Kỷ Nguyên Park Chung Hee Và Quá Trình Phát Triển Thần Kỳ Của Hàn Quốc

Lượt đọc: 809 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
nguồn gốc chế độ yushin:
machiavelli lộ diện
im hyug baeg

Khi xét kỹ hành động [của các quân vương mới] và cuộc sống của họ, chúng ta sẽ thấy rằng vận may không ban cho họ gì cả ngoại trừ một thời cơ; thời cơ đó đem đến chất liệu để họ chế tác ra bất cứ hình dạng nào mà họ chọn. Không có thời cơ, tài năng [phẩm hạnh] [115] từ trí tuệ của họ sẽ trở nên vô dụng, và nếu không có tài năng [phẩm hạnh] đó thì cơ hội sẽ bị bỏ lỡ.

Niccolò Machiavelli, Quân Vương

Ngày 17 tháng 10 năm 1972, Park Chung Hee xoay ngược đồng hồ trong tiến trình hiến pháp của Hàn Quốc khi thay thế hiến pháp hiện hành bằng một hiến pháp mới với lý do cần có một “cuộc cải cách khôi phục” (yushin). Park lập luận, quyết định này cho phép Hàn Quốc điều chỉnh linh động hơn trước trật tự an ninh quốc tế đang thay đổi nhanh chóng từ chiến tranh lạnh sang bối cảnh hòa giải đang dần xuất hiện; để cải thiện căng thẳng quân sự đang gia tăng trên Bán đảo do những khiêu khích quân sự của Triều Tiên cuối những năm 1960; nếu có thể, để chuẩn bị nền tảng cho sự thống nhất hòa bình hai miền Triều Tiên; để thực hiện nhiệm vụ tăng cường công nghiệp hóa nhằm tiếp tục quá trình siêu phát triển; và kỳ lạ là, để thiết lập một “nền dân chủ theo kiểu Hàn Quốc” hiệu quả hơn và có thể giúp đất nước thực hiện các mục tiêu an ninh quân sự, hòa giải hai miền Triều Tiên và hiện đại hóa kinh tế. Tuy nhiên, bất chấp lời hứa “kiên quyết nuôi dưỡng và phát triển mạnh mẽ, hiệu quả một nền dân chủ tự do,” hiến pháp yushin lại áp đặt một chế độ độc tài không che đậy. Bản hiến pháp mới này ban cho Park quyền cai trị không giới hạn vì không có hệ thống kiểm soát và cân bằng từ nhánh lập pháp và tư pháp. Tương tự, chế độ mới này đã dành cho Park vị trí tổng thống trọn đời. Các chiến thắng tranh cử của ông giờ đây đã được đảm bảo bằng cuộc bỏ phiếu chấp thuận mang tính hình thức bởi Đại hội Thống nhất Quốc gia (NCU hay Yujeonghoe ) được lựa chọn từ trước. Nghị viện Quốc gia hay tranh cãi cũng bị làm cho suy yếu từ bên trong khi các thành viên NCU hiện giờ chiếm đến một phần ba số ghế trong Nghị viện Quốc gia. Để thúc đẩy chế độ quân chủ của mình, Park trông cậy vào những trung tâm quyền lực cưỡng chế đã được thử thách qua thời gian, gồm Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (KCIA), Tổng cục An ninh Quân đội và Văn phòng An ninh Tổng thống (PSS). Không còn chấp nhận các rủi ro trong việc nắm giữ quyền lực, Park quyết tâm biến Hàn Quốc thành một nhà nước quân đội.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, chế độ yushin vẫn giữ được các đặc tính kỹ trị của Đệ tam Cộng hòa (1963-1972). Cuộc cải cách khôi phục không mang tính “độc tài hồi giáo ”. [116] Thay vào đó, nó là một hình thức cai trị độc tài hiện đại. Ké cả từ thời Đệ tam Cộng hòa, đa số hoạt động “chính trị” đã được thay thế bằng quản trị, với các cựu sĩ quan quân đội và các nhà kỹ trị quan liêu nắm nhiều vai trò và chức năng đại diện, trung gian cho các nhóm lợi ích từng được các nhà lập pháp vào giai đoạn trước 1961 nắm giữ, tuy nhiên khuynh hướng tiến đến quan liêu hóa chính trị này cũng gia tăng suốt thời yushin. Đối với những nhà kỹ trị với sứ mệnh tự tuyên bố là theo đuổi quá trình công nghiệp hóa theo định hướng nhà nước và tăng cường quân đội, mối quan tâm lớn nhất là tính hiệu quả và kết quả. Chế độ yushin chấm dứt khả năng dân chủ hóa của Đệ tam Cộng hòa, tuy nhiên bên cạnh đó chế độ này cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự biến đổi của đất nước Hàn Quốc để trở thành một mô hình nhà nước phát triển ở Đông Á.

Rõ ràng yushin là một nhà nước quân đội. Tuy nhiên việc tiếp nối một Đệ tam Cộng hòa dân chủ về mặt hình thức và thường xuyên độc tài tuy cũng có kỹ trị đã biến chế độ này thành một vấn đề gây tranh cãi mang tính lịch sử và lý thuyết. Trọng tâm của vấn đề này là yushin có phải là sự thay đổi chế độ, hay chỉ đơn thuần là một sự thay đổi trong chế độ. Tùy vào cách nhìn nhận yushin và mối quan hệ của nó với chế độ trước, Đệ tam Cộng hòa cũng có một vị thế khác đi trong lịch sử chính trị Hàn Quốc, chế độ này hoặc chỉ là một thời kỳ dân chủ ngắn bị Park cắt ngang đột ngột, hoặc sẽ là một giai đoạn độc tài mềm có họ hàng với chế độ độc tài trước năm 1960 của Lý Thừa Vãn và yushin sau 1972. Xen kẽ phức tạp với câu hỏi về tính tiếp nối lịch sử này là vấn đề về động cơ. Những người bảo thủ trung thành với Park nghiêm túc thảo luận về cuộc khôi phục, miêu tả ông như là một “nhà cách mạng Minh Trị” thực hiện yushin để bắt kịp kinh tế với phương Tây, hiện đại hóa các lực lượng vũ trang để phòng vệ Triều Tiên và đảm bảo khả năng sống sót của đất nước trong thời kỳ xoa dịu đầy hiểm họa. Park được họ hình dung là một siêu anh hùng theo kiếu Nietzsche đảm đương nhiệm vụ bất khả thi là biến đổi Hàn Quốc thành một Nhật Bản thứ hai trong cuộc đời mình, dù phải thông qua một lộ trình độc tài.

Ngược với những người ủng hộ ông vốn theo thuyết ý chí [117] với quan điểm cho rằng Park chọn con đường yushin vì ý chí quyền lực của riêng ông và vì tham vọng để lại dấu ấn vĩnh viễn về một người hiện đại hóa dân tộc trong lịch sử chính trị Hàn Quốc, bên chỉ trích Park thường có quan điểm theo chủ nghĩa cấu trúc. Những người ủng hộ thuyết quyết định cấu trúc chia thành hai nhóm. Một số đánh giá cao các lực lượng kinh tế như là động lực chính yếu để thay đổi chính trị, họ lập luận rằng theo cấu trúc Park phải áp dụng chế độ yushin để vượt qua các thách thức kinh tế đặc thù trong quá trình công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóa chất (HCI). Khi đối mặt với tình trạng thiếu hụt trầm trọng vốn và công nghệ cần để bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo của HCI, Park được cho là đã ban hành yushin để huy động và tích lũy nguồn lực thông qua quyền lực nhà nước được tập trung và tính lũy. Theo cách này, yushin được xem như là một thể chế chính trị có thể đạt được những gì mà thị trường không thể làm.

Những người khác xác định động lực cấu trúc chính mang ý nghĩa chính trị xã hội nhiều hơn là kinh tế, họ lập luận rằng Park chọn yushin để dập tắt các căng thẳng xã hội vốn có trong chiến lược siêu tăng trưởng thẩm thấu và để trấn áp tình trạng bất mãn chính trị bắt nguồn từ chiến lược cai trị dựa trên chủ nghĩa địa phương Gyeongsang, chính trị vị tiền bạc và cưỡng chế có chọn lọc. Dù biến thể về kinh tế hay chính trị xã hội, những người theo thuyết cấu trúc đều giống nhau ở cách họ nhìn nhận việc Park biện minh cho yushin dựa trên yêu cầu cần phải ngăn cản các thách thức an ninh bên ngoài và rút ngắn các giai đoạn công nghiệp hóa trong thời gian một thế hệ chỉ như một cái cớ để kéo dài thời gian cầm quyền chính trị của ông khi đối đầu với các cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị xã hội.

Do đó, ẩn dưới những cuộc tranh luận xoay quanh các câu hỏi về tính tiếp nối hay thay đổi chế độ, các động lực chính trị và các lực cấu trúc là vấn đề về tác nhân luận và cấu trúc luận. Những người theo thuyết ý chí đánh giá cao vai trò chủ thể của Park, tập trung vào tầm nhìn, chiến lược và tài năng lãnh đạo của ông để giải thích vì sao ông lại chọn con đường yushin khó khăn về chính trị và kinh tế vào năm 1972, ngược lại những người theo cấu trúc luận cho rằng Park là tù nhân của các cấu trúc, ông bị dẫn dắt đến việc ban hành yushin vì những mâu thuẫn chính trị, kinh tế và xã hội từ chiến lược hiện đại hóa siêu tăng trưởng và chế độ độc tài trước đó của ông. Mặc dù có những khác biệt rất lớn trong cách thức mà phái ý chí và phái cấu trúc mô tả mối quan hệ giữa tác nhân và cấu trúc, giữa các thể chế chính trị và sự phát triển kinh tế, và giữa các ý định với chiến lược, họ đều đồng ý rằng yushin là một điển hình rõ nét của tính đứt quãng lịch sử ngăn cách giai đoạn sau 1972 với giai đoạn trước 1972 về chế độ chính trị, thời kỳ phát triển và chiến lược kinh tế.

Chương 8 đưa ra một góc nhìn thứ ba. Đầu tiên, chương này cho rằng chặng đường đến chế độ yushin cần phải được hiểu theo kiểu tiến hóa chứ không phải đứt quãng. Mầm mống của việc Park chuyển đổi sang chế độ cầm quyền độc tài và HCI - hai đặc điểm quan trọng của yushin - đã hình thành khi Park nỗ lực thay đổi hiến pháp để cho phép mình nắm quyền tổng thống nhiệm kỳ thứ ba vào năm 1969 và đưa Oh Won-chul từ Bộ Thương mại và Công nghiệp (MCI) vào Nhà Xanh cho vị trí thư ký cấp cao mới được đưa ra để đảm nhiệm các sự vụ công nghiệp vào năm 1971 nhằm phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất làm cơ sở hạ tầng cho an ninh quân sự. Khi hạt giống này được gieo xuống, Park giúp các lực của chế độ độc tài và HCI nảy mầm bằng cách loại bỏ những trở ngại chính trị và kinh tế, bao gồm các thủ lĩnh đảng và quân sự cấp hai của thế hệ tiếp theo trong liên minh cầm quyền cùng tình trạng yếu kém tài chính của các chaebol, thông qua những cuộc thanh trừng và các biện pháp khẩn cấp vào năm 1971 và 1972. Nói cách khác, Park đã chuyển dịch đến chế độ yushin trong một giai đoạn ba năm. Việc khởi động yushin vào tháng 10 năm 1972, tiếp nối bởi tuyên bố về HCI vào tháng 1 năm 1973, là kết quả của quá trình chuẩn bị ba năm dài cho chế độ cầm quyền trọn đời chứ không phải là sự khởi đầu cho kế hoạch xây dựng nhà nước quân đội với sứ mệnh quyết liệt theo đuổi HCI.

Thứ hai, Chương 8 công nhận rằng việc ban hành yushin mang lại một nền chính trị mới về chất khi biến các cuộc bầu cử tổng thống thật sự trở thành một quá trình mang tính hình thức để kéo dài chế độ chính trị của Park Chung Hee, tuy nhiên bên cạnh đó chương này cũng lập lại những phát hiện của Chương 5, 6, và 7 rằng việc ban hành sắc lệnh bầu cử tổng thống gián tiếp đã che đậy việc tiếp tục tập trung hóa cực độ quyền lực vào vị trí tổng thống trong suốt kỷ nguyên của Park. Cơ chế kiểm soát vững mạnh đã sẵn có trong Đệ tam Cộng hòa, biến “nền dân chủ” thành một “nền dân chủ quản trị” được dẫn dắt một cách quan liêu, trích theo lời Park. Nhiều chính sách chính trị và kinh tế đòi hỏi phải đưa Hàn Quốc vào một quỹ đạo siêu tăng trưởng suốt những năm 1960, từ việc bình thường hóa mối quan hệ với Nhật Bản đầy rủi ro, việc gửi quân chiến đấu đến miền Nam Việt Nam rất dễ gây tranh cãi, cho đến việc tiến hành “hệ thống biên lãi suất đảo ngược” cực kỳ quyết liệt, đều được sử dụng mà không có bất cứ hoạt động kiểm soát và cân bằng hiệu quả nào từ phía lập pháp. Hệ thống tổng thống toàn quyền không phải là kết quả của yushin. Ngược lại, hệ thống này vốn đã có sẵn trong suốt Đệ tam Cộng hòa và được tăng cường dần thông qua các hoạt động chính trị thanh trừng và quyền cai-trị-bằng-tình-trạng-khẩn-cấp suốt giai đoạn 1969-1972. Trong điều kiện tốt nhất, Đệ tam Cộng hòa là một chủ nghĩa độc tài mềm với tiềm năng trở thành dân chủ tự do thông qua các cuộc bầu cử tổng thống cạnh tranh. Tầm quan trọng của yushin nằm ở việc loại bỏ tiềm năng này chứ không phải ở việc hủy hoại dân chủ.

