E.B. White – Truyện ngắn chọn lọc

Lượt đọc: 22 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những năm tháng phi thường

❊ ❊ ❊

(Luke ghi chú: Trích từ tập tản văn của White sắp được Nhà xuất bản Dịch văn Thượng Hải phát hành)

Giả Huy Phong dịch

Ngày 13 tháng 3 năm 1961, bên bờ biển.

Đề xuất hoang đường về việc người dân hai nước cùng xây một con đập xuyên qua eo biển Bering trong hai ngày qua đã gợi lại trong tôi những ký ức đẹp đẽ về vùng nước đó, cùng với những mộng tưởng điên rồ và sự ngông cuồng của thời thanh xuân. Nhiều năm trước, tôi đã vượt eo biển, tiến vào Bắc Cực để tìm kiếm một con đường đầy hy vọng mong manh dẫn đến nơi mà thực lòng tôi chẳng hề muốn tới. Tôi còn muốn tìm hải mã. Và tôi nghĩ, một con đập chắc chắn sẽ là thứ rất vướng víu.

Vào thời điểm đó, tôi còn quá trẻ để đi đến phương Bắc xa xôi, nhưng ai trong buổi đầu đời cũng đều có một khoảng thời gian chẳng có gì để luyến lưu, chỉ có những giấc mơ không thể kìm nén, chẳng có gì để dựa dẫm, chỉ có một cơ thể khỏe mạnh, không có nơi nào để đi, chỉ muốn lang thang khắp chốn. Khoảng thời gian này trong đời tôi kéo dài tám năm, trong đó có một mùa hè tôi dành ra để ở Alaska và vùng phụ cận. Đó là mùa hè năm 1923. Khi ấy, tôi có một cuốn nhật ký ghi lại những việc lớn trong đầu mình. Tôi gọi nó là "Nhật ký hành trình", cái tên mà tôi tự cho là mang nhiều tính văn chương và vẻ nam tính hơn. Chỉ con gái mới viết nhật ký.

Vài năm trước, khi Alaska trở thành một tiểu bang, tôi bắt đầu vùi đầu vào cuốn nhật ký năm 1923, hy vọng tìm thấy điều gì đó từ những trang giấy đã phai màu để giải thích cho tiểu bang mới thành lập này. Thế nên, những dòng ghi chép này đến hơi muộn, trễ mất khoảng ba mươi bảy năm. Tôi không dám đảm bảo độc giả có thể lắp ghép nên bức tranh về Alaska từ đây, nhưng có lẽ họ sẽ có chút ấn tượng về chàng thanh niên viết nhật ký ấy, đồng thời thoáng thấy được thập niên 1920 – một thập kỷ gần như ai cũng biết là đầy rẫy sự điên cuồng.

Chuyến đi Alaska của tôi hoàn toàn là tình cờ, thực ra trong cái thời đại hỗn loạn đó, mọi việc với tôi đều như vậy. Tôi sống ở Seattle, thất nghiệp. Giữa tháng Sáu, công việc tại một tòa soạn báo của tôi đột ngột tan thành mây khói. Dù chẳng có lý do gì để đến Alaska, nhưng cũng chẳng có lý do gì để không đi. Bốn tuần từ lúc mất việc đến khi tôi khăn gói lên đường về phương Bắc, những ghi chép trong khoảng thời gian này cho thấy cuộc sống bấp bênh, không chốn dung thân của một thanh niên ôm ấp hoài bão lớn lao. Khi đó, tôi là một gã thanh niên văn chương chính hiệu, một nhà thơ luôn xét nét mọi thứ. Một chút kỳ quan trên bầu trời cũng khiến tôi phải tán tụng, bất kỳ sự đê hèn hay bất công nào cũng không thể thoát khỏi lưỡi dao mà tôi vung lên điên cuồng, dù rằng lưỡi dao ấy chẳng làm ai bị thương. Tôi tự coi mình là hiện thân của công lý, lúc rảnh rỗi cũng nghĩ về các cô gái. Người mà tôi thường nghĩ đến nhất là cô phục vụ tại một nhà hàng tên là Chandler. Tôi đặt mua hai tờ báo New York là "The World" và "The Evening Post". Buổi tối, tôi một mình bơi trong con kênh nối liền hồ Union và hồ Washington. Tôi hiếm khi đi ngủ trước hai ba giờ sáng, với lý thuyết rằng, đối với người trẻ, nếu có chuyện đại sự xảy ra, chắc chắn nó sẽ diễn ra vào đêm khuya. Ban ngày, tôi đi đi lại lại trong căn phòng trọ của bà Donohue, đọc chuyên mục "The Conning Tower" (Ghi chú: "The Conning Tower", chuyên mục do nhà văn, biên tập viên người Mỹ Christopher Morley (1890–1957) viết cho tờ "The Evening Post" của New York) và "The Conning Tower" (Ghi chú: "The Conning Tower", chuyên mục do nhà báo người Mỹ Franklin Pierce Adams (1881–1960) viết cho tờ "The World" của New York), suy nghĩ xem mình nên làm gì tiếp theo, tiện tay viết lách vài dòng.

Một dòng nhật ký ngày 15 tháng 6 năm 1923 bắt đầu bằng: "Con người phải bám lấy một thứ gì đó. Nếu không, anh ta chẳng qua chỉ là một cây đậu leo vất vưởng, đi tìm giàn leo." Rõ ràng, tôi đang vất vưởng khắp nơi và bám lấy "Cái Đẹp", nhưng đó lại là một cái giàn lung lay. Văn phong của tôi lúc này là sự pha trộn giữa Kinh Thánh, Carl Sandburg, H.L. Mencken, Jeffery Farnol, Christopher Morley, Samuel Pepys và Franklin Pierce Adams – người vốn bắt chước Samuel Pepys. Tôi dùng dấu chấm than ở khắp mọi nơi, lại còn dùng "Thưa ngài" kèm dấu phẩy ở đầu câu.

Ngày 19 tháng 6, tôi ghi lại việc mình bị tờ "The Times" sa thải như thế nào, biên tập viên tòa soạn nói: "Điều này không có nghĩa là chúng tôi nghi ngờ năng lực của anh." Tất nhiên, tôi không tin lời giải thích đó, và bây giờ vẫn không tin. Với tư cách là một phóng viên, tôi thực sự vô dụng, chẳng trách cái giàn leo khác lại đổ ập xuống người tôi. Tôi cầm tấm séc tiền trợ cấp thất nghiệp trong túi, đi dọc phố Pine "lang thang". Tôi vẫn nhớ cảm giác nhẹ nhõm trong lòng – tôi lại có thể trôi dạt trên biển cả cuộc đời, điều này khiến tôi cảm thấy thoải mái hơn là ngồi lì trong văn phòng. Ngày 25 tháng 6, tôi cắt một chùm thơ sonnet của Morley từ chuyên mục "The Conning Tower" dán vào nhật ký. Bài sonnet thứ hai mở đầu bằng câu: "Vậy thì hãy tin vào nhà thơ". Như thể tôi vẫn còn đợi ai đó nhắc nhở vậy.

Ngày 2 tháng 6, trong nhật ký có ghi lại một bài thơ do tôi viết, rồi gửi nặc danh cho mục sư Mark A. Matthews, mục sư chính của Nhà thờ First Presbyterian, người từng có một bài giảng khiến tôi vô cùng bất mãn. Tờ báo sáng thứ Hai đã đăng tóm tắt bài giảng đó. Tiến sĩ Matthews quở trách những người không đến nhà thờ làm lễ, và tôi là một trong số đó. Chủ nhật tiếp theo, tôi phá lệ đến nhà thờ tham dự lễ cầu nguyện sáng, xem như một cuộc kiểm tra định kỳ đối với vị này. "Cách giảng đạo của ông ta thật hống hách," tôi viết trong nhật ký, "khiến không khí trở nên ngột ngạt." Có lẽ điều thực sự khiến tôi ngột ngạt là trong bài giảng, mục sư không hề nhắc đến việc nhận được bức thư cay nghiệt của tôi.

Có một tuần, tôi làm việc cho tờ "The Post-Intelligencer" của Hearst, thay thế một phóng viên đang nghỉ phép. Một dòng nhật ký ngày 18 tháng 7 (một giờ ba mươi phút sáng) bắt đầu bằng: "Con người hiếm khi nhận ra sự khinh miệt là một điều khủng khiếp thế nào, cho đến khi anh ta bắt đầu khinh miệt chính mình." Điều này không nhất thiết là do tự ti, chỉ là cuộc sống khiến tôi cảm thấy bối rối. Tôi không biết nên đi đâu về đâu. Ngày 20 tháng 7, thứ Sáu (ba giờ sáng), tôi viết một cách mơ hồ: "Thứ Hai đi tàu Barford đến Skagway." Không có giải thích hay bổ sung nào khác, chỉ ghi lại việc trải qua một đêm với một cô gái sống ở hồ Union. (Cô ấy cho tôi ăn bánh mì và mứt táo.)

Tuy nhiên, tôi đã dán một mẩu tin cắt từ tờ "The Post-Intelligencer" vào nhật ký, giải thích nguồn gốc chuyến đi Alaska của mình. Tiêu đề mẩu tin là:

Phòng Thương mại San Francisco

Khởi hành khảo sát Alaska

Nội dung tiếp theo:

Phái đoàn Phòng Thương mại San Francisco hôm nay đã rời San Francisco trên tàu Barford, qua Seattle để đến Alaska và Siberia, khảo sát tài nguyên và tình hình thương mại của Alaska, tổng hành trình tám nghìn ba trăm dặm. Trong phái đoàn còn có công dân của các thành phố khác, bao gồm mười doanh nhân giàu có từ Boston, chuyến đi do B.S. Hubbard, Phó chủ tịch Công ty Văn phòng phẩm Schwabacher-Frey dẫn đầu.

Rõ ràng có một vài điều thu hút tôi chú ý đến tin tức này. Thứ nhất, tàu Barford sẽ ghé Seattle. Thời gian đó, tôi thường quanh quẩn ở bến tàu, rất hứng thú với các loại tàu thuyền lớn nhỏ. Thứ hai, ở độ tuổi này, tôi không nên cứ ru rú trong nhà, Alaska lại nằm ngay hướng đối diện. Thứ ba, có sự tham gia của Phòng Thương mại, mọi người đều không xa lạ gì nhau. Là một phóng viên, tôi thường ăn trưa cùng họ tại các buổi tụ họp của các tổ chức từ thiện và đoàn thể dân sự. Seattle vốn là nơi hoạt động sôi nổi của các hội viên hội Moose, hội Eagles, hội Elk, Lions Club, Kiwanis, Rotary và Hội doanh nhân trẻ. Tôi từng vô số lần dùng trà bánh cùng người của Phòng Thương mại, lịch sự tiếp chuyện họ, kiên nhẫn nghe họ bàn luận về sự tăng trưởng của ngành nghề. Chịu ảnh hưởng của Mencken và Lewis, tôi kiêu ngạo khinh miệt thương mại và thương nhân. Khi đó, tôi rất cần hòa mình vào đám đông thế tục, nhưng lại đứng ở vị trí cao, tự cho mình là phi thường, mặc dù thầm đố kỵ khả năng kiếm sống của họ.

Có lẽ điều quyết định đối với tin tức về tàu Barford chính là những cảng mà nó sẽ ghé qua, những cái tên nghe như âm nhạc trong tai người trẻ: Ketchikan, sông băng Taku, Juneau, Skagway, Sitka, Seward, Kodiak, Cordova, Lighthouse Reef, Dutch Harbor, đảo Bogoslof, quần đảo Pribilof, mũi Chaplin, Anadyr. "Bắt đầu từ Nome, họ [những người đi biển] sẽ vượt qua các tảng băng trôi, tiến vào mũi phía Đông của Siberia, sau đó quay lại Nome. Trên đường về, họ sẽ ghé Saint Michael, Akutan và Seattle. Toàn bộ hành trình mất bốn mươi ngày."

Bốn mươi ngày! Đối với tôi, bốn mươi ngày chỉ là một giấc nghỉ ngắn trong buổi chiều dài dằng dặc, vì không có gì để bám víu, chi bằng tôi cứ bám lấy con tàu này. Lang thang cùng mười nhà tư bản Boston đến quần đảo Pribilof – thật quá kích thích! Chỉ cần kiếm được một công việc trên tàu là được, tôi quyết tâm phải giành lấy. Tàu Barford cập bến đúng giờ tại Cầu tàu số 7. Mỗi ngày, tôi đều lẻn lên tàu, đi lại trong hành lang, chặn các thuyền viên cấp cao lại và hứa làm bất cứ việc gì cũng được. Ba ngày trôi qua, chẳng ai đoái hoài. Sau khi dò hỏi, tôi biết được chỉ cần bốn mươi đô la là có thể trở thành hành khách hạng nhất, đi thẳng đến Skagway, điểm cuối của Inside Passage. Tôi lập tức thay đổi chiến lược, tôi không thiếu bốn mươi đô la, quyết định dùng sức mạnh của tiền bạc để tiến về Bắc Cực. Chỉ cần đứng vững trên tàu, tôi có thể tận dụng địa hình thuận lợi để tìm việc. Người quản lý thứ hai đã cho tôi một tia hy vọng. "Trên tàu chuyện gì cũng có thể xảy ra," ông ta nói. Lời này quả không sai.

Khởi hành đến Alaska như vậy, thân cô thế cô, không có bảo đảm công việc, rất có thể sẽ mắc kẹt ở Skagway, quả thực có chút điên rồ, nhưng tôi tin rằng người tốt ắt có trời giúp. Không ngừng thử vận may mới có vận may, nếu không thì đành chịu đen đủi, đó là triết lý sống của tôi lúc bấy giờ. Hơn nữa, những năm 1920, khắp nơi đều tràn ngập những cảnh tượng ồn ào, ủng hộ những hành động điên rồ của con người. Vào thập niên 20, "điên rồ" thậm chí còn là một từ hay.

