Hồ Sơ Quyền Lực Gorbachev

Lượt đọc: 698 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
ngôi sao đang lên

Khả năng thay thế một lãnh đạo có tư tưởng cải cách cấp tiến trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô giai đoạn này rất mong manh khi giới lãnh đạo nước này còn đang tự mãn với những thành quả cách mạng của mình. Khả năng này có chiều hướng rõ rệt hơn khi ê-kíp lãnh đạo mới được lựa chọn cho rằng đang xuất hiện một cuộc khủng hoảng trong chính cơ chế hiện hành. Cơ hội của Gorbachev kế nhiệm Leonid Brezhnev trong năm 1982 là khoảng một trong bốn, kế nhiệm Yury Andropov trong năm 1983 là một trong hai và có thể là sáu chia cho bốn kế nhiệm Konstantin Chernenko tháng 3/1985. Lợi thế giảm dần theo thời gian không vì người ta cho rằng nước Nga đang rơi vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng mà vì Gorbachev chính là một cán bộ cự phách nhất có khả năng tiếp tục điều khiển cơ chế hiện hành. Mọi người đều cho rằng cải cách là cần thiết nhưng chỉ nên tiến hành cải cách bên trong phạm vi hệ thống hay là cải cách trong nội bộ hệ thống cũ mà thôi. Cải cách này chẳng khác gì sắp xếp lại đồ đạc trong nhà, không vứt chúng đi để thay mới. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu người lãnh đạo mới của Nhà nước Xô viết nhận ra rằng nước Nga đang trong thời kỳ khủng hoảng về cơ cấu, và liệu cuộc khủng hoảng này có đe dọa đến sự sống còn của trật tự hiện tại hay không? Những người bầu cho Gorbachev năm 1985 không nhấn mạnh vấn đề này vì theo tính toán của họ, khả năng xảy ra khủng hoảng là rất nhỏ. Các nhà lãnh đạo Xô viết khác đều cảm nhận được cuộc khủng hoảng cơ cấu này và họ cho rằng cả Lenin và Stalin là những người phản ứng nhanh với kiểu khủng hoảng này. Người ta cho rằng Lenin và Stalin đều rất triệt để trong các giải pháp của họ. Người ta có thể đoán trước được Lenin và Stalin sẽ trở thành những nhà cải cách hệ thống nội bộ do hoàn cảnh chính trị và trí tuệ mà hai ông đang sống sản sinh ra, đó là thế giới ổn định ở châu Âu trước năm 1914. Còn Gorbachev thì khác. Gorbachev bị ảnh hưởng tới mức nào bởi trật tự thế giới bất ổn sau 1914? Một khi ấp ủ sự bất ổn, giới lãnh đạo không thể xử lý hết các vấn đề. Các vai diễn khác của tấn kịch này là nhân dân phải được tham khảo ý kiến, và trong khi tiến hành cải cách họ sẽ tác động tới kết quả cuối cùng. Không ai dự đoán được màn kịch này sẽ kết thúc ra sao. Tại Liên bang Xô viết và kể cả các nhà phân tích phương Tây đều dự đoán khả năng khi trở thành một nhà cải cách cấp tiến, Gorbachev sẽ tiến hành cải cách mạnh mẽ; những cải cách này sẽ vượt ra khỏi những giới hạn cho phép của thể chế hiện hành. Khả năng ấy là chưa đầy 10%. Ở phương Tây, duy nhất có Archie Brown, một học giả Anh có dự đoán khả năng này cao hơn 1 .

GORBACHEV VÀ GIA ĐÌNH

Mikhail Sergeevich Gorbachev sinh ngày 2/3/1931 trong một gia đình nông dân tại làng Privolnoe, Stavropol, Bắc Capca. Ông được làm lễ rửa tội tại làng Letnitsk, tên khai sinh là Viktor được ông nội đổi lại thành Mikhail. Mẹ ông là một con chiên đạo Chính thống. Bà chưa bao giờ học đọc, học viết. Bà mất năm 1995. Họ nội của Mikhail Sergeevich xuất thân từ vùng Voronezh ở Nga, còn mẹ ông sinh ra ở Chernigov thuộc Ukraine. Ông ngoại của Mikhail Sergeevich − ông Pantelei − gia nhập Đảng Cộng sản năm 1928, có vai trò trong việc tổ chức nông trang tập thể và trở thành chủ tịch đầu tiên của một nông trang tập thể. Nhưng do vợ ông là một tín đồ trung thành của đạo Chính thống nên Pantelei bị bắt vào tháng 7/1937 và bị kết tội là “thành viên cánh hữu Trotskist phản cách mạng”. Những người hàng xóm bắt đầu tránh xa ngôi nhà của họ như thể tránh một căn bệnh truyền nhiễm khủng khiếp. Những cậu bạn trong làng cũng xa lánh Gorbachev. Bất kỳ ai liên hệ với gia đình này đều bị coi là “kẻ thù của nhân dân” và bị bắt bớ giam cầm.

Gorbachev ghi lại rằng “sự việc đó thật sự là một cú sốc ghê gớm, hằn sâu vào ký ức tôi từ lúc đó”. Thậm chí khi ông trở thành Bí thư thứ nhất của Stavropol và ngay cả sau khi trở thành Bí thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ông cũng không đòi bản sao của vụ việc đó. “Chỉ sau vụ đảo chính tháng 8/1991, tôi mới yêu cầu Vadim Bakatin lục lại những ghi chép ấy cho tôi”. Bị tra tấn, vị chủ tịch ban chấp hành Xô viết khu đã không chịu nổi, khai tên 58 người đồng mưu, có cả ông của Gorbachev. Ông của Gorbachev bị buộc tội gây cản trở các vụ thu hoạch gây thất thu ngũ cốc, giết hại đàn gia súc vì đã cày lật đồng cỏ làm giảm nguồn thức ăn gia súc, và đàn áp phong trào nông dân tiên tiến trong nông trang tập thể. Ông còn bị kết tội là kẻ thù của Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ Xô viết về tội tiến hành các hoạt động lật đổ theo chỉ thị của tổ chức Trotskist phái hữu chống lại chính quyền Xô viết. Thủ tục điều tra xét xử kéo dài 14 tháng và ông bị kết tội vào tháng 9/1938. Thẩm phán quyết định không đủ bằng chứng kết tội ông theo điều 58 Bộ luật Hình sự. Nếu theo điều khoản này chắc chắn ông bị khép vào tội chết, ông chỉ bị kết tội theo điều 109 của bộ luật này về hành vi sai trái, chịu án tù chung thân. Sau cuộc thanh lọc trong lực lượng công an mật, ông được trả tự do tháng 12/1938 và được bầu lại làm chủ tịch nông trại năm 1939. Sau khi được tự do, ông đã kể lại những bất hạnh phải gánh chịu trong nhà tù. Đôi mắt ông bị mù vì ánh đèn thẩm vấn chói lóa, bị đánh đập tàn nhẫn, gãy tay vì bị kẹp vào cửa và ông đã bị quấn vào một cái áo khoác lông cừu ướt rồi cho lên lò nướng quay tròn. Nhưng ông không hề oán trách chế độ vì những bất hạnh của mình, ông tin Stalin hoàn toàn không biết sự việc sai trái của lực lượng công an mật này. Gorbachev nhớ là ông ngoại mình qua đời ngay sau khi ra tù, lúc 59 tuổi.

Ông nội của Gorbachev ông Andrei cũng có va chạm với chính quyền. Ông không gia nhập nông trang tập thể trong thời kỳ tập thể hóa nông nghiệp và vẫn là một nông dân cá thể. Trong nạn đói khủng khiếp năm 1933, hậu quả trực tiếp của việc tập thể hóa nóng vội là ba trong sáu đứa con của ông đã chết đói (đến một nửa số dân trong vùng Privolnoe đã chết đói). Năm 1934, ông bị bắt vì không hoàn thành kế hoạch gieo hạt như đã giao cho các gia đình nông dân cá thể, đơn giản chỉ vì ông không có hạt giống để gieo. Ông bị gán là phần tử phá hoại và bị bắt đi chặt cây tại vùng Irkutsk, Siberia. Cha của Gorbachev là ông Sergei phải làm chủ hộ trong gia đình chẳng còn một ai. Tuy nhiên, năm 1935, ông nội được thả trước thời hạn vì ông đã chứng tỏ mình là một lao động mẫu mực. Sau đó, ông gia nhập nông trang tập thể. Ông của bà Raisa Maksimovna Titorenko, vợ tương lai của Gorbachev, cũng gặp cảnh không may như vậy. Ông là một nông dân vùng Altai ở Tây Siberia, bị kết tội công khai ủng hộ phe phản cách mạng trong nông trang tập thể chống lại chế độ Xô viết và chống phong trào công nhân tiên tiến (Stakhanovite), bị bắt năm 1937. Ông bị kết án tử hình nhưng được minh oan vào tháng 1/1988.

Sergei Gorbachev được gọi nhập ngũ tháng 8/1941 và Mikhail Sergeevich phải gánh vác nhiều trách nhiệm gia đình hơn. Mùa đông năm 1941-1942 vô cùng khắc nghiệt, tuyết rơi lần đầu vào ngày 8/10 và làng Privolnoe chìm ngập trong tuyết. Không có đài phát thanh trong làng và thi thoảng chỉ có một vài tin tức từ tờ Pravda. Mikhail Sergeevich đọc tin cho những bà mẹ, những người vợ và dân làng. Tháng 8/1942, quân Đức Quốc xã tấn công làng Privolnoe và để một đơn vị đóng tại đây. Xuất thân là một gia đình cộng sản, gia đình Gorbachev có nguy cơ bị sát hại và nghe phong thanh về tin cuộc thảm sát có chủ định vào ngày 26/1/1943. Mikhail Sergeevich đã trốn tránh trong một trang trại ngoài làng Privolnoe. May mắn cho mọi người, trước đó năm ngày, làng Privolnoe được giải phóng. Người Đức cử Zaitsev làm lãnh đạo. Ông cự tuyệt sự bổ nhiệm này nhưng dân làng đã thuyết phục ông nhận chức để bảo vệ làng xóm và người dân. Sau khi ngôi làng nhỏ này được giải phóng, ông đã bị bắt. Bất chấp dân làng nhiều lần viết thư trình bày rõ sự việc nhưng ông vẫn bị kết án mười năm tù với tội mưu phản. Ông qua đời trong tù và bị coi là kẻ thù của nhân dân. Nạn đói vào mùa đông và mùa xuân năm 1944 hoành hành khắp ngôi làng nhỏ. Gia đình Gorbachev sống sót là nhờ mẹ ông đem quần áo của chồng đi đổi lấy ngô ở Kuban. Mùa hè năm 1944, một lá thư và các tài liệu gửi về xác nhận rằng thượng sĩ Sergei Gorbachev đã hy sinh tại mặt trận ở vùng Carpat. Trước đó, ông đã thoát chết trong nhiều tình huống nguy hiểm và ba lần được tặng thưởng huân chương. Sau đó, có một bức thư khác của Sergei Gorbachev, đề ngày 27/8/1944, được cho là ông viết nó trước khi hy sinh. Một tài liệu khác đề ngày 31/8 cho biết ông vẫn còn sống. Ông bị thương nặng khi ở Tiệp Khắc và kết thúc chiến tranh, ông vẫn nằm trong một bệnh viện quân y. Ông qua đời vào tháng 2/1976. Trong tâm trí của Mikhail Gorbachev, ký ức về thời gian chiến tranh tồi tệ nhất là mùa xuân năm 1943. Sau khi tuyết tan, ông và những người bạn khác thu nhặt những tử thi đã thối rữa, một phần bị động vật ăn, những đầu lâu vẫn còn trong những chiếc mũ sắt gỉ nhèm, những mảnh xương trắng, những nòng súng trường nhô lên khỏi ống tay, những chiếc áo lính bốc mùi hôi tanh. Những người lính Hồng quân được chôn trong một ngôi mộ tập thể. Khi chiến tranh kết thúc, ông mới 14 tuổi và vẫn được coi là con người thuộc thế hệ thời chiến. “Chiến tranh đã đốt cháy chúng tôi, để lại dấu ấn trong tính cách và trong thế giới quan của chúng tôi.”

Trường học là nơi trú ngụ tránh hiểm nguy và sự thiếu thốn trong thời chiến. Mikhail Sergeevich đi học, ông thích môn vật lý, toán và văn học, trở thành bí thư Đoàn Komsomol và là một nghệ sĩ nghiệp dư đầy nhiệt huyết. Nghỉ hè, ông cùng cha làm việc trên cỗ máy liên hợp gặt đập, và từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 8, ông đi làm xa nhà. Vào kỳ thu hoạch cao điểm, ông phải làm việc 20 tiếng một ngày, lịch làm việc khiến một thanh niên đang ở tuổi mới lớn kiệt sức. Cuộc sống đồng ruộng rất vất vả cực nhọc, không khác gì đời sống nông dân trong chế độ nông nô. Những người bạn có lần đã đùa bỡn đưa cho ông một cốc rượu vodka nhưng thật ra đó chỉ là cồn. Kể từ đấy Gorbachev đâm ghét rượu mạnh. Vụ mùa năm 1948 là một vụ bội thu. Những người thu hoạch được 800 tấn lương thực đều được thưởng Huân chương Lenin. Cha của Mikhail Sergeevich cũng được trao tặng huân chương này, còn Mikhail được tặng thưởng Huân chương Lao động Cờ đỏ khi 17 tuổi. Với ông, đây là một phần thưởng vô cùng cao quý và có ý nghĩa đối với một người còn rất trẻ. Năm 1950, ông học hết cấp hai cơ sở ở vùng Krasnogvardeisk, nơi ông ở trọ cùng các học sinh khác cùng làng. Ông được tặng thưởng huy chương bạc (sau này ông hãnh diện nói rằng trong khi ông được thưởng huy chương bạc thì Raisa Maksimovna lại được thưởng huy chương vàng). Năm 19 tuổi, ông mới học xong lớp mười bởi đã bị mất hai năm vì chiến tranh. Khát vọng thoát khỏi cảnh lam lũ vất vả của đời nhà nông và trở thành người có tước quyền như các vị quan tòa, thẩm phán đã thôi thúc ông nộp đơn thi vào khoa Luật của trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva. Ông được đặc cách tuyển thẳng và còn được nhận học bổng đặc biệt (nhưng trong năm thứ nhất ông vẫn phải ở chung với 22 sinh viên khác). Với xuất thân nông dân, Gorbachev gặp may là ông đã là cảm tình Đảng và được nhận phần thưởng cao quý của Nhà nước. Cũng phải nói rằng vào thời đó, trường đại học này đang muốn tuyển những sinh viên không xuất thân từ tầng lớp trí thức.

