Hoàng Đế Cuối Cùng

Lượt đọc: 11653 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VI - (4)
lần thứ ba làm hoàng đế

   “Cácbề tôi cũ ở Bắc Kinh và Thiên Tân nghe tin Hoàng thượng nhận chức chấp chính ngờ rằng tôn hiệu từ nay bị thủ tiêu, đều đau buồn và công phẫn sâu sắc. Ngay những người đã từng làm quan lại Dân quốc như Tào Nhữ Sâm, Uông Vinh Bảo... cũng lấy danh nghĩa quan hệ rất quan trọng mà nói. Thần lấy việc Hoàng thượng mấy lần kiên quyết cự tuyệt, sau bắt đầu đắc dĩ phải chấp nhận một cách khổ tâm để giải thích. Người nghe bước đầu biết sự thật trong đó nhưng cuối cùng cũng không loại bỏ được sự nghi ngờ”…

            Đây là một đoạn trong thư của Trần Tăng Thọ về nghỉ ở Thiên Tân sau một tháng tới nhận chức chấp chính. Những lời tâu như thế từ Bắc Kinh, Thiên Tân gửi tới còn có mấy bản khiến tôi hết sức đau đầu.

            Theo ước định, hết thời kỳ tôi chấp chính một năm, nếu như quân Quan Đông không thực hành đế chế, tôi có thể từ chức. Song tôi không làm như vậy, không có can đảm như vậy vì nếu như quân Quan Đông cho từ chức, tôi có thể đi đâu?

            Mấy ngày đầu sau một năm nhận chức, ngoài dự tính của tôi, tại một cuộc hội kiến, Muto Nobuyoshi nêu trước với tôi vấn đề này. Ông ta nói: Nhật Bản hiện đang nghiên cứu vấn đề quốc thể nước Mãn Châu, khi thời cơ chín mùi, vấn đề này tự nhiên có thể giải quyết. Sau đó không lâu, từ 27 tháng 3; để càng thuận tiện cho việc tự do hành động, Nhật Bản rút khỏi liên minh quốc tế. Đồng thời, quân Nhật Bản đẩy mạnh các hoạt động quân sự tấn công các cửa vào Trường Thành, hình thành thế bao vây đối với Bắc Bình và Thiên Tân. Cuối tháng 5, Nam Kinh chỉ lo việc nội chiến đã càng thoả hiệp với Nhật Bản, ký “hiệp định Đường Cố” quy vùng phía Nam Trường Thành, khu vực Đái - Đông là khu không có vũ trang, rút quân đội Trung Quốc đi khiến thế lực Nhật Bản càng khống chế Hoa Bắc. Trong tình hình đó, những người hăng hái phục tích đều được cổ vũ rất lớn, đều cho rằng thời cơ đã chín muồi, tới tấp hoạt động. Trong tháng 3, Hy Hiệp đã thúc đẩy người tin cậy của ông ta là Lâm Học Tuyền, tập hợp một đám “di dân” tộc Mãn và các nghị viên Đông tam tỉnh cũ, tụ hội ở Trường Xuân mưu toan đưa ra một bản tuyên bố, nhưng bị hiến binh Nhật Bản ngăn chặn, khi đó lại khôi phục hoạt động. Một số nhân vật thuộc hệ Trực cũ ở Hoa Bắc và một số đặc vụ lưu vong Nhật Bản chuẩn bị “suy tôn” Ngô Bội Phu lộ mặt; một số di lão ở Bắc Bình - Thiên Tân vì thế cử người đến liên lạc phục tích ở Hoa Bắc, Đông Bắc. Trong tháng 7, chánh văn phòng tổng vụ Komai Tokuzo rút lui, nhận một triệu đồng tiền từ chức, ngoài ra còn muốn có một khoản tiền “cơ mật phí” rất lớn, đi tìm Hoàng Phù vận động Hoa Bắc độc lập. Lúc sắp đi, hắn bày tỏ với Trịnh Hiếu Tế vẫn muốn đến Thượng Hải giúp tôi hoạt động việc phục tích trong toàn quốc sau này. Tóm lại, trong một số ngày đó, thường xuyên có thể nghe thấy những lời đồn về phục tích hoặc đế chế. Những lời đồn đó cổ vũ tôi, cổ vũ những người có dã tâm như tôi. Tiết Trùng dương năn đó Trịnh Hiếu Tế viết một bài thơ trong đó có những từ “Chí khí” khôi phục “hậu Thanh”... khiến ác cảm của tôi đối với ông ta giảm nhiều. “Mộng hoàng đế” của tôi lại diễn lại. Tôi hết sức quan tâm tin tức các mặt. Tôi càng đặt hy vọng vào quân đội Nhật Bản những kẻ tàn sát đồng bào mình. Sau khi quân đội Nhật chiếm lĩnh toàn bộ Nhiệt Hà, tôi đã mở tiệc linh đình chúc mừng, thăm hỏi Muto Nobuyoshi và các tướng lĩnh quân đội Nhật Bản tham gia tác chiến, chúc họ “Vũ vận trường cửu”, “thắng lợi này tiếp thắng lợi khác”. Sau đó, một cánh quân Nhật Bản chiếm lĩnh Mật Vân chỉ cách Bắc Kinh một trăm dặm liền án binh bất động, đối với việc đó tôi cảm thấy rất thất vọng. Khi đó Trịnh Hiếu Tế nói với tôi: quân Nhật chiếm lĩnh Hoa Bắc cũng như Hoa Nam chỉ là việc sớm hay muộn. Việc khẩn cấp hiện nay vẫn là cần giải quyết trước vấn đề thể chế nước Mãn Châu. Ông ta lại nói: quyết định việc này không phải ở quân đội Quan Đông mà là ở phía Tokyo. Ông ta đã nghe nói nhiều người trong phái nguyên lão Tokyo đều chủ trương tôi lên ngôi. Nghe lời ông ta, tôi cảm thấy cần cử người đi Tokyo hoạt động, ít nhất cũng cần thăm dò tin tức.