Độc giả có lẽ cho rằng, vài ngày sau đó, tôi hẳn phải bận rộn lo liệu việc vặt, chuẩn bị cho chuyến viễn dương, mở mang tầm mắt, những dòng nhật ký tiếp theo chắc chắn sẽ có những ghi chép cụ thể lắt nhắt. Hoàn toàn không phải vậy. Từ sáng thứ Sáu khi tôi tuyên bố sắp lên đường, cho đến vài ngày sau khi tàu Barford khởi hành, trong nhật ký của tôi không có một lời giải thích hữu ích nào, không có manh mối về công việc chuẩn bị, không có mô tả về quần áo, tiền bạc, bạn bè, gia đình, chẳng nói gì cả. Có vài đoạn châm ngôn; một bài thơ dài đầy vẻ nghiêm trọng gửi cho cô gái ở hồ Union (bài thơ bắt đầu bằng "Những ngày tháng vô tận, ảm đạm, không đếm xuể"); một mẩu cắt từ chuyên mục "The Conning Tower" của Morley bàn về việc viết lách ("Trẻ con viết rất sinh động, người viết được đào tạo bài bản, trải qua rèn luyện lâu dài cũng có lúc thể hiện được linh tính. Giai đoạn ở giữa hai cái này là tệ nhất..."); một bài thơ tự do viết vào sáng Chủ nhật, bày tỏ sự chán chường của tôi trong ngày Chủ nhật mùa hè, làm thế nào để quậy phá trong căn hộ – trong những trang giấy khó đọc này, tôi chỉ tìm thấy bấy nhiêu đó. Ông Morley nói đúng, giai đoạn ở giữa là tệ nhất. Là một người viết nhật ký, tôi có thể coi là bậc thầy về sự hồi hộp, tóm lược ở đây, độc giả chỉ có thể tự mình suy ngẫm về mọi tình tiết. Nói chung, tôi viết một cách đại khái, không đưa ra giải thích cụ thể, lúc đó cũng không hiểu rằng sự thật mới là quan trọng nhất. Bây giờ tôi đã biết tại sao tờ "The Times" lại tống khứ tôi. Một thanh niên viết lách sáo rỗng chắc hẳn khiến biên tập viên tòa soạn rất đau đầu.

Ký ức giúp tôi gợi lại vài chi tiết. Tôi nhớ việc vặt chủ yếu là xử lý chiếc xe Ford hai cửa của mình cho công ty tín dụng. Những thứ khác đều có thể xách tay – một chiếc máy đánh chữ Corona, một cuốn "Tuyển tập thơ ca", cùng với hành lý của tôi, cuộn lại nhét vào một chiếc vali mềm. Bộ từ điển "Webster" bản đầy đủ chắc chắn là không mang theo, có lẽ đã gửi bạn bè giữ hộ. May mắn nhất là tôi đã nhét vào vali một chiếc áo sơ mi flannel cũ nát và một chiếc quần vải thô bẩn thỉu. Không có những thứ này, sau này tôi sẽ gặp rắc rối lớn.

Tàu Barford gần như đợi đến mười giờ tối thứ Ba mới khởi hành, trễ ba mươi bốn giờ. Khi con tàu nhổ neo, tôi đứng trước lan can bên mạn phải, nhìn đăm đăm vào ánh đèn rực rỡ của thành phố – tấm biển hiệu của cửa hàng bách hóa H&M, tòa tháp của tòa nhà Smith – tiếng còi tàu đột ngột vang lên, tuyên bố cuộc phiêu lưu của tôi cuối cùng đã bắt đầu, khiến tâm hồn tôi xao động. Sau đó, tôi dường như đã ngồi xuống, tự cho là mình đã ghi chép một cách ngắn gọn về tình cảnh lúc khởi hành. Tôi liệt kê một số vật tư được chuyển lên tàu: thịt bò, thịt nguội, trái cây khô, máy móc vận chuyển đến Cold Bay, cam, bít tết và cả một chiếc ghế cắt tóc. Tôi chú ý thấy khi thứ cuối cùng này được chuyển lên cầu tàu, những hành khách đứng trước lan can đã hò reo. (Họ đã không thể chờ đợi để tìm chút thú vui rồi.)

Ngày hôm sau, 25 tháng 7, lúc hoàng hôn, chúng tôi lướt qua một con tàu khổng lồ màu xám, nó đang neo đậu ở một vịnh nhỏ gần làng chài. Trên tàu là Tổng thống Harding đang trở về từ Alaska. Ban nhạc đang thổi kèn rất hăng say, Tổng thống bước ra mạn tàu, vẫy chiếc khăn tay do phu nhân đưa. Cuộc gặp gỡ tình cờ này gây ra sự xôn xao cho hành khách và thủy thủ đoàn của chúng tôi, ai có thể tưởng tượng được sẽ gặp Tổng thống Mỹ ở một địa điểm như thế này, trên đường đến phương Bắc huyền bí, điều này khiến người ta cảm thấy an ủi phần nào. Khoảng một tuần sau, điện báo truyền đến tin ông qua đời.

Tàu Barford chở một tàu đầy thương nhân tiến về vùng Bắc Cực hoang dã, chuyến viễn du này vừa bình thường, lại vừa kỳ lạ. Đây là chuyến đi đầu tiên của một công ty vận tải mới – Công ty vận tải Alaska-Siberia, tôi nghĩ công ty này chắc chắn là thiếu khách, nên đã thuyết phục Phòng Thương mại tổ chức một chuyến khảo sát thương mại, còn mời họ mang theo phu nhân. Bản thân tàu Barford thì chẳng có gì kỳ lạ, chỉ là một chiếc tàu hơi nước nhỏ khá tốt. Trong thời kỳ Đại chiến, nó từng là tàu vận tải quân sự, sau này mới chuyển sang vận chuyển hành khách và hàng hóa. Nó ăn nước sâu, cấu trúc thượng tầng không nặng nề, boong chính rộng rãi, trống trải. Dòng chữ "Phòng Thương mại San Francisco" được sơn bằng chữ in hoa chiếm một nửa thân tàu. Dấu hiệu khổng lồ này khiến nó trông giống như một con tàu hải đăng – chỉ thấy tên gọi, không thấy tàu đâu. Ở nhiều cảng hẻo lánh, đối tượng thương mại duy nhất là người Eskimo, họ lũ lượt kéo lên tàu, chào bán dao cắt giấy bằng ngà voi, vì thế cái biển hiệu này lại trở nên kỳ quặc, có chút cảm giác tự biên tự diễn.

Lúc đó tôi khờ khạo, giờ mới biết tàu Barford được mua lại từ chính phủ theo kế hoạch trả góp. Chủ tàu chưa bao giờ định trả hết số tiền này, đến năm 1925, tờ "San Francisco Chronicle" đã gọi nó là "con tàu Barford xui xẻo". Bất cứ chuyện gì dính líu đến nó đều không tránh khỏi tai ương. Chủ tàu không chỉ chưa bao giờ trả dứt nợ, mà cũng chưa bao giờ hoàn thành việc cải tạo. Tôi nhớ ở tầng hai có một khoang chung, rõ ràng là từ thời vận tải quân sự, bên trong rất rộng rãi, các bồn tiểu và bồn cầu đứng xếp hàng dài, không che không chắn, thật là một cảnh tượng ngoạn mục – một thánh đường mở để người ta giải quyết nỗi buồn, nhưng ngoài tôi ra, hiếm có ai lui tới, còn tôi thì tình cờ một thời gian làm hàng xóm với nó. Một nơi cô quạnh nhưng để lại ấn tượng sâu sắc. Tôi đoán sau khi chủ tàu sở hữu con tàu này, chắc chắn đã nhìn qua các thiết bị vệ sinh đầy rẫy ở đây và quyết định giữ nguyên trạng. Động tay động chân vào e là tốn kém lắm.

Thuyền trưởng của chúng tôi, Louis L. Lane, là một người đàn ông đẹp trai, giỏi giao tiếp, thân hình cường tráng, rất được các quý bà yêu mến, chỉ huy thuận lợi, lại rất khiến chúng tôi yên tâm. Ông từng ở Bắc Cực, yêu Bắc Cực, đi đến đâu cũng có danh tiếng, rất được lòng người. Chắc hẳn ông rất đắc ý với thân phận này: ở nơi hoang vu hẻo lánh, dẫn dắt một đám người không biết bơi và các công tử bột đi ngao du, chỉ có ông là am hiểu tình hình địa phương, tha hồ thể hiện tài năng đặc biệt của mình. Không có vịnh nhỏ nào có thể ngăn cản Thuyền trưởng Lane lái chiếc Barford của mình tiến vào. Tuy nhiên, trước khi chuyến đi của chúng tôi kết thúc, tôi đã cảm nhận được thuyền trưởng đang lái tàu trong những điều kiện cực kỳ khó khăn. Những con sóng dữ dội và thủy triều biến hóa khôn lường của Inside Passage, màn sương lạnh lẽo bao phủ eo biển Bering, những tảng băng trôi cô độc và sáng rực quá mức ở Bắc Cực, tất cả những điều này đều đủ để người ta chịu đựng, nhưng thứ khó chịu nhất lại chính là sự buồn chán tột độ, cô quạnh, nhợt nhạt đang dần bao bọc lấy hành khách. Tôi tin rằng, một số người thậm chí sẵn sàng trả một cái giá hợp lý để con tàu quay đầu trở lại Cổng Vàng. Ở giữa hành trình, Thuyền trưởng Lane trông giống như người đàn ông chủ nhà trong một buổi tiệc xã giao không mấy suôn sẻ.

Tất cả các tàu du lịch đều có lúc tẻ nhạt, thường thì hành khách có thể tắm nắng trên boong, bơi lội trong hồ bơi, một hai ngày lại lên bờ một lần, các quý bà điên cuồng mua sắm, đàn ông có thể vươn vai. Đầu những năm 1920, tàu Barford đi dọc theo bờ biển dài của Alaska lại không có nhiều trò giải trí như vậy. Đối với một số người, tàu Barford đã trở thành một nhà tù di động cao cấp – thức ăn tinh xảo, phong cảnh tráng lệ, nhưng không có đường thoát. Hơn một trăm bảy mươi hành khách bị nhốt trên tàu suốt sáu tuần, cảnh tượng trước mắt đã nhìn đến phát chán, không tránh khỏi ủ rũ. Phong cảnh trong sương mù khiến nhiều người chán nản, trong một thời gian dài, từ cửa cabin chính gần như không nhìn thấy boong trước, còi tàu hú không ngừng nghỉ ngày đêm.

Chuyến đi kỳ lạ mở rộng thương mại này, bất kể là ai lên kế hoạch, thực sự đã cân nhắc đến nhu cầu giải trí và cố gắng hết sức để đáp ứng. Âm nhạc, khiêu vũ, trò chơi và rượu, không thiếu thứ gì. Âm nhạc do "Brown Brothers" đảm nhận, đây là một ban nhạc saxophone nhỏ, từng diễn chung với Fred Stone. Tôi có một bức ảnh rõ nét của sáu anh em nhà Brown, chụp tại trạm chiết xuất dầu cá voi ở Akutan, họ đứng trước một con cá voi chết, chuẩn bị thổi saxophone. Hoạt động thám hiểm do H.A. Snow phụ trách, tay thợ săn chuyên bắt những con vật khổng lồ này mang theo súng săn voi, máy quay phim và cả cậu con trai Sidney. Trên tàu chứa đầy rượu lậu. Một trong những chủ tàu, J.A. Oden cũng đi cùng, làm cho chuyến viễn dương tăng thêm phần nghiêm túc. Nhưng dù thỉnh thoảng có chút tiêu khiển, dù sao cũng thiếu đi những kích thích và niềm vui thường nhật. Ngay cả việc ghé thăm Pribilof, xem đàn hải cẩu tụ tập cũng khiến nhiều nhà khảo sát thương mại cảm thấy chán nản, nơi đó mùi rất nồng, hải cẩu trông chẳng khác gì trong sở thú và rạp xiếc. Một số hành khách bỏ ra số tiền lớn, lại tốn không ít tâm tư chỉ để đến quần đảo Pribilof một chuyến, nay đến nơi rồi thì thà ở lại trên tàu đánh bài bridge còn hơn. Tôi thì chưa bao giờ thấy buồn chán. Tôi luồn lách giữa ba tầng lớp xã hội, sự hạ thấp dần dần trong mắt tôi ngược lại là sự thăng tiến: đầu tiên là boong đi dạo, sau đó là boong chính, rồi đến tầng dưới. Tôi rất bận, nhưng cũng không bận đến mức không có thời gian viết nhật ký. Tôi còn rất trẻ, lúc đó Alaska vẫn chưa có máy bay đến tận cửa, nó vẫn còn xa vời, đầy bí ẩn. Đối với sự bao la và tráng lệ của Alaska, tôi chỉ biết trầm trồ, trong lòng tràn ngập niềm vui.