Thứ ba, khi phân tích quá trình chuẩn bị song song từng bước một của Park cho yushin thông qua các cuộc thanh trừng chính trị và các biện pháp khẩn cấp về kinh tế, Chương 8 hy vọng tạo ra lập trường bản thể luận bình đẳng giữa tác nhân và các cấu trúc. Đệ tam Cộng hòa lâm vào những áp lực nặng nề ở các mặt trận tài chính, quân sự-an ninh và xã hội kể từ cuối những năm 1960, một phần vì các căng thẳng và mâu thuẫn vốn có từ chiến lược hiện đại hóa thẩm thấu theo kiểu phát triển bằng mọi giá và một phần là kết quả bất ngờ của cuộc suy thoái toàn cầu cùng giai đoạn xoa dịu trong khu vực. Tuy nhiên, ngược lại với những mô tả mang tính cấu trúc về ba áp lực này như những cuộc khủng hoảng đã hạn chế khả năng thao túng của Park và có lẽ xác định luôn lựa chọn của ông, Chương 8 lập luận rằng ý nghĩa chính trị của những áp lực này có kết thúc mở, bị định hình đáng kể bởi khả năng Park tận dụng được gì từ chúng. Chắc chắn là các giới hạn về cấu trúc đã chặt hơn và sâu sắc hơn từ cuối những năm 1960, tuy nhiên chúng là các thách thức chứ không phải khủng hoảng, chúng chuyển thành cơ hội một khi Machiavelli trong Park giúp ông nhìn nhận những áp lực đó như chiếc đòn bẩy dùng để thúc đẩy tầm nhìn xây dựng đất nước và, với tầm nhìn này, thúc đẩy ý chí quyền lực của ông. Trên thực tế, nếu các áp lực cấu trúc tạo ra cảm giác về một cuộc khủng hoảng, nó hóa ra lại trở thành một cuộc khủng hoảng đối với các lực lượng chống đối Park chứ không phải phe thân Park, với phe dân chủ chứ không phải chủ nghĩa độc tài mềm, với cơ chế thị trường chứ không phải nhà nước phát triển chỉ huy kinh tế, sau khi Park tận dụng ba áp lực cấu trúc để thúc đẩy tầm nhìn pu-kuk kang-byeong (nước giàu, quân mạnh).

Thứ tư, bằng cách đặt tác nhân Park trên một lập trường cân bằng với các áp lực cấu trúc, Chương 8 bổ sung cho Chương 5, 6, 7 trong việc xác định tài năng lãnh đạo của ông như mối nối bị bỏ sót khi lý giải nền chính trị hiện đại hóa của Hàn Quốc, tuy nhiên chương này cố gắng làm việc đó thông qua việc tập trung vào các virtù Machiavelli trong Park biểu hiện ở những năm quá độ 1969-1972. Từ năm 1969, Park đã sớm bắt đầu chuẩn bị cho yushin và tiến dần đến một loạt các cuộc tranh trừng chính trị, các biện pháp kinh tế khẩn cấp và cuộc đối thoại hai nước Triều Tiên được phối hợp đồng bộ theo trình tự bằng một đầu óc chiến lược. Mỗi bước đi của Park đều trông giống như một sự thay đổi nhỏ, nhưng những kết quả cộng dồn của nó rất mạnh mẽ - trên thực tế, chúng đã dọn đường cho việc ban hành yushin vào tháng 10 năm 1972. Để giải thích cho việc Park có thể đi từ một thời điểm quan trọng này đến thời khắc quan trọng khác trên lộ trình tiến đến yushin mà không gặp phải sự kháng cự chính trị lâu dài đáng kể trong suốt giai đoạn 1969-1972, có thể lập luận rằng chính quyết định chiến lược duy trì quyền lực cho bản thân chứ không phải bất cứ yêu cầu cấu trúc nào đã thúc đẩy ông ban hành chế độ yushin. Mặc dù mới đắc cử nhiệm kỳ thứ ba một năm trước, Park đã cảm thấy bị giới hạn bởi hiến pháp hiện hành trong việc kéo dài thời gian cầm quyền của mình. Từ đó, yushin là một động thái chính trị mà qua đó ông xóa bỏ những trở ngại cấu trúc hạn chế ý chí quyền lực và ngăn cản khả năng hiện thực hóa tầm nhìn hiện đại hóa của ông. Ông lý ra đã có thể nghỉ hưu sau khi hoàn thành nhiệm kỳ tổng thống thứ ba vào năm 1975 và trở thành một người anh hùng, nhưng ông không làm vậy.

Như việc ban hành yushin đã cho thấy, Park chưa bao giờ là một tín đồ trung thành với chế độ dân chủ. Sau ba năm chính quyền quân sự, ông trả lại nền dân chủ bầu cử vào năm 1963 dưới sức ép của cả Hòa Kỳ và lực lượng chính trị đối lập trong nước. Thứ mà Park thật sự khát khao là có được tinh thần hiện đại hóa từ trên xuống của Nhật Bản thời Minh Trị. Kể cả trong Đệ tam Cộng hòa, Park không né tránh việc phải thỏa hiệp với các nguyên tắc và chuẩn mực dân chủ khi ông cho rằng điều đó là cần thiết để mang lại sự hiện đại hóa về kinh tế. Park thậm chí còn đặt tên cho chế độ quan liêu-độc tài mới của mình theo ishin của Minh Trị (trong tiếng Hàn là “yushin” ). Nhật Bản thời Minh Trị đã được điều khiển bởi một hệ thống cầm quyền chính trị nhấn mạnh tuyệt đối vào lòng trung thành với nhà nước, với Nhật Hoàng đứng đầu, nhưng được quản lý bởi các quan chức là các cựu samurai có liên kết với các chính trị gia đảng phái bảo thủ và các doanh nghiệp lớn. Họ đoàn kết lại với nhau bởi tầm nhìn chung hướng về công nghiệp hóa nhanh chóng. Park thấy ở ishin thời Minh Trị một mô hình quản trị tốt và xây dựng chế độ yushin của chính ông từ ý tưởng trăm năm tuổi về quá trình hiện đại hóa do nhà nước chỉ huy của người Nhật.

Thanh trừng và chế ngự các cận vệ cấp cao

Park chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1967. Ông lý ra đã có thể ăn mừng thành công của mình, nhưng không. Thay vì vậy, Park ngay lập tức tập trung vào các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia sắp đến để chuẩn bị cho giai đoạn cầm quyền trọn đời. Để làm được như vậy, ông phải điều chỉnh lại hiến pháp để cho phép một nhiệm kỳ tổng thống thứ ba. Điều này yêu cầu quyền kiểm soát hai phần ba số ghế trong Nghị viện Quốc gia của Đảng Cộng hòa Dân chủ. Chỉ sau khi việc sửa đổi hiến pháp được bộ phận lập pháp thông qua thì ông mới có thể đưa bản sửa đổi này ra trưng cầu dân ý. Trong các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia tổ chức một tháng sau cuộc bầu cử tổng thống, Park bị báo chí cáo buộc là đã chơi trò chính trị tiền bạc (kungwon jeongchi) và chính trị định hướng quan liêu (kwangwon jeongchi) ngay cả khi việc DRP sẽ thắng đa số là điều chắc chắn. Các bài báo về việc mua phiếu bầu đã gây ra thù địch ở một số cử tri thành thị, tuy nhiên điều này không hề làm thay đổi chiến lược tranh cử. Ngay sau đó, những người chỉ trích bắt đầu cáo buộc rằng Park có một lịch trình nghị sự giấu kín khi giành được hai phần ba số ghế Nghị viện Quốc gia: để xóa bỏ giới hạn hiến định chỉ cho phép hai nhiệm kỳ tổng thống liên tục. Mỗi lo ngại của phe đối lập chỉ trầm trọng hơn khi một số lãnh đạo DRP bắt đầu công khai kêu gọi cử tri ủng hộ để DRP đạt mức đa số là hai phần ba nhằm cho phép Park tranh cử một nhiệm kỳ thứ ba vào năm 1971. Phái chính thống do Kim Jong-pil lãnh đạo trong DRP cũng trong tình trạng cảnh giác để ngăn không cho cuộc sửa đổi hiến pháp gây ra những tổn hại không thể khắc phục cho vị thế thái tử của người đứng đầu phái này, tuy nhiên họ không thể chính trị hóa vấn đề sửa đổi hiến pháp chỉ trên cơ sở một vài trường hợp cá biệt trong những cuộc đàm phán về vấn đề này.

Cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1967 giúp DRP có được hai phần ba số ghế. Tuy nhiên, việc đấu tranh để sửa đổi hiến pháp phải đợi cho đến khi nửa đầu trong nhiệm kỳ thứ hai của Park qua đi. Trong cuộc đấu tranh để đạt tới nhiệm kỳ tổng thống thứ ba, rõ ràng là Park có ưu thế. Khi kiểm soát cỗ máy an ninh hùng mạnh, bộ máy quan liêu kinh tế khổng lồ, và hai phần ba số ghế Nghị viện Quốc gia, Park có thể thu nạp, bịt miệng và thậm chí là tiêu diệt những kẻ thù tiềm năng. Hơn nữa, đã thực hiện được lời hứa trong cuộc bầu cử về phát triển kinh tế, an ninh quân sự và ổn định chính trị từ năm 1963, Park cũng có thể tin chắc rằng mình sẽ có được sự ủng hộ của người dân khi đề đạt một nhiệm kỳ tổng thống thứ ba. Các điều kiện kinh tế cực kỳ tốt vào năm 1969 cũng tăng cường sự ủng hộ chính trị cho ông. Vào thời điểm sửa đổi hiến pháp năm 1969, GNP tăng trưởng hai con số (15%), mùa màng phát triển (1.737.000 bao gạo), thu nhập nông thôn tăng 21%, tỷ lệ thất nghiệp giảm còn 4,8% và tỷ lệ lạm phát giảm từ 11% vào năm 1968 còn 9%. Đây là lần đầu tiên mức giá giảm xuống kể từ năm 1962, giúp bình ổn tình hình kinh tế của cử tri.

Thật ra, thách thức khó khăn nhất với việc sửa đổi hiến pháp đến từ nội bộ đảng DRP cầm quyền chứ không phải từ phe đối lập. Phái chính thống của Kim Jong-pil mong muốn duy trì giới hạn hai nhiệm kỳ tổng thống hiến định với mục tiêu kế nhiệm chức tổng thống và tạo ra sự thay đổi thế hệ lãnh đạo khả dĩ vào năm 1971. Đối phó với những thách thức chính trị này, Park phải sử dụng các cuộc đấu tranh bè phái bên trong DRP để điều khiển vấn đề sửa đổi hiến pháp theo hướng ông mong muốn. Chiến lược của ông là chính sách chia để trị đã được thời gian chứng minh tính hiệu quả. Với chính sách này, ông tìm thấy một công cụ sẵn có trong phái chống chính thống. Không một lãnh đạo nào có thể sánh được với Kim Jong-pil về sức hấp dẫn, sự ủng hộ của quần chúng và năng lực tổ chức, phái chống chính thống xem cuộc sửa đổi hiến pháp như là cơ hội không chỉ để củng cố quyền lực của Park - người bảo trợ của họ trong những cuộc đấu tranh phe phái nội bộ DRP chống lại Kim Jong-pil — mà còn để trì hoãn vấn đề kế nhiệm tổng thống tới một thời gian thuận lợi hơn. Lãnh đạo chính trị đầu tiên công khai nêu ra vấn đề sửa đổi hiến pháp là quyền chủ tịch DRP Yun Chi Young của phái chống chính thống. Vào ngày 7 tháng 1 năm 1969, Yun kêu gọi một cuộc sửa đổi hiến pháp để dọn đường cho nhiệm kỳ thứ ba của Park, “người lãnh tụ vĩ đại nhất kể từ khi Tangun thành lập nước Triều Tiên cách đây 5.000 năm.” Như thông lệ, Park giữ một thái độ mờ nhạt về vấn đề sửa đổi hiến pháp chỉ đến khi ông cho rằng những người đại diện cho ông đã thiết lập thành công tính chính danh của vấn đề này.

Phản ứng ban đầu của phái chính thống là tiêu cực, tin rằng với việc Park không được tham gia vào cuộc đua năm 1971, quyền lực sẽ thuộc về chủ nhân nhóm này, Kim Jong-pil. Để bày tỏ sự bất mãn của mình về thảo luận nội bộ DRP quanh việc sửa đổi hiến pháp, phái chính thống bỏ qua những ranh giới đảng phái khi tham gia hoạt động bỏ phiếu bất tín nhiệm của phe đối lập chống lại Bộ trưởng Bộ Giáo dục Kwon Oh Pyeong vào tháng 4 năm 1969, từ đó cho thấy sức mạnh bỏ phiếu của phái này khi kết hợp với sức mạnh của phe đối lập. Lo ngại sự leo thang đấu tranh phe phái và quyết định tái thiết lập kỷ luật đảng, Park trực tiếp giải quyết vấn đề này bằng việc thanh trừng Yang Sun-jik, Ye Chun Ho, Jeong Tae Seon và Kim Tai Su của phái chính thống trong DRP. Việc Park sẵn sàng từ bỏ quyền kiểm soát hai phần ba số ghế quốc hội vừa mới vất vả giành được của DRP để trấn áp các đối thủ trong vấn đề sửa đổi hiến pháp đã cho thấy ông khát khao kéo dài thời gian cầm quyền chính trị đến đâu và ông nghi ngờ Kim Jong-pil đến mức nào. Cuộc thanh trừng này dẫn đến sự chuyển dịch cán cân quyền lực xa hơn bên trong DRP về phía phái chống chính thống - với kết quả là nâng cao vị thế của “Bè lũ Bốn tên” (Kim Seong-gon, Baek Nam-ok, Kil Jae-ho, và Kim Chin-man) để nhóm này trở thành phái chính thống mới. Ngược lại, Kim Jong-pil bắt đầu mất đi sự tin tưởng từ cả những thành viên trong phái của ông vì thất bại khi kháng cự lại Park trong vấn đề kế nhiệm tổng thống. Trong mắt họ, Kim Jong-pil đã để cho người của mình bị Park tiêu diệt khi đang phục vụ cho lợi ích của chính Kim Jong-pil. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản như vậy. Bị buộc phải “nghỉ hưu khỏi hoạt động công quyền” và “đi tị nạn” hai lần vào năm 1963 và 1965 vì vai trò gây quỹ chính trị và vì quá trình bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản, Kim Jong-pil hiểu được vị thế chính trị dễ bị tấn công của mình. Với phái chống chính thống kiểm soát các cơ quan quyền lực chủ chốt, từ Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (KCIA) đến Tổng cục An ninh Quân đội (ASC) và Ban Thư ký Nhà Xanh, Kim Jong-pil không dám chống lại Park về vấn đề sửa đổi hiến pháp. Ngoài ra, Park đã gợi ý với Kim Jong-pil rằng ông này sẽ trở thành người kế vị vào năm 1975.