            Nhận sứ mạng này là Kudo Tetsusaburo, sĩ quan cảnh vệ của tôi. Kudo Tetsusaburo đã đi theo tôi từ Thiên Tân đến Đông Bắc. Từ cuối triều Thanh y đã theo hầu Thang Sung. Trong hoạt động phục tích của Thang Sung sau đó, y là kẻ tích cực tân trợ. Khi tôi tôi ở Lữ Thuận, y không xuất hiện với tư cách đại biểu phía quân đội như Amakashira và Kaeisumi mà là đứng cạnh tôi nói chuyện thậm chí và tỏ ý bất mãn sau lưng đối với quân Quan Đông. Có một lần, tôi thấy nước chè trong chén có vẻ khác màu, sợ có người đầu độc, muốn gọi người đưa đi hoá nghiệm, lúc đó Tetsusaburo lập tức bưng chén uống một ngụm. Sau khi tôi làm chấp chính, y là người Nhật Bản duy nhất gọi tôi là Hoàng thượng và thường xuyên tỏ ý không hài lòng đối với sự ngang ngược của quân Quan Đông, thường tỏ ý tin rằng tôi nhất định có thể khôi phục danh vị “hoàng đế Đại Thanh”. Lòng trung thành của y đã biểu hiện không kém các di lão tiêu chuẩn nhất vì vậy tôi cho y đổi tên thành “Trung”, đối xử như người nhà mình, y cũng cảm động rơi nước mắt, thề chết vẫn trung thành, mãi mãi không thay đổi. Nhận sứ mạng tôi giao phó, đi không bao lâu liền trở về. Ở Nhật Bản, y đã gặp Minami Jiro và các nhân vật quan trọng của Hội Hắc Long, thăm dò được nhân vật đương quyền phái quân đội đồng ý thực hành đế chế. Theo tin tức của y, tôi tin rằng thời cơ sẽ đến nhanh.

            Tháng 10/1933, tin tức của Tetsusaburo đã được chứng thực. Kế nhiệm tư lệnh quân Quan Đông Hishikari Takashi chính thức thông báo nói: Chính phủ Nhật Bản chuẩn bị thừa nhận tôi làm “hoàng đế đế quốc Mãn Châu”.

            Nhận được thông báo đó, tôi vui mừng vô hạn. Việc thứ nhất tôi nghĩ tới là phải chuẩn bị một bộ long bào.

            Long bào do thái phi mang từ Bắc Kinh tới, song quân Quan Đông lại nói với tôi: Nhật Bản thừa nhận là “hoàng đế nước Mãn Châu” chứ không phải là “Hoàng đế đại Thanh”. Vì vậy, tôi không thể mặc long bào đại Thanh, chỉ được mặc “lễ phục đại nguyên soái hải, lục, không quân nước Mãn Châu” do quân Quan Đông quy định.