THỜI THANH NIÊN CỦA GORBACHEV

Moskva là miền đất hứa đối với chàng thanh niên tỉnh lẻ. Trường đại học đã mở ra trước mắt ông một viễn cảnh chưa từng mơ thấy. Đối với ông, đó là nơi tu luyện học hành. Sau năm năm dùi mài kinh sử, ông tốt nghiệp đại học năm 1955, được đánh giá là xuất sắc. Sau đó ông trở thành thành viên ưu tú trong ban lãnh đạo của đất nước. Khi tham gia Bộ Chính trị năm 1979 2 , ông là một trong những người có học vấn cao nhất ở đây. Thực tế, còn có Thủ tướng Kosygin, vốn là một nhà kỹ thuật tài năng nhưng ông này còn thiếu kiến thức tổng quát mà chỉ có văn bằng Luật học cao mới bù đắp được. Lúc đấy, đó là một trong những tấm bằng hiếm hoi ở Nga. Những kiến thức về các nước tư bản chủ nghĩa và thậm chí tiếng Latin đều nằm trong chương trình giảng dạy. Nghĩ cho kỹ, Gorbachev lúc đó chỉ trích khá gay gắt các chuẩn mực tri thức đó. Theo ông, “việc học chỉ nhằm mục đích tẩy não cho tầng lớp thanh niên ngay từ những tuần đầu ở nhà trường, che mắt không cho họ vươn tới những tư tưởng tự do, có đầu óc phân tích và so sánh các sự kiện”. Ông quá ngây thơ lên tiếng chỉ trích một thầy giáo dạy mình. Một người bạn cùng khóa khôn ngoan khuyên ông nên kiềm chế hành vi của mình cho đến khi tốt nghiệp. Song, vị giáo sư đó đã trả thù và Gorbachev bị cắt học bổng.

Gorbachev nộp đơn gia nhập Đảng Cộng sản năm 1952 và người ta để ý tới hai điểm trong lý lịch của ông. Ông sẽ giải trình ra sao khi cả ông nội và ông ngoại đều bị đi tù và bị buộc tội là kẻ thù của nhân dân? Ông đã giải trình được những thắc mắc của Đảng bộ địa phương và được giới thiệu kết nạp Đảng. Từ va vấp trước đây với giảng viên trong trường đại học, ông vẫn chưa rút ra được kinh nghiệm. Mùa thu năm 1952, Gorbachev đã phàn nàn với một thầy giáo là bài giảng của vị giảng viên này về Các vấn đề chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xô viết chỉ là sự gộp lại các bài phát biểu của Stalin mà thôi. Theo Mikhail Sergeevich, đây là sự lãng phí thời gian vì ông đã đọc tác phẩm này. Vị giảng viên này vô cùng tức giận và báo cáo sự việc lên ban giám hiệu. Sau này, Gorbachev tin rằng mình là một công nhân và thành phần nông dân đã cứu ông thoát nạn. Tuy vậy, là Phó Bí thư Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản của khoa, lẽ ra ông phải biết điều này rõ hơn!

Đầu năm 1953, trong “Kế hoạch Tiến sĩ” (sự thật là phong trào bài Do Thái) đang triển khai, Gorbachev bắt gặp người bạn Volodya Liberman đang ở trong tình trạng cực kỳ tuyệt vọng. Anh ta phải chịu đựng những lời lăng mạ, không được lên tàu điện, mặc dù có thời anh ta được trao tặng danh hiệu cựu chiến binh. Mikhail Sergeevich nhớ lại, ông thật sự bị sốc trước sự việc này. Ông ra sức bảo vệ người bạn Do Thái của mình trong các cuộc họp ở trường đại học và cuối cùng tình trạng ngược đãi với người bạn này chấm dứt. Một bạn đồng niên khác trong trường là Zdenek Mlynar − đảng viên Đảng Cộng sản Tiệp Khắc − lãnh đạo phong trào Mùa xuân Praha trong năm 1968 đã nhớ lại rằng trong các cuộc thảo luận Gorbachev chỉ quan tâm đặc biệt đến lịch sử chính trị và luật pháp. Năm 1991, một người bạn nói với Mikhail Sergeevich rằng đối với các sinh viên hồi đó ông bị coi là kẻ bất đồng chính kiến! Gorbachev cảm thấy đất nước sẽ phải hứng chịu bi kịch khi Stalin qua đời vào ngày 5/3/1953. Cùng với các sinh viên khác, Gorbachev đi suốt đêm, qua các con phố để có thể đến viếng Stalin. Trước đó, ông chưa bao giờ gặp Stalin.

Giờ đây... Lần đầu tiên tôi có thể tận mắt nhìn ông, Stalin nằm đó ngay gần chỗ tôi đứng. Một khuôn mặt nghiêm nghị, nhợt nhạt, nhưng không chút lo âu vương vấn cuộc đời. Tôi lần theo những gì đã làm nên sự nghiệp của ông, chỉ có cái gì đó làm ông bận tâm, chính điều đó đã tạo ra cảm giác lẫn lộn .

Năm 1951, Raisa Maksimovna Titorenko, một nữ sinh khoa Triết (nghiên cứu chủ nghĩa Marxist Leninist) đã làm đảo lộn thế giới nội tâm của Mikhail Sergeevich. Mikhail yêu Raisa ngay từ cái nhìn đầu tiên, còn Raisa lại không như vậy, thậm chí có lúc cô không muốn mối quan hệ này, nhưng sự kiên trì của Mikhail Sergeevich khiến cô mềm lòng và họ dự định kết hôn vào tháng 6/1952. Mikhail cùng cha lao động cật lực. Bán hết số lương thực đã thu hoạch và với tiền lương đi làm của hai bố con, họ cũng dành dụm được món tiền kha khá, 1.000 rúp − vào thời điểm đó là cả một gia tài. Lúc này, Mikhail Sergeevich và Raisa có thể tổ chức đám cưới. Hôn lễ của họ được tổ chức ngày 25/9/1953 và nhân dịp này, Mikhail Sergeevich đã mua cho mình bộ com-lê đầu tiên. Tuy vậy, họ không thể sống chung trước con mắt tò mò ở trường đại học. Họ sống ở hai khu ký túc riêng và cứ vào khoảng 11 giờ khuya, chuông điện thoại trong phòng Raisa lại reo, một giọng nói rắn rỏi vang lên, lúc nào cũng là câu nói: “Người bị cấm vào phòng em đây!” Mọi việc thay đổi vào tháng 12/1953 khi Đoàn thanh niên Komsomol có ý kiến và sau đó họ được phép sống chung. Cha ông yêu thương con dâu hết lòng nhưng mẹ ông lại có thái độ thờ ơ, lãnh đạm.

Năm 1955, Gorbachev tốt nghiệp xuất sắc nhưng ông không nhiệt tình với luận văn tốt nghiệp của mình, nói về tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa so với nền dân chủ tư sản. Về trình độ học vấn, Raisa vượt trội hơn Mikhail, cô tốt nghiệp sớm một năm và sau đó học lên tiến sĩ. Mikhail cũng được mời tham gia nghiên cứu luật cho nông trang tập thể nhưng ông từ chối vì cho rằng đó không phải là lĩnh vực ông quan tâm. Tuy vậy, là một cán bộ Đoàn Thanh niên Komsomol, ông còn là thành viên của ủy ban chuyên trách phân công việc cho những sinh viên mới ra trường. Cùng 12 người bạn nữa, ông được phân công đến làm việc tại Viện Kiểm sát Liên bang, vào một bộ phận mới thành lập chịu trách nhiệm giám sát các tổ chức an ninh của Nhà nước. Nhưng khi ông được giới thiệu lên Viện, họ trả lời thẳng rằng họ không thể nhận ông. Rõ ràng có một quy định ngầm cấm tuyển dụng các cử nhân luật vừa tốt nghiệp vì họ chưa đủ kinh nghiệm đảm nhận các công việc có tính nhạy cảm cao như phục hồi công bằng xã hội. Điều đó làm tiền đồ sự nghiệp của Mikhail Sergeevich tiêu tan, cuối cùng Raisa và ông quyết định trở về quê hương Stavropol và thử vận may của mình ở đấy. Cuộc gặp gỡ với bố mẹ Raisa khá căng thẳng vì cô không thể thuyết phục họ chấp nhận đám cưới của mình. Cũng có tin “tốt lành”, đó là Raisa quyết định từ bỏ sự nghiệp nghiên cứu sau đại học của mình ở Moskva.

Suốt mùa hè năm 1953, Gorbachev làm việc trong Viện Kiểm sát ở vùng Krasnogvardeisk, quê hương ông, nhưng ông không lấy đó làm vui. Trong một lá thư gửi Raisa, ông thừa nhận mình đang thật sự ”thất vọng” và nhận thấy mọi thứ xung quanh thật ”ghê tởm”. Sở dĩ ông có tâm trạng đó một phần vì sống xa vợ, phần nữa vì ông quá hãi hùng trước cách đối xử của các quan chức địa phương. Ông hiểu phải tuân thủ và lệ thuộc vào tục lệ, với mọi thứ đã được sắp xếp trước, thấy hành vi láo xược công khai của các quan chức và tính ngạo mạn đến khó chịu của họ. “Khi em nhìn vào một trong các quan chức địa phương, em chẳng thấy cái gì nổi trội ngoài cái bụng phệ”. Đây là những lời nhận xét đầu tiên của một thanh niên đầy tự tin và nhiệt huyết. Không kể đến thâm niên công tác, ông dễ dàng nắm một chức vụ trong văn phòng thuộc Viện Kiểm sát vùng Stavropol vào ngày 5/8/1955. Ông đã nhờ người tìm nhà trọ và phải trả họ 50 rúp. Theo luật Xô viết, số tiền này bị coi là tiền không do lao động kiếm ra, vì vậy nó là tiền bất hợp pháp. Nơi ở trọ là một căn phòng tồi tàn, chỉ với 11m2, riêng lò sưởi đã chiếm một phần ba diện tích nhà. Nước phải bơm và không có nhà vệ sinh trong phòng. Một tháng 250 rúp, đồ đạc không có gì ngoài một chiếc giường sắt. Cuối cùng Raisa quyết định rời Moskva và họ bắt đầu cuộc sống gia đình tại đây.

SỰ NGHIỆP CHÍNH TRỊ LÚC KHỞI ĐẦU

Mikhail Sergeevich sớm nhận ra luật pháp không đứng về phía ông dù một số người bạn trong Ban Chấp hành Komsomol vùng này luôn dang tay chào đón ông. Ông đành phải gặp cán bộ kiểm sát phụ trách vùng xin chuyển công tác. Vị luật sư này cho rằng đây là một bước lùi trong sự nghiệp nhưng Gorbachev sẽ còn tiến xa hơn. Gorbachev dùng tháng lương đầu tiên 840 rúp để mua một đôi giày loại tốt, loại chuyên dụng cho các đoạn đường xấu trong vùng này. Nhiệm vụ của ông là kêu gọi thanh niên chăm chỉ rèn luyện trở thành công dân hiện đại và sống có ích. Công việc này đòi hỏi ông phải cuốc bộ quanh vùng nông thôn, thậm chí trong các làng xã, không có chỗ mua thức ăn cũng như không có chỗ ngủ tử tế. Mikhail choáng váng khi chứng kiến đời sống nghèo nàn khổ cực của người dân. Sau cùng, ông đến vùng Krasnodar là một trong những vùng màu mỡ của nước Nga. Người ta hào hứng tụ tập để nghe ông phát biểu vì chuyến đến thăm của ông là một sự kiện soi sáng cuộc đời tối tăm, lạc hậu của họ. Một số người ngồi phía sau cắn hạt hướng dương, còn mọi người đều chăm chú theo dõi như nuốt lấy từng lời ông nói. Đây là cơ hội ông thực hành khả năng diễn thuyết trước công chúng, khả năng trình bày giải quyết một vấn đề trước những con người chưa bao giờ có điều kiện nghe đài, xem tivi hay đọc sách báo. Ông nhanh chóng phát hiện ra Komsomol là một tổ chức hậu bị trẻ tuổi của Đảng và thành công về chính trị được đánh giá bởi thành quả về kinh tế. Nếu các kế hoạch được thực hiện đầy đủ thì công tác chính trị được coi là tốt, ngược lại sẽ rất tồi tệ, họ buộc phải quy trách nhiệm cho ai đó. Ông cũng biết một trong những nguyên tắc của nền chính trị Nga hay nền chính trị thế giới là tự vận động trước khi người ngoài can thiệp vào. Ông được rất nhiều đồng sự trong Komsomol đánh giá là người tinh nhanh, hoạt bát. Bài học ông rút ra được ở đây là sự thông minh, nhanh nhẹn của một người đôi khi còn phải bao hàm cả việc không nên tự khoe mình là người thông minh.

