Kỷ Nguyên Park Chung Hee Và Quá Trình Phát Triển Thần Kỳ Của Hàn Quốc

Lượt đọc: 817 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
lực lượng chaeya
park myung-lim

Hàn Quốc nổi tiếng thế giới nhờ thành công của nhà nước - và vì lý do tích cực. Được truyền lửa bởi tầm nhìn và sức mạnh của Park Chung Hee (1961-1979), được tiếp thêm sức mạnh bằng những lý luận kỹ trị, quyền tự do và tinh thần đồng chí, nhà nước Hàn Quốc đã đạt được siêu tăng trưởng kinh tế từ trên xuống trong vòng một thế hệ. Trong các nghiên cứu về nhà nước phát triển, đây là một trường hợp hiếm hoi, đã gần như đánh bại thị trường khi điều phối các đối tác chaebol tham gia mạnh mẽ vào các lĩnh vực tăng trưởng mới với những thương hiệu, chu kỳ sản phẩm và mạng lưới phân phối riêng của họ. Tuy nhiên, đằng sau câu chuyện được ca tụng rộng rãi này ẩn chứa một câu chuyện khác, câu chuyện ít được biết đến về lực lượng chaeya. Nhóm trí thức bất đồng chính kiến này dường như phải đối mặt với một trận chiến bại, họ cố gắng định hình lại chính trị không phải từ bên trong mà từ bên ngoài chedeogwon, hay các tổ chức cầm quyền chính trị chính thức của Hàn Quốc, với niềm tin rằng lòng liêm chính, tinh thần trung lập với đảng phái và sự độc lập tư tưởng là nguồn gốc tạo nên nguồn sức mạnh cho họ và cuối cùng sẽ đưa họ đến ngày vinh quang. [161] Thâm nhập vào (chedeogwon) để tác động đến chính trị và gây ảnh hưởng tới chính sách bị cho là đe dọa đến nguồn sức mạnh này do điều đó sẽ biến chaeya thành một thế lực chính trị khác với những lợi ích gắn liền với thực tại và làm yếu đi tinh thần phản kháng của các thành viên. Chaeya từ bỏ những cơ hội phát triển thành đảng phái chính trị vì sợ phải thỏa hiệp với “chính trị bẩn”. Tuy nhiên chaeya vẫn có ảnh hưởng rất quan trọng đến chính trị Hàn Quốc, định hình các chương trình nghị sự quốc gia, tiếp thêm sức mạnh cho các lực lượng xã hội và thậm chí là dọn đường cho sự thay đổi chế độ năm 1979 bằng cách buộc Park cùng nhà nước phát triển của ông đi vào chiến lược trấn áp và đối đầu đầy rủi ro.

Việc cùng tồn tại đầy nghịch lý giữa một nhà nước hùng mạnh và xã hội dân sự gây tranh cãi trong thời Park cầm quyền là hai mặt của một đồng tiền. Nhà nước hùng mạnh của Hàn Quốc cũng là một nhà nước cứng rắn mà, vì sự nghiệp siêu tăng trưởng, đã từ chối phát triển một mạng lưới các liên kết tổ chức với các lực lượng xã hội, bởi Park cho rằng các lực lượng đó sẽ làm mất đi tính tự chủ của nhà nước, tổn hại đến lý luận kỹ trị và đòi hỏi trợ cấp ngân sách. Tuy nhiên, vì từ chối thể chế hóa hoạt động chính trị cho và nhận, nhà nước này cũng khiến chính mình trở nên mỏng manh trước những thách thức từ bên dưới. Câu hỏi đặt ra là tại sao những kẻ thách thức lại là chaeya thay vì nông dân hay công nhân. Bằng cách phân tích tầm nhìn đối mới về tư tưởng của lực lượng bất đồng chính kiến, các inmaek (mạng lưới con người) tuy phân kỳ nhưng vẫn thống nhất, các nền tảng ủng hộ xã hội và các mối quan hệ với lực lượng xã hội cũng như với các chính trị gia đối lập tuy mang tính bổ trợ nhưng cũng cạnh tranh, Chương 13 sẽ tìm kiếm nguồn gốc sức mạnh của chaeya khi đẩy nhà nước vào những tranh chấp chính trị triền miên bất chấp những yếu điểm về mặt tổ chức của các thành viên lực lượng này.

Thực tế về quá trình chaeya nhen nhóm xây dựng phong trào chống đối phi đảng phái, không nhóm lợi ích và vượt khỏi nghị viện xuất phát từ bên ngoài chedeogwon là điều rất rõ ràng. Rõ ràng rằng, hình thức chống đối này được lựa chọn với nhận thức đầy đủ của các thành viên, những người xem chaeya trên hết như là một nhóm các trí thức hoạt động xã hội đứng trên chính trị để đại diện cho các nguyên tắc đạo đức và để bảo vệ lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, sự kết hợp đặc trưng, sứ mệnh và vai trò được đồng thuận rộng rãi như vậy không có nghĩa là chaeya phát triển theo những đường lối được chuẩn bị trước. Ngược lại, các nguyên tắc đạo đức và lợi ích quốc gia mà họ đại diện lại không hề rõ ràng. Chiến lược chính trị, đối tác liên minh và sự đổi mới tư tưởng cần thiết để chaeya có thể biến đổi thành lực lượng bảo vệ cho các nguyên tắc đạo đức và lợi ích quốc gia thậm chí còn kém rõ ràng hơn. Do đó, không hề có một lực lượng chaeya cố định trong chế độ của Park. Thay vì vậy, lực lượng này là một nhóm các nhà hoạt động trí thức không ngừng phát triển, duy trì mục tiêu tồn tại của mình như một lực lượng chính trị tuân thủ đạo đức của những người hoạt động xã hội phi đảng phái và không thuộc nhóm lợi ích, dù cũng phải trải qua sự biến đổi về chất ở ý thức hệ, cách thức tổ chức, nền tảng xã hội và quan hệ với các chính trị gia đảng phái đối lập trong các giai đoạn 1964-1965, 1969, 1970 và 1972-1979.

Đầu tiên, về mặt ý thức hệ có lời đồn đại rằng chaeya là tập hợp những người cấp tiến, nếu không phải là cánh tả, bẩm sinh. Thực tế hoàn toàn trái ngược. Nhiều trong số những người sáng lập ra lực lượng chaeya hiện đại của Hàn Quốc là người tị nạn Cơ đốc giáo từ Bắc Triều Tiên và giữ vững lập trường trung thành chống chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên những nhà hoạt động này nhanh chóng trở nên cấp tiến khi Park đi từ một lãnh đạo đảo chính quân sự có chương trình nghị sự mang tinh thần cải cách (1961-1963) thành người hiện đại hóa với chế độ “độc tài mềm” được quần chúng lựa chọn rồi thành một “Sa hoàng về an ninh” với chế độ độc tài “yushin” (1972-1979). Chaeya phát triển cùng lúc với Park, từ những người hoạt động chống chủ nghĩa cộng sản trở thành lực lượng hoạt động vì dân chủ, từ thân Mỹ trở thành những người khuấy động chủ nghĩa dân tộc. Đặc biệt, ba sự kiện lịch sử đã định hình mạnh mẽ phong trào chaeya. Khi chống đối quá trình bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản năm 1964, chaeya đã biến thành lực lượng của chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc từ rất sớm trong lịch sử lực lượng này. Cuộc đấu tranh năm 1969 chống lại hoạt động sửa đổi hiến pháp để mở đường cho nhiệm kỳ tổng thống thứ ba của Park tạo ra thêm hình ảnh về những người chiến đấu vì tự do. Giai đoạn cật vấn bản thân mạnh mẽ diễn ra bên trong lực lượng chaeya do vụ tự tử công khai của Jeon Tae-il năm 1970 tạo ra một hình ảnh phố biến khác - lần này là những nhà cải cách xã hội đứng về phía minjung (những quốc dân) bị áp bức.

Chính những sự kiện lịch sử chứ không phải thế giới quan lý thuyết hoặc thế giới quan ý thức hệ tiền định nào đó đã khiến chaeya bổ sung những đặc trưng chính trị mới lên trên chủ nghĩa bảo thủ chống cộng của thế hệ sáng lập, ý thức hệ của các phong trào chaeya đến cuối con đường đấu tranh chống Park là một tổ hợp các chuẩn mực, giá trị và tư tưởng đa dạng - thậm chí là đối lập nhau. Vào cuối thời kỳ yushin, chaeya mang đặc trưng chống cộng, dân tộc chủ nghĩa, Cơ đốc giáo, dân chủ tự do và cải cách xã hội. [162] Tuy nhiên sự phong phú này không ngăn cản chaeya trở thành một lực lượng lớn mạnh ở Hàn Quốc. Ngược lại, vì mang nhiều đặc trưng cùng lúc, họ có thể thu hút được các lực lượng xã hội đa dạng. Sự chỉ trích chế độ độc tài của các nhà hoạt động chaeya làm bùng cháy thêm cảm giác bất công, giận dữ và thù địch trong xã hội đồng thời thuyết phục một lượng đáng kể sinh viên, công nhân cùng người nghèo thành thị tham gia vào cuộc thập tự chinh vì đạo đức chống lại Park do giới trí thức lãnh đạo. Chắc chắn là sức mạnh của họ ở việc thu hút được sự ủng hộ của nhiều tầng lớp cũng trở thành nguồn gốc cho yếu điểm chính trị bởi điều đó ngăn cản họ xây dựng một nền tảng ý thức hệ thống nhất. Tuy nhiên, họ vẫn có thể thách thức Park cùng chế độ của ông vì việc có chung một kẻ thù tạo cho họ một đặc trưng nhóm bất chấp các nguồn gốc ý thức hệ đa dạng.

Thứ hai, về mặt tổ chức, chaeya hình thành nên một mạng lưới theo chiều ngang. Tuy nhiên, khi đặc trưng của các nhà hoạt động mở rộng từ lực lượng dân tộc chủ nghĩa sang các chiến sĩ vì tự do rồi sang các nhà cải cách xã hội, và khi Park thắt chặt khả năng kiểm soát và trấn áp, lực lượng chaeya, vốn nổi lên từ những thành viên phân tán về địa lý, hỗn độn về ý thức hệ, ngày càng cần phải củng cố mạng lưới theo chiều ngang này bằng một tổ chức bảo trợ tầm quốc gia để phối hợp tấn công đồng bộ vào chế độ. Cuộc thử nghiệm bắt đầu với các nỗ lực của chaeya chống lại quá trình bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản năm 1964 và ngăn cản Park thay đổi hiến pháp năm 1969. Với việc ngả sang chế độ độc tài, chaeya đẩy mạnh hơn cuộc thử nghiệm tổ chức của họ, thành lập Hội đồng Quốc gia Bảo vệ Dân chủ năm 1971, Đại hội Nhân dân Tái thiết Dân chủ năm 1974, Liên minh Quốc gia vì Dân chủ năm 1978 và Liên minh Quốc gia vì Dân chủ và Thống nhất năm 1979.

Thay vì thành lập tổ chức có cấp bậc tổ chức chặt chẽ một cách lâu dài, lực lượng chaeya ưu tiên thành lập liên minh và giải tán khi các thời cơ theo sự kiện xuất hiện và tan biến. Chiến lược chiến tranh du kích đánh và chạy không chỉ tạo cho lực lượng chaeya tính linh động chính trị mà còn đảm bảo tính tự chủ của các thành viên. Ngoài ra, chiến lược đó là cách duy nhất để chiến đấu với nhà nước quân đội và thoát khỏi mạng lưới giám sát chặt chẽ của nhà nước.

Bên cạnh những nỗ lực thành lập một tổ chức bảo trợ ở tầm quốc gia để điều phối nỗ lực chống đối, chaeya tham gia vào các đổi mới tổ chức cấp địa phương và ngành. Một lượng lớn các nhóm nhà thờ liên minh thành Hội Linh mục Công giáo Quốc gia vì Hiện thực hóa Công bằng và Hội đồng Nhà thờ Quốc gia Hàn Quốc. Ngoài ra cũng có Hội Nhà truyền giáo Cơ đốc Công nghiệp Thành thị Hàn Quốc và Hội Công nhân Công giáo Trẻ, được tổ chức để gia tăng quyền lực cho công nhân. Vẫn có những người khác tổ chức thành rất nhiều nhóm giám sát nhân quyền. Từ những tổ chức này sẽ nổi lên thế hệ lãnh đạo chaeya thứ hai có nguồn gốc tôn giáo: các mục sư Tin lành Kim Sang-gun, Yi Hae-dong, Cho Sung-hyok, Oh Chung II, và In Myong-jin; các linh mục Công giáo Kim Sung-hun, Ham Se-ung và Mun Chong-hyon; và tu sĩ Phật giáo Chin Kwan. Mặt khác, chính từ những phong trào sinh viên, đặc biệt nối tiếng vì cường độ và sự bền bỉ, thế hệ lãnh đạo thứ ba của chaeya nổi lên: Yi Pu-yong, Chang Ki-pyo, Kim Kun-tae, Kim Chi-ha, Cho Yong-rae, Yi Sin-bom, Yi Chang-bok, Yi Chui, Yu In-tae, Sim Chae-gwon, Cho Song-U, Yi U-je, Na Pyong-sik, Park Kye-dong và Han Kyong-nam.