Khi còn ở Seattle, tôi mua vé tàu và đến gặp quản lý tàu, ông ta chỉ định tôi ở chung một khoang nhỏ với một người khác. Hóa ra, người này cũng kỳ quặc giống tôi—cũng không phải là thành viên của phòng thương mại. Anh ta là người Lapland (chú thích: Lapland, một khu vực ở Bắc Âu, bao gồm phần phía bắc của Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan và bán đảo Kola của Liên Xô cũ), vóc người thấp bé vạm vỡ, để ria mép kiểu bàn chải dài. Anh ta mặc quần áo vải thô, không có áo sơ mi trắng, gần như không biết nói tiếng Anh. "Tôi đi Nome," ban đầu, đó là câu duy nhất anh ta có thể nói với tôi. Anh ta tên là Isaac Nakaro, sống bằng nghề giết mổ tuần lộc, nay rời quê hương đi làm thuê. Ngày qua ngày, hai chúng tôi sống hòa thuận, cũng chẳng nói chuyện nhiều, cho đến khi cuộc đời tôi đột ngột thay đổi, bắt đầu chuyến hành trình "xuống dốc" của mình. Trên tuyến đường thủy nội địa, tàu Buford liên tục vòng qua các mũi đất, tránh đá ngầm và rạn san hô, suốt dọc đường đi, Isaac không bao giờ tham gia các hoạt động xã hội trên tàu, còn tôi thì ngược lại. Tôi làm quen với người mới, nhảy múa trong tiếng nhạc jazz ngọt ngào của anh em nhà Brown, cẩn thận chăm chút cho những chiếc áo sơ mi sạch sẽ của mình, cố gắng mặc chúng lâu nhất có thể, và thể hiện thiện chí (chứ không phải kiến thức) trong các vấn đề quan hệ thương mại. Riêng tư mà nói, tôi còn có một cuộc sống khác. Tôi nắm bắt mọi cơ hội, làm thân với bồi bàn, thợ máy và thủy thủ cấp cao để xin việc. Cách tôi giao tiếp với những người này rõ ràng khiến họ rất bối rối, trên biển, hành khách khoang hạng nhất lại đi tìm việc làm thực sự không bình thường chút nào. Chẳng những không bình thường, chắc hẳn tôi còn rất phiền phức.

Ketchikan là cảng dừng chân đầu tiên của chúng tôi, và sự vỡ mộng ban đầu của hành khách cũng bắt đầu từ đây. Trong đầu hầu hết mọi người trên tàu đều lấp đầy hình ảnh về Alaska qua ngòi bút của Robert W. Service (chú thích: Robert W. Service (1874–1958), nhà thơ và tiểu thuyết gia người Canada, sinh tại Anh) và Jack London—những vùng đất hoang vu phủ đầy tuyết, những túp lều hình vòm xây bằng băng, gấu Bắc Cực, những kẻ man di, gái điếm, quán rượu, những chú chó kéo xe hung dữ, cái lạnh thấu xương và vàng ròng khắp nơi. Ketchikan mà chúng tôi nhìn thấy sau khi vòng qua dòng chảy đã đập tan bức tranh tuyệt đẹp này; ngôi làng là một nơi ấm áp, đầy muỗi và ruồi, nồng nặc mùi cá. Trước mắt chẳng có lấy một túp lều băng nào, trên bến tàu chào đón chúng tôi chỉ có một nhóm nhỏ các thành viên Hội Tam Điểm, tất cả đều đội mũ. Tuy nhiên, dù tốt hay xấu, đây chính là vùng biên giới trong lòng chúng tôi, cách bờ còn xa, âm thanh chưa kịp truyền tới, hành khách đã bắt đầu ồn ào hỏi han đám đông trên bờ. Một thành viên Hội Tam Điểm trên tàu sốt sắng muốn biết tối nay có nghi lễ gì không. Người đón ở phía xa đưa tay lên che tai. "Tôi hỏi tối nay có nghi lễ gì không?" người này hét lớn. Âm thanh tan biến trong không trung. Trưởng đoàn của chúng tôi, ông Hubbard, cũng bắt đầu gào thét. Ông muốn biết đại diện của Phòng Thương mại Ketchikan có ở đó không.

Nắng ấm chan hòa, tôi ngồi trên cọc buộc tàu, bình thản xem kịch vui. Tôi, một cử nhân đại học Mencken và Lewis, từng nghiên cứu về những gã "Babbitt" tiến về phương Bắc—họ đến vùng đất lạ không phải để tìm kiếm sự mới mẻ, mà chỉ cốt để ôn lại những cảnh tượng quen thuộc. Tôi vẫn nhớ sự sốt sắng của ông Hubbard lúc bấy giờ—vị tiên phong mặc bộ vest chỉn chu này, cuối cùng cũng thoáng thấy vùng biên giới của mình, lòng đầy phấn khích. Khi mọi người dùng dây cáp kéo tàu, ông Hubbard nhìn thấy thuyền trưởng đang đu đưa trên lan can, chộp lấy một sợi dây cáp và trượt xuống bến tàu. Ông Hubbard nóng lòng muốn gặp người của Phòng Thương mại, cũng bước qua lan can, chộp lấy sợi dây cáp. Nhưng bến tàu vẫn còn ở phía dưới rất xa, giữa tàu và bến là dòng nước bẩn thỉu. Ông Hubbard co chân hai lần, định nhảy, nhưng rồi cả hai lần đều chùn bước vì nhát gan. Khuôn mặt ông ta dữ tợn, nhanh chóng thu hút một đám đông khán giả, giống như đang vây xem kẻ tự sát trên vách đá. Sau những giây phút căng thẳng, việc ông Hubbard từ trên trời rơi xuống, đu người vào Alaska đã mê hoặc mọi người, tiếc là cuối cùng ông ta không dám thử. Sự thận trọng đã chiến thắng lòng nhiệt huyết, cuộc chạm trán đầu tiên của chúng tôi với vùng biên giới đã kết thúc bằng sự thất bại của "tinh thần San Francisco".

Sau đó, tôi qua tấm ván nhảy lên bờ, "lang thang trên phố" (trong nhật ký, tôi liên tục ghi là "lang thang" hoặc "dạo chơi"), mua một cuốn "Hương thơm hư ảo" của Zona Gale (chú thích: Zona Gale (1874–1938), tiểu thuyết gia người Mỹ). Thị trấn nồng nặc mùi cá khiến tôi cảm thấy việc mua cuốn sách này thật nực cười. Trong những năm tháng tươi đẹp đó, tôi cứ trải qua từng ngày với niềm vui nông cạn như vậy.

Tối hôm đó, Hội Tam Điểm tổ chức nghi lễ, Phòng Thương mại tiếp đón khách quý, các quý bà trên tàu mua rất nhiều giỏ đan bằng vỏ ngô, một thợ tiếp dầu trong buồng máy tàu Buford tìm cách lẻn lên bờ, thiết lập quan hệ thương mại với một cô gái lai. "To, giống cái này này," anh ta kể lại với tôi sau đó. (Tôi đã bắt đầu kết thân với thợ đốt lò và thủy thủ, hy vọng được họ chấp nhận). Sau khi mọi người đều đạt được ý nguyện, nghỉ ngơi theo cách riêng của mình, tàu Buford nhổ neo khởi hành, tiếp tục ngược dòng lên phía Bắc qua những eo biển khúc khuỷu của quần đảo Alexander. Lúc đó, tôi là một thanh niên thiếu trải nghiệm và đầy lo âu, nhưng khi kiểm điểm lại những ghi chép ở Ketchikan, nhận diện những câu chữ khó hiểu kia, tôi nhận ra không chỉ một mình tôi lo âu, tất cả mọi người đều đang cố gắng an ủi bản thân theo cách này hay cách khác—một số người tìm đến nghi lễ và áo choàng bí ẩn, một số người tìm đến ý tưởng thương mại, một số người tìm đến những chiếc giỏ đan vỏ ngô đắt đỏ, một số người tìm đến những cô gái thổ dân rẻ tiền. Môi trường xung quanh khiến tôi phát điên—tôi khinh bỉ tất cả mọi người, đố kỵ với tất cả mọi người, kiêu ngạo, táo bạo, lại sợ chết khiếp.

Sáng Chủ nhật, ngày 29 tháng 2, chúng tôi nhìn thấy sông băng Taku, một điểm tham quan đã định sẵn. Khi thân tàu xoay ngang đối diện với nó, thuyền trưởng Lane cho dừng tàu, mọi người đều chạy lên boong. "Chú rể," tôi ghi trong nhật ký, "vội vàng mặc áo khoác dạ, đeo găng tay vàng. Cô dâu cũng mặc chiếc áo khoác dạ của mình. Trên người ai cũng có thêm vài thứ khác thường. Walter Blunt, ông lớn của thánh đường, đội chiếc mũ tròn không vành, ai dám chắc ông ta không bị chụp vào trong bức ảnh có nền là sông băng kia chứ."

Thuyền cứu hộ được thả xuống nước, tay chèo chở Sydney Snow đi ra xa, để chụp vài bức ảnh tàu Buford trước sông băng. Nhưng thuyền trưởng Lane vẫn chưa thỏa mãn, ông muốn mọi người dưới sự quản lý của mình được tận mắt chứng kiến sông băng thực chất là một dòng sông băng, đổ xuống biển. Taku, những dòng sông băng, lặng lẽ chờ đợi khoảnh khắc đổ xuống biển, nó cần sự kích thích. Thế là, ông Snow được gọi đến giúp vui. Ông ta mang súng săn voi lên đài chỉ huy, nhắm thẳng vào Taku nổ súng, Sydney trên thuyền cứu hộ cầm máy quay phim ghi hình. Tuy nhiên, chẳng có động tĩnh gì cả. Khoảng một tiếng đồng hồ, hành khách đầy mong đợi nằm rạp trên lan can, nghe tiếng súng hỗn loạn trên đài chỉ huy. Sau đó, họ chán ngán với con sông băng chết lặng trước mặt, phần lớn rút lui, quay trở lại nhà hàng. Vài phút trước trưa, không biết vì tiếng súng rền vang hay vì đã đến lúc, một tảng băng rơi xuống biển, tạo nên tiếng động rất lớn. Hành khách rời boong chạy ra xem, tất nhiên, đã quá muộn.

Tôi tựa lan can nhìn xa xăm về phía sông băng Taku, quản lý kho hàng của tàu Buford đến bên cạnh tôi, đây là một người nghiêm túc, suốt ngày trầm tư. Anh ta nhìn chằm chằm vào bức tường băng khổng lồ, một lúc lâu không nói lời nào. "Anh thấy thế nào?" tôi hỏi khi tiếng súng ngắt quãng. Anh ta nghiêm túc tiếp nhận câu hỏi của tôi, nửa ngày không đáp lại. Cuối cùng ném lại một câu, "Tôi thấy sao cũng được", rồi quay người trở lại đuôi tàu, tiếp tục bận rộn với công việc của mình. Con tàu tiến về phía trước, dần dần tiến sâu vào vùng hoang dã, trước mắt chỉ thấy biển cả, bầu trời, sương mù dày đặc, băng giá cứng nhắc, cùng đôi cánh trắng của hải âu, câu trả lời thận trọng của quản lý kho hàng ngày càng bộc lộ rõ tâm tư của nhiều du khách, họ đều thấy sao cũng được.

Tại Juneau, tôi đứng xem một người trong ban nhạc nhỏ của anh em nhà Brown câu cá dưới mưa, viết một bài thơ không vần, "Bưởi và cam, trôi trên mặt nước xanh trước bến tàu Juneau—bưởi và cam, một phần rác thải của con tàu." Những ngày đó, đầu óc tôi tràn ngập thơ tự do của Sandburg. Tôi viết trong nhật ký rằng, các thị trấn ở Alaska, "giống như tiếng thì thầm dưới chân núi".

Skagway là tiếng thì thầm nhỏ bé nhất, và vé tàu của tôi cũng chỉ đến đó là hết. Ngày cuối cùng của tháng bảy, tàu Buford cập bến tại đây. Nỗ lực tìm việc trên tàu của tôi thất bại. Tôi nhét máy đánh chữ vào hộp, sắp xếp hành lý, ngồi xuống boong tàu, trong lòng đầy buồn bã, thậm chí sợ hãi, chỉ muốn nán lại đến giây phút cuối cùng, rồi mới bước lên tấm ván, bước vào những con phố hoang vắng của Skagway—tôi là một kẻ tìm mỏ đến muộn hai mươi lăm năm, nhưng lại chẳng có hứng thú với vàng.

Tôi ngồi trên boong (nhật ký nói, tôi đang ở đó "lật giở" thứ gì đó), chải chuốt những rắc rối của mình, thở dài vì sao mình lại rơi vào hoàn cảnh bất lực đến thế này, bỗng nghe thấy có người gọi tôi lên đài chỉ huy. Theo ghi chép trong nhật ký, là một cô Lindeman đến trước mặt tôi, truyền đạt lời nhắn. "Thuyền trưởng muốn gặp anh ngay lập tức." Cô ấy nói. Kỳ lạ là, tôi không hề liên tưởng việc gọi này với việc tìm việc làm. Tôi không biết đã xảy ra chuyện gì, chỉ cảm thấy giống như học sinh tiểu học bị xách cổ lên văn phòng gặp hiệu trưởng. Lời nhắn dường như dự báo điềm gở, nhưng dù sao đi nữa, vẫn tốt hơn là phải bước lên tấm ván, dấn thân vào Skagway đầy tiếng thì thầm. Tôi lập tức đi tới đài chỉ huy.

Thuyền trưởng Lane nhìn tôi một lúc, rồi nói: "Chúng tôi có thể sắp xếp cho anh làm bồi bàn ca đêm ở nhà hàng—lấy công bù tiền vé. Như vậy được không?"