Việc Khrushchev đả kích Stalin trong Đại hội Đảng lần thứ 20 khiến Gorbachev thật sự bị sốc. Nhiệm vụ của ông là phải giải thích cặn kẽ bài diễn văn này cho thế hệ trẻ và khuyến khích, động viên họ tham gia các cuộc đối thoại thay vì chỉ tổ chức các buổi phát biểu đơn thuần. Ông cũng đối mặt với rất nhiều phản ứng khác nhau. Bộ máy hoạt động của Đảng đang bị suy yếu và không có nhiều người tin Khrushchev nữa. Trong tầng lớp thanh niên, một số người vẫn có tâm lý do dự, một số khác thì cho rằng nên đối mặt với thực tế Stalin để lại, số khác nữa còn phân vân về mục tiêu công khai làm trong sạch Đảng và thậm chí một số thanh niên cho rằng Stalin chỉ trừng phạt những kẻ áp bức nhân dân mà thôi. Họ cũng cho rằng “những kẻ đó đáng phải trả giá cho sự đau khổ của chúng ta”. Đây là quan điểm khó khăn nhất khi vùng Stavropol phải trả giá quá đắt thời Stalin cầm quyền. Đối với Gorbachev, sự thật này dễ cảm nhận vì bản thân gia đình ông từng là nạn nhân. Tuy nhiên, người ta còn ngờ ngợ về bài phát biểu này. Nó được viết ra một cách khôn khéo nhằm đánh vào tình cảm con người, nhưng lại quy tất cả những điều xấu xa của thời kỳ ấy vào khuyết điểm về tính nết của Stalin mà không phân tích những quá trình chuyển biến ngấm ngầm bên trong.

Mikhail Sergeevich ngay lập tức tạo được ấn tượng và vào năm 1956, ông được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Komsomol vùng Stavropol. Ông thành lập một câu lạc bộ tranh luận với quan điểm mới mẻ mà người ta chưa bao giờ được nghe đến, đồng thời chủ trì mọi cuộc họp thảo luận về các chủ đề như sở thích và văn hóa. Người nào có phản ứng, tất nhiên sẽ bị chặn lời ngay. Ở đây ông đã xây dựng được niềm tin ngày càng vững chắc và luôn giành phần thắng trong các cuộc tranh luận nhờ kiến thức ông học được. Tình trạng thất nghiệp ở thị trấn khá cao, tội phạm gia tăng. Các nhóm thanh niên tình nguyện được thành lập nhằm giúp chính quyền địa phương nhưng Gorbachev nhanh chóng phát hiện ra rằng họ không bao giờ lấy được lòng tin của nhân dân vì họ sử dụng luật pháp một cách cứng nhắc. Trong thị trấn xuất hiện những bức ảnh đả kích các nhà máy trì trệ, các quan chức luôn say mèm.

Tháng 1/1957, Gorbachev đón chào con gái đầu lòng, cô bé Irina. Đôi vợ chồng trẻ thật sự hạnh phúc. Tuy nhiên, họ không thể chỉ dựa vào một nguồn thu nhập và Raisa vừa phải đi làm, vừa phải về nhà cho con bú vì lúc đó không có thức ăn bột cho trẻ. Sau đó, họ chuyển tới một căn hộ có hai phòng, bếp và nhà vệ sinh chung.

Ngày 25/4/1958, Mikhail Sergeevich được bầu làm Bí thư thứ hai Ban Chấp hành Kosomol vùng Stavropol; tháng 3/1961, ông được bầu làm Bí thư thứ nhất. Lúc này ông có thể sử dụng ôtô đến những vùng mình muốn và với đôi ủng dã chiến, ông lại tới những nơi mà ôtô không thể vào được. Điều đó tạo cho Gorbachev cơ hội nghiên cứu cách lãnh đạo của các vị bí thư thứ nhất ở mỗi vùng trên nước Nga. Khiến ai đó phải sợ hãi và chịu sự trừng phạt là cách lãnh đạo của các bí thư thứ nhất sau Đại hội Đảng lần thứ 20. Tiếp đến là Lebedev, một chuyên gia vận động có thể làm mọi điều miễn là mang lại kết quả. Ông là một người ngoan ngoãn vâng lời cấp trên và ngại cải tiến. Năm 1956, ông đòi thực hiện mệnh lệnh của Moskva, tiến hành thu hoạch theo hai giai đoạn: gặt rồi sau đó gom lại và đập. Vì mùa hè đó ẩm ướt, đập lúa mì ngay thì tốt hơn nhưng vị lãnh đạo này không chịu nghe và hàng nghìn héc ta lúa mì đã trôi sông trôi bể. Chẳng ai phải chịu trách nhiệm cả. Không những thế, vị Bí thư Đảng này còn được tặng thưởng Huân chương Lenin vì “áp dụng thành công phương pháp thu hoạch hai giai đoạn”. Gorbachev được nhìn thấy Khrushchev lần đầu tiên vào tháng 10/1958 khi ông đến trao huân chương Lenin cho vùng ấy. Cung cách bình dân của Khrushchev không gây ấn tượng với Gorbachev, với cung cách như vậy có thể sa đà đến thô lỗ, nói năng tục tằn và rượu chè say sưa. Vấn đề quan trọng hơn của Khrushchev là trình độ văn hóa thấp. Lebedev nịnh bợ các quan chức cao cấp khi họ đến thăm nhưng lại tranh giành địa vị khi có người bị thất sủng. Lebedev ra sức dồn Nikolai Bulganin vào chỗ khốn khổ sau khi ông này bị cách chức Thủ tướng và bị điều về Stavropol. Lebedev được tặng thưởng Huân chương Lenin lần thứ hai vào năm 1957 và lần thứ ba vào năm 1958. Không để người Mỹ vượt lên, Khrushchev đã phát động một chiến dịch vào cuối năm 1958 nhằm bắt kịp và vượt sản lượng thịt và sữa tính theo đầu người của Mỹ. Năm 1959, vùng Stavropol thi đua với tỉnh Riazan, là tỉnh đã giao nộp lượng thịt của ba năm trong một năm. Stavropol chỉ cung cấp được sản lượng thịt bằng hai năm rưỡi. Nhưng cái gì cũng có giá của nó. Tất cả những con vật có bốn chân, kể cả ngựa, đều bị giết cho đủ số lượng, và gia súc của nông dân cũng bị giết hại. Phải mất nhiều năm mới bù đắp được tai họa này. Lebedev đã bị loại khỏi chính trường: năm 1960 ông về hưu “vì lý do sức khỏe”.

Một bước ngoặt trong sự nghiệp chính trị của Mikhail Sergeevich chính là Đại hội Đảng lần thứ 22 vào tháng 10/1961. Đây là bài học đầu tiên khi bước vào hoạt động chính trị ở cấp Trung ương và Khrushchev phải rút lui hoàn toàn. Bài diễn văn thuyết phục nhất là của D. A. Lazurkina, một đảng viên trước năm 1917 có mối quan hệ thân thiết với Lenin: “Ngày hôm qua, tôi còn xin ý kiến Lenin, như thể Người còn sống, đang đứng trước mặt tôi, và Người nói: “Tôi không chung chí hướng với Stalin vì ông ấy mang lại quá nhiều tai họa cho Đảng”.

Bài phát biểu này đã giải thích chỉ thị của Lenin với một ý nghĩa mới và các đại biểu phải thực hiện đúng đắn. Linh cữu của Stalin được chuyển khỏi Lăng Lenin-Stalin trên Quảng trường Đỏ và Stalin được chôn cất gần bức tường Điện Kremlin, người ta lấy lại tên cũ: Lăng Lenin. Gorbachev nhận thấy rằng đả kích tệ sùng bái cá nhân (Stalin) không ngoài mục đích nhằm ca ngợi Khrushchev. Các đại biểu đua nhau ca ngợi lãnh đạo hết lời. Có người từng gọi bài phát biểu thiếu học thức của Khrushchev là một “bản giao hưởng đầy ấn tượng”. Có người lại nói là ông đã nhận thức sâu sắc về các xu hướng cơ bản của cuộc sống. Khrushchev thích điều này, còn Gorbachev thì phát bực vì nó. Tâm trạng như vậy có thể bắt nguồn từ tình cảm riêng tư, tự nhiên của ông nhưng trước mọi người ông vẫn đồng tình cổ vũ và mỉm cười hài lòng. Thái độ của ông đối với Khrushchev yêu ghét lẫn lộn, không rõ ràng. Một mặt, Khrushchev là người đi đầu phản đối hiện tượng Stalin và phát động các thế lực ngấm ngầm mà hai thập niên sau đó đã bị lộ diện. Mặt khác, ông chưa bao giờ có ý định giải quyết tận gốc rễ vấn đề và thường độc đoán khi ra quyết định. Thậm chí, các lãnh đạo trong Đảng là những người cứu sống ông vào năm 1957 cũng muốn hạ bệ ông vào tháng 10/1964.

Vận may mỉm cười với Mikhail Sergeevich khi Fedor Kulakov được bổ nhiệm làm Bí thư thứ nhất của Stavropol năm 1960. Họ hoán đổi vị trí cho nhau rất nhanh chóng và tháng 3/1962, Kulakov đề nghị Gorbachev chuyển sang làm công tác Đảng. Ông được giao chịu trách nhiệm ba vùng nông nghiệp và nhận nhiệm vụ sau một cuộc chất vấn của Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ở Moskva. Gorbachev được đề bạt giữ chức vụ trong Đảng, đây là bước ngoặt đánh dấu nấc thang danh vọng, giúp ông có cơ hội tiến đến vị trí cao trong hàng ngũ lãnh đạo, cụ thể là chức Tổng Bí thư Đảng. Tháng 11/1962, Kulakov chọn Gorbachev làm trưởng ban phụ trách các cơ quan Đảng của vùng này. Ở vị trí này, ông chịu trách nhiệm sắp xếp nhân sự trong Đảng, bố trí các chức vụ cấp cao trong lĩnh vực công nghiệp, nông trường quốc doanh và nông trang tập thể. Ngoài ra, ông còn có nhiệm vụ giám sát các Xô viết, các tổ chức công đoàn và Komsomol. Với vị trí đầy quyền lực, ngày 1/1/1963, ông bắt đầu thực hiện nhiệm vụ. Đối với Mikhail Sergeevich, Kulakov là một nhà lãnh đạo kiểu mẫu. Kiểu lãnh đạo của ông kết hợp cương nhu, vừa chan hòa, cởi mở, nhã nhặn nhưng lại vừa khôn khéo, sắc sảo như một con cáo − Gorbachev gọi đó là “sự láu lỉnh của nhà nông”. Kulakov tham gia âm mưu chống Khrushchev tháng 10/1964 và được trọng thưởng bằng việc đề bạt làm Bí thư Ban Chấp hành Trung ương phụ trách Nông nghiệp và chuyển về Moskva. Do vậy, Mikhail đã nhận được sự che chở, giúp đỡ ngay tại cấp Trung ương. Ở Moskva, không ai ca ngợi tài năng của ai, mà cũng có rất ít cơ hội làm việc đó trong giới lãnh đạo.

Người kế nhiệm Kulakov ở vùng Stavropol là Leonid Efremov. Việc chuyển đến làm việc ở vùng này đối với ông là một sự giáng chức; vì quá thân cận với Khrushchev nên Efremov đã bị cách ly hoàn toàn với Trung ương. Năm 1962, với nỗ lực củng cố các tổ chức Đảng, Khrushchev tách bộ máy Đảng thành hai nhánh: công nghiệp và nông nghiệp. Tháng 11/1964, khi Brezhnev lên cầm quyền, quyết định hợp nhất hai nhánh và sau này các quan chức trung thành được khôi phục chức cũ. Vì các tổ chức mới hợp nhất nên số người ít hơn nhiều so với cơ cấu cơ quan hai tổ chức cũ, nhiều người cảm thấy mình bị gạt ra ngoài lề.

Lúc đó, Gorbachev đang nắm cương vị lãnh đạo các tổ chức Đảng trong nông nghiệp, có một vai trò quan trọng nên ông tránh tham gia cuộc xung đột vô bổ về địa vị và đặc quyền.