Thứ ba, trong suốt lịch sử phát triển chaeya, các nhóm tôn giáo trở thành đồng minh quan trọng nhất. Nhà thờ và chùa chiền cung cấp nơi trú ẩn cho các nhà hoạt động chaeya để trốn tránh cảnh sát, cũng như trở thành tổ chức phản đối chính trị ngoài tầm với của chính quyền. Giáo hội cũng sử dụng mạng lưới tổ chức rộng khắp để gây quỹ đều đặn cho chaeya. Khi báo chí chịu sự kiểm duyệt nặng nề, nhà thờ cũng mang chức năng “phản truyền thông”, bên cạnh các nhóm nghiên cứu ngầm ở các cơ sở đại học truyền bá các tư tưởng chính trị hay gây tranh cãi cho một nhóm người rộng lớn thông qua nhiều hình thức. Do đó, bất cứ nơi nào chaeya không có tổ chức địa phương phát triển mạnh, giáo hội sẽ trở thành trọng điểm của phe chống đối. Thông qua mạng lưới nhà thờ, các bài giảng tôn giáo và các truyền đơn nhà thờ, lực lượng chaeya điều phối chiến lược chống đối ở các thành viên vốn phân tán khắp nhiều khu vực. Biết được các khu vực khác đang phát động đấu tranh giống họ tạo nên sự tin tưởng cho các nhà hoạt động chaeya địa phương rằng họ cuối cùng sẽ chiến thắng.

Quan trọng không kém, cộng đồng tôn giáo giúp chaeya mở rộng chương trình nghị sự chống đối chính trị và phát triển đặc trưng của lực lượng này như là một lực lượng giải phóng bằng cách tạo ra một bộ các giá trị, chuẩn mực và tư tưởng mới. Tác động biến đổi của tôn giáo lên chaeya có thể được thấy rõ nhất ở các lĩnh vực nhân quyền và vấn đề lao động. Được trang bị niềm tin Cơ đốc giáo về “quyền tự nhiên”, giáo hội đả kích những vi phạm nhân quyền của chế độ yushin. Cuộc đối đầu giữa nhà thờ và nhà nước leo thang mạnh mẽ khi khối cấp tiến của cộng đồng tôn giáo bắt đầu tiếp thu thần học giải phóng [163] và sử dụng quyền được hưởng tiêu chuẩn sống tối thiếu như là một phần không thể thiếu của quyền con người sau cái chết bi thảm của Chon Tae-il, một công nhân tại một trong các nhà máy dệt may bóc lột công nhân ở Jongyechon, năm 1970. Liên minh giáo sĩ-trí thức này đã lãnh đạo Hội Nhà truyền giáo Cơ đốc Công nghiệp Thành thị Hàn Quốc, Viện hàn lâm Cơ đốc giáo và Hội Công nhân Công giáo Trẻ trong cách tổ chức công đoàn, đặc biệt ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nơi điều kiện lao động rất tồi tệ. Thứ tư, sự phát triển của chaeya như một lực lượng chính trị có liên hệ với bản chất thay đổi của các đảng phái chính trị và hoạt động chính trị bầu cử, đặc biệt là chiến lược chống đối của Đảng Dân chủ Mới (NDP), theo những cách phức tạp. Trớ trêu là chính điểm yếu khủng khiếp của Nghị viện Quốc gia cùng các đảng phái chính trị đã sản sinh ra chaeya và thúc đẩy sự tăng trưởng không ngừng của lực lượng này. Không có kênh đại diện và bị tước đi những người phát ngôn hiệu quả cho các lợi ích kinh tế cũng như các giá trị chính trị, các lực lượng xã hội Hàn Quốc xem phong trào chaeya do giới trí thức lãnh đạo là một lớp lãnh đạo thay thế. Người Hàn có lẽ đã không đồng thuận về những chi tiết trong chương trình nghị sự chính trị của chaeya và đặc biệt là quan điểm hòa giải của lực lượng này với Triều Tiên, tuy nhiên họ đánh giá cao vai trò kiểm soát và cân bằng thay thế của lực lượng này với chế độ của Park, một vai trò mà Nghị viện Quốc gia không thể đảm nhiệm được và NDP thì chỉ hoàn thành phần nào. Việc thiếu đi các nhóm lợi ích tự chủ có thể tổ chức được công nhân và nông dân càng biến lực lượng chaeya do giới trí thức lãnh đạo thành lực lượng lên tiếng cho các lợi ích xã hội.

Mối quan hệ chaeya -NDP được thúc đẩy bởi cả các động lực hợp tác và cạnh tranh. Khi các lợi ích chính trị hội tụ, như trong cuộc đấu tranh chung chống lại việc bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản năm 1964, cuộc điều chỉnh hiến pháp năm 1969 và ban hành chế độ yushin năm 1972, cả hai đã hợp tác chặt chẽ khi đảm nhiệm những vai trò bổ trợ lẫn nhau, chaeya hỗ trợ NDP thông qua sức mạnh đạo đức và đội quân các nhà hoạt động sinh viên còn NDP tạo cho chaeya cơ hội định hình chính trị quốc gia. Đỉnh cao của sự hợp tác là khi NDP, được củng cố nhờ chiến thắng trong các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1978 và được khích lệ bởi các nhà hoạt động chaeya, bầu Kim Young-sam “không nhượng bộ” thay vì Yi Cheol-sung “thỏa hiệp” làm lãnh đạo đảng năm tiếp theo. Sự bùng nổ các cuộc chống đối của chaeya và cuộc đấu tranh của NDP sau đó đã dẫn đến sự chia rẽ chết người giữa Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (KCIA) của Kim Chae-gyu “mềm” và Văn phòng An ninh Tổng thống (PSS) của Cha Ji-cheol “cứng rắn” về việc làm cách nào để giải quyết thách thức giữa chaeya -NDP, từ đó gieo mầm mống cho sự sụp đổ của Park vào tháng 10 năm 1979.

Tuy nhiên, tính bổ trợ trong các vai trò chính trị của mối quan hệ NDP- chaeya không nên được đề cao quá mức. Hai bên đã hợp lực phá đổ chế độ yushin năm 1979, tuy nhiên trong thời kỳ Yi Cheol-sung lãnh đạo NDP (1976-1979), mối quan hệ của hai lực lượng này cho thấy những dấu hiệu căng thẳng. Trong khi chaeya lựa chọn chiến lược chống đối không khoan nhượng trong hầu hết giai đoạn Park cầm quyền, phơi bày các tội lỗi đạo đức của chế độ, vận động các chương trình nghị sự xã hội, tổ chức các lực lượng quần chúng và leo thang đối đầu chính trị với mục tiêu phát động một sự thay đổi cấp tiến ở chế độ chính trị, và sau năm 1970, thay đổi ở các tổ chức kinh tế xã hội; các chỉ huy đảng NDP lại luôn dừng lại khi chưa tạo ra được sự thay đổi chế độ vốn là ưu tiên hàng đầu của họ ngoại trừ trong đợt tấn công vào Park và chế độ yushin năm 1979 của Kim Young-sam. Chiến đấu vì phiếu bầu trong một xã hội mà ký ức về cuộc xâm lược quân sự của Bình Nhưỡng năm 1950 vẫn còn sống động, đảng đối lập Hàn Quốc không thể để chính mình trở thành bản sao thuần túy của các nhà hoạt động chaeya cấp tiến vì sợ rằng đảng mình phải nhận lấy hình ảnh đảng cánh tả thua trong bầu cử. Kể cả ở năm 1979 với việc Kim Young-sam “không nhượng bộ” đứng đầu, ban chỉ huy NDP cũng tập trung vào khôi phục các nguyên tắc dân chủ tự do thay vì tạo ra một biến đổi kinh tế xã hội sâu sắc hơn. Do đó, các nhà hoạt động chaeya luôn đi trước các chỉ huy NDP trong việc mở rộng chương trình nghị sự chống đối chính trị, điều đó khiến chaeya và NDP không chỉ là những thế lực có vai trò bổ trợ trong cuộc đấu tranh chính trị chống lại Park mà còn là những đối thủ chiếm những cực khác nhau trong dãy quang phổ ý thức hệ của phe đối lập. Họ giống như một lực lượng chính trị thống nhất, nhưng thực tế không phải vậy. Điểm cuối của họ trong các cuộc đấu tranh chính trị chống lại Park khác nhau.

Các nhà hoạt động chaeya buổi đầu

Khủng hoảng hiệp ước và tinh thần dân tộc chủ nghĩa, 1964-1965

Khi Park nắm quyền vào tháng 5 năm 1961, ông hầu như không gặp phải sự kháng cự nào từ các sinh viên đại học hoặc các nhà hoạt động dân sự. Ngược lại, nhiều lãnh đạo của các phong trào đấu tranh từng lật đổ Lý Thừa Vãn (1948-1960) và đưa Đảng Dân chủ của Chang Myon lên nắm quyền năm 1960 đã công khai ủng hộ Park với niềm tin rằng ông theo đuổi lý tưởng chính trị của những cuộc nổi dậy trước đó do sinh viên lãnh đạo. Một số nhà hoạt động thậm chí còn trông chờ quân đội, do khóa tốt nghiệp thứ 8 trẻ tuổi của Kim Jong-pil thuộc Học viện Quân sự Hàn Quốc thống trị, trở thành người thừa kế cuộc cách mạng sinh viên năm 1960 của họ để hồi sinh đất nước. Park tích cực khuyến khích những quan điểm như vậy. “Trái với Cách mạng Sinh viên 19 tháng 4 chỉ thành công trong việc lật đổ Lý Thừa Vãn (mà không mang lại sự thay đổi hệ thống thông qua cải cách),” Park tuyên bố, “Cách mạng Quân sự 16 tháng 5 sẽ xóa bỏ hệ thống (vốn tồn tại từ cuối thời Lý Thừa Vãn). Quân đội sẽ tấn công vào sự giả danh dân chủ và lật đổ từ bên trong.”

Sự ủng hộ ban đầu dành cho cuộc đảo chính quân sự không thể hiện ở đâu rõ ràng hơn ở từ Sasanggye, một tạp chí có vai trò như diễn đàn công cộng cho những trí thức hàng đầu. Số ra tháng 6 năm 1961 của tạp chí này tuyên bố rằng “Cách mạng Quân sự ngày 16 tháng 5 năm 1961 là nỗ lực cuối cùng để cứu quốc gia khỏi tình hình khó khăn cực độ đang gặp phải. Park đã lãnh đạo cuộc cách mạng quân sự dân tộc chủ nghĩa nhằm xóa bỏ tình trạng tham nhũng và rối loạn, để ngăn chặn sự lật đổ của chủ nghĩa cộng sản và để định hướng tương lai đất nước trên con đường đúng đắn. Quân đội đã khởi động hàng loạt các động thái chắc chắn phải diễn ra vì tình hình cấp thiết mà Hàn Quốc phải đối mặt.” [164] Lời nhận xét tích cực của Sasanggye, nơi mà những người lãnh đạo tạp chí sẽ trở thành thế hệ sáng lập các phong trào chaeya hiện đại của Hàn Quốc sau năm 1964 là do chủ nghĩa bảo thủ mang tính cực đoan của tạp chí này. Hầu hết thế hệ sáng lập của chaeya - bao gồm Ham Seok-heon, [165] Kye Hun-je, [166] Mun Ik-hwan, [167] Chang Chun-ha, [168] Baek Ki-wan, [169] An Byeong-mu [170] và Yi Young-hui [171] - đều là những người tị nạn từ Triều Tiên, gắn kết sâu sắc với Cơ đốc giáo và trung thành với tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản vì trải nghiệm của họ với chế độ cộng sản trong những năm sau giải phóng hoặc xung đột tả-hữu. [172]

Tinh thần nhiệt huyết ban đầu của Sasanggye giảm đi khi chính quyền quân sự sử dụng trấn áp chính trị và tiếp cận Nhật Bản để bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Hai vấn đề này đã kích hoạt tình trạng bất ổn chính trị năm 1964, khiến giới sinh viên đại học và trí thức công khai chống lại Park và Đảng Cộng hòa Dân chủ (DRP). Sasanggye nằm ở tâm của giai đoạn biến đổi này của phe cấp tiến trong giới trí thức Hàn Quốc. Đầu tiên, xung đột này liên quan đến sự va chạm của hai thế giới quan đối lập - chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa đạo đức, chủ nghĩa thực tế và chủ nghĩa lý tưởng — về cách thức lý giải chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc, cấu thành của sứ mệnh, mục tiêu và chức năng chính trị của chủ nghĩa này, và ai “sở hữu” nó như là người đại diện cho tinh thần dân tộc. Trong khi Park giữ lập trường của một lãnh đạo thực dụng sẵn sàng yêu cầu xã hội hy sinh lòng tự hào dân tộc và kiềm hãm cảm giác chống Nhật nhằm giành được các khoản tiền bồi thường thiệt hại từ Nhật để xây nên “nước giàu quân mạnh” (pu-kuk kang-byeong), chaeya lại có quan điểm theo chủ nghĩa đạo đức. Không tha thứ cho những bóc lột từ thời thực dân của Nhật, chaeya phản đối việc bình thường hóa quan hệ nếu Nhật Bản không công khai xin lỗi về những sai trái mà nước này đã gây ra trong quá khứ.

