhật Bản, và vào những năm sau chiến tranh, cả Hàn Quốc và Philippin đều tập trung những căn cứ quân sự của Mỹ và gắn kết mạnh mẽ với phương Tây. Khi tuyên bố thiết quân luật, hai vị tổng thống đương nhiệm tuyên bố rằng các biện pháp hà khắc là điều cần thiết để phòng thủ chống lại nhiều thách thức và thúc đẩy các nền tảng dân chủ phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Dù cả hai người đều có nền tảng quyền lực vững mạnh, nhưng họ cũng lo ngại những đối thủ tranh cử có sự ủng hộ rộng rãi, vì thế đều tiến hành những thay đổi hiến pháp để đảm bảo khả năng tiếp tục cầm quyền của họ, và tiến hành đàn áp kinh hoàng những phong trào chống đối chính trị. Hai chế độ độc tài đều dựa trên sự tập trung cao độ vào thẩm quyền và quyền lực cá nhân, với vai trò tương đối yếu của đảng phái chính trị ở từng nước.
Dù có những sự tương đồng đáng ngạc nhiên như vậy, nhưng chế độ của hai vị lãnh đạo đã tạo ra những tương phản rất lớn trong kết quả chính trị-kinh tế: công nghiệp hóa nhanh chóng ở Hàn Quốc và tình trạng bóc lột khủng khiếp về mặt kinh tế ở Philippin. “Hơn hẳn bất cứ nhân vật chính trị nào khác,” các sử gia đầu ngành kết luận, “Park... định hình nền kinh tế chính trị Hàn Quốc hiện đại, và những di sản của ông để lại đều vừa đáng ngưỡng mộ vừa kinh hoàng.” Đánh giá dành cho Marcos bởi người ủng hộ lớn nhất trước đây của ông cho thấy một câu chuyện hoàn toàn khác: “Ông tin rằng ông có thể định hướng cho xã hội... mà vẫn vơ vét xã hội.” Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Marcos là nhà cai trị vơ vét thành công thứ hai trong lịch sử, cướp khoảng 5-10 tỷ đô-la Mỹ trong hai thập niên ở dinh tổng thống.
Những kết quả tương phản cao độ này được lý giải như thế nào? Bài phân tích bên dưới cho thấy tầm quan trọng của cả cấu trúc và tác nhân. Một mặt, Park có lợi thế từ một số điều kiên tiên quyết rất phù hợp với các kết quả phát triển tích cực. Chế độ độc tài của ông thừa hưởng và nuôi dưỡng bộ máy quan liêu dân sự và quân sự được thể chế hóa hơn rất nhiều so với chế độ độc tài của Marcos. Có thể quan sát thấy trong chế độ của Park, có một sự kết hợp đầy nghịch lý giữa thể chế hóa và cá nhân hóa; mặt khác, Marcos thừa kế và nuôi dưỡng một bộ máy quan liêu hoàn toàn mang tính chuyên quyền. Ngoài ra, các mối quan hệ nhà nước-xã hội ở Hàn Quốc và Philippin - ở nhiều thời điểm thời thực dân và hậu thực dân — có thể được xem là hình ảnh đảo ngược của nhau. Nói chung, vốn từ rất lâu, nhà nước Hàn Quốc chỉ đối mặt với các lực lượng đối kháng yếu trong xã hội. Tầng lớp quý tộc chính trị-kinh tế thống trị của Philippin, ngược lại, về mặt lịch sử cho thấy đặc biệt có khả năng cướp bóc của nhà nước và chống lại những thách thức từ bên dưới. [220]
Những điều khác biệt trong bản chất các cơ quan nhà nước và các quan hệ nhà nước-xã hội rất quan trọng nhưng không bao giờ là tất cả. Cũng cần phải xét đến những khác biệt cá nhân trọng yếu của hai vị lãnh đạo, bắt đầu từ sự đối lập rất đáng chú ý ở tiểu sử cá nhân: Park khởi đầu từ nguồn gốc nông dân thấp kém đến quân nhân thời thực dân và sau thực dân rồi đến sự kiện cướp lấy quyền lực chính trị năm 1961, trong khi Marcos bắt nguồn từ một gia đình quý tộc tỉnh lẻ và dùng nhiều chiến thuật chính trị tài tình để vươn đến vị trí cao nhất ở đất nước mình năm 1965. Khi đã vào nhiệm sở, hai vị tổng thống đều tìm cách tối đa hóa quyền lực và thẩm quyền của mình, nhưng các mục tiêu cao hơn của họ lại là hình ảnh đối lập của nhau: Park bị ám ảnh bởi phát triển kinh tế quốc gia và có vẻ ít tích lũy tài sản cá nhân trong khi những phát biểu mang tinh thần phát triển của Marcos che giấu một quyết tâm ngầm muốn thúc đẩy thành công kinh tế cho gia đình và thân hữu của ông. Mặc dù có thể nói rằng cả hai chế độ đều bị cá nhân hóa, nhưng chế độ của Marcos về bản chất hoàn toàn mang tính gia tộc.
Chương này xem xét sự kết hợp của các yếu tố dựa trên cấu trúc và tác nhân để lý giải những kết quả chính trị-kinh tế khác biệt hoàn toàn của hai chế độ độc tài. Với những chi tiết phong phú đã được khắc họa ở những chương trước của cuốn sách, sẽ có ít thông tin về Park và Hàn Quốc hơn so với Marcos và Philippin. Để củng cố phân tích của mình về tầm quan trọng tổng hợp của cấu trúc và tác nhân, tôi kết thúc bằng phép suy đoán giả thuyết ngược khi hình dùng Park cầm lái Philippin và Marcos đảm đương Hàn Quốc. Như tôi sẽ chứng minh, cả hai nhà độc tài bắt đầu chế độ của họ với những yếu tố cấu trúc rất thuận lợi cho các mục tiêu cá nhân của họ: một trường hợp là phát triển nhanh còn trường hợp còn lại là vơ vét có hệ thống.
Quan hệ nhà nước-xã hội ở Hàn Quốc và Philippin: quan sát trong quá khứ gần
Đặc điểm lịch sử của quan hệ nhà nước-xã hội ở Hàn Quốc và Philippin giống như hình ảnh phản chiếu lẫn nhau theo nhiều cách. Các học giả về lịch sử và chính trị Hàn Quốc hiện đại thường mô tả về nhà nước mang tính tập trung hóa và độc đoán cao độ, áp đặt quyền kiểm soát đáng kể lên xã hội tuy yếu và tố chức kém nhưng thường “hay tranh cãi”. Trong xã hội này, Carter Eckert lý giải, giai cấp tư bản là một “tầng lớp rõ ràng không hề có quyền lực, bị cô lập khỏi xã hội mà giai cấp này sẽ tiếp tục phát triển.” Ở Philippin, ngược lại, một nhà nước mục ruỗng và phân quyền trầm trọng liên tục bị bóc lột bởi một nhóm đầu sỏ bá quyền vốn có duy trì các liên kết cơ chế bảo trợ với nhiều nhóm xã hội khác. Trong khi đất nước này có lịch sử đấu tranh toàn dân và hoạt động cách mạng lâu đời, thì tầng lớp đầu sỏ quốc gia nổi lên từ đầu thế kỷ XX vẫn tiếp tục chi phối cả xã hội và nhà nước - mặc dù thành phần và nền tảng kinh tế của giới này đã tiến hóa đáng kể theo thời gian, và sự chi phối của tầng lớp này thỉnh thoảng mới bị thách thức. Ở cả hai nước, sự đa dạng trong mối quan hệ nhà nước-xã hội bị định hình mạnh mẽ bởi cả chủ nghĩa thực dân và các liên kết hậu thực dân với cường quốc nước ngoài.
Vào cuối triều đại Joseon ở Hàn Quốc và cuối giai đoạn thực dân Tây Ban Nha ở Philippin, cả hai nhà nước trung ương đều phải đối mặt với những hạn chế lớn khi thực thi quyền lực. Tuy nhiên, bản chất của những hạn chế này khác biệt đáng kể. Chế độ quân chủ Hàn Quốc đối mặt với tầng lớp quý tộc yangban hùng mạnh, nhóm này có quyền kiểm soát chặt chẽ không chỉ cơ cấu bộ máy quan liêu mà còn cả các quyền thừa kế đất đai. Yangban bằng nhiều cách đã hạn chế quyền lực của nhà nước trung ương, nhưng đồng thời vị thế của nhóm này cũng có được từ vị trí của họ trong nhà nước. Mỗi gia đình yangban đều có tổ tiên đã vượt qua các kỳ thi nhà nước khó khăn. Như Hagen Koo giải thích, “giai cấp yangban không có lợi khi làm nhà nước yếu đi; thay vì vậy họ tìm cách sử dụng quyền lực nhà nước vì lợi ích riêng của họ.”
Nhà nước cuối thời thực dân Tây Ban Nha ở Philippin đối mặt với nhiều thách thức hơn, và - tương đối khác nhà nước Joseon - không bao giờ có được mức độ tập quyền đáng kể. Thứ nhất, chính phủ đặt ở Manila thiếu nhân lực đến nỗi nhà nước phải lệ thuộc nặng nề vào lực lượng Cơ đốc giáo để mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trên quần đảo. Thứ hai, trên thực tế dân số Hồi giáo ở vùng phía nam quần đảo hưởng độc lập cho đến gần những năm cuối của chế độ thực dân Tây Ban Nha. [221] Thứ ba, và cũng có ý nghĩa lớn nhất, đặc thù trong hoạt động thương mại hóa nông nghiệp dưới chế độ thực dân ở thế kỷ XIX “làm nổi lên một giai cấp mới... giới địa chủ tương đối tách biệt với bộ máy quan liêu.” Tầng lớp tinh hoa cấp tỉnh này có nền tảng kinh tế vững chắc ngoài phạm vi nhà nước trung ương.
Khi “chủ nghĩa đế quốc mới” quét khắp toàn cầu, cả triều đại Joseon và chế độ thực dân Tây Ban Nha đều bị xóa sổ bởi hai cường quốc công nghiệp đang lên, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Ở mỗi trường hợp, các nước thực dân mới đã thành lập nền tảng cho nền chính trị vững chắc, kết nạp thành công các nhóm tinh hoa vào cấu trúc thực dân, đồng thời thông qua đó đem đến sự biến đổi to lớn ở các nhà nước lệ thuộc và ở quan hệ nhà nước-xã hội. Tuy nhiên cũng có những sự khác biệt đáng kể ở đặc trưng mà mỗi nhà nước thực dân được thiết lập trong mỗi trường hợp.
Khi Nhật Bản thực dân hóa Hàn Quốc thông qua bộ máy quan liêu đồ sộ, mang tính cưỡng bức do người Nhật thống trị, quyền lực của tầng lớp yangban bị suy giảm trầm trọng trong lĩnh vực chính trị nhưng vẫn giữ nguyên ảnh hưởng to lớn trong nền kinh tế nông nghiệp. Người Nhật dần thúc đẩy quá trình chuyển đổi kinh tế mà theo góc nhìn so sánh có thể được xem là nghịch lý: công nghiệp hóa thực dân. Trong quá trình đi từ trên xuống này, với sự cổ vũ của các thể chế tài chính thực dân phức tạp mới, vốn đầu tư của Nhật (của cả nhà nước và zaibatsu) chi phối hoàn toàn còn các doanh nghiệp Hàn Quốc trở nên bé nhỏ. Do đó, trong số giới quý tộc Hàn Quốc được hưởng quyền lực kinh tế khổng lồ, thành phần chủ yếu là giới địa chủ; giới này bị gọi là “cộng tác viên với Nhật” và trở thành “mục tiêu của lòng thù hận quốc gia sâu sắc.”
Chế độ thực dân Mỹ ở Philippin được thiết lập sau thất bại nhanh chóng của người Tây Ban Nha và trong cao trào của cuộc chiến tranh kéo dài, khốc liệt với các lực lượng dân tộc chủ nghĩa trên khắp quần đảo. Muốn kết thúc cuộc xung đột đang giữ chân 72.000 quân Mỹ và phải đối mặt với sự phản đối đang gia tăng ở nước nhà, Toàn quyền William Howard Taft khởi xướng “chính sách thu hút” hứa hẹn sẽ cho giới quý tộc Philippin vai trò quan trọng trong chính phủ - và tìm cách biến “luật sư-chính trị gia hiện đại” thành nhân vật thống trị trong xã hội Philippin. Các cuộc bầu cử để chọn người cho các vị trí ở thành phố và tỉnh được thể chế hóa vào năm 1901 và 1902; năm 1907, một lượng lớn thẩm quyền được trao cho hội đồng đại diện quốc gia; và vào năm 1916, sự kiện thành lập Thượng viện diễn ra cùng lúc với lời hứa công khai về độc lập trong tương lai. Khi các cuộc bầu cử được tổ chức và các cơ quan lập pháp được triệu tập, tương đối ít người chú tâm thành lập bộ máy quản trị hiện đại. Các thể chế đại diện thúc đẩy các thủ lĩnh địa phương, hoặc các lãnh đạo chính trị địa phương, củng cố quyền kiểm soát nhà nước và thúc đẩy sự hình thành thứ mà Benedict Anderson gọi là “‘nhóm đầu sỏ quốc gia’ vững chắc, rõ rệt”. Nhóm đầu sỏ này - gồm cả những chính trị gia ở Manila và các lãnh chúa ở tỉnh — lợi dụng nền tảng quyền lực độc lập của họ, áp đặt quyền kiểm soát độc tài của mình lên mọi cấp độ trong bộ máy chính quyền thông qua hệ thống bảo trợ vốn đã ăn sâu ở tầm quốc gia từ đầu thế kỷ.
Chế độ cai trị thực dân Mỹ là yếu tố cần thiết để lý giải cả nguồn gốc của nhà nước Philippin hiện đại cũng như nhiều đặc điểm cơ bản của xã hội và nền dân chủ Philippin ngày nay. Theo nhiều cách, hình ảnh đảo ngược từ quá trình biến đổi thời thực dân này cuối cùng lại được tìm thấy ở Hàn Quốc: trong khi người Nhật biến giai cấp quý tộc chính trị-kinh tế của triều đại Joseon thành giai cấp quý tộc kinh tế bị kiểm soát chặt chẽ để tận dụng cho các mục tiêu thực dân, thì người Mỹ đã biến giới quý tộc kinh tế nổi lên vào cuối thời kỳ Tây Ban Nha thành một tầng lớp quý tộc chính trị-kinh tế có ảnh hưởng rộng lớn mà sau này sớm chứng tỏ được khả năng làm thất vọng các mục tiêu “giám hộ” quan trọng thời thực dân của Mỹ. Tương phản rõ nét với nhà nước thực dân Nhật Bản hùng mạnh và tập quyền cao độ ở Hàn Quốc, nhà nước thực dân Mỹ ở Philippin yếu và phân quyền đáng kể.