Efremov là một người có tính cách khác biệt hẳn với Kulakov. Ông là người có học thức, có kiến thức văn hóa, chính trị và là một sản phẩm điển hình của chế độ cộng sản. Efremov luôn ấp ủ hy vọng được gọi về Moskva, đối với ông, bất kỳ nơi nào khác đều là thảm họa chính trị. Ông luôn làm cho giới lãnh đạo của Moskva cảm mến. Khi Leonid Brezhnev, lúc đó đang là Tổng Bí thư, đi nghỉ tại khu nghỉ mát Stavropol, Efremov lấy cớ đi công tác để tham gia vào đoàn quan chức này và ra sức tạo ấn tượng tốt với ông chủ mới của Điện Kremlin. Efremov coi Đại hội Đảng lần thứ 23 vào tháng 4/1966 là một cơ hội lớn để trở lại Trung ương. Ông đã ca ngợi hết lời giới lãnh đạo hiện tại. Ông đưa Gorbachev về Moskva, bố trí ở khách sạn trong thời gian diễn ra Đại hội. Mỗi lần nghỉ giải lao Efremov đều gọi điện cho Gorbachev nhấn mạnh những điểm quan trọng trong bài phát biểu của mình, bài phát biểu mà Mikhail Sergeevich phải chỉnh lý lại toàn bộ. Tuy nhiên, Efremov hoàn toàn thất vọng khi ông không được mời lên đọc diễn văn trước Đại hội. Cú sốc mạnh mẽ và cay đắng khiến ông tự thừa nhận mình là con người của quá khứ và sau này ông đã dốc toàn bộ sức lực và tài năng ở vùng Stavropol. Mikhail Sergeevich nghiên cứu cách ngoại giao của ông tựa như một đề tài lâu dài và rút ra được rất nhiều bài học chính trị quý giá từ trường hợp của Efremov. Ngày 26/9/1966, Gorbachev được bầu làm Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Stavropol hay còn gọi là Thành ủy. Thực chất, đây là sự giáng chức, vì chức vụ cũ của Gorbachev cao hơn so với chức vụ mới được bổ nhiệm, hơn nữa, lương bổng cũng cao hơn nhiều. Nhưng ông chấp nhận ngay chức vụ này, không chút do dự vì nó sẽ đem lại cho ông nhiều cơ hội để thực hiện những ý tưởng to lớn hơn. Một kế hoạch phát triển tổng thể được phác thảo nhưng vấn đề nan giải là sự khan hiếm các nguồn lực khiến nó không có tính khả thi.

Gorbachev phát hiện điểm yếu cơ bản trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung: không có nhân tố để phối hợp tất cả các kế hoạch riêng lẻ và hợp nhất chúng thành một kế hoạch có tính khả thi cao. Gorbachev hoàn toàn thất vọng trước cung cách điều hành quản lý của các vị bộ trưởng, họ chỉ quan tâm đến quyền lợi cục bộ. Các tổ chức Đảng ở các vùng chỉ tập trung và nhất nhất thực thi tốt các chỉ thị của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (Liên Xô). Không ai trong giới lãnh đạo Trung ương quan tâm tới việc vạch ra kế hoạch hay áp dụng một chính sách khuyến khích nào ở vùng Stavropol xa xôi. Đã có những cố gắng nhằm cải thiện tình hình và vào tháng 2/1967, đã xuất hiện một bài viết trên tờ Novy Mir (Thế giới mới), một tờ báo tiến bộ, trong đó Gennady Lisichkin chủ trương cần phải có những thay đổi mạnh mẽ trong nông nghiệp, có hướng phát triển đúng đắn các nông trang tập thể và nông trường quốc doanh mà khi đó đang rất tùy tiện trong sản xuất. Toàn bộ những ví dụ ông nêu lên đều có nguồn gốc từ vùng Stavropol. Nếu chủ trương này được thông qua, các nông trang tập thể sẽ dần dần được giao quyền quyết định sản xuất sản phẩm gì. Về bản chất, điều đó đồng nghĩa với việc chấm dứt cơ chế kế hoạch trong sản xuất nông nghiệp. Bộ máy của Ban Chấp hành Trung ương Moskva tất nhiên không chấp nhận đề xuất đó và Barakov Bí thư vùng này, người đang triển khai những cải cách cấp tiến bị cách chức vào tháng 1/1967. Đến tháng 9/1967, Efremov có bài viết đáp trả trên báo Selskaya Zhizn − tờ báo nông nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương − bác bỏ bài tranh luận và chủ trương của Lisichkin. Gorbachev nhận thấy đây là một ví dụ điển hình và đặc trưng nhất của bộ máy Đảng, họ đang ra sức bảo vệ những đặc quyền của mình chứ không chịu thay đổi một cơ chế kinh tế hiệu quả. Nếu các nông trang được phép áp dụng các sáng kiến cải tiến kỹ thuật của mình thì nền nông nghiệp Xô viết sẽ sản xuất được một khối lượng lương thực cao gấp nhiều lần so với thời kỳ Brezhnev và tiết kiệm cho đất nước hàng tỷ đôla nhập khẩu lương thực. Gorbachev nhận xét: “Đây là một bài học khó khăn với tôi”.

Một bài học nữa với Gorbachev là sự tác động mạnh mẽ của KGB. Mùa hè năm 1967, Zdenek Mlynar, một người bạn cùng trường đại học, đã đến thăm ông sau khi ông này tới Moskva để thuyết trình về tư tưởng cải cách chính trị ở Tiệp Khắc. Ông này cũng cho Mikhail Sergeevich biết những tóm tắt chi tiết về tình hình ở Tiệp Khắc. Sau đó Mlynar được bầu làm Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc (CPC), đóng vai trò lãnh đạo trong việc dự thảo Chương trình Hành động của CPC và khởi đầu bằng một chuỗi sự kiện mà được nhắc đến nhiều nhất là sự kiện Mùa xuân Praha. Gorbachev như được tiếp thêm sức mạnh, ông viết thư cho Mlynar nhưng không nhận được hồi âm. Vị thủ trưởng cơ quan KGB bóng gió hé lộ thư trả lời đã được lưu trong hồ sơ KGB. Đây là cách ngầm báo hiệu rằng từ trước đến nay, không có vị Bí thư thứ nhất nào của vùng Stavropol có quyền trao đổi thư từ với những người cộng sản nước ngoài.

Mùa hè năm 1968, Bí thư thứ nhất tỉnh Karachai Cherkess (một phần của vùng Stavropol) bị cách chức vì tội ngoại tình và bỏ vợ. Người ta cho rằng chính việc ngoại tình đã làm xói mòn sức mạnh của Đảng. Bí thư thứ hai của vùng Stavropol được kế nhiệm. Vì thế vị trí Bí thư thứ hai vùng này bị khuyết. Mikhail Sergeevich cho rằng ông không thích hợp chạy đua vào vị trí này và muốn đi nghỉ nhưng Efremov yêu cầu ông ở lại. Một vài ngày sau, Gorbachev được gọi đến gặp Efremov tại văn phòng và không để ý đến sự bực bội của Gorbachev, Efremov thông báo Gorbachev sẽ đi Moskva. Gorbachev đủ thông minh không hỏi ông sẽ đi gặp ai ở đó. Ban tổ chức thuộc Ban Chấp hành Trung ương chất vấn ông bởi vì “có rất nhiều người ở đấy ủng hộ ông”. Đặc biệt là Kulakov, người đã hết lời ca ngợi tài năng Gorbachev. Chính vì vậy, ông đã được bổ nhiệm làm Bí thư thứ hai vùng Stavropol vào ngày 5/8/1968. Việc đề cử của Efremov bị giới lãnh đạo Moskva phản đối là điềm báo không tốt cho tương lai của ông ở Stavropol. Dù việc này làm ảnh hưởng đến quyền lực của Efremov, Gorbachev và ông ta vẫn giữ mối quan hệ.

Hiệp ước Warsaw xâm chiếm Tiệp Khắc bắt đầu vào ngày 21/8/1968 là một cú sốc đối với cá nhân Gorbachev. Khi Efremov đi vắng, Gorbachev chủ trì các cuộc họp, ủng hộ những biện pháp mang tính quyết định và kịp thời nhằm bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc. Cá nhân Gorbachev có những băn khoăn khi đánh giá về sự việc này. Những gì diễn ra tại Praha có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển của những tư tưởng cấp tiến tại Nga. Mệnh lệnh từ Moskva là phải nhanh chóng dập tắt những quan điểm không đúng đắn, xa rời quan điểm của Trung ương. Đầu năm 1969, F. B. Sadykov, một phó giáo sư ngành triết (Marx-Lenin), công tác tại Viện Nông nghiệp Stavropol đã xuất bản cuốn sách có tiêu đề Sự đoàn kết của nhân dân và những mâu thuẫn của chủ nghĩa xã hội . Bản thảo cuốn sách được hệ thống xét duyệt thường lệ chấp nhận và được trình lên Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ở Moskva. Sadykov viết một bài báo cùng chủ đề như vậy in trong Voprosy Filosofii (Những vấn đề triết học). Ông này dám dùng cụm từ “những mâu thuẫn của chủ nghĩa xã hội” và minh họa cho quan điểm này bằng chính không khí chính trị hồi đầu và giữa những năm 1960. Các mâu thuẫn trong chủ nghĩa Marx chính là các vấn đề tồn tại trong suốt quá trình phát triển của chủ nghĩa xã hội. Chúng có thể thuận chiều hoặc trái ngược nhau. Những mâu thuẫn đồng thuận có thể gây ra sự bất ổn trong xã hội nhưng không đe dọa trật tự xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn đối kháng là những vấn đề nếu không điều chỉnh hợp lý, có thể dẫn tới tình thế cách mạng. Sadykov đã chỉ rõ những mâu thuẫn đồng thuận và Moskva quyết định lấy ông làm bài học răn đe. Tháng 5/1969, họ tấn công vào “những sai lầm nghiêm trọng” trong cuốn sách của Sadykov và ông rơi vào tình thế nguy cấp. Những nhà tư tưởng lớn trong chính quyền ra lệnh khai trừ ông khỏi Đảng, điều đó đồng nghĩa với việc đánh dấu chấm hết trong sự nghiệp của ông. Sau này khi rời khỏi Stavropol, Gorbachev đã lấy Sadykov làm gương nhưng ông ghi nhớ những kiến nghị của Sadykov và một số kiến nghị được áp dụng trong chính sách cải cách sau này (cải tổ). Cách đối xử với Barakov và Sadykov ít nhiều còn để lại dư vị cay đắng cho Gorbachev. Ông cảm thấy “cắn rứt lương tâm về sự đối xử thô bạo mà lẽ ra những người này không đáng phải gánh chịu”. Rõ ràng sự rạn nứt của chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc đã nhen lên hy vọng về quá trình cải cách hệ thống kinh tế ở nước Nga. Đối với Gorbachev, đây là thời kỳ kinh tế nước Nga bắt đầu giai đoạn trì trệ.

Mikhail Sergeevich được Raisa cung cấp thông tin về mức sống của nông dân trong các nông trường tập thể và với công trình nghiên cứu này, cô đã hoàn thành bằng tiến sĩ tại trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva năm 1967. Cũng trong năm này, ông đã giành được một văn bằng về kinh tế nông nghiệp tại Viện Nông nghiệp Stavropol, với tư cách là sinh viên ngoại trú. Ông viết luận văn về đề tài sản xuất sữa. Vị giám đốc viện này là Aleksandr Nikonov 3 tác động tới ông về phương pháp tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp.

Mong muốn quay trở lại Moskva của Efremov trở thành sự thật vào đầu năm 1970 và Mikhail Sergeevich được bầu làm Bí thư thứ nhất vùng Stavropol vào

tháng 4/1970, một tháng sau sinh nhật lần thứ 39 của ông. Một nghi thức trang trọng cho vị Bí thư thứ nhất này được tổ chức với sự chứng kiến của các vị bí thư thành ủy, tỉnh ủy và khu ủy. Các bí thư Ban Chấp hành Trung ương đã thu thập thông tin về ông, chất vấn ông và cuối cùng ông cũng được thông báo đến gặp Tổng Bí thư. Các cuộc chất vấn chỉ mang tính hình thức vì quyết định phụ thuộc Brezhnev. Ông chủ Điện Kremlin rất tự hào về đội ngũ trợ lý của mình. Vì bản thân ông cũng được bổ nhiệm thông qua hình thức đồng thuận nên ông không muốn cấp dưới không tuân lệnh hoặc có thái độ chống đối. Ông mong có sự ổn định và luôn tìm cách hạn chế nguy cơ tiềm ẩn. Brezhnev có kỹ năng nhưng lại hoàn toàn sáo rỗng trong các vấn đề nội bộ và chính sách đối ngoại. Trong cuộc đối thoại diễn ra vài giờ, Gorbachev phát hiện thấy Brezhnev rất chất phác và dễ tin người. Đây là giai đoạn Brezhnev đang làm Tổng Bí thư.