Thứ hai là sự va chạm của hai chủ nghĩa thực dụng hiện đại hóa khác biệt về ý thức hệ. Khác với chiến lược kinh tế “tăng trưởng trước, phân phối sau” của Park, điều được ông biện minh rằng không chỉ là yếu tố cần thiết trong một đất nước nghèo tài nguyên đang cần hiện đại hóa mà còn tin rằng lợi ích của tăng trưởng sẽ “thẩm thấu xuống” thông qua thị trường; chaeya lại đại diện cho phân phối công bằng. Trong lĩnh vực quyền lợi chính trị cũng vậy, sự phân biệt rõ nét xuất hiện. Trong khi Park bác bỏ dân chủ phương Tây để ưu tiên cái mà ông gọi là nền dân chủ Hàn Quốc “có định hướng” hay “hành chính”, chaeya được thúc đẩy bằng tầm nhìn về các giá trị khai phóng phương Tây. Đặc điểm định hình trong ý thức hệ của lớp lãnh đạo cao nhất của lực lượng này là dân chủ theo quy trình, thay vì chủ nghĩa dân túy, chưa nói đến chủ nghĩa Mác-Lenin, nhân tố mà Park khẳng định là chương trình nghị sự ngầm của lực lượng này.

Khoảng cách này không thể thu hẹp. Park thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản để có được nguồn tài trợ mới cho phát triển kinh tế và thiết lập nền tảng cho hợp tác an ninh ba bên giữa Seoul, Tokyo và Washington bằng cách thắt chặt hệ thống các liên minh quân sự song phương thời chiến tranh lạnh của Mỹ; trái lại các sinh viên đại học, các chính trị gia đảng phái đối lập và giới trí thức bất đồng chính kiến đòi hỏi lời xin lỗi rõ ràng từ Nhật vì những sai trái thời kỳ thực dân như là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy quan hệ song phương. Ngày 9 tháng 3 năm 1964, thay vì một lời xin lỗi như vậy và cẩn trọng về mối nguy hiểm mà nguồn tiền từ Nhật được chuyển đến cho những người gây quỹ của DRP mang lại, các đảng phái chính trị đối lập cùng khoảng 200 lãnh đạo xã hội dân sự đã thành lập Ủy ban Quốc gia Chống đối Ngoại giao Nhục nhã với Nhật Bản và bắt đầu tổ chức các cuộc phản đối khắp cả nước. Ban đầu, phe đối lập xác định các phòng trào chống đối nhằm đấu tranh chống lại sự phản bội chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc của Park. Cuối cùng, những người tham gia tập trung vào hệ thống chính trị mà Park đã cá nhân hóa làm mục tiêu phản đối. Chỉ trích nặng nề quan điểm “dân chủ dân tộc chủ nghĩa” của Park là độc tài, các nhà hoạt động sinh viên tổ chức “tang lễ cho dân chủ dân tộc chủ nghĩa” vào ngày 20 tháng 5. Họ cũng bác bỏ khẳng định của Park rằng ông là người kế thừa các lý tưởng của cuộc Cách mạng Sinh viên 19 tháng 4. Ngược lại, trong mắt họ, Park là một kẻ đảo chính thủ cựu - không hề có tinh thần cách mạng - người đảo ngược làn sóng lịch sử chống thực dân và chống phong kiến trong các phong trào chống đối trước đây của họ.

Từ đó đã sinh ra lực lượng chaeya hiện đại. Chaeya tự xem mình là lực lượng của lương tri trong cuộc đấu tranh chống lại Park Chung Hee “bất công và tàn độc”. Các nhà hoạt động chaeỵa là những học giả “thực tế”, không phải là các oyong (các học giả vô nguyên tắc được chính phủ bảo trợ). Được dẫn dắt bởi tinh thần thượng tôn đạo đức, chaeya giúp đỡ các chính trị gia NDP khởi động đòn tấn công trực diện vào chính quyền nhà nước vào ngày 3 tháng 6 năm 1964. Khoảng 10.000 sinh viên đã đổ ra đường phố Seoul và các thành phố lớn khác để buộc Park từ chức. Cảnh sát báo cáo rằng những người biểu tình đã thiêu rụi một đồn cảnh sát. Các sinh viên giận dữ thậm chí còn diễu hành đến Nhà Xanh, khiến giới cầm quyền chính trị lo lắng khi nhớ lại cuộc phản đối của quần chúng từng lật đổ Lý Thừa Vãn chỉ mới bốn năm trước. Park phản ứng ngay lập tức. Ông tuyên bố thiết quân luật nhằm cấm tụ họp và biểu tình chính trị ở Seoul. Ông cũng tiến hành kiểm duyệt báo chí, đóng cửa tất cả các trường học, cho phép bắt giam lãnh đạo và người tổ chức biểu tình không cần lệnh của tòa, và thành lập tòa án quân sự để xử các trường hợp xâm phạm thiết quân luật. Động thái trấn áp nhanh gọn đã đập tan khí thế của các cuộc biểu tình sinh viên và khiến các đảng chính trị đối lập phải im lặng - chỉ trong một thời gian ngắn, nhưng đủ dài để Nghị viện Quốc gia do DRP chiếm đa số thông qua dự thảo hiệp ước năm 1965.

Tình trạng hỗn loạn về hiệp ước này đã biến đổi hoàn toàn tờ Sasanggye và bộ phận cấp tiến trong giới trí thức hay bày tỏ ý kiến của Hàn Quốc thành các lực lượng chống Park. “Lúc này tình hình đã trở nên giống những ngày cuối cùng trong chế độ Đảng Tự do của Lý Thừa Vãn,” Sasanggye tuyên bố, “ba năm chính quyền quân sự đã đặt nhân dân [Nam] Triều Tiên vào giai đoạn hỗn loạn và khó khăn nhất kể từ thời kỳ Tangun [người sáng lập ra Triều Tiên cổ].” Khẳng định khoảng cách giữa lý tưởng độc lập của tờ báo và “sự khúm núm” của Park trước các cường quốc bên ngoài là không thể thu hẹp, Sasanggye chứng kiến sự hình thành bối cảnh chính trị phân cực thúc đẩy minjung (quốc dân) chống lại “bè lũ cầm quyền” ở các vấn đề lòng tự tôn dân tộc và các giá trị dân chủ. Từ đó bắt đầu cuộc cạnh tranh chính trị giữa chaeya và Park để kiểm soát, điều hành và đại diện hay cá nhân hóa các lực lượng chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc, các lý tưởng dân chủ và tinh thần bình đẳng. Chaeya tận dụng chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc chống Nhật để xây dựng nền tảng quyền lực, từ đó thách thức Park và DRP. Hơn nữa, vì chính Hoa Kỳ đang quyết liệt thúc đẩy hiệp ước bình thường hóa với hy vọng xây dựng các liên kết khu vực ba bên giữa Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nhật Bản nhằm loại bỏ và ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, nên sự chống đối hiệp ước của chaeya có khả năng phát triển thành một phong trào chống Mỹ. Tuy nhiên đó chỉ là dự đoán, còn việc thực hiện là phần việc của các lãnh đạo chaeya tương lai.

Sửa đổi hiến pháp và dân chủ, 1969

Sự biến đổi thứ hai diễn ra vào năm 1969 khi DRP, với sự trợ giúp của KCIA, chuẩn bị một đợt sửa đổi hiến pháp cho phép Park tranh cử nhiệm kỳ tổng thống thứ ba. Kế hoạch này biến vấn đề dân chủ thành cốt lõi trong chương trình nghị sự của chaeya. Khi thúc đẩy các lực lượng chaeya vốn vẫn chia rẽ và biệt lập kết hợp cùng đảng chính trị đối lập thành một tổ chức toàn quốc tuy thống nhất nhưng còn rời rạc, chiến dịch sửa đổi hiến pháp năm 1969 của Park cũng tạo nên một bước ngoặt cho lực lượng chaeya trong vai trò một tổ chức. Tháng 7 năm 1969, Đảng Dân chủ Mới (NRP) kết hợp với các lãnh đạo chaeya vốn có các nền tảng đa dạng cùng thiết lập Ủy ban Quốc gia Chống đối Sửa đổi Hiến pháp (NCOCR) dưới sự lãnh đạo của Mục sư Kim Chae-jun.

NCOCR phát đi văn bản mà sẽ trở thành tuyên bố chiến tranh chính đáng. [173] “Chế độ của Park”, tuyên ngôn của ủy ban khẳng định, “[đang sử dụng] mối đe dọa từ cuộc xâm lược quân sự của Triều Tiên cho mục đích tuyên truyền chính trị. Tuy nhiên, mối đe dọa thật sự có thể khuyến khích Triều Tiên xâm lược Hàn Quốc [chính là] hủy hoại sự đồng thuận trong quốc gia và tình trạng căng thẳng xã hội lan rộng bị kích thích bởi các nỗ lực dai dẳng của Park nhằm tiến hành sửa đổi hiến pháp.” Với những lời này, NCOCR đã sử dụng học thuyết về an ninh quốc gia của Park để hủy bỏ tính chính danh của chính Park, ủy ban này tiếp tục cảnh báo rằng Park có khả năng thể chế hóa chế độ độc tài suốt đời nếu ông được phép kéo dài chế độ chính trị của mình thêm bốn năm nữa. Các lãnh đạo chaeya cũng chỉ trích gay gắt thành tựu đáng tự hào nhất của ông, phát triển kinh tế, bằng cách cáo buộc ông đưa Hàn Quốc đến “tình trạng phá sản” và “ngăn cản các nỗ lực dân chủ hóa nền kinh tế”. Sự bất lực của nhiều nhà sản xuất chaebol trong việc trả lãi các khoản nợ nước ngoài được nhà nước bảo lãnh vào cuối những năm 1960 khiến cáo buộc này trở nên đáng tin hơn. Không chỉ vậy, NCOCR phân biệt giữa “chế độ” và “nhà nước”, họ cảnh báo Park không được tạo ra sự nhầm lẫn giữa số phận của ông với của nhà nước. “Adolph Hitler và Đảng Quốc xã của ông ta nghĩ rằng họ chính là nhà nước”, Mục sư Kim Chae-jun nhấn mạnh. Để bảo vệ nền dân chủ của Hàn Quốc, “cần phải nhớ rằng phe phát-xít đã biện minh cho sự tồn tại của họ vì nhu cầu ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản”.

Tuy nhiên, trong khi cố gắng ngăn chặn Park sử dụng ý thực hệ chiến tranh lạnh của Hàn Quốc để trừng trị các lực lượng đối lập, chaeỵa cũng giữ khoảng cách với “cánh cực tả”, không chỉ vì lập trường nhất quyết chống chủ nghĩa cộng sản của họ mà còn vì nhu cầu không tạo cho Park lý do để ra tay. Khi Đảng Cách mạng Thống nhất (URP) ngầm thành lập năm 1969 với ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa Triều Tiên làm kim chỉ nam, không có nhà hoạt động chaeya nào muốn trở thành thành viên. URP không chỉ có ý thức hệ thân Triều Tiên; đảng này còn có những liên kết tổ chức với Bình Nhưỡng. Mặc dù thế hệ các lãnh đạo sáng lập chaeya lấy mục tiêu là chống Park, vì thống nhất và bình đẳng, nhưng các nỗ lực của Triều Tiên nhằm tạo ra nền tảng ủng hộ trong số các nhà hoạt động chaeya đã thất bại thảm hại.

Các lãnh đạo NCOCR đã chuốc lấy thất vọng, lời kêu gọi giới văn nhân, nghệ sĩ, giáo sư và các lãnh đạo tôn giáo đừng để bị DRP và KCIA mua chuộc không giành được sự ủng hộ rộng rãi trong xã hội. Chaeya chuyển sang chiến lược huy động sinh viên vốn được chứng minh bằng cách tổ chức hàng loạt các buổi thuyết giảng, nhưng lần này cũng không thể kích động một cuộc biểu tình quần chúng chống lại việc sửa đổi hiến pháp. Các nhà hoạt động sinh viên phát đi những tuyên bố chống đối công khai, xuống đường để biểu tình và tổ chức tuyệt thực, nhưng không động thái nào tạo ra được hiện tượng giống với cuộc biểu tình chống hiệp ước ngày 3 tháng 6 năm 1964. Khi lần sửa đổi hiến pháp này được thông qua bởi 65,1 % phiếu thuận trong cuộc trưng cầu dân ý với 77,1% cử tri tham gia vào tháng 10 năm 1969, những sinh viên chống đối giảm đi nhanh chóng, điều đó buộc chaeya phải đợi đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1971 mới có sức mạnh tái tham gia vào chính trị.