            - Sao lại như thế được? - tôi nói với Trịnh Hiếu Tế - ta là người thừa kế họ Ái Tân Giác La, sao lại không mặc chế phục của tổ tiên? Lại nói họ tôn thất Giác La ở Bắc Kinh đều sẽ tới, nhìn thấy ta mặc trang phục kiểu Tây như thế thì lên ngôi còn có ý nghĩa gì?

            - Hoàng thượng nói đúng. - Trịnh Hiếu Tế gật đầu, nhìn long bào để trên bàn. Con người luôn luôn muốn là thừa tướng “hậu Thanh” này có thể đang tính toán cái mũ lông công, chóp san hô chánh nhất phẩm giờ đây đối với tôi khá vâng lời. Ông ta gập đầu nói: - Hoàng thượng nói đúng song nói như thế nào với phía quân Quan Đông?

            - Ta cử ông đi.

            Trịnh Hiếu Tế đi rồi tôi một mình ngắm bộ long bào do thái phi Vinh Huệ cất giữ 22 năm qua, lòng đầy xúc cảm. Đây là bộ long bào mà tôi đã mong đợi 22 năm qua. Tôi phải mặc để lên ngôi, đây là điểm đầu tiên khôi phục triều Thanh.

            Đầu óc tôi chưa bình tĩnh trở lại thì Trịnh Hiếu Tế đã về. Ông ta báo cáo rằng quân Quan Đông vẫn giữ ý kiến khi lên ngôi phải mặc lễ phục nguyên soái.

            - Ông có đi giao thiệp không?

            - Thần sao dám không đi. Đó là do Itagaki đích thân nói với thần.

            - Như thế sao được? - tôi biết vậy - trước khi lên ngôi phải làm lễ tế trời, chẳng lẽ bảo tôi mặc trang khục nguyên soái đội mũ tế trời ư?

            - Thần lại đi nói với Itagaki!

            Trịnh Hiếu Tế đi rồi, Hồ Từ Viện tìm đến nhắc tôi: Cần đấu tranh không phải là chế phục, quan trọng là nói với phía quân Quan Đông về quyền quyết định bổ nhiệm và bãi miễn quan lại. Nếu như vấn đề này được giải quyết thì Hồ phục cưỡi ngựa bắn cung của Triệu Vũ Hưng Vương cũng tốt.

            Thực ra, Hồ Từ Viện cũng như tôi, đều không biết rõ Nhật Bản muốn đế chế này chẳng qua để tôi càng bù nhìn hơn, càng thuận lợi cho việc họ thống trị mảnh đất thực dân này. Danh nghĩa hoàng đế cũng chẳng mang lại cho tôi quyền lực gì. Người như tôi lại làm sao học được cưỡi ngựa bắn cung? Ngoài việc dựa vào cái ủng da của quân Quan Đông tôi thật ra chẳng biết làm cái gì, nghĩ cái gì cho nên sau đó, quân Quan Đông đồng ý tôi mặc hoàng bào tế trời tôi cũng không còn tranh chấp gì nữa.

            Sáng sớm 1/3/1934, tại thôn Hạnh Hoa ngoại ô Trường Xuân, trên “Thiên đàn” đắp bằng đất, tôi mặc long bào làm lễ cổ tế trời lên ngôi...

            Khi đó Phủ chấp chính đổi thành “Phủ nội cung”. Nơi tôi ở này vì kiêng gọi “hoàng cung” của Thiên hoàng Nhật Bản nên gọi là “đế cung” sau đó nhà cửa bên trong, ngoài việc xây thêm một “điện Đồng đức” còn lại đều là sửa chữa lại, trên lầu vẫn như cũ. Nghi lễ lên ngôi cử hành tại lầu Cần dân.

            Hôm đó, phòng lớn lầu Cần dân trải một thảm đỏ lớn, tường phía bắc dùng màn lụa đỏ trang trí thành một nơi như bàn thờ thần phật, ở giữa đặt một chiếc ghế tựa cao chế tạo đặc biệt, bên trên khắc hoa lan. Tôi đứng trước ghế này, xếp hàng đứng hai bên là Bảo Hy, đại thần Phủ nội cung, chánh Võ quan tuỳ tùng Trương  Hải Bằng, vũ quan tuỳ tùng Ishimaru và Kim Trác, Xứ trưởng thị vệ. Kudo Tetsusaburo Trung, quan thị vệ Hy Luân Hoán (em Hy Hiệp), Nhuận Lương (anh Uyển Dung) và một số người khác.