CÁC CHUYẾN CÔNG DU NƯỚC NGOÀI

Mốc đáng lưu ý của nhà lãnh đạo Komsomol đầy triển vọng này là được mời tham gia đoàn đi thăm một nước xã hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm nước ngoài đầu tiên của Gorbachev là tới Cộng hòa Dân chủ Đức (GDR) năm 1966. Thời kỳ đó, Cộng hòa Dân chủ Đức đang tiến hành mạnh mẽ cải cách kinh tế, những cải cách kinh tế cấp tiến và nhanh hơn nhiều so với những cải cách của Kosygin ở Liên bang Xô viết, đáng để nghiên cứu và học hỏi. Ngay từ đầu, Mikhail Sergeevich cảm thấy sự lạnh giá và khung cảnh điêu tàn ở Đông Berlin, một nhận xét thường trực của những khách du lịch đến từ phía Tây. Lãnh đạo của Đông Đức lúc đó là Erich Honecker kế nhiệm vị trí lãnh đạo Đảng của Walter Ulbricht năm 1971, sự tự tin của Honecker đã gây ấn tượng mạnh đối với Gorbachev. Năm 1969 và 1974, Gorbachev có các chuyến thăm Bulgaria. Về mặt nông nghiệp, dường như đây được mệnh danh là vườn địa đàng nhưng chính lúc đó người Nga lại không hay biết Bulgari đang sống chật vật và khó khăn. Kinh nghiệm đau đớn nhưng bổ ích nhất được rút ra từ chuyến viếng thăm nước Tiệp Khắc năm 1969. Đây là lần đầu tiên Gorbachev gặp mặt Egor Ligachev, một thành viên trong đoàn. Mục đích của chuyến thăm này là làm thế nào giành được sự ủng hộ của giới sinh viên Tiệp Khắc, nhưng họ đã thất bại. Đoàn đại biểu Xô viết cảm nhận được thái độ thù địch công khai tại Tiệp Khắc và họ biết giới lãnh đạo Tiệp Khắc cũng có thái độ e ngại trước phản ứng của công chúng. Khi đi thăm một xí nghiệp ở Brno, công nhân ở đây không muốn tiếp chuyện với Gorbachev và những người cùng đoàn. Lo sợ bị tấn công, những người Nga phải cẩn trọng suốt ngày đêm. Gorbachev không có cơ hội tiếp kiến Zdenek Mlynar, nhân vật bị tẩy chay ở Moskva. Chuyến thăm này là một kinh nghiệm đáng kể đối với Gorbachev nhưng nó cũng cho thấy một số hình ảnh tương phản trong tình hình nội trị của Liên Xô. Trong chuyến viếng thăm các nước tư bản, Gorbachev cũng đã rút ra được một số bài học. Chuyến viếng thăm đầu tiên tới Bỉ năm 1972, tiếp đó là ghé qua Hà Lan. Trên đường đi lần đầu tiên ông gặp Anatoly Chernyaev. Trong những năm 1970, Gorbachev còn đi thăm Pháp, Italia và Cộng hòa Liên bang Đức. Ông thật sự sửng sốt trước mức sống của những nước này, cao hơn hẳn mức sống của người Nga. Khả năng này thật sự xảy ra dưới chế độ chủ nghĩa tư bản chăng? Người Nga cũng đã sửng sốt trước sự cởi mở, trước sự nhân nhượng lẫn nhau khi tranh luận về chính trị và các vấn đề khác. Những người đối thoại với họ, phần lớn là những người cộng sản, thường không nhất trí với nhau. Điều này làm cho Mikhail Sergeevich tự vấn xem xét lại niềm tin của mình rằng liệu nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có thật sự ưu tú hơn nền dân chủ tư sản. Ngược lại, đoàn đại biểu Nga luôn đồng nhất một quan điểm và vì vậy các thành viên trong đoàn không bao giờ đoán biết được người này hoặc người kia thật sự đang nghĩ gì. Ông buồn rầu nghĩ đến những ông già trong Điện Kremlin, những người chẳng mấy quan tâm đến các vấn đề như vậy, việc duy nhất họ quan tâm là tìm ra cách biện minh hợp lý lẽ để giữ nguyên hiện trạng.

Trong chuyến thăm Canada tháng 5/1983, Mikhail Sergeevich còn rút ra một kinh nghiệm nữa. Ông phát hiện rằng dù nông nghiệp Canada đạt được sản lượng rất cao nhưng nó phụ thuộc rất nhiều vào sự trợ giá của nhà nước. Quan trọng hơn là ông đã gặp Aleksandr Yakovlev, Đại sứ Liên Xô tại Canada, người sau này trở thành cha đẻ của chính sách “glasnost” (công khai). Trên đường trở về nước, Gorbachev lại tiếp tục tranh luận vấn đề liệu khu vực nông nghiệp có cần thêm trợ cấp của nhà nước hay không. Ông quyết định không nói đến mô hình nông nghiệp Canada với mọi người vì chắc chắn chuyện đó chỉ làm nản lòng họ.

QUYẾT SÁCH BAN ĐẦU VÀ BƯỚC TIẾN CHÍNH TRỊ

Bản chất của nền chính trị Xô viết đòi hỏi một người có tư chất, phải đưa ra được nhiều sáng kiến. Gorbachev là một người biết chấp nhận rủi ro nhưng cũng cần đến một chút may mắn. Bước đi đầu tiên của ông là dự thảo kế hoạch cải cách nông nghiệp đầy tham vọng cho vùng.

Trong thế kỷ trước, năm 1870, ở vùng này đã có

52 năm bị hạn hán. Do vậy, việc cung cấp nước trở nên tối quan trọng. Một con kênh ở vùng Stavropol đã được xây dựng nhưng theo tính toán của Mikhail Sergeevich, công trình phải mất một thiên niên kỷ hoặc thậm chí có thể lâu hơn nữa mới hoàn thành. Ông đã suy nghĩ và cuối cùng đưa ra sáng kiến, còn kinh phí thực hiện vẫn phải đợi Moskva rót xuống. Bước đi đầu tiên là tranh thủ Bộ trưởng Khai hoang và Quản lý Nước của Nga khi ông này tình cờ đang đi nghỉ ở vùng này. Không giải quyết được gì nếu không trực tiếp gặp được ông ấy. Khi Brezhnev đến Baku dự lễ trao huân chương và Gorbachev may mắn được đứng cạnh ông trên khán đài. Mikhail Sergeevich không để tuột mất cơ hội này và đã nhanh chóng bắt chuyện với lãnh đạo. Brezhnev tỏ ra rất hào hứng, triệu tập ngay một cuộc họp khẩn trong Bộ Chính trị và quyết định triển khai kế hoạch này. Kế hoạch do Ban Dự án Komsomol thực hiện, vì vậy đảm bảo được nguồn cung cấp nhân lực và vật lực. Kênh đào được hoàn thành vào năm 1978. Sau đó, vấn đề nổi lên là quyết định trồng hoa màu gì trên khu đất được tưới tiêu. Moskva muốn trồng các loại cây lương thực trên từng mét vuông nhưng Gorbachev cho rằng tốt nhất nên làm giàu đất hàng năm, nghĩa là cho đất luân phiên nghỉ. Đề nghị của Gorbachev không thuyết phục được giới lãnh đạo Trung ương. Tuy nhiên, vận may đã mỉm cười với ông. Vào năm 1975-1976, xuất hiện một nạn hạn hán nghiêm trọng chưa từng thấy. Cuối tháng 5/1976 khoảng một nửa mùa màng bị thiệt hại. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nga lúc đó vô cùng sợ hãi và lệnh cho cấp dưới phải giết cừu và các gia súc vùng này vì lý do thiếu cỏ. Gorbachev lên tiếng phản đối và sự việc này cuối cùng được Kulakov, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương chuyên trách về nông nghiệp ở Moskva quyết định. Khi ông này gọi điện, Mikhail Sergeevich đã đưa ra những lý lẽ thuyết phục nhưng Kulakov lên tiếng cảnh báo ông sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu sự việc phát triển theo chiều hướng xấu đi. Mọi người trong khu vực đã được huy động thu gom cỏ khô trên các con đập, vệ đường và trên các bãi cỏ nông trang. Gorbachev bay tới Moskva và nhận lệnh khẩn cấp thu gom 60 nghìn tấn cỏ khô. Sau đó mưa như trút nước, cả vùng được cứu sống. Với thành công này, Gorbachev quyết định tiếp tục vận động thực hiện việc bỏ hóa đất trong vùng. Câu trả lời của Kulakov vẫn như trước: chờ ý kiến của lãnh đạo. Brezhnev đang đi nghỉ ở Crime. Chính phủ Nga kịch liệt phản đối việc bỏ hóa này, tuy vậy có một nghị quyết của Bộ Chính trị về mở rộng diện tích lương thực ở vùng nông thôn. Thời kỳ này, Gorbachev luôn trong tâm trạng lo lắng và căng thẳng. Năm 1977, người ta đã chứng kiến một vụ mùa bội thu và năm 1978 thậm chí còn bội thu hơn. Vận may đã nghiêng về những người dũng cảm. Một phần do may mắn, một phần dựa trên khả năng tính toán, ông cho rằng nếu năm 1975 và 1976 là những năm hạn hán mất mùa, khả năng bội thu mùa màng vào năm 1977 là rất cao. Do vậy, thời gian tiến hành bỏ hóa đất đai trồng trọt là năm 1977. Một vấn đề khác trong vùng này phải lưu ý là nguồn cung cấp thịt. Khoảng 75% sản phẩm thịt được phân phối cho các vùng khác, vì thế sản lượng này phải tăng lên rất nhanh. Gorbachev quyết định thử liều một phen và ông thực hiện ý định một mình. Ông tăng cường mở rộng các trang trại chăn nuôi gia cầm và sản lượng gà đã tăng lên đáng kể. Một trong những người tham gia chính là Viktor Postmikov, giống như Gorbachev, cũng sinh ra ở Privolnoe, sau này được Mikhail Sergeevich cho phép, ông ta đã thành lập và mở rộng một nông trang chăn nuôi gia cầm và bán thịt cho vùng Stavropol. Đến năm 1983, nhờ có sự hậu thuẫn của Gorbachev trong tổ chức chính quyền, ông này đã rất thành công.

Vùng Stavropol có nền nông nghiệp phát triển và một số người đã để mắt tới vùng này nhằm tiến xa hơn trong sự nghiệp chính trị. Fedor Kulakov rất cần đưa ra sáng kiến được lòng công chúng và ông phát hiện có vấn đề xảy ra hàng năm trong vụ thu hoạch. Một phần bị thất thu do không thu hoạch được. Sự việc càng trở nên cấp thiết khi giá nhập khẩu lương thực từ Bắc Mỹ ngày càng tăng, người dân Nga không cung cấp đủ lương thực trong nước cho người và gia súc. Vùng được chọn là Ipatovsky, một vùng đất bằng phẳng và thích hợp trồng lúa mì mùa đông. Mô hình dự án được hoàn chỉnh năm 1976 và triển khai năm 1977. Vùng này được phân chia thành 54 khu vực, mỗi khu vực đều được trang bị máy gặt đập liên hợp, ôtô tải và 15 đảng viên để nhấn mạnh rằng đó là sáng kiến của Đảng. Vụ thu hoạch tiến hành suốt ngày đêm. Thời tiết cũng rất thuận lợi. Việc thu hoạch hoàn thành trong vòng chín ngày (thường phải mất hai đến ba tuần) và vào đầu tháng 7, 200 nghìn tấn lương thực được chuyển về Trung ương như lời hứa của các quan chức Đảng. Ngày 20/7, tờ Pravda có bài báo ca ngợi hết lời thắng lợi này và kêu gọi cả nước noi gương. Tháng 2/1978, Kukalov được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Xã hội Chủ nghĩa, danh hiệu cao quý nhất ở Liên bang Xô viết. Gorbachev được nhận Huân chương Cách mạng Tháng Mười và nhiều danh hiệu khác. Vụ thu hoạch năm 1978 ở vùng Ipatovsky thậm chí còn bội thu hơn nhiều, nộp cho Nhà nước 240 nghìn tấn lương thực. Những lời ca tụng chúc mừng lắng dịu khi Kulakov qua đời ngày 17/7/1978. Gorbachev phát biểu trong lễ tang của Kulakov và lần đầu tiên người dân Nga nhìn thấy vị lãnh đạo tương lai của mình. Nhưng ông đã sửng sốt vì Brezhnev và các ủy viên Bộ Chính trị không đến dự lễ tang. Ông thấy rõ là các đồng chí lãnh đạo lại xa rời nhau một cách khó mà tin được, đúng là xa rời nhân dân.

Phương pháp thu hoạch mùa màng tại Ipatovsky lắng xuống cùng với cái chết của Kulakov. Nó chính là một ví dụ điển hình về mối liên hệ mật thiết giữa kinh tế và chính trị. Hóa ra mục đích không phải là năng suất cao, tính hiệu quả của nền nông nghiệp Nga, đó chỉ là biện pháp nhằm tăng cường địa vị chính trị mà thôi. Phương thức sản xuất này không được áp dụng cho các vùng khác của nước Nga. Cây trồng gieo vào mùa xuân, chín vào thời gian khác nhau và thu hoạch vào mùa mưa sẽ không hợp lý nếu các phương tiện sấy khô không được đáp ứng đầy đủ. Tình hình này không được đề cập trong hồi ký của Gorbachev. Ông nhận được sự ủng hộ khi hình thành một hệ thống gắn kết chặt chẽ trong nông nghiệp, theo đó các nhóm làm việc sẽ được trả công tương xứng với kết quả lao động và cùng nhau hợp tác lao động từ khâu gieo hạt đến thu hoạch và bán sản phẩm. Áp dụng mô hình sản xuất này khiến ông suy nghĩ về sự chín muồi của chủ nghĩa cộng sản. Tại sao các sáng kiến ở cấp dưới rõ ràng là làm lợi cho cả xã hội lại bị Trung ương không những không khuyến khích mà còn thẳng thừng bác bỏ? Nếu các sáng kiến của giới lãnh đạo Trung ương thất bại thì không ai phải chịu trách nhiệm cả. Nếu một sáng kiến mà phát đi từ cấp cơ sở, những người liên quan sẽ có kết cục chí ít là vào tù. Mikhail Sergeevich kết luận rằng không thể làm được điều gì tốt nếu người ta chấp hành tất cả các luật lệ và quy định.

