Amelia bị nỗi đau khổ dày vò sâu sắc. Cô, như những người bạn của cô vui vẻ thông báo, đang cố kéo mình ra khỏi vũng lầy. Chẳng có lời nhắn gửi nào từ Alex, nhưng ngày nào cũng có tin đồn loang ra từ những thám tử của hệ thống điệp báo “thông tấn xã vỉa hè”. Người ta thấy Alex ăn trưa ở Brussels với Barbara Bayne. Người ta thấy anh đi nhảy ở Persian với Barbara Bayne. Người ta thấy Alex ở Greenwich Village, ở Harlem, ở đại lộ số Ba, ở Ritz, ở Marguery, ở Penthouse Club... và luôn luôn là với Barbara Bayne.
Amelia cần mẫn lục lọi trong quần áo và giấy má thư từ của Alex để tìm những đầu mối dẫn tới mối quan hệ trước đây với Barbara Bayne, nhưng chẳng thấy gì cả. Cô cũng không tìm thấy bất cứ cái gì liên quan đến bất cứ người phụ nữ nào khác, song trí tưởng tượng của cô đã vẽ nên những bức tranh sặc sỡ và lố bịch về những cuộc ngoại tình đầy nhục dục với những người đàn bà quyến rũ bất cứ lúc nào Alex đi khỏi tầm mắt của cô kể từ khi họ lấy nhau.
Những người bạn gái của cô biểu lộ sự thông cảm, rõ ràng là muốn an ủi cô mỗi khi họ tụ tập vào giờ uống trà để làm ba hay bốn ly martini, nhưng Amelia cảm giác rằng sự cảm thông ấy là giả dối, và rằng họ, trong những bữa tiệc và những buổi khiêu vũ từ thiện đang vui sướng ngấm ngầm vì thấy có thêm một người nữa bị đau đớn. Hầu hết những cô bạn của Amelia đều là nạn nhân của tấn bi kịch hôn nhân; tất cả, bằng cách này hay cách khác, đều đã gặp “chuyện với Bill”, Dick hoặc Jim. Một số trong đó là chuyện giữa thư ký và sếp - một người, hay châm chọc hơn những người khác, đã từng là một thư ký gây nên sự đàm tiếu và bây giờ cô ta nghi ngờ chồng gấp đôi vì nhớ lại cách mình đã chài anh ta như thế nào. Một số khác chỉ là những chuyện thường gặp, chuyện trong chuyến đi công tác ngoài thành phố, hay chuyện với cô láng giềng xinh đẹp, hoặc bất cứ loại chuyện gì có thể xảy ra trong thời gian mệt mỏi vì cuộc sống vợ chồng. Hầu như tất cả đều hả hê trước nỗi đau đớn của Amelia.
Amelia Barr soi mình kỹ càng trong gương, và thấy một người đàn bà tóc nâu mắt xanh xinh đẹp mới ngoài ba mươi tuổi - bộ ngực đẹp, làn da đẹp, cặp hông đẹp, đôi chân đẹp (và, cô bắt buộc phải thừa nhận, hừng hực ham muốn mà không được thỏa mãn) rồi đau đớn tự hỏi cô đã làm điều gì sai. Cô đã luôn, cô nghĩ, là một người vợ hiểu biết và đáng yêu. Cô nhìn ngôi nhà của cô, thấy nó thật tiện nghi và hợp thị hiếu. Cô nhìn tủ quần áo của cô, thấy những bộ váy áo trang nhã đắt tiền, những đôi giày đẹp và những bộ đồ lót tuyệt vời. Cô nhìn bếp của cô, thấy nó thật gọn gàng sạch sẽ; cô nhìn những người hầu của cô, thấy họ thật thành thạo. Lò sưởi không có khói, thang máy không kêu cót két. Những khay đá đẹp đẽ trong tủ lạnh. Rượu ở chỗ bàn uống rượu bằng tre luôn đầy đủ, và đồ ăn dự trữ luôn thừa thãi. Cô đã dành nhiều thời gian cho chỗ uống rượu này. Cô nhìn vào gương lần nữa và thấy mình đã dành quá nhiều thời gian cho chỗ uống rượu này. Làn da sạch sẽ đã bắt đầu bị sạm; cặp mắt xanh chớm có tia máu, và mí mắt dưới bắt đầu sưng phồng.
Cô thấy mình nhận được rất ít sự giúp đỡ và an ủi từ những người bạn gái của cô, và ngẫm thấy rằng trong suốt những năm qua ở New York, cô chỉ kiếm được một - nhiều nhất là hai người bạn gái. Số còn lại là những người quen cũ - những người quen mà người ta thường hôn lên má ở những bữa tiệc cocktail, cùng nhau đi ăn trưa, gặp nhau ở tiệm làm đầu, ngồi cạnh nhau khi ăn tối và đi đến Paris, London hay Rome. Amelia Barr là người đàn bà rộng rãi và hào phóng. Cô không bận rộn vì con cái, và ở New York thì chẳng có ai để giao thiệp với. Không có ai, trừ Francis Hopkins.
Alex Barr, với miệng lưỡi châm chọc sắc nhọn của anh, một lần đã nhận xét sau khi Francis đi khỏi: “Một gã lại cái trong nhà đáng tin cậy là cái thiết yếu cho một cuộc hôn nhân hiện đại ở New York cũng giống như tính dâm đãng và cha rửa tội vậy.” Tai hại là giờ đây Amelia bắt đầu tin như vậy.