Khi Park đã có được sự ủng hộ khiên cưỡng của Kim Jong-pil về vấn đề sửa đổi hiến pháp, Bè lũ Bốn tên nhanh chóng lãnh đạo cuộc thảo luận thông qua dự luật sửa đổi ở Nghị viện Quốc gia; DRP đã bù đắp những tổn thất về số ghế của đảng này trong nghị viện bằng những người ra khỏi phe đối lập nhằm giành được số phiếu cần thiết để khởi động cuộc sửa đổi hiến pháp. Tiếp đó là cuộc trưng cầu dân ý mà Park cho là một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm cho chính quyền của ông. Chiến lược lần này sẽ phải huy động sự ủng hộ của quần chúng bằng cách gia tăng nỗi sợ hãi của người dân về tình trạng vô trật tự có thể xảy ra nếu Park thất bại trong cuộc trưng cầu. Như mong đợi, cuộc trưng cầu đã thông qua việc sửa đổi với số phiếu áp đảo.

Tuy nhiên, liên minh của Park với Bè lũ Bốn tên che giấu đi những lợi ích không thể dung hòa. Với Park, cuộc sửa đổi hiến pháp năm 1969 chỉ là một trong nhiều rào cản ông phải vượt qua để hiện thực hóa mục đích tối thượng của ông là trị vì suốt đời và “cải cách hồi sinh”. Bè lũ Bốn tên cũng cho rằng cuộc sửa đổi năm 1969 không phải là kết thúc mà là khởi đầu của việc thay đổi chế độ, tuy nhiên sự thay đổi mà nhóm này hình dung lại rất khác. Cũng giống như Kim Jong-pil, Bè lũ Bốn tên cho rằng Park sẽ nghỉ hưu sau nhiệm kỳ thứ ba của ông và nhóm này lên kế hoạch nắm quyền vào thời điểm đó. Không có được sức hấp dẫn và nền tảng ủng hộ đông đảo như của Kim Jong-pil, Bè lũ Bốn tên hy vọng tạo nên một hệ thống nghị viện hoặc bán-tổng thống vào cuối nhiệm kỳ thứ ba của Park, với quyền lực của tổng thống bị giảm đáng kể và hầu hết các quyền lợi, nghĩa vụ và chức năng đều được giao cho nội các do thủ tướng lãnh đạo. Một mô hình quyền lực như vậy không hề tồn tại trong kế hoạch của Park dành cho Hàn Quốc. Park đã quyết phải ở lại kể cả sau năm 1975 và đã ra sức tập trung hóa quyền lực của mình, ngược lại Bè lũ Bốn tên muốn chia sẻ quyền lực thông qua việc tăng cường các quyền lập pháp.

Park chuyển hướng nhanh chóng để kiểm soát Bè lũ Bốn tên sau cuộc sửa đổi hiến pháp năm 1969. Hai cận vệ cấp cao quyền lực nhất của ông - trưởng ban tham mưu Yi Hu-rak và giám đốc KCIA Kim Hyeong-wook — đã bị buộc phải từ chức, đó là động thái của Park đáp ứng yêu cầu của công chúng về loại trừ tham nhũng và nạn lạm quyền. Đồng thời, mặc dù vậy, Park chắc hẳn cũng rất vui mừng trước hệ quả mà việc loại bỏ những người này tác động lên cán cân quyền lực bên trong DRP. Vì Yi Hu-rak và Kim Hyeong-wook là những đồng minh của Bè lũ Bốn tên, nên việc loại bỏ họ góp phần kìm hãm sự nổi dậy của Bè lũ Bốn tên. Trong một bước ngoặt đầy trớ trêu mang tính chính trị, Park chỉ định Kim Jong-pil giờ đã yếu đi nhiều vào vị trí thủ tướng. Kim không còn là một lãnh đạo có sức hút như ông đã từng trước năm 1969, với ý chí quyền lực đã sụp đổ và bè phái đã tan tác, tuy nhiên kể cả trong tình thế chính trị sa sút, ông vẫn là hình tượng gần nhất với vai trò người kế nhiệm mà Park từng có. Giờ đây vai trò của ông là đóng góp những gì còn lại từ sự nổi tiếng trong quần chúng để củng cố nội các cho Park và kiểm soát Bè lũ Bốn tên. Những người còn lại của phái Kim Jong-pil dẫn dắt một cuộc phản công chống lại phái chính thống mới vào năm 1971. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Oh Chi-seong khởi động một chiến dịch đập tan nền tảng quyền lực của Bè lũ Bổn tên trong chính quyền trung ương và chính quyền cấp tỉnh. Bè lũ này đã trả đũa bằng cách tham gia vào cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm của các đảng phái chính trị đối lập chống lại Oh Chi-seong vào tháng 10 năm 1971, chống lại mệnh lệnh dứt khoát của Park yêu cầu bỏ phiếu chống lại kiến nghị này. Đặc biệt, Kim Seong-gon muốn phô trương quyền lực mới được tăng cường của ông này không chỉ với phái chính thống của ông ta mà còn với Park. Cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm trở thành một thảm họa với Bè lũ Bốn tên. Bị hành hạ và làm nhục bởi các đặc vụ KCIA, Kim Seong-gon đã cùng người của ông ta từ chức trong ô nhục. Kim Seong-gon đã quên rằng nổi loạn không bao giờ là một lựa chọn hay vì vị thế cá nhân dễ bị tấn công của ông ta. Từng là chủ sở hữu-quản lý của Tập đoàn Ssangyong đồng thời là người gây quỹ chính cho DRP trong suốt những năm 1960, Kim Seong-gon có quá nhiều điểm yếu để có thể trụ vững trước bất cứ cuộc tấn công công khai nào nhằm vào tính liêm chính của ông. Ông đã tham gia vào cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm vì tưởng rằng Park phải bước xuống vào năm 1975 như đã hứa trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1971. Nếu như biết được ý đồ thật sự của Park là tiếp tục nắm quyền ngay cả sau năm 1975 bằng sự hỗ trợ của quân đội, điều được hé lộ chỉ một năm sau đó, Kim Seong-gon chắc hẳn đã không dám thách thức Park vào tháng 10 năm 1975.

Vì vậy, cuộc sửa đổi hiến pháp năm 1969 là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất trên bước đường đến yushin của Park. Nó đã mở đường cho ông tranh cử nhiệm kỳ tổng thống thứ ba, điều này sau đó lại tạo ra bối cảnh dẫn đến sự suy yếu của tất cả các ứng viên quyền lực có tiềm năng từ DRP, gồm cả Kim Jong-pil và Bè lũ Bốn tên. Cho đến tháng 10 năm 1971, đảng DRP cầm quyền đã bị biến đổi từ một liên minh của các thủ lĩnh đảng trung thành thành hệ thống một người cầm quyền không có bất kỳ thủ lĩnh độc lập nào. Hơn nữa, khi các thủ lĩnh DRP cấp cao cấp hai từ thế hệ tiếp theo đều bị hạ nhục, bị thu nạp hoặc thanh trừng, Park không quay trở lại thói quen trước năm 1971 là đề bạt một nhóm các thủ lĩnh đảng với mục tiêu chia để trị. Sau cuộc thanh trừng Bè lũ Bốn tên, Park đã chắc chắn rằng sẽ không có ai đứng giữa ông và Nghị viện Quốc gia. Ông trực tiếp phụ trách các sự vụ của đảng từ Nhà Xanh. Khi làm suy yếu nền tảng quyền lực của tất cả các lãnh đạo trọng yếu của DRP, Park định rõ con đường tiến đến vị trí tổng thống trọn đời của mình. Hoặc, nói cách khác, việc cá nhân hóa cực độ quyền lực trong trật tự chính trị yushin sắp tới đã xuất hiện rõ nét trong những giai đoạn chuẩn bị đầu tiên vào các năm 1969-1972.

Chắc chắn rằng, lỗ hổng quyền lực đã được lấp đầy đúng lúc bởi KCIA, PSS và ASC, tuy nhiên việc nổi lên của các cận vệ quân sự cấp cao đã không đe dọa đến Park bởi điều đó không đồng nghĩa với việc nổi lên các trung tâm quyền lực dựa trên quần chúng hoặc dẫn dắt đảng phái có tiềm năng thay thế. Ngược lại, với việc gây ảnh hưởng lên hoạt động chính trị đảng phái chủ yếu thông qua cưỡng chế, mua chuộc và giám sát chính trị, những người đứng đầu KCIA, PSS và ASC dần phụ thuộc hơn vào Park để tồn tại trên chính trường khi họ thành công hơn trong vai trò cận vệ cấp cao, vì họ trở thành các mục tiêu của bất mãn và ngờ vực trong công chúng.

Chính trong hoàn cảnh tan rã các trung tâm quyền lực thay thế này, Park đã ra lệnh bí mật chuẩn bị cho yushin. Theo như lời khai của trưởng ban cố vấn Kim Jeong-ryeom, Park bắt đầu âm thầm chuẩn bị hiến pháp yushin từ tháng 4 năm 1971 khi ông tranh cử cho nhiệm kỳ tổng thống thứ ba. Sự ủng hộ dành cho Park đến từ ba lực lượng: (1) Yi Hu-rak và các đặc vụ KCIA; (2) Kim Jeong-ryeom và Ban thư ký Nhà Xanh; và (3) Shin Chik Su và các quan chức từ Bộ Tư pháp. Ba phó tướng này của Park đều chia sẻ chung tầm nhìn về việc thiết lập hệ thống cầm quyền độc đảng theo mô hình Đài Loan do Quốc Dân Đảng cai trị. Đặc biệt, Quốc hội Đài Loan trở thành tiêu chuẩn để họ thiết kế Đại hội Thống nhất Quốc gia với các thành viên được Park lựa chọn phải chiếm đến một phần ba tổng số ghế trong Nghị viện Quốc gia. Những người lập kế hoạch yushin cũng tập trung vào các quyền khẩn cấp mà Đệ ngũ Cộng hòa của Pháp từng ban cho tổng thống của chế độ này như là một hình mẫu.

Tháng 5 năm 1972, lực lượng ủng hộ tập trung lại vào một trong các căn nhà đảm bảo an ninh (anga) của Park ở Kungjeongdong để đề ra kế hoạch thay đổi chế độ một cách nghiêm túc. Vào tháng 8 năm 1972, họ tổ chức một nhóm để hoạt động chuyên sâu cho lần sửa đổi hiến pháp dưới tên Pung nyeon sa eop (Dự án Vụ mùa Tốt). Khi nhóm này nghiên cứu về việc sửa đổi hiến pháp, Yi Hu-rak đã đến Bình Nhưỡng để thảo luận về việc hòa giải hai miền Triều Tiên vào tháng 5 năm 1972 để tạo ra một môi trường chính trị thuận lợi cho việc thay đổi chế độ. Các thành viên chủ chốt trong nhóm sửa đổi hiến pháp gồm có Phó giám đốc KCIA Kim Chi-yeol, Bộ trưởng Tư pháp Shin Chik Su và Thư ký cấp cao phụ trách sự vụ chính trị Hong Seong Cheol. Các học giả về luật cũng được mời đến để cho lời khuyên, tuy nhiên vai trò của họ không đáng kể. Hai giáo sư, Han Tae Yeon và Kai Pong Geon, chỉ cải thiện về mặt từ ngữ cho bản hiến pháp yushin do Bộ Tư pháp soạn thảo. Kai Pong Geon cũng được gửi đến Pháp trong một sứ mệnh tìm hiểu thực tế, tuy nhiên chuyến đi này diễn ra sau, chứ không phải trước, việc ban hành hiến pháp mới. Park đã rất ít gây chú ý trong suốt Dự án Vụ mùa Tốt, tuy nhiên hiến pháp yushin chính là thành quả của ông, với Sin Shik-su đóng vai trò chuyên gia về các vấn đề pháp luật của cuộc sửa đổi hiến pháp. Điều trớ trêu là khi Park chuẩn bị ban hành yushin vào tháng 10 năm 1972, tất cả những gì còn lại có thể cản đường Park đến chế độ cai trị vĩnh viễn của ông lại chính là cuộc sửa đổi hiến pháp năm 1969 mà ông đã tiến hành nhằm cho phép mình nắm quyền nhiệm kỳ thứ ba. Để xóa bỏ giới hạn này, ông buộc phải phá bỏ lời hứa trong cuộc bầu cử năm 1971 của mình là không tìm cách tái tranh cử một lần nữa. Park biết rằng việc thất hứa với quần chúng và đưa ra một đề xuất nữa để kéo dài thêm một nhiệm kỳ chắc chắn sẽ gây ra sự hoài nghi, nếu không phải là chống đối chính trị mạnh mẽ. Park cần một tầm nhìn chính trị với một quy mô rộng lớn hơn để biện minh cho lần sửa đổi hiến pháp thứ hai, và năm 1972 được đánh dấu bởi cuộc tìm kiếm tầm nhìn toàn diện này. Cuối cùng ông đã tìm được ý tưởng về việc lập nên yushin, tuy nhiên trước khi thực thi ý tưởng này, ông phải thu phục được lực lượng chống đối.