Cuối năm 1977, Gorbachev ở Moskva và cùng Kulakov tham gia cuộc tranh luận về việc khen thưởng và động viên các nông trường. Cái tôi của Kulakov trỗi dậy sau khi được biết Aleksei Kosygin được bổ nhiệm làm trưởng ban trù bị của phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương sắp tới về nông nghiệp, hơn thế nữa, ông thật sự bị xúc phạm và tổn thương khi không có tên trong danh sách thành viên của ban này. Ngay lập tức, ông đề nghị Gorbachev thảo ra những việc ông đã làm. Gorbachev đã làm hết sức và đệ trình lên Kulakov một bản ghi nhớ dày 72 trang vào ngày 31/12/1977. Kulakov đề nghị gửi bản ghi nhớ đó đến tất cả các ủy viên Bộ Chính trị. Gorbachev có chút lưỡng lự nhưng rồi cũng đệ trình một bản ghi nhớ có nội dung ngắn gọn hơn, trong đó giữ lại tất cả các lý lẽ quan trọng nhất, và chuyển đi vào tháng 5/1978. Tại kỳ họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương ngày 4/7/1978, Gorbachev lần đầu tiên được tham dự tại kỳ họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương và phát biểu về các vấn đề vô cùng nghiêm trọng mà nền nông nghiệp xã hội chủ nghĩa đang phải đối mặt. Ông nghiêng nhiều về việc giao quyền cho các nông trang tập thể và hợp tác xã. Một vài ý kiến trong bản ghi nhớ sau này được đưa vào chương trình cải tổ và người ta vẫn thấy được ảnh hưởng của Nikonov trong đó. Sau bài phát biểu, Bộ trưởng Nông nghiệp Nga nói rằng ông hãy lưu ý đến ý kiến của mình và tránh những chủ đề không đích xác. Hóa ra Mikhail Sergeevich không nhận ra một thực tế là đang diễn ra một cuộc đấu tranh phe phái trong nội bộ Bộ Chính trị. Gorbachev rất sơ hở khi hết lời ca ngợi cuốn sách Malaya Zemlya (Đất nhỏ) của Brezhnev viết về giai đoạn chiến tranh. Cuốn sách này do người khác viết và là một thành công đáng nghi ngờ về mặt văn chương. Bài phát biểu của Gorbachev đã được gạt ra khỏi tuyển tập các bài viết của ông. Tuy vậy, ông ngày càng lo lắng trước hố sâu ngăn cách giữa cách nói năng của giới lãnh đạo chỉ nhấn mạnh đến thành công và bỏ qua thực tế nền kinh tế đang trì trệ.

Nếu Kulakov là người duy nhất ủng hộ Mikhail Sergeevich ở Moskva thì ưu thế đó đã dần phai mờ cùng với sự ra đi vào cõi vĩnh hằng của Kulakov. Thực tế ông sẽ là người kế nhiệm Kulakov làm Bí thư Ban Chấp hành Trung ương về Nông nghiệp, để lộ ra những người hậu thuẫn có ảnh hưởng khác. Họ bao gồm Yury Andropov − lãnh đạo cơ quan KGB từ 1967-1982, Mikhail Suslov − người bảo vệ các tư tưởng chính thống và đã phải từ chức giống như một cỗ máy cũ không có dầu bôi trơn, và Aleksei Kosygin − Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng từ 1964 1980. Andropov và Suslov cũng có những mối quan hệ ở vùng Stavropol và Kosygin thường đến đó để nghỉ ngơi. Tháng 8/1978, Andropov đề nghị gặp Gorbachev tại khu nghỉ mát thuộc vùng Stavropol. Sự việc trở nên rõ ràng đối với Gorbachev là Andropov đang thử thách và đánh giá ông. Vị lãnh đạo cấp trung ương này rất quan tâm đến nhà lãnh đạo trẻ ở vùng Stavropol. Andropov lắng nghe ý kiến và những phàn nàn của ông về đội ngũ lãnh đạo đã lớn tuổi cũng như mong muốn có sự thay đổi nhân sự từ bên trong. Sau này, Gorbachev nhớ lại một câu nói vui tại Đại hội Đảng lần thứ 26 năm 1981: Đại hội Đảng lần thứ 27 sẽ khai mạc như thế nào? Các đại biểu sẽ đứng dậy chào trong khi các ủy viên Bộ Chính trị ngồi trên xe lăn! Một câu chuyện khác nữa là tham vọng của mỗi ủy viên trong Bộ Chính trị là sẽ chết trên cương vị Tổng Bí thư. Tháng 9/1978, Brezhnev, Chernenko và Andropov đến Mineralny Vody và Gorbachev đã tiếp đón họ. Rất khó tiếp chuyện với Brezhnev liên tục. Thỉnh thoảng Brezhnev lại hỏi ý kiến Andropov về bài diễn văn của mình. Bao giờ câu trả lời cũng phải là “rất tốt, rất hoàn chỉnh”. Sau này, khi Gorbachev hỏi Andropov tại sao lại phải vậy thì ông tiết lộ lúc đó mình hiểu sai ý lãnh đạo. Brezhnev muốn hỏi về cách mà ông ấy phát biểu, kể từ sau khi ông ta gặp khó khăn trong việc phát biểu trước công chúng. Một ủy viên Bộ Chính trị, A. P. Kirilenko, ghé thăm nhưng rõ ràng đến có mục đích. Gorbachev chỉ trích chuyến thăm của ông này là có thâm ý. Điều quan tâm là Suslov không nghĩ Gorbachev đang ấp ủ nhiều ý định về cách quản lý kinh tế và xã hội của Đảng. Ông rất có tài làm hài lòng mọi người. Ngay từ đầu năm 1973, một đối thủ khác là Nikolai Shchelokov, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầy quyền lực cùng với những người của mình đã bắt đầu tấn công vào Gorbachev. Vị Bộ trưởng này và nhiều quan chức cảnh sát tham nhũng nhận thấy Gorbachev không phải là một người dễ đe dọa. Dưới thời Chernenko, ông ta rất lo sợ những bước tiến của Gorbachev và thường nói với các chiến hữu rằng nhất định trước sau ông ta cũng sẽ phá Gorbachev.

Mặc dù Kulakov qua đời từ tháng 7/1978, nhưng cũng không ai được bầu kế nhiệm ông trước khi phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khai mạc vào tháng 11/1978. Là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Gorbachev được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng lần thứ 24 năm 1971), ông đến Moskva và có mặt trong cuộc họp của Đảng. Các trợ lý của Konstantin Chernenko cố gắng tìm và gọi điện xem ông ở đâu. Đáp lại những cuộc điện thoại này luôn là câu nói: “Nhầm số”. Đến năm 1978, sự việc đã ngã ngũ, người kế nhiệm Brezhnev sẽ là Chernenko. Người La Mã có câu ngạn ngữ: “Người nói ít là người khôn ngoan”. Chernenko là một người trầm tĩnh, ít cởi mở, Gorbachev biết cần phải thận trọng với kiểu người lặng lẽ nhưng rất cứng rắn này. Chernenko chỉ thông báo ngắn gọn rằng Brezhnev đã lựa chọn ông ta làm bí thư mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng chuyên trách về nông nghiệp. Khi Gorbachev hỏi liệu ông có được phát biểu trong phiên họp toàn thể không, Chernenko nói mỉa mai rằng điều đó không cần thiết vì ông đã có bài phát biểu rồi. Đây không phải là lần đầu tiên giới lãnh đạo nghĩ đến việc chuyển Gorbachev về Moskva. Đầu năm 1970, người ta đã hỏi ông liệu ông có muốn trở thành lãnh đạo ban tuyên truyền của Ban Chấp hành Trung ương hay không. Ông đã khôn khéo né tránh vấn đề. Ông cho rằng cả hai chức vụ này chẳng mấy hấp dẫn. Ông có thể sẽ được cử giữ chức Bộ trưởng Nông nghiệp Xô viết và thậm chí làm Chánh án, cương vị cao nhất trong hệ thống luật pháp của đất nước. Lại là một đêm không ngủ. Trong phiên họp toàn thể ngày 27/11/1978, Gorbachev được Brezhnev đề bạt giữ chức Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng và quyết định này được đa số thông qua như đã thông qua một số thay đổi nhân sự khác. Ngày tiếp theo, dù không được mời dự, ông đã gọi điện cho Brezhnev. Vị lãnh đạo này không mấy quan tâm đến cuộc nói chuyện, chỉ khẳng định: “Thật tiếc cho Kulakov, vì ông ta là người có khả năng.” Sau đó Suslov triệu tập Gorbachev. Ông ta là người thích nắm bắt mọi việc, nói ngắn gọn. Gorbachev hỏi ý kiến của Suslov về người thay thế vị trí của ông ở Stavropol và đề cử Vsevolod Murakhovsky. Suslov đồng ý và cuộc nói chuyện kết thúc. Sau đó Gorbachev gọi điện thuyết phục các bí thư khác trong Ban Chấp hành Trung ương và các đồng sự của họ. Ông cảm thấy mình hoàn toàn là một người xa lạ; những người cùng làm việc với ông trong nhiều năm giữ khuôn mặt lạnh lùng khi gặp ông. Đấy là cảm giác lạnh đến gai người khi lần đầu tiên làm việc ở một căn phòng rộng.

Rõ ràng Brezhnev hoàn toàn không còn khả năng lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Sau một kỳ họp của Bộ Chính trị, Mikhail Sergeevich đã nói điều băn khoăn của mình với Andropov. Andropov ngay lập tức nắm lấy cơ hội và nói thẳng với Gorbachev rằng ông ta không muốn làm đảo lộn mọi việc. Phần lớn các ủy viên trong Bộ Chính trị và chính quyền đều muốn vậy vì có như thế họ mới rảnh tay để tiến hành các hoạt động khác trong phạm vi của mình. Cũng có một điểm là khi đứng đầu cơ quan KGB, cơ hội kế nhiệm Brezhnev của Andropov là rất mong manh. Ông cần phải vào được Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng thì mới có cơ hội kế nhiệm thật sự. Chừng nào mà Suslov, người đứng đầu Ban Bí thư, còn nắm quyền thì cơ hội cho việc kế nhiệm này hầu như không có. Bộ máy lãnh đạo ngày càng trở nên bảo thủ. Ngay trật tự chỗ ngồi trong các cuộc họp của Bộ Chính trị cũng được giám sát rất chặt chẽ và nghiêm ngặt (là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Gorbachev cũng có quyền tham dự). Chẳng hạn bên phải của Brezhnev sẽ là ghế của Suslov, bên trái ông là Kosygin, và sau năm 1980 là Tikhonov. Bên trái của Suslov là chỗ ngồi của Kirilenko và một số người khác nữa. Đối diện với Brezhnev là chỗ ngồi của Gromyko, Andropov, Ustinov, Chernenko và cuối cùng mới là Gorbachev. Vì Gorbachev ngồi quá xa, Brezhnev càng không nghe rõ ông ngay cả khi điều kiện hoàn toàn thuận lợi nhất. Khi ông ấy quay đầu lại hỏi ý kiến người khác thì không thể nghe được là ông ấy đã nói gì. Ngồi kế bên Chernenko cũng giống như ngồi cạnh một quả bom nổ chậm. Ông thường nhảy dựng lên, chồm về phía Brezhnev và to tiếng, nói rằng mục đó đã được quyết rồi hoặc đã bị gạt ra khỏi chương trình nghị sự. Giống như mọi người được phân công phụ trách, ông chỉ quan tâm đến chính sách riêng thuộc lĩnh vực của mình.

Gặt hái đầu tiên của Gorbachev tại Moskva năm 1979 là sự thất vọng. Đầu tháng 9, ông đã thảo và gửi một bức thư tới Bộ Chính trị yêu cầu tăng cường nguồn lực và ước tính số lượng thâm hụt lương thực phải nhập khẩu từ Bắc Mỹ. Kosygin đã phản bác và nói thẳng với Gorbachev rằng không kiếm đâu ra ngoại tệ và phải nghiêm khắc hơn nữa, đồng thời yêu cầu các nông trang phải nộp đủ số lương thực đã đề ra. Câu trả lời cộc lốc của Gorbachev là nếu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho rằng cách điều hành của Đảng thất bại, ông ấy nên lệnh cho các bộ trưởng đi thu gom lương thực. Brezhnev ủng hộ Gorbachev, gọi điện phê bình Kosygin và yêu cầu ông này trình kiến nghị lên Bộ Chính trị. Gorbachev cảm thấy không ổn vì cãi cọ với Kosygin, người mà ông rất kính trọng. Tuy nhiên trong cái rủi cũng có cái may. Mikhail Sergeevich có tiếng là người mạnh mẽ và bản lĩnh và cuối mùa thu năm 1979, Suslov điện cho ông để thông báo ông được chọn ứng cử vào Bộ Chính trị. Một số người thậm chí còn muốn ông trở thành ủy viên chính thức nhưng Suslov cho rằng điều này không nên vì ông còn chưa đủ kinh nghiệm.