Thông qua khả năng kiểm soát bộ máy chính trị, giới đầu sỏ Philippin liên tục tạo ra các cơ hội kinh tế cho chính mình (ví dụ, cướp đất thông qua kiểm soát quá trình xác định quyền sở hữu đất). Quan hệ cộng tác với người Mỹ tạo ra nhiều cơ hội để thâu tóm nhiều quyền lập pháp và tính tự chủ địa phương hơn, và với việc thành lập Khối thịnh vượng chung Philippin năm 1935, tất cả các nhánh của chính phủ hoàn toàn được trao cho nhóm đầu sỏ mà người Mỹ đã tạo ra. Chủ tịch Khối thịnh vượng chung Manuel L. Quezon là một “luật sư-chính trị gia” Philippin lão luyện: ông đi từ nguồn gốc tỉnh lẻ với sự ủng hộ của giới thực dân Mỹ có ảnh hưởng và tỏ ra thuần thục khi trình bày về nền dân chủ Mỹ cùng những hiểu biết sâu sắc về các thể chế Mỹ để đồng thời củng cố nền tảng quyền lực ở tỉnh và xây dựng mạng lưới toàn quốc với những người nắm giữ quyền lực cấp tỉnh khác. Theo nhiều cách, Quezon là tiền nhân của Marcos: hai người đều khéo léo thao túng những thành phần đa dạng của hệ thống chính trị để tích lũy quyền lực cá nhân và thiết lập các chế độ “đặc trưng bởi tham nhũng và chủ nghĩa thân hữu”.
Tính thay đổi và tiếp nối trong quan hệ nhà nước-xã hội: từ khi độc lập đến đầu những năm 1960
Thế chiến II kết thúc mang lại độc lập cho cả Hàn Quốc và Philippin, và sự khởi đầu của hai chính phủ mới đều được đảm trách bởi cùng một quan chức quân đội Mỹ: Đại tướng Douglas MacArthur. Dù những trải nghiệm thực dân hóa và quá trình phi thực dân hóa cực kỳ khác biệt về bản chất, nhưng người ta vẫn có thể quan sát thấy mức độ tương đồng đáng ngạc nhiên trong đặc trưng của nhà nước và giới quý tộc nổi lên ở Cộng hòa Philippin và Cộng hòa Hàn Quốc vào buổi đầu.
Ở Hàn Quốc, độc lập đến đột ngột và gây nên sự chia rẽ đất nước mà đến hơn 6 thập niên sau vẫn còn. Giai cấp địa chủ bị thách thức ở mọi nơi bởi một xã hội dân sự dân tộc chủ nghĩa và “hay tranh cãi” hình thành từ thời thực dân. Ở Triều Tiên, dưới sự chiếm đóng của Xô-viết, giai cấp này hoàn toàn bị tước đi quyền sở hữu đất. Mặc khác, ở Hàn Quốc, sự chiếm đóng của Mỹ tạo ra một mức độ bảo hộ cần thiết cho các địa chủ Hàn Quốc, và cho phép họ giành lại phương tiện gây ảnh hưởng chính trị. Về vị trí tổng thống, người Mỹ cần một nhân vật có thể kết hợp tinh thần chống cộng sản quyết liệt với các đặc trưng dân tộc chủ nghĩa chống Nhật. Lý Thừa Vãn phù hợp với đặc điểm này, và sau khi lên lãnh đạo, ông đã tiến hành cuộc hôn phối miễn cưỡng với Đảng Dân chủ Hàn Quốc đối lập, “trung tâm của tài sản địa chủ và quyền lực địa phương”. Thông qua sự liên kết với Lý, giai cấp địa chủ tìm cách bảo vệ các vị thế kinh tế và giành lại đặc quyền chính trị mà giai cấp này đã đánh mất vào thời thực dân Nhật, và từ đó củng cố chính giai cấp mình thành quý tộc chính trị-kinh tế.
Ở Philippin, hoàn toàn không giống Hàn Quốc, tác động của Chiến tranh Thái Bình Dương gắn chặt hơn bao giờ hết các mối liên kết với cường quốc thực dân cũ. Chuyến xâm chiếm trở lại Philippin đã được MacArthur hứa từ trước cùng với việc hoàn thành các lời hứa trước chiến tranh dường như đã mang lại tính chính danh chưa từng có cho sự tham gia sâu của người Mỹ vào chính trị hậu chiến. Khi được trao trả ngày 4 tháng 7 năm 1946, nền độc lập phải đi kèm với các điều khoản rõ ràng có lợi cho giới đầu sỏ địa chủ đang kiểm soát nhà nước. Để đổi lấy các căn cứ quân sự mà Washington rất thèm khát và những nhượng bộ kinh tế mà một số thành phần doanh nghiệp Mỹ rất mong muốn, Hoa Kỳ cung cấp cho Philippin quyền tiếp cận liên tục thị trường nước này cũng như viện trợ tái thiết hậu chiến. Một phần vì nước trao trả độc lập là một siêu cường đang lên nên rất khó để Philippin nổi lên như một quốc gia có chủ quyền thật sự. Kể cả trong thời hậu thực dân, giới đầu sỏ vẫn lệ thuộc rất nhiều vào viện trợ, đầu tư và hỗ trợ chống lật đổ của Mỹ. Dù về tổng thể, đất nước này không phải đối mặt với mối đe dọa bên ngoài nghiêm trọng nào, giới đầu sỏ vẫn cần sự hỗ trợ từ bên ngoài để duy trì cấu trúc chính trị và kinh tế bất công, kém hiệu quả, dối trá. Về phía mình, Washington nhận được quyền tiếp cận chiến tranh lạnh không hạn chế đến hai trong số những cơ sở quân sự ngoài nước quan trọng nhất của nước này.
Giống như ở Hàn Quốc, giới quý tộc Philippin phải đối mặt với những thách thức lớn từ bên dưới vào cuối những năm 1940. Hukbalahap (Quân đội Nhân dân chống Nhật), thành lập năm 1942, chiến đấu chống cả người Nhật và những người địa chủ cộng tác. Bất chấp tinh thần sẵn sàng hợp tác thường xuyên với quân đội Mỹ, Huk trở thành kẻ thù của nhà nước được tái thành lập bởi MacArthur cùng nhiều người bạn trong giới đầu sỏ của ông (một số trong nhóm này vốn cộng tác với người Nhật suốt chiến tranh). Đến cuối năm 1946, sau khi những nỗ lực đấu tranh nghị viện bị ngăn chặn và sự đàn áp mà người nông dân phải gánh chịu trở nên tồi tệ hơn ở nông thôn, các đơn vị Huk một lần nữa tổng nổi dậy. Chính quyền Philippin gặp phải những khó khăn lớn khi giải quyết thách thức này; cũng như ở Hàn Quốc cuối những năm 1940, người ta nhận ra một nhà nước yếu ớt và tha hóa lệ thuộc nặng nề vào Hoa Kỳ để duy trì sự tồn tại.
Cuộc nổi dậy của quân Huk đạt đỉnh cao trong giai đoạn 1949-1951, sau đó các nỗ lực chống nổi dậy bắt đầu gặt hái được thành công đáng kể. Đặc biệt quan trọng là vai trò của các cố vấn Mỹ trong việc phát triển quan hệ với Ramon Magsaysay, “chàng trai của nước Mỹ”. Nguyên nhân chính cho sự thoái trào của Huk như Benedict Kerkvliet lý giải thì là vì “Nông dân ở Central Luzon ưa thích Magsaysay, người ban đầu là Bộ trưởng Quốc phòng (1950-1953) và sau đó là Tổng thống (1954-1957), vì ông có quan hệ cá nhân với dân làng và vì quân đội trở nên ít lạm quyền hơn dưới sự lãnh đạo của ông.” Thất bại sau cùng của quân Huk hình thành từ những hành động mang tính biểu tượng hơn là từ sự đầu hàng thật sự, và sau sự kiện đó không hề có thay đổi lớn nào ở bản chất của cả nhà nước và quan hệ nhà nước-xã hội. Sự bất mãn của nông dân tạm thời được cải thiện thông qua hoạt động tái định cư ở đảo Mindanao ở miền nam, và các đề xuất tái phân bổ đất của Mỹ bị ngăn chặn. Với những nguyên nhân gốc rễ của cuộc nổi dậy không được giải quyết, phe cánh tả sẽ sớm nổi lên lại.
Trái ngược với Cuộc nổi loạn Huk, tác động của Chiến tranh Triều Tiên lên nhà nước và quan hệ nhà nước-xã hội của Hàn Quốc không khác gì trận đại hồng thủy. “Không một sự kiện riêng lẻ nào trong lịch sử hiện đại Hàn Quốc,” Hagen Koo viết, “gây ảnh hưởng lên sự hình thành nhà nước hơn Chiến tranh Triều Tiên.” Khi chúng ta so sánh quan hệ nhà nước-xã hội của Hàn Quốc với của Philippin, vấn đề cải cách có tầm quan trọng đặc biệt. Trước chiến tranh, các biện pháp mang tinh thần cải cách do người Mỹ thúc đẩy vốn bị ngăn cản bởi giai cấp địa chủ; tuy nhiên, trong giai đoạn chiếm đóng của Triều Tiên, cuộc cách mạng ruộng đất đã làm suy yếu giai cấp này rất nhiều; sau chiến tranh, áp lực từ phía Mỹ buộc Lý phải tiến hành các biện pháp cải cách đưa ra trước đó. Bruce Cumings viết về cuộc chiến này như là “sự kiện cân bằng vĩ đại”, không chỉ làm yếu đi tầng lớp quý tộc địa chủ mà còn sản sinh ra một nhóm doanh nhân mới thành công nhờ những cơ hội đến từ giai đoạn xáo trộn xã hội khủng khiếp.
Trong khi nhà nước Hàn Quốc cuối những năm 1940 “cực kỳ bất ổn và mỏng manh” - không như nhà nước cùng thời của Philippin - cuộc chiến đã mang lại sự củng cố đáng kể quyền hành nhà nước dưới chế độ của Lý. Điều này được phản ánh ở sự nổi lên của quân đội hiện đại và hiệu quả, sự công khai thừa nhận ý thức hệ không thể thách thức của “nhà nước chống cánh tả” và các nỗ lực kiểm soát các khu vực quần chúng. Lượng lớn viện trợ của Mỹ đã tạo cho chế độ của Lý vô số cơ hội phân bổ các lợi ích đặc quyền và tăng cường nền tảng ủng hộ chính trị cho chế độ. Lý chủ động chống lại các cố gắng tái kết hợp Hàn Quốc vào các mẫu hình thương mại thời thực dân của người Mỹ, sử dụng vị thế trong lĩnh vực địa chính trị để cùng lúc thúc đẩy chiến lược phát triển quốc gia thay thế và củng cố chế độ. Ông nuôi dưỡng một giai cấp tư bản trong nước mạnh mẽ hơn rất nhiều, chủ yếu phụ thuộc vào nhà nước để thành công và đảm bảo rằng việc phân bổ lợi ích sẽ tạo ra những đóng góp lớn cho đảng cầm quyền. [222] Vào cuối những năm 1940, chế độ của Lý vẫn còn phải đáp ứng nhu cầu của một nhóm quý tộc kinh tế; đến cuối những năm 1950, nhà nước đã chi phối khá hiệu quả một hình thức khác về chất của giới quý tộc kinh tế, giờ đây dựa nhiều hơn rất nhiều vào công nghiệp và thương mại. Ít nhất trong lĩnh vực chính trị, Lý cũng khá thành công trong việc hoàn thành được các mục tiêu: “Đến cuối những năm 1950,” Eckert và đồng sự của ông kết luận, “Lý đã biến phần lớn hệ thống chính trị thành của ông.” [223]
Ở Philippin cũng vậy, nền kinh tế chính trị của những năm 1950 đặc trưng bởi hoạt động trục lợi tham nhũng và quá trình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (ISI). Thoạt nhìn điều này dường như cho thấy những điểm tương đồng đáng kể so với Hàn Quốc của Lý, nhưng phân tích gần hơn cho thấy những khác biệt to lớn. Nói chung có thể quan sát thấy rằng nếu hoạt động trục lợi ở Hàn Quốc thúc đẩy quá trình thâu tóm quyền lực của chế độ cai trị thì hành vi trục lợi ở Philippin tạo ra lợi ích cho tầng lớp quý tộc chính trị-kinh tế, tầng lớp này không chỉ trải rộng mà còn bành trướng về quy mô. Phản ứng với cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán nặng nề năm 1949, Ngân hàng Trung ương Philippin mới được thành lập thể chế hóa các biện pháp kiểm soát nhập khẩu và ngoại hối với sự ủng hộ mạnh mẽ của Hoa Kỳ và các nhà đầu tư Mỹ. Quá trình phân bổ giấy phép nhập khẩu và ngoại hối đầy rẫy tham nhũng, và một số vụ bê bối đã nổ ra trong tiến trình thập niên này liên quan đến sự phân bổ đặc biệt thiên vị cho những người có các mối quan hệ chính trị tốt nhất. Một sự kiện (có thể không có thật) tượng trưng cho bản chất vơ vét thỉnh thoảng xuất hiện khi cấp giấy phép: vào cuối những năm 1950, đại biểu quốc hội đối lập Ferdinand Marcos được cho là “xông vào văn phòng” của một quan chức Ngân hàng Trung ương, người đã từ chối cấp phép nhập khẩu cho “một doanh nhân Trung Quốc giàu có” và chĩa súng lục vào đầu vị quan chức đó cho đến khi “văn bản được ký và chuyển cho ông”.