Đối mặt với lực lượng chống đối

Vào cuối những năm 1960, NDP vẫn hoàn toàn bị mất tinh thần bởi thất bại trong cuộc bầu cử năm 1967. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Park không phải đối mặt với các lực lượng chống đối bên ngoài đảng cầm quyền của ông. Đảng chính trị đối lập đã bị tan tác, song lại có một liên minh tuy lỏng lẻo nhưng hay chống đối giữa các nhà hoạt động là sinh viên, các trí thức chaeya bất đồng chính kiến và các lãnh đạo tôn giáo nổi dậy, liên minh này khi kết hợp với các chính trị gia NDP đã phê phán nặng nề về mặt đạo đức cách thức hoạt động chính trị và kinh tế của Park. Liên minh này sử dụng đợt sửa đổi hiến pháp năm 1969 để hợp nhất các phong trào chống đối từ tình trạng mất đoàn kết nội bộ và thiếu bài bản. Cuộc sửa đổi hiến pháp nhen nhóm lại mối ngờ vực nhằm vào Park của giới trí thức bất đồng chính kiến và kích động lại làn sóng chỉ trích sự lộng hành của ông trong các quy trình dân chủ. Nền kinh tế cũng ủng hộ phe chống đối. Dưới tác động của cuộc suy thoái toàn cầu và các áp lực của quả bong bóng đã phát triển trong nền kinh tế quốc nội suốt những năm 1960, nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu giảm tốc sau năm 1969, điều này nhanh chóng truyền tới nỗi sợ hãi về tình trạng đình lạm và làm gia tăng sự bất mãn vẫn âm ỉ trong quần chúng về chính sách thẩm thấu [trickle-down policy] “tăng trưởng trước rồi phân phối sau” của Park. Các vấn đề lao động cũng là một chủ đề trọng tâm khi các nhà hoạt động sinh viên, các trí thức bất đồng chính kiến và các lãnh đạo tôn giáo bắt đầu tập trung vào quyền lao động và tình trạng nghèo đói ở các đô thị mạnh mẽ không kém những xâm phạm của Park đối với các tư tưởng chính trị khai phóng, trong nỗ lực tái định hướng căn bản lực lượng chaeya với nòng cốt là giới trí thức trở thành một phong trào bất đồng chính kiến dựa trên quần chúng rộng rãi hơn dù có hay không có sự ủng hộ của các chính trị gia NDP. Các nhà hoạt động sinh viên cố gắng vận động công nhân dựa trên nền tảng là “quyền được sống” của họ. Các nhóm Thiên Chúa giáo bắt đầu đòi hỏi công bằng xã hội, phát biểu thay mặt công nhân và dân nghèo thành thị. Sự tuyên truyền tích cực của họ đã có hiệu quả vì chiến lược công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu trong hàng thập niên của Park đã làm biến đổi một đất nước từng là một xã hội đồng nhất, sống trong bối cảnh “bình đẳng trong nghèo khó”, thành một xã hội phân giai cấp không đồng nhất, với sự gia tăng khoảng cách thu nhập giữa đầu tư vốn và bỏ sức lao động, giữa thành thị và nông thôn và giữa tỉnh Jeolla với tỉnh Gyeongsang.

Sự lan rộng các cuộc biểu tình xã hội nhanh chóng ảnh hưởng đến NDP. Mang tính bảo thủ trong lập trường tư tưởng rộng từ thuở ban đầu, tuy nhiên cũng phải cạnh tranh phiếu bầu với DRP trong các cuộc bầu cử, NDP bắt đầu sử dụng các vấn đề về lao động như một phần trong chiến lược thu hút cử tri quay trở lại kể từ thất bại năm 1967. Dần dần, lớp lãnh đạo của đảng này hứa hẹn sẽ ủng hộ cuộc đấu tranh của người nghèo liên minh với các trí thức giai cấp trung lưu, thiết lập các đội điều tra để giám sát các điều kiện lao động và khởi xướng các chương trình lập pháp để giải quyết các vấn đề phân phối. NDP kêu gọi gia tăng giá mua nông sản của chính quyền, cấm nhập khẩu gạo nước ngoài, thiết lập hệ thống lương tối thiểu và cải thiện điều kiện lao động. Vào tháng 4 năm 1971, các nhà hoạt động sinh viên, các lãnh đạo tôn giáo và các chính trị gia NDP cùng nhau thành lập Hội đồng Nhân dân Gìn giữ Dân chủ như là một tổ chức bảo trợ nhằm điều phối tất cả các cuộc đấu tranh chống chính phủ về các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội.

Vào giữa quá trình từng bước một tái xác định đặc trưng đảng phái của NDP và mở rộng các lịch trình lập pháp cùng các chiến lược tranh cử của đảng này, Park phải đối mặt với kẻ thách thức cuộc đời mình - Kim Dae-jung của tỉnh Nam Jeolla, người trở thành ứng viên tổng thống của NDP vào năm 1971 với một lập trường tiến bộ. Vị trí ứng viên của Kim Dae-jung đối đầu một cách toàn diện với Park. Vị lãnh đạo trẻ đối lập này ủng hộ các lý do về nhân quyền chống lại “nền độc tài” của Park, ông xây dựng hình ảnh của một nhà hoạt động vì quyền lợi người lao động trực tiếp đối lập với “chủ nghĩa tư bản thân hữu” của Park với các chaebol và đề ra học thuyết “kinh tế học (tham gia) toàn dân” trái ngược với chiến lược tập trung vào tăng trưởng trước một cách “không công bằng” và “không khả thi” của Park. Công thức tăng trưởng bền vững và công bằng của Kim Dae-jung bao gồm phúc lợi tốt hơn cho người dân, phân phối của cải công bằng hơn và đánh thuế nặng hơn vào người giàu, hệ thống quản lý có sự tham gia của cả người chủ và công nhân, và một “cuộc cách mạng nông nghiệp” để gia tăng thu nhập.

Dũng cảm phá bỏ tư tưởng chính trị truyền thống về chiến tranh lạnh chống cộng sản, Kim Dae-jung thậm chí còn ủng hộ một quá trình hợp nhất đất nước trong hòa bình gồm ba giai đoạn đối đầu trực tiếp với myolgong tongil của Park (tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản, thống nhất đất nước). Vào đầu những năm 1970, khi mà ký ức đau thương về Chiến tranh Triều Tiên vẫn còn sống động và mạnh mẽ, và khi trật tự xoa dịu trong an ninh toàn cầu đang nổi lên gây nên cảm nhận cực kỳ bất an và dễ bị tấn công, đây là những đề xuất chính sách mang tính cách mạng - và trong mắt phái chính thống của xã hội, chúng mang tính dị giáo. Gây ra sự khó chịu nơi Park, suốt chiến dịch tranh cử năm 1971, một năm trước khi ban hành yushin, Kim Dae-jung cũng khẳng định rằng “đã có bằng chứng về những cố gắng của Park nhằm cai trị trọn đời như một Tổng tư lệnh”, ông buộc Park phải hứa rằng “năm 1971 [sẽ] là lần cuối cùng [ông] kêu gọi [quần chúng] bỏ phiếu cho [ông]”.

Không may cho Park, tập hợp các ý tưởng chính sách mới của Kim Dae-jung đem lại nhiều phiếu bầu vào năm 1971. Park tận dụng nỗi sợ hãi của quần chúng về bất an quân sự bằng cách buộc tội Kim Dae-jung là người có cảm tình với cộng sản và cách ly khối cử tri Jeolla của ông này bằng cách tăng cường đồng minh địa phương Gyeongsang-Chungcheong hình thành từ cuộc đảo chính quân sự năm 1961. Chiến lược tranh cử địa phương này tận dụng việc Yun Po-sun, người con được ưu ái trước đây của các tỉnh vùng Chungcheong, về hưu khỏi vị trí lãnh đạo NDP sau thất bại thứ hai trong cuộc thăm dò ý kiến vào năm 1967. Khi thiếu đi Yun Po-sun, Kim Jong-pil - giờ đã từ chức khỏi vị trí lãnh đạo phái chống chính thống — dường như đang huy động những cử tri vùng Chungcheong thay mặt cho Park. Mặc dù Kim Dae-jung bị đánh bại bởi con số 946.928 phiếu bầu, nhiều người đã xem ông là người chiến thắng thật sự vì ông đã tranh cử dưới những điều kiện rất bất lợi: nỗi ám ảnh McCarthy Đỏ, tình trạng vận động địa phương, sự chi phối của bộ máy quan liêu và chính trị tiền bạc. Và dưới những điều kiện này, Kim Dae-jung trở thành biểu tượng cho các lực lượng chính trị chống Park.

Một trở ngại lớn hơn nữa đối với Park xuất hiện vào các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia một tháng sau cuộc chạy đua tổng thống năm 1971. Bất chấp tình trạng chia rẽ nội bộ của NDP thành những người gốc Jeolla “cực đoan” do Kim Dae-jung lãnh đạo và những người gốc Nam Gyeongsang “ôn hòa” cho Kim Young-sam lãnh đạo, phe chống đối đã hoạt động cực kỳ tốt trong khu vực thành thị. Tại các thành phố lớn, NDP chiếm 33 ghế và DRP chiếm 7 ghế. Ở các thành phố vừa và nhỏ, số ghế Nghị viện Quốc gia được phân bổ theo tỷ lệ 44:19, một lần nữa thuận lợi cho NDP. DRP có khả năng duy trì được vị thế đa số so với NDP ở tỷ lệ 113:89 trong Nghị viện Quốc gia chỉ nhờ chiến thắng của đảng này ở khu vực nông thôn vốn có quá nhiều đại diện. Nông thôn đã chọn DRP thay vì NDP với tỷ lệ 67:19.

Vì vậy, DRP cảm thấy những kết quả từ các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1971 như là một đòn tấn công nặng nề. Các cuộc bầu cử cho thấy sự phân biệt thành thị-nông thôn rõ nét, các thành phố ủng hộ NDP và nông thôn sát cánh với DRP. Đây không phải là tin tốt cho liên minh cầm quyền. Khi quá trình công nghiệp hóa làm tăng tốc độ nhập cư của cư dân nông thôn lên khu vực thành thị, tương lai của Park và DRP trong các cuộc bầu cử về lâu dài có vẻ như ngày càng không ổn. Hơn nữa, tỷ lệ số ghế của đảng đối lập trong Nghị viện Quốc gia đạt đến 43,6% trong năm 1971, kết quả tốt nhất mà đảng này từng làm được trong lịch sử chính trị Hàn Quốc. Với sự cảnh giác của Park trước việc NDP đã có hơn 20 ghế so với mức tối thiểu cần để ngăn chặn một nỗ lực sửa đổi hiến pháp khác, ông không thể một lần nữa tìm cách kéo dài thời kỳ thống trị của mình thông qua các quy trình hiến pháp. Trong tình cảnh này, Park chỉ có thể viện đến các biện pháp ngoài hiến pháp để duy trì quyền lực sau khi nhiệm kỳ thứ ba của ông kết thúc vào năm 1975.

Thành công trong cuộc bầu cử năm 1971 đã tiếp thêm sự tự tin cho NDP và các đồng minh xã hội của đảng này, và họ đã lên tiếng suốt đầu những năm 1970. Các sinh viên đại học biểu tình chống lại Đoàn Thanh niên Quốc phòng (SCND), đơn vị mà Park đã sử dụng để tổ chức các chương trình đào tạo quân sự tại các trường đại học. Khi người dân sống trong các khu ổ chuột ở thành thị bị đuổi khỏi nhà để dọn đường tái xây dựng thành phố, họ phát động các cuộc biểu tình bạo lực để chống lại chính sách di dân cưỡng bức của Park. Một số công nhân ở Công ty Hanjin đã đốt trụ sở chính của công ty khi biểu tình chống lại việc trì hoãn trả lương, đây là dấu hiệu cho thấy tình trạng cấp bách về một lực lượng lao động chống đối nhiều hơn. Giai cấp trung lưu, đặc biệt là thành phần trí thức, cũng tham gia vào các phong trào chống đối với số lượng lớn hơn. Các giáo sư ở Đại học Quốc gia Seoul thông báo “tuyên ngôn độc lập” của họ đối với ảnh hưởng của giới cầm quyền, Ủy ban Báo chí Hàn Quốc tuyên bố đơn vị này sẽ bảo vệ quyền tự do báo chí, trong khi đó các thẩm phán trẻ kêu gọi độc lập tư pháp.

Bên cạnh đó, cần phải chú ý rằng, cuối năm 1971, các phong trào chống đối đã không đạt đủ trọng lực để thay đổi chương trình hành động chính trị của Park. Sau khi loại bỏ những kẻ ham muốn quyền lực thế hệ tiếp theo khỏi DRP và vẫn còn đang tổ chức nhóm đa số trong Nghị viện Quốc gia và kiểm soát lòng trung thành của KCIA, ASC, PSS và Bộ Nội vụ (MHA) đang điều khiển cảnh sát, Park có những công cụ để trấn áp bất kỳ thách thức nghiêm trọng nào đối với sự cầm quyền của ông. Thật ra, trái với những ý định của các phong trào chống đối, sự kiên cường chống đối trong các cuộc biểu tình kể cả sau các cuộc bầu cử năm 1971 càng làm mạnh hơn sự nghi ngờ của ông đối với giới trí thức bất đồng chính kiến như là một lực lượng cánh tả vô trách nhiệm, nếu không phải là nguy hiểm, và càng khẳng định niềm tin của ông rằng cần phải thực hiện một cuộc cải cách hồi sinh để lập lại trật tự, duy trì sự thịnh vượng và tăng cường an ninh quân sự, chứ không hề làm yếu đi ý thức về sứ mệnh lịch sử, ý chí quyền lực và sự tự tin vào khả năng điều hành lộ trình phát triển chính trị và kinh tế Hàn Quốc của ông. Thay vì đổi hướng để đáp ứng các áp lực xã hội, Park tiếp tục tiến tới - lần này là tìm kiếm sự thay đổi chế độ thay vì một sự thay đổi trong chế độ.

Đầu tiên, Park ngay lập tức trấn áp các cuộc biểu tình. Tổng cục An ninh Quân đội thẳng tay trừng trị các sinh viên biểu tình chống lại SCND. Tháng 10 năm 1971, Tư lệnh Yun Pil-yong ra lệnh cho những người lính thuộc Tổng cục Quân đồn trú Thủ đô ngăn chặn lực lượng biểu tình sinh viên ở Đại học Hàn Quốc. Mười ngày sau đó, Seoul bị đặt dưới một sắc lệnh quân đồn trú. Thứ hai, tháng 12 năm 1971, Park đi tới một quyết định không có đường lui khi tuyên bố tình trạng khẩn cấp và thông qua Luật An ninh Quốc gia Đặc biệt. Tình trạng khẩn cấp đã chính thức thiết lập “tình trạng an ninh quốc gia”, với sáu điều quy định an ninh quốc gia là các ưu tiên nhà nước hàng đầu, ngăn cấm bất cứ mối căng thẳng xã hội nào đe dọa đến an ninh quốc gia, không cho phép báo chí “thảo luận các vấn đề an ninh quốc gia theo cách vô trách nhiệm”, kêu gọi quần chúng thực hiện nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia và biện minh cho các hạn chế quyền tự do và quyền dân sự bằng khả năng về một cuộc khủng hoảng an ninh quốc gia. Ngược lại, Luật An ninh Quốc gia Đặc biệt cấp cho tổng thống rất nhiều quyền khẩn cấp, bao gồm quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia, quyền đưa ra các biện pháp khẩn cấp kinh tế bằng sắc lệnh tổng thống, quyền cấm các cuộc biểu tình ngoài trời, quyền hạn chế tự do ngôn luận và báo chí, và quyền giới hạn hoạt động tập thể của công nhân.