Gorbachev đóng vai trò đến đâu trong quyết định tiến quân vào Afghanistan hiện còn là một đề tài gây tranh cãi. Là thành viên cao cấp của Bộ Chính trị, ông có thể biết những cuộc tranh luận của giới lãnh đạo chóp bu: Brezhnev, Gromyko, Ustinov, Andropov, Suslov và Chernenko. Vai trò và ảnh hưởng của Gorbachev ngày càng tăng sau khi Mỹ từ chối giao lương thực đã cam kết bán cho Liên Xô như một đòn trừng phạt ngay từ đầu cuộc chiến. Tình thế đó buộc người ta phải tiến hành nghiên cứu cân nhắc và bắt đầu triển khai Chương trình Lương thực vào năm 1982. Đó quả thật là một nhiệm vụ gai góc và khó khăn, phải tập trung mọi nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp. Ý kiến phổ biến là nông nghiệp đang bị thất bát, phải chi cho nó nhiều hơn là nó sản xuất ra. Bộ trưởng Tài chính thường than phiền là không có tiền đầu tư cho nông nghiệp. Một vấn đề nghiêm trọng nữa là các con số thống kê. Ủy ban Thống kê Nhà nước (Goskomstat), Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và các cơ quan khác không áp dụng phương pháp so sánh để tính toán con số thống kê. Các con số thống kê thì luôn thể hiện những thời hạn chung chung. Gorbachev tiến hành một cuộc nghiên cứu kỹ lưỡng, chi tiết thực trạng nền nông nghiệp Xô viết và ông thật sự sửng sốt khi phát hiện ra các nguồn lãng phí, sự lãnh đạm, thờ ơ, vô trách nhiệm và sự kiệt quệ ở các vùng nông thôn. Ông tốn nhiều thời gian và công sức cùng các chuyên gia phối hợp làm việc trong nhiều cuộc khảo sát. Aleksandr Nikonov, lúc đó đang ở Moskva, đã giúp ông rất nhiều. Gorbachev nhận thấy nông nghiệp chiếm đến 28% tổng thu nhập quốc gia, do vậy cũng không sai khi cho rằng nông nghiệp là hố đen của nền kinh tế. Ông công khai các số liệu và các nghiên cứu của mình trên tờ Kommunist (Người cộng sản), tập san chính thức của Ban Chấp hành Trung ương. Các cuộc nghiên cứu về kinh tế hé lộ sự thật chi tiêu cho quốc phòng đang ngày càng tăng nhanh hơn tổng sản phẩm quốc dân. Có thể cắt giảm ngân sách quốc phòng không? Nicolai Baibakov, Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, gợi ý Gorbachev nêu vấn đề này trước Bộ Chính trị (Baibakov không phải là ủy viên Bộ Chính trị). Ông này đặt vấn đề liệu Gorbachev có can đảm đưa vấn đề này ra thảo luận trong Bộ Chính trị không. Câu trả lời là không. Ông và Baibakov nhất trí nếu đưa một vấn đề như vậy ra thảo luận trong Bộ Chính trị thì chỉ nhận được một kết quả là họ sẽ sớm trở thành những người ra đi. Quốc phòng và an ninh là hai lĩnh vực cấm kỵ mà Brezhnev và Ustinov đều quan tâm chú trọng.

Chương trình Lương thực là vấn đề chính mà Gorbachev luôn canh cánh trong thời gian này. Các điều kiện thương mại đều không mang ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp khi giá thu mua nông sản tăng chậm hơn so với nguyên liệu công nghiệp phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Các khoản vay hàng năm đều được gia hạn tạo điều kiện cho nông dân có thể trả nợ. Nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra thì toàn bộ khu vực kinh tế này sẽ ở bên bờ vực sụp đổ. Tikhonov lúc này đang là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (vì Kosygin từ chức năm 1980) vẫn rất bình tĩnh và tiếp tục cho rằng không có sẵn tiền mặt. Chương trình này được phối hợp tiến hành cùng Ủy ban Công nghiệp và Nông nghiệp Quốc gia (Gosagroproms) trên lãnh thổ địa phương và ở cấp trung ương. Mikhail Sergeevich mất hàng giờ trình bày ý kiến với Tikhonov và thậm chí vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã không ngần ngại để lộ ý kiến phản đối của mình: ông ngờ rằng Gorbachev đã lấy ủy ban này ra làm giảm địa vị và uy tín của ông trên cương vị người đứng đầu chính phủ. Thậm chí còn có những tin đồn rằng Gorbachev đang lợi dụng chương trình này như một chiến thuật nhằm vào vị trí Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Lại một lần nữa các thành công trong lĩnh vực kinh tế của một dự án lớn có nguy cơ bị hủy hoại vì mưu đồ chính trị cá nhân. Gorbachev xua tan các tin đồn về Ủy ban Công nghiệp và Nông nghiệp Quốc gia, do vậy đã nhận được sự ủng hộ của Tikhonov. Nói cách khác, không có một cơ quan nào có khả năng phối hợp lãnh đạo chương trình này. Các bộ trưởng có nhiệm vụ giám sát, họ là những người được rất ít lợi lộc khi chương trình này thành công, hơn nữa, họ cho rằng nếu chương trình thành công sẽ chỉ có lợi cho sự thăng tiến của Gorbachev mà thôi. Ngày 24/5/1982, chương trình này được cấp trên thông qua và triển khai thực hiện tới tận năm 1990.

NHỮNG NỖ LỰC TRONG BỘ CHÍNH TRỊ

Hầu hết các chính trị gia trên thế giới đều tận dụng cơ hội giao tế xã hội để kết hợp trao đổi ý kiến với nói chuyện phiếm. Giới lãnh đạo Xô viết lại không như vậy. Tháng 11/1980, ngay sau khi trở thành ủy viên Bộ Chính trị, Gorbachev mời Andropov và phu nhân đến dùng bữa tối vì hai người từng là hàng xóm của nhau. Andropov từ chối và cho Gorbachev biết ông không thể gặp riêng các ủy viên Bộ Chính trị được vì nếu cuộc gặp này đến tai lãnh đạo cấp cao, họ sẽ cho rằng hai người đang bàn mưu chống lại lãnh đạo tối cao. Gorbachev có lẽ còn nhiều đề xuất, ý tưởng về phương thức cải cách nông nghiệp nhưng tất cả những ý tưởng đó đều không được triển khai bởi nó đụng chạm đến nhiều người. Bộ Chính trị không hoạt động giống như tổ chức nội các của Chính phủ. Các thành viên làm việc trực tiếp với Brezhnev sẽ không làm mếch lòng ông để nhận lấy một kết cục đáng buồn. Đúng như trật tự phân hạng của các ủy viên Bộ Chính trị, các bà vợ của họ cũng được phân hạng như vậy. Raisa từng bị phu nhân của Kirilenko xếp vào vị trí cuối. Đây là diện mạo nghi thức trong bối cảnh xã hội Moskva. Nhưng Mikhail và Raisa lại thích một cuộc sống bình thường, không theo nghi thức rườm rà. Họ thích tới các nhà hát, phòng tranh và phòng hòa nhạc của thủ đô. Sự giản đơn cộng thêm trí tò mò của giới trí thức biến họ khác hẳn so với những ủy viên khác.

Mikhail Suslov lúc đó là Bí thư thứ hai dưới thời Brezhnev nhưng lại không bao giờ có tham vọng trở thành nhà lãnh đạo cao nhất. Sự ra đi của ông vào ngày 25/1/1982 làm đảo lộn mọi mối quan hệ trong Bộ Chính trị. Theo đánh giá của Brezhnev, có hai ứng cử viên xứng đáng vào chức vụ này vì họ đã đề xuất nhiều chính sách lớn. Đó là Konstantin Chernenko và Yury Andropov. Gromyko gọi điện cho Andropov và trao đổi với vị lãnh đạo cơ quan KGB này về việc chuyển công tác lên Ban Bí thư và giữ địa vị thứ hai. Mối quan tâm chủ yếu của Gromyko là giữ và củng cố địa vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của mình. Ustinov là người ngưỡng mộ Andropov. Ngày 24/5/1982, Andropov được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng. Andropov không giữ ghế chủ tịch mà chỉ được bầu làm bí thư thứ hai. Chernenko và Kirilenko tiếp tục thay nhau giữ vị trí chủ tọa phiên họp. Sau đó, tháng 7/1982, Andropov nắm lấy quyền chủ động ngồi vào bàn chủ tịch. Chernenko thừa nhận thất bại. Sự thật là Brezhnev đã gọi điện cho Andropov tối hôm trước và hỏi tại sao ông không chủ trì các cuộc họp Ban Bí thư. Ustinov ngay lập tức thực hiện theo lệnh của Brezhnev. Andropov đem lại một bộ mặt mới cho Ban Bí thư nhưng ông lại là người đứng ngoài lề. Không có cơ sở khẳng định ông làm mếch lòng đồng sự chỉ vì ông để mắt đến ghế chủ tịch. Các buổi họp của Bộ Chính trị thường kéo dài 15-20 phút và phần thảo luận rất hạn chế. Các ban được lập ra nhằm giải quyết vấn đề mà Bộ Chính trị phải thảo luận quyết định.

Brezhnev đột ngột qua đời ngày 10/11/1982 và khi Gorbachev gặp Andropov, ông hỏi thẳng rằng Andropov có biết về nhóm Ustinov, Gromyko và Tikhonov không. Andropov gật đầu và báo cho Gorbachev biết Chernenko đã thất thế, còn nhà lãnh đạo mới lại là một trong những người hâm mộ Gorbachev. Trong suốt mùa hè năm 1982, Gorbachev phác thảo một bản ghi nhớ về các chính sách kinh tế, là thành quả nhờ sự tư vấn của cả một nhóm chuyên gia. Ông đề nghị lập ra một ban thuộc Bộ Chính trị chuyên trách chính sách kinh tế và Andropov ủng hộ đề nghị này. Tiếp đến là Chernenko và các phụ tá riêng của Brezhnev ủng hộ, nhưng họ đã chôn vùi dự thảo này bởi họ coi đó là một trong những nỗ lực của Mikhail Sergeevich muốn vươn cao. Gorbachev dự thảo lại chính sách kinh tế này và đệ trình lên Brezhnev, người rất quan tâm đến bản dự thảo nhưng lại phản đối việc thành lập Ban Kinh tế thuộc Bộ Chính trị. Thay vào đó, họ lập một ban chuyên trách giải quyết các vấn đề kinh tế trong Ban Bí thư thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Người ta gợi ý Gorbachev đề cử người lãnh đạo ban này. Đó là một trong những đề tài ông thảo luận với Andropov trên cương vị lãnh đạo. Gorbachev muốn một người có năng lực, trẻ trung, mới mẻ và không thuộc Ban Bí thư. Họ nhất trí chọn Nikolai Ryzhkov, Phó Chủ tịch thứ nhất Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Liên Xô, người có thâm niên trong ngành công nghiệp. Ngày 22/11/1982, tại phiên họp toàn thể đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương do Andropov làm chủ tọa, Ryzhkov được bầu làm Bí thư Ban Chấp hành Trung ương. Vị lãnh đạo mới này muốn thiết lập một ê-kíp đáng tin cậy và thân thiện quanh mình, vì vậy, Gorbachev và Ryzhkov có thể cùng hợp tác chặt chẽ trong công việc. Tháng 12/1982, Andropov sa thải Nikolai Shchelokov, Bộ trưởng Bộ Nội vụ với tội danh tham ô. Trước kia ông không có quyền sa thải hoặc thuyên chuyển vị bộ trưởng này vì ông ta nằm trong vòng tay che chở của Brezhnev. Brezhnev từng chuyển vị trí lãnh đạo cơ quan KGB của Andropov cho Vitaly Fedorchuk và vị lãnh đạo mới Andropov đã bổ nhiệm Fedorchuk làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, còn người thân tín của ông là Viktor Chebrikov làm Giám đốc KGB. Kirilenko về nghỉ hưu. Kirilenko quá mệt mỏi và ốm yếu đến nỗi Andropov phải thảo hộ đơn xin từ chức và đưa tận tay cho ông ta để ông ta viết lại. Andropov bắt đầu xây dựng một ê-kíp riêng cho mình trong Bộ Chính trị. Gaidar Aliev, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Azerbaijan, được bầu làm ủy viên chính thức của Bộ Chính trị. Gorbachev tỏ ra e dè và lo ngại ông này, nhưng nguyên là thủ trưởng của KGB Azerbaijan, ông ta là người thân tín của Andropov. Grigory Romanov, Bí thư thứ nhất Thành ủy Leningrad và là ủy viên chính thức Bộ Chính trị, người mà Gorbachev đánh giá là nhỏ nhen, quỷ quyệt và độc đoán, được bổ nhiệm vào vị trí Bí thư Ban Chấp hành Trung ương để giúp đỡ cho Ustinov. Ustinov không phản đối quyết định này vì Romanov không bao giờ phát biểu gì trong các cuộc họp tại Bộ Chính trị. Egor Ligachev được đưa vào hàng ngũ lãnh đạo theo đề xuất của Gorbachev vào tháng 4/1983, ông này được bầu làm người đứng đầu Ban Tổ chức Trung ương, ban này chuyên trách về các vấn đề nhân sự của Đảng. Đến tháng 12/1983 Ligachev được bầu làm Bí thư Ban Chấp hành Trung ương. Khi còn là Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Tomsk, Ligachev ở quá xa Moskva nên ông chỉ dựa vào sự ủng hộ của Andropov. Ê-kíp khác bao gồm cả Tikhonov, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, người cho rằng Andropov không chịu đề bạt ông. Nhóm này có cả Vladimir Dolgikh, Bí thư phụ trách Công nghiệp. Ông này phản đối kịch liệt khi Ryzhkov được bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo Ban Kinh tế. Brezhnev ngầm ủng hộ Vladimir Shcherbitsky, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Ukraine, người đang nằm trong hàng ngũ kế cận vị trí Tổng Bí thư. Shcherbitsky không bao giờ ghé thăm văn phòng Andropov và cũng ít khi gọi điện thoại cho ông.