Tuy nhiên, mặc cho thất bại năm 1969, chaeya phát triển thành một chủ thể chính trị ở cả các năng lực tổ chức và đặc trưng ý thức hệ. Đặc biệt quan trọng là sự tham gia của Cộng đồng Cơ đốc giáo Hàn Quốc vào chính trị để ủng hộ các cuộc biểu tình chống hệ thống. Mục sư Cơ đốc giáo và chủ tịch NCOCR Kim Chae-jun cá nhân hóa các nỗ lực cải cách do tôn giáo dẫn dắt, kêu gọi Cộng đồng Cơ đốc giáo “hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng, cho thấy quyết tâm [chống lại bất bình đẳng] và tổ chức các phong trào quần chúng chống đối.” Chắc chắn Cộng đồng Cơ đốc giáo không phải là một thực thể thống nhất chống lại Park và chế độ của ông. Ngược lại, sự tham gia của các nhà hoạt động tôn giáo vào chính trị đã chia rẽ những người Cơ đốc giáo Hàn Quốc thành “phe cấp tiến” và “phe bảo thủ”, một sự chia rẽ sẽ tạo ra tác động lâu dài. Thiểu số cấp tiến hay bày tỏ ý kiến được định đoạt là sẽ trở thành nơi che giấu các nhà hoạt động chaeya bất đồng chính kiến, trong khi đa số bảo thủ trở thành những người ủng hộ trung thành cho lập trường chống chủ nghĩa cộng sản vững chắc của Park những năm 1970.

Như các chiến thắng năm 1964 và 1969 của Park cho thấy, không nên đánh giá quá cao sức mạnh của chaeya trong thời kỳ tiền yushin (1961-1972). Khả năng tạo ra một cuộc tranh luận thuyết phục về chống đối chính trị cấp tiến của giới trí thức bất đồng chính kiến đã yếu đi đáng kể từ sự tái thiết lập bầu cử cạnh tranh năm 1963 của Park. Bất chấp việc sử dụng đàn áp chính trị có chọn lọc để ngăn chặn sự trỗi dậy của các đối thủ chính trị và để bình ổn chế độ, Park vẫn định kỳ tổ chức các cuộc bầu cử cạnh tranh và chiến thắng với tỷ lệ cách biệt đáng kể. DRP thậm chí còn giành được hai phần ba số ghế trong cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1967, cho phép đảng này tiến hành cuộc sửa đổi hiến pháp năm 1969 mà không phạm vào các thủ tục hiến pháp. Hơn nữa, bất chấp khoảng cách thu nhập đang gia tăng giữa các giai cấp và khu vực, không thể chối bỏ rằng Park đã giúp kể cả bộ phận kém may mắn nhất trong xã hội Hàn Quốc thoát khỏi nghèo đói tuyệt đối. Lòng tự hào quốc gia của nhân dân đã bị “chính sách ngoại giao nhục nhã” của Park làm tổn hại năm 1964 và các khát vọng dân chủ của họ bị hằn sẹo vì sự kéo dài chế độ của ông năm 1969, nhưng họ cũng biết rằng đất nước đang đi trên con đường hiện đại hóa.

Chống lại thực tế tăng trưởng kinh tế, hiện đại hóa quân đội và bầu cử định kỳ, các lý lẽ của chaeya về phá sản kinh tế và mối đe dọa phát-xít phản tác dụng, khiến chaeya trở nên quá cực đoan để quần chúng có thể đặt đất nước vào tay họ. Các nhà báo, giới học thuật và các tác giả chính thống vẫn còn rất thờ ơ về chương trình nghị sự của lực lượng chaeya. Vỡ mộng, các nhà hoạt động sinh viên cáo buộc báo chí đã mất đi tinh thần kháng cự mà giới này từng sở hữu với vai trò của một lực lượng quốc gia độc lập trong thời thực dân Nhật và vai trò người ủng hộ dân chủ chống lại Lý Thừa Vãn một thập niên trước. Một số lãnh đạo sinh viên thậm chí còn khẳng định rằng báo chí đã ủng hộ cho chế độ chính trị của Park. Cộng đồng học thuật chính thống cũng trở thành mục tiêu chỉ trích, họ bị mô tả là phản bội các lý tưởng của cuộc cách mạng sinh viên mà họ từng tổ chức tháng 4 năm 1960.

Không chỉ vậy, lực lượng chaeya năm 1969, dù tách ra khỏi dòng chính thống bảo thủ của giới trí thức Hàn Quốc, chủ yếu vẫn là một phong trào chống đối dựa vào trí thức tập trung xung quanh một số lãnh đạo tinh thần có tầm vóc quốc gia. Ủy ban Quốc gia Chống đối Sửa đổi Hiến pháp (NCOCR), lúc bấy giờ được đánh giá là một bước ngoặt trong các tổ chức chaeya, được dẫn dắt bởi một nhóm nhỏ những nhân vật có ảnh hưởng tới chương trình nghị sự chủ yếu tập trung vào các vấn đề ý thức hệ về chủ nghĩa dân tộc và dân chủ. Tính thống nhất mà tổ chức này tự hào là sự thống nhất về quan điểm ý thức hệ chứ không phải là tính chặt chẽ trong tổ chức. Khi chaeya mạo hiểm tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, những bình luận của lực lượng này thiên về các nền tảng đạo đức hơn là chính sách. Các nhà hoạt động căm ghét sự phân biệt xã hội và bất bình đẳng kinh tế, nhưng những tranh luận của họ thiếu đi ý thức hệ giai cấp. Do đó, chaeya của năm 1969 không khác về chất so với Đảng NDP đối lập trong định hướng chính trị. Những thành viên của lực lượng vẫn chủ yếu là phe bảo thủ.

Mở rộng chương trình nghị sự chaeya

Các vấn đề Minjung, 1970

Năm 1970 đem lại một thay đổi khác về sức mạnh cho chaeya. Ngày 13 tháng 11, Jeon Tae-il - một thợ may 22 tuổi, một nhà tổ chức công đoàn được tuyển vào một trong những nhà máy dệt may bóc lột lao động ở trung tâm Seoul - đã tẩm xăng lên mình và tự thiêu. Tin tức về cái chết của anh đã gây sốc cho toàn xã hội vì khi tham gia vào cuộc tranh luận về cải cách và công bằng phân phối của chaeya, anh ta cũng đòi hỏi giới cầm quyền chính trị phải tuân thủ các đạo luật lao động hiện hành. Vụ tự thiêu cho thấy thực tế nghiệt ngã về nạn bóc lột lao động ẩn sau hệ thống pháp lý có vẻ hiện đại của Hàn Quốc. Như Jeon Tae-il nhận thấy, vấn đề không phải là không có các quy định pháp lý bảo vệ quyền lợi của người lao động. Mà ngược lại, các đạo luật lao động Hàn Quốc trông rất “hiện đại”, đã được sao chép nguyên bản từ luật lao động của các nền dân chủ công nghiệp. Tuy nhiên, nhà nước quyết định không thực thi những quy định chính, trên thực tế, điều đó đã tước bỏ của người công nhân những quyền được bảo đảm theo pháp luật.

Cái chết của Jeon Tae-il trở thành bước ngoặt trong lịch sử hoạt động của chaeya, các phong trào lao động và chính trị đảng phái. Sinh viên Đại học Quốc gia Seoul ngay lập tức tổ chức Ủy ban Sinh viên Chuẩn bị Biện pháp Bảo vệ Quyền Dân sự. Các trường đại học khác tổ chức những buổi lễ tưởng nhớ vinh danh Jeon Tae-il. Có trường thành lập một ủy ban tìm hiểu sự thật với mục tiêu tạo ra “sự cải thiện trong điều kiện lao động và bảo đảm quyền thành lập công đoàn lao động của công nhân”. Cộng đồng Cơ đốc giáo cũng bị rúng động và những lời cầu nguyện cất lên vì Jeon Tae-il vang khắp cả nước. Những nhà hoạt động trẻ như Chang Ki-pyo — một người bất đồng chính kiến sau này được Mục sư Mun Ik-hwan xem như “lưỡi dao sắc bén nhất sẽ giải quyết hiệu quả tình trạng hỗn loạn những năm 1970 và 1980” - đã chọn cách tham gia vào chaeya và trở thành những nhà cách mạng chuyên nghiệp vì tức giận và thất vọng trước cái chết của Jeon Tae-il. Cuộc đời của Chang Ki-pyo đã cho thấy sự xuất hiện mầm mống mới của các nhà hoạt động chaeya, những người nhạy cảm hơn với các vấn đề về quốc dân (minjung) và ý thức hơn về nhu cầu xây dựng liên minh xã hội rộng rãi để tạo được những thay đổi hệ thống. Các cuộc thử nghiệm tổ chức của họ đã hình thành nohak yeondae, hay liên minh công nhân-sinh viên đóng vai trò như pháo đài của phong trào chống đối cấp tiến chống lại thứ mà chaeya lúc bấy giờ gọi là “chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước thực dân kiểu mới” của Chun Doo-hwan (1980-1988). [174]

Viện Lao động của Đại học Hàn Quốc, được thành lập vào năm 1965, cũng bắt đầu giúp đỡ các nhà hoạt động-học giả đào tạo lãnh đạo công đoàn, nhà quản lý lao động, linh mục và lãnh đạo sinh viên về các vấn đề mối quan hệ người lao động-cấp quản lý, luật lao động và phong trào công nhân. Đồng thời, Viện Lao động định kỳ tiến hành khảo sát điều kiện lao động để nâng cao nhận thức của công chúng về các vấn đề lao động, cũng như tổ chức những buổi giảng cho các thành viên công đoàn thông thường để thay đổi nhận thức chính trị của họ. Một số các nhà hoạt động-học giả ở Viện Lao động gồm Cho Ki-jun, Cho Dong-pil, Kim Yun-hwan, Kim Nak-jung, Yi Mun-young, Kim Kun-su và Kwon Tu-young.

Ảnh hưởng của cộng đồng Cơ đốc giáo cũng gây nhiều biến đổi. Từ cuối những năm 1960, bộ phận cấp tiến của cộng đồng đã cố gắng thay thế thần học bảo thủ đang thống trị bằng các học thuyết tự do, bao gồm thần học khai phóng. Chính cái chết của Jeon Tae-il đã thúc đẩy những người Cơ đốc giáo này có một lập trường dứt khoát về vấn đề công bằng xã hội và không chỉ ủng hộ mà còn đi xa hơn cả các chính trị gia NDP trong cuộc đấu tranh chống lại Park. Chủ nghĩa tích cực về chính trị của họ dẫn đến sự mở rộng của Hội Nhà truyền giáo Cơ đốc Công nghiệp Thành thị suốt những năm 1970. Các nhà truyền giáo xây dựng nên một mạng lưới các nối kết tôn giáo - lao động, mạng lưới này tìm cách cải thiện các vấn đề về lao động và nghèo đói từ quan điểm thần học cấp tiến. Người đại diện của họ là Mục sư Kim Chae-jun, người đã lãnh đạo các cuộc đấu tranh của chaeya chống lại lần sửa đổi hiến pháp năm 1969 với niềm tin rằng “Tín đồ Cơ đốc giáo và Giáo hội [phải tìm kiếm sự cứu rỗi] bằng cách tổ chức đấu tranh vì công bằng.” Phe cấp tiến tin rằng phong trào của họ là một “Missio Del” hay Sứ mệnh của Chúa.

Việc chaeya trở nên cấp tiến thể hiện rõ nhất ở khái niệm minjung tràn ngập tất cả bài viết của giới học giả bất đồng chính kiến. Theo các nhà hoạt động chaeya. định nghĩa, thì minjung (quốc dân) là những người có ý chí hành động, trái với taejung (quần chúng). Sở hữu tư duy độc lập mà họ có thể dùng để giải quyết các vấn đề theo cách riêng của mình, minjung có thể trở thành lực lượng tạo ra thay đổi nếu giới trí thức giúp họ nhận ra tiềm năng cách mạng và tổ chức họ. Một khi taejung bị động được biến thành minjung tự ý thức và có ý chí, chaeya lập luận, họ sẽ nắm giữ cuộc sống của chính mình và đấu tranh để dẹp bỏ những cơ chế bất công. Trích đoạn sau đây từ một nhóm nghiên cứu với tinh thần hoạt động chủ nghĩa ở Đại học Quốc gia Seoul đã phản ánh tinh thần cách mạng tràn khắp các cơ sở đại học đầu những năm 1970: “Minjung cuối cùng đã vượt qua cảm giác vô vọng, thất vọng và bắt đầu tạo ra một lịch sử mới. Họ bắt đầu bác bỏ trật tự xã hội bất công áp đặt xuống họ từ trước đến nay và đòi hỏi một trật tự có nhân tính... Minjung sẽ nắm lấy lịch sử chỉ khi cuộc chiến của họ được định hướng [bởi các nhà hoạt động sinh viên] đúng đường lối.”