Như trường hợp Hàn Quốc dưới thời Lý, các nhà kinh tế nhận thấy quá trình lựa chọn cá nhân và ngành công nghiệp Philippin không mấy hợp lý. Tuy nhiên, không như Hàn Quốc của Lý, sẽ khó khăn hơn nhiều để phát hiện bất kỳ logic chính trị dựa trên chế độ nào đằng sau sự điên cuồng trong hoạt động trục lợi không kiểm soát ở giai đoạn này. Quá trình công nghiệp hóa là một mục tiêu lớn trong kế hoạch phát triển đất nước, tuy nhiên các lãnh đạo Philippin nói chung không có cùng ác cảm mang tính dân tộc chủ nghĩa của Lý về những phương thuốc tự do của các nhà hoạch định kinh tế Mỹ. (Thật ra, thay vì chống lại sự phụ thuộc vào cường quốc thực dân cũ, một ưu tiên kinh tế lớn là quyền tiếp tục tiếp cận thị trường Mỹ.) Với đặc trưng phân quyền chính trị và kinh tế cao độ của Philippin (đặc biệt ở các nhà nước dân chủ), sự phân bổ các lợi ích kinh tế từ trung ương không có tác dụng nhiều trong việc thúc đẩy quá trình tập trung hóa quyền lực chính trị. Thay vào đó, giai đoạn kiểm soát này tạo ra thêm một nguồn chiến lợi phẩm cho nhóm đầu sỏ, chiến lược tích lũy tư bản của nhóm này vốn từ lâu đã dựa vào khả năng tiếp cận ưu đãi từ bộ máy nhà nước. Như một quy luật, những gì nhóm đầu sỏ lấy được từ nhà nước sẽ thuộc về họ; những kẻ hưởng lợi từ hệ thống này có rất ít nghĩa vụ (nếu có) phải đóng góp vào (1) các mục tiêu phát triển lớn hơn (trong một số trường hợp, “các nhà công nghiệp” đề xuất giấy phép ngoại hối để hỗ trợ các hoạt động đầu tư sản xuất và rồi đổi sang nhập khẩu hàng hóa thành phẩm); (2) kho bạc của nhà nước (thuế áp lên việc bán ngoại tệ là tối thiểu); hay (3) các đảng phái chính trị (tiền công có xu hướng không đi đến các đảng mà đến các chính trị gia). Cuối cùng có thể quan sát thấy rằng - không như ở Hàn Quốc — Philippin không có sự chuyển biến lớn nào trong đặc trưng của tầng lớp quý tộc từ cuối những năm 1940 đến cuối những năm 1950: trong khi tầng lớp quý tộc mở rộng về quy mô và tiếp nhận thêm nhiều lợi ích kinh tế đa dạng, giai cấp này vẫn là một giai cấp quý tộc chính trị-kinh tế hùng mạnh.
Ở cả Hàn Quốc và Philippin, sự thay đổi trong chính sách của Mỹ khuyến khích những thay đổi quan trọng trong chiến lược phát triển. Ở Hàn Quốc, sự cắt giảm viện trợ của Mỹ cuối những năm 1950 cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ nền kinh tế chính trị giai đoạn Lý cầm quyền và đóng góp vào sự kết thúc của chế độ Lý Thừa Vãn. Cũng vào cuối những năm 1950, Hoa Kỳ tái đánh giá sự ủng hộ của nước này dành cho hệ thống kiểm soát ở Philippin. Một quá trình hạn chế kiểm soát tiếp diễn năm 1960, và vào năm 1962 đồng peso bị phá giá khoảng 50%.
Đến cuối những năm 1950, sau nhiều năm xã hội dân sự im ắng, các nhà hoạt động sinh viên bắt đầu thách thức nền tảng chuyên chế của chế độ Lý Thừa Vãn. “Cách mạng” tháng Tư năm 1960 của sinh viên đã đưa Đảng Dân chủ đối lập lên vị trí lãnh đạo, nhưng chỉ 13 tháng sau đảng này đã bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự do Park Chung Hee lãnh đạo. Sau cuộc đảo chính, chính quyền quân sự mới bắt giữ những người giàu có nhất đất nước và buộc tội họ “làm giàu phi pháp”. [224] Bất chấp những lời hứa sau đó, sự kiện này cho thấy không chỉ sự cách biệt rõ ràng giữa nhà nước với xã hội mà còn cả mối quan hệ không cân xứng giữa các nhóm quy tộc chính trị và kinh tế của đất nước vốn đã tồn tại trước khi thời đại của Park bắt đầu.
Một đòn tấn công mạnh mẽ như vậy của nhà nước vào cộng đồng doanh nghiệp là chuyện hoàn toàn không tưởng trong bối cảnh Philippin nơi mà các tổ chức nhà nước nói chung bị thống trị bởi các yêu cầu đặc quyền của một nhóm quý tộc thống trị có quyền lực ở cả lĩnh vực chính trị và kinh tế. Thay vì bị tịch thu đất, như ở Hàn Quốc, các lãnh chúa giành được nhiều lợi ích kinh tế đa dạng ở nhiều ngành. Trên hết, chính trị là cuộc chiến giành chiến lợi phẩm, và liên tiếp những vụ bê bối tham nhũng đã tạo nên rất nhiều vũ khí chính trị để hai đảng quý tộc đả kích lẫn nhau, trao đổi thành viên và thay phiên cầm quyền. Khi kỷ nguyên Marcos bắt đầu vào năm 1965, những bất bình chưa được giải quyết ở nông thôn cùng với tình trạng bất mãn lan rộng vì tham nhũng, vi phạm bầu cử và khó khăn kinh tế góp phần kích động sinh viên, tái vận động các nhóm quần chúng và khôi phục các phong trào cánh tả vốn đã tạm thời thất bại vào những năm 1950.
Park và Marcos trước năm 1972: nắm quyền và thâu tóm quyền tổng thống
Khi khởi đầu chế độ của Park ở Hàn Quốc và của Marcos ở Philippin, nhiều nhân tố khác biệt trong bối cảnh xã hội, thể chế, chính trị, chính trị-kinh tế và địa chính trị xuất hiện, đáng chú ý nhất gồm các yếu tố có thể được đặc thù hóa tổng thể như (1) di sản lịch sử từ sự tập quyền so với phân quyền trung ương; (2) trải nghiệm từ lâu với chế độ độc tài so với các thể chế dân chủ; (3) tác động “cân bằng” của cuộc cải cách đất đai hoàn toàn sau chiến tranh so với những chương trình quy hoạch đất đơn thuần cùng tình trạng bất bình đẳng dai dẳng; (4) sự khác biệt rõ ràng so với sự khác biệt hoàn toàn mờ mịt giữa các nhóm quý tộc chính trị và kinh tế; (5) các nhóm quý tộc kinh tế lệ thuộc vào và bị chi phối bởi nhà nước so với các nhóm quý tộc chính trị-kinh tế có khả năng vơ vét và thao túng nhà nước; (6) quá trình tập quyền chính trị có điều phối sau chiến tranh so với các mẫu hình phân quyền dai dẳng; (7) tuyên bố tinh thần dân tộc chủ nghĩa so với sự chịu đựng các mẫu hình kinh tế thời thực dân; (8) nhà nước chống cánh tả vững chắc so với (điều mà chúng ta biết khi hồi tưởng lại) một thất bại rất không rõ ràng của một thách thức cánh tả từ bên dưới; và (9) mối đe dọa bên ngoài so với không có mối đe dọa. Tôi dựa trên phân tích này và tìm hiểu con đường đến với quyền lực của mỗi lãnh đạo, các mục tiêu của họ khi đã cầm quyền và những quyết định sau đó của họ nhằm loại bỏ các thể chế dân chủ và tuyên bố thiết quân luật để viết nên phần này.
Nền tảng cá nhân
Giữa những năm 1960, khi quân đội Mỹ được gửi đến Việt Nam với số lượng lớn, hai đồng minh chính của Mỹ ở châu Á là Tổng thống Ferdinand Marcos và Tổng thống Park Chung Hee. Hai vị lãnh đạo mới này gặp nhau ở các hội nghị của các tổ chức khu vực do Mỹ hỗ trợ, tuyên bố tinh thần đoàn kết của “thế giới tự do” trên chuyến đi đến Washington thời Lyndon Johnson, và — để đổi lấy viện trợ Mỹ — đã ủng hộ các nỗ lực chống nổi dậy ở Việt Nam: Hàn Quốc với gần 50.000 quân chiến đấu và Philippin với một tiểu đoàn công binh 2.000 người. Trong bối cảnh địa chính trị lớn hơn, chúng tôi nhận thấy cả những điểm tương đồng và khác biệt quan trọng giữa hai vị tổng thống và quá trình vươn đến quyền lực của họ.
Park và Marcos đều có gốc gác ở tỉnh, sinh ra và lớn lên dưới chế độ thực dân. Tuy nhiên, trong khi Park lớn lên ở một gia đình bần nông, tổ tiên của Marcos lại có quyền sở hữu đất rộng lớn ở vùng Ilocos cằn cỗi thuộc Luzon phía tây bắc và nắm giữ những vị trí như quan tòa, thị trưởng và trưởng làng. Gia đình của Ferdinand chuyển đến Manila khi ông còn nhỏ, và cha ông, sau khi tốt nghiệp trường luật, đắc cử vào Quốc hội năm 1924. Ferdinand được chuẩn bị để theo bước cha mình, nhưng vào cuối những năm 1930, ông trở thành một trong những người bị buộc tội trong vụ án giết một chính trị gia năm 1935, người đã đánh bại cha ông trong cuộc tranh cử quốc hội cùng năm đó. Trong phiên xử được ca ngợi trong cả nước năm 1940, chàng sinh viên luật Ferdinand Marcos đã bào chữa mình vô tội trước Tòa án Tối cao Philippin và thay đổi phán quyết phạm tội giết người trước đây của mình. Do đó, trong cùng giai đoạn Park chứng kiến sự thay đổi xã hội thông qua sự nghiệp ở giới cầm quyền trong quân đội thực dân Nhật Bản, Marcos lại trở thành một “luật sư-chính trị gia hiện đại” khác sinh ra dưới chế độ thực dân Mỹ.
Sau lần đắc cử vào Quốc hội đầu tiên năm 1949, Marcos không cho thấy quyết tâm chính trị nào nhưng đã thể hiện sự nhạy bén chính trị đầy ấn tượng. Thành công tranh cử của ông ít nhất được thúc đẩy một phần bởi niềm tin mơ hồ về vai trò anh hùng của ông như là người lính du kích thời Nhật chiếm đóng; dù tuyên bố dối trá rằng mình đã nhận khoảng 30 huân chương vì sự nghiệp chiến đấu chống Nhật, trên thực tế Marcos có thể đã cộng tác với người Nhật trong một giai đoạn nào đó của những năm chiến tranh. Có tầm quan trọng chính trị đáng kể, đặc biệt không kém so với khi ông chuyển từ khối cử tri quốc hội địa phương lên khối cử tri thượng viện quốc gia năm 1959, là cuộc hôn nhân giữa ông với Imelda Romualdez năm 1954, cựu hoa hậu đến từ Visayas (một vùng có nhiều phiếu bầu ở trung tâm quần đảo). Năm 1963, Marcos được bầu làm Chủ tịch Thượng viện Philippin. Sau khi chuyển từ Đảng Tự do sang Đảng Quốc gia trước khi bầu cử, Marcos đánh bại tổng thống đang tại vị (Đảng Tự do), Diosdado Macapagal, và nhậm chức cuối năm 1965.
Trước khi đảm nhiệm vị trí tổng thống, cả Park và Marcos đều vượt qua những giai đoạn khó khăn lớn ban đầu gần như chặn đứng sự nghiệp của họ: phán quyết Park dính líu đến cuộc nổi loạn Yeosu-Suncheon cánh tả, và phiên xử tội giết người của Marcos. Tuy nhiên đặc trưng trong con đường của họ hoàn toàn khác biệt. Park là một quân nhân lên nắm quyền thông qua đảo chính, và giai đoạn quá độ sang chính trị bầu cử của ông năm 1963 phần lớn là do áp lực từ Mỹ. Là một người nhỏ con, hướng nội, Park gần như thiếu hẳn sức hấp dẫn chính trị và “không bao giờ che giấu sự căm ghét các cuộc bầu cử và sự khinh miệt những nhà lập pháp”. [225] Ngược lại, Marcos thật sự là bậc thầy của cuộc chơi chính trị ở Philippin. Ông vươn lên nắm quyền không thông qua đảo chính, mà qua nhiều năm tham vọng tranh cử. Là người có khả năng thể thao và cực kỳ hấp dẫn, Marcos thuyết phục các đám đông lớn không chỉ qua những bài diễn thuyết đầy cảm xúc mà còn với những bản tình ca ông tấu cùng Imelda. Giới báo chí quốc tế thường so sánh ánh hào quang của Cặp đôi Đệ nhất này với hào quang của cặp đôi nhà Kennedy, và vào buổi nhậm chức của ông năm 1965, tạp chí Time đã đưa Marcos lên trang bìa và ca ngợi “tài lãnh đạo năng động, quên mình” của ông.
Mục tiêu
Dù cả Park và Marcos đều là kết quả của môi trường xã hội và chính trị mà từ đó họ nổi lên, các ưu tiên cá nhân và phong cách lãnh đạo của hai người chắc chắn là yếu tố cần thiết để hiểu được đặc trưng trong chế độ tổng thống của họ. Trong khi hai người chắc chắn có cùng khát khao muốn tập trung và nắm giữ quyền lực ở mức độ cao nhất có thể, thì cách sử dụng quyền lực của họ lại khác nhau. Park Chung Hee đi theo những vị tổng thống trước đó vốn có vị thế xã hội cao hơn và kết hợp “lòng ngờ vực người giàu của nông dân” với các mục tiêu trọng thương thúc đẩy “nước giàu quân mạnh” theo tinh thần Nhật Bản. Các học giả về kinh tế chính trị Hàn Quốc hiếm khi cho thấy Park sử dụng vị thế của mình để xây đắp gia tài cá nhân khổng lồ. [226] Marcos, ngược lại, là kẻ trưởng giả điển hình ở các tỉnh, quyết tâm không chỉ tranh đua mà còn thôn tính các gia đình giàu có nhất đất nước. Mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia chắc chắn chỉ là phụ so với việc phát triển gia đình giàu có và nhóm tùy tùng hùng hậu.