Gorbachev và Ryzhkov được giao nhiệm vụ theo dõi khả năng tăng giá bánh mỳ và sợi bông. Họ muốn biết tình hình ngân sách nhà nước và Andropov kiên quyết từ chối: “Ngân sách không thuộc phạm vi quyền hạn của các đồng chí”. Thật là một tình huống khó xử. Sau này, Gorbachev phát hiện ra một khoản thâm hụt khá lớn mà được bù lại một phần lấy từ tiết kiệm nhân dân. Làm thế nào để có thể cân bằng ngân sách nếu chỉ riêng Tổng Bí thư biết là nó cần phải được cân bằng? Thái độ của Andropov trước các vấn đề kinh tế − xã hội ngay từ khi ông giữ chức lãnh đạo KGB không thay đổi. Giải pháp bao giờ cũng là thiết lập lại kỷ luật. Ông đã tiến hành các chiến dịch chống rượu mạnh và tăng cường kỷ luật nhưng kết quả đều đi ngược lại với mong đợi. Ông không bao giờ chấp nhận KGB và lực lượng cảnh sát bắt bớ những người dân đang đứng xếp hàng chờ đến lượt hoặc họ ở trong phòng tắm hơi thay vì đang phải ở chỗ làm việc, điều này xảy ra có thể làm giảm quyền lực của ông. Chiến dịch chống rượu làm xuất hiện loại rượu Andropovka, một loại vodka rẻ tiền ở chợ đen hay do mafia bán.

Sức khỏe của Andropov bắt đầu có dấu hiệu giảm sút trong suốt mùa hè năm 1983 và ông phải điều trị lọc máu nhân tạo từ tháng 2. Tin đồn thời kỳ của Andropov sắp kết thúc và vị lãnh đạo này nên sớm hài lòng với điều đó bắt đầu lan nhanh. 4 Chernenko nắm vị trí chủ tọa trong các cuộc họp của Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Giờ đây lại đến Gorbachev điều khiển các phiên họp của Ban Bí thư. Bài phát biểu của Andropov trước phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương ngày 26 và 27/12/1983 − do các phụ tá của ông soạn thảo − rất được mong đợi. Bài phát biểu này kết luận với kiến nghị rằng trong khi ông vắng mặt, các cuộc họp của Bộ Chính trị sẽ do Gorbachev chủ trì. Tuy nhiên, khi bài phát biểu được đưa đến các ủy viên Bộ Chính trị và sau đến ủy viên Ban Chấp hành Trung ương thì các kiến nghị này bị lờ đi. Ban Tổng hợp của Ban Bí thư, do một thành viên lão thành lãnh đạo thông qua nhiều chính sách quan trọng nhưng nó lại không thể hoạt động đơn lẻ. Rất có khả năng Chernenko, Ustinov và Tikhonov sẽ nắm lấy cơ hội này phản đối các quyết định của Andropov. 5

Khi Andropov qua đời vào ngày 9/2/1984, Gorbachev coi Ustinov đương nhiên là người kế nhiệm. Ngược lại, ông này cho rằng Mikhail Sergeevich sẽ được đưa vào danh sách đề cử lên chức vụ cao. Vấn đề được giải quyết trong cuộc họp Bộ Chính trị, do Chernenko chủ trì cùng với sự giúp đỡ của Tikhonov. Điểm chính cuộc họp là bầu Chernenko, không ai phản đối, bất chấp việc sức khỏe ông đang trong tình trạng không tốt. Không ủy viên nào phản đối điều này vì truyền thống trong Bộ Chính trị là luôn luôn tránh sự chia rẽ. Mọi ủy viên đều bỏ phiếu bầu Chernenko. Ngay sau đó, vị lãnh đạo mới này lập tức đề cử Gorbachev làm lãnh đạo Ban Bí thư và giữ vị trí Bí thư thứ hai, có quyền chủ trì các phiên họp Bộ Chính trị khi ông vắng mặt. Lý do chủ yếu mà Tikhonov phản đối việc Gorbachev đứng đầu Ban Bí thư là ông chỉ hiểu biết về các vấn đề ruộng đất. Người ta đã thỏa thuận rằng Gorbachev trên thực tế là lãnh đạo Ban Bí thư. Tikhonov cố làm giảm quyền lực Ban Bí thư bằng cách tranh thủ Ligachev nhưng bị cự tuyệt, và thay vào đó, tranh thủ Dolgikh, nói bóng gió ông này có thể trở thành người kế nhiệm Tikhonov. Dolgikh đã né tránh ê-kíp của Tikhonov. Ustinov không ngừng ủng hộ Mikhail Sergeevich, cũng như Ligachev và Ryzhkov. Kế hoạch cũng như những tính toán này đều không qua được mắt Gorbachev và ông đã nắm cơ hội để thoát khỏi Moskva. Vấn đề đến ngay cuối tháng 4 khi Chernenko thông báo với Gorbachev công việc của Ban Bí thư sẽ được thảo luận trong cuộc họp Bộ Chính trị vào ngày 3/5. Ustinov cũng cảnh giác khi nghe được tin này nhưng tại cuộc họp của Bộ Chính trị, vấn đề này không được nêu lên. Ustinov thuyết phục Chernenko không nên đứng về phe Tikhonov.

Tháng 6/1984, Gorbachev dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng dự đám tang của Enrico Berlinguer, lãnh tụ Đảng Cộng sản Italia. Nó để lại cho ông ấn tượng sâu sắc vì toàn thể nhân dân Italia đều khóc thương vị lãnh tụ này. Sau đó, tháng 12/1984, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Quốc hội tới Anh, Thủ tướng Anh Margaret Thatcher ngay lập tức thừa nhận ông là một người Nga phong cách mới. “Chúng ta có thể hợp tác với nhau” là lời phát biểu chào mừng của bà. Một trong những việc khiến bà đánh giá cao Gorbachev vì ông là chính trị gia Nga duy nhất bà có thể tranh luận thoải mái. Nhấn mạnh mối quan tâm của mình về cuộc chạy đua vũ trang, Gorbachev đưa ra một sơ đồ về các kho vũ khí hạt nhân trên thế giới, được bố trí thành hàng nghìn điểm. Ông cũng nêu ra chỉ một điểm thôi cũng có thể quét sạch loài người biến mất khỏi hành tinh. Gorbachev đọc diễn văn trước Thượng và Hạ viện Anh ngày 18/12, đưa ra tư tưởng chính trị mới trong quan hệ ngoại giao và khởi động cho một thời đại mới − thời đại của sự thương lượng và chấm dứt đối đầu. Lời phát biểu của ông “Châu Âu là một ngôi nhà chung” được báo chí trích dẫn nhiều. Gorbachev để lại ấn tượng sâu sắc, Bộ Ngoại giao Anh và Văn phòng Khối Thịnh vượng chung công nhận ông là người mà họ muốn tiếp xúc và có quan hệ ở Kremlin. 6

Sự nổi tiếng của Gorbachev không làm hài lòng Andrei Gromyko, một trong những lãnh đạo chủ chốt trong Bộ Chính trị. Ông này ra lệnh cho Anatoly Dobrynin − đại sứ Liên Xô tại Hoa Kỳ, phải báo cáo chi tiết với Moskva về phản ứng của Mỹ trước chuyến thăm của Gorbachev. Gromyko thật sự ghen tỵ. Gorbachev rút ngắn chuyến đi khi nghe tin Ustinov qua đời. Ông đã mất đi một đồng minh, một người bạn đáng tin cậy trong cuộc chiến chống âm mưu của các đối thủ. Bệnh phù thũng của Chernenko xấu đi nhanh chóng và cuối năm 1984, ông hoàn toàn không thể làm việc được nữa. Gorbachev nắm vị trí chủ tọa các cuộc họp hàng tuần trong Bộ Chính trị và Tikhonov luôn thắc mắc liệu ông có làm đúng theo chỉ đạo của Chernenko không. Nhưng Gorbachev chỉ được yêu cầu thông báo ngắn gọn, trong vòng nửa tiếng thôi, việc này không cho phép ông trình bày hết mọi vấn đề trong chương trình nghị sự. Các cuộc thảo luận đôi lúc diễn ra dưới hình thức một thành viên phát biểu là Chernenko đã ra lệnh cho ông ta làm như thế này như thế nọ trong suốt buổi trao đổi. Egor Ligachev thường vận động ủng hộ Gorbachev trong đội ngũ bí thư tỉnh ủy, khu ủy. Ông cũng động viên Chernenko không nên tin vào những điều mà người ta thì thầm vào tai ông về Gorbachev.

GORBACHEV ĐƯỢC BẦU LÀM TỔNG BÍ THƯ

Chernenko qua đời ngày 10/3/1985 và một cuộc họp Bộ Chính trị được tổ chức vào lúc 11 giờ đêm. Với sự ra đi của Ustinov, Gorbachev đã không còn hậu thuẫn mạnh mẽ từ đội ngũ lãnh đạo cao cấp trong Bộ Chính trị. Ngay trước khi Chernenko qua đời, Tikhonov tiếp cận Chebrikov, lãnh đạo KGB, nhằm vận động hành lang chống lại việc bổ nhiệm Gorbachev. Trước khi cuộc họp bắt đầu, Gorbachev cố gắng cải thiện quan hệ với Gromyko. Ông này được Andropov đề bạt làm Phó Thủ tướng thứ nhất và bị coi là một nhân vật tự mãn và khao khát quyền lực. Một vấn đề rất quan trọng được quyết định tại cuộc họp Bộ Chính trị là ai sẽ đứng ra làm trưởng ban tang lễ bởi trước đây nhiệm vụ này bao giờ cũng được giao cho Tổng Bí thư mới đắc cử. Gorbachev thật sự sửng sốt khi nghe tin Viktor Grishin, một nhà bảo thủ và đối thủ của ông đã đề cử ông. Khi Mikhail Sergeevich trở về nhà, ông nói với Raisa rằng mình sẽ chấp nhận ứng cử nếu được yêu cầu. Ngày 11/3, phiên họp Bộ Chính trị khai mạc và Gorbachev nắm vị trí chủ tịch. Gromyko phát biểu đầu tiên. Ông phát biểu rằng khi người ta nghĩ đến vị trí Tổng Bí thư, thì nên nghĩ đến Mikhail Sergeevich. Một sự lựa chọn như vậy sẽ “hoàn toàn đúng đắn”. Ông lại ca ngợi ứng viên mà mình đề cử lên tận mây xanh. Tiếp đó, ông cảnh báo: “Chúng ta không có quyền cho phép thế giới nhận ra những sự khác biệt dù là nhỏ nhất trong các bản báo cáo của mình… chúng ta phải hành động thống nhất... chúng ta phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp vĩ đại của chúng ta”. Tiếp đến, Grishin phát biểu: “Tối hôm qua, khi biết Konstantin Ustinovich qua đời, trong một chừng mực nào đó chúng ta nghĩ đến ngay người có thể kế nhiệm, chúng ta khẳng định sự nhất trí bầu đồng chí Mikhail Sergeevich làm Trưởng ban Tang lễ. Theo tôi, đồng chí có những phẩm chất đáp ứng các tiêu chuẩn chúng ta yêu cầu đối với Tổng Bí thư”. Romanov phát biểu tiếp: “Tôi cho rằng đồng chí ấy sẽ có thể kế tục tầng lớp lãnh đạo Đảng, thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó”. Lúc đó, Chebrikov phát biểu rằng ông thật sự ghi nhớ những lời nói của đồng chí A. A. Gromyko về việc duy trì và củng cố sự thống nhất trong Bộ Chính trị. Mikhail Sergeevich Gorbachev đã thuyết phục được ông này rằng mình “sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao”. Demichev phát biểu là ông chắc chắn họ đã lựa chọn đúng. Ligachev cho rằng việc đề bạt Gorbachev sẽ “gợi lên niềm tự hào dân tộc và thể hiện sự đổi mới trong bộ máy Bộ Chính trị”. Toàn bộ các ủy viên khác trong Bộ Chính trị và Bí thư Ban Chấp hành Trung ương đều nhất trí đề cử Gorbachev (chỉ riêng Shcherbisky là vắng mặt). Gromyko, người chủ xướng chính lại một lần nữa thay đổi chiến tuyến của mình. Người ta ám chỉ rằng ông sẽ là Chủ tịch nước Nga Xô viết. Tikhonov cố gắng tạo dựng một liên minh chống Gorbachev nhưng đã hoàn toàn thất bại. Bản chất đồng thuận của Bộ Chính trị về các vấn đề chính trị bảo đảm chỉ một người duy nhất được đề cử. Phiên họp của Ban Chấp hành Trung ương triệu tập lúc

5 giờ chiều do Gorbachev làm chủ toạ. Ngay lập tức ông để cho Gromyko phát biểu trước, ông này có một bài phát biểu đáng chú ý, trong đó ông ca ngợi Tổng Bí thư mới, tất nhiên, được bầu trên nguyên tắc nhất trí. Trong bài diễn văn của mình, Mikhail Sergeevich đã vạch ra mục tiêu. Ông đề cập đến Đại hội Đảng lần thứ 26 năm 1981, nhấn mạnh tính kế thừa, nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội dựa trên nền tảng khoa học − công nghệ và năng suất lao động cao. Nền dân chủ sẽ phát triển cũng như ý thức xã hội. Phải bảo đảm tính công khai trong công việc của Đảng và Chính quyền. Về chính sách đối ngoại, ông đề xuất chấm dứt tình trạng chạy đua vũ trang và giảm kho vũ khí hạt nhân. Đảng phải có khả năng đoàn kết thống nhất xã hội và như vậy, các động lực sáng tạo của chủ nghĩa xã hội sẽ phát triển và nở rộ.

« Lùi
Tiến »