"Vâng, thưa ông," tôi trả lời. Tôi không biết bồi bàn ca đêm là gì, lấy công bù tiền vé là gì, nhưng tôi không muốn hỏi vặn vẹo, ngay cả khi thuyền trưởng Lane đồng ý kéo lê tôi ở đuôi tàu đi, tôi cũng phải nắm bắt cơ hội này. Tôi cảm ơn thuyền trưởng, báo cáo với quản lý cấp hai, tối hôm đó đã xuất hiện trong nhà hàng, mặc chiếc áo choàng ngắn màu trắng, giống như những người phục vụ thuận tay phải trên toàn thế giới, tay trái vắt một chiếc khăn lau bàn. Khủng hoảng Skagway bị tôi bỏ lại phía sau, tàu Buford với tốc độ ổn định mười một hải lý chạy về phía tây hướng tới quần đảo Aleutian, chẳng mấy chốc, Skagway cũng bị tôi bỏ lại phía sau.

Tôi không nhớ nổi dáng vẻ của cô Lindeman—chỉ là một cái tên trong nhật ký, vậy thôi—nhưng từng có vài người phụ nữ, như ma xui quỷ khiến xuất hiện trong cuộc đời tôi, cô ấy chiếm một vị trí quan trọng. Tôi vẫn luôn không hiểu rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, thậm chí cũng không thử tìm hiểu. Có thể khẳng định là: tin tức về một kẻ tìm việc lang thang trên boong đã truyền đến tai thuyền trưởng, giống như tin tức về một con rắn không độc lang thang trên tàu cũng sẽ truyền đến tai thuyền trưởng vậy, ông ta miễn cưỡng chấp nhận giải quyết việc này, giống như ông ta giải quyết bao công việc vặt vãnh nhưng phiền phức khác trong suốt chuyến đi điên rồ này.

(Từ khi bắt đầu viết bản ký sự này, tôi vẫn luôn tra cứu tờ "Chronicle" San Francisco năm 1923, tìm kiếm tin tức về tàu Buford và công ty của nó. Một trong những cổ đông của công ty tàu biển này là ông John Lindeman, trong danh sách hành khách có vài cô gái, cũng họ Lindeman, có lẽ là con gái ông ta. Vì vậy tôi đoán, tôi là nhờ sự giúp đỡ của con gái cổ đông, mới thoát khỏi cảnh lang thang ở Skagway. Lindeman cùng đối tác Ogden của ông ta đã mua trả góp con tàu này, viễn cảnh kinh doanh kiếm lời rất mong manh, xét về điểm này, người quản lý trên tàu đồng ý thêm một cái miệng ăn, không tránh khỏi sự bốc đồng. Nhưng đối với cô Lindeman, tôi vẫn luôn biết ơn sâu sắc).

Những ngày làm việc trên tàu thú vị hơn nhiều so với việc đi du lịch. Một khi đã được thuê, Alaska, biển cả, cùng với chính con tàu, đều trở nên chân thực; trước đó, tất cả những thứ này đối với tôi đều có chút mờ ảo. Hành khách sẽ không bao giờ thực sự hiểu một con tàu, thứ che đậy trước mặt quá nhiều, yêu cầu đối với họ lại quá ít. Họ có thể thích con tàu này, nhưng vì không tham gia vào việc vận hành con tàu, nên rất khó hòa nhập vào đó. Tôi làm bồi bàn nhà hàng, tự nhiên là một người tham gia—ban đầu là một người tham gia có chút buồn nôn. Tôi làm việc từ tám giờ tối đến sáu giờ sáng. Tôi phải bày bàn, chuẩn bị bữa đêm cho ba mươi người, chạy bàn (đôi khi bưng khay đầy ắp trên mặt biển dập dềnh), dọn bàn ăn, rửa đĩa rửa bát, lau ly thủy tinh, quét dọn cầu thang dẫn đến phòng giải trí, đánh bóng nhạc cụ bằng đồng. Công việc nặng nhọc, khô khan, cho đến khi dạ dày tôi thích nghi với công việc đầy dầu mỡ, không dám sơ suất này. Khoảng ba giờ sáng, tôi bước lên boong trước hút thuốc, ánh bình minh phương Bắc le lói, thủy thủ đi lại trên đài chỉ huy, tiếng ngáy nặng nề của hành khách truyền ra từ khoang tàu, con tàu dập dềnh rung chuyển dưới chân tôi, khoảnh khắc này, cô ấy chính là con tàu của tôi, hoàn toàn thuộc về tôi, hướng đi đúng đắn, tràn đầy sức sống, tiến về phía trước, khiến người ta vô cùng phấn khích. Tàu Buford không còn là đưa tôi mù quáng chạy từ cảng này sang cảng khác, giờ đây, cô ấy đưa tôi tạm biệt tất cả ngày hôm qua, hướng tới tất cả ngày mai. Dường như chính tôi đã điều khiển con tàu, tôi gần như là người lái tàu nắm giữ bánh lái bằng cả hai tay.

Tôi từ hành khách biến thành bồi bàn, khiến hành khách cùng tàu kinh ngạc, đến bữa tối, khung cảnh không tránh khỏi chút ngượng ngùng. Khoang hạng nhất có vài người biết tên tôi, những người khác hầu hết đều quen mặt tôi, tự nhiên, nhìn thấy tôi chờ đợi bên cạnh, cảm thấy rất không tự nhiên. Tiền boa cũng là một vấn đề. Cô gái từng ôm tôi nhảy múa trên chặng đường từ Seattle đến Skagway, liệu có nên vứt một đồng xu thưởng cho tôi vì món đồ nguội tôi bưng lên trên chặng đường từ Skagway đến Cordova. Vấn đề này rất tế nhị. Một bà lão, thấy tôi ăn mặc như bồi bàn nhà hàng, thốt lên: "Trời ơi! Khi nào anh làm nữ bồi bàn vậy?" Sự thay đổi địa vị khiến tôi cảm thấy vô cùng nực cười, tôi tỏ thái độ lạnh lùng, lại tô vẽ thêm trong nhật ký, phóng đại sự hài hước của nó. Ban đầu tôi có chút bối rối, nhưng nhanh chóng lấy lại tinh thần, đắc ý coi chiếc áo choàng trắng như chiếc lông vũ phô trương. Trong giọng điệu của tôi lại lộ ra sự ưu việt khi nhìn xuống chúng sinh, không chỉ vì, trong đám người chỉ biết đến tiền này, tôi có theo đuổi văn học riêng của mình, mà còn vì đối mặt với những kẻ ăn chơi trác táng, nhàn rỗi này, tôi hiện tại là một người bận rộn tự lực cánh sinh. Tôi cảm thấy đói từ sáng đến tối, hễ có cơ hội là vùi đầu ăn uống, gặp lúc có người đến dùng bữa đêm trước khi đi ngủ, tôi lại bày ra bộ dạng ông chủ, khinh bỉ cái bụng tốt của họ. Đối với tôi, việc khó nhất là nhớ thực đơn, tôi đứng đó, chăm chú nghe bốn người xung quanh nói họ muốn gì, đợi đến khi tôi vào phòng chia thức ăn, lại quên sạch sành sanh. Theo quy định, là một thành viên của bộ phận dịch vụ, tôi có thể lên boong hóng gió, nhưng không được phép ngồi xuống. Tôi không còn dính dáng đến hành khách nữa, chuyển sang kết thân với người làm bếp và đầu bếp ở khoang tạp vụ, họ sống ở boong giữa đuôi tàu, sát cạnh máy lái, nơi đó ồn ào, bẩn thỉu, vốn là nơi dễ gây chuyện thị phi. Tôi gia nhập nhóm thủy thủ, nhưng không ở đó, thực tế, họ đã chỉ định cho tôi một chỗ nằm trong một căn phòng nhỏ kín mít ở khoang hạng nhất, ở chung phòng còn có một thanh niên tên là J. Wilbur Wolfe. Wilbur là một bồi bàn nhà hàng ca đêm khác, giống tôi, cũng khổ sở vì từng học đại học, chưa hiểu sự đời. Quản lý cấp hai tinh khôn quyết định không tống Wilbur và tôi vào khoang tạp vụ mà chúng tôi đáng lẽ phải đến. Có lẽ ông ta sợ chúng tôi bị người khác làm hư, nhưng tôi nghĩ, ông ta thực ra là không muốn hai kẻ ngây thơ trắng tay quấy rầy thế giới đầy khói bụi đó. Điều này sẽ khiến ông ta bất an.

Tại Cordova, chúng tôi nhận được tin Tổng thống Harding qua đời qua radio, tôi chép thông báo trên bảng tin của tàu vào nhật ký:

Tin từ San Francisco: Tổng thống Warren G. Harding qua đời tại đây vào lúc 7 giờ 30 phút tối nay. Ông ấy qua đời vì bệnh đột ngột. Phu nhân Harding ở bên cạnh ông ấy cho đến giây phút cuối cùng. Việc giặt là xin hỏi quản lý cấp hai.

"Cứ như vậy," tôi buồn bã viết, "rõ ràng cho thấy dù xảy ra chuyện gì, thế giới vẫn vận hành như thường." Hiểu rõ dù Tổng thống Warren Gamaliel Harding có chết đi, người ta vẫn phải giặt quần áo bẩn của họ, tôi không khỏi vô cùng chấn động.

Dù thế nào đi nữa, tàu Buford vẫn đang tiến về phía trước. Khi nó lướt qua vùng nước rộng lớn của vịnh Resurrection để đến Seward, ban nhạc anh em nhà Brown tụ tập trong phòng giải trí, tập luyện các bản nhạc, đối phó với lễ truy điệu được chuẩn bị tạm thời. Nghe thấy âm thanh bi thương phát ra từ nhạc cụ bằng đồng sau khi thêm bộ giảm âm, hòa lẫn với tiếng kêu than của hải âu, tôi không khỏi buồn bã vì sự ra đi của Tổng thống chúng tôi—tôi cảm thấy trống rỗng. Ngày nay, ông Harding đã không còn khơi dậy được niềm thương tiếc to lớn của mọi người, nhưng đêm đó tại Seward, những người trên tàu Buford chúng tôi, quả thực đã bày tỏ sự tưởng niệm sâu sắc đối với ông, sáu chiếc kèn saxophone trái với sự vui vẻ thường ngày, tấu lên khúc nhạc ai oán trang nghiêm.

Ở vùng nước phương Bắc năm 1923 đó, thuyền trưởng Lane điều khiển con tàu, giống như những phi công đời đầu, chỉ có thể dựa vào cảm giác. Khi đến gần Kodiak, chúng tôi rơi vào sương mù dày đặc. Suốt cả buổi chiều, con tàu mù quáng đi trong làn sương lạnh lẽo, ẩm ướt. Chúng tôi phải cập cảng Kodiak, vì có một hành khách muốn xuống tàu, đối với Công ty Vận tải Alaska-Siberia mới thành lập mà nói, dù chỉ có một hành khách xuống tàu cũng là một khoảnh khắc không hề nhỏ, điều này làm tăng thêm vinh dự và uy tín cho chuyến đi. Lần này, người xuống tàu là một chú chó săn Airedale, nhưng không hề làm giảm đi ý nghĩa của sự việc. Tầm nhìn gần như giảm xuống bằng không, thuyền trưởng bắt đầu không chắc chắn về phương hướng của mình, sự do dự của ông truyền sang hành khách một cách kỳ lạ. Tôi nghe thấy vài quý bà lo lắng hỏi một thủy thủ cấp cao xem có nên thả neo đợi sương mù tan hay không. (Nếu thực sự như vậy, có lẽ sẽ trở thành lần dừng chân trên biển dài nhất từng được ghi lại.) Một lát sau, một chiếc tàu đánh cá xuất hiện ở mũi tàu chúng tôi, thuyền công vừa hét vừa ra hiệu, nói rõ phương hướng của chúng tôi, chúng tôi lập tức thay đổi lộ trình, tiếp tục tiến lên. Thuyền trưởng Lane bận rộn cả ngày bên bàn hải đồ, tối đó lên bờ. Ông ấy rất muộn vẫn chưa quay lại tàu. Ba giờ sáng, có người gọi tôi đến khoang của ông ấy, dọn dẹp ly rượu và chai rượu. Một giờ sau, nhật ký của tôi có ghi chép như sau:

Sáng thứ Hai, bốn tiếng chuông (chú thích: bốn tiếng chuông, báo giờ trực trên tàu, ở đây là bốn giờ sáng). Kodiak

Nhạc cụ lau sạch. Bộ đồ ăn sắp xếp xong. Wilbur ngồi đối diện lối đi, tựa vào chiếc bàn khác ngủ gật. Trong phòng chia thức ăn, ấm cà phê xì xào, hơi nước ngưng tụ thành giọt nước, nhỏ xuống từ trần nhà. Theo chúng tôi biết, thuyền trưởng vẫn chưa về. Ít nhất, ông ấy chưa xuất hiện để uống cà phê: chúng tôi đã sắp xếp chỗ cho ông ấy, bày sẵn thịt nguội, bánh mì và các món ăn nhẹ khác.

Ghi chép này tiết lộ sự vất vả của một nhà văn. Câu thứ sáu ban đầu đọc là, "Ít nhất, ông ấy vẫn chưa xuất hiện để uống cà phê", tôi sửa lại một chút, gạch bỏ hai chữ "vẫn chưa", điều này rất đáng suy ngẫm về mặt tu từ, cho thấy thời điểm muộn hơn nữa, tôi vẫn đang làm việc chăm chỉ trong sự khổ hạnh này. Wilbur đang ngủ gật cũng viết nhật ký, nhưng lúc đó tôi không biết. Hai bồi bàn ca đêm, cùng là người viết nhật ký—trên một con tàu lạ lẫm, kỳ dị đang trôi dạt trên mặt biển xa lạ, hiu quạnh. Một phần nhật ký của anh ta, hiện giờ đang ở trong tay tôi. Người vợ góa của anh ta gần đây đã gửi cho tôi—một cuốn sổ nhỏ, đầy rẫy sự chán ghét đối với cuộc sống thấp hèn. "Đi chết đi cái 'lấy công bù tiền vé'—không thể đi khoang hạng nhất thì nên ở nhà." Wilbur chỉ muốn quay lại xã hội, tìm lại thể diện, sự sốt sắng đó, giống như chính tôi, chỉ muốn tiếp tục "xuống dốc" trên tàu, rơi vào tầng đáy thấp hơn, đắm chìm trong hương vị của kẻ bị ruồng bỏ và nô bộc thấp kém.