Marcos thường nói đến việc thúc đẩy mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia, và khởi đầu nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của mình bằng cách tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng chính yếu trên toàn quần đảo. Tuy nhiên những chi tiêu này, cùng với những khoản viện trợ “phát triển cộng đồng” hạn chế hơn ở những huyện nghèo, “được chia nhỏ để có lợi thế chính trị tối đa”. Cùng với những phát ngôn về “xây dựng quốc gia”, tin đồn về các khoản đầu tư bất động sản ngoài nước, các tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ, và đặc quyền thân hữu của Cặp đôi Đệ nhất tràn ngập trên báo chí Manila cuối những năm 1960. Trong khi Park chi phối quan hệ đối ngoại với các mục tiêu toàn diện về an ninh quốc gia và quyền tự chủ quốc gia, các kỹ năng ngoại giao đáng ngạc nhiên của Marcos có định hướng chủ yếu vào lợi ích cá nhân. Đổi lại việc gửi một tiểu đoàn công binh sang Việt Nam, Marcos nhận được các khoản thanh toán khổng lồ không ghi sổ từ Hoa Kỳ; các quan chức Mỹ biết được những dàn xếp này, Raymond Bonner viết tiếp, “Không nghi ngờ rằng hàng triệu đô-la đã đi vào túi [của Marcos] hoặc, chính xác hơn, vào tài khoản ngân hàng nước ngoài của ông.” Chiến dịch tái tranh cử năm 1969 có lẽ đã cho thấy bằng chứng hùng hồn nhất cho việc mục tiêu chính trị cá nhân chà đạp lên phúc lợi quốc gia: sau khi kho bạc bị cướp và các đối thủ bị đe dọa bởi hoạt động huy động cưỡng bức rộng rãi các quan chức và các thế lực cá nhân của chính quyền, vị ứng viên bị đánh bại than phiền rằng ông đã “thua về sự bất lương, thua về súng đạn và thua về vàng.” Khi cuộc tranh cử đang diễn ra, khủng hoảng cán cân thanh toán tồi tệ nhất từ năm 1949 nổ ra tại nước này. Do đó, hoạt động tích trữ quyền lực cá nhân bất chính mà nhờ đó Marcos trở nên nổi tiếng có thể đã bắt đầu từ những năm đầu trong chế độ tổng thống của ông.
Bối cảnh thể chế
Khi cả hai khéo léo thâu tóm nền tảng chính trị cho chế độ của mình, họ dựa trên những nền móng thể chế và tầm nhìn rất khác biệt về cải cách thể chế. Không như ở Philippin, Park làm việc trong môi trường “hoàn toàn quan liêu”: Ông “biết đặt quyền lực, chuyên môn ở đâu và hành động theo đó, ban cho nhóm quý tộc của Hàn Quốc nhiều đặc quyền”. [227] Hưởng lợi từ quá trình tập trung quyền lực ban đầu của hệ thống chính trị dưới thời Lý, Park tiếp tục thiết lập Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (có thẩm quyền cực kỳ lớn là bảo vệ quyền lực và quản lý các cuộc bầu cử) và Ban Kế hoạch Kinh tế (có nhiệm vụ giám sát quá trình công nghiệp hóa nhanh). Trong hệ thống mà ông gọi là “dân chủ hành chính”, Park tiến hành cẩn thận và chắc chắn để tạo nên một bộ máy quan liêu biết trọng dụng nhân tài hơn. [228] Mặc cho nguồn gốc từ quân đội và sự ám ảnh của ông với các nhiệm vụ điều phối kinh tế, nhìn chung Park đã tách các sĩ quan quân đội khỏi những cơ quan chính trong bộ máy quan liêu nhà nước (gồm Ban Kế hoạch Kinh tế và Bộ Tài chính). [229] Khi sự phát triển của các cơ quan quan liêu được phân định rõ ràng và vững mạnh, ông đồng thời cũng đảm bảo nắm quyền kiểm soát cá nhân đối với các cơ quan đó. Dựa trên truyền thống cầm quyền trọng dụng nhân tài lâu đời của đất nước, Park tập trung thẩm quyền quản lý bộ máy quan liêu vào Nhà Xanh và thiết lập kỷ luật như quân đội với những quan chức hàng đầu của mình.
Marcos thừa hưởng một bộ máy quan liêu vốn từ lâu được tổ chức kém và bị kiểm soát bởi những ý đồ nắm giữ đặc quyền của nhiều chính trị gia và các gia đình đầu sỏ. Thay vì tìm cách củng cố các cơ quan quan liêu và bảo vệ các cơ quan này khỏi mạng lưới bảo trợ, Marcos tìm cách tập trung hóa mạng lưới bảo trợ dưới sự kiểm soát của mình. Không có chương trình cải cách bộ máy quan liêu lớn nào dưới quyền tổng thống hiến định của ông; nếu có, ông chỉ làm tồi tệ hơn mức độ minh bạch về tổ chức vốn đã ở mức thấp nhất của bộ máy quan liêu này mà thôi. Bên cạnh việc “sử dụng” quân đội cho các dự án bảo trợ có lợi cho chế độ, ông trắng trợn sử dụng thẩm quyền điều tiết của Ngân hàng Trung ương để cứu trợ cho bạn bè ông và trừng phạt kẻ thù. Không như Park, người xây dựng bộ máy quan liêu nhà nước Hàn Quốc để thúc đẩy các mục tiêu phát triển, Marcos làm suy yếu bộ máy quan liêu Philippin để củng cố một chế độ độc tài triệt để hơn nữa.
Quan hệ chính quyền-doanh nghiệp
Thông qua việc kết hợp các mục tiêu kinh tế rõ ràng hơn với các công cụ thể chế vững mạnh hơn, chế độ của Park trước năm 1972 đạt được sự chuyển biến chính trị-kinh tế mạnh mẽ hơn rất nhiều so với chế độ ở Philippin. Tận dụng quyền lực cao hơn đối với lớp doanh nghiệp đang phát triển, chính phủ buộc phải quốc hữu hóa tất cả các ngân hàng thương mại. Bằng cách kiểm soát mọi nguồn tiền, nhà nước khuyến khích lớp doanh nghiệp vừa mới hình thành và phụ thuộc phải bắt đầu tham gia vào hoạt động sản xuất công nghiệp ngày càng phức tạp được tổ chức quanh các tập đoàn gia đình đa dạng hóa khổng lồ. Các doanh nhân không còn bị tuyên bố là “những kẻ kiếm lợi phi pháp” mà trong nhiều năm họ tiếp tục được điều động theo nhịp điệu phát đi từ các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế chính. Kể cả khi này, quyền lực của nhà nước Hàn Quốc cũng không hề tuyệt đối; thay vì vậy, mối quan hệ cộng sinh với doanh nghiệp trong những năm này được mô tả là “hoạt động đổi chác chính trị bất cân xứng”. [230]
Tương tự, có thể nhận thấy khoảng cách quyền lực to lớn ở Philippin vào đầu những năm 1960, tuy nhiên cán cân quyền lực thì ngược lại. Nếu tiền bạc thật sự là quyền lực thì những phân tích của giới tài chính một lần nữa lại là những lời định hướng. Trong khi giới doanh nhân ở Seoul đang bị giam giữ và sau đó mất quyền kiểm soát ngân hàng của họ, thì gần như tất cả các gia đình quan trọng ở Philippin lại tận dụng những khuyến khích mới để thiết lập các ngân hàng tư nhân. Về căn bản, các nguồn lực nhà nước được cung cấp cho ngân hàng, từ đó các chủ sở hữu ngân hàng có thể tự do tạo ra các danh mục cho vay vì lợi ích của các tập đoàn gia đình đa dạng hóa. Nếu ở Hàn Quốc chính phủ sử dụng ngân hàng để thực thi “các mục tiêu kinh tế vĩ mô quốc gia, không phải để kiếm lợi thông qua hoạt động cho vay siêu lợi nhuận”, thì ở Philippin hoàn toàn ngược lại. Quá trình quốc hữu hóa các ngân hàng tư nhân chắc hẳn là không được nghĩ đến; trái lại, các gia đình còn được trao cho cơ hội vơ vét ở không gian công hạn hẹp.
Chiến lược phát triển
Những năm 1960 là thời gian quá độ cho cả nền kinh tế chính trị Hàn Quốc và Philippin. Ở Hàn Quốc, sự cắt giảm viện trợ Mỹ khuyến khích nhiều sự quan tâm hơn vào phát triển xuất khẩu. Các cố vấn Mỹ chống lại hoạt động đầu tư quá nhiều vào các ngành công nghiệp nặng và hóa chất, nhưng Park và các cố vấn của ông phát triển kế hoạch riêng của họ khi thúc đẩy các mục tiêu mà người Mỹ xem là tham vọng điên cuồng. Khoản bồi thường 800 triệu đô-la Mỹ từ Nhật Bản, cũng như khoảng 1 tỷ đô-la Mỹ mà Hoa Kỳ thanh toán cho sự tham gia của Hàn Quốc ở Việt Nam, cung cấp nguồn lực cho cả hoạt động thâu tóm chế độ và các dự án công nghiệp khổng lồ. Khi nền kinh tế Nhật Bản tiến đến các ngành công nghiệp công nghệ cao hơn và mức lương cao hơn, Hàn Quốc bắt đầu áp dụng hoạt động sản xuất thâm dụng lao động và lương thấp từ Nhật Bản. Cuộc đua để đuổi kịp Nhật Bản và vượt qua Triều Tiên tạo ra nỗi ám ảnh tăng trưởng kinh tế nhanh trên cả nước. Thông qua kiểm soát ngành tài chính mà theo nhiều cách gợi nhớ tới quá trình công nghiệp hóa Hàn Quốc thời thực dân dưới sự cai trị của người Nhật, Park sử dụng tập hợp “các công cụ thể chế” theo kiểu Gerschenkron, [231] từ đó cho phép Hàn Quốc đồng thời phát triển nền kinh tế và gia tăng sức mạnh quốc gia. Vào những năm 1970, Park tiến đến ngành công nghiệp nặng; theo công thức riêng của ông, “Thép = Sức mạnh Quốc gia”. “Chắc chắn khi đảm nhận nhiệm vụ chính trị thúc đẩy tiềm lực quốc gia của Hàn Quốc,” Kim Byung-kook viết, Park đã theo đuổi “chiến lược tăng trưởng không cân bằng với vài chaebol được chọn làm các doanh nghiệp độc tôn, được hưởng rất nhiều đặc quyền và lợi ích kinh tế được cung cấp thông qua chính trị”. Chế độ của ông theo đuổi cái mà Woo gọi là “tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu bất khả thi”, từ đó đảm bảo đất nước luôn trên bờ vực khủng hoảng.
Ở Philippin, Hoa Kỳ cũng đóng một vai trò quan trọng khi cố gắng thiết kế chiến lược kinh tế mới những năm 1960. Tuy nhiên, không như ở Hàn Quốc, lời khuyên của Mỹ không bị cản trở nhiều khi đi qua các ý tưởng chính sách thay thế như khi bị suy yếu bởi tình trạng trì trệ chính sách (không như những người đồng cấp Hàn Quốc, các nhà hoạch định chính sách Philippin không quen với quá trình phát triển do nhà nước dẫn dắt theo phong cách Nhật Bản). Quá trình nới lỏng kiểm soát vào đầu những năm 1960 làm giảm đi đáng kể khả năng định hướng trong chính sách kinh tế của đất nước. Từ quan điểm của một tập đoàn gia đình trị đa dạng hóa của Philippin, mọi việc có lẽ không quá u ám - đặc biệt nếu khả năng tiếp cận đến bộ máy chính trị được ưu đãi tạo ra cơ hội hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi: các khoản cho vay từ ngân hàng quốc doanh, sự thiên vị đặc biệt của chính phủ cho các ngân hàng của họ, chiếm và khai thác các nhượng bộ, các khoản miễn thuế ưu đãi, thiên vị trong tính và thanh toán thuế, tường thuế quan đặc biệt hoặc các khoản miễn thuế quan, các thỏa thuận có lợi từ Cục Thuế quan và nhiều nữa. Chính vì chế độ chính sách tổng thể quá thiếu định hướng, nên các gia đình có thể đi theo nhiều hướng để được giàu có hơn. Ở Hàn Quốc, các tài năng tư nhân đều bị điều động khá hiệu quả theo các mục tiêu công; ở Philippin, các nguồn lực công bị vơ vét thậm tệ vì lợi ích của giới đầu sỏ hùng mạnh. Trong khi Park thôi cẩn trọng và liều mình theo đuổi mục tiêu công nghiệp hóa nhanh, Marcos đưa đất nước đến khủng hoảng để đảm bảo sự tái đắc cử của mình năm 1969.
Vượt qua sự chống đối và tập trung hóa quyền lực
Bất chấp những tương phản lớn ở nền tảng cá nhân, mục tiêu, bối cảnh thể chế, quan hệ chính quyền-doanh nghiệp, và các chiến lược phát triển, Park và Marcos có cùng biệt tài tập trung quyền lực chính trị vào vị thế tổng thống và duy trì quyền lực này mặc cho vô số trở ngại. Khi đối mặt với chống đối, cả hai chứng tỏ mình là những lãnh đạo nhẫn tâm sẵn sàng dùng bất cứ cách nào - kể cả phá hủy các thể chế dân chủ - để giữ quyền lực cho bản thân.
Ở các cuộc bầu cử năm 1971, Park lần đầu tiên đối mặt với một đối thủ chính trị đe dọa vị trí của ông; ông xoay sở đánh bại Kim Dae-jung với cách biệt nhỏ, nhưng trong quá trình đó Đảng Cộng hòa Dân chủ của ông đã đánh mất vị thế đa số hai phần ba cần thiết để điều chỉnh hiến pháp. Rõ ràng là nền tảng ủng hộ chính trị của Park đã suy yếu, đặc biệt ở các vùng thành thị cũng như ở các vùng nông thôn, nơi sự hiện diện của nhà nước rất không được chào đón. Trong khi đó, Kim Dae-jung tận dụng được nguồn căm tức chống chính phủ khổng lồ ở vùng Jeolla. Khi không còn lựa chọn hợp hiến nào nữa để kéo dài sự cầm quyền, Park dùng đến các phương pháp cực đoan hơn. Ông tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia vào cuối năm 1971, và sau đó là thiết quân luật tháng 10 năm 1972. Như David I. Steinberg lý giải, việc chọn thời điểm “không phải không liên quan đến thực tế rằng ba tuần trước đó, khi không có sự phản đối công khai của Mỹ, Tổng thống Marcos ở Philippin cũng đã tuyên bố thiết quân luật. Người ta cho rằng Tổng thống Park đã yêu cầu ban cố vấn của ông theo dõi phản ứng của Mỹ với bước đi đó, và khi Washington không phản đối, Park cảm thấy được tự do đi theo định hướng riêng của ông.”