            Trăm quan văn võ do “Tổng lý đại thần” Trịnh Hiếu Tế đứng đầu xếp hàng làm lễ vái tôi ba vái, tôi nửa cúi mình đáp lại. Tiếp đó là đại sứ Nhật Bản Hishikari trình quốc thư và chúc mừng tôi. Cử hành xong những nghi thức này, những người Giác La từ Bắc Kinh tới cũng như những người ở Phủ nội vụ trước lại làm lễ ba lần quỳ, chín lần vái. Đương nhiên, tôi ngồi trên ghế nhận lễ.

            Di lão các nơi ở quan nội như Trần Quý Long, Diệp Nhĩ Đăng, Lưu Thừa Hiên, Thẩm Tăng Trực, Thẩm Tăng Đồng, Chương Sâm, Lê Thậm Kỳ, Trần Bá Đàn, Ung Diệu Phổ... đều gửi biểu đến chúc mừng. Thường Ngọc Thanh, đần sỏ lưu manh ở Thượng Hải cũng gửi lời tâu tới xưng là bề tôi. Ngày 6 tháng 6, Chichibuno Miya Yasuhito, em Thiên hoàng Nhật Bản đến chúc mừng, tặng huân chương Huân vị Cúc hoa. Tháng 7, cha tôi mang các em trai, em gái tôi đến Trường Xuân thăm tôi. Khi ông đến Trường Xuân, tôi cử các quan Cung nội phủ do Bảo Hy dẫn đầu và một đội bảo vệ do Đồng Tế Hy dẫn đầu đến ga Trường Xuân xếp hàng đón tiếp. Tôi và Uyển Dung đứng đợi ở trong “đế cung” và cửa ngoài. Uyển Dung trang điểm trang phục trong hoàng cung. Tôi mặc quân phục, ngực đeo đầy huân chương.

            Huân chương của tôi có 3 chiếc, một chiếc do Nhật bản tặng, một chiếc của “đế quốc Mãn Châu”, một chiếc khác “đế quốc đại Thanh” do tôi ngầm cử người vào cửa quan chế ra. Chiếc thứ ba này tất nhiên không thể sử dụng trước mặt quân Quan Đông, chỉ có thể lợi dụng dịp này để đeo.

            Xe ô tô của cha tôi tới, tôi đứng nghiêm, cạnh xe của ông, chào ông theo quân lễ. Uyển Dung quỳ thỉnh an. Sau đó tôi đưa ông vào phòng khách, lúc đó trong nhà không có người ngoài, tôi chưa cởi bỏ quân phục, quỳ lạy thỉnh an.

            Tối hôm đó, mở tiệc lớn. Ăn cơm tây, xếp đặt chỗ ngồi hoàn toàn theo quy củ phương Tây, do tôi và Uyển Dung ngồi ghế chủ nhân nam,  nữ.

            Ngoài ra, theo sự sắp đặt của tôi, khi tôi bước vào phòng tiệc, đội nhạc bắt đầu tấu nhạc.

            Khi tiệc đến lúc uống sâm banh, theo sắp đặt của tôi, Phổ Kiệt đứng lên nâng chén hô to: “Hoàng đế bệ hạ muôn năm, muôn năm, muôn năm”. Cả gia tộc tôi đều hô theo kể cả cha tôi. Nghe những tiếng hô này dù người không say rượu cũng cảm thấy say say.

            Ngày hôm sau, Bảo Hy, đại thần Phủ nội cung nói với tôi: Bộ tư lệnh quân Quan Đông cử người tới lấy danh nghĩa đại sứ quán đưa ra kháng nghị đối với tôi rằng, hôm trước quân bảo vệ ra ga xe lửa là vi phạm hiệp nghị mà nhà đương cục Đông Bắc trước đã ký với Nhật Bản về nghĩa vụ mà “đế quốc Mãn Châu” gánh vác. Hiệp nghị này quy định: trong phạm vi nhất định của hai bên đường sắt là đất phụ thuộc “đường sắt Mãn Châu”, ngoài quân Nhật, bất cứ lực lượng vũ trang nào cũng không được vào. Quan tư lệnh quân Quan Đông - không, đại sứ Nhật bản yêu cầu từ nay về sau không xẩy ra những việc như thế.