Ghi chép tiếp theo trong nhật ký là một bài thơ, tiêu đề là "Bi ai", bắt đầu như thế này:

Hàng ngàn bài hát, đang cuộn trào, xoay vần trong tim tôi:

Lời ca tán dương, lời ca kinh ngạc. Thế nhưng

Tôi không thể sinh ra dù chỉ một bài.

Cách diễn đạt kỳ lạ. Thực ra tôi giống như một con chuột đồng, gần như không ngừng sinh sôi. Những bài thơ đó nhạt nhẽo vô vị, nhưng không bài nào là không ra đời.

Du khách rõ ràng thường xuyên thất vọng về vùng lãnh thổ Alaska. Điểm dừng chân tiếp theo của chúng tôi—cảng Dutch cũng không thể khiến họ vui vẻ. Vài ngôi nhà bỏ hoang, một gia đình thổ dân, một con lợn nái và ba con lợn con—làm sao các quý bà đến từ San Francisco có thể hạ mình xuống để xem như một cảnh đẹp. Tôi tự mình lên bờ, theo một con đường bùn lầy, leo lên một ngọn đồi nhỏ, ngồi trong đám cỏ, nhìn ra Unalaska ở phía đối diện. Ngôi làng này, nhìn từ xa, tựa như một bức tranh—một dãy tòa nhà màu trắng, xen lẫn một nhà thờ Chính thống giáo Hy Lạp nhỏ, trên đỉnh có hai tháp nhọn hình củ hành màu xanh lục. Phía sau thị trấn, những ngọn đồi xanh tươi không có cây cối, nhô lên giữa biển cả sóng vỗ rì rào, mây khói lượn lờ, một khung cảnh trống trải mờ ảo. Ngọn đồi trông thật cao lớn và hùng vĩ—phông nền trong mơ. Tôi chỉ muốn đến Unalaska du ngoạn, ngặt nỗi thân bất do kỷ, tôi phải làm việc trên tàu.

Khi tôi ngồi đó nhìn ngắm, hai bà vợ trên tàu Buford đi ngang qua, dừng lại trước mặt tôi.

"Ở đằng kia có gì đáng xem không?" một trong hai người hỏi, tưởng rằng tôi đã đến đó. "Nhìn từ đây, có vẻ khá buồn tẻ. Nếu nhà thờ có gì đặc biệt, tôi sẽ đi tiếp, nếu không, chẳng có gì để xem, tôi không muốn đi nữa đâu. Còn bà thì sao, Katie?"

Katie lắc đầu. Hai người họ có vẻ cực kỳ chán nản, chẳng biết đi đâu về đâu.

Tôi bảo họ rằng tôi chưa từng đến Unalaska, chắc nơi đó cũng chỉ là một chốn tầm thường. Nghe tôi nói vậy, họ chán nản quay người trở về tàu.

Về sau, tôi tìm cách đến được ngôi làng ấy, một cậu bé chèo thuyền nhỏ đưa tôi qua. Xét ở một khía cạnh nào đó, ngôi làng quả thực tẻ nhạt, nhưng khi tản bộ dọc theo chân những ngọn đồi xanh mướt quanh co, một mình giữa Unalaska, chạm cảnh sinh tình, tôi chỉ cảm thấy chưa bao giờ trong đời mình lại tràn đầy sức sống như lúc này. Tôi gần như đã đặt chân đến điểm cực tây xa nhất có thể trên đại lục này, cách xa quê hương vạn dặm, những khúc ca ngợi ca trào dâng trong lòng, niềm vui sướng không sao kể xiết. Tuyệt vời hơn nữa là khi trở lại tàu, tôi mới biết mình có thể lăn ra ngủ, không cần phải trực ca cả đêm, công việc của tôi đột ngột thay đổi. Trong suốt hành trình còn lại, tôi trở thành người phục vụ cho các thợ đốt lò.

Rạng sáng hôm đó, cấp trên của tôi - quản lý thứ hai - đến phòng ăn, lúc ấy tôi đang bận rộn rửa bát đĩa. "Cậu có thể nghỉ ngơi rồi," ông ta nói. "Ngày mai, tôi phân cậu làm người phục vụ cho thợ đốt lò - chăm lo bữa ăn cho nhóm tám người bọn họ, cậu không cần phải mặc đồng phục trắng nữa. Chúng tôi đã ghi vào hợp đồng lương của cậu là năm mươi đô la một tháng."

Mặc dù quản lý thứ hai không nhắc tới, nhưng tôi nghe nói dưới khoang tàu đã xảy ra ẩu đả, thậm chí còn dùng cả dao, tôi có lý do để tin rằng công việc mới của mình có liên quan đến chuyện đó. Tôi nghĩ mình được cử đến để thay thế gã bị đâm kia. Sự việc quả nhiên đúng là như vậy. Dù thế nào, tôi vẫn tuân lệnh; tôi trở về khoang, lục trong túi xách ra chiếc áo sơ mi vải flannel và chiếc quần bẩn của mình, rồi mặc quần vào, nằm ngủ trên giường, không nhịn được mà suy nghĩ tại sao phục vụ tám người lại được trả năm mươi đô la, trong khi phục vụ hơn ba mươi người lại chẳng có đồng nào, chỉ đổi lại được tấm vé đi tàu giá rẻ. Tôi biết trong chuyện này có chút kỳ quặc, nhưng cũng chẳng nghĩ nhiều, cứ thế mà ngủ.

Sáu giờ sáng, tôi trình diện nhận việc. Đối với tôi, đây mới thực sự là khởi đầu của hành trình, cuối cùng tôi cũng đã xuống đến tầng đáy, nhịp đập của con tàu nghe rõ mồn một, mùi cơ thể của nó cứ vương vấn mãi không tan.

Tại sao tôi lại khao khát bước chân xuống tầng đáy? Không nói rõ được. Tôi chỉ nhớ mình đã làm vậy, và trong quá trình leo lên nấc thang xã hội, sự hạ mình này dường như rất khó khăn, nhưng lại vô cùng cần thiết. Chuyến đi Alaska hoàn toàn là một sự cố gắng trốn tránh thế giới trong tiềm thức, thoái thác bất cứ thứ gì tôi phải đối mặt; tôi càng đi sâu vào trong tàu, thì càng ẩn mình kín đáo hơn. Ngoài ra, tôi muốn thử thách bản thân - lao mình vào ngọn lửa, chỉ cần nó ngay trước mắt, xem liệu tôi có thể chịu đựng được sự tôi luyện hay không.

Phòng ăn của thợ đốt lò thực sự là một chiếc lò luyện lý tưởng. Người trẻ tuổi muốn được hơi nóng hun đúc, lửa thiêu đốt, trải qua muôn vàn gian khổ, thì không nơi nào tốt hơn nơi này. Căn phòng chật hẹp, hôi hám, phía trên đường mớn nước vài feet có một ô cửa sổ tròn. Giờ đây, khi nhắm mắt lại, hồi tưởng về Alaska, hình ảnh luôn bị đóng khung trong vòng tròn ấy, bởi vì hầu hết cảnh tượng của tiểu bang thứ bốn mươi chín tương lai này, tôi đều nhìn qua ô cửa sổ phòng ăn của thợ đốt lò, hình ảnh còn mang theo một mùi vị đặc biệt - hỗn hợp của bắp cải, đồ thừa, hơi nước, rác rưởi, dầu đốt, dầu máy, khí thải và đủ loại mùi vị mệt mỏi. Ngoài con tàu này ra, chẳng nơi nào ngửi thấy được.

Một đầu phòng ăn có một chiếc bàn giữ nóng thức ăn, hơi nước đi qua dưới bàn, thỉnh thoảng lại có chỗ rò rỉ phát ra tiếng xì xì, hun cho căn phòng rất nóng. Ở giữa đặt một chiếc bàn ăn lớn, hai bên là hai chiếc ghế dài. Đối diện với ô cửa sổ là bồn rửa, thùng rác và thánh vật của chúng tôi - bình cà phê. Bình cà phê treo trên ống hơi nước của tàu. Nó có van nước vào và van nước ra, còn có một thước đo bằng thủy tinh, có thể nhìn thấy cà phê dập dềnh chậm rãi theo sự lắc lư của con tàu. Tôi nhanh chóng học được cách chỉ cần liếc nhìn thước đo là có thể nói ra góc nghiêng của thân tàu. Sự nhơ bẩn là tông màu chủ đạo của căn bếp, mùi vị cố định, ngửi là biết ngay, không thể nhầm lẫn. Sự nhơ bẩn này tích tụ một cách vô tình: những hộp thiếc đựng thức ăn thừa, những mảnh thịt thối dính vào khe ống dẫn trên trần, những lát bánh mì nho khô khô cứng bị vứt lung tung, phô mai giấu sau bình cà phê - khắp nơi đều là những thứ rác rưởi và đồ cũ kỹ. Người phục vụ phòng ăn trước đó, cũng giống như bao người khác trên cạn hay dưới biển, cứ tiện tay tích trữ đồ đạc để phòng khi cần thiết. Không khó để nhận ra tại sao thợ đốt lò lại không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, và lật đổ sự thống trị của hắn trong một trận đao quang kiếm ảnh. Tuy nhiên tôi nghĩ, sự hỗn loạn chưa phải là tất cả câu chuyện.

Sáu giờ sáng ngày hôm đó, tôi đói cồn cào đứng đó, nhận chỉ thị của quản lý thứ hai, chỉ cảm thấy mệt mỏi, buồn nôn, sợ hãi. Chỉ thị rất đơn giản, quản lý thứ hai dường như muốn tranh thủ lúc tôi còn tỉnh táo, chưa tỏ ý không hài lòng thì chuồn đi cho nhanh. Ông ta bảo tôi phải bưng thức ăn cho thợ đốt lò từ bếp lớn xuống, phục vụ ăn uống, sau đó dọn dẹp sạch sẽ, sắp xếp giường chiếu trong khoang, đổ rác vào máng trượt bên hông tàu, đảm bảo lúc nào cũng có cà phê nóng mới nấu, dọn dẹp phòng vệ sinh và tuân lệnh thợ đốt lò. "Cậu chăm sóc họ - họ bảo làm gì thì làm nấy," ông ta nói. "Tôi vẫn là cấp trên của cậu, gặp rắc rối mà không đỡ nổi thì bảo tôi. Nhưng cậu phải làm cho họ hài lòng đấy." Sau đó, ông ta giới thiệu qua loa tôi với đồng nghiệp, một thanh niên người Puerto Rico tên là Luis, người phục vụ phòng ăn của thủy thủ, bảo cậu ta chỉ dẫn cho tôi vài điều. Quản lý thứ hai nói xong liền rời đi. Tôi không còn nhớ ông ta có đến cái thế giới nhỏ bé nơi tôi trú chân thêm lần nào nữa không.

Luis là một thanh niên thần kinh, trên người khoác chiếc áo len dài bẩn thỉu, dài tận đầu gối. Cậu ta có hai con mắt, nhưng chỉ dùng một con để làm việc, con còn lại nhìn chằm chằm vào một thế giới khác - tôi đoán có lẽ là một thế giới tốt đẹp hơn.

"Trước đây cậu làm gì?" cậu ta hỏi.

"Phục vụ ca đêm," tôi đáp.

"Ồ ồ! Vậy thì cậu chắc chắn biết cách ăn cắp rồi. Tốt lắm." Cậu ta có vẻ trút được gánh nặng lớn. Cậu ta giải thích rằng, chỉ có dựa vào việc "tiện tay" lấy trộm mới có thể kiếm được đồ ăn ngon, thỏa mãn cái bụng của đám người mà tôi phải phục vụ.

Sự chỉ dẫn của Luis làm tôi choáng váng - giống như nghe một đứa trẻ thông minh dạy cách lái máy bay vậy. "Đi thôi, người anh em!" Nói xong liền bắt đầu bận rộn, miệng ngân nga bài hát "Rock of Ages" bằng tiếng Tây Ban Nha. Luis phù phiếm, hoạt bát, trong đầu toàn là ảo tưởng và hiểu lầm, lại chẳng liên quan gì đến chức trách trong phòng ăn. Cậu ta tưởng hải cẩu biết bay, cậu ta còn tưởng Harding mới tân hôn chứ không phải đã chết. Van hơi nước làm cậu ta thấy bí ẩn, phấn khích không thôi, cứ nghịch mãi không thôi. Cậu ta nhảy nhót khắp nơi, chỉ có tôi là lẽo đẽo theo sau, vừa tự răn mình đã rơi vào hoàn cảnh thấp hèn đến nhường nào. Cậu ta nói, đám người mặc áo đen này là nhóm thấp kém nhất trên tàu, tôi phải phục vụ họ, còn thấp kém hơn nữa. Cậu ta nói, thợ đốt lò kiêu ngạo, nóng nảy, nên sớm nắng chiều mưa, rắc rối đủ đường. Cậu ta kể cho tôi nghe về ngôn ngữ được sử dụng trong phòng ăn và khoang thủy thủ. "Này, người anh em," cậu ta thở dài: "Bọn họ toàn nói bậy. Đồ chó đẻ, nói năng khó nghe lắm, đám khốn nạn này."