Tuyên bố thiết quân luật của Marcos ra đời sau những năm khó khăn về kinh tế và hỗn loạn chính trị gia tăng. Suốt những năm 1960, sinh viên Philippin ngày càng bị chính trị hóa và cực đoan hóa, bị kích động bởi các vấn đề ở trường, sự hiện diện của các căn cứ Mỹ, chiến tranh với Mỹ ở Việt Nam và hoạt động triển khai quân đội Philippin ở nước này, cấu trúc xã hội bất công và nhu cầu cải cách ruộng đất, gian lận bầu cử cùng nhu cầu cải cách hiến pháp. Đảng Cộng sản mới của Philippin chính thức khởi động vào cuối năm 1968, tuyên bố thế mạnh của mình là đấu tranh du kích ở nông thôn nhưng lại đạt được thành công lớn nhất ở thành thị, đặc biệt là từ giới sinh viên. Sự kiện tái đắc cử của Marcos là một vấn đề gây rất nhiều tranh cãi, vì tất cả các ứng viên (dẫn đầu là Marcos) đều báo cáo đã sử dụng số tiền tương đương với gần một phần tư ngân sách quốc gia. Khi hoạt động xuất khẩu của đất nước trì trệ, khoản chi tiêu phung phí khổng lồ cho tranh cử này đã gây ra cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán, tiếp đó là đợt phá giá tiền tệ làm gia tăng lạm phát. Tình hình này càng làm tăng cao yêu cầu thay đổi từ quần chúng. Đầu năm 1970, các cuộc biểu tình sinh viên trong Cơn bão Quý I mà ngày nay đã trở thành huyền thoại chạm đến cổng Dinh Malacafiang.
Cũng như Park thay đổi hiến pháp năm 1969 để tránh giới hạn hai nhiệm kỳ sẽ truất quyền ông vào năm 1971, Marcos cũng cố gắng điều chỉnh giới hạn hai nhiệm kỳ hiến định vốn có thể sẽ truất quyền ông này vào năm 1973 (dựa trên tinh thần cải cách vốn đã tồn tại theo hướng làm trong sạch chính trị Philippin, đạt đến đỉnh cao ở sự kiện mở màn Hội nghị Lập hiến vào tháng 6 năm 1971). Tuy nhiên, không giống Park năm 1969, Marcos phải đối mặt với một hệ thống bất mãn phát triển hơn nhiều của giới quý tộc trong các thể chế dân chủ lâu đời, cũng như sự chống đối mạnh mẽ từ xã hội hơn nhiều; kết quả là ông bất ngờ gặp phải khó khăn to lớn hơn nhiều khi chuẩn bị cho một quá trình thay đổi hiến pháp nhẹ nhàng và dễ dự đoán. Marcos gặp thiệt hại lớn trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1971 với những lợi ích lớn mà phe đối lập giành được và mức độ “chủ nghĩa phản đảng” thậm chí còn cao hơn đối với đảng cầm quyền mà các tổng thống trước đây chưa từng gặp phải ở các cuộc bỏ phiếu giữa nhiệm kỳ. Như Thompson lý giải, Marcos phạm phải “hai tội lỗi chính trị”: Gia đình và bạn bè được thiên vị hơn rất nhiều so với các đồng chí trong đảng khi phân chia sự bảo trợ của nhà nước, và vị tổng thống này đã cố gắng áp đặt ý tưởng đưa Đệ nhất Phu nhân lên kế nhiệm ông làm ứng viên tổng thống của Đảng Quốc gia năm 1973. Các cuộc bầu cử đạt đến những giới hạn bạo lực mới, điển hình là vụ đánh bom vào cuộc họp thượng viện của đảng đối lập vào tháng 8 năm 1971.
Phải đối mặt với sự tụ hợp của một nền kinh tế đình trệ, tình trạng căng thẳng với giới sinh viên, phe đối lập chính trị lớn mạnh và các vấn đề đòi hỏi bản hiến chương phục vụ cá nhân của ông phải thay đổi thông qua Hội nghị Lập hiến, Marcos xem thiết quân luật là lựa chọn tốt nhất để duy trì chế độ của ông. Một bước đi cực đoan như vậy đòi hỏi sự chuẩn bị cẩn thận, đặc biệt vì Marcos không có một yếu tố vô cùng quan trọng ở Park: một mối đe dọa bên ngoài “bao trùm nhưng cũng thuận tiện để đàn áp sự chống đối ở trong và ngoài nước trong bất kỳ hành động nào mà chính phủ định thực thi”. Thay cho năng lực thao túng chính trị của mình, Marcos xây dựng một âm mưu nhằm dấy lên nỗi sợ hãi trong quần chúng rồi từ đó biện minh thiết quân luật là cách duy nhất để đất nước tự bảo vệ được mình khỏi nhiều mỗi đe dọa mất trật tự. Tháng 8 năm 1972, Manila bị chấn động bởi các vụ đánh bom hàng loạt được đổ lỗi cho Đảng Cộng sản tuy vẫn bị nghi ngờ vào lúc đó (và sau này xác nhận lại) là được điều phối bởi chính Dinh tổng thống. Màn kịch cuối diễn ra ngày 21 tháng 9 năm 1972 khi Tổng thống Marcos tuyên bố thiết quân luật và từ đó chấm dứt hơn 35 năm các thể chế dân chủ sau chiến tranh.
So sánh hai chế độ độc tài về chế độ, nhà nước, nền kinh tế và xã hội giai đoạn 1972-1979
Vì vậy, gần như cùng lúc, hai lãnh đạo lớn của châu Á đều sử dụng thiết quân luật để đảm bảo chế độ của họ - Park dùng khi ông không thể có được nhiệm kỳ thứ tư thông qua các phương tiện hợp hiến, và Marcos dùng khi ông phải đối mặt với các khó khăn lớn để có được nhiệm kỳ thứ ba. Tuy nhiên, hai quá trình chuyển đổi sang độc tài ở hai nước khác nhau rất nhiều. Ở Hàn Quốc, quá trình chuyển đổi từ chế độ bán độc tài sang độc tài diễn ra khá suôn sẻ và không bị chống đối nhiều. Cùng với các biện pháp an ninh mới cực kỳ hà khắc, Park công bố một ý thức hệ mới có nền tảng không chỉ dựa trên phong trào yushin, hay tái thiết Hàn Quốc, vốn lấy cảm hứng từ Tái thiết Minh Trị của Nhật Bản, mà còn dựa trên một “nền dân chủ Hàn Quốc” ca tụng những phẩm chất ưu việt của nhánh hành pháp thống trị (dựa trên những thêu dệt về các thể chế dân chủ tự công nhận vốn đã bị suy yếu trầm trọng nhưng chưa tan rã). Các quyền bị giới hạn nghiêm trọng, Quốc hội bị vô hiệu hóa, và các cuộc bầu cử trở thành những hoạt động vô nghĩa bị chi phối bởi một nhóm những người được tổng thống chỉ định. Tính chính danh đến chủ yếu từ hoạt động theo đuổi không ngừng nghỉ quá trình công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóa chất (HCI) của chế độ.
Sự chống đối ở Philippin mạnh mẽ và chủ động hơn rất nhiều so với ở Hàn Quốc, và Marcos lo sợ quần chúng khắp nơi sẽ phản kháng tuyên bố thiết quân luật của ông. Trong khi Park có vẻ như cảm thấy an toàn hơn với khả năng áp đặt thiết quân luật và không cần phải bắt giữ các lực lượng chống đối, Marcos biết rằng ông có thể không có cơ hội. Ông gây bất ngờ cho các đối thủ bằng cuộc bắt giữ ban đêm “khoảng 8.000 người — thượng nghị sĩ, các nhà tự do dân sự, nhà báo, sinh viên, các lãnh đạo công nhân và thậm chí cả con cháu của vài gia đình quý tộc trong nước”. Trong khi đó, các tờ báo đối lập bị đóng cửa. Như ở Hàn Quốc, nhà độc tài được Mỹ ủng hộ này tuyên bố sự không phù hợp của nền dân chủ kiểu Mỹ, và tuyên bố việc áp dụng “nền dân chủ” kiểu Philippin sẽ phù hợp hơn với các nhu cầu của “xã hội mới” mà ông đang xây dựng. Bên cạnh đó, ông khẳng định sẽ lãnh đạo “cách mạng từ trung tâm” để có thể giải quyết các nguy cơ kép đang đe dọa đất nước từ cánh tả và cánh hữu.
Đặc điểm bất ngờ của cuộc tấn công bởi nền độc tài phục vụ cho các mục đích của Marcos, và thông qua những vụ bắt giữ, đàn áp hay tra tấn, ông ngăn chặn tương đối dễ dàng những thành phần dễ tham gia chống đối thiết quân luật quyết liệt nhất. Đồng thời, nhiều bộ phận trong xã hội thật sự tin rằng các biện pháp cực đoan là cần thiết để giải quyết các vấn đề của đất nước, và sẵn sàng tin tưởng ông khi ông tập trung hóa quyền lực vào Dinh Tổng thống, giải tán quân đội tư nhân của các thủ lĩnh địa phương và công bố những mục tiêu tham vọng về cải cách đất đai. Đảng Cộng sản vẫn chưa trở thành nguy cơ lớn đối với chính phủ, nhưng đã hoạt động đủ tích cực để tạo ra những biện minh hiệu quả cho các biện pháp đàn áp. Tuy vậy, kể cả Marcos cũng có vẻ ngạc nhiên phần nào trước sự lặng lẽ tương đối của phong trào chống đối truyền thống (phi cánh tả), so với những lo sợ trước đây của ông về khả năng nổi dậy phản kháng của họ.
Có năm nhân tố chính lý giải kết quả này. Đầu tiên, “chế độ của Marcos không đụng đến hầu hết những thành viên của giới quý tộc Philippin”. Chỉ hai chính trị gia lớn bị bắt giữ lâu hơn vài tuần và tương đối ít gia đình bị tịch thu tài sản. Thứ hai, quá trình tập trung hóa những bảo trợ nhà nước vào một nhà lãnh đạo có nghĩa rằng “sự hào phóng của nhà nước chỉ sẵn dành cho những ai được ông ta ưu ái”. Với việc chi phối những bảo trợ chính sách trong nền chính trị Philippin, “dễ hiểu vì sao hầu hết các chính trị gia trước đây chống đối Marcos không còn chỉ trích mà thay vào đó cố gắng lấy lòng chế độ”. Thứ ba, Marcos có sự ủng hộ quan trọng từ Hoa Kỳ. Là người có lòng trung thành chủ yếu đặt ở lợi ích cá nhân chứ không phải bất kỳ lợi ích nhà nước hay quốc gia nào — dù có định nghĩa theo cách nào đi nữa — Marcos vẫn xem các nhu cầu chiến lược của Mỹ là cơ hội lớn để tư lợi cá nhân. Đặc biệt vào thời điểm các căn cứ quân sự đang là sự hỗ trợ rất quan trọng cho quân đội Mỹ ở Việt Nam, Marcos có thể gặp những quan chức cung cấp viện trợ ở Washington với một vị thế mạnh. Quả thực, Hoa Kỳ đã thưởng cho thiết quân luật bằng những khoản gia tăng lớn về tài trợ và cho vay. [232] Thứ tư, sự chấp thuận của Mỹ cho chế độ này quyền tiếp cận với hàng tỷ đô-la viện trợ đa phương và cho vay thương mại. Nguồn lực khổng lồ từ bên ngoài này, không lâu sau có cả những khoản cho vay tiền dầu rẻ mạt ở mức lãi suất thực âm, khiến nhiều người có ấn tượng rằng đất nước này đang trên con đường phát triển nhanh. Thứ năm, Marcos cũng khởi đầu thiết quân luật với vận may đến từ giá cả hàng hóa cơ bản ở mức cao, theo Rigoberto Tiglao lý giải, “tạo ra các khoản lợi nhuận dây chuyền cho giới quý tộc kinh tế Philippin, làm tan biến đi bất kỳ ngờ vực nào mà giới này vẫn còn đối với chế độ độc tài Marcos.”
Với sự chống đối được kiềm chế hiệu quả và sự ủng hộ chắc chắn từ Mỹ, Marcos củng cố chế độ độc tài mà không gặp phải thách thức nào. Sự kết hợp của cà rốt và cây gậy đã thúc đẩy các đại biểu của Đại hội Hiến pháp thông qua nhanh chóng bản hiến chương do Dinh Tổng thống soạn, và đầu năm 1973 bản hiến pháp mới có được sự chấp thuận giả tạo bằng cách triệu tập “những hội đồng cư dân” trên khắp cả nước. Nhánh tư pháp bị buộc phải chấp nhận, còn Quốc hội bỏ phiếu tự giải tán để đổi lấy việc chỉ định một Quốc hội Lâm thời (nền tảng được hứa về chính phủ nghị viện mới với các cuộc bầu cử trên thực tế đã không được tổ chức cho đến năm 1978). Trong khi Park đủ tự tin để duy trì Quốc hội trong các cấu trúc độc tài của ông, Marcos giải tán hoàn toàn Quốc hội và chỉ đưa ra viễn cảnh về một nghị viện mới thay thế.
Tóm lại, cả Park và Marcos đều viết những bản hiến pháp đảm bảo quyền thống trị của cơ quan hành pháp và cố gắng hết sức để đạt được sự tập trung quyền lực cá nhân tối đa. Tuy nhiên vẫn tồn tại những khác biệt rất lớn trong đặc trưng của hai chế độ, như cho thấy trong những nghiên cứu sau đây về thể chế, quan hệ chính phủ-doanh nghiệp, chiến lược phát triển và sự chống đối xã hội.