Bằng đạo luật đặc biệt này, Hàn Quốc không còn chút dáng vẻ nào của một nền dân chủ. Sự thay đổi này nhận thấy rõ nhất ở vai trò đổi khác của quân đội. Rõ ràng là, Park đã liên tục sử dụng các lực lượng vũ trang để bảo vệ chế độ của ông trong những cuộc khủng hoảng chính trị vào những năm 1960 (xem Chương 6), tuy nhiên kể từ tháng 12 năm 1971 trở đi, can thiệp quân sự vào chính trị đã trở thành một phần của đời sống hàng ngày. Và với sự hỗ trợ chính trị của quân đội, Park đặt cược vào yushin. Vì NDP kiểm soát 43,6% số ghế nghị viện, hơn mức cần thiết để ngăn cản một lần sửa đổi hiến pháp nữa, Park đã quyết định tiến hành thay đổi chế độ thông qua “đảo chính cung đình” khi ông đang ở đỉnh cao quyền lực - tháng 10 năm 1972, chỉ một năm tính từ cuộc bầu cử tổng thống thứ ba của ông và vẫn còn bốn năm nữa trước khi kết thúc nhiệm kỳ thứ ba. Tháng 10 năm 1972, đại đa số cử tri Hàn Quốc vẫn ủng hộ Park làm lãnh đạo của họ vì ông đã mang đến công cuộc hiện đại hóa cho xã hội, và niềm tin của họ dành cho ông vẫn còn sống động và mạnh mẽ. Tuy nhiên, trước khi tiến hành nước đi cuối cùng này, Park phải giải quyết tính trạng khủng hoảng tài chính của đất nước.

Giải quyết khủng hoàng tài chính

Giai đoạn 1969-1972 chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng hình thành song song với quá trình biến đổi của lực lượng đối lập thành một lực lượng chính trị mang tính ý thức hệ cao hơn và có nền tảng xã hội rộng rãi hơn. Tuy nhiên, cũng như quá trình cấp tiến của lực lượng chống đối, cuộc khủng hoảng tài chính không thể khiến Park phải đổi hướng và thận trọng đánh giá lại tầm nhìn, mục tiêu cũng như chiến lược của mình. Thay vào đó, nó trở thành một bàn đạp cho việc thay đổi chế độ. Việc nền kinh tế bị mắc kẹt trong một vòng luẩn quẩn của lạm phát, thâm hụt tài khoản vãng lai và suy thoái kinh tế có nhiều nguyên nhân. “Thời kỳ vàng son” của giai đoạn tăng trưởng và ổn định kinh tế toàn cầu khởi đầu bằng hệ thống Bretton Woods, hệ thống này đã được nhiều nước Đồng minh áp dụng vào năm 1944 để tái xây dựng hệ thống kinh tế toàn cầu và tiến đến kết thúc vào đầu những năm 1970. Khi đối mặt với tình trạng thâm hụt gia tăng ở cán cân thanh toán, Hoa Kỳ tạm ngưng hoạt động chuyển đổi đô-la thành vàng, áp dụng các biện pháp kiểm soát lương cũng như giá cả trong nước và sử dụng thuế nhập khẩu vào tháng 8 năm 1971, do đó đã khơi ngòi cuộc đổ xô áp dụng hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi và thực thi các biện pháp phòng hộ giữa giai đoạn suy thoái toàn cầu đang lớn dần.

Vì xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm 40% tổng xuất khẩu Hàn Quốc, nên chính sách kinh tế của Nixon khiến Hàn Quốc bị thiệt hại trầm trọng. Không những thế, việc Nhật quyết định hưởng ứng sáng kiến của Mỹ bằng việc sử dụng hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi, dẫn đến tái định giá đồng yên, chi phí cho phụ tùng, linh kiện, các sản phẩm dở dang và hàng hóa vốn của Nhật Bản, có tác động đến tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc bởi các nhà sản xuất Hàn Quốc đã gia nhập vào mạng lưới sản xuất khu vực của Nhật Bản thông qua các chuyển nhượng bản quyền và các liên doanh vào những năm 1960; Hàn Quốc đã chứng kiến tính cạnh tranh xuất khẩu của nó sụt giảm. Hàng nhập khẩu từ Nhật Bản chiếm đến 40% tổng nhập khẩu của Hàn Quốc. Để đẩy tình trạng dễ bị tấn công về kinh tế trở nên tồi tệ hơn nữa, nhiều nhà sản xuất Nhật Bản, trong đó có Toyota (xem Chương 10) đã chấp nhận “Bốn Nguyên tắc” của Chu Ân Lai, theo đó các công ty nước ngoài tham gia vào thị trường Trung Quốc phải chấm dứt hoạt động kinh doanh của họ với Hàn Quốc và Đài Loan. Và quyết định của Nixon về việc từng bước triệt thoái quân đội Mỹ đóng ở Hàn Quốc khiến các tập đoàn đa quốc gia thậm chí ít còn ý muốn đầu tư vào nước này vì lo sợ các rủi ro và hiểm họa quân sự. Các khó khăn về kinh tế và an ninh này khiến các nhà đầu tư và người cho vay nước ngoài hoảng loạn, dẫn đến bùng nổ việc thoái vốn. Đối với một đất nước vẫn còn phải phụ thuộc vào các khoản vay nước ngoài để tài trợ cho khoảng 25% hàng nhập khẩu và bị đè nặng bởi các khoản vay nước ngoài khổng lồ để được tái cấp vốn, tình trạng bất ổn gia tăng ở các thị trường tài chính tạo nên một mối đe dọa chết chóc đối với tính bền vững của toàn bộ nền kinh tế.

Dưới áp lực của hoạt động thoái vốn, tỷ giá hối đoái tăng cao khiến các ngân hàng phải gây áp lực lên các khách hàng công nghiệp để tăng tốc các khoản thanh toán cả gốc lẫn lãi của các khoản nợ nước ngoài niêm yết bằng đồng đô-la. Sự khiên cưỡng trong việc gia hạn nợ của các ngân hàng sau đó đẩy rất nhiều nhà sản xuất được tài trợ vốn bằng nợ nước ngoài đi đến bờ vực sụp đổ. [118] Đến năm 1969, 86 công ty lớn gặp khó khăn khi trả lãi cho các khoản vay nước ngoài được nhà nước bảo lãnh, điều này ngay lập tức biến tình trạng kiệt quệ của các doanh nghiệp thành cuộc khủng hoảng ngân hàng và biến tình hình bất ổn tài chính trong nước thành cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài. Với sự gia tăng nhanh chóng tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai, việc Hàn Quốc có thể xoay vòng được các khoản vay hay không trở thành vấn đề nóng hổi trong giai đoạn đó. [119] Lo sợ Hàn Quốc không thể chi trả được các khoản vay nước ngoài, Hoa Kỳ hối thúc Park chấp nhận chương trình giải cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). IMF cùng với Ngân hàng Thế giới và các cơ quan quốc tế khác cung cấp các khoản vay cứu trợ với điều kiện Hàn Quốc phải phá giá tiền tệ, kìm hãm chính sách tiền tệ mở rộng và phấn đấu cho một cán cân tài khóa tốt hơn. Hàn Quốc đã ký một thỏa thuận nợ dự phòng [120] trị giá 25 triệu đô-la Mỹ với IMF vào năm 1968 và ký mới một lần nữa vào năm 1969.

Bề ngoài, hầu hết các chỉ số kinh tế vĩ mô, từ các tỷ lệ tăng trưởng đến chỉ số giá tiêu dùng, đầu tư và tiêu dùng, đều thoát khỏi vùng nguy hiểm; một số thậm chí còn phát ra các tín hiệu điều chỉnh thông thường sau một giai đoạn tăng trưởng cao. Tuy nhiên, nắm được các thông tin tài chính vĩ mô ở cấp độ doanh nghiệp, Park biết rằng nền kinh tế Hàn Quốc đang ở bên bờ vực sụp đổ dưới áp lực của các khoản vay mất khả năng thanh toán khổng lồ (NPL). Đằng sau tốc độ tăng trưởng ấn tượng của những năm 1960 là sự thiếu vắng các thể chế độc lập để vận hành những nguyên tắc cẩn trọng thời hiện đại đối với hoạt động bảo lãnh nợ nước ngoài của nhà nước. Để khắc phục tình trạng mất cân bằng tài chính là hậu quả của việc thiếu đi các nguyên tắc cẩn trọng và để yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện tái cấu trúc như một phần của việc tái cơ cấu và xóa nợ cần thiết để tạo ra cán cân tài chính tốt hơn, Hàn Quốc đồng ý với IMF về thỏa thuận vay nợ dự phòng để áp dụng một mức trần lên các chỉ số tài chính, bao gồm tỷ lệ tăng trưởng tín dụng nước ngoài, quy mô tín dụng của ngân hàng trung ương dành cho các đơn vị chính phủ, khoản vay nước ngoài mới và việc nắm giữ ngoại tệ của các tổ chức tài chính. Không những thế, trong các cuộc đàm phán về viện trợ tài chính bổ sung vào tháng 6 năm 1971, IMF yêu cầu Hàn Quốc phải hạn chế dòng vốn đầu tư nước ngoài ngắn hạn, theo đuổi chính sách tài khóa giảm lạm phát, phá giá tiền tệ từ 329 thành 450 won một đô-la, thắt chặt chính sách tiền tệ, giảm các khoản vay ngân hàng, cắt giảm chi tiêu chính phủ và bãi bỏ các khoản trợ cấp xuất khẩu. Những đàm phán viên Hàn Quốc chấp nhận tất cả trừ việc bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu. Về vấn đề thay đổi tỷ giá hói đoái, họ phần nào nghe theo IMF, thiết lập tỷ giá 371,6 won một đô-la.

Các liệu pháp sốc của IMF tỏ ra không đủ để giải quyết làn sóng kiệt quệ tài chính và doanh nghiệp khiến Park thất vọng. Tỷ lệ lạm phát tăng mạnh vì sự phá giá. Chính sách tiền tệ nới lỏng mà Park theo đuổi giúp ông thắng trong các cuộc bầu cử năm 1971 cũng trở thành một nhân tố làm tăng giá. [121] Lần đầu tiên kể từ khi Park khởi động quá trình công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu vào năm 1963, nền kinh tế Hàn Quốc gặp phải một đợt suy thoái, gây khó khăn cho các nhà sản xuất với các NPL càng lớn hơn nữa. [122] Tốc độ gia tăng nợ xấu nhanh chóng của các nhà sản xuất ngăn cản các ngân hàng quốc doanh gia hạn nợ để giúp các doanh nghiệp trả vốn và lãi vì sợ rằng khả năng thanh khoản của chính họ bị dính sâu hơn với các nhà sản suất yếu kém về tài chính. Do đó, nhiều công ty lớn của các chaebol đã đi đến phá sản, điều này thúc đẩy chủ tịch Liên đoàn Công nghiệp Hàn Quốc Kim Yong-wan khẩn cầu gói giải cứu nhà nước từ Park. Vì quy mô quá lớn của các NPL, vị chủ tịch FKI yêu cầu Park chuyển các khoản vay từ thị trường chứng khoán phi chính thức tư nhân của các doanh nghiệp kinh doanh thành các khoản vay ngân hàng lãi suất thấp, nhằm giảm các khoản thuế doanh nghiệp đi một nửa, và để nới lỏng chính sách tiền tệ thắt chặt. Đón nhận các yêu cầu từ những doanh nghiệp lớn, Park viện đến các quyền khẩn cấp mới được ban cho trong Luật An ninh Quốc gia Đặc biệt năm 1971. Vào tháng 8 năm 1972, ông ban hành Sắc lệnh Khẩn cấp Bình ổn và Tăng trưởng Kinh tế (EDESG).

Biện pháp chính sách quan trọng nhất về mặt tài chính và gây tranh cãi nhất về chính trị được áp dụng bằng sắc lệnh khẩn cấp này chính là biện pháp tạm thời đóng băng các khoản thanh toán gốc và lãi của các công ty trên thị trường chứng khoán phi chính thức tư nhân “cho vay nặng lãi”. Biện pháp này cố gắng giảm nhẹ các áp lực lên tình trạng kiệt quệ tài chính và tổ chức và qua đó ngăn cản tình trạng vỡ nợ đối với các khoản vay nước ngoài bằng cách chuyển phần lớn các chi phí điều chỉnh từ các chaebol và ngân hàng quốc doanh sang cho những người cho vay tư nhân trong thị trường chứng khoán phi chính thức. Sắc lệnh cũng bơm vào các khoản cho vay chính sách khổng lồ, việc này một lần nữa tái khẳng định nguyên lý xã hội hóa các chi phí tái cấu trúc doanh nghiệp đã được thời gian chứng minh để tiếp tục tạo ra khả năng siêu tăng trưởng thay vì phải loại bỏ các hiểm họa đạo đức để chấm dứt vòng luẩn quẩn kiệt quệ tài chính. Với tầm ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính hình thành năm 1972, sắc lệnh khẩn cấp khác biệt so với các chương trình giải cứu trước đó ở quy mô của các khoản cho vay chính sách ưu đãi. [123] Sắc lệnh khẩn cấp này đã chuyển các khoản vay ngân hàng ngắn hạn lãi suất cao của các doanh nghiệp kinh doanh thành các khoản vay dài hạn lãi suất thấp thông qua việc phát hành trái phiếu đặc biệt trị giá 200 tỷ won và bằng cách thiết lập một quỹ nhà nước để tài trợ cho các chương trình hợp lý hóa công nghiệp (xem chương 9). Rõ ràng Park cho rằng chế độ của ông có thể phải gánh chịu những thiệt hại chính trị không thể khắc phục nếu ông không kiểm soát và khắc phục được tình trạng kiệt quệ tài chính và tổ chức. Tin rằng tình trạng này cần phải được khắc phục, Park bỏ ngoài tai những chỉ trích về việc xâm phạm quyền sở hữu tư nhân của EDESG và việc gia tăng tập trung hóa nặng nề thu nhập vào các chaebol. Sắc lệnh khẩn cấp đã có tác dụng. Các chaebol được giải phóng khỏi các áp lực sụt giảm thanh khoản và nền kinh tế Hàn Quốc phục hồi đáng kể, gia tăng đầu tư đến 40% và xuất khẩu đến gần 100% vào năm 1973. Tỷ lệ tăng trưởng trong quý đầu tiên của năm 1973 đạt đến 19,3%, gấp ba lần so với cùng kỳ năm 1972.