            Sự việc này lẽ ra đủ để tôi tỉnh táo lại, song khi đó người Nhật còn biết giữ thể diện cho tôi trước hết là không phản đối công khai, sau nữa là khi tôi cho người đi xin lỗi và cam kết, họ không nói gì nữa. Song điều chủ yếu là họ quy định cho tôi nhiều hình thức rất thoả mãn lòng hiếu danh của tôi khiến tôi lại chìm đắm trong mê muội.

            Điều tôi say sưa nhất là “Ngự lâm hạnh” và “tuần thú”.

            Theo sắp xếp của quân Quan Đông, mỗi năm tôi sẽ đi ra ngoài hai lần gọi là “tuần thú”. Ở “Tân Kinh” (Trường Xuân) mỗi năm tôi sẽ tham gia 4 lần nghi thức đội ngũ: một lần đi “tháp trung linh” tế vong hồn quân Nhật Bản chết trong cuộc chiến tranh xâm lược; một lần đến Bộ tư lệnh quân Quan Đông chúc thọ Nhật hoàng; một lần đến “Hội Hiệp hoà” tham dự hội hàng năm; một lần đến “Kiến quốc trung linh đường” tế vong linh quân ngụy Mãn. Những cuộc đi ra ngoài như thế gọi là “Ngự lâm hạnh”.

            Cái gọi là “sắp xếp thứ tự khi thiên tử đi ra” là như sau: đi đầu là xe đi dẹp đường của quân cảnh, sau đó một quãng là một xe màu đỏ cắm một lá cờ nhỏ, ngồi trong xe là “Tổng giám đốc cảnh sát”, tiếp đó là “xe chính” tôi ngồi, toàn màu đỏ, hai bên có xe mô tô hộ tống, cuối cùng là xe của nhân viên tuỳ tùng và nhân viên bảo vệ.

            Trước một ngày tôi đi ra, hiến binh và quân cảnh Trường Xuân vin cớ bắt “những phần tử khả nghi” và “dân lang thang” chướng mắt. Căn cứ vào những dấu hiệu đó, dân thành phố biết là tôi sẽ đi ra. Đến ngày tôi đi ra, ven đường bố trí đầy quân cảnh, cấm người đi đường qua đường, cấm người ở các cửa hàng và nhà hai bên đường ra vào, cấm nhìn theo dõi qua cửa sổ. Tại cửa lớn “Hội Hiệp hoà” treo đầy cờ vàng.

            Trước khi xa giá lăn bánh, đài phát thanh lập tức thông báo toàn thành phố “hoàng đế bệ hạ khởi giá xuất cung” nói bằng tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật. Khi đó toàn thể người trong “Hội Hiệp hoà” đứng dậy, các quan đặc nhiệm “thủ tướng” trở xuống đều xếp hàng ở bên ngoài ngoài “phụng nghênh”. Xa giá đến, mọi người khom mình 90 độ đồng thời đội nhạc cử “quốc ca”. Tôi tiến vào trong nhà, trước hết nghỉ một lát sau đó tiếp kiến các đại thần Phủ nội cung , chánh võ quan tuỳ tùng, xứ trưởng thị vệ, xứ trưởng lễ nghi, võ quan tuỳ tùng... đứng hai bên. Bàn ghế và khăn trải bàn đều từ Phủ nội cung mang tới. Các quan viên có tư cách từ thủ  tướng trở xuống lần lượt làm lễ trước tôi và lui ra. Cảnh đó diễn xong, tôi đứng lên rời chỗ, đội nhạc lại vang lên cho đến khi tôi tiến vào hội trường, bước lên bục nói mới thôi. Trong thời gian đó, mọi người trong hội trường đều khom mình 90 độ. Viên tư lệnh Quan Đông lúc đó đứng ở một góc bục nói, thấy tôi bước lên cúi mình chào, tôi quay lại đáp lễ, những người đứng bên dưới đều đứng thẳng lên, khi đó đại thần Phủ Cung nội hai tay dâng “lời chiếu”. Tôi đến lấy mở ra, hướng cả hội trường truyền đọc. Những người dưới hội trường đều nhất loạt đứng cúi đầu. Không được nhìn lên, đọc xong, khi tôi ra khỏi hội trường, tiếng nhạc lại vang lên, mọi người lại khom mình 90 độ, tôi về phòng khách nghỉ ngơi, các quan đặc nhiệm lại ra bên ngoài chuẩn bị “phụng tiễn”. Sau khi đưa tôi về, loa phóng thanh trên đường phố toàn thành phố lại phát ra bằng hai thứ tiếng “hoàng đế bệ hạ khởi giá về cung”. Tôi về đến nhà, loa phóng thanh còn một lần nói “hoàng đế bệ hạ về cung bình yên”.