Thể chế: đảng cầm quyền, bộ máy quan liêu và quân đội
Các đảng cầm quyền: Đảng Cộng hòa Dân chủ cầm quyền ở Hàn Quốc trở nên ít quan trọng đối với chế độ của Park đến cuối những năm 1960 vì những người (nổi bật là Kim Jong-pil) mong muốn đảng được thể chế hóa mạnh đã bị đẩy ra ngoài lề. Sau khi tuyên bố chế độ yushin, Hoon Jaung giải thích, DRP “không khác gì con rối của tổng thống, người duy trì quyền lãnh đạo cá nhân tập trung cao độ trong chế độ”.
Marcos không hề trung thành với Đảng Quốc gia, dù nhờ số phiếu của đảng này ông đã đắc cử tổng thống năm 1965, đặc biệt sau sự kiện tách riêng và bất đồng của nhiều thành viên đảng này trong cuộc bầu cử năm 1971. Chỉ cho đến năm 1978, khi chuẩn bị cho cuộc bầu cử vào Quốc hội Lâm thời đã được hứa hẹn từ lâu, chế độ của Marcos mới lập ra đảng cầm quyền của chính mình, Kilusang Bagong Lipunan (Phong trào Xã hội Mới [KBL]). Mặc cho những phát biểu về “xã hội mới” và sự nổi lên của những gương mặt mới, nền chính trị bảo trợ phi chính thức, già nua của những năm tiền thiết quân luật vẫn còn là nền tảng căn bản của KBL. Trên khắp đất nước, các chính trị gia tập hợp đến KBL vì những lợi ích đảng này có thể cung cấp. Ba thân hữu lớn của Marcos trở thành chủ tịch đảng cấp vùng, có nhiệm vụ đảm bảo chiến thắng của KBL và đồng thời có cơ hội đạt được vị thế thống trị chính trị so với những người nắm giữ quyền lực khác ở địa phương. Sự bảo trợ do bộ máy chính trị này cung cấp là một lá chắn bảo vệ quan trọng cho chế độ, hỗ trợ cho hoạt động xây dựng các cấu trúc dân chủ rỗng tuếch và việc áp dụng cưỡng chế rộng khắp. Các vùng quê nhà của Cặp đôi Đệ nhất (Ilocos ở Luzon thuộc miền bắc và Leyte thuộc Visayas) được cho là nhận ưu đãi đặc biệt, và là những địa phương nơi chế độ được cho là nhận được mức độ ủng hộ cao nhất của quần chúng.
Tuy nhiên, theo hai cách quan trọng, sự nổi lên của KBL cho thấy một thay đổi lớn trong các kiểu mẫu thời tiền thiết quân luật. Hơn hẳn bất cứ tổng thống Philippin nào từ thời Manuel Quezon và Đảng Quốc gia của ông ta vào những năm 1930, Marcos và KBL của ông có được sự tập trung từ các nguồn lực bảo trợ to lớn. Điều này không có nghĩa rằng Marcos có sức mạnh để tấn công toàn diện vào quyền lực địa phương, vì các gia tộc đã tồn tại quá lâu để ông có thể cố làm điều đó; tuy nhiên, ông có thể tái cấu trúc quyền lực địa phương bằng cách ưu ái đồng minh của mình để kẻ thù chịu thiệt hại. Thứ hai, ở mức độ chưa từng có trong lịch sử Philippin, gia đình cầm quyền đứng đầu tất cả các cơ quan chính trị chính thức, bao gồm cả đảng cầm quyền. Người ta sẽ không bao giờ sử dụng từ “chế độ độc tài vợ chồng” để mô tả chế độ của Park, [233] nhưng từ này lại mô tả rất chính xác chế độ của Ferdinand và Imelda. Cặp đôi Đệ nhất này cố gắng phát triển hình ảnh chính mình như “Cha Mẹ Quốc gia” trong các tổ chức thanh niên cấp quận, và trong Dinh Tổng thống cũng treo một bức chân dung cũ của cặp đôi này, vẽ theo ý tưởng trước thời Tây Ban Nha xâm lược, khắc họa ngài Tổng thống là Malakas (mạnh mẽ) và Đệ nhất Phu nhân là Maganda (xinh đẹp). Bên cạnh nhiều vị trí chính thức của bà, Đệ nhất Phu nhân đứng đầu nhóm ứng viên KBL của Manila trong cuộc bầu cử năm 1978, sử dụng tất cả phương tiện gian lận bầu cử khả dĩ để đánh bại dễ dàng lãnh đạo phe đối lập đang bị cầm tù Benigno Aquino, Jr., trong các cuộc bỏ phiếu.
Tóm lại, các đảng cầm quyền của Park và Marcos đều yếu kém về mặt tổ chức (đặc biệt so với những đảng cầm quyền độc tài ở Đài Loan và Indonesia gần đó). Park không để nhiều thẩm quyền cho đảng cầm quyền của ông trong khi Marcos trì hoãn việc thành lập đảng cầm quyền mới trong nhiều năm. Khi ông thành lập KBL năm 1978, mô hình của ông giống với phiên bản của các đảng hướng đến bảo trợ trong những năm tiền thiết quân luật nhưng tập trung hóa hơn. Quan trọng là cả hai đảng DRP và KBL đều không tồn tại sau sự sụp đổ của vị lãnh đạo độc tài.
Bộ máy quan liêu: Sau khi tuyên bố thiết quân luật ở Hàn Quốc, Park duy trì mục tiêu trước đây của ông là xây dựng năng lực của bộ máy quan liêu, với trọng tâm đặt ở các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế có vị trí trung tâm đối với các mục tiêu HCI đầy tham vọng; như trước đây, ông sử dụng chế độ cầm quyền cá nhân cao độ đối với các cơ quan mà ông nuôi dưỡng. Ở Philippin, ngược lại, giai đoạn hậu thiết quân luật là một trong những giai đoạn mà nhiệm vụ cải cách bộ máy quan liêu bắt đầu được chú ý sau khi tương đối bị bỏ bê. Marcos thúc đẩy “hợp lý hóa mạnh mẽ cấu trúc hành chính Philippin” và tạo ra Cơ quan Phát triển Kinh tế Quốc gia và Viện hàn lâm Phát triển Philippin (NEDA) vào năm 1973. NEDA được thành lập như là một phương tiện để tập trung hóa các chức năng hoạch định kinh tế vào một cơ quan, và các nhà kỹ trị tài năng cầm lái cơ quan này sẽ giám sát các nỗ lực phát triển ở 13 vùng mới được thành lập trên toàn bộ quần đảo. DAP thành lập với mục tiêu quan trọng là đào tạo các quan chức hiệu quả hơn và cải thiện hệ thống quan liêu.
Tuy nhiên, đồng thời với “sự hợp lý hóa” này là một hệ thống cực kỳ chuyên quyền, không có sự tách bạch rõ ràng giữa phạm vi công và tư. Mặc dù giải quyết các vấn đề quốc gia và bảo vệ nhà nước là lập luận chính thức để tuyên bố thiết quân luật, nhưng sau một thập niên mọi chuyện lộ rõ rằng các lợi ích cá nhân và chế độ vẫn luôn áp đảo những động lực khác của thiết quân luật. “Theo một góc nhìn,” Benedict Anderson lý giải đầy màu sắc, “nhà quý tộc Ferdinand đã thúc đẩy lô-gíc phá hoại trật tự cũ đi đến kết thúc tự nhiên. Thay cho hàng tá ‘lực lượng an ninh’ tư nhân hóa là một Sở Cảnh sát Quốc gia tư nhân hóa; thay chỗ các quân đội cá nhân là một Quân đội cá nhân; thay chỗ các thẩm phán địa phương dễ bị gây ảnh hưởng là một Tòa án Tối cao nhận bảo trợ; thay cho vô số các quận nhỏ lẻ và thối nát là một đất nước nhỏ lẻ hoặc thối nát, do những thân hữu, xã hội đen và những kẻ nịnh bợ quản lý.”
Dù chỉ một số ít thân hữu có thể kết hợp khả năng tiếp cận các đặc quyền được ban cho một cách chính thức với việc đảm trách những vị trí chính thức, nhưng Đệ nhất Phu nhân Imelda Marcos cũng có thể giành được một vị trí trong đó cho riêng mình. [234] Bà đảm nhận các vị trí Thống đốc của thành phố Manila, Bộ trưởng Bộ Định cư Người dân, Chủ tịch Cơ quan Phát triển Nam Philippin, người sáng lập Trung tâm Văn hóa Philippin và “Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền của Tổng thống” (thường ở các sứ mệnh khá nhạy cảm) trong suốt những năm thiết quân luật. Các khoản tiền “tiết kiệm được” từ ngân sách của các bộ ngành nhà nước thường được tái triển khai vào các dự án đặc biệt của Đệ nhất Phú nhân, người kết hợp vai trò chính thức của mình với sức ảnh hưởng phi chính thức to lớn trong khắp chính phủ. Khi Marcos đối mặt với các vấn đề sức khỏe gia tăng vào cuối những năm cầm quyền của ông, “theo nhiều cách, bà trở thành tổng thống trên thực tế của đất nước.” [235]
Người ta sẽ hiểu sự kết hợp quá trình hợp lý hóa hành chính và các mục tiêu chuyên quyền như thế nào? Theo một người trong Dinh Tổng thống lý giải, Marcos sẽ tận dụng năng lực của các quan chức tài năng, nhưng đồng thời cũng cố gắng hạn chế “sức ảnh hưởng chính trị” của họ và buộc cho họ “phải tập trung vào lĩnh vực của mình”. Đặc biệt, các nhà kỹ trị có vai trò quan trọng trong việc hoạch định các kế hoạch phát triển cao để có được tiền vay từ các tổ chức đa phương và các ngân hàng nước ngoài. Khi đã có được các khoản tiền này, “nhà lãnh đạo chính trị sau đó cho phép áp dụng những ngoại lệ không hạn chế, biến tinh thần và câu chữ trong các kế hoạch hoàn toàn trở thành trò cười.” Cùng cách như vậy, Weber cân nhắc một “quá trình hợp lý hóa bộ máy quan liêu của nhà lãnh đạo chuyên quyền” mà không hạ thấp bản chất căn bản của nhà lãnh đạo đó, người ta có thể nói rằng cuộc cải cách bộ máy quan liêu của Marcos và việc sử dụng các kỹ năng kỹ trị chỉ giúp ích cho thói vơ vét nhà nước của ông. [236] Một yếu tố có vẻ quan trọng cần được cân nhắc trong phần lớn sự kết hợp trên là mức độ an ninh trong đời sống của chế độ; nếu có cảm giác rằng chế độ sẽ tồn tại trong dài hạn thì không nhất thiết phải tối đa hóa lợi ích trong ngắn hạn. Sau khi tuyên bố thiết quân luật, Marcos có thể cảm thấy an toàn tại vị thế của ông đủ để biết rằng ông, một cách cá nhân, có thể gặt hái được lợi ích từ một bộ máy nhà nước vận hành tốt hơn.
Quân đội: Park thừa hưởng một cỗ máy quân đội mạnh hơn nhiều vào những năm 1960 so với Marcos, và những nguy cơ bên ngoài cũng như nỗi sợ Mỹ rút quân theo Học thuyết Guam của Nixon tiếp tục hiện diện, dẫn đến không chỉ quá trình hiện đại hóa nhanh quân đội mà còn đến một ngành công nghiệp quốc phòng mạnh mẽ để hỗ trợ quân đội. Park xem Hoa Kỳ là một đồng minh không đáng tin cậy và xây dựng quân đội hiện đại, hiệu quả, kỷ luật cao “với nguyên tắc tự phòng thủ”. Dù ngân sách quốc phòng tăng 6 lần giai đoạn 1972-1978, nhưng quân đội từ góc độ một tổ chức không được trao cho các vai trò lớn trong cả chính trị trong nước và chính sách kinh tế. Không những thế, các cơ hội trục lợi của sĩ quan quân đội đều bị kiểm soát.
Quân đội mà Marcos thừa hưởng năm 1965 ít quan ngại về các vấn đề an ninh đối ngoại; trớ trêu thay, nguy cơ bên ngoài tiềm ẩn duy nhất mà Philippin phải đối mặt chính là mối đe dọa đến từ khả năng các căn cứ quân đội Mỹ có thể dẫn nước này đến thẳng xung đột chiến tranh lạnh. Cuối những năm 1960, Marcos vốn đã triển khai quân đội vào những dự án bảo trợ “định hướng phát triển”, tuyên bố thiết quân luật dẫn đến một đợt tăng lớn về quy mô quân đội Philippin, từ 57.000 vào năm 1971 đến 113.000 vào năm 1976 và 158.000 vào năm 1985. Không như Park, người phản ứng với Học thuyết Guam bằng quá trình vội vã tiến đến tự lực tự cường, Marcos tiếp tục và thậm chí còn làm sâu sắc hơn quan hệ lệ thuộc của đất nước ông vào viện trợ quân sự Mỹ. Thật ra, như lý giải bên trên, rất nhiều hình thức hỗ trợ nước ngoài có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại của chế độ là kết quả từ việc cung ứng cho các cơ sở quân sự của Mỹ. Và trong khi Park đặt những quan ngại về phòng thủ bên ngoài lên hàng đầu trong chính sách nhà nước, mục tiêu chính của Marcos không phải là bảo vệ đất nước khỏi mối đe dọa bên ngoài mà là tưởng thưởng cho giới ủng hộ trong quân đội và đảm bảo khả năng bảo vệ chế độ của họ chống lại các thách thức nội bộ. Quân đội bắt đầu được hưởng vị thế mới: theo một sĩ quan lý giải năm 1975, “Trong quân đội, chúng tôi không được xem trọng trước khi có thiết quân luật... giờ đây người ta đến tòa án quân đội để tìm kiếm công lý.”