Lực lượng chaeya càng trở nên cực đoan hơn khi chế độ của Park cưỡng bức 3.000 người lấn chiếm đất từ Seoul chuyển đến “khu phức hợp tái định cư Kwangju” (Seongnam ngày nay) - một phần trong nỗ lực “dọn sạch” thủ đô. Bị đẩy khỏi địa bàn sinh sống chỉ trong một đêm, những người lấn chiếm đất giận dữ tấn công những tòa nhà công cộng và đốt cháy một đồn cảnh sát ngày 10 tháng 8 năm 1971, để đòi hỏi phải thiết lập các biện pháp hỗ trợ đói nghèo. Việc bùng nổ đầy bạo lực tình trạng bất mãn của người dân lần đầu tiên dưới thời của Park cho thấy sự thiếu vắng mạng lưới an sinh và mối nguy hiểm đi kèm với tình trạng bất ổn chính trị ở nhiều trong số các thành phố đang tăng trưởng nhanh của nước này. [175] Cùng với vụ tự thiêu của Jeon Tae-il, cuộc nổi loạn của những người lấn chiếm đất cho thấy rõ rằng chiến lược công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu của Park đã không thể thỏa mãn những nhu cầu của nhiều người dân nghèo thành thị, bất chấp giai đoạn siêu tăng trưởng chiến lược đã được tạo ra trong một thập niên. Với ngoại lệ về vấn đề chống Mỹ, thống nhất đất nước và chủ nghĩa xã hội chi phối các phong trào chaeya những năm 1980 thì tất cả các chương trình nghị sự chính trị, kinh tế và xã hội trọng yếu của Hàn Quốc ngày nay đều được hình thành từ đầu những năm 1970.

Cần phải chú ý rằng các nhà hoạt động sinh viên vẫn là hạt nhân của phong trào phản kháng sau năm 1970 dù, không như những năm 1960, họ được bổ trợ bởi và hòa cùng với các phong trào chống đối dựa vào các nhóm xã hội khác. Trong khi giúp đỡ người lao động và dân nghèo thành thị, lực lượng chaeya cũng duy trì các hoạt động của họ tập trung cao độ vào các vấn đề chính trị liên quan đến sinh viên, bởi từ chính các cơ sở đại học mà chaeya đã tuyển mộ được các lãnh đạo tương lai cũng như các thành viên. Chỉ trong năm 1971, hơn 2.000 sinh viên đại học biểu tình hàng ngày chống lại chương trình đào tạo quân sự mới được Park thể chế hóa; họ tin rằng chương trình này được thiết lập để vô hiệu hóa các phong trào phản kháng bằng cách tạo ra nỗi sợ Đỏ ở các trường.

Bấu cử tổng thống, 1971

Cuộc bầu cử tổng thống năm 1971 là một cơ hội quan trọng để chaeya kiểm tra các năng lực tổ chức đã được tăng cường mạnh mẽ của họ. Họ lao vào các cuộc chạy đua bầu cử để ủng hộ các ứng viên NDP vì, kể cả với tình trạng thắt chặt trong chế độ chính trị độc tài của Park, các cuộc bầu cử cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Với Park và các năng lực xuất sắc của giới chóp bu quyền lực DRP-KCIA khi huy động xã hội từ trên, các cuộc bầu cử ít có khả năng tạo ra sự thay đổi trong giới lãnh đạo chính trị cấp cao của Hàn Quốc. Chúng cũng không thể hiện đúng những ước muốn và nỗi sợ của các nhóm xã hội, vì các đảng phái chính trị của Hàn Quốc, bao gồm cả NDP, không có các mối liên kết tổ chức với xã hội và vì các nhóm lợi ích bị chế độ của Park ngăn không cho phát triển các chương trình nghị sự, chiến lược và tổ chức hành động chính trị tập thể mang tính đặc thù riêng của họ. Các cuộc bầu cử vẫn là cơ hội bỏ phiếu toàn dân cho vị trí lãnh đạo của ông hơn là một dịp để bày tỏ và tổ chức các chương trình nghị sự chính trị hàng đầu của đất nước. Tuy nhiên điều trớ trêu là chính vì các cuộc bầu cử nhằm mục đích trưng cầu dân ý, nên chúng có ý nghĩa quan trọng. Chúng chỉ ra thái độ của công chúng và, nhờ đó, gây ảnh hưởng nhiều hơn tới động cơ của cuộc đối đầu chính trị giữa chế độ của Park và phe đối lập NDP- chaeya . Sử dụng kết quả bầu cử của NDP như là một lợi thể so với Park, chaeya tìm cách tăng cường tình đoàn kết với NDP vào năm 1971.

Các sáng kiến làm tăng tình đoàn kết của chaeya với NDP càng mạnh hơn khi Yi Cheol-sung bảo thủ hỗ trợ Kim Dae-jung cấp tiến thay vì Kim Young-sam trung hòa-bảo thủ trong cuộc bầu cử ứng viên tổng thống trong đảng chính trị đối lập năm 1971 nhờ các nền tảng địa phương chủ nghĩa. Kim Dae-jung đại diện cho một hạt giống mới trong chính trị bè phái NDP. Trong khi Yi Cheol-sung tự hào về những thành tựu chính trị chống chủ nghĩa cộng sản được xây dựng trong thời kỳ là nhà hoạt động sinh viên trong các cuộc đấu tranh ý thức hệ tả-hữu sau giải phóng và Kim Young-sam kiêu hãnh với tinh thần trung hòa cùng vai trò trung tâm trong chính trị lập pháp từ năm 1954, Kim Dae-jung tham gia vào chính trị Hàn Quốc như một người cánh tả từ năm 1945. Đến năm 1946, ông tham gia vào Ủy ban Chuẩn bị Độc lập Hàn Quốc và Ủy ban Nhân dân thuộc cánh tả đồng thời hoạt động trong Đảng Nhân dân Mới, vì, theo ông, ông “không có hiểu biết rõ ràng về chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa dân tộc”. Bị vỡ mộng bởi định hướng thân Xô-viết của những người cộng sản Hàn Quốc, Kim Dae-jung nhanh chóng cắt đứt quan hệ với họ và lựa chọn nguyên tắc dân tộc chủ nghĩa là “độc lập hàng đầu”. Sự tham gia ban đầu vào các hoạt động của chủ nghĩa cộng sản bắt đầu ám ảnh ông khi ông có được tầm vóc chính trị quốc gia vào năm 1971. Trớ trêu thay, chính Park từng có một giai đoạn ngắn tham gia vào tổ chức Cánh tả, ông đã lợi dụng sự hoài nghi của công chúng về ý thức hệ của Kim Dae-jung để ngăn cản sự nghiệp chính trị của ông này.

Ngược lại, những gì Cánh hữu cho là sai lầm chính trị của Kim Dae-jung lại là một điểm cộng ý thức hệ trong mắt nhiều nhà hoạt động chaeya. Trong khi Park chuyển sang chủ nghĩa bảo thủ chính trị Hàn Quốc, Kim Dae-jung phát triển thành một nhà tư tưởng cấp tiến, rất phù hợp với chaeya, một phong trào chủ yếu là “cải cách tự do”. Các thành viên lực lượng này phản đối Park vì ông đặt an ninh quốc gia và tăng trưởng kinh tế trước dân chủ trong thứ tự ưu tiên quốc gia. Chaeya xem dân chủ như ưu tiên hàng đầu vì “dân chủ là chất xúc tác [hoặc điều kiện tiên quyết] cho tăng trưởng kinh tế, chứ không phải rào cản”, theo lời của Kim Dae-jung. Hai yếu tố này thuộc về một chu kỳ tăng, dân chủ hóa thúc đẩy phát triển kinh tế và ngược lại, như ở Đông Âu. Park giữ lập trường đối lập, ông khẳng định rằng “đối với các quốc gia đang phát triển, hiện đại hóa kinh tế là điều kiện tiên quyết tuyệt đối để thúc đẩy dân chủ... Dân chủ chỉ nở hoa ở mảnh đất phát triển kinh tế màu mỡ.”

Ngày 19 tháng 4 năm 1971, Kim Chae-jun (mục sư), Cheon Kwan-U (nhà báo) và Yi Pyeong-rin (luật sư) trở thành đồng chủ tịch của Hội đồng Quốc gia vì Biện pháp Bảo vệ Dân chủ (NCSD). Hội đồng là đại diện cho phái cấp tiến trong các lực lượng tôn giáo, báo chí, học giả và cộng đồng pháp lý Hàn Quốc, từ đó kết hợp các bè phái trước giờ vốn phân tán của chaeya thành một tổ chức đoàn kết toàn quốc chống lại Park. Về phần sinh viên, họ thành lập Liên minh Sinh viên Quốc gia vì Biện pháp Bảo vệ Dân chủ (NSASD), có vai trò như cơ quan giám sát bầu cử tổng thống của xã hội dân sự. Dưới sự lãnh đạo của NCSD, tổng cộng 6.139 sinh viên, lãnh đạo thanh niên, giới văn sĩ và các nhà hoạt động tôn giáo đã cùng nhau tổ chức các ủy ban giám sát bầu cử địa phương khắp cả nước. Mặc cho chiến thắng bầu cử của Park, lực lượng chaeya — không như năm 1967 và 1969 - đã xoay sở để không phải sụp đổ mà thay vào đó sử dụng các năng lực tổ chức đã được tăng cường của mình. Từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1971, tổng cộng 269 cuộc biểu tình sinh viên đã nổ ra, với 62.264 sinh viên tham gia. Khi các cuộc biểu tình không hề yếu đi, Park buộc phải ban bố sắc lệnh vào ngày 25 tháng 10 cùng năm cho phép sự hiện diện của quân đội ở các cơ sở đại học. Binh sĩ có vũ trang tiến đến cơ sở của mọi trường đại học lớn ở Seoul, kết quả đã bắt giữ 1.889 nhà hoạt động sinh viên.

Vụ trấn áp phản tác dụng, kích hoạt một đợt gia tăng đột biến các tờ báo ngầm ở đại học, sớm trở thành cơ chế chủ yếu của chaeya để truyền đi các ý tưởng cấp tiến và tạo ra thứ mà các nhà hoạt động chaeya gọi là uisikhwa, hay sự gia tăng nhận thức sinh viên về tình trạng bất công xã hội và đàn áp chính trị. Các tờ báo phát hành ngầm bắt đầu tạo được ảnh hưởng đến một bộ phận sinh viên bao gồm Chayu-ui Chong (Tiếng chuông tự do), Uidan (Diễn đàn lẽ phải), Hwalhwasan (Núi lửa hoạt động), Hwaetpul (Ngọn đuốc), và Jeonya (Đêm trước) của Đại học Quốc gia Seoul; Hanmaek (Nhịp đập nước Hàn [Hàn Quốc]), Sanjiseong (Tinh thần học giả sống mãi), và Sannara (Quốc gia sống mãi) của Đại học Hàn Quốc; Saeol (Linh hồn mới) và Saetpyeol (Sao mai) của Đại học Nữ sinh Ewha; Naenara (Đất nước tôi) của Đại học Yonsei; Kwangya-ui Sort (Tiếng nói của ruộng đồng) của Liên đoàn Cơ đốc giáo Sinh viên Hàn Quốc; Noktu (Đậu xanh, một bí danh quen thuộc của Jeon Pong-jun, một lãnh đạo của cuộc nổi dậy nông dân năm 1894-1895 chống lại chủ nghĩa đế quốc Nhật và chủ nghĩa phong kiến bóc lột của triều đại Joseon) của Đại học Cheonnam; và Haneol (Linh hồn nước Hàn [Hàn Quốc]) của Đại học Busan. Như những cái tên cho thấy, các nhà hoạt động sinh viên đầu những năm 1970 không chỉ tập trung vào dân chủ hóa chính trị mà còn nhắm đến các vấn đề minjung dựa trên quyền lợi của công nhân đến cơ cấu nghèo đói thành thị. Phê phán thậm tệ báo chí chính thống vì đã thỏa hiệp để trở thành bộ phận giám sát của nhà nước; các báo ngày, báo tuần, báo tháng ngầm quyết liệt vận động sinh viên nổi dậy chống lại tình trạng bất công xã hội và đàn áp chính trị.

Sự chỉ trích báo chí chính thống ngày càng tăng tạo ra tác động thức tỉnh đến các nhà báo. Ngày 15 tháng 4 năm 1971, tờ Dong-A Ilbo công bố “Tuyên bố Tự do Báo chí” và hứa hẹn đấu tranh chống kiểm duyệt. Hankook Ilbo, Chosun Ilbo, JoongAng llbo, Công ty phát thanh truyền hình Munhwa và Haptong T’ongsin (Cơ quan Tin tức Hapdong) nhanh chóng tham gia sự kiện này với những tuyên ngôn riêng của họ. Ngày 28 tháng 7, tổng cộng 153 thẩm phán đối đầu với văn phòng Công tố Công yêu cầu đòi độc lập cho nhánh tư pháp, sự bất tuân đầu tiên của giới tư pháp kể từ khi thành lập nước Cộng hòa năm 1948. Ngày 23 tháng 8, một nhóm giáo sư đại học công khai chỉ trích việc binh lính chiếm đóng trường đại học, và tuyên bố sự ủng hộ của họ đối với quyền tự do và tự chủ của cộng đồng học thuật. Lực lượng chaeya cho rằng Park đang phải hứng chịu sự tấn công trên mọi mặt trận — báo chí, tư pháp và giới học thuật, bên cạnh những người lấn chiếm đất thành thị và người tổ chức công đoàn, bắt đầu thách thức ông vì các quyền chính trị và dân sự của họ.