            Nghe nói, đây là phương thức những biện pháp áp dụng cho Thiên hoàng Nhật Bản, ghi lời trên ảnh của tôi cũng bắt chước từ Nhật Bản. Ảnh của tôi gọi là “Ngự dung”. Theo quy định ở những nơi quy định đặc biệt của các cơ quan, trường học, quân đội và mọi đoàn thể công cộng như phòng họp cơ quan, phòng hiệu trưởng trường học, đặt một thứ như khám thờ thần phật, bên ngoài có màn che, bên trong treo ảnh và “chiếu thư” của tôi. Bất cứ ai bước vào những phòng đó đều phải trước tiên làm lễ trước nơi che màn đó. Tại nhà dân cư, tuy không có pháp lệnh cưỡng chế treo ảnh “ Ngự dung”, song Hội Hiệp hoà đã ép mua ảnh của tôi và Uyển Dung và chỉ định phải treo ở nhà chính.

            Trọng điểm của việc thi hành sùng bái ngu muội đó là ở quân đội và trường học. Mỗi buổi sáng, quân đội ngụy Mãn ở khắp nơi và trường học đều cử hành triều hội, phải cử hành lễ vái hai lần tức là trước hết hướng về nơi “vua ở” phía đông (nơi của Thiên Hoàng ở Tokyo), sau đó hướng về phía đế cung ở Trường Xuân cử hành lễ chào cúi 90 độ. Ngoài ra khi gặp “ngày công bố chiếu thư” còn phải đọc chiếu thư.

            Ngoài ra, còn có nhiều quy định khác, như nghi thức “tuần thú” ở các nơi, tôi không nói hết ở đây. Tóm lại là, bọn quân phiệt Nhật Bản rất coi trọng thực hành những trò chơi đó. Theo thể nghiệm của tôi, điều đó không những để huấn luyện người Trung quốc, tạo thành tập quán phục tùng mù quáng và tư tưởng mê tín phong kiến mà dối với người Nhật lớp dưới cùng như thế. Quân Quan Đông Nhật Bản đã mấy lần lợi dụng tôi đi cổ vũ thần dân của họ. Một lần tôi đến mỏ than Trung Tân, người Nhật tập trung những đốc công Nhật lại để tôi nói mấy lời khuyến kích. Những đốc công được “vinh dự đặc biệt” này đã cảm động đến rơi nước mắt. Đương nhiên, khi đó tôi cũng cảm thấy mình có giá.

            Điều khiến tôi có cảm giác sai lầm lớn nhất tự nhận mình có quyền uy rất cao là sau chuyến đi thăm Nhật Bản tháng 4 năm 1935.

            Thực ra, trong chuyến đi thăm Nhật Bản này, hoàn toàn do quân Quan Đông sắp đặt. Họ nói: để cảm ơn Nhật hoàng đã cử ngự đệ đến chúc mừng tôi “lên ngôi”, cũng là để tôi đích thân làm điển hình cho sự “thân thiện Nhật - Mãn” yêu cầu tôi phải như thế.

            Chính phủ Nhật Bản tổ chức một uỷ ban đón tiếp 14 người do Nam tước Hayashi Gonsuke đứng đầu, cử chiến hạm Tỷ Nhuệ hoàn đón tiếp, còn có các chiến hạm Bạch Vân, Tùng Vân, Bạc Vân hộ tống. Khi tôi lên tàu ở Đại Liên đã đi duyệt các đội khu trục hạm thứ 12,15.

            Khi đến cảng Yokohama, có biên đội 100 máy bay hoan nghênh. Nhớ lại trong cuộc hành trình được chiều chuộng đến u mê đầu óc này, tôi đã viết một bài thơ 4 chữ:

                        Hải bình như kính

                        Vạn lý viễn hành.

                        Lưỡng bang huề thủ

                        Vĩnh cố Đông phương.

Tạm dịch:

                        Biển phẳng như gương

                        Vạn dặm đi xa

                        Hai nước nắm tay

                        Vững mãi Đông phương.