Khi hầu hết các mối đe dọa bên ngoài tưởng tượng ra được dùng để biện minh cho thiết quân luật năm 1972 biến thành thách thức ly khai lực lượng Hồi giáo hùng mạnh ở miền Nam và hoạt động lật đổ đang lớn mạnh của Quân đội Nhân dân Mới trên toàn quần đảo, các nguồn lực cưỡng chế của Marcos bị đẩy tới giới hạn. Ở Hàn Quốc, Park triển khai một lượng đặc vụ KCIA cực lớn hòng đối phó với phong trào chống đối vốn đang phải đối mặt với những trở ngại lớn về mặt tổ chức và hoàn toàn thiếu vũ khí. Ở Philippin, Marcos có khoảng một phần ba lượng đó trong các lực lượng kết hợp bộ binh, lục quân thủy chiến, không quân và cảnh sát hiến binh để chống lại hoạt động lật đổ của Hồi giáo với khoảng ít nhất 15.000 chiến binh vào giữa những năm 1970 và hoạt động lật đổ của chủ nghĩa cộng sản mà vào đầu những năm 1980 có khoảng 5.000 đến 7.000 quân du kích. [237] Một cách khác để nhấn mạnh sự tương phản trong cỗ máy an ninh của hai nước là xem xét số lượng người dân trên một người lính vào năm 1975: 55 ở Hàn Quốc và 628 ở Philippin.
Tuy nhiên, điều mà Marcos thiếu ở số lượng đơn thuần, ông bù đắp hơn nữa bằng bản chất tàn bạo và công khai trong phản ứng với hoạt động lật đổ: Dưới quyền độc tài của ông, 3.257 người bị giết, 35.000 người bị tra tấn và 70.000 người bị bỏ tù. “Kể cả đến lúc đỉnh điểm,” Alfred W. McCoy giải thích, chế độ của Marcos “vẫn thiếu các hệ thống liên lạc và thông tin cho cuộc đàn áp toàn diện... [Bất chấp sự phát triển về quy mô của quân đội], lực lượng này vẫn ít được tài trợ và truyền thông thiếu hiệu quả... Thay vì là một cỗ máy dẹp hết mọi phản kháng, chế độ của Marcos dùng quang cảnh bạo lực để kiểm soát dân sự, trở thành nơi phô bày nỗi kinh hoàng. Trong ba năm đầu, quân đội bắt giam khoảng 50.000 người. Tuy nhiên khi đối mặt với các hoạt động lật đổ gia tăng, chế độ nhanh chóng chấm dứt chương trình tốn kém này... Các vụ bắt giữ giảm, nhưng các vụ hành hình ngoài tố tụng gia tăng.” Khoảng 2.500 vụ “cứu rỗi” do các lực lượng an ninh của Marcos thực hiện có một đặc trưng công khai đầy dụng tâm: thi thể của nạn nhân - bị biến dạng vì tra tấn - thường bị trưng ra làm gương cho những người không tuân phục. Ngược lại, số tù nhân chính trị và số người tử vong ít hơn rất nhiều trong xung đột chính trị ở Hàn Quốc so với ở Philippin, theo Byeongil Rho, là do “khả năng trấn áp được thể chế hóa hơn của nhà nước Hàn Quốc.” [238]
Trớ trêu thay, dù có quy mô nhỏ hơn, nhưng quân đội Philippin dường như có ảnh hưởng đến động lực chính trị của chế độ Marcos lớn hơn nhiều so với ảnh hưởng của quân đội Hàn Quốc đến động lực chính trị trong chế độ của Park. Hai nhân tố chính có thể lý giải cho sự khác biệt này: quân đội Philippin có khả năng lớn hơn trong việc đảm nhận các vị trí ngoài chức năng quốc phòng hạn hẹp (ví dụ như là các nhà ngoại giao, thủ trưởng các cơ quan nhà nước và các quan chức phát triển địa phương), và các cơ hội sử dụng vị trí chính thức của họ để làm giàu cho bản thân hơn rất nhiều. Như Rigoberto Tiglao giải thích, “các sĩ quan quân đội trở thành các nhà quản lý và giám đốc của các tập đoàn sở hữu nhà nước cũng như các tập đoàn kinh tế tư nhân hàng đầu” vốn bị tước đoạt một cách có chọn lọc từ những đối thủ “đầu sỏ” của chế độ. Bên cạnh các món lợi khổng lồ có thể bòn rút được từ các lĩnh vực tâm huyết này, những tướng lĩnh và thuộc cấp của họ thường tham gia vào “những hoạt động phi pháp như buôn lậu vũ khí, bảo kê, buôn lậu thuốc phiện, buôn lậu hàng hóa, ăn trộm xe và đánh bạc bất hợp pháp. Băng nhóm trộm xe lớn nhất được mọi người biết là do một vị tướng hàng đầu quản lý ngay từ khi mới thành lập... Các khả năng được hưởng thù lao là vô tận chỉ cần lòng trung thành với gia đình nhà Marcos không bị nghi ngờ.”
Quan hệ chính phủ-doanh nghiệp và chiến lược phát triển
Khi Park mô phỏng “quá trình khôi phục” thời kỳ yushin theo kinh nghiệm của Nhật Bản cuối thế kỷ XIX, Moon Chung-in và Jun Byung-joon lý giải, ông “tưởng tượng mình là một võ sĩ Minh Trị hiện đại”. Trong khi đó, ở Philippin, một số người xem chiến lược phát triển của Marcos là một nỗ lực “đưa phiên bản các lãnh đạo zaibatsu của đất nước này vào các lĩnh vực kinh tế chiến lược”. Tuy nhiên, Marcos tỏ ra không phải là một nhà hiện đại hóa võ sĩ đạo thời hiện đại khi ông và những người được cho là zaibatsu của ông có chiến lược làm suy yếu nhiều hơn là thúc đẩy nền kinh tế quốc gia. Trong khi ở Hàn Quốc, thành tựu vĩnh viễn của những năm 1970 là quá trình công nghiệp hóa nhanh ở các ngành công nghiệp nặng và hóa chất, cùng thập niên này ở Philippin được ghi nhận là giai đoạn “tăng trưởng dựa vào nợ” đơn thuần mà không hề có một chiến lược phát triển rõ ràng nào.
Với Park, HCI không chỉ thúc đẩy nỗi ám ảnh dài hạn mà còn trực tiếp hơn nữa giải quyết thứ mà Kim Byung-kook gọi là “cuộc khủng hoảng kép an ninh quân sự và bất ổn trong nước”. Khi tuyên bố thiết quân luật, Marcos hứa hẹn về các cuộc cải cách kinh tế sẽ mở ra sự bình đẳng về cơ hội và giải thoát đất nước khỏi “giới đầu sỏ đã giành lấy cho chính mình mọi quyền lực và tiền bạc”. Tuy nhiên trong khi Marcos thật sự đã khuất phục được những kẻ đầu sỏ có chọn lọc nguy hiểm nhất đối với chế độ của ông, thì một “giới đầu sỏ mới” (của Marcos cùng họ hàng và thân hữu của ông) đạt được sự thống trị trong nhiều ngành kinh tế. Đổi lấy việc giải tán các thể chế dân chủ, người dân Philippin chỉ được hưởng các lợi ích kinh tế trong phút chốc. Trong khi các khoản vay nước ngoài duy trì mức tăng trưởng những năm 1970, thì các vụ lạm dụng đặc quyền thân hữu gây ra thảm họa kinh tế đầu những năm 1980. Căn bản nhất, thiết quân luật duy trì những nhược điểm lớn của chủ nghĩa tư bản Philippin, vì Marcos chỉ đơn thuần mở rộng những mẫu hình vơ vét chuyên quyền trước đó. Các đòi hỏi đặc quyền tiếp tục hiện hữu với sự khác biệt là người cai trị giờ đây đang phân bổ một phần lớn hơn rất nhiều trong bộ máy nhà nước để phục vụ những nhu cầu cá nhân của riêng ông. Chủ nghĩa thân của cải trong chế độ của Marcos thời kỳ này hiện rõ hơn trong giai đoạn trước năm 1972 vì nó tập trung nhiều quyền kiểm soát hơn đối với bộ máy nhà nước và có thời gian ngự trị dài hơn rất nhiều. Tuy nhiên, nổi lên từ những thay đổi quan trọng ở nền kinh tế chính trị là sự tiếp diễn đáng chú ý trong bản chất mối quan hệ doanh nghiệp-chính phủ; như Emmanuel de Dios giải thích, “Hiện tượng thân hữu không khác gì phiên bản mở rộng và đỉnh cao của quá trình lợi dụng bộ máy chính trị để tích lũy tài sản thời trước thiết quân luật.” [239]
Bên cạnh đó, Marcos không tạo ra thay đổi căn bản nào trong chính sách phát triển hay tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu, nhưng đồng thời vẫn tiếp tục bảo hộ các doanh nghiệp ISI. Thật ra, xuất khẩu hàng sản xuất đã thu về những món lợi lớn vào cuối những năm 1970 và những năm 1980, tuy nhiên các nhà kỹ trị và các cơ quan đa phương, những người ủng hộ chính sách xuất khẩu này, không thể làm gì hơn ngoài việc tạo ra một phương thức đa dạng hóa khác để các tập đoàn gia đình trị trọng yếu theo đuổi. Khi các khoản đầu tư bên ngoài được rót vào, chúng sẽ ngay lập tức để nợ dẫn dắt tăng trưởng. Xuyên suốt những năm tháng dưới thời của Marcos, de Dios kết luận, “vấn đề chiến lược phát triển chắc chắn đã bị bỏ qua.”
Không như người đồng cấp của mình ở Hàn Quốc, rõ ràng là Marcos không có “nỗi ám ảnh” phải thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh nền kinh tế. Vị thế quan trọng gia tăng của các nhà kỹ trị tài năng và các mối liên kết mạnh với Hoa Kỳ đã tạo ra cơn lũ các khoản cho vay đến từ những cơ quan đa phương và các ngân hàng nước ngoài, cùng những mối quan hệ được cải thiện với Nhật Bản đồng thời tạo ra một mùa bội thu tiền viện trợ, các khoản vay và đầu tư. Tuy nhiên trong khi Park sử dụng sự hỗ trợ của Nhật để xây dựng nhà máy thép riêng của nước ông vào đầu những năm 1970, thì Marcos cho phép Tập đoàn Thép Kawasaki chuyển giai đoạn sản xuất thép gây ô nhiễm nặng nhất từ Nhật Bản đến đảo Mindanao giữa những năm 1970. Nhà máy dung kết, hoàn toàn thuộc sở hữu Kawasaki và là khoản đầu tư từ Nhật lớn nhất lúc bấy giờ ở Philippin, được xây dựng trên vùng đất giành được (thông qua việc trục xuất các nông dân và ngư dân nhỏ lẻ) bởi Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Cựu chiến binh Philippin do Marcos kiểm soát và sau đó cho Kawasaki thuê lại. Và trong khi Park đẩy mạnh “các khoản cho vay chính sách” để thúc đẩy HCI, người ta lại thấy ở Philippin của Marcos rất nhiều “các khoản cho vay mệnh lệnh” - là các khoản cho vay từ hai ngân hàng quốc doanh chính thực thi theo lệnh của Dinh Tổng thống - để thúc đẩy hoạt động làm giàu của thân hữu. Những người tiếp nhận thường phung phí chiến lợi phẩm: khi hoạt động xây dựng lại các ngân hàng quốc doanh được tiến hành năm 1986, rất nhiều khoản cho vay của các ngân hàng này bị tuyên bố là không có khả năng thu hồi. Trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế, có vô số các câu chuyện về Cặp đôi Đệ nhất cùng họ hàng và bạn bè của họ có được quyền tiếp cận các đặc quyền được trao một cách chính thức và tạo ra ít hay không hề mang lại lợi ích tích cực nào cho các mục tiêu phát triển lớn hơn. Không ngạc nhiên rằng thuật ngữ “chủ nghĩa thân hữu” - giờ đã được sử dụng toàn cầu - được dùng lần đầu tiên để mô tả hệ thống kinh tế chính trị của Ferdinand Marcos. Nếu các nhà phân tích về Hàn Quốc của Park ghi nhận “cá thể tư với mục đích công” thì mẫu hình chung dưới thời Marcos là cá thể công với mục đích tư.
Gia tăng chống đối trong xã hội: dân sự và chính trị
Trái với các mục tiêu trong chế độ của Park, chiến lược HCI và tăng trưởng kinh tế nhanh không giải quyết được vấn đề tính chính danh. Thay vì vậy, vấn đề này “mở rộng nền tảng cấu trúc của phe chống đối thông qua phát triển nhanh chóng số lượng giai cấp lao động và trung lưu, đồng thời làm xói mòn tính chính danh của... chế độ độc tài.” Năm 1979, sau vụ đàn áp tàn bạo công nhân ở sự kiện YH và sự nổi lên của nhóm lãnh đạo quả quyết hơn trong Đảng Dân chủ Mới đối lập, các lực lượng xã hội dân sự phát triển các mối liên kết chặt chẽ hơn với xã hội chính trị. Liên minh mới giữa NDP và “ba đoàn kết” (của sinh viên, công nhân và giáo hội) giúp tạo nên một phong trào cứng rắn, hùng hậu và có cơ sở nhằm lật đổ chế độ yushin. Vì hệ thống chính trị này quá “chống cánh tả” nên không có thành phần cực đoan mạnh nào trong phe chống đối. Sự vắng mặt các thành phần cực đoan không nghi ngờ gì đã thúc đẩy sự hình thành một liên minh có cơ sở, các đòi hỏi của liên minh này tập trung vào nhu cầu “khôi phục dân chủ” khá ôn hòa. Đối mặt với phong trào chống đối mang tính bảo thủ như vậy, chế độ độc tài khó có thể chính danh hóa hoạt động đàn áp tàn bạo của mình. Sự bất đồng bên trong chế độ về việc làm thế nào để phản ứng lại những bất mãn dân chủ đã dẫn đến vụ ám sát Park gây chấn động của vị giám đốc KCIA của ông vào tháng 10 năm 1979, mà sau đó phong trào dân chủ tự động tạm thời yếu đi do tình trạng hỗn loạn chết người nổ ra nhằm chống lại phong trào.
Ở Philippin người ta có thể quan sát thấy những khác biệt ý thức hệ lớn hơn rất nhiều trong số các thành phần chống đối chế độ. Như lý giải bên trên, giới quý tộc nói chung chấp nhận thiết quân luật trong những năm đầu. Những đảng viên Đảng Tự do, Đảng đối lập chính trước thời thiết quân luật, “gần như tan rã” sau năm 1972. Nhân vật đứng đầu của đảng này, Thượng nghị sĩ Benigno Aquino, Jr., bị cầm tù và phần còn lại của đảng này bị tước đi nguồn tiền thưởng để vận động tranh cử và những lợi ích sau đó dành cho những người thắng cuộc trong các cuộc bỏ phiếu. Đầu những năm thiết quân luật, sự phản kháng nghiêm trọng duy nhất đối với chế độ là cuộc nổi loạn của Mặt trận Giải phóng Dân tộc Moro ở đảo Mindanao và quần đảo Sulu. Mặc dù cuộc nổi dậy đã trói chân phần lớn quân đội của Marcos, nhưng các mối đe dọa này chỉ giới hạn ở vùng đất cách xa Manila.