Khi đã đưa các chaebol vào một vị thế tài chính vững chắc hơn thông qua EDESG, Park hiện giờ đang ở trong vị thế có thể đánh cược kinh tế nhằm biện minh cho ván bài chính trị thay đổi thể chế đã chuẩn bị từ lâu. Với các chaebol đã thoát khỏi tình trạng sụt giảm thanh khoản và mối nguy hiểm mất khả năng chi trả nợ vay nước ngoài đã vượt qua, Park giờ có thể nghiêm túc khởi động công cuộc công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóa chất như một minh chứng cho các sức mạnh của chế độ yushin sẽ sớm được công bố. Như cho thấy dưới đây, kế hoạch chính danh hóa chế độ cũng tạo ra lợi ích là xây dựng nền tảng công nghiệp cho an ninh quốc gia và xây dựng một bộ máy siêu tăng trưởng. Quan trọng nhất, bằng cách điều chỉnh nền kinh tế quá nóng thông qua xã hội hóa các chi phí tái cấu trúc doanh nghiệp, EDESG của Park càng củng cố thêm mối quan hệ cộng sinh với các chaebol. Các nhà sản xuất nợ ơn Park đã giúp họ sống sót vào năm 1972 và sẵn sàng trả nợ ông bằng việc quyết liệt theo đuổi mục tiêu kinh tế mới của ông là HCI. Một cách tổng quát hơn, bằng cách vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính tưởng chừng như không thể hóa giải, Park một lần nữa đã củng cố hình ảnh một lãnh đạo giữ lời hứa thường được biết tới của ông. Khi đã bình ổn các thị trường tài chính, củng cố niềm tin, lòng trung thành của các chaebol và chứng minh được năng lực giải quyết vấn đề của mình thông qua EDESG, Park chỉ còn cách mục tiêu thay đổi chế độ nửa bước. Để tiến được nửa bước còn lại, Park phải nghĩ ra một tầm nhìn toàn diện đầy hứng khởi có khả năng biện minh cho việc áp đặt chế độ độc tài. Cuộc tìm kiếm một ý tưởng như vậy kết thúc với việc khởi động đối thoại hai miền Triều Tiên ở lĩnh vực an ninh và tiến hành công cuộc công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất ở lĩnh vực kinh tế.

Chuyển hóa cuộc khủng hoảng an ninh thành cơ hội chính trị

Park đạt đến đỉnh cao quyền lực vào năm 1972, tuy nhiên kể cả khi đó ông cũng cần phải phát triển một lý luận về thay đổi chế độ nếu ông không chỉ phải biện minh cho các hành động có kế hoạch của mình mà còn phải bảo vệ đỉnh cao quyền lực đó. Cách phân tích này được đưa ra bởi môi trường an ninh thay đổi nhanh chóng của Hàn Quốc. Theo nhiều cách, chế độ yushin chính là sự khôi phục lại các tư tưởng chiến tranh lạnh của Hàn Quốc và điều chỉnh các tư tưởng này trong môi trường xoa dịu căng thẳng mới ở tầm toàn cầu và khu vực. Động lực thay đổi đến từ việc hạn chế mức độ tham gia quân sự của Mỹ vào Đông Á theo Học thuyết Guam năm 1969 của Tổng thống Richard M. Nixon. Hoa Kỳ lúc bấy giờ đang cố gắng kết thúc Chiến tranh Việt Nam thông qua ngoại giao, khởi động một giai đoạn xoa dịu căng thẳng với Liên Xô và sau cùng là Trung Quốc để đưa miền Bắc Việt Nam đến bàn đàm phán. Sự phối hợp về thời gian cho các điều chỉnh chính sách toàn cầu và khu vực của Mỹ không thể nào tồi tệ hơn đối với Park bởi các đe dọa quân sự từ Triều Tiên đang gia tăng ở Bán đảo sau công bố về “Bốn Nguyên tắc Quân sự” hung hăng của Kim Il Sung. Các căng thẳng vẫn còn cao độ ở Bán đảo Triều Tiên vào năm 1968 và 1969 với việc Triều Tiên bắn hạ một máy bay trinh sát Mỹ và gửi lính du kích có vũ trang đến Seoul rồi sau đó là các khu vực Uljin và Samcheok (xem Chương 6). Năm 1970, một tàu phát sóng trên biển của Hàn Quốc đã bị Triều Tiên bắt giữ trên biển Vàng, và ở Nghĩa trang Quốc gia Tongjakdong, một quả bom do các đặc vụ Triều Tiên cài đặt đã phát nổ. Lính du kích có vũ trang từ Bắc Triều Tiên tiếp tục xâm nhập vào Hàn Quốc thông qua quần đảo Kyongnyolbi, vịnh Kunja và biển Đông.

Các xu hướng xoa dịu toàn cầu-khu vực đối nghịch nhau cùng với sự trỗi dậy của các căng thẳng quân sự ở Bán đảo Triều Tiên đã dẫn đến các rạn nứt chính trị. Park ủng hộ quan điểm chính thống, hóa giải các mối đe dọa quân sự tiếp diễn từ Bắc Triều Tiên trong thời kỳ xoa dịu toàn cầu-khu vực mới nhằm nêu lên một thách thức an ninh ở quy mô chưa từng có, buộc Hàn Quốc phải đối mặt với những lời đe dọa từ Bắc Triều Tiên khi mà sự ủng hộ từ Mỹ đã yếu đi rất nhiều và thậm chí còn có thể lâm vào tình trạng cách ly ngoại giao. Hàn Quốc lúc bấy giờ thua xa Triều Tiên trong việc giành được sự ủng hộ từ các nước “không cùng định hướng” trong Thế giới Thứ ba. Ngược lại, Kim Dae-jung lại thấy tình hình này đòi hỏi một sự chuyển dịch chuẩn mực trong chính sách an ninh. Như đã nói, trong cuộc bầu cử năm 1971, Kim Dae-jung đã công bố đề xuất của riêng ông về một giai đoạn xoa dịu ngắn trên Bán đảo Triều Tiên, giai đoạn này kêu gọi thiết lập hòa bình và cuối cùng là một quá trình thống nhất đất nước có đàm phán giữa hai nước Triều Tiên thông qua các cuộc đối thoại ngoại giao với Hoa Kỳ, Liên Xô, Nhật Bản và Trung Quốc. Kim Dae-jung cũng chỉ trích chiến lược chiến tranh lạnh đối đầu quân sự của Park là một âm mưu để tạo ra chế độ cai trị vĩnh viễn của Park bằng cách phóng đại các mối đe dọa an ninh từ Bắc Triều Tiên. Đối phó với các cáo buộc này, Park lập luận rằng việc triệt thoái quân sự của Hoa Kỳ khỏi Đông Á có thể tạo ra một giai đoạn xoa dịu đối với các siêu cường quốc ở quy mô toàn cầu nhưng không chắc sẽ có ở Bán đảo Triều Tiên vì sự tồn tại của hai nhà nước riêng biệt trên bán đảo này với những đặc trưng quốc gia, chế độ và các liên minh quân sự với các siêu cường cạnh tranh không hề tương thích với nhau. Trái với sự khẳng định của Kim Dae-jung rằng thời kỳ xoa dịu toàn cầu-khu vực sẽ mở ra một cơ hội hiếm có để tạo ra sự hòa hợp giữa hai miền Triều Tiên, Park lập luận rằng Hàn Quốc đang trở nên mỏng manh hơn về mặt quân sự do các hành động đơn phương của Mỹ. Theo ông, việc Mỹ cắt giảm sự hiện diện quân sự ở Đông Á là quá sớm, thời điểm đó Hàn Quốc vẫn còn phải phấn đấu để bắt kịp các tiềm lực quân sự của Triều Tiên. Quyết định của Mỹ có thể sẽ dẫn đến phá vỡ thế cân bằng quân sự giữa hai miền Triều Tiên theo hướng có lợi cho miền Bắc, điều này có thể dẫn đến việc lập lại một cuộc xâm lược toàn lực của Bắc Triều Tiên. Dẫn chứng Cuộc chiến 6 ngày ở Trung Đông như một ví dụ cho chiến tranh hiện đại, Park cảnh báo rằng Hàn Quốc không nên hạ thấp mức độ phòng vệ nếu không muốn Triều Tiên phát động một cuộc chiến tranh chớp nhoáng chiếm đóng Seoul và rồi sẽ làm như đó là một hành động đã rồi đối với Hoa Kỳ với hy vọng đàm phán về một hiệp định đình chiến. Để phản ứng lại, phe chỉ trích cáo buộc Park cố tình ngăn cản giai đoạn xoa dịu đang đến ở Bán đảo Triều Tiên vì lợi ích chính trị của riêng ông trong việc tiếp tục nắm quyền dưới vỏ bọc là chiến đấu chống lại mối đe dọa quân sự từ Triều Tiên. Nếu giai đoạn xoa dịu diễn ra, phe chỉ trích dự đoán rằng hòa bình và chung sống cuối cùng sẽ bao trùm bán đảo Triều Tiên.

Những chỉ trích và bất đồng chính kiến gia tăng chống lại tư duy chiến tranh lạnh chính thống không hề làm Park thay đổi. Để ngăn không cho Hàn Quốc trở thành “một miền Nam Việt Nam khác” - một nhà nước từng liên minh với Hoa Kỳ nhưng rồi lại bị siêu cường này bỏ mặc vào giữa cuộc xung đột quân sự, Park kêu gọi “tăng cường lực lượng an ninh”. Cho rằng Hàn Quốc đang trong tình trạng chiến tranh vì hiệp định đình chiến năm 1953 đã không được thay thế bằng một hiệp ước hòa bình giữa các bên tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên, Park xây dựng một lực lượng dự bị mới gồm 2,5 triệu người để bảo vệ vùng hậu phương. Ngài tổng thống cũng thành lập Đoàn Sinh viên Vệ quốc với mục tiêu tổ chức các chương trình đào tạo quân sự ở các cơ sở đại học và các ngành công nghiệp phòng thủ cũng được thúc đẩy hơn bao giờ hết. Sau đó, vào tháng 12 năm 1971, Park tuyên bố tình trạng khẩn cấp và thông qua Luật An ninh Quốc gia Đặc biệt.

Ngay khi Park biến chế độ của ông thành một nhà nước quân đội vào tháng 12 năm 1971, hai vấn đề nổi lên. Đầu tiên, để tạo ra nền tảng vững chắc cho nhà nước quân đội, Park cần phải tạo ra một tầm nhìn bài bản tích cực hơn và hứng khởi hơn bên cạnh học thuyết tiêu cực đang có về các mối đe dọa an ninh. Thứ hai, suốt giai đoạn 1971-1972, số lượng những cuộc khiêu khích quân sự của Triều Tiên giảm đáng kể. Thời kỳ xoa dịu toàn cầu của các siêu cường cuối cùng đã tác động lên chế độ của Bắc Triều Tiên. Tiếp tục đi theo con đường “Bốn Nguyên tắc Quân sự” của Kim Il Sung kéo theo quá nhiều rủi ro cho Triều Tiên, vì nước này không thể khẳng định Liên Xô và Trung Quốc sẽ ủng hộ mình trong việc leo thang xung đột quân sự. Đối với Triều Tiên cũng như Hàn Quốc, thời kỳ xoa dịu đồng nghĩa với một sự điều chỉnh trong học thuyết chiến lược của từng nước. Vì vậy, Triều Tiên bắt đầu tìm kiếm những lựa chọn đối thoại với Hàn Quốc như là một chiến lược cho sự sống còn của quốc gia.

Với việc Triều Tiên đang tìm kiếm một chiến lược mới cho sự tồn tại của quốc gia và chính ông đang cần một tầm nhìn hứng khởi về Bán đảo Triều Tiên vì các lý do chính trị trong nước, Park nắm lấy ngay những dấu hiệu đầu tiên của Triều Tiên về việc tiếp nhận ý tưởng đối thoại hai miền nhằm phát triển một chiến lược song song vừa xây dựng quân sự vừa hòa giải quốc gia với mục tiêu củng cố nhà nước quân sự hình thành từ Luật An ninh Quốc gia Đặc biệt. Lộ trình đối thoại thứ hai đã được tiến hành từ ngày 15 tháng 8 năm 1970 khi Park phát biểu một diễn văn chào mừng Ngày Độc lập, thể hiện ý định tiến hành đối thoại liên Triều trên nguyên tắc “cạnh tranh công bằng trên cơ sở ý định tốt đẹp”. Một năm sau, Park tiếp tục với đề xuất tiến hành tái đoàn tụ các gia đình bị chia rẽ bởi tình trạng chia cắt đất nước nhờ các văn phòng Hội Chữ thập Đỏ ở hai miền Triều Tiên. Sáng kiến này được Hoa Kỳ ủng hộ, nước này lúc bấy giờ đang lo lắng về mối nguy hiểm bất ổn quân sự theo sau giai đoạn rút quân có lộ trình của Mỹ ở Hàn Quốc.