Tôi thì chẳng bận tâm đến việc nghe người ta nói tục, tôi còn những chuyện khác phải lo. Tôi biết mình đang là cừu vào hang sói, điều tôi lo lắng là đám thợ đốt lò kia, những ông chủ của tôi, đừng có nhận ra khuôn mặt này, biết tôi từng thuộc khoang hạng nhất, rồi phát hiện ra quá khứ của tôi, những thứ đó quá tinh tế đối với phòng ăn của thợ đốt lò. Tôi bị nền văn minh xâm thực và sự giáo dục làm hoen ố. Tệ hơn nữa, tôi đi tàu với tư cách là hành khách hạng nhất, do cách hành xử kỳ quặc của quản lý thứ hai, tôi vẫn còn giữ một giường nằm ở khoang hạng nhất. Tôi biết muốn tồn tại sau này, phải che giấu những sự thật tai hại này. Tôi cảm thấy mình giống như một kẻ tội đồ từng gây nghiệp chướng, chỉ có tuân thủ quy tắc mới cầu được sự tha thứ. Muốn thoát khỏi quá khứ không vẻ vang kia, xem ra chỉ có cách là ra tay ăn trộm. Tôi quyết tâm lấy hết can đảm, vững vàng, trộm cho ra trò. Tôi phải làm việc chăm chỉ, phục vụ chu đáo, quản lý tốt cái miệng của mình. Chỗ dựa của tôi là bộ râu đã để hai ngày, cùng bộ quần áo rách rưới hằn dấu vết vất vả.

Bữa sáng đầu tiên rất quan trọng, bắt đầu trong làn hơi nước mịt mù. Luis tiện tay gạt van bình cà phê, bình cà phê phun hơi nghi ngút, căn khoang biến thành phòng tắm hơi kiểu Thổ Nhĩ Kỳ. Trong sự hỗn độn, tôi gần như không nhìn rõ những khuôn mặt đen nhẻm dính đầy dầu máy và bụi bặm ấy. Tạ ơn trời đất, họ cũng không nhìn rõ mặt tôi. Họ giận dữ phàn nàn về phòng tắm hơi, đợi đến khi phát hiện ra có người phục vụ mới, không kìm được sự hào hứng, thi nhau đặt câu hỏi, bắt tôi kể về quá khứ của mình. Tôi bèn bịa đặt lung tung, lôi kéo vài địa danh và những câu chuyện bi thảm, thỉnh thoảng lại hạ thấp giới chủ. Tôi nói, dù làm việc ở đâu, cũng chẳng ai ưa, nhất định kết cục là bị đuổi việc. Đám thợ đốt lò không xa lạ gì với những cảnh ngộ này, nghe xong tự nhiên thấy vui vẻ, họ cũng quan tâm đến các địa danh. (Mùa hè năm ngoái, tôi từng băng qua đại lục, làm đủ nghề chân tay, nên rất thạo các địa danh.) Ở Cody, tôi nói, tôi phải dùng giấy nhám đánh bóng sàn nhảy ngoài trời từ sáng đến tối, một ngày chỉ kiếm được ba đô la ít ỏi. Ở Minneapolis, tôi đi từng nhà tiếp thị thuốc diệt gián. Ở gỗ kho, tôi từng cắt cỏ. Cuối cùng luôn bị người ta đá văng. Đây là quân bài tôi dùng để giành lấy sự đồng cảm. Dù chưa từng gặp mặt, họ đã ghét cay ghét đắng mỗi người chủ cũ của tôi. Bây giờ tôi là người em nhỏ của họ. Tôi chạy qua chạy lại, bưng cháo yến mạch, vừa phải chăm chút bình cà phê, trong lúc bận rộn, không ngờ lại lấy lại được sự can đảm của mình. Sau đợt ồn ào đầu tiên, thợ đốt lò bắt đầu cắm cúi ăn uống, cuộc thẩm vấn chấm dứt. Có một hai khuôn mặt trông rất dễ gần. Sau này tôi mới biết, có hai gã từng ngồi tù, điều này làm tôi thấy kích thích, ngưỡng mộ không thôi, trong đó một người mắc bệnh tình dục, tôi lại thấy bất an, nơm nớp lo sợ. Bộ phim điện ảnh nổi tiếng về cuộc đời quân ngũ "Thousand-Hammered" đó, tôi vẫn còn nhớ như in, tôi cứ nghĩ chỉ cần dùng chung bộ đồ ăn, rất nhanh cũng sẽ lây bệnh tình dục.

Tôi phát hiện ra, tên của mình là "Này anh bạn". "Này anh bạn, tối lấy cho tôi một quả cam!" một gã vệ sinh buồng máy hét lên trước khi rời đi sau lần tôi xuất hiện đầu tiên. Qua giọng điệu của hắn, tôi nhận ra đây là một mệnh lệnh. Tôi còn có thể hình dung ra, gã vệ sinh kia thèm khát vị ngọt của quả cam, chẳng bằng là khoái chí vì có một tên tiểu nhị để hắn bắt nạt. Ở tầng dưới, trong khẩu phần ăn không có trái cây, muốn ăn cam, hoặc là đi trồng, hoặc là đi trộm. Những ngày tiếp theo, tôi học được cách tiện tay lấy trộm từ nguồn hoặc từ những khoang hạng đặc biệt mở cửa. Đây là chuyện thường tình trên biển. Tôi trở thành một Robin Hood lướt sóng, cướp của người giàu chia cho người nghèo, cung cấp đủ loại mỹ vị cho đám người tôi phục vụ. Đây là một phần chiến lược sinh tồn của họ và tôi, tôi lấy được một quả dưa chuột ngâm thì là, thủ thuật tinh xảo chẳng kém gì thợ săn chồn. Đám thợ đốt lò cũng không phải là không có lý lẽ. Lần đầu tiên tôi làm việc, mồ hôi lạnh vã ra như tắm, chỉ sợ một quả cam xuất hiện trong phòng ăn, sẽ khiến cả đám nhao nhao đòi ăn. Kết quả không phải vậy. Đám người này cũng không được đằng chân lân đằng đầu. Ngoài việc gặp thời tiết xấu, cái dạ dày cuộn trào buộc họ phải huy động toàn bộ kiến thức về liệu pháp chống say sóng, hy vọng có thể dựa vào những thứ hiếm hoi để được cứu vãn một cách thần kỳ, nếu không, những việc họ giao phó, thường đều nằm trong khả năng của tôi. Nhờ công việc phục vụ nhà hàng trước đây, tôi duy trì được mối liên hệ quý giá với khâu cung ứng then chốt. Tôi thông đồng với Wilbur Wolf, gã thu dọn những món ăn thừa từ bữa tiệc buffet buổi tối, lén lút đưa cho tôi, chúng tôi lén lút như những kẻ buôn ma túy. Không biết vị gia nào dưới khoang tàu sẽ đòi mạng lúc nào, tôi luôn chuẩn bị sẵn vật tư ở một nơi bí mật trong giường nằm, giống như những vùng quê đầy rắn, mọi người đều chuẩn bị sẵn thuốc giải độc bên mình.

Sau bữa sáng ngày đầu tiên, thợ đốt lò tản đi làm ca, tàu Buford chạy tốc độ cao về phía bắc vào biển Bering, tôi lau dọn phòng ăn một lượt, vứt bỏ những thứ bẩn thỉu cũ kỹ, giặt sạch túi vải trong bình cà phê, lại đi trộm một quả cam. Ngày đầu tiên trôi qua bình yên vô sự. Tôi lên boong tàu, nhìn tàu Buford đâm sầm vào một bức tường trắng do sương mù lạnh lẽo dựng lên. Ở đài quan sát trên boong trước, Tony, gã thủy thủ da đen cao lớn đang trực ca, dùng sức kéo dây dọi đo sâu. Mặc dù tôi bận rộn thích nghi với công việc mới, trong nhật ký ngày hôm đó vẫn ghi chép đầy đủ, tưởng tượng cách đo độ sâu của nước. Tôi rất mệt, nhưng cũng không làm chậm trễ những bài văn hay trong bụng.

Công việc của người phục vụ phòng ăn, đáng sợ nhất là bưng những nồi thức ăn lớn từ bếp chính qua chiếc thang gần như thẳng đứng - còn khó hơn cả việc ăn trộm. Những nồi hầm này lớn như một chiếc giỏ một bushel. Hai tay cầm hai bên được tán đinh vào thành nồi. Nồi không đã nặng trịch, sau khi đựng đầy thức ăn thì càng nặng kinh người, lại còn nóng bỏng tay, chúng đương nhiên cần hai tay để bưng, không còn dư tay nào cho bản thân. Khi biển lặng, người mới tập bưng một chiếc nồi như vậy leo thang cũng phải tập trung tinh thần. Gặp sóng to gió lớn, tàu lắc lư dữ dội, thoạt nhìn thì việc leo thang dường như là điều không thể. Đi đến giữa chừng, chiếc thang không còn nghiêng nữa, dần dần tiến gần đến thẳng đứng, cuối cùng thì dựng đứng hẳn. Trên đại dương sóng dữ, chiếc thang thậm chí còn đổ ngược ra sau. Luis chỉ cho tôi cách leo lên leo xuống. Bí quyết nằm ở chỗ đợi phía trên, nắm chặt nồi hầm, cho đến khi chiếc thang có góc độ thích hợp. Sau đó cẩn thận bước xuống, đặt chân lên một hai bậc. Khi chiếc thang dựng đứng, nhanh chóng duỗi một chân ra, mu bàn chân và đầu ngón chân móc chặt vào bậc thang, giống như nghệ sĩ xiếc treo ngược trên xích đu cao vậy. Đợi chiếc thang hoàn thành cú lắc, bắt đầu khôi phục góc độ thích hợp, rút chân ra rồi bước tiếp một hai bậc, cứ như thế, cho đến khi chân chạm đất. Treo lơ lửng giữa hai tầng boong, bưng một nồi đầy thức ăn chín, một chân chống đỡ trọng lượng của cơ thể cùng với thức ăn, một chân gồng lên cứng đờ, khoảng thời gian này, dường như dài vô tận. May mà tôi còn trẻ, cổ chân cũng kiên cường như niềm tin của tôi vậy, đợi đến khi tàu Buford trên đường trở về gặp gió mạnh ở Bắc Thái Bình Dương, tôi đã ứng phó thành thạo, kỹ năng leo cao trèo thấp, không kém gì một nghệ sĩ xiếc chuyên nghiệp.

Trên tàu Buford, thủy thủ và thợ đốt lò là hai vòng tròn khác biệt, họ ở riêng, ăn riêng, thậm chí suy nghĩ cũng riêng. Một con tàu không giống như lò luyện kim, nó củng cố ranh giới giai cấp, cho đến khi dấu ấn xã hội thấm sâu vào tận xương tủy. Thợ đốt lò coi thường thủy thủ, thủy thủ chế nhạo thợ đốt lò, đó là chuyện thường tình. Tôi nghĩ đây là một truyền thống, giúp người ta giữ được sự cứng rắn. Xét về cách ăn mặc, thủy thủ cao hơn thợ đốt lò một cái đầu, họ cạo râu thường xuyên hơn, quần áo chỉnh tề, vì những sự chú trọng này mà càng bị thợ đốt lò coi thường. Họ đều cho rằng con tàu hoàn toàn dựa vào nhóm người của mình để vận hành, căn bản không thừa nhận công việc của nhóm kia có ý nghĩa gì về mặt hàng hải. Vấn đề này - ai là người đảm bảo việc đi tàu? Cãi nhau không dứt, chẳng còn lý lẽ gì cả. Khi tôi rửa bát đĩa trong phòng ăn, nghe họ喋喋不休 (lải nhải) tranh cãi. Thực tế, chút tinh thần của nhóm người tôi, phần lớn đến từ những cuộc cãi vã, chứ không phải nồi thức ăn ngon kia. Một chuyện nhỏ nhặt cũng có thể huy động tài hùng biện của họ, gây ra một trận ồn ào.

Tại St. Paul thuộc quần đảo Pribilof, tôi tranh thủ lúc phòng ăn yên tĩnh lên bờ, chạy đến nơi quần cư của hải cẩu, xem hải cẩu. Mỗi con đực to lớn đều được vây quanh bởi một đàn hải cẩu cái. Nhiều hải cẩu cái có con nhỏ của riêng mình, nơi đó giống như một công viên giải trí tràn ngập mùi sữa, đầy ắp tiếng cười, người lớn thỉnh thoảng còn bùng nổ tranh đấu. Tôi vốn có thể ở đây xem náo nhiệt thật lâu, nhưng bình cà phê đang đợi tôi quay về chăm sóc. Luis vì tôi báo cáo rằng hải cẩu không biết bay mà vô cùng thất vọng. Cậu ta đang đóng hộp tương cà - tin tức đáng buồn này làm gián đoạn tâm trạng tốt đẹp lúc bấy giờ của cậu ta.