Trước làn sóng chống đối gia tăng, Park chọn cách tăng - chứ không giảm - mức độ đàn áp chính trị. Ông ban bố một “sắc lệnh quân đồn trú” vào tháng 10 năm 1971, rồi lại tiếp tục ban hành một biện pháp mạnh mẽ hơn nữa là thay đổi chế độ một năm sau đó. Việc khởi động chế độ yushin vào tháng 10 năm 1972 đã bịt miệng NDP và hạn chế các hoạt động của chaeya - nhưng chỉ trong một thời gian rất ngắn. Đi ngược lại với những tính toán của Park, các biện pháp của chế độ yushin không chỉ tăng cường mà còn cực đoan hóa những người bất đồng chính kiến. Thật trớ trêu, bước ngoặt sang hình thức cai trị chính trị độc tài trắng trợn đã tạo cho chaeya một tập hợp rõ ràng các mục tiêu và chiến lược cực đoan. Việc xóa bỏ các cuộc bầu cử cạnh tranh cũng cho chaeya một cơ hội để thâm nhập sâu hơn vào xã hội và định hình ý kiến của công chúng từ vị thế về đạo đức và tư tưởng.

*Huy động chính trị cấp tiến

Đối đầu với yushin, 1972-1974

Các nhà hoạt động Cơ đốc giáo phản ánh những thay đổi đã diễn ra trong thành phần, ý thức hệ và cách tổ chức của chaeya giai đoạn 1969-1972, kết hợp với những sinh viên cấp tiến, họ đã khởi động làn sóng phản kháng chính trị đầu tiên chống lại hiến pháp yushin bằng cách tổ chức buổi lễ Phục sinh Namsan vào ngày 22 tháng 4 năm 1973. Phong trào kháng cự do Cơ đốc giáo dẫn dắt là tín hiệu cho thấy rắc rối nghiêm trọng đối với Park vì những mối liên kết gắn bó của các tín đồ Cơ đốc giáo Hàn Quốc với các lực lượng tôn giáo nước ngoài. Đàn áp trở thành một lựa chọn chính trị tốn kém. Bất kỳ vụ bắt bớ các nhà hoạt động Cơ đốc giáo nào sẽ ngay lập tức khởi phát các cuộc đấu tranh ngoại giao và đặc biệt làm xói mòn sự ủng hộ dành cho Park ở Mỹ.

Tin tức về buổi lễ Phục sinh Namsan nhanh chóng lan đến các trường đại học để kích thích các làn sóng chống đối chính trị mới. Sinh viên Đại học Hàn Quốc phát động biểu tình chống Park vào tháng 5 và tháng 6 năm 1973, nhưng đành chứng kiến những người lãnh đạo bị cảnh sát bắt giữ. Sau vài tháng im lặng, sinh viên Đại học Quốc gia Seoul tổ chức một cuộc biểu tình đường phố vào ngày 2 tháng 10, kêu gọi “chấm dứt sự kìm kẹp phát-xít của các lực lượng an ninh, tái thiết lập dân chủ tự do với các quyền cơ bản của con người được tái thể chế hóa, xóa bỏ thái độ phục tùng Nhật Bản và xây dựng nền kinh tế dân tộc chủ nghĩa dựa trên các nguyên tắc độc lập quốc gia và quyền lợi được sống ở mức sống tối thiểu của nhân dân”. Vì tình trạng kiểm duyệt báo chí, những sinh viên chống đối không thể kêu gọi sự ủng hộ của công chúng. Dù vậy, tin tức về phong trào phản kháng của họ cũng lan nhanh đến các bộ phận khác của lực lượng chaeya và được xem như là lời kêu gọi nổi dậy chống Park.

Mục sư Kim Jeong-jun, một nhà tư tưởng hàng đầu về thần học minjung và là một trưởng khoa ở Đại học Hansin, đã cạo đầu trong cuộc biểu tình chống lại hoạt động trừng trị những nhà hoạt động sinh viên. Các lãnh đạo chaeya như Chang Chun-ha, biên tập của tờ Sasangỵye, và Baek Ki-wan bắt đầu một nỗ lực trên quy mô cả nước để thu thập một triệu chữ ký nhằm thay đổi hiến pháp yushin vào ngày 24 tháng 12 năm 1973. Kế hoạch thu thập chữ ký ngay lập tức nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng văn sĩ, các lãnh đạo tôn giáo, sinh viên và các chính trị gia NDP, trở thành chất xúc tác cho rất nhiều các nhà lãnh đạo xã hội ôn hòa hòa nhập lực lượng với các phong trào chaeya vốn trước nay do phe cực đoan chi phối. Sự tham gia của phái ôn hòa, từ Đức Hồng Y Kim Su-hwan, nhà sư Phật giáo Peopjeong, đến những trí thức như Yi Hui-seong, Paek Nak-chun, Park Tu-jin, Yi Sang-un và Kim Yun-su, đến Mục sư Kim Kwan-seok và các chính trị gia Kim Hong-il và Yi In đã tăng cường đáng kể vị thế của chaeya trong mắt của công chúng. Chỉ trong 11 ngày, kế hoạch thu thập chữ ký thành công với 30.000 người ký tên ủng hộ thay đổi hiến pháp yushin. Park phản ứng bằng việc ban hành Sắc lệnh Khẩn cấp số 1, cấm bất kỳ chỉ trích nào về hiến pháp yushin. Sự việc này khiến các lãnh đạo Cơ đốc giáo phát đi một tuyên bố chống đối khác - lần này, không chỉ chống lại yushin mà còn chống cả Sắc lệnh Khẩn cấp số 1.

Ngày 3 tháng 4 năm 1974, cảnh sát phối hợp với KCIA bắt giữ 2.000 nhà hoạt động sinh viên vì tội danh bí mật tổ chức Liên minh Sinh viên Thanh niên Dân chủ Quốc gia (NDYSA) với mưu đồ lật đổ có sự xúi giục của Triều Tiên. Cùng ngày, Park ra Sắc lệnh Khẩn cấp số 4 để chấm dứt các cuộc biểu tình sinh viên. Sắc lệnh này cấm các cuộc tụ tập chống đối và biểu tình của sinh viên, cho phép nhà nước đóng cửa những trường học nào được cho là vi phạm sắc lệnh, cho phép huy động các lực lượng vũ trang khi cần thiết phục vụ các mục đích an ninh công cộng và gia tăng đáng kể hình phạt pháp lý đối với những kẻ xúi giục biểu tình lên mức án tử hình. Việc ban bố Sắc lệnh Khẩn cấp số 4 dẫn đến việc bắt giữ 2.000 người và 203 người trong số này bị kết án tù bởi tòa án quân sự. Số bản án tại tòa lên đến tổng số 1.800 năm tù và có 8 án tử hình.

NDYSA là một câu chuyện bịa đặt. Các nhà hoạt động sinh viên vốn đang lên kế hoạch kích động một cuộc biểu tình chống yushin khắp cả nước như một phần trong nỗ lực xây dựng liên minh rộng rãi giữa các lực lượng sinh viên đa dạng, nhưng không hề tổ chức NDYSA. Việc sáng tạo nên các hoạt động NDYSA của chế độ yushin có tác dụng tăng cường tinh thần đoàn kết của chaeya và mở rộng lực lượng của phong trào này trong xã hội. Vụ bắt giữ cựu chủ tịch Yun Po-sun, Giám mục Chi Hak-sun, Mục sư Park Hyeong-gyu, nhà thơ Kim Chi-ha, [176] và các giáo sư Kim Tong-gil, Kim Chan-guk vì tội hỗ trợ hoạt động tổ chức NDYSA của sinh viên từ đằng sau khiến các vụ án dưới chế độ yushin càng không thể chấp nhận được nữa theo quan điểm của công chúng. Cụ thể, phong trào chống đối Cơ đốc giáo trở nên mạnh hơn sau cuộc trừng phạt vào tháng 4 năm 1974. Cố gắng loại bỏ mọi nguồn gốc chống đối ở các trường đại học bằng một đòn duy nhất chỉ khiêu khích sự phản kháng mạnh hơn từ bên dưới. Khi công chúng đặt câu hỏi về các ý định của chế độ yushin, thì hoạt động đàn áp để bịt miệng lực lượng chaeya ngày càng trở nên kém hiệu quả.

Mặt khác, “Tuyên bố vì Minjung, Quốc gia và Dân chủ”, từng được các nhà hoạt động sinh viên công bố trước vụ bắt giữ họ ngày 3 tháng 4 năm 1974, cho thấy tính cấp tiến của các phong trào sinh viên kể từ khi ban hành hiến pháp yushin. Các nhà hoạt động này tuyên bố lãnh đạo một “phong trào dân chủ dân tộc đại diện cho tinh thần của minjung, theo đuổi tự do và công bằng đích thực”. Chương trình nghị sự của họ là tiền thân của samminjuui (Ba Nguyên tắc Nhân dân) cực đoan gồm minjungjuui, chủ nghĩa dân tộc và dân chủ. Không như màu sắc tự do-tư sản của các phong trào sinh viên trước yushin, các nhà hoạt động sinh viên tháng 4 năm 1974 có một chương trình nghị sự xã hội và chính trị được xác định rõ ràng bao gồm tịch thu “tài sản phi pháp” do các chủ sở hữu-quản lý chaebol và các chính trị gia tích trữ, giảm thuế cho các khu vực bình dân, đảm bảo thu nhập đủ sống tối thiểu cho quần chúng nhân dân, công nhận quyền hành động tập thể của công nhân thông qua cải tổ các đạo luật lao động, trả tự do cho tất cả các nhà hoạt động chaeya bị bắt giam, thay đổi chế độ yushin bằng một trật tự chính trị dân chủ thực sự, giải tán các bộ máy án ninh cưỡng bức do KCIA lãnh đạo và xây dựng hệ thống kinh tế quốc gia “tự chủ” bằng cách dứt khoát rời bỏ lộ trình công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu đầy bóc lột. Tuyên bố năm 1974 cũng yêu cầu sự tham gia của công nhân vào ban quản lý công ty và quá trình hoạch định chính sách công nghiệp. Để chế độ yushin thấy được sức mạnh của phe đối lập chaeya, các tác giả của tuyên bố cũng kêu gọi sinh viên tập hợp trước Tòa thị chính Seoul và đi đến Cheonggyecheon để cho thấy tinh thần đoàn kết với công nhân ở các nhà máy dệt may bóc lột lao động nơi Jeon Tae-il từng làm việc.

Ba tháng sau cuộc trừng trị, chế độ yushin tự đảo ngược hành động và dỡ bỏ Sắc lệnh Khẩn cấp số 4, khi nhận ra rằng biện pháp này đã vô tình tăng cường quyết tâm phản kháng của chaeya. Lời mời gọi hướng đến đối thoại không có tác dụng. Ngược lại, các cuộc biểu tình chính trị nổ ra hằng ngày đến cuối năm 1974. Một số sinh viên đại học tổ chức tuyệt thực. Nhiều hơn số đó ra đường để đối đầu với cảnh sát. Ở Kwangju, giới cầm quyền phải hủy các lớp học ở 7 trường trung học phổ thông để ngăn cản biểu tình. Ngày 30 tháng 10 năm 1974, Bộ Giáo dục (MoE) phải đóng cửa tổng cộng 44 trường đại học và ban hành một mệnh lệnh hành chính đến 13 trong số 77 trường đại học hệ 4 năm của Hàn Quốc để ngăn biểu tình lan rộng. Cuối cùng, ngày 25 tháng 12, lãnh đạo từ khắp nơi trong xã hội - các chính trị gia đối lập, các nhà hoạt động Công giáo, Tin lành, nhà sư, nhà báo, giáo sư, nhà văn, thẩm phán và các lãnh đạo nữ quyền - thành lập Đại hội Nhân dân Tái thiết Dân chủ (PCRD), với mục tiêu lật đổ chế độ yushin. Lớp lãnh đạo PCRD gồm nhiều nhân vật nổi tiếng nhất trong công chúng: linh mục Công giáo Yun Hyeong-jung và Ham Se-ung; luật sư Yi Pyeong-rin, Hong Seong-U, và Han Scong-heon; lãnh đạo nữ quyền Yi Tae-young và Kim Jeong-ryc; chính trị gia đối lập Kim Young-sam, Kim Dae-jung, Yang Il-dong, và Kim Cheol; nhà văn Kim Jeong-han; nhà báo Cheon Kwan-u; Mục sư Kang Won-ryong; giáo sư Baek Nak- cheong và Kim Pyeong-geol; và triết gia Ham Seok-heon.

Xem sự tự quyết, hòa bình và lương tri công chính là “các nguyên tắc định hướng hành động” và tái thiết dân chủ là mục tiêu, PCRD xác định chiến dịch phản kháng là một “phong trào nhân dân”. Lần đầu tiên trong lịch sử chaeya, PCRD cố gắng tổ chức đấu tranh chính trị một cách có hệ thống, thành lập một ủy ban điều hành gồm 6 thành viên và ban thư ký ở trung ương cùng “các nhánh” ở các địa phận tỉnh. Đến tháng 3 năm 1975, PCRD đã xoay sở để thành lập 7 nhánh ở cấp thành phố và tỉnh cùng 20 nhánh ở cấp huyện, với lực lượng lãnh đạo chủ yếu đến từ các giáo sĩ địa phương và cơ sở của đảng đối lập. Một tháng trước đó, Hội đồng Nhân dân này đã công bố Hiến chương của Nhân dân Dân chủ - đối lập lại với Hiến chương Giáo dục Quốc gia của chế độ yushin - theo đó PCRD tuyên bố rằng “hành động theo lương tri... chúng tôi hy vọng hy sinh bản thân cho phong trào nhân dân cả nước để thiết lập nền dân chủ.” Trong một khẳng định riêng nói về minjung, PCRD kêu gọi một “phong trào để bao vây [và cô lập] chế độ độc tài” với “tinh thần không khoan nhượng và bất tuân”. Lãnh đạo PCRD có vẻ như đang xem xét cơ hội phát động một phong trào bất tuân dân sự.

Liên minh nhân dân, 1975-1979

Đến tháng 3 năm 1975, tình trạng bất mãn đã trở nên phổ biến đến nỗi mỗi cuộc biểu tình thu hút hàng ngàn sinh viên. Lần đầu tiên kể từ khi ban hành hiến pháp yushin, các cuộc biểu tình tập hợp được số lượng lớn những sinh viên không theo chủ nghĩa tích cực. Để ngăn cản sự leo thang hơn nữa tình trạng mâu thuẫn chính trị, chế độ yushin quay trở lại chiến lược đàn áp chính trị và ban hành Sắc lệnh Khẩn cấp số 7 ngày 8 tháng 4 năm 1975. Với sắc lệnh này, quân đội cử binh lính đến chiếm khuôn viên Đại học Hàn Quốc. Chỉ trong tháng 4, tổng cộng 25 đại học đã buộc phải hủy tiết. Một sinh viên Đại học Quốc gia Seoul, Kim Sang-jin, đã tự mổ bụng mình trong cuộc tụ tập biểu tình sau khi đọc “Tuyên bố lương tri” và “Lá thư mở gửi đến tổng thống”, đồng thời la lớn: “Làm sao chúng ta có thể chịu đựng được chế độ độc tài này hơn nữa?... Nền dân chủ đang lớn lên trong máu. Các đồng chí! Các anh có đủ dũng cảm hy sinh cuộc sống của mình để những chiếc lá của cây dân chủ có thể muôn đời nảy nở trên mảnh đất này không?”

Căng thẳng gia tăng cho đến khi sự kiện Giải phóng Miến Nam Việt Nam diễn ra vào tháng 4 năm 1975, mang lại cho chế độ yushin thêm không gian để thở. Tận dụng tâm lý lo ngại về khủng hoảng an ninh do sự kiểm soát của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương, Park theo đuổi chiến lược kép, một mặt thiết kế các cuộc tụ tập chống chủ nghĩa cộng sản để kêu gọi phe bảo thủ ủng hộ ý thức hệ cho chế độ của ông, mặt khác gia tăng mức độ đàn áp để cách ly phe đối lập với các sinh viên không theo chủ nghĩ tích cực. Phần hai của chiến lược dẫn đến việc ban hành Sắc lệnh Khẩn cấp số 9 Bảo toàn An ninh Quốc gia và Trật tự Công cộng vào ngày 14 tháng 5 năm 1975. Sắc lệnh này nghiêm cấm bất kỳ ai tham gia vào các hoạt động “chối bỏ, chống đối, bóp méo, xuyên tạc, thay đổi hoặc xóa bỏ hiến pháp yushin”, cũng như cấm “khởi động một bản kiến nghị thu thập chữ ký ủng hộ việc thay đổi hiến pháp”. Nghị viện Quốc gia, vốn bị chi phối bởi DRP của Park cùng các thành viên Yujeonghoe mà nhờ có vị thế đa số cho phép ông chỉ định bổ sung, đã hưởng ứng nghị quyết riêng của nghị viện nhằm “đẩy lùi chế độ bù nhìn Triều Tiên và bảo vệ nền dân chủ tự do Hàn Quốc”. Bộ Quốc phòng (MND) tái tổ chức Đoàn Phòng thủ Sinh viên (SDC) khi phải đối mặt với sự chống đối dữ dội của sinh viên với mục tiêu kích động một nỗi sợ Đỏ khác ở các cơ sở đại học nhằm cách ly các nhà hoạt động sinh viên khỏi bộ phận sinh viên đông đảo.

Sắc lệnh Khẩn cấp số 9 được ban hành đã đưa mức độ trấn áp lên tầm cao mới và chỉ cho người dân Hàn hai lựa chọn: chấp nhận chế độ yushin hoặc tham gia vào một cuộc đấu tranh tái thiết dân chủ. Lực lượng chaeya chọn hướng thứ hai, bác bỏ sắc lệnh và cho là không chính đáng đồng thời phát đi Tuyên bố Cứu rỗi Dân chủ Quốc gia ở Nhà thờ Myeongdong vào ngày 1 tháng 3 năm 1976, ủng hộ tái thiết dân chủ, cải cách hệ thống kinh tế và thống nhất trong hòa bình, bên cạnh sự từ chức của Park. Lần đầu tiên chaeya xuất hiện công khai để ủng hộ việc loại Park khỏi sân chơi quyền lực. Trước đó, các yêu cầu của họ chỉ gồm việc giải tán chế độ yushin. Và bằng cách đưa sự thống nhất trong hòa bình vào chương trình nghị sự của mình cùng với dân chủ và cải cách kinh tế, các tác giả của Tuyên bố Cứu rỗi Dân chủ Quốc gia công nhận mối liên kết gắn bó giữa các vấn đề phân chia quốc gia và chính trị trong nước. Như nỗi sợ Đỏ mà Park thường cảm thấy đã chỉ ra rằng, sự phân chia Bán đảo Triều Tiên thành hai chế độ thù địch đã ngăn cản sự phát triển dân chủ Hàn Quốc bằng cách cho phép Park trừng trị các phong trào chống đối với lý do an ninh quốc gia. Các nhà hoạt động chaeya được các tư tưởng và ý thức hệ chiến tranh lạnh kích thích trở nên tin rằng dân chủ Hàn Quốc chỉ có thể phát triển nếu việc thống nhất quốc gia tiến triển đồng thời với - nếu không phải là được dẫn dắt bởi — dân chủ hóa. Tuyên bố ngày 1 tháng 3 năm 1976 chủ yếu là công sức của Mun Ik-hwan, người từng là một mục sư Tin lành ôn hòa và trở nên cấp tiến vì tức giận về cái chết được cho là tai nạn của Chang Chun-ha, một lãnh đạo của giới trí thức Sasanggye.

Tuyên bố này dẫn đến việc thành lập một liên minh gắn bó hơn giữa NDP bảo thủ và chaeya cấp tiến. Hai bên nhận ra rằng họ không thể chống lại Sắc lệnh Khẩn cấp số 9 một cách hiệu quả nếu không dùng chung những nguồn lực chính trị hiếm hoi của nhau. Hạt mầm cho liên minh đã được gieo khi chế độ yushin bắt đầu trừng trị chaeya quyết liệt hơn sau “Tuyên bố Myeongdong”. Đảng chính trị đối lập lúc bấy giờ rõ ràng đã đứng ra ủng hộ chaeya, đòi trả tự do các lãnh đạo bị cầm tù của lực lượng này. Sự phản kháng về mặt chính trị được dẫn dắt bởi bộ phận cấp tiến của Cộng đồng Cơ đốc giáo, những người tổ chức Ủy ban Công lý và Hòa bình rồi khẳng định rằng Park không còn nắm giữ bất kỳ quyền chi phối tinh thần đạo đức nào trong nước. Tuy nhiên, chế độ yushin không dừng tay. Ngược lại, chính quyền truy lùng và bỏ tù lực lượng lãnh đạo của chaeya . [177] Các lãnh đạo chaeya cũng từ chối thỏa hiệp. Trong phiên tòa của mình, Yi Tae-young tiên đoán về sự hình thành của “cuộc chiến giữa nhân dân và chế độ [của Park], và một cuộc đấu lớn giữa nhánh tư pháp và cư dân thành phố.” Khi các công tố viên nhà nước khiêu khích những người bất đồng chính kiến chaeya vì gây rủi ro về “sự sụp đổ của toàn bộ đất nước trong cuộc chiến vì tự do và dân chủ”, các bị cáo chaeya tranh luận rằng chính chế độ yushin, chứ không phải chaeya, đã gây nguy hiểm đến an ninh quốc gia bằng cách gây ra tình trạng bất ổn chính trị và làm mất đi sự thống nhất thông qua sự cai trị độc tài chia rẽ. Hơn nữa, để xoa dịu nỗi sợ hãi của công chúng về tình trạng bất ổn chính trị do Triều Tiên khiêu khích, các lãnh đạo chaeya tuyên bố rằng họ trung thành với tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản.

Sự cực đoan hóa xã hội tiếp diễn với tộc độ nhanh chóng dưới ảnh hưởng của Sắc lệnh Khẩn cấp số 9. Trong một cuộc tấn công ồ ạt vào giới trí thức, nhiều nhà tư tưởng cấp tiến hàng đầu đất nước đã bị đuổi khỏi các trường đại học, bao gồm Yi Young-hui [178] và Jeong Chang-ryeol ở Đại học Hanyang; Han Wan-sang [179] và Baek Nak-cheong ở Đại học Quốc gia Seoul; Kim Tong-gil, Seong Rae-un, và Seo Nam-dong ở Đại học Yonsei; Kim Yong-jun and Yi Mun-young ở Đại học Hàn Quốc; An Byeong-mu ở Đại học Hanshin; và Yi U-jeong từ Đại học Nữ Seoul. Để chống lại Park, giới bất đồng chính kiến đã tổ chức Hội đồng Giáo sư Bị sa thải Bất công để tiếp tục cuộc chiến đấu. Trái với ý định chia cắt mối liên kết giữa những học giả này với giới trí thức rộng hơn và toàn thể giới sinh viên của chế độ yushin, việc sa thải họ gây ra tác dụng trái ngược, biến họ thành những người hy sinh cho nhân quyền ở các trường đại học và tăng cường quyền lực đạo đức của họ trước công chúng. Trên thực tế, việc trục xuất họ khỏi trường càng thúc đẩy sự tham gia tích cực của các giáo sư trong các hoạt động chaeya, cho họ thêm thời gian, tính chính danh đạo đức và mạng lưới chính trị cần thiết để tổ chức các phong trào phản kháng. Trong quá trình đó, họ truyền “ý thức minjung cho các nhà hoạt động sinh viên từ các trường đại học hàng đầu của Hàn Quốc.

Các nhóm nhà thờ Cơ đốc giáo cũng gia tăng mức độ phản kháng của họ, thành lập Hội đồng Phong trào Nhân quyền tháng 12 năm 1977, tổ chức đầu tiên trong nhiều liên minh tổ chức phi chính phủ sẽ xuất hiện để bảo vệ quyền con người trong những năm 1970. Hội Linh mục Công giáo Quốc gia Hiện thực hóa Công lý cũng đã yêu cầu Park vô hiệu hóa các sắc lệnh khẩn cấp mà nhóm này cho là “xâm phạm quy luật tự nhiên và lương tri con người”, kể từ vụ bỏ tù Giám mục Chi Hak-sun tháng 7 năm 1974. Các áp lực chaeya gia tăng lên chế độ yushin thậm chí còn thuyết phục cả Yi Cheol-sung, lãnh đạo của bộ phận lúc bấy giờ là phái chính thống của những người ôn hòa trong NDP, công khai yêu cầu hủy Sắc lệnh Khẩn cấp số 9, trả tự do cho tù nhân chính trị và thành lập một hội đồng hiến pháp độc lập để đánh giá lại chế độ yushin. Yi Cheol-sung từng là người ủng hộ “Cải cách thông qua Tham gia” vì ông lo sợ hiệu ứng domino từ sự sụp đổ của Sài Gòn. Với khả năng kiểm soát yếu đi của Yi Cheol-sung ở NDP và sự thâm nhập sâu của chaeya vào xã hội, chế độ yushin phải đối mặt với khó khăn khủng khiếp khi thuyết phục phiên tòa năm 1976 ra quyết định về Tuyên bố Cứu rỗi Dân chủ Quốc gia rằng “Trong khi hiến pháp đảm bảo quyền bất tuân thủ là một quyền tự nhiên, [quyền bất tuân thủ dân sự này] không thể chống lại các biện pháp khẩn cấp của nhà nước.”