Cô sợ - hay có lẽ không sợ, nhưng không muốn đi tới những quán ăn quen thuộc, vì ngại phải chạm trán với Alex và người đàn bà có tên Barbara ấy, người bằng mọi lý do đã xuất hiện một cách khá là trơ tráo ở nơi công cộng; nắm tay nhau, rỉa lông cho nhau và đắm đuối trong mắt nhau. Việc ăn uống ở nhà đã làm cô chán ngấy, vì vậy cô ngày càng trở nên phụ thuộc vào Francis Hopkins. Francis là cột trụ vững vàng, anh mời cô tới căn hộ của anh để ăn trưa. Anh đưa cô đi ăn tối ở những quán đèn mờ mà như anh nói, “Alex và cô gái của anh ta không thể biết.” Sau khi người đầy tớ đã ra về, anh sẽ rán vài quả trứng hoặc làm món salát đặc biệt của anh trong căn hộ của Amelia. Nhưng phần lớn thời gian là anh ngồi nghe cô một cách kiên nhẫn, và để cô khóc thỏa thích. Anh đồng ý với cô khi cô nguyền rủa tất cả lũ đàn ông khốn nạn, và Barr là kẻ khốn nạn nhất trong số đó, nhưng anh đủ thông minh để không chĩa mũi dùi chỉ trích vào Alex. Đó là sự khôn ngoan mà anh đã thu lượm được; anh đã thấy Amelia nhảy chồm lên như con hổ cái khi có người dám cho rằng Alex Barr không phải là nhà văn giỏi nhất thế giới và là mẫu mực của giới đàn ông.
Đúng hai tuần sau khi Alex đi khỏi nhà, và hầu hết các quán bar có tiếng đều lan truyền tin đồn tuyệt vời về mối tình lãng mạn mới nhất và nóng bỏng nhất (nó không được đưa lên báo vì tất cả những kẻ cầm bút có vợ đã đoàn kết với nhau), Francis mang cho Amelia ly Scotch thứ năm sau bữa tối và lên mặt nghiêm nghị
“Em phải dừng ngay những trò ngu ngốc này lại,” Francis nói. “Em uống rượu như hũ chìm, sướt mướt và thành thực mà nói, em bắt đầu giống như sự phẫn nộ của Chúa. Em để đầu bù tóc rối và ngày càng cẩu thả hơn. Từ đêm Alex bỏ đi anh đã nói với em cần làm, song em chẳng làm gì cả. Anh đánh cuộc là em không nghĩ đến chuyện đi đến nhà an dưỡng Nuyu. Em cũng chẳng mua bộ quần áo mới nào. Tất cả những gì em làm là ngồi một chỗ và tự thương xót mình. Alex chẳng cần cái đó. Chẳng người chồng nào cần cái đó cả”.
Cặp mắt Amelia đỏ mọng do trận khóc mới đó.
“Thực ra em đã nghĩ đến việc đi đến nhà an dưỡng, nhưng em vẫn hy vọng Alex sẽ trở về - giống như tỉnh dậy sau cơn ác mộng - và em ghét cái ý nghĩ phải giam mình một chỗ giống như kẻ tội phạm với hàng đống phụ nữ béo ị, tập những bài thể dục ngớ ngẩn và uống rặt nước cà rốt”.
Francis đứng dậy và ngáp dài. Anh nhìn đồng hồ.
“Bây giờ là ba giờ sáng,” anh nói. “Có lẽ anh sẵn lòng để em tự giết mình, nhưng anh sẽ không để em giết anh. Giờ thì nghe đây.” Giọng anh trở nên cứng rắn. “Ngay sớm mai anh sẽ liên hệ với người ở Nuyu, và anh sẽ đặt vé máy bay cho em đến Denver. Hãy xếp tất cả những bộ quần áo đẹp nhất của em vào một cái túi quái quỷ nào đó thật to - ở đó phụ nữ diện cho cả bộ răng để đi ăn tối. Ít ra là họ làm thế ở Arden. Và anh sẽ điệu cổ em ra máy bay cho dù phải còng tay em lại.”
“Nhưng em không muốn đi,” Amelia ương bướng nói, hàm cô bạnh ra. “Em khỏe mà. Em sẽ khỏe mà.” Cô gõ những ngón tay.
“Quỷ bắt cái sức khỏe của em đi,” Francis cáu kỉnh nói. “Nơi em sẽ ở là Bellevue, và anh sẽ không rời em nửa bước. Đừng làm bộ nữa, nào. Hãy uống hết cốc của em đi, uống một viên thuốc, đi ngủ và sẵn sàng mọi thứ vào ngày mai. Anh sẽ lái xe đến và đưa em lên máy bay. Anh sẽ lo chuyện đặt phòng khách sạn cho tối mai ở Denver, và ngày kia em có thể đi đến khu trại điều dưỡng. Có nghe anh không?”
Amelia lại khóc nức nở, giấu mặt vào cổ áo của Francis. Anh cố ý né người, tránh xa sự va chạm.
“Giờ thì đủ rồi,” anh nói dịu dàng hơn. “Đi nào. Mặc quần áo ngủ vào và anh sẽ đặt em vào giường. Đi thôi, hay anh phải phát vào mông em.”
Amelia sụt sịt, và mỉm cười.
“Anh thật tốt với em quá, Francis,” cô nói. “Em không biết mình sẽ làm gì nếu không có anh.”
“Anh cũng thế,” Francis thì thầm, nhìn chăm chăm lên trần nhà. “Lạy Chúa, anh cũng thế.”