Tại đảo St. Lawrence, chúng tôi thả neo ngoài làng Gambell, sắp xếp cho giáo sĩ Nicholson và vợ ông lên bờ. Đây là điểm cuối trong hành trình của họ. Hai mươi người Eskimo lên tàu, mang theo đầy những đồ vật bằng ngà voi và sản phẩm từ da hải cẩu. Họ không nói được tiếng Anh, ngoại trừ vài từ khóa quan trọng, ví dụ như "bảy mươi lăm xu", thốt ra rõ ràng và nhanh gọn. "Vòng khăn ăn" và "dao cắt giấy" trong miệng họ cũng phát âm rất chuẩn. Các quý bà San Francisco từ lâu đã khao khát mua sắm điên cuồng, lại đã lâu không thấy chợ búa, lúc này ùa lên, đua nhau hét giá. Tôi đứng ở vị trí có lợi, tận mắt chứng kiến một đôi dép da hải cẩu được nâng từ một đô la lên đến sáu đô la năm mươi xu. Người Eskimo kia đã xiêu lòng. Đúng lúc này, một gã thợ đốt lò thò đầu ra từ cửa sổ trần boong tàu, bốn mắt nhìn nhau, gật đầu ra hiệu. Người Eskimo bỏ mặc các quý bà, đi đến trước mặt gã thợ đốt lò, gã kia lấy từ trong áo sơ mi ra hai miếng xà phòng bẩn thỉu, một cuộn giấy ăn. Họ lập tức giao dịch, đôi dép da hải cẩu đã đổi chủ - những người tiên phong của Phòng Thương mại San Francisco bị đả kích nặng nề. Các quý bà tức tối. Có vài quý bà nhanh trí, nhanh chân, vội vã chạy về khoang khách, lấy xà phòng và giấy ăn, nhưng thương mại giữa San Francisco, Alaska và Siberia đã biến chất, mục tiêu to lớn của tàu Buford nhất thời bị che phủ bởi những đám mây đen. Đến trưa, Luis và tôi phục vụ bữa ăn cho người Eskimo trong phòng ăn của thợ đốt lò, Luis vì gặp được người ngoại tộc ở chốn xa xôi mà vô cùng phấn khích. Sau đó, sáu anh em nhà Brown bắt đầu thổi kèn, người Eskimo nhảy múa cuồng nhiệt. Họ chưa từng nghe tiếng kèn saxophone bao giờ, âm thanh đó làm họ say mê.

Tại St. Michael, chúng tôi chất cá lên tàu. Ngày 15 tháng 8, tôi viết một bài thơ như thế này:

Suốt cả ngày, từng thùng cá loảng xoảng bay qua bầu trời,

Từ sà lan được cẩu lên cao rồi rơi vào khoang tàu.

Người lái tàu vai rộng điều khiển tời nâng - suốt cả ngày.

Đêm xuống, bầu trời hiện ra màu cam, những đám mây xám xịt

Tôn lên ánh hoàng hôn, cô gái có mái tóc đẹp bước đến dựa vào mạn tàu

Nhìn người lái tàu vai rộng.

Cô ấy là người yêu của anh ta, tôi nói. Họ sẽ kết hôn, con trai lớn lên

Cũng vai rộng như cha nó vậy.

Hải âu lướt từ mặt nước, nhẹ nhàng bay về phía tây màu cam.

Tàu Buford bình ổn chạy về phía bắc, trình độ thơ ca của tôi cũng bình ổn đi xuống. Rắc rối của nhà thơ nằm ở sự mệt mỏi, sau một ngày, anh ta đã kiệt sức rồi.

Ngày 17 tháng 8, thứ Sáu, tàu Buford neo tại Nome, chúng tôi đến trước cánh cổng của đỉnh thế giới. Sóng biển hung hiểm, có một lúc chúng tôi không thể dỡ hàng. Tin đồn thất thiệt lan truyền - thiếu nước sinh hoạt, thiếu nhiên liệu, chúng tôi sẽ không vào được nhóm băng trôi, thời gian quay về Mỹ sẽ chậm mất một tuần. Tàu kéo Genevieve cập lại gần, tôi và vài người khác theo thang leo xuống, đi tàu lên bờ. Genevieve đã phải tốn rất nhiều sức lực cho việc này, có hai vị quý bà bị say sóng, sau khi đặt chân lên bờ, trông vẻ mặt yếu đuối không chịu nổi. Tối thứ Bảy, khoảng chín giờ, tôi đợi bên ngoài tòa soạn báo "Tin tức" đối diện công ty quần áo Nome, xem máy in nhả ra những tờ báo tuần đầu tiên của kỳ này. Tòa soạn báo "Tin tức" chật ních đàn ông và chó. Tôi bỏ ra hai mươi lăm xu mua một tờ, lướt qua tiêu đề lớn: "Triển vọng Nome đầy hứa hẹn; Nome và San Francisco bắt tay hợp tác bên ngoài vĩ độ 53 độ Bắc". Sự hợp tác giữa San Francisco và Nome là một khoảnh khắc kỳ quái trong lịch sử thương mại. Trên tàu thuyền cờ màu rực rỡ, cư dân của thị trấn tẻ nhạt này vui mừng nhìn thấy khách quý đến thị trấn, mặc dù họ vừa đặt chân đến đã bắt đầu nôn mửa. Tôi không rõ sự kiện trọng đại này sẽ đơm hoa kết trái như thế nào trong giới thương mại, thành quả duy nhất tôi chứng kiến là tủ kính của cửa hàng bà Wang, nơi đó trưng bày những chiếc mũ và bộ đồ mùa thu kiểu mới được dỡ xuống từ tàu Buford. Dưới ánh đêm trắng chói lòa, tôi dạo quanh thị trấn lạnh lẽo này, trước mắt lướt qua từng cảnh tượng - tiệm bánh Bắc Cực, xưởng tấm kim loại Nome, nhà hát Giấc mơ, phòng tắm cao cấp và khách sạn Andrew Box (phòng khách có kèm sưởi), còn có thời trang rực rỡ trong cửa hàng bà Wang.

Báo "Tin tức" đặc biệt tăng thêm bốn trang, kỷ niệm việc này, cổ súy hữu nghị và thương mại. Trên trang xã luận còn đăng một lời xin lỗi:

Gửi đến quý độc giả yêu mến về việc báo tuần ra chậm

Xin giải thích với độc giả báo "Tin tức", chúng tôi cho rằng, việc báo kỳ này cần mở rộng thêm bốn trang có thể giải thích lý do tại sao báo không thể xuất bản đúng hạn. Vì sự mở rộng này, chúng tôi đã làm việc suốt đêm thứ Sáu, cả đêm không chợp mắt.

Từ "chúng tôi" ở trên chính là George S. Maynard, ông chủ và nhà xuất bản của báo "Tin tức", thị trưởng thị trấn Nome, một kẻ cú đêm chính hiệu.

Tôi thường tự hỏi, các ông trùm San Francisco thoáng nhìn thấy những nơi hoang vu, tiêu điều, ba nhà một làng ở phương Bắc này, không biết sẽ có cảm nghĩ gì. Nome chắc chắn là nơi gây sốc nhất. Những ngôi nhà xiêu vẹo ở Nome trải dài dọc theo con phố chính. Mọi người trong thị trấn đều sống dựa vào thực phẩm đóng hộp, hệ thống xử lý rác thải đơn giản mà tiện lợi, vỏ hộp rỗng trực tiếp vứt ra cửa sổ sau, rơi xuống bãi biển. Bãi biển chính là bãi rác lớn, vỏ hộp chất cao như núi, xét về thể tích kiến trúc thì chẳng kém gì nhà cửa. Tuy nhiên, tôi phải nói thế này về Nome: vào một thời điểm nào đó trong ngày, ánh mặt trời chiếu đúng chỗ, bãi rác liền trở thành một kỳ quan. Những vỏ hộp ở lớp trên cùng đột nhiên bắt lấy ánh mặt trời, lúc này, nhìn từ boong tàu đang neo đậu, bãi biển hình trăng khuyết như thể bốc cháy, trong chốc lát, thị trấn đào vàng tiêu điều trông như bị bao vây trong ngọn lửa, khiến người ta sững sờ kinh ngạc.

Tại Nome, ký ức rõ nét nhất của tôi là một lần gây họa. Sáng sớm hôm đó, tôi xách một thùng nước thải lớn ra trước rãnh rác rồi hất mạnh xuống, không hề hay biết rằng từ tối hôm trước, có một chiếc xà lan đã buộc sát cạnh tàu chúng tôi. Nước thải dội thẳng lên đầu và mặt một thủy thủ trên xà lan. Đó là một gã to con, hắn nhảy vọt lên tàu, gầm rú đòi giết kẻ thủ ác. Tôi hoảng hốt chạy trốn vào khoang hạng nhất, hắn tìm mãi không thấy tôi. Tuy nhiên, đoạn nhạc đệm này thực sự đáng sợ. Đến tận bây giờ, tôi vẫn có thể hình dung ra bộ dạng của hắn, trên đầu bết bát bẩn thỉu, đôi mắt đỏ ngầu, leo lên thang dây để tìm tôi.

Từ Nome, tàu Buford nhổ neo đi Tell, nơi thời kỳ cơn sốt vàng từng có hàng vạn người da trắng, nay chỉ còn lại hơn mười người. Sau đó, con tàu vượt qua eo biển Bering, đi qua vùng biển lặng sóng để tiến về phía những tảng băng trôi. Chúng tôi là con tàu chở khách đầu tiên tiến vào khu vực này của thế giới. Tại vùng Bắc Cực, tôi bắt đầu cảm thấy sự thiếu thốn trong tủ quần áo của mình. Tôi thậm chí còn không mang theo nổi một đôi tất len. Đêm xuống trời lạnh giá, nhưng sáng trưng suốt đêm, tàu chạy mà chẳng cần bật đèn. Một trong những nhiệm vụ của chúng tôi là ghé vào đảo Wrangel để đón hai người đang bị mắc kẹt ở đó. Chuyện này gây xôn xao khắp tàu, nhưng rốt cuộc vẫn đổ bể. Ở vĩ độ 70 độ Bắc, đường hàng hải bị băng cản trở, chúng tôi hoàn toàn không thể đến được Wrangel. Kết quả là chúng tôi chuyển hướng đi săn hải mã.

Khi những tảng băng hiện ra trong tầm mắt, thuyền trưởng Lane leo lên dây chằng cột buồm, dùng ống nhòm quan sát phía trước, các hành khách đứng trên boong nhìn ông đầy ngưỡng mộ. Thuyền trưởng nhanh chóng leo xuống, ra lệnh dừng tàu. Sau đó, điều khiến tôi vô cùng kinh ngạc là ông bỏ mặc chúng tôi rồi lén đi mất. Xung quanh toàn là băng, vậy mà ông lại thản nhiên rời đi - cùng với ba người Eskimo mà chúng tôi đón ở Nome, họ lên chiếc thuyền đôi để đi săn. Điều này khiến mọi người hơi hoang mang, những khối băng vây quanh thân tàu, còn thuyền trưởng thì biến mất. Những thợ săn đi rất lâu. Hành khách từ chỗ cảnh giác, phấn khích rồi dần dần chán nản việc ngóng đợi. Khi những thợ săn trở về với hai bàn tay trắng, ai nấy đều thất vọng. Ngày hôm sau, vận may của họ khá hơn, bắn hạ được bảy con hải mã. Chúng được cần cẩu kéo lên tàu, dỡ xuống boong trước, và lập tức bắt đầu phân hủy. Những cái xác khổng lồ này nằm cùng chúng tôi suốt nhiều ngày, đầu và da cuối cùng được giữ lại ở Bảo tàng Oakland. Nếu hướng gió thuận, chắc chắn giám tuyển của bảo tàng đã biết trước các vật trưng bày sắp đến nơi. Toàn bộ ghi chép của tôi về chuyến đi Bắc Băng Dương như sau:

Ngày 22 tháng 8, thứ Tư. Săn hải mã. Các quý bà đều cho rằng, những tảng băng trôi thật hùng vĩ, còn hải mã thì thật ghê tởm. Ông Snow ngồi trên xác hải mã, nghĩ ra vài câu đùa nghịch ngợm. Louis, người phục vụ của thủy thủ đoàn nói: "Thế giới này thật quá đẹp." Một cô gái buộc tóc đuôi ngựa đi lên boong, chỉ để nhìn xem hải mã trông như thế nào, sau đó quay về khoang của kỹ sư trưởng để đánh bài.

(Trong khoang của kỹ sư trưởng lúc nào cũng có ván bài - đây là một trong những điều về Alaska mà tôi nhớ mãi. Tôi còn nhớ đã nhìn thấy gấu Bắc Cực trong môi trường sống tự nhiên của chúng. Louis nói đúng, thế giới này thật quá đẹp.)

Khoảng ba giờ chiều ngày 23, Louis xông vào phòng ăn của tôi, xoay vặn tất cả các van, rồi lớn tiếng tuyên bố: "Nào, anh bạn! Nhanh lên, khẩn trương! Á Châu!" Hắn nhấn mạnh từng chữ một - "Á - Châu". Hắn thay một chiếc áo sơ mi sạch sẽ, vội vã muốn lên bờ gửi bưu thiếp. Chúng tôi cùng chạy lên boong, nhìn kìa - Á Châu, một mũi đất hoang vu gọi là Cape Serdtse, những mảng tuyết vương vãi trên mặt đất. Khi chúng tôi đến gần đất liền, xung quanh toàn là cá voi, vừa phun những tia nước nhỏ màu đỏ, vừa vỗ vỗ đuôi. Trên boong đầy rẫy xác hải mã hôi thối, những người Eskimo đói khát dùng dao xẻ thịt những cái xác khổng lồ, ăn tươi nuốt sống, tận hưởng chiến lợi phẩm như cách chúng ta cắt phô mai để ăn nhẹ. Những mảnh hải mã vụn nát đẫm máu chảy thành dòng trên boong, thân tàu rung lên vì những chấn động nhẹ. Các hành khách thì rung động vì cái tên Siberia; đây là điểm nhấn cho chuyến du ngoạn Bắc Cực của chúng tôi, khiến chúng tôi cảm thấy chuyến đi này không uổng phí, cái tên Công ty Vận tải Alaska-Siberia cũng vì thế mà trở nên chân thực không lừa dối. Ông Snow bước lên boong mũi tàu, đem những người Bolshevik ra làm trò cười.