Dưới sức ép từ những bế tắc an ninh đang gia tăng của chính mình, Triều Tiên nhanh chóng đồng ý với đề xuất của Park về các cuộc đàm phán Chữ thập Đỏ Bắc-Nam. Đối thoại liên Triều có thể cho Bắc Triều Tiên cơ hội nhận được đầu tư nước ngoài và tìm được sự giải thoát khỏi áp lực xây dựng tiềm lực quân sự ở một tỷ trọng gây rối loạn chức năng kinh tế. Các cuộc đối thoại sau đó dẫn đến Tuyên bố Chung ngày 4 tháng 7 năm 1972, tuyên bố này cải thiện nhiều khó khăn an ninh đang đe dọa Park Chung Hee và Kim Il Sung. Đầu tiên, tuyên bố chung này hạn chế các căng thẳng quân sự bằng cách yêu cầu Triều Tiên phải giảm nhẹ “Bốn Nguyên tắc Quân sự”. Bằng cách công nhận lẫn nhau là nhà nước có chủ quyền trên thực tế, chứ không phải danh nghĩa, hai miền Triều Tiên, dù thận trọng, đã tiến đến một nhà nước chung sống hòa bình. Thứ hai, bằng cách ban cho Park và Kim tính chính danh để hợp tác với nhau vì lợi ích thiết lập một chế độ hòa bình mới trên Bán đảo Triều Tiên, tuyên bố chung cho phép hai lãnh đạo tái tổ chức các hệ thống cầm quyền chính trị tương ứng của họ để điều chỉnh tốt hơn với các yêu cầu của một trật tự thế giới xoa dịu đang nổi lên. Park phải ban hành chế độ yushin trong vòng bốn tháng, trái lại Kim đã hoàn thành giai đoạn củng cố tiếp theo của chế độ yuil mà theo đó, Đảng Công nhân, quân đội và nhà nước đặt dưới quyền chỉ huy duy nhất (yuil) của suryeong (Lãnh tụ) về cả thể xác lẫn tinh thần. Thứ ba, tuyên bố chung này tạo ra cơ hội cho Park Chung Hee và Kim Il Sung giành được sự ủng hộ rộng rãi vì thỏa mãn nhu cầu của quần chúng về tái thống nhất đất nước.

Chính từ tuyên bố chung này, Park đã tìm được tầm nhìn tích cực, hứng khởi mà ông cần để bổ sung vào học thuyết chiến tranh lạnh chống chủ nghĩa cộng sản được định nghĩa tiêu cực nhằm đồng thời tạo được sự ủng hộ trong công chúng và chương trình phòng vệ quân sự. Lập luận rằng thiết lập một “nền dân chủ quản trị kiểu Hàn Quốc” (xem Chương 4) hoặc một chế độ độc tài sẽ hiệu quả hơn nhiều khi đàm phán về các vấn đề hòa bình, chung sống và thống nhất với chế độ toàn trị kiểu Stalin của Triều Tiên, Park đề xuất ban hành chế độ yushin. Thú vị là, một ý tưởng tương tự đã được đánh cược bởi Kim Il Sung ở Triều Tiên. Mười ngày trước khi Park ban hành hiến pháp yushin vào ngày 17 tháng 12 năm 1972, Kim Il Sung sửa đổi hiến pháp, hoàn thành quá trình tập trung hóa quyền lực lâu dài của Triều Tiên vào tay Kim Il Sung và quá trình xây dựng một hệ thống xã hội chủ nghĩa theo kiểu Bắc Triều Tiên dựa trên ý thức hệ Juche. [124] Bằng cách tuyên bố Bình Nhưỡng thay vì Seoul là thủ đô của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Kim Il Sung cũng bắt đầu công nhận việc chia tách quốc gia là một tình trạng chính trị lâu dài chứ không phải tạm thời.

Tuy nhiên, với Park, cuộc đối thoại hai miền Triều Tiên là một con dao hai lưỡi, một mặt tập hợp được sự ủng hộ đại chúng cho chế độ yushin vì tính hiệu quả được khẳng định trong việc tiến hành thống nhất quốc gia trong hòa bình, nhưng mặt khác, nó có thể làm yếu đi ý thức của người dân Hàn Quốc về Triều Tiên như là một mối đe dọa chính trị. Khi ý thức của quần chúng về các mối đe dọa từ Triều Tiên giảm đi, điều không thể tránh khỏi là lý luận của Park để chính danh hóa chế độ yushin dựa trên nỗi ám ảnh về Triều Tiên cũng bị yếu đi. Có một nhà nước thù địch chỉ cách 40 dặm về phía Bắc của Seoul giúp ích cho chế độ chính trị của Park bằng cách tạo ra lý do để trấn áp xã hội và chính trị. Park biết rằng mình phải tham gia vào chiến lược đối thoại hai miền Triều Tiên mà không làm suy yếu đi chiến lược còn lại nhằm chính danh hóa chế độ yushin trên cơ sở cạnh tranh và đối đầu ý thức hệ vĩnh viễn với thế lực bên kia biên giới. Có lẽ, một khó khăn chính trị tương tự cũng ám ảnh Kim Il Sung, làm giảm đi sự nhiệt tình của hai vị lãnh đạo khi tham gia vào cuộc đàm phán thống nhất quốc gia khi họ đã hoàn thành giai đoạn củng cố quyền lực của chính mình. Đến giữa những năm 1970, hai miền Triều Tiên quay trở lại tình trạng căng thẳng và xung đột quân sự cũ. Ngược lại với giai đoạn đối thoại hai miền Triều Tiên tương đối ngắn, chiến lược phát triển công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóa chất được Park khởi động nhằm biểu dương năng lực giải quyết vấn đề vượt trội của chế độ yushin đã tiếp nối cho đến cuối chế độ cai trị của ông.

Chắc chắn là đầu những năm 1970 không phải là lần đầu tiên Park nói về HCI. Ngược lại, ông đã bị ám ảnh bởi ý tưởng này từ giây phút đầu tiên nắm chính quyền vào năm 1961. Tuy nhiên, trái ngược với tính tiếp diễn trong niềm đam mê cá nhân của ông với HCI, lộ trình HCI trong thời kỳ yushin khác với các nỗ lực HCI trước đây theo hai cách căn bản. Thứ nhất, khác với Park của những năm 1960 tập trung vào các dự án HCI như là những dự án đầu tư riêng biệt được hoạch định và tiến hành đơn lẻ rời rạc mà không hề có những liên kết hệ thống giữa các dự án, Park của giai đoạn sau 1973 xem HCI như một chiến lược kinh tế vĩ mô, đồng thời theo đuổi trên diện rộng các dự án đầu tư ở nhiều lĩnh vực với tầm nhìn kết hợp gồm các mối liên kết lẫn nhau trước và sau và với các lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Lộ trình HCI của thời kỳ yushin khác với các dự án HCI ở mức độ ưu tiên, phạm vi, quy mô và cách thức.

Thứ hai, vào giai đoạn sau năm 1973, Park đã sẵn sàng chi trả các chi phí cực kỳ cao của lộ trình HCI, bao gồm chi phí của tình trạng thù địch và bất mãn chính trị nổi lên từ những cách thức độc tài mà chính phủ dùng để theo đuổi lộ trình HCI. Với thu nhập bình quân đầu người thấp, nền kinh tế nhỏ và tình trạng thiếu thốn các mối liên kết công nghiệp của Hàn Quốc, Park phải viện đến các khoản tiết kiệm ép buộc, trợ cấp tài khóa và tài chính cũng như đàn áp lao động để huy động các nguồn lực đến quy mô cần thiết cho các mục tiêu HCI đầy tham vọng của ông. Vì vậy, lộ trình HCI từ trên xuống tiến triển đồng thời với thái độ thù địch ngày càng sâu sắc trong xã hội. Tuy vậy, Park tập trung vào mục tiêu HCI của ông thay vì thu hẹp quy mô chương trình kinh tế để phù hợp với các tiềm lực quốc gia chậm thay đổi. Ngược lại, vào những năm 1960, với ngoại lệ là xây dựng nhà máy tổ hợp thép (Chương 11), Park sẵn sàng rút lại kế hoạch nếu gặp phải các áp lực thị trường.

Câu hỏi đặt ra là vì sao Park lại chọn lộ trình HCI làm chiến lược kinh tế vĩ mô vào năm 1973. Hầu hết giới chỉ trích cho rằng ông chọn lộ trình HCI vì chế độ yushin bất chính danh chính trị cần một lời biện minh. Lộ trình HCI được xem như một biện pháp phòng thủ chống lại sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào chống đối trong xã hội trước chế độ độc tài. Về cơ bản, những người chỉ trích cho rằng Park của năm 1972 đang lâm vào một cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng khi mà tính chính danh của ông bị các lực lượng xã hội bác bỏ và xác định yushin là lựa chọn duy nhất còn lại cho ông để tại vị và lộ trình HCI là công cụ để biện minh cho việc ban hành chủ nghĩa độc tài. Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ hơn, hiện thực có vẻ phức tạp hơn nhiều.

Thứ nhất, không rõ là việc chuyển hướng sang HCI - và, vì vấn đề này, bản thân việc ban hành chế độ yushin - có thật sự góp phần củng cố chế độ chính trị của Park hay không. Ngược lại, kể cả trước khi ban hành yushin vào năm 1973, Park đã kiểm soát chắc chắn tình hình chính trị trong nước và nắm giữ đủ quyền lực để thông qua những điều ông cho là cần thiết cho quá trình hiện đại hóa, chẳng hạn như việc áp dụng Sắc lệnh Khẩn cấp Bình ổn và Tăng trưởng Kinh tế vào tháng 8 năm 1972 đã cho thấy. Hơn nữa, Park có thể cai trị xã hội Hàn Quốc thông qua các quyền khẩn cấp của mình kể cả trước khi khởi động yushin và lộ trình HCI, như việc tuyên bố tình trạng khẩn cấp và thông qua Luật An ninh Quốc gia Đặc biệt vào tháng 12 năm 1971 đã chứng minh. Nói cách khác, nếu bỏ qua việc xóa bỏ tất cả những hạn chế hiến định áp đặt lên việc tái tranh cử của ông, không thể thấy chắc chắn những giá trị tăng thêm nào mà yushin và lộ trình HCI tạo ra cho quyền lực chính trị của ông. Cụ thể hơn, tương phản sâu sắc với lập luận của giới chỉ trích rằng Park ban hành yushin để nâng cao năng lực chế độ nhằm trấn áp phong trào chống đối của công nhân, sinh viên và trí thức bất đồng chính kiến đối với sự cai trị độc tài, Park của giai đoạn trước 1972 vốn đã sở hữu một nhà nước an ninh hùng mạnh với những năng lực như vậy. Việc Park có thể trấn áp phong trào chống đối xã hội một cách hợp pháp khi ban hành các đạo luật an ninh vào năm 1971 càng làm suy yếu lập luận của giới chỉ trích. Nếu Park chỉ đơn thuần lo ngại về tính cấp thiết phải trấn áp phong trào chống đối xã hội, ông đã không cần đến yushin. Ông cũng không phải theo đuổi lộ trình HCI. EDESG vào năm 1972 đã giải quyết xong cuộc khủng hoảng tài chính rồi.

Thứ hai, tập trung vào HCI cũng không phải là điều mới lạ. Ngược lại, trong số sáu ngành công nghiệp nặng và hóa chất được Park xác định vào tháng 1 năm 1973 để làm ngành chiến lược trong quá trình phát triển định hướng xuất khẩu, công nghiệp kim loại không chứa sắt và các ngành công nghiệp hóa dầu đã là mục tiêu trong quá trình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đến cuối những năm 1960. Tương tự, bốn ngành công nghiệp còn lại đã từng được xác định là các ngành công nghiệp xuất khẩu tương lai vì bản chất thâm dụng lao động và thâm dụng vốn của chúng. Mặc dù một số nhà phân tích đã lập luận rằng Park tạo nên chế độ yushin để ngăn cản công nhân đòi hỏi tăng lương và các quyền lợi lao động trong các ngành công nghiệp nặng và hóa chất, Park đã sẵn có một cơ chế kiểm soát lao động hùng mạnh đang hoạt động trước khi ông khởi động chế độ yushin.

Nói như vậy không phải để chứng minh rằng kinh tế và chính trị không có liên quan gì đến việc ban hành yushin và lộ trình HCI. Ngược lại, cả hai đều có xuất phát là một chiến lược chính trị và kinh tế đặc biệt, tuy nhiên các động lực chính trị và kinh tế không phải là từ cuộc khủng hoảng tính chính danh và năng lực của Park. Các động lực về kinh tế và chính trị khác nhau đã góp phần đưa tới yushin. Chính việc xóa bỏ các giới hạn số nhiệm kỳ tổng thống hiến định, chứ không phải là các mối đe dọa từ tình trạng chống đối xã hội, bất ổn chính trị trong nước, mâu thuẫn công nghiệp và khủng hoảng kinh tế, đã thúc đẩy các bước đi của Park tiến đến chế độ yushin vào tháng 10 năm 1972. Nói cách khác, chính thế mạnh chính trị chứ không phải các điểm yếu của Park lý giải được thời gian và bản chất của sự thay đổi chế độ. Thật ra, các cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế mà nhiều nhà phân tích đề cập nổ ra lần đầu vào năm 1971-1972, lần này Park đã bình ổn thông qua EDESG, và sau đó vào năm 1978-1979 do tình hình chính trị hà khắc của yushin và lộ trình HCI quá sớm, quá mở rộng. Nói cách khác, cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của yushin và lộ trình HCI. Lộ trình HCI cực kỳ tham vọng. Vào tháng 1 năm 1973, ba tháng sau khi tuyên bố yushin, Park thông báo một kế hoạch để gia tăng xuất khẩu lên đến mức 10 tỷ đô-la Mỹ và GNP bình quân đầu người lên đến mức 1.000 đô-la Mỹ đến năm 1981 dựa trên giả định rằng lộ trình HCI của ông sẽ phát triển thành kết cấu công nghiệp cho Hàn Quốc. Không phải lộ trình HCI đòi hỏi sự thay đổi chế độ thành yushin mà khả năng cao hơn là chế độ yushin, được lập ra như một biện pháp khắc phục khó khăn chính trị ở các giới hạn hiến định về nhiệm kỳ tổng thống, cần phải có lộ trình HCI để biện minh cho chính nó.

Trớ trêu là sau đó, cuộc khủng hoảng an ninh gây ra bởi Học thuyết Guam của Nixon và quá trình triệt thoái quân sự Mỹ chính nó đã xóa bỏ điều lẽ ra đã trở thành chướng ngại khó khăn nhất đối với việc khởi động yushin - sự chống đối tiềm tàng của Mỹ. Vì Hàn Quốc vẫn còn là một quốc gia phụ thuộc [client state] của Hoa Kỳ mặc cho học thuyết Guam, cần chú ý rằng Park không hề làm yếu đi liên minh quân sự của Hàn Quốc với Hoa Kỳ khi thực hiện yushin. Khi biết được lợi ích của việc biến các lựa chọn chính trị của mình thành các sự kiện đã rồi đối với Hoa Kỳ mỗi khi lựa chọn đó ảnh hưởng đến lợi ích chính trị cầm quyền quan trọng của mình ở những năm chính quyền quân sự (xem Chương 1 và 2), Park cẩn thận không tiết lộ kế hoạch thay đổi chế độ của ông cho đến những phút cuối của quá trình chuyển giao chế độ. Đồng thời, Park hiểu rằng lợi ích của Mỹ trong việc duy trì ổn định chính trị ở Hàn Quốc nhằm tiếp tục chương trình phòng vệ quân sự chống lại Triều Tiên sẽ ngăn cản Hoa Kỳ thẳng thừng chống đối việc khởi động yushin. Ngoài ra, Học thuyết Guam đã bắt đầu quá trình triệt thoái quân sự của Mỹ khỏi Bán đảo Triều Tiên, Park cho rằng điều này đã làm suy yếu vị thế chính trị của Hoa Kỳ với ông. Vì vậy, Park bí mật chuẩn bị thay đổi chế độ mà không hề tham vấn Hoa Kỳ. Khi ông báo với Hoa Kỳ về sự thay đổi chế độ vào phút cuối, phản ứng tức thì của Bộ Ngoại giao là thận trọng giữ khoảng cách với chính quyền độc tài mới hình thành vì sợ Hoa Kỳ bị mắc kẹt trong vô vọng giữa các lực lượng với ý thức hệ phân cực thân và chống yushin . [125]

Bên cạnh đó, thời điểm diễn ra các động thái của Park cũng thuận lợi cho ông. Hoa Kỳ lúc bấy giờ đang bận tâm với nhiệm vụ thực thi Học thuyết Guam, và như một phần trong nỗ lực của nước này để rút lui khỏi các cam kết quân sự nước ngoài, siêu cường này đã rút 20.000 quân khỏi Hàn Quốc vào đầu những năm 1970. Trong bối cảnh rút lui quân sự, Hoa Kỳ không ở vào một vị thế chủ động tham gia vào các quá trình phát triển chính trị trong nước của Hàn Quốc, dĩ nhiên mức độ tham gia không bằng ở giai đoạn chính quyền quân sự 1961-1963. Hơn nữa, như đã nói trước đây, Park giờ đã khác về chất so với ông của những năm chính quyền quân sự. Khi lần thứ 3 chiến thắng trong cuộc chạy đua vào ngôi vị tổng thống chưa đầy một năm trước, Park của tháng 10 năm 1972 giành được sự ủng hộ to lớn từ quần chúng. Hơn nữa, không giống như chính quyền quân sự bất ổn với các cuộc đấu đá quyền lực nội nộ không ngớt đã ngăn cản Park thống trị vũ đài chính trị và mở ra cơ hội cho Hoa Kỳ tác động và gây ảnh hưởng lên nhóm lãnh đạo cốt lõi của liên minh, vào năm 1972 không một chính trị gia nào có thể nhận là đối thủ của Park. DRP chịu sự kiểm soát trực tiếp của ông với các thủ lĩnh cấp cao cấp hai của thế hệ tiếp theo hoặc là đã bị khuất phục, thanh trừng hoặc đã mất uy tín trước công chúng (xem Chương 5), bộ máy quan liêu nhà nước đã bị chuyển đổi thành một công cụ hiện đại hóa kinh tế tuy kế thừa nhưng được hợp lý hóa (Chương 7), phe đối lập đang đấu tranh để hợp nhất các lực lượng đối đầu của Kim Dae-jung và Kim Young-sam, và các chaeya bất đồng chính kiến vẫn đang hình thành (Chương 13). Khi không có các lực lượng đối lập nào trông cậy được bên trong DRP và NDP để liên minh, và nhận ra tầm kiểm soát chặt của Park với xã hội chính trị của Hàn Quốc, Hoa Kỳ sử dụng chiến lược chờ-và-xem khi Park áp dụng hiến pháp yushin vào năm 1972.

Tình hình chính trị trong nước Mỹ cũng ủng hộ Park. Không giống như John F. Kennedy, người hầu như không bao giờ che giấu sự khinh bỉ dành cho chế độ độc tài trong những năm chính quyền quân sự, Nixon sẵn sàng chịu đựng việc chuyển hướng sang nền chính trị hà khắc của Park. Hơn nữa, cố vấn an ninh quốc gia của Nixon, Henry A. Kissinger, là một người thực tế, ông xem cán cân quyền lực là động lực chính cho hoạch định chính sách đối ngoại. Kissinger đang tập trung vào nhiệm vụ thiết lập mối giao bang Trung - Mỹ nhằm kết thúc Chiến tranh Việt Nam và xây dựng một trật tự xoa dịu toàn cầu mới. Vấn đề dân chủ hóa Hàn Quốc đã được đánh giá dựa trên quan hệ của nước này với vấn đề an ninh quân sự tối quan trọng nói trên. Ngoài ra, Kissinger là một người bảo thủ, ông đánh giá Park dựa trên khả năng cầm quyền hiệu quả của Park. Nixon và Kissinger xác định, ưu tiên đầu tiên của Hoa Kỳ là thúc đẩy giai đoạn xoa dịu, ổn định và phòng vệ trên Bán đảo Triều Tiên thay vì tập trung vào sự phát triển của Hàn Quốc như một điển hình về dân chủ ở Đông Á. Hoa Kỳ cố gắng không can thiệp vào các sự vụ trong nước chống lại Park của Hàn Quốc để gây bất ổn thêm tình hình chính trị vốn đã biến động. Hơn nữa, việc Hoa Kỳ cần sự hợp tác của Park để tiến hành một lối thoát “danh dự” khỏi Chiến tranh Việt Nam càng ngăn cản Nixon và Kissinger không đối đầu với Park về vấn đề dân chủ. Theo đề nghị của Hoa Kỳ, Park đồng ý tạm ngưng giai đoạn rút lui quân sự thứ hai của Hàn Quốc khỏi miền Nam Việt Nam từ cuối năm 1972 đến tháng 6 năm 1973, khiến quân đội Hàn Quốc trở thành lực lượng lớn nhất trong số các lực lượng vũ trang nước ngoài trợ giúp miền Nam Việt Nam vào thời điểm ban hành yushin. Hoa Kỳ lúc bấy giờ đang đàm phán một hiệp ước hòa bình với miền Bắc Việt Nam để đẩy nhanh quá trình đàm phán. Việc Hoa Kỳ rút đi các đơn vị lục quân của nước mình khỏi Việt Nam càng khiến giá trị quân sự và chính trị của lục quân Hàn Quốc quan trọng hơn trong các tính toán chiến lược của Nixon. Việc ban hành hiến pháp yushin diễn ra vào tháng 10 năm 1972, giữa những cuộc đàm phán của Kissinger với miền Bắc Việt Nam, càng ngăn cản Nixon thẳng thừng chống đối Park vào những ngày đầu trọng đại của giai đoạn thay đổi chế độ, kể cả nếu Nixon có ý muốn làm như vậy.

Phẩm hạnh và vận may của Park Chung Hee

Theo nhiều khía cạnh, Park có lẽ đã khiến cho Niccolò Machiavelli rất tự hào. Đối với Machiavelli, vị quân vương “mới”, được định đoạt sẽ nâng xã hội đến đỉnh vinh quang, là một người sở hữu phẩm hạnh của người cai trị. Quân vương mới trong hình dung của Machiavelli “không ngừng khiến các chủ thể trở nên bị động nhưng thỏa mãn, cai trị họ bằng sức mạnh của loài sư tử nhưng với sự quỷ quyệt của loài cáo, nhận được sự tôn trọng từ những người ủng hộ nhưng cũng là một biểu tượng cho sự sợ hãi, tàn bạo nhưng hào phóng, và... có thể tránh xa bọn bợ đỡ.” Trên hết, vị “quân vương thận trọng sẽ không giữ lời hứa nếu việc đó đi ngược lại với lợi ích của ông, hoặc khi lý do khiến ông phải cam kết đã không còn giá trị nữa... Vị quân vương [mới] không bao giờ thiếu những lý do chính đáng để giải thích cho các hành vi vi phạm đức tin của mình.” Nói cách khác, phẩm hạnh quan trọng nhất của người cai trị là sự săn đuổi quyền lực và khả năng phát triển quyền lực một cách liên tục.

Trong giai đoạn chuyển đổi sang chế độ yushin, Park thể hiện đẩy đủ những phẩm hạnh mà Machiavelli mô tả. Ngài tổng thống có khả năng biến các thách thức chính trị, kinh tế và quốc tế thành cơ hội để củng cố quyền lực, nhằm lần lượt loại bỏ các lựa chọn thay thế đối với vị trí lãnh đạo của ông trong DRP, nhằm buộc mọi người phải chấp nhận các điều kiện cầm quyền của mình, nhằm tạo ra cấu trúc các động lực đúng đắn cho các cận vệ quyền lực để buộc họ phải hành động thay mặt các lợi ích chính trị của ông, và đủ đáng sợ để đòi hỏi sự đồng thuận từ lực lượng chống đối. Park “quỷ quyệt như loài cáo” trong việc tận dụng nỗi ám ảnh của công chúng về các mối đe dọa an ninh, sự chia rẽ xã hội và tình hình bất ổn chính trị để xây dựng cơ sở hạ tầng thể chế của một nhà nước an ninh. Ông cũng là “sư tử”, buộc các lực lượng chống đối phải cân nhắc cẩn thận trước khi thách thức tầm nhìn của ông về việc sự thay đổi chế độ sẽ tạo ra điều gì.

Bên cạnh năng lực lãnh đạo chính trị, Park được hỗ trợ bởi những sự kiện hoặc hoàn cảnh tình cờ. Tuy nhiên, những sự kiện này đã có thể trở thành cả khủng hoảng hoặc cơ hội, và chính Park là người biến chúng trở thành cơ hội. Thoạt nhìn, có vẻ như vận may đã hỗ trợ Park, tuy nhiên khi nghiên cứu kỹ hơn, chính Park đã biến các sự kiện này thành vận may nhằm dọn đường cho việc ban hành chế độ yushin. Thứ nhất, sự hình thành giai đoạn hòa dịu và việc hạn chế động thái triển khai quân sự kèm theo đó ở Đông Á đã tạo cho Park nhiều không gian hơn nhằm thao túng chính trị trong nước bằng cách kích động nỗi ảm ảnh Đỏ trong xã hội và bằng cách hạn chế khả năng can thiệp của Mỹ vào chính trị trong nước của Hàn Quốc nhằm chống lại Park dựa trên sự bảo trợ quân sự và kinh tế của cường quốc này. Bằng cách xác định thời gian chuyển đổi sang chế độ yushin là vào tháng 10 năm 1972, khi Hoa Kỳ đang bận rộn đàm phán các điều kiện hòa bình với miền Bắc Việt Nam, Park đã có thể ngăn Hoa Kỳ bày tỏ sự bất đồng chính kiến trong những ngày trọng yếu của giai đoạn thay đổi chế độ. Thư hai, cũng như cuộc khủng hoảng an ninh bắt nguồn từ Học thuyết Guam của Nixon, Park biến tình trạng kiệt quệ tài chính và tổ chức của Hàn Quốc thành điều kiện thuận lợi cho các lợi ích và mục tiêu chính trị của ông bằng cách dùng nó để biện minh cho việc thiết lập quyền tổng thống ban bố các biện pháp kinh tế khẩn cấp. Với quyền hạn mới đạt được để định hình thị trường thông qua các sắc lệnh tổng thống, Park đã giải quyết hiệu quả của tình trạng kiệt quệ doanh nghiệp và tài chính đang gia tăng của đất nước vào tháng 8 năm 1972. EDESG góp phần vào quá trình củng cố quyền lực của ông không chỉ bằng cách loại bỏ những trở ngại tài chính cho HCI, công cuộc mà ông đã chuẩn bị để chính danh hóa bước chuyển sang chế độ yushin, mà còn bằng cách tăng cường liên minh của ông với các chaebol trên cơ sở trao đổi chính trị bất cân xứng. Thứ ba, ngay cả những khiêu khích quân sự lặp đi lặp lại của Triều Tiên giai đoạn 1968-1971 và những đề xuất hòa bình của Kim Il Sung năm 1972 cũng trở thành công cụ để Park thuyết phục công chúng về lý do chế độ yushin cần phải được thiết lập. Ông mô tả yushin như câu trả lời cho cả nỗi ám ảnh xâm lược quân sự từ Triều Tiên và cả hy vọng chung sống hòa bình với miền Bắc. Thứ tư, việc bùng nổ phong trào bất đồng xã hội sau cuộc bầu cử tổng thống năm 1971 đã tạo ra lời biện minh cho bước tiến tới chế độ yushin độc tài bằng cách gia tăng nỗi ám ảnh về bất ổn chính trị.

Trong phân tích trước, chính tầm nhìn của Park với mong muốn trở thành Minh Trị của Hàn Quốc đã giúp ông vận dụng được phẩm hạnh của mình nhằm biến nhiều thách thức chính trị, kinh tế và an ninh thành vận may. Trong ví dụ thứ nhất, Park ban hành yushin để kéo dài thời gian cầm quyền của mình. Tuy nhiên việc kéo dài chế độ của ông cũng được cho là cần thiết để xây dựng một quốc gia thịnh vượng và hùng mạnh. Yushin là một công cụ để chuyển hóa Hàn Quốc thành một Nhật Bản thứ hai. Không may cho Park là, chính công cụ này cũng là mầm mống cho tình trạng bất chính danh trong ý thức hệ gây ra sự sụp đổ của ông vào năm 1979.

« Lùi
Tiến »