Ngày 4 tháng 3 cùng năm, 12 tổ chức chaeya kết hợp với nhau dưới sự bảo trợ của một Liên minh Quốc gia vì Dân chủ và Thống nhất Quốc gia (NCDNU) mới thành lập. Thành phần của liên minh này cho thấy lực lượng chaeya đã đi xa đến thế nào trong việc phát triển tổ chức. Trái với chaeya của đầu những năm 1970 chỉ sở hữu một vị thế mang tính biểu tượng về phản kháng mà đại diện là Jeon Tae-il, chaeya của cuối những năm 1970 được dẫn dắt bởi một nhóm các nhân vật công chúng được tôn sùng rộng rãi, những người đã tạo được quyền lực đạo đức khi chống cự lại cuộc đàn áp hà khắc của nhà nước: Kim Chi-ha (cộng đồng văn sĩ), Yi Young-hui (giới học giả), Kim Dae-jung (chính trị), Chi Hak-sun (Giáo hội Công giáo), Mun Ik-hwan và Park Hyeong-gyu (giáo hội Tin lành), và Song Keon-ho (báo chí). Trái với Jeon Tae-il đến từ tầng lớp dưới của xã hội, các lãnh đạo chaeya cuối những năm 1970 là một phần của tầng lớp trung lưu đang phát triển của Hàn Quốc.

Tuy nhiên, không phải chaeya đã phá đổ chế độ yushin. Tình trạng hỗn loạn chính trị ở vùng Busan-Masan cuối cùng hiển nhiên đã gây ra sự sụp đổ chế độ năm 1979, với nguyên do trực tiếp nằm ở cơn thịnh nộ của cư dân Busan-Masan khi Park lệnh cho cấp phó của ông ở DRP, KCIA và PSS trục xuất đứa con được ủng hộ của địa phương họ, lãnh đạo NDP Kim Young-sam, ra khỏi Nghị viện Quốc gia vì sự can thiệp của ông này đã ủng hộ công nhân trong một cuộc xung đột với người lao động ở vùng hẻo lánh và vì buổi phỏng vấn của ông với tờ New York Times thúc giục Hoa Kỳ buộc Park phải dân chủ hóa. Đây là lần đầu tiên Nghị viện Quốc gia phải trục xuất một thành viên của mình trong lịch sử chính trị Hàn Quốc. Phản đối điều này, Hoa Kỳ đã triệu hồi Đại sứ William H. Gleystecn, Jr. trở lại Washington. Cuộc đối đầu giữa yushin và liên minh lỏng lẻo giữa NDP và các nhà hoạt động chaeya bất ngờ kết thúc khi giám đốc KCIA Kim Chae-gyu sát hại Park ngày 26 tháng 10 năm 1979 trong cuộc họp với Park và Giám đốc PSS Cha Ji-cheol về cách thức giải quyết cuộc nổi dậy nhằm ủng hộ Kim Young-Sam của quần chúng ở Busan và Masan. Nói cách khác, nhân vật chính trong cuộc tranh chấp chính trị tháng 10 năm 1979 là lực lượng an ninh của Park và lực lượng nghị viện của NDP đối lập - không phải chaeya. Hơn nữa, vấn đề kích động người dân Busan-Masan không phải là chương trình nghị sự cấp tiến “mới” về thống nhất quốc gia và công bằng về phân phối của chaeya, mà là truyền thống cạnh tranh mang tính địa phương của các đảng phái chính trị (xem chương 5 và 6).

Tầm quan trọng của sự chống đối của NDP và mâu thuẫn đảng phái trong việc biến sự phân cực hóa ý thức hệ do chaeya xúi giục thành thời khắc thay đổi chế độ nhấn mạnh vào vị trí trung tâm của đảng phái chính trị kể cả trong thời độc tài. Trái với chaeya, lực lượng thách thức Park ngay từ buổi đầu ông quyết định khởi động yushin, NDP đi lắt léo từ chiến lược kép đối thoại và phản kháng của Kim Young-sam “ôn hòa” (1974-1976), rồi đến chiến lược cải cách thông qua sự tham gia “mang tính thỏa hiệp” của Yo Cheol-sung (1976-1979), sang chiến lược đối đầu thay đổi chế độ và khôi phục dân chủ của Kim Young-sam “không khoan nhượng” (1979). NDP cuối cùng quyết định thách thức Park vào năm 1979 vì, với sự kết thúc của các cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp, sự biến đổi của Nghị viện Quốc gia thành một cơ quan đóng dấu thông qua việc Park chỉ định một phần ba số thành viên của nghị viện từ nhóm Yujeonghoe do ông tuyển lựa, và việc ban hành các sắc lệnh khẩn tiếp theo đó, đảng này đã dần bị cấm nắm giữ quyền lực theo hiến pháp. NDP cuối cùng xác định mục tiêu chính trị cao nhất của mình là lật đổ chế độ yushin. Với sự tê liệt của nhánh hành pháp, NDP xuống đường để trực tiếp kêu gọi công chúng và chiến đấu với nhà nước trong một cuộc đối đầu bằng-mọi-giá. Xung đột đảng phái cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của chế độ yushin.

Chính trị của Hàn Quốc hiện đại được đánh dấu bằng cuộc đụng độ dai dẳng giữa hai nhân vật chính: nhà nước cứng rắn và xã hội hay tranh cãi. Trong đa số thời kỳ sau chiến tranh, Hàn Quốc trải qua “những thời khắc điên loạn” (mượn lời của Aristide Zolberg ám chỉ lịch sử Pháp) đã quét qua xã hội theo chu kỳ để thay đổi bối cảnh chính trị theo những hướng không thể ngờ tới. Đất nước lung lay giữa hai thái cực gồm chế độ độc tài ổn định và sự bùng nổ chống đối chính trị. Chính trị Hàn Quốc hiện đại là một trận chiến, nơi mà nhà nước cứng rắn, bị ngăn cách khỏi xã hội, đụng độ với lực lượng chaeya yếu kém về mặt tổ chức nhưng bền bỉ về mặt tinh thần và hay tranh cãi trong vòng tuần hoàn của sự đàn áp và phản kháng tưởng như vô tận.

Chaeya của giai đoạn 1964-1979 là một phong trào quần chúng, họ xem sứ mệnh của mình là đưa ra những chỉ trích về đạo đức chống lại chế độ độc tài. “Yếu tố” đã tạo ra và tăng tốc biến lực lượng này thành một lực lượng trọng yếu vào cuối những năm 1970 trớ trêu thay lại chính là Park. Mọi động lực cho sự tăng trưởng của chaeya đến từ các lựa chọn chính trị của Park: Ký hiệp ước bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản năm 1964, sửa đổi hiến pháp để giới thiệu nhiệm kỳ tổng thống thứ ba vào năm 1969, ban hành hiến pháp yushin năm 1972, và tuyên bố chín sắc lệnh khẩn giai đoạn 1973-1975. Lực lượng chaeya biểu tình trong suốt những năm 1960, nhưng những nỗ lực đó không tạo ra được kết quả ấn tượng như thời yushin, vì trong thập niên trước, tính thể chế của bầu cử cạnh tranh đã tạo ra nơi bộc lộ bất mãn chính trị. Ngược lại, khi Park ban hành hiến pháp yushin năm 1972, ông đóng tất cả các con đường đối thoại, đàm phán và thỏa hiệp chính trị mở và cạnh tranh, từ đó khiến không chỉ công chúng trông chờ ở chaeya trong việc nói lên các tư tưởng và lợi ích bị trấn áp của xã hội, mà cả NDP cũng tham gia cùng chaeya vì sự tồn tại chính trị của đảng này.

Chính trị sau năm 1972 trở thành một cuộc chơi một mất một còn vì hai khối quyền lực của Hàn Quốc đi theo những thế giới quan đối lập nhau, loại bỏ bất kỳ khả năng đạt được sự đồng thuận nào. Khối đối lập gồm các nhà hoạt động chaeya và chính trị gia NDP công khai ủng hộ tự do chính trị, công bằng xã hội, quyền con người, trái với liên minh DRP cầm quyền đặt an ninh quốc gia và tăng trưởng kinh tế lên trên các lý tưởng dân chủ. Khi cả hai bước vào con đường đối đầu nhau với Kim Young-sam nắm quyền lãnh đạo NDP năm 1979, hai bên khó có thể dừng lại được vì những hậu quả thảm khốc có thể lần lượt xảy ra đối với sự thống nhất nội bộ của mỗi khối quyền lực. Động lực ngày càng tăng cao đã được tích hợp vào hoạt động chính trị đối đầu cũng khó mà dừng được. Sự đàn áp của chế độ yushin khiến chaeya càng tranh cãi nhiều hơn. Sự phản kháng của chaeya, đến lượt nó, lại càng khiến yushin phải đàn áp hơn nữa. Vòng tuần hoàn ngày càng tăng giữa đàn áp và phản kháng thúc đẩy lẫn nhau, tiếp diễn cho đến khi liên minh cầm quyền chỉ còn lại lựa chọn kém hấp dẫn là hoặc phải đàn áp thô bạo những người biểu tình quần chúng hoặc phải đầu hàng phe đối lập đến tháng 10 năm 1979. Chế độ yushin bị tê liệt khi phải lựa chọn nước cờ chính trị tiếp theo cho đến khi giám đốc KCIA Kim Chae-gyu mất kiểm soát vì áp lực và sát hại người thầy cả đời của mình, Park, “không phải vì [ông] không yêu Caesar, mà vì [ông] yêu Rome hơn,” như Kim nói trích lời Marcus Junius Brutus [180] trong phiên tòa xử tội ông ngày 18 tháng 12 năm 1979.

So với chế độ chính trị của Lý Thừa Vãn, có ít nhất 3 nhân tố có lợi cho chaeya. Thứ nhất, Park đàn áp hơn Lý Thừa Vãn rất nhiều, khiến chaeya - chứ không phải Nghị viện Quốc gia hay các đảng phái chính trị — trở nên quan trọng hơn với vai trò là một tác nhân dân chủ phản kháng. Thứ hai, lộ trình hiện đại hóa của Park mang lại không chỉ sự tăng trưởng kinh tế mà cả cảm giác tước đoạt tương đối ngày càng xấu đi trong xã hội. Sự phân hóa kinh tế đi kèm tạo ra một tầng lớp lao động công nghiệp khổng lồ có tiềm năng chống lại giới cầm quyền chính trị trong các cuộc đấu tranh về phân phối. Thứ ba, việc tiến chậm ra khỏi cú sốc của Chiến tranh Triều Tiên và nhanh chóng hấp thu các ý tưởng về dân chủ tự do gây tranh cãi dưới sự đào tạo của Hoa Kỳ, Cộng đồng Cơ đốc giáo và giới trí thức bắt đầu tham gia vào chủ nghĩ tích cực chính trị. Tuy nhiên, nhiều khía cạnh của 3 nhân tố này không hoàn toàn bộc lộ được tiềm năng phản hệ thống đầy đủ trong chế độ chính trị của Park, bất chấp quá trình trở nên cấp tiến liên tục của các nhà hoạt động chaeya, vì công nhân vẫn dưới quyền kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Chaeya của giai đoạn 1964-1979 vận động sự giúp đỡ của người lao động nhưng sự tham gia của công nhân không rộng khắp, khiến chaeya vẫn là một phong trào chống đối dựa vào trí thức không có nhiều liên kết và rộng khắp đến các lực lượng quần chúng kể cả trong cuộc nổi loạn của quần chúng tháng 10 năm 1979.

Chỉ sau cái chết của Park ngày 26 tháng 10 năm 1979, chaeya. mới biến đổi thành các nhóm có những liên kết phát triển mạnh với các phong trào chống đối của sinh viên, các cộng đồng tôn giáo và công nhân công nghiệp. Tuy nhiên, sự sụp đổ đột ngột của chế độ yushin trước sự huy động toàn bộ các lực lượng quần chúng của liên minh các nhà hoạt động chaeya và chính trị gia NDP biến những năm 1980 trở thành một giai đoạn quá độ đầy khổ đau sang chế độ dân chủ. Một mặt, hiến pháp yushin mất hiệu lực, nhưng bộ máy kiểm soát chính trị và xã hội vẫn tồn tại sau cái chết của Park. Di sản thể chế của Park khiến bè phái quân đội của Chun Doo-hwan có thể nắm quyền chính trị bằng cách phát động đảo chính ngày 12 tháng 12 năm 1979, và mở rộng thiết quân luật ra khắp đất nước ngày 17 tháng 5 năm 1980. Mặt khác, chaeya, quá yếu để có thể ngăn chặn cuộc tiếm quyền của Chun Doo-hwan, nhưng lại quá mạnh để có thể bị lực lượng đảo chính bịt miệng. Sự phân bổ quyền lực giữa quân đội và chaeya hình thành trong giai đoạn tiếp nối “chế độ của Park mà không có Park” trong 8 năm nữa, trong khi cuộc đối đầu chaeya -nhà nước vẫn tiếp diễn.

« Lùi
Tiến »