"Không ai biết điều gì đang chờ đợi chúng ta," tôi viết. "Ban đầu, mọi người đoán già đoán non liệu có ai nổ súng vào con tàu hay không. Tóm lại, hành khách cảm thấy người Nga có chút thù địch." Dù có thù địch hay không, Phòng Thương mại San Francisco đang đối mặt với thời khắc mạo hiểm nhất, và có lẽ là thiếu tự tin nhất. Tôi không nghi ngờ gì rằng, nếu có ai nổ súng vào chúng tôi, ông Snow chắc chắn sẽ dùng số đạn dược còn lại sau vụ quấy rối sông băng Taku và săn hải mã để phản kích. Ông Hubbard rón rén bước trên vũng máu, phát hiện ra cái gọi là Siberia chẳng qua chỉ là hơn hai mươi người Eskimo mặc đồ lông thú và một người đàn ông da trắng ở rể. Tàu Buford vừa thả neo, họ đã chèo một chiếc bè da lên tàu. Trên bờ, chúng tôi thấy vài con chó cuộn mình nằm trong đám tuyết tàn. Lúc này, tôi phải trích dẫn lời của J. Wilbur Wolfe, một người viết nhật ký khác trên tàu Buford. "Tại đây," anh ta viết: "Lần đầu tiên tôi được tận mắt chứng kiến những túp lều của người Eskimo. Những người bản địa này thực sự khép kín, và thực sự là bẩn đến mức không thể tả."

Wilbur dùng vài đồng bạc đổi lấy một bao súng Siberia, ông Snow dùng một chiếc mũ cũ đổi lấy một tấm da gấu Bắc Cực. Sau đó chúng tôi đi về phía Cape East, kết quả nơi này cũng chỉ là bản sao của Cape Serdtse - mũi đất, bãi biển xám xịt, một túp lều xám, một lá cờ đỏ nhỏ bay phấp phới, những ngôi nhà dựng bằng da thú, sương mù hư ảo, những mảng tuyết tàn bên bờ biển, những ngọn núi thấp thoáng gợi lên một lục địa rộng lớn nằm ngoài sức tưởng tượng phía sau màn sương. (Có lẽ chính ký ức về sự xám xịt, đơn điệu tột cùng của Siberia đã thúc đẩy ông Ogden, cổ đông của tàu Buford, tìm kiếm một đồng cỏ xanh tươi cho con tàu của mình; chuyến hành trình tiếp theo của tàu Buford là quần đảo Samoa và Marquesas - về mặt tài chính cũng thất bại như chuyến đi Siberia, nhưng ít nhất cũng là một kỳ nghỉ lười biếng.) Về mặt cảm xúc, cả tàu Buford và hành khách của nó đều đã chán nản, chỉ muốn quay đầu về nhà. Thuyền trưởng Lane điều khiển con tàu vượt eo biển, ghé lại Nome vừa đủ thời gian cho mười hành khách lên tàu, rồi lập tức quay đầu trở về. Tàu tuần tra Bear của Lực lượng Tuần duyên, tàu kéo Genevieve và một con tàu của Công ty Vận tải Hudson Bay đều kéo còi chào tiễn biệt, trên bờ cũng vang lên tiếng còi tàu. Chúng tôi đi qua False Pass, đón thêm vài công nhân nhà máy đồ hộp, hiên ngang vượt Thái Bình Dương thẳng tiến tới Seattle. Không lâu sau khi lên đường, gió mạnh ập đến.

Người mới lên tàu từ Nome khiến chỗ ở trên tàu Buford trở nên chật chội, Wilbur và tôi là những người đầu tiên nếm trải mùi vị đó. Chúng tôi bị đá khỏi khoang hạng nhất. Trong phút chốc, cả hai dường như không còn chỗ dung thân, cho đến khi một thiên tài ở bộ phận quản lý tàu nhớ ra căn phòng giam trên tàu. Đó là một cái lồng sắt chật hẹp, kích thước sáu feet vuông, có hai chiếc giường tầng cứng nhắc, hẹp nhỏ - một căn phòng nhỏ gọn ít người lui tới. Nó nằm ở tầng hai, Wilbur và tôi, ban đầu kinh ngạc, sau đó lại cảm thấy hài lòng. Về phần mình, tôi rất vui khi được chuyển vào phòng giam, tránh cho gã thợ đốt lò phát hiện tôi đang ở khoang hạng nhất. Wilbur thích nơi ở mới của chúng tôi vì nó là một căn phòng hướng biển. "Dù sao thì," anh ta viết trong nhật ký, "con người luôn có thể thích nghi với môi trường mới."

Thứ sống động nhất trong môi trường mới của chúng tôi là một ống thoát nước lớn, ồn ào, chạy dọc thẳng đứng từ phòng vệ sinh được ưa chuộng ở tầng trên xuống. Chúng tôi cuộn quần áo vào khăn trải giường, nhét sau đường ống. Cửa phòng giam là tấm thép dày, ngưỡng cửa cao khoảng một feet, phải bước lên bước xuống mới qua được. "Chúng tôi dọn dẹp căn phòng như một tẩm cung," Wilbur viết với vẻ đắc ý như loài chim sau khi làm tổ. "Ưu điểm: kín đáo hơn [nhờ vậy mới cất giấu được thực phẩm ăn trộm], sáng sủa hơn, hướng ra biển; không khí trong lành, tính độc lập cao hơn. Nhược điểm chắc sẽ dần lộ ra thôi."

Nhược điểm không cần chờ đợi lâu để lộ diện. Lần chao đảo đầu tiên của tàu Buford trong gió mạnh, căn phòng ngủ tí hon của chúng tôi đã hứng chịu hậu quả đầu tiên. Cửa sổ cố định bị rò rỉ, không biết làm sao, nó chặn không khí bên ngoài nhưng lại mặc sức cho nước biển tràn vào. Nước biển trong phòng bị ngưỡng cửa chặn lại, sâu trung bình mười inch. Thân tàu vừa lắc lư, dạ dày của Wilbur bắt đầu cuộn trào, anh ta đổ gục xuống tầng dưới, nằm vật vờ suốt ba ngày, tiếng rên rỉ hòa cùng tiếng ồn ào của ống thoát nước. Giường của anh ta giống như một tảng đá nhô ra, hứng chịu thủy triều lên xuống trong phòng, bị nước rửa trôi không ngừng.

Hành khách trên tàu Buford uống rượu, ăn uống suốt ngày đêm, ai nấy đều bơ phờ. Hơn một nửa thủy thủ bị say sóng. Phòng ăn của tôi gần như trống không, nhưng tôi vẫn phải bày biện cơm nước lên bàn, bất kể họ có còn sức để thưởng thức hay không. Tôi còn phải bận rộn pha chế những loại cocktail đặc biệt, những gã bạn của tôi còn trông chờ vào thứ này để giảm bớt đau khổ - kem dứa điểm xuyết dưa muối chua cay, lượng nước mận và nước cà chua bằng nhau, thêm một chút nhục đậu khấu, trứng lòng đào và cà rốt ngâm, gừng lát thêm tương cà chua gia vị.

Ngày thứ hai sau khi bão ập đến, tôi vừa bày xong bữa trưa, tàu Buford đã hất tung mọi thứ lên boong. Con tàu vốn im lìm ở Bắc Cực, lúc này kêu vang ầm ĩ. Hàng hóa trong kho bắt đầu đổ nhào, các thủy thủ, những người còn đứng vững, bận rộn suốt cả đêm để đặt lại hàng vào chỗ cũ. Những thùng cá lớn trong phòng lạnh bị lỏng, lăn lộn khắp nơi, đâm gãy ống làm lạnh, nước muối đặc tràn ra đầy sàn. Ở phía trước boong chính, vài con chó Bắc Cực hứng chịu trực tiếp cơn bão, chúng là những món quà lưu niệm khá "tao nhã" mà người sưu tầm chuẩn bị mang về nước. Tôi nghĩ có hai con chó đã bị sóng cuốn xuống biển. Những con khác thoát khỏi dây buộc, lao đầu vào phòng sơn, chẳng mấy chốc đã không còn hình thù gì nữa. Hai gã thợ đốt lò đến phòng ăn, tranh luận một cách nghiêm túc xem ai trong số họ bị say sóng và nôn mửa. Trong suốt thời gian bão quét, Louis mất việc, tôi vẫn không biết vì lý do gì.

Đối với hầu hết hành khách, chuyến đi kết thúc trong sự mê sảng và u ám. Đối với tôi, đó là một khúc khải hoàn. Ba ngày gió mạnh khiến tôi cảm thấy vui sướng và sảng khoái; tôi chạy tới chạy lui, chăm sóc bệnh nhân, thực hiện nghĩa vụ của mình. Tôi không say, không nôn, bình an vô sự vượt qua cơn bão lớn đầu tiên trong đời trên biển. Mặc dù chiếc ghế dài nặng nề trong phòng ăn đổ xuống làm bị thương một ngón chân của tôi, nhưng điều đó cũng không làm giảm đi sự nhiệt tình của tôi đối với công việc phục vụ phòng ăn trong gió bão. Tôi, Florence Nightingale của phòng ăn và nhà tù, không khỏi đắm chìm trong khả năng của chính mình. Sự đắm chìm này càng dâng cao nhờ một mẹo nhỏ mà tôi phát minh ra: khi tàu lắc lư, tôi không bám víu vào bất cứ thứ gì, chỉ mặc cho cơ thể lắc lư theo từng nhịp lên xuống. Lý thuyết của tôi là sự kháng cự của cơ thể, ít nhất ở một mức độ nào đó, đã dẫn đến say sóng. Sự tự đắc này của tôi có lẽ chẳng có gì to tát, nhưng trong ba ngày ba đêm sóng gió dữ dội ở Bắc Thái Bình Dương, tôi loạng choạng đi dọc hành lang, cơ thể chiều theo biển cả, cứ như thể biển cả là người dẫn vũ, còn tôi đang khiêu vũ cùng nó.

Chỉ vài giờ nữa, tôi sẽ kết thúc chuyến hành trình chạy trốn đến vùng cực Bắc xa xôi. Bây giờ tôi đang đâm đầu về phía Đông Nam, sắp trở thành kẻ thất nghiệp, không biết phải làm gì với bản thân. Tôi để lại sau lưng chuyến đi Utopia đầy màu sắc, nhặt lại sự nhàm chán của ngày xưa - một cái bàn trước văn phòng, trải qua ngày dài trong tiếng tích tắc của đồng hồ, những buổi chiều buồn tẻ vào Chủ nhật ở vùng ngoại ô, sự trốn chạy vô ích không hồi kết của tuổi trẻ thất nghiệp (đi dạo trong vườn thú, lang thang đêm khuya, hút thuốc phiện trong rạp chiếu phim tối tăm). Tình cảnh đó không có định hướng - tôi hiếm khi cố gắng quy phạm nó, nó giống như một con chim chết treo lơ lửng trên đầu tôi. Nhưng trong khoảnh khắc cuối cùng trên tàu Buford, cơn gió mạnh mang đến cho tôi sự nhẹ nhõm nào đó. Khi bão tố cuồng nộ, tư duy là điều không thể, tương lai bị gió lớn và sóng biển cuốn đi, tôi cuối cùng đã sống trong hiện tại, và hiện tại thật huy hoàng - phong phú, tốt đẹp, đáng sợ. Tất cả những khao khát về cuộc sống của tôi đều đặt ở đây, như thể tôi uống cạn từng đợt sóng lớn ập lên boong, sau đó vẫn cảm thấy khát. Cuối cùng, tôi đã tạm thời thích nghi với một thế giới khắc nghiệt và chinh phục được nó; những người khác đều say sóng, còn tôi lại tràn đầy sức sống. Trong cuộc đọ sức oanh liệt này, tôi đã thoát khỏi mọi sự u sầu và phiền muộn. Tôi luôn vừa sợ hãi vừa yêu biển cả, cơn gió mạnh ập vào mặt chính là cô dâu của tôi, chúng tôi đã cùng nhau trải qua ba ngày trăng mật. Trong sự hung bạo và biến động, tôi đã nhận được sự vui sướng và an ủi không ngờ. Tuổi trẻ luôn có vô vàn những băn khoăn - về tư tưởng, tâm hồn, thể xác. Trong những năm tháng thanh xuân, tôi nghĩ mình đã nhận được nhiều hơn những gì đáng có. Sự đan xen của nhiều yếu tố, cộng với một công việc tầng lớp thấp nhất, đã giúp tôi có được sự giải thoát khao khát bấy lâu.

Tuần trăng mật nhanh chóng kết thúc, gió lặng, tàu Buford trở lại bình ổn. Ngày 4 tháng 9, chúng tôi cập cảng Seattle. Tôi nhận lương và rời tàu lên bờ. Mục tiếp theo trong nhật ký là ngày 6 tháng 9, tôi đang ở trong một căn phòng tại khách sạn Fay - đó là một bài thơ, tiêu đề là "Chantecler":

Cô đã chuyển bao nhiêu suất bít tết từ quầy,

Cô gái cánh tay trắng ngần, kể từ khi tôi rời đi?

Cô đã nói bao nhiêu lần,

"Có cần nước sốt không?"

Cánh tay cô vẫn trắng ngần,

Cô vẫn là khung cảnh trong toàn bộ đại sảnh,

Vượt xa cả những món mỹ vị.

Cô đứng ở đó,

Nhà hàng vì thế trở thành một phần của tháng Chín,

Tháng Chín, cô gái à, là một phần của thế giới -

Một phần bi tráng, tươi đẹp.

Cô đã chuyển bao nhiêu suất bít tết từ quầy,

Cô gái cánh tay trắng ngần, kể từ khi tôi rời đi?

Giống như vô số câu hỏi đã khuấy động tôi trong những năm tháng phiêu bạt tốt đẹp đó, câu hỏi này cũng mãi mãi không có đáp án.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của E.b.white