Các áp lực chính danh hóa cả trong nước và quốc tế thúc đẩy Marcos tổ chức các cuộc bầu cử vốn đã được hứa từ lâu để bầu lên Quốc hội Lâm thời cho nền dân chủ nghị viện giả tạo “Xã hội Mới” của ông vào năm 1978. Với các quy định bầu cử cực kỳ thiên lệch có lợi cho chế độ, nhiều chính trị gia đối lập kêu gọi một cuộc tẩy chay; tuy nhiên, Aquino tuyên bố rằng một viễn cảnh “nửa nghị viện” vẫn tốt hơn là không có ai và đứng ra tranh cử một ghế khi đang trong tù. Ông này xây dựng một liên minh tạm thời với nhánh Đảng Cộng sản ở Manila để vượt qua những bất lợi về hậu cần của mình, và trông cây vào vợ ông, bà Corazon, cùng người con gái út, Kris, để thuyết phục quần chúng. Một cuộc “bố ráp ầm ĩ” vào đêm trước cuộc bầu cử cho thấy mức độ nghiêm túc của phong trào chống đối chế độ, tuy nhiên ngay ngày hôm sau KBL mới thành lập của Marcos đã thắng áp đảo - bất chấp việc bị hoen ố bởi những gian lận bầu cử ồ ạt. Thậm chí những ứng viên không được biết đến của đảng cầm quyền cũng có số phiếu bầu nhiều hơn Aquino ở Manila.
Khoảng cách giữa phong trào chống đối truyền thống ôn hòa và phong trào chống đối có vũ trang cực đoan dễ nhận ra hơn rất nhiều so với khoảng cách tồn tại đồng thời giữa xã hội chính trị và xã hội dân sự ở Hàn Quốc. “Trong khi phe cực đoan [ở Philippin] đã bỏ qua từ lâu ý tưởng chuyển đổi trong hòa bình,” de Dios lý giải, “thì phe ôn hòa và bảo thủ tham gia vào các cuộc bầu cử lưỡng lự về ý muốn Marcos tự nguyện chia sẻ quyền lực thật sự.” Phe ôn hòa phản ứng bằng sự thất vọng to lớn đối với những gian lận trong cuộc bầu cử năm 1978, và một số người trong nhóm này tuyệt vọng chuyển sang các phương thức bạo lực như là biện pháp “mặc cả... vì các cơ hội bầu cử”. Phần còn lại của giai đoạn thiết quân luật chứng kiến sự căng thẳng đáng chú ý trong quan hệ giữa “các chính trị gia truyền thống” với cánh tả: các chính trị gia đôi khi sẵn sàng đi đến những thỏa thuận ngắn hạn với cánh tả để lật đổ chế độ, nhưng đồng thời có động lực mạnh mẽ muốn lật đổ chế độ càng nhanh càng tốt để đánh bại mối đe dọa dài hạn từ cánh tả - và đảm bảo khôi phục các thể chế của nền dân chủ trước thiết quân luật, vốn hoạt động rất tốt trước năm 1972.
“Ba đoàn kết” theo kiểu Hàn Quốc không phù hợp với các điều kiện ở Philippin. Vai trò của các giáo hội Công giáo và Tin lành nói chung tương tự nhau vì các nhóm chống đối ở cả hai đất nước nhận được những nơi ẩn náu rất cần thiết và sự ủng hộ quý báu từ những giáo sĩ và giáo dân cùng các tổ chức giáo hội có tinh thần hoạt động. Tuy nhiên, nghiên cứu vai trò của sinh viên và công nhân cho thấy nhiều điểm khác biệt hơn là tương đồng. Trái với giới sinh viên hoạt động ở Hàn Quốc tụ tập đông đảo ra đường, nhiều sinh viên ở Philippin thay vào đó đã vào rừng, hy sinh mạng sống của mình cho phong trào cách mạng. Các nỗ lực có tổ chức ở Philippin tập trung sự chú ý ở nông thôn nhiều hơn rất nhiều so với ở thành thị, và từ chính nông dân chứ không phải công nhân mà cánh tả đạt được sức mạnh vĩ đại nhất. Việc phải chịu đựng tình trạng bất công khiến khu vực nông thôn Philippin trở thành nơi thuận lợi hơn rất nhiều so với thành thị để tổ chức chống đối và sức mạnh của giai cấp lao động Philippin không thể cạnh tranh với giai cấp lao động ở đất nước Hàn Quốc đã công nghiệp hóa mạnh mẽ hơn rất nhiều.
Đến cuối thập niên, Đảng Cộng sản nhanh chóng trở thành mối đe dọa mà Marcos từng đưa ra tuyên bố dối trá về hiện tượng này vào năm 1972. Là đảng duy nhất được dẫn dắt bởi ý thức hệ của đất nước, CPP cuối cùng đã có thể điều chỉnh và thậm chí vươn đến thành công trong môi trường đàn áp chính trị. Khi Quân đội Nhân dân Mới xây dựng các cơ sở vững mạnh trên khắp các khu vực của quần đảo, lực lượng này trở thành niềm hy vọng của nhiều người Philippin - ở nhiều tầng lớp xã hội khác nhau - vốn đang tuyệt vọng mong chờ sự sụp đổ của chế độ độc tài Marcos. Khi so sánh, các chính trị gia truyền thống có vẻ giống những người bất lực từng một thời quan trọng. CPP nhanh chóng xây dựng sự ủng hộ cho chính mình và cho rất nhiều các tổ chức liên kết, không chỉ ở vùng nông thôn nơi cơ sở đảng này mạnh mẽ nhất mà còn ở các khu vực thành thị, từ những công nhân và những người lấn chiếm đất nghèo túng. Ở Hàn Quốc, việc thành lập hệ thống chính trị “chống cánh tả” mang tính đàn áp cao độ vốn đã đi đôi với quá trình cải cách đất đai rộng khắp làm giảm đi các yêu cầu thay đổi cực đoan. Ở Philippin, chủ nghĩa cộng sản chưa bao giờ bị giảm vị thế hoàn toàn như vậy, và sự kết hợp biện pháp đàn áp, lạm dụng quân đội, cùng các bất công xã hội không được giải quyết dẫn đến một phong trào cánh tả mới mạnh hơn rất nhiều về cả quy mô lãnh thổ lẫn sự ủng hộ của các giai tầng so với phong trào bị đánh bại những năm 1950.
Trong nhiều năm, chế độ ở Philippin khéo léo tận dụng những chia rẽ sâu sắc bên trong các lực lượng chống đối, sử dụng các biện pháp khai phóng để hấp dẫn giới ôn hòa bước lùi lại phạm vi hoạt động chính trị giới hạn chặt chẽ của nhóm này và trừng phạt những người vẫn còn “ngoài vòng pháp luật”. Tuy nhiên, vào năm 1983 vụ ám sát Benigno Aquino dẫn đến một dòng thác giận dữ từ khắp xã hội Philippin và thúc đẩy vô số liên minh mới giữa các nhóm ôn hòa và cực đoan quyết tâm lật đổ chế độ độc tài. Một cuộc khủng hoảng kinh tế cùng sự gia tăng mạnh mẽ những vụ lạm dụng đặc quyền thân hữu càng làm suy yếu hơn nữa tính chính danh của chế độ. Marcos phản ứng bằng một số ít chính sách tự do hóa, tuy nhiên - vì là kiểu mẫu của các chế độ độc tài cá nhân - vẫn có những giới hạn rõ ràng trong mức độ sẵn sàng chia sẻ quyền lực của chế độ.
Với đặc trưng cơ bản này trong chế độ độc tài Marcos, nhiều người tin rằng chỉ có chống đối cực đoan mới có thể lật đổ chế độ. Marcos thật sự cần phải “bị lật đổ vì ông sẽ không bao giờ từ chức” trong cuộc nổi dậy “Sức mạnh Nhân dân” rộng khắp diễn ra vào năm 1986, vốn đã trở thành nguồn cảm hứng cho lực lượng dân chủ trên toàn thế giới — kể cả nhiều người Hàn Quốc. Tuy nhiên chế độ thay thế ông không do lực lượng cánh tả thống trị mà là các lực lượng của tầng lớp quý tộc truyền thống. Khi lên nắm quyền, Tổng thống Corazon Aquino và những đồng minh lớn của bà tập trung hàng đầu vào việc khôi phục các cấu trúc dân chủ Philippin trước thiết quân luật. Quan điểm chi phối trong Dinh Tổng thống, một cố vấn hàng đầu giải thích, là “hãy phá hủy bất cứ thứ gì mà tên độc tài đã xây dựng.”
Cấu trúc, tác nhân và các kết quả khác biệt
Thật ra, chế độ độc tài Marcos không xây dựng gì nhiều. Người kế vị ông thừa hưởng một bộ máy quan liêu vẫn yếu và bị áp đảo bởi các áp lực bảo trợ, một quân đội chia rẽ bè phái cao độ có ý định đảo chính thường xuyên, và một nền kinh tế hỗn độn. Sự tương phản giữa Hàn Quốc và Philippin rất rõ ràng. Park duy trì 18 năm ở vị trí tổng thống, nhưng chế độ của ông theo nhiều cách vẫn tồn tại sau khi ông chết. Marcos, ngược lại, duy trì quyền lực lâu hơn 20 năm một chút, nhưng chế độ của ông thật sự tiêu tùng ngay khi ông sụp đổ.
Cùng với những hình ảnh trái ngược ở cả quan hệ nhà nước-xã hội của Hàn Quốc và Philippin cũng như các mục tiêu cá nhân của Park và Marcos, bài phân tích này đã cho thấy rõ hơn một hình ảnh trái ngược tương đương trong các kết quả chính trị-kinh tế: phát triển kinh tế nhanh chóng so với tình trạng mục ruỗng kinh tế mang tinh thần chủ nghĩa tư bản thân hữu. Khi lý giải những kết quả khác biệt đáng kể này, mức độ quan trọng tương đối của các yếu tố dựa trên cấu trúc so với tác nhân là gì? Dù câu hỏi này không thể trả lời được một cách chắn chắn, nhưng sẽ có ích khi suy đoán (bằng đặt tình huống giả thiết ngược) về điều gì sẽ xảy ra nếu một người với tầm nhìn và mục tiêu của Park lên lãnh đạo Philippin năm 1965, và một người với tầm nhìn và mục tiêu của Marcos làm lãnh đạo Hàn Quốc năm 1961. [240] Theo cảm giác của tôi, một Park người Philippin hẳn sẽ liên tiếp thất vọng trước những thất bại của các cơ quan nhà nước trong việc đáp ứng các mệnh lệnh của ông, và chắc hẳn sẽ phải đối mặt với các trở ngại lớn khi nuôi dưỡng những cơ quan mạnh hơn và tiến đến công nghiệp hóa nhanh. Có lẽ cũng giống như Tổng thống Getulio Vargas của Brazil những năm 1930, nhiều thành tựu có thể đạt được nhưng cũng cần đến những thỏa hiệp lớn song hành. Nếu Marcos là lãnh đạo của Hàn Quốc, ngược lại, có thể ông sẽ chớp lấy nhiều cơ hội để cướp bóc các cơ quan vì lợi ích riêng của mình và tiếp tục xây dựng nền tảng quyền lực tập trung hóa mà Lý [Thừa Vãn] truyền lại. Một bộ máy quan liêu và tiềm lực quân đội mạnh hơn cho thấy các trở ngại đối với chương trình nghị sự hoàn toàn mang tính cướp bóc (đặc biệt khi đến mức độ đe dọa đến sự minh bạch lãnh thổ đất nước và an ninh quốc gia), tuy nhiên đồng thời Marcos người Hàn Quốc hẳn sẽ không cần phải tự thay đổi để đáp ứng các thế lực địa phương (đã bị đánh bại dễ dàng một thập niên trước đó). Vì việc phá hủy thể chế dễ dàng hơn xây dựng, nên có thể suy đoán xa hơn rằng sự thất vọng của một Park người Philippin sẽ lớn hơn rất nhiều so với một Marcos người Hàn Quốc.
Trở lại thực tế lịch sử, cả cấu trúc luận và tác nhân luận đều cần thiết để hiểu được các thành tựu phát triển của Tổng thống Park ở Hàn Quốc và tình cảnh thất bại thảm hại của hành động cướp bóc của Marcos ở Philippin. [241] Tôi cho rằng mẫu hình quan hệ nhà nước-xã hội và các thể chế mà Tổng thống Park của Hàn Quốc thừa hưởng là các yếu tố cần nhưng chưa đủ cho các thành tựu của ông. Ông trông cậy vào các thể chế có trước ông và từ đó tạo ra - thông qua các nỗ lực và tầm nhìn của chính ông - giai đoạn chuyển đổi kiệt xuất của nền kinh tế chính trị Hàn Quốc. Ngược lại, các mục tiêu mà cá nhân ông theo đuổi với sự nhiệt thành không ngừng nghỉ cũng có thể được xem là những yếu tố cần nhưng chưa đủ trong thành công của ông. Không có sự thừa hưởng những cấu trúc thuận lợi cho mục tiêu của ông, khó có thể tưởng tượng Park sẽ đạt đến những tầm mức thành tựu cao như vậy.
Trong khi Park gợi nhớ về những điều “đáng ngưỡng mộ và kinh hoàng”, tên tuổi của Marcos thường mang đến những ký ức gần như hoàn toàn rõ ràng về sự tàn bạo, cướp bóc và sâu mọt. Nói theo kiểu của Mác, có thể cho rằng dù Marcos không thể lựa chọn bối cảnh để làm nên lịch sử, nhưng ông lại được thừa hưởng những hoàn cảnh vô cùng thuận lợi khi cướp bóc đất nước mình và phá hủy các thể chế trong nước một cách có hệ thống vì những mục tiêu gia tăng quyền lực của chính mình.