Chuyện Nghề Của Thủy

Lượt đọc: 7801 | 8 Đánh giá: 9,8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HAI MƯƠI HAI

Câu chuyện chiến tranh không kết thúc khi đã im tiếng súng. Nó không kết thúc khi những người lính sống sót trở về nhà.

Nó chỉ kết thúc khi hòa giải...

Nói với nhau nhiều chuyện, tôi bỗng phát hiện ra một điều rằng nếu những cuốn phim của Trần Văn Thủy bao giờ cũng xoay quanh một vấn đề day dứt nhất, đó là thân phận con người thì khi đất nước thống nhất, điều Trần Văn Thủy suy nghĩ nhiều nhất là sự hòa hợp hòa giải. Suy cho cùng cũng vẫn là thân phận con người mà thôi, nhưng bức thiết hơn, cụ thể hơn và cũng nóng hổi hơn. Vậy mà rất tiếc, sau gần bốn mươi năm chúng ta, những người Việt Nam chưa làm được bao nhiêu.

Một dân tộc đã gần như vắt kiệt tinh thần và sức lực cho cuộc chiến tương tàn, đất nước đã thống nhất mà lòng người còn chia cắt, con người vẫn chưa tự giải phóng khỏi những hận thù thành kiến, những quan niệm lỗi thời, chưa thoát ra được cái xích chính mình tự chằng vào mình. Lợi ích dân tộc là tối cao, điều đó mới chỉ thể hiện trên lời nói một cách yếu ớt, miễn cưỡng cho phải đạo.

Tôi bảo Thủy:

- Thủy ơi, ông có chia sẻ với mình về điều này không:

“Câu chuyện chiến tranh không kết thúc khi đã im tiếng súng. Nó không kết thúc khi những người lính sống sót trở về nhà. Nó chỉ kết thúc khi hòa giải...”

- Có nghĩa là chừng nào chưa hòa giải, chừng đó chiến tranh vẫn còn ? Ở đâu ra cái câu hay như thơ thế?

- Đúng thế, chiến tranh vẫn còn và có thể gọi là chiến tranh lạnh. Nhưng thôi, mình chẳng dám đạo ý tưởng của ai đâu, câu đó mình đọc được trong bài phát biểu của Đại sứ Peter Peterson trong bữa tiệc chiêu đãi nhân dịp tặng giải thưởng Christian Herter cho thượng nghị sĩ John Kerry và John McCain, những người có công lớn trong việc hòa giải giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Nguyên văn là:

But the story of war doesn’t end when the guns go silent.

It doesn’t end when the survivors go home.

It ends at the moment of reconciliation.

Bài diễn văn này mình được anh Nguyễn Quang Dy gửi cho. Anh Dy là Nieman Fellow năm 1993; đã từng làm cố vấn cấp cao cho trường Fulbright tại Sài Gòn và Chương trình Việt Nam của trường Kennedy tại Harvard.

Sau này gặp lại Rugerd - người đã dừng xe ở bên vườn Bách thảo chờ nhận bộ phim “Chuyện Tử Tế” để bí mật chuyển sang Leipzig dự Liên hoan phim năm 1988, Trần Văn Thủy có nhắc lại chuyện đó và cám ơn anh ta. Rugerd nghe lần thứ nhất dửng dưng, lần thứ hai, anh ta khó chịu; câu chuyện đưa đẩy đến lần cám ơn thứ ba thì anh ta nổi nóng và nói: “Tôi chuyển cuốn phim đi không phải vì Trần Văn Thủy, cũng không phải vì Việt Nam mà vì nước Đức!”.

Anh ta yêu nước Đức, Đông Đức cũng có những vấn đề như thế, anh ta muốn người Đức cư xử với nhau tốt hơn sau khi xem cuốn phim đó. Hai người nói chuyện trong bối cảnh nước Đức sắp thống nhất. Rugerd đang ở trong tâm trạng rất buồn vì không còn việc làm, không hiểu số phận rồi sẽ ra sao. Nhưng anh ta nói: “Tôi tin nước Đức sẽ sáng sủa hơn và sẽ phát triển.”

Chúng tôi bỗng nghĩ đến đương kim thủ tướng Đức, vị thủ tướng xuất sắc của châu Âu, người được đánh giá là người đàn bà quyền lực nhất thế giới, bà Angela Merkel. Trước khi nước Đức thống nhất, cũng như hầu hết học sinh Đông Đức khác, Merkel là đoàn viên Đoàn Thanh niên Tự do Đức, một tổ chức thuộc đảng Cộng sản, về sau trở thành ủy viên quận đoàn và bí thư chuyên trách dân vận và tuyên truyền tại Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa Dân chủ Đức.