            Ngày thứ tư trên tàu, một lần tôi được xem cuộc diễn tập của 70 tàu chiến. Trong cơn say tàu tôi nôn nao, tôi viết một bài thơ 7 chữ tuyệt cú:

                        Vạn lý hùng hàng phá phi đào

                        Bích thương nhất sắc thiên địa giao

                        Thử hành kỳ cẩn lam sơn thuỷ

                        Lưỡng quốc thân minh nhật nguyệt chiêu.

Tạm dịch:

                        Vạn dặm sóng cồn vượt biển khơi

                        Xanh xanh một giải nối chân trời

                        Chuyến đi đâu phải ngao sơn thuỷ

                        Hai nước tình thân rạng đất trời.

            Nói chung vẫn còn chưa lên bờ tôi đã bị u mê đầu óc. Tôi không những khiếp sợ khi nhìn thấy uy lực của Nhật Bản mà còn coi đó là sự thật lòng tôn kính đối với tôi. Tôi chỉ tự trách mình đã sai lầm với những điều không vui trước kia.

            Đến Tokyo Nhật Bản, Nhật hoàng Hirohito đích thân ra ga đón tôi và mở tiệc chiêu đãi tôi. Sau khi tôi đến chào họ, ông ta lại đến chào lại. Tôi đã tiếp kiến các nguyên lão, trọng thần Nhật Bản, được họ chúc mừng; lại cùng Hirohito duyệt binh. Tôi còn đi thăm “Minh trị thần cung”, thăm hỏi một số sĩ quan, binh lính đã bị thương khi xâm lược Trung Quốc tại bệnh viện lục quân. Tôi đến nơi ở của mẹ Hirohito dâng lễ vật. Báo chí Nhật Bản đã đưa tin về việc tôi cùng bà ta tản bộ, nói có một lần lên dốc, tôi đã lấy tay đỡ hoàng thái hậu Nhật Bản, điều đó cũng giống như tình cảm của tôi khi ở trong nội phủ Trường Xuân khi tôi đỡ cha tôi lên bậc thềm. Thực ra, từ trước tới nay tôi chưa đỡ cha tôi bao giờ, nếu như hỏi tình cảm của tôi khi đỡ mẹ Hirohito tôi thẳng thắn nói, điều đó thuần tuý là vì nịnh nọt.

            Ngày cuối cùng, em trai Hirohito thay mặt anh ra ga tiễn tôi, ông ta dọc lời tiễn:

            “Đến Nhật Bản lần này, hoàng đế bệ hạ đã cống hiến rất lớn cho sự thân thiện Nhật - Mãn. Thiên hoàng bệ hạ nước tôi cảm thấy hết sức hài lòng. Mong hoàng đế bệ hạ về nước với niềm tin vững chắc rằng Nhật Mãn thân thiện sẽ có thể thật sự đạt được. Đó là mong muốn của chúng tôi”.

            Tôi lại hết sức nịnh nọt đáp lời:

            “Đối với sự đón tiếp long trọng của hoàng thất Nhật Bản và sự hoan nghênh nhiệt tình của quốc dân Nhật Bản, tôi vô cùng cảm kích. Hiện nay tôi hạ quyết tâm, nhất định sẽ dốc sức cố gắng cho sự thân thiện lâu dài Nhật-Mãn. Đối với sự việc này, tôi vốn có niềm tin thật sự”.

            Lúc sắp lên tàu ra đi, tôi yêu cầu Hayashi Gonsuke người phụ trách đón tiếp chuyển lời cảm ơn tới Thiên hoàng Nhật Bản và mẹ Hirohito. Lúc đó hai hàng nước mắt nhục nhã đã ứa đầy mắt tôi và ông già này cũng khóc.

            Sự tiếp đãi của hoàng thất Nhật Bản đối với tôi lần này khiến đầu óc tôi càng cuồng nhiệt, cảm thấy từ sau khi làm hoàng đế, ngay không khí cũng thay đổi mùi. Đầu óc tôi xuất hiện một lô gích: Thiên hoàng và tôi bình đẳng. Địa vị Thiên hoàng tại Nhật Bản cũng là địa vị của tôi tại nước Mãn Châu. Người Nhật Bản đối với tôi cũng như đối với Thiên hoàng vậy.

            Trong sự hôn mê như vậy tôi về tới Trường Xuân lập tức phát biểu “hồi loan huấn dân chiếu thư” (Chiếu huấn thị dân chúng sau khi  vua trở về), đồng thời mời đại tướng Minami Jiro, tư lệnh quân Quan Đông mới nhận nhiệm vụ bày tỏ với ông ta cảm tưởng của tôi. Ngày hôm sau (tức 29/4) tôi vô cùng vui vẻ tham gia cuộc họp chúc mừng sinh nhật Nhật hoàng Hirohito; ngày tiếp đó liền vội vã xuống dụ triệu tập toàn thể các quan lại chức có giản (59) trở lên không kể là người Trung Quốc hay người Nhật Bản đến nghe tôi huấn thị nói về cảm tưởng đi thăm Nhật Bản. Việc này tôi hoàn toàn không thương lượng với người Nhật Bản cũng không chuẩn bị bài nói, tới lúc đó lại thao thao lưu loát. Tôi nói về quá trình đi thăm Nhật Bản, miêu tả chi tiết sự tiếp đãi của Thiên hoàng Nhật Bản đối với tôi nói về sự tôn kính của Nhật. Bản đối với tôi. Sau đó cao hứng bình luận:

            “Vì sự thân thiện Nhật Mãn tôi tin tưởng chắc chắn rằng nếu người Nhật Bản có điều gì không có lợi cho người Mãn Châu tức là không trung thành với Thiên hoàng bệ hạ; nếu như người Mãn Châu có điều gì không có lợi cho người Nhật Bản cũng tức là không trung thành với hoàng đế Mãn Châu. Nếu không trung thành với hoàng đế Mãn Châu cũng !à không trung thành với Thiên hoàng Nhật Bản, không trung thành với Thiên hoàng Nhật Bản cũng là không trung thành với hoàng đế Mãn Châu”.

            Những điều tôi nghĩ thật quá ngây thơ.

            Về tới Trường Xuân chưa đến một tháng, Minami Jiro tư lệnh quân Quan Đông trong một cuộc hội kiến đã nói với tôi: “Thủ tướng Trịnh Hiếu Tế mệt mỏi muốn rút lui, cần để ông ta nghỉ dưỡng lão, thay một thủ tướng đại thần khác”. Về việc Nhật Bản không hài lòng với Trịnh Hiếu Tế, tôi đã nghe qua, đang tìm dịp để đuổi ông ta, nay Minami Jiro nêu việc này ra, tôi lập tức không cân nhắc nói ngay: Để Trịnh Hiếu Tế nghỉ, tôi hoàn toàn đồng ý. Chức thủ tướng có thể để Tang Thức Nghị thay thế. Tôi cho rằng nghe tôi hai lần nói rõ về “Nhật Mãn thân thiện” Minami Jiro nhất định sẽ tuân lệnh, nào ngờ ông lắc đầu nói: “Không, quân Quan Đông đã cân nhắc chọn người thích hợp, hoàng đế bệ hạ không phải quan tâm, hãy để Trương Cảnh Huệ làm thủ tướng đại thần tốt hơn”.

            Trước đó không lâu, tại “thư viện Vương đạo” Trịnh Hiếu Tế đã thốt ra lời bất mãn. Ông nói với những người nghe giảng: “Nước Mãn Châu nay không còn là đứa trẻ con nữa, nên để cho nó tự đi, không nên chỗ nào cũng không buông tay”. Câu nói đó chọc tức ông chủ Nhật Bản vì vậy đã bị ông chủ gạt bỏ. Sau đó ngay “tiền lao công kiến quốc” của ông ta ở ngân hàng, ông ta cũng không rút được, muốn rời khỏi Trường Xuân cũng không được phép. Dưới sự giám sát của hiến binh Nhật, Trịnh Hiếu Tế chỉ có thể ở nhà viết chữ, làm thơ. Ba năm sau, kết cục ôm mối ước mong chưa thoả mắc bạo bệnh chết ở Trường Xuân. Trịnh Thúy con ông ta cũng mắc bệnh cấp tính chết trước 3 năm. Nghe đồn, cha con ông đều chết vì sự ám hại của Nhật Bản. Dù tin đồn không đúng, sự sụp đổ của ông ta cũng đã đập tan ảo tưởng khôi phục sự nghiệp tổ tiên của tôi, song mãi một năm sau, trước trước ngày Nhật Bản xâm lược toàn diện Trung Quốc tôi mới dần dần thấy rõ.

 Chú thích:

(59) Chức có giản: thời phong kiến, làm quan có giản là chức quan khá cao (ND)

Đánh máy :hoi_ls
Nguồn: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà nội, 1995
hoi_ls - VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 3 tháng 3 năm 2022

« Lùi
Tiến »