Điều đó nói lên rằng, một quốc gia coi tất cả những người tài giỏi là nguyên khí của dân tộc là một quốc gia có tầm văn hóa cao và có tiền đồ phát triển.

Hòa giải là nhu cầu tự nhiên của tấm lòng chứ không thể là phương châm hay là sách lược. Sự hòa hiếu là có sẵn trong tâm hồn mỗi con người lương thiện, khi đã có tấm lòng thì có hòa giải.

Thủy có ý định khi nào gặp lại Rugerd, sẽ hỏi anh ta: Người Đức không có những câu “ Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước thì thương nhau cùng.” ... rồi thì “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia ”... mà tại sao các bạn làm hay thế!

Khi cuộc hội thảo Văn học Việt - Mỹ (6-2010) ở Kim Bôi, Hòa Bình kết thúc, tôi đã trả lời phỏng vấn đài RFI. Trong đó tôi trình bày rành mạch quan điểm của tôi về sự hòa giải. Bài trả lời còn lưu lại trên mạng. Đoạn cuối nguyên văn như sau:

Bao giờ mới có được sự hòa giải giữa người Việt với người Việt?

...Chẳng ai muốn chiến tranh cả, nhưng chiến tranh lỡ xảy ra và đã qua rồi, bây giờ những người hai bên chiến truyến lại trở thành bạn bè. Các cựu chiến binh Mỹ đã từng đến Việt Nam tham dự các hoạt động thiện chí, thăm hỏi, đến nhà các bạn Việt Nam dự lễ tang, lễ cưới... của thân nhân bạn bè mình ở Việt Nam, cư xử với nhau chân tình như bạn bè vậy.

Trong bối cảnh đó, một câu hỏi rất lớn được đặt ra như một lẽ tự nhiên: Vậy thì sự hòa hợp giữa người Việt với người Việt ra sao?

Thưa các bạn trẻ, trong hội trường của chúng ta ngày hôm nay, có rất đông các bạn là sinh viên khoa Văn của trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Các bạn là tương lai. Xin cho tôi được đối thoại với tương lai. Tất cả những tham luận trước không đề cập đến vai trò của các bạn trong hội thảo này. Tôi muốn nói với các bạn rằng, vấn đề hòa hợp giữa người Việt và người Mỹ coi như đã xong, đã có cái kết có hậu. Nhưng cái gánh nặng hòa hợp hòa giải giữa người Việt với người Việt thì hình như đến thế hệ các bạn vẫn còn quá nhiều việc phải làm. Câu chuyện này dài lắm. Các bạn sẽ có thời gian để tìm hiểu một cách khách quan, thấu đáo và chân thành. Nhưng theo thiển ý của tôi, qua những va chạm và hiểu biết của mình, tôi thấy rằng, để tiến tới hòa hợp hòa giải giữa người Việt ở trong nước và người Việt ở nước ngoài, thậm chí giữa người Việt trong nước với nhau, cần phải đặt ra những nguyên tắc và những định hướng nào đó. Có như vậy việc hòa hợp hòa giải mới trở thành hiện thực được.

Có thể có những góc nhìn khác nhau: góc nhìn của người ở hải ngoại, của những người trong nước, của những người cầm quyền, của những người không có quyền, những người bình dân, những người trí thức... Nhưng theo thiển ý của tôi, có lẽ có hai nguyên tắc chính để đi tới sự hòa hợp hòa giải.

Một là: Chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt;

Hai là: Công bằng và minh bạch với quá khứ.

Nếu không chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt thì không bao giờ đi đến sự hòa hợp hòa giải cả. Đây là vấn đề khoa học và triết học, chứ không phải là vấn đề lập trường quan điểm hay ý thức hệ.

Về điều thứ hai, những kinh nghiệm về sự hòa hợp hòa giải giữa Đông và Tây Đức, về sự hòa giải của nước Mỹ sau cuộc nội chiến năm 1860 - 1865 cho thấy tầm quan trọng của sự công bằng và minh bạch với quá khứ.

Nếu chúng ta biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt nhưng không công bằng và không minh bạch với quá khứ, thì chắc chắn là cũng không thể dẫn đến sự hòa giải thực sự bền vững được. Đó là những điều căn bản nhất mà tôi tâm niệm và đã trình bày trong cuộc hội thảo này.

Điều cuối cùng, tôi muốn nhắc lại điều đã nói với các bạn trẻ trong hội thảo, đó là:

“Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác, bởi thế chúng ta phải coi trọng đời sống tinh thần, đặc biệt đời sống tinh thần của cả một dân tộc.”

Người dịch: Lê Quốc Hưng
Đánh máy: Fish, vqsvietnam, bống yêu, hungbc1010, hoi_ls, Huỳnh Thảo, hathao, lemontree123, conguyen
Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »