Án Mạng Trên Núi Phú Sĩ

Lượt đọc: 1853 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sự nghiệp của Natsuki Shizuko theo từng năm

Các tác phẩm sẽ được đề cập kèm với năm sáng tác. Chữ in đậm là tên tác phẩm. Thông tin trong ngoặc ( ) là chú thích đặc biệt. Trong trường hợp tác phẩm được tổng hợp trong một tập truyện lớn sẽ được chú thích trong ngoặc < >.

Thông tin tham khảo: Sự nghiệp của tác giả (Tuyển tập 10 tác phẩm của Natsuki Shizuko)

Tuyển tập “Sự nghiệp của Natsuki Shizuko” của Hoshino Minako trích từ cuốn “Các nhà văn nữ”

Tổng hợp bởi Yamamae Yuzuru

Năm 1938 (Showa 13)

Bà sinh vào ngày 21 tháng Mười Hai ở Shiba Nishiokubo, quận Minato, Tokyo. Tên thật của bà là Igarashi Shizuko (sau khi kết hôn bà đổi họ thành Idemitsu). Cha bà là Kotaro, mẹ là trưởng nữ nhà Kime. Bà có một người anh trai hơn bốn tuổi là Kozo (Sau này ông cũng xuất bản hai tựa sách có tên Tiếng thở dài của đàn violon – D-day trên cao nguyên với bút danh Igarashi Hitoshi)

Năm 1943

Mùa thu, gia đình bà chuyển đến Higashiyama ở Atami. Họ đã sống ở một ngôi nhà có khung cảnh tuyệt vời nằm bên một con đèo nhỏ hơi nghiêng về phía Nam.

Năm 1945

Bà đã nhập học vào một trường công lập vào tháng tư nhưng đến tháng sáu gia đình lại chuyển đến tái định cư ở làng Sasama ở thượng lưu sông Oigawa, tỉnh Shizuoka (nay là làng Kawane) nên bà đã chuyển sang trường công lập Sasama. Nhiều năm sau, vùng đất ở ngôi trường bà từng theo học đã trở thành “Thư viện Natsuki” và là nơi tổ chức cuộc thi viết Natsuki Shizuko dành cho học sinh cấp hai. Truyện ngắn “Kẻ lưu vong” của bà cũng lấy bối cảnh ở Kawane.

Năm 1946

Tháng Hai, gia đình bà từ nơi tái định cư trở về Atami. Tháng Tư, bà chuyển trường về trường Tiểu học số 1 thành phố Atami. Đến khoảng năm lớp năm, lớp sáu thì bà bắt đầu ấp ủ suy nghĩ muốn trở thành tiểu thuyết gia.

Năm 1952

Tháng Tư, bà nhập học vào trường cấp hai Atami. Từ năm thứ hai bà bắt đầu đọc tiểu thuyết của Edogawa Rampo và Yokomizo Seishi. Sau đó, bà trở thành độc giả thân thiết của các nhà văn như Natsume Soseki, Dazai Osamu, Mishima Yukio và Hemmingway. Đến năm thứ ba, bà đã rủ bạn cùng lớp và những người bạn học cấp 3 thành lập tạp chí “văn học Izu”. Dù chỉ tồn tại được đến số thứ tư nhưng nhóm cũng phát triển được khá nhiều tiểu thuyết.

Năm 1954

Tháng Tư bà vào học tại một trường cấp 3 trực thuộc Đại học nữ sinh Nhật Bản. Bà sống ở ký túc xá tại Kawasaki nhưng khoảng tháng Chín, cả gia đình lại chuyển về Tokyo và sống ở quận Meguro. Bà rất thích cuốn sách bán chạy “Phương pháp viết tiểu thuyết” của Niwa Fumio. Đến năm bà học lớp mười một, trường có tổ chức giải nhà văn mới và bà định tham gia. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cha, bà bắt đầu yêu thích những tác phẩm trinh thám.

Năm 1957

Tháng Tư bà bắt đầu học tại khoa Văn trường Đại học tư thục Keio. Bà bắt đầu học về sân khấu và tìm đến tất cả những lễ hội kịch tại các trường đại học trên toàn quốc.

Năm 1960

Vào kỳ nghỉ hè năm thứ ba Đại học, bà đã viết cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên “Cái chết sai lầm” và gửi tham gia giải thưởng Edogawa Rampo lần thứ 6. Bà lọt vào danh sách ứng viên cuối cùng nhưng lại không được chọn. Được lời giới thiệu của giám khảo cuộc thi năm đó là Watanabe Kenji, bà bắt đầu viết nội dung cho chương trình trinh thám nổi tiếng trên NHK có tên “Sự thật chỉ mình tôi biết.” Bà cộng tác trong vòng bốn năm và viết được khoảng gần 30 câu chuyện.

Năm 1961

Bà tốt nghiệp khoa Văn trường đại học Keio vào tháng Ba. Đến tháng Chín, bà tham gia “Nhóm sương mù” tập trung những tác giả trinh thám nữ.

Năm 1962

Sau khi trao đổi với những người đi trước và bạn bè, bà đã quyết định đổi bút danh thành Natsuki và sáng tác cuốn “Đóa hoa giả màu đỏ” và “Sợi xích thủy tinh” (Lọt vào danh sách đề cử cuối cùng cho giải Hoseki, sau này được xuất bản lại với cái tên “Sợi xích trong bóng tối”), “Tập thơ màu xanh”. Bà chọn bút danh này là bởi thích hình ảnh cây cổ thụ vươn mình trong ngày hè nắng nóng.

Năm 1963

Bà kết hôn với Idemitsu Yoshihide. Trước đó bà đã hoàn thành một cuốn tiểu thuyết dài và giao cho biên tập viên đọc thử nhưng lại không được xuất bản. Bà ngừng việc viết tiểu thuyết và học tiếng Anh cùng với những người vợ ở căn cứ của lính Mỹ.

Năm 1967

Bà sinh con gái đầu lòng.

Năm 1968

Bà muốn mang những trải nghiệm mới mẻ của việc làm mẹ vào tác phẩm mình viết nên khi cuối tháng Năm, khi con gái được hơn một tuổi, bà bắt đầu vừa nuôi con vừa viết sách.

Năm 1969

Tháng Hai, bà đã gửi tác phẩm “Những thiên sứ biến mất” tham dự giải thưởng Edogawa Rampo lần thứ 15 và lọt đến danh sách đề cử cuối cùng. Người đạt giải năm ấy là Morimura Seiichi với tác phẩm “Điểm mù trên cao”. Tuy không được giải nhưng bà được đánh giá rất cao và đến tháng Hai năm sau, tác phẩm đã được xuất bản. Trước khi xuất bản thành một cuốn tiểu thuyết, tác phẩm đã được đăng từng phần trên tạp chí “Thời đại tiểu thuyết”. Đến tháng Mười bà sinh con trai nhỏ.

Năm 1970

Bà thu hút được sự chú ý với tư cách một tiểu thuyết gia nội trợ và được nhờ viết khá nhiều bản thảo. Đến tháng Mười Hai bà bắt đầu đăng tải “Mùa ảo mộng” trên tờ Fukunichi (Đến tháng Hai năm sau. Sau này truyện được xuất bản với tên “Tang tóc”)

Những thiên sứ biến mất

Kodansha 2.24

Năm 1971

Bà bắt tay tìm kiếm tư liệu cho tác phẩm dài thứ hai có tên “Bốc hơi”.

Đứa con bí mật <Đứa con bí mật, Tấn công, Bình minh không đến, Đau hơn cái chết, Tiếng hét từ vách núi, Hóa thạch đỏ tươi, Người chết biết nói>

Kodansha 3.12

Năm 1972

Bà đạt giải thưởng văn học của tỉnh Fukuoka lần thứ 2 vào tháng Ba.

Bốc hơi

Kobunsha 4.25

Năm 1973

Tháng Ba, bà nhận được giải thưởng của hiệp hội trinh thám Nhật Bản với “Bốc hơi”, đồng hạng với “Cấu trúc bị ăn mòn” của Morimura Seiichi.

Tang tóc

Kobunsha 7.20

Sợi dây thủy tinh <Sợi dây thủy tinh, Nơi tận cùng tối tăm, Người chồng xa lạ, Chìm vào tuyệt vọng, Bên trong nỗi cô đơn, Sát ý của người>

Jitsugyo no Nihonsha 7.25

Những thiên sứ biến mất

Kodansha 8.20

Năm 1974

Sát ý trong cát <Cô gái phía bên đó, Sát ý trong cát, Cái bóng đồng phạm, Nhảy, Hai người bị tấn công, Vì thế tôi đã giết, Trong căn nhà 2DK, Người ghé thăm bí mật>

Yomiuri Shimbunsha 10.15

Con đường trắng đen

Kodansha 4.4

Mục kích

Kobunsha 4.30

Những thiên sứ biến mất

Kodansha khổ bunko 6.15

Bắt giữ nhầm <Cổ tay lên tiếng, Tội ác đau thương, Sát ý không ai biết, Bắt giữ nhầm, Cô gái điếm, Tiếng hét trên đường cao tốc, Án mạng trên chuyến shinkansen Sanyo>

Kodansha 10.20

Cáp treo tử hình <Bóng tối dịu dàng, Lời nhắn trước khi chết, Bằng chứng bốc cháy, Tội ác xoay vòng, Cáp treo tử hình>

Bungeishunshu 11.15

Năm 1976

Do chồng chuyển công tác nên bà đã dọn về sống ở Nagoya từ tháng Ba. Đến tháng Tám bà sang châu Âu thu thập tư liệu.

Sương giá

Kobunsha 2.25

Người phụ nữ hai chồng <Đứa con giống anh, Con sóng tố giác, Người phụ nữ hai chồng, Cái chết trong sương sớm, Tội lỗi trong gương, Buổi sáng là ác mộng của phụ nữ, Cái bẫy ảo tưởng, Nỗi sợ hãi trước khi trời sáng>

Kodansha 4.20

Đứa con bí mật

Kodansha 7.8

Những người không có chứng cứ ngoại phạm <Những người không có chứng chứ ngoại phạm, Đèn trên đường chạy trốn, Dừng lại đi Melos, Chờ đợi cái chết của cô ấy, Thêm một lần di chúc, Giữa tháng Mười Một, Thư, Trăng đêm lên sớm>

Bungeishunshu 8.10

Tuyển tập truyện ngắn Natsuki Shizuko <Nơi tận cùng tối tăm, Đau hơn cái chết, Lời nhắn trước khi chết, Sát ý trong cát, Cổ tay lên tiếng, Bị tấn công, Tội ác đau thương, Cô gái ở bên đó, Hai người bị tấn công, Dừng lại đi Melos>

Yomiuri Shimbunsha 12.10

Những đứa con bí mật

Kodansha khổ bunko 12.15

Năm 1977

Người tuyển chọn “12 tuyệt tác trinh thám Nhật Bản 1 và 2” là Ellery Queen (Frederic Dannay) và vợ của mình lần đầu đến Nhật vào tháng Chín. Trong thời gian ở Nhật, bà có cơ hội đóng vai trò hướng dẫn và cùng hai người đi đến Kyoto và Hakone.

Sợi dây thủy tinh

Kodansha 3.8

Vách đá rực sáng

Kobunsha 3.31

Cáp treo tử hình

Bunshun khổ bunko 4.25

Con đường đen trắng

Kodansha 5.24

Cô gái không có chứng cứ ngoại phạm (Tuyển tập luận văn)

Shueisha 5.30

Bắt giữ nhầm

Kodansha 8.24

Người lạ trên giường <Người lạ trên giường, Bí mật của bộ phận trợ lý, Danh thiếp của người đã chết, Biến mất, Con mèo đã chết, Án mạng trên chuyến tàu Yamanote, Cầu thang, Lời tựa, Không có động cơ, Bóng tối một năm sau>

Kodansha 9.12

Vì sao nhân chứng <Ban công tăm tối, Tội ác kỳ lạ [29] , Ám hiệu đen trắng, Tội ác lặng im, Bí mật quyền thừa kế, Phủ nhận bằng chứng, Đóa hoa hồng cho kẻ tình nghi>

Tokuma Shoten 10.10

Con đường đen trắng

Kodansha khổ bunko 10.15

Sát ý trong cát (tuyển tập không có “Nhảy”)

Kadokawa khổ bunko 10.30

Lời hứa xa xôi

Bungeishunshu 11.5

Bốc hơi

Kadokawa khổ bunko 11.10

Sợi xích bóng đêm <Sợi xích bóng đêm, Xin đừng giết tôi, Án mạng Happening, Không thể không yêu, Do dự>

Shueisha khổ bunko 11.30

Điều gì đã xảy ra trên chuyến xe 77 <Điều gì đã xảy ra trên chuyến xe 77, Án mạng ở Khabarovsk, Trăng đêm lên sớm, Án mạng trên chuyến tàu shinkansen Sanyo, Án mạng trên chuyến tàu tốc hành Roma>

Kobunsha 12.15

Năm 1978

Tháng Năm, theo lời mời của chính phủ Hàn Quốc, bà cùng Ishizawa Eitaro, Shiraishi Ichiro, Takiguchi Yasuhiko, Noro Kuninobu đã đến Hàn Quốc. Tháng Sáu, bà cùng gia đình đi du lịch Mỹ. Từ năm này, bà trở thành thành viên trong ban giám khảo giải thưởng nhà văn trinh thám mới.

Người phụ nữ hai chồng

Kodansha 1.12

Cô gái thứ ba

Shueisha 4.25

Hôn ước nặng nề <Kẻ cướp 50 triệu yên, Tội ác trong phòng hỏi cung, Nguyên nhân sự cố, Tượng địa tạng, Sinh mạng được cứu, Cái chết dồn nén, Hôn ước nặng nề>

Kodansha 6.26

Lời cáo buộc không rõ ràng <Cái chết lạnh lẽo, Lời cáo buộc không rõ ràng, Hai ngọn lửa, Vận mệnh đàn ông, Án mạng trong khi trò chuyện, Kẻ địch vô hình, Cuộc điện thoại từ người chết)

Shueisha khổ bunko 6.30

Sợi dây thủy tinh

Kodansha khổ bunko 7.15

Thị tộc <100 triệu yên là quá rẻ, Màn kịch trong bóng tối, Đường trở về, Buổi sáng bất chợt, Sự thật từ vách đá, Thị tộc>

Bungeishunshu 9.25

Tang tóc

Bunshun khổ bunko 11.25

Năm 1979

Từ tháng Ba bà trở thành thành viên hội đồng tuyển chọn cho giải thưởng của hiệp hội nhà văn trinh thám Nhật Bản (đảm đương nhiệm vụ trong vòng hai năm). Tháng Chín, bà dịch cuốn “Agatha” của Kathleen Tynan theo bản quyền từ Sanrio. Tháng Mười, Ellery Queen lại đến Nhật và hai người có gặp gỡ nhau.

Hình dáng ngày mai <Hình dáng ngày mai, Khay cho người vắng mặt, Nhà giữ trẻ, Chuyến đi một người, Căn phòng bí mật>

Jitsugyo no Nihonsha 3.25

Con dốc thẳng đứng

Mainichi Shimbunsha 4.20, 6.20

Những người không có chứng cứ ngoại phạm

Bunshun khổ bunko 7.25

Bắt giữ nhầm

Kodansha khổ bunko 8.15

Sương giá

Bunshun khổ bunko 11.25

Vì sao nhân chứng

Shueisha khổ bunko 12.10

Hôn ước nặng nề

Kodansha 2.10

Năm 1980

Tháng Hai bà dịch cuốn “Những đứa con biến mất” của Charlotte Paul và được Kodansha xuất bản. Tháng Năm, bản dịch “The Pawnshop Murder” của bà được đăng trên “Ellery Queen’s Mystery Magazine”. Sau đó bà còn được đăng thêm khoảng 10 tác phẩm nữa. Tháng Sáu bà đã đến thăm nhà Ellery Queen ở Larchmont ngoại ô thành phố New York. Sau đó, bà lấy tư liệu ở New York và viết cuốn “Big Apple [30] không ngủ”. Bà bắt đầu học golf vì muốn vận động.

Lời hứa xa xôi

Kobunsha 1.20

Sợi dây thủy tinh

Kadokawa khổ bunko 1.30

Cánh cửa gió

Bungeishunshu 3.25

Cô gái thứ ba

Shueisha 4.25

Đường ngầm trong mật thất <Đường ngầm trong mật thất, Kẻ chạy trốn, Từ cây cổ thụ ở Vancouver, Không kết hôn, Hãy tránh chuyến xe số 90>

Kobunsha 5.10

Mục kích

Kadokawa khổ bunko 6.10

Màn kịch trong đêm <Màn kịch trong bóng tối, Nhà giữ trẻ, Tội ác trong phòng hỏi cung, Chìm vào tuyệt vọng, Bóng tối dịu dàng, Tan biến trong mưa>

Yomiuri Shimbunsha 7.17

Vòng tuần hoàn tăm tối <Vòng tuần hoàn tăm tối, Đông cứng, Không một ai biết, Nỗi sợ không phân biệt, Chuyến đi một mình, Giải thưởng>

Bungeishunshu 8.10

Người phụ nữ hai chồng

Kodansha khổ bunko 8.15

Lời hứa xa xôi

Bunshun khổ bunko 10.25

Bóng dáng xa dần

Kodansha 12.12

Năm 1981

Tháng Sáu, bà đi du lịch và tìm tư liệu sáng tác ở bờ phía Tây nước Mỹ và Mexico. Sau đó, bà bay đến Stockholm để tham dự hội nghị hiệp hội tác giả trinh thám lần thứ 2 với tư cách đại diện hội đồng nhà văn trinh thám Nhật Bản. Bà đã phát biểu về “Văn học trinh thám Nhật Bản” với tư cách diễn giả. Sau đó, bà cùng vợ chồng Ellery Queen du lịch đến bắc Na Uy để ngắm đêm trắng.

Lời biệt ly trong tuyết <Lời biệt ly trong tuyết, Bản phác họa, Hung khí ngụy tạo, Nếu có xác chết, Cơn buồn ngủ, Cơ hội tồi tệ, Trước khi tự sát, Án mạng ở Tenninkyo>

Kadokawa Shoten 2.10

Đóa hoa bằng chứng <Sự xâm phạm vô tình, Bức tranh màu xanh trong góc tối, Hai sự thật, Trả bố cho con, Uống trà ở phòng công tố, Căn phòng bí mật, Hy vọng bên bờ vực>

Tokuma Shoten 2.28

Cô gái không có chứng cứ ngoại phạm

Shueisha khổ bunko 4.26

Vách đá rực sáng

Kadokawa khổ bunko 6.10

Người lạ trên giường

Kodansha khổ bunko 6.15

Thị tộc

Bunshun khổ bunko 9.25

Cuối đường về nhà

Kodansha 10.15

Năm 1982

Bà trở thành giám khảo giải thưởng Yokomizo Seishi. Tháng Hai bà ra mắt cuốn tiểu thuyết có tiêu đề lấy cảm hứng từ bộ tác phẩm tiêu biểu của Ellery Queen là “Bi kịch W” do Kobunsha phát hành. Đến tháng Ba, Kodansha tổng hợp và ra mắt “Tuyển tập 10 tác phẩm của Natsuki Shizuko”. Bà cũng đăng “Cô gái bên biên giới” trên một tờ nguyệt san và số người đặt hàng báo này đã tăng lên đột biến.

Big Apple không ngủ <Big Apple không ngủ, Đằng sau bàn chân, Ngọn lửa sơn, Mở tờ cam kết, Gương mặt xa cách>

Kodansha 1.20

Bi kịch W

Kobunsha 2.5

Hình dáng ngày mai (Tuyển tập không có “Căn phòng bí mật”)

Kodansha khổ bunko 2.15

Tuyển tập các tác phẩm của Natsuki Shizuko – Phần 2 <Bốc hơi, Cô gái thứ ba>

Kodansha 3.15

Bia mộ bằng ngọc bích

Bungeishunshu 3.25

Tuyển tập các tác phẩm của Natsuki Shizuko Phần 3 <Cánh cửa gió, Con đường đen trắng>

Kodansha 4.15

Tuyển tập các tác phẩm của Natsuki Shizuko – Phần 4 <Mục kích, Mâu thuẫn tối tăm, Án mạng ở Khabarovsk>

Kodansha 5.15

Con dốc thẳng đứng

Kadokawa 5.15

Tuyển tập các tác phẩm của Natsuki Shizuko – Phần 8 <Con dốc thẳng đứng)

Kodansha 6.15

Bóng tối đen đặc <Lời nói dối của người chết, Dây rốn, Cái chết trên chuyến tàu thường, Đội kèn trống, Người chưa từng gặp, Người đàn ông chạy trốn, Kẻ ghé thăm hàng năm>

Shueisha 6.25

Tuyển tập các tác phẩm của Natsuki Shizuko – Phần 7 <Lời hứa xa xôi, Cáp treo tử hình, Vụ án mạng trên tàu tốc hành Roma, Án mạng ở Tenninkyo>

Kodansha 7.15

Hôn ước nặng nề

Kodansha khổ bunko 8.15

Tuyển tập các tác phẩm của Natsuki Shizuko – Phần 1 <Những thiên sứ biến mất, Điều gì đã xảy ra trên chuyến xe 77, Hãy tránh chuyến xe số 90, Sợi dây thủy tinh)

Kodansha 8.15

Tuyển tập các tác phẩm của Natsuki Shizuko – Phần 9 <Bóng dáng xa dần, Đường ngầm dưới mật thất, Nơi tận cùng tăm tối, Bí mật quyền thừa kế, Hai sự thật>

Kodansha 9.15

Tuyển tập các tác phẩm của Natsuki Shizuko – Phần 6 <Vách đá rực sáng, Big Apple không ngủ, Hình dáng ngày mai>

Kodansha 10.15

Tuyển tập các tác phẩm của Natsuki Shizuko – Phần 5 <Cuối đường về nhà, Sương giá>

Kodansha 11.15

Tuyển tập các tác phẩm của Natsuki Shizuko – Phần 10 <Tiếng hét từ vách núi, Tấn công, Đứa con bí mật, Đau hơn cái chết, Tội ác đau thương, Trăng đêm lên sớm, Kẻ trộm 50 triệu yên, Tội ác trong phòng hỏi cung, 100 triệu yên là quá rẻ, Vở kịch trong bóng tối, Kẻ chạy trốn, Nhà giữ trẻ, Khay cho người vắng mặt, Đằng sau bàn chân, Đông cứng, Giải thưởng>

Kodansha 12.15

Đóa hoa bằng chứng

Shueisha 12.25

Năm 1983

Tháng Tám, mẹ bà qua đời. Vào tháng Mười Một, ở mảnh đất tại Wakahisa, tỉnh Fukuoka mà bà từng sống đã được xây nhà tưởng niệm.

Sát ý trong cát <Tuyển tập không có “Nhảy”>

Kodansha khổ bunko 2.15

Tội ác trong gió

Bunshun khổ bunko 4.25

Con chuồn chuồn đỏ

Shinchosha 5.9

Sát ý <Sát ý, Ký ức>

Kadokawa Shotez 5.25

Điều gì đã xảy ra trên chuyến xe 77

Kadokawa khổ bunko 5.25

Cô gái bên biên giới <Những tác phẩm chưa bán>

Kodansha 6.30

Cô gái bên biên giới

Kodansha 7.5

Bóng dáng xa dần

Kodansha khổ bunko 8.15

Mâu thuẫn tăm tối

Bunshun khổ bunko 10.25

Lời báo tang đến lúc hai giờ chiều

Bungeishunshu 11.10

Năm 1984

“Bi kịch W” được xuất bản với tên “Murder at Mt. Fuji” [31] . Đồng thời, tác phẩm cũng được chuyển thành phim với diễn viên chính là Yakushimaru Hiroko (Đạo diễn Sawai Shinichiro).

Cô gái cầm súng <Dâng lửa, Cô gái cầm súng, Những ngày cuối đời, Thư đe dọa từ con ngõ nhỏ, Bí mật cuốn hộ chiếu>

Kodansha 4.27

Bi kịch W

Kadokawa khổ bunko 6.10

Bí mật ẩn giấu <Bí mật ẩn giấu, Chiếc xe còn sót lại, Bí mật xa xôi, Hành trình thuyết phục, Lời khai của những người phụ nữ, Đục>

Bungeishunshu 6.30

Lời biệt ly trong tuyết

Kadokawa 7.25

Cuối đường về nhà

Kodansha khổ bunko 9.15

Vì sao bằng chứng

Kadokawa khổ bunko 9.25

Lần cuối cùng tôi thấy tình yêu

Kodansha 10.20

Đường ngầm dưới mật thất

Kobunsha khổ bunko 10.20

Lời cáo buộc không rõ ràng

Kadokawa khổ bunko 10.25

Sát ý

Kadokawa khổ bunko 10.25

Đóa hoa bằng chứng

Kadokawa khổ bunko 10.25

Bia mộ bằng ngọc bích

Bunshun khổ bunko 10.25

Mê lộ của những kẻ du hành <Thiêu đốt, Bằng chứng tại hiện trường>

Kadokawa Shoten 11.25

Cuộc nổi loạn của những bà vợ (phi tiểu thuyết)

Kobunsha 11.30

Năm 1985

Vì chồng bà chuyển công tác nên cả gia đình chuyển về Fukuoka. Bà bắt đầu học môn cờ gô mà mình yêu thích từ nhỏ.

Big Apple không ngủ

Kodansha khổ bunko 1.15

Người đàn ông đi xuống cầu thang xoắn ốc <Sát nhân không ai ngờ tới, Người đàn ông đi xuống cầu thang xoắn ốc, Cái bóng màu trắng>

Shinchosha 4.25

Bi kịch W

Kobunsha khổ bunko 7.15

Bi kịch M

Kobunsha 8.15

Đứa trẻ đó là người chứng kiến <Bị nhắm đến, Lời nhắn, Hoa hồng thủy tinh, Đứa trẻ đó là người chứng kiến>

Kobunsha khổ bunko 9.15

Sợi xích ảo ảnh

Kadokawa Shoten 10.5

Lời biệt ly trong tuyết

Shueisha khổ bunko 11.25

Nơi tận cùng tăm tối (Trích từ tuyển tập mà Natsuki Shizuko tự tuyển chọn)

Keibunsha khổ bunko 12.15

Năm 1986

Tháng Chín, bà bị chẩn đoán bị tắc ruột. Tuy đã phẫu thuật xong xuôi nhưng quá trình hồi phục sau phẫu thuật không được như dự kiến nên bà đã phải nhập viện bốn ngày.

Mê lộ của những kẻ du hành

Kadokawa khổ bunko 1.10

Con chuồn chuồn đỏ

Shinchosha khổ bunko 1.25

Cuộc nổi loạn của những bà vợ

Kobunsha khổ bunko 2.20

Đồng minh của nỗi nhớ nhà

Kadokawa Shoten 3.10

Sát ý

Shueisha khổ bunko 3.25

Cô gái cầm súng

Kodansha 4.15

Báo tang đến lúc hai giờ chiều

Bunshun khổ bunko 4.25

Khúc dạo đầu cho ngày tận thế

Kadokawa Shoten 7.5

Cô gái bên biên giới

Kodansha khổ bunko 7.15

Năm 1987

“Murder at Mt. Fuji” được xuất bản dưới dạng bìa mềm. Sau đó, Cô gái thứ ba (The third lady) và “Báo tang đến vào lúc hai giờ chiều” (The obituary arrives at two o’clock), “Con đường đen trắng” (The innocent journey), “Cánh cổng gió” (Portal of the Wind), “Cái chết từ những đám mây” (Death from the Clouds), “Đồng minh của nỗi nhớ nhà” (bản dịch tiếng Pháp), “Những thiên sứ biến mất” (bản dịch tiếng Ý) cũng bắt đầu được xuất bản ở châu Âu. Tháng Mười Một, bà nhận giải thưởng văn hóa của tỉnh Fukuoka.

Mâu thuẫn tăm tối

Kadokawa khổ bunko 1.15

Một mình trên sân golf

Asahi Shimbunsha 2.28

Chứng cứ trong sương <Lồng mưa, Trả lại trái tim cho tôi, Nhân chứng trẻ con, Vụ giết người ở vùng đất điên loạn, Điều bí ẩn của máy hô hấp nhân tạo>

Kobunsha 4.30

Bản di chúc tận tâm <Bản di chúc tận tâm, Khoảng không chết trong tim>

Shueisha 5.25

Bí mật ẩn giấu

Bunshun khổ bunko 6.10

Đồng minh của nỗi nhớ nhà

Kobunsha 6.30

Lần cuối cùng tôi thấy tình yêu

Kodansha khổ bunko 7.15

Người đợi ở ga <Người đứng đợi trong mưa, Người đứng đợi bên hồ, Người đứng đợi ở ga, Người đứng đợi trong bóng tối>

Kodansha 9.25

Đường ngầm dưới mật thất

Kadokawa khổ bunko 10.10

Cô gái đến từ thung lũng chết

Bungeishunshu 11.1

Năm 1988

Bà tham gia hội nghị tiểu thuyết gia trinh thám thế giới lần thứ tư ở New York. Bà đã gặp lại phu nhân Rose. Đến mùa thu năm này, bà bị bệnh về mắt.

Cô gái thứ ba

Kadokawa khổ bunko 1.25

Người đàn ông đi xuống cầu thang xoắn ốc

Shincho khổ bunko 1.25

Mê lộ của những kẻ du hành

Bunshun khổ bunko 3.10

Cái chết từ những đám mây

Kadokawa shoten 4.25

Hồ – Độc – Mơ (Răng, Độc, Mơ, Chó, Hồ)

Shinchosha 5.20

Một mình trên sân golf

Kobunsha 6.30

Đồng minh của nỗi nhớ nhà

Kadokawa khổ bunko 10.10

Cô gái cầm súng

Kodansha khổ bunko 10.15

Và rồi chẳng còn ai

Kodansha 10.2

Năm 1989 (Showa năm thứ 64/ Heisei năm đầu tiên)

Tháng Mười, bản dịch tiếng Pháp của cuốn “Cô gái thứ ba” được giải thưởng văn học trinh thám Pháp lần thứ 54. Đến tháng Mười Một, thư viện Natsuki được mở ở vùng đất trước đây từng là trường Sasama ở Shizuoka.

Bi kịch M

Kobunsha 3.20

Biến mất ở ga Tokyo

Chuokoronsha 5.20

Persona non grata [32] <Persona non grata, Giọng nói thu hút, Mốc, Cô gái cúi đầu, Cô gái giao hàng>

Bungeishunshu 9.10

Khúc dạo đầu cho ngày tận thế

Kadokawa khổ bunko 9.25

Bi kịch C

Kobunsha 9.30

Sợi dây bị che giấu

Kadokawa khổ bunko 10.25

Năm 1990

Tháng Mười bà đã đến Anh để quay chương trình đặc biệt kỷ niệm sinh Agatha Christie của đài NHK. Bà đã đến thăm Dartmoor, nơi Agatha ra đời và viết những tác phẩm đầu tiên.

Một mình trên sân golf

Bunshun khổ bunko 2.10

Bản di chúc tận tâm

Shueisha khổ bunko 4.25

Người đứng đợi ở ga

Kodansha khổ bunko 7.15

Bằng chứng trong sương

Kobunsha khổ bunko 8.20

Cầu vồng trên chiếc giường kim cương

Bungeishunshu 9.15

Cô gái đến từ thung lũng chết

Bunshun khổ bunko 10.10

Cái chết từ những đám mây

Kadokawa khổ bunko 11.25

Năm 1991

Bà trở thành giám khảo của giải thưởng trinh thám Suntory. Vì bị bệnh nặng ở mắt nên bà đã phải nghỉ viết ba tháng (sang năm tiếp theo được chẩn đoán là bị khô mắt). Trong thời gian dưỡng bệnh ở Tokyo, bà đã nảy ra ý tưởng về quân cờ gô màu xanh thân thiện với mắt và bắt tay vào thực hiện. Đến tháng Tư, những bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết trinh thám của Natsuki Shizuko đã lên sóng kênh truyền hình ở Kansai.

Hồ – Độc – Mơ

Shincho khổ bunko 1.20

Bốc hơi

Kobunsha khổ bunko 2.20

Tác phẩm trinh thám của Natsuki Shizuko <Không có động cơ, Chuyến đi một người, Cơn buồn ngủ, Đau hơn cái chết, Mốc>

Đài truyền hình Kansai 4.6

Ký ức về chuyến đi một mình <Ký ức về chuyến đi một mình, DINKS, Di chúc ướt mưa, Hai nhân chứng, Một hình phạt, Cô gái “chết”>

Kobunsha 5.30

Nếu người đó chết <Hình phạt tàn khốc, Nếu người đó chết, Nữ sinh biến mất, Dấu vết trên đường>

Shinchosha 6.15

Mục kích

Kobunsha khổ bunko 6.20

Và rồi chẳng còn ai

Kodansha khổ bunko 7.15

Biến mất ở ga Tokyo

Chuo khổ bunko 8.10

Cái chết từ những đám mây

Shueisha khổ bunko 8.25

Sợi dây ảo ảnh

Bunshun khổ bunko 10.10

Bi kịch M

Kadokawa khổ bunko 10.25

Năm 1992

Tháng Năm, hội đồng cờ gô Nhật Bản lần đầu tiên tổ chức giải cờ gô xanh lấy tên Natsuki Shizuko. Sau đó giải đấu này được tổ chức thường niên. Đến tháng Mười, bà viết một tác phẩm hoàn toàn không liên quan đến trinh thám là “Những lúc u sầu”

Phía sau màn sương

Shichosha 1.20

Vách núi rực sáng

Kobunsha khổ bunko 2.20

Điều gì đã xảy ra trên chuyến xe 77

Kobunsha khổ bunko 6.20

Persona non grata

Bunshun khổ bunko 7.10

Những lúc u sầu

Kadokawa Shoten 10.30

Năm 1993

Tháng Một, bà bị đau hông nặng. Những năm sau đó bà có chữa trị nhiều nơi nhưng không thấy hiệu quả.

Bi kịch C

Kobunsha khổ bunko 2.20

Diễn viên X – Cuộc đời của Izawa Ranja

Bungeishunshu 4.15

Kịch trinh thám của Natsuki Shizuko (Cải biên từ Tác phẩm trinh thám của Natsuki Shizuko)

Kobunsha khổ bunko 8.20

Cầu vồng trên chiếc giường kim cương

Bunshun khổ bunko 9.10

Con dốc thẳng đứng

Kadokawa khổ bunko 10.25

Cánh cửa gió

Kadokawa khổ bunko 11.25

Năm 1994

Tháng Năm, bà kỷ niệm 25 năm viết sách và ra đời hai tuyển tập truyện ngắn có tên là “12 tác phẩm hay nhất của Natsuki Shizuko”. Cũng trong năm này, bà nhận được giải thưởng văn học của vùng Kyushu.

Nếu người đó chết

Shicho khổ bunko 1.1

Người đàn ông đi xuống cầu thang xoắn ốc

Chuo khổ bunko 2.18

Đồng minh của nỗi nhớ nhà

Bunshun khổ bunko 5.10

12 tác phẩm hay nhất của Natsuki Shizuko <Đau hơn cái chết, Trăng đêm lên sớm, 100 triệu yên là quá rẻ, Kẻ chạy trốn, Phía sau bàn chân, Đông cứng. Hai sự thật, Mốc, Dấu vết trên đường, Nếu người đó chết, Ma lực trong thoáng chốc, Dòng máu tội lỗi>

Bungeishunshu 5.26

Ký ức về chuyến đi một mình

Kobunsha khổ bunko 6.20

Ma lực trong thoáng chốc <Ma lực trong thoáng chốc, Tiêu điểm tóc đen, Con lươn khổng lồ, Tung tích vết máu, Điều bất ngờ trong đêm>

Bungeishunshu 9.20

Khách sạn vắng người

Kobunsha khổ bunko 9.20

Cuộc sống kép

Mainichi Shinbunsha 11.25

Năm 1995

Phía sau màn sương

Shinchosha 2.1

Sonata Kreutzer

Kodansha 4.10

Mê lộ của những kẻ du hành

Kobunsha khổ bunko 5.20

Vì sao bằng chứng

Tokuma khổ bunko 10.15

Sự biến thân của những người vợ (phi tiểu thuyết)

Kobunsha khổ bunko 10.20

Cô gái trễ tàu <Cô gái trễ tàu, Vở kịch ba phút, Chuyến đi một người, Hai nhân chứng, Việc làm thêm của những bà mẹ, Nhà thầu nữ, Câu hỏi là nửa năm sau...)

Futabasha 10.25

Năm 1996

Nguyên nhân đau hông của bà được chẩn đoán là do “bệnh tim”, đến tháng Một bà nhập viện ở Atami. Sau khi điều trị khoảng hai tháng bà đã cảm thấy dễ chịu hơn. Một năm sau đó, bà nghỉ viết theo lời dặn của bác sĩ. Bà quên đi thân phận tác giả Natsuki Shizuko của mình để đi du lịch nước ngoài năm lần. Đồng thời, bà cũng trở thành giám khảo của giải thưởng nhà văn trinh thám mới.

Những lúc u sầu

Kadokawa khổ bunko 1.25

Biến mất ở ga Tokyo

Shincho khổ bunko 4.1

Diễn viên X − Cuộc đời của Izawa Ranja

Bunshun khổ bunko 4.10

Đóa hoa bằng chứng

Tokuma khổ bunko 5.15

Bi kịch β (tác phẩm viết chung với Goichi Hitoshi)

Kadokawa shoten 7.5

Triển lãm lửa (Viết chung với Sasazawa Saho và Morimura Seiichi)

Bungeishunshu 7.20

Bốc hơi (Tuyển tập đoạt giải của hiệp hội trinh thám Nhật Bản)

Futaba khổ bunko 11.15

Năm 1997

Bà tiếp tục sự nghiệp viết lách và đã viết về những ngày tháng dưỡng bệnh của mình với cuốn “Sợ ghế – Những ngày tôi vật lộn với chứng đau thắt lưng” xuất bản vào tháng Sáu và nhận được sự đón nhận nhiệt tình.

Sợi dây bị che giấu <Sợi dây bị che giấu, Gương mặt xa lạ>

Kobunsha khổ bunko 1.20

Tuyển tập 12 tác phẩm hay nhất của Natsuki Shizuko <Đau hơn cái chết, Trăng khuya lên sớm, 100 triệu yên là quá rẻ, Kẻ chạy trốn, Phía sau bàn chân, Đông cứng, Hai sự thật, Giải thưởng, Cô gái giao hàng, Mốc, Ma lực trong thoáng chốc, Dòng máu tội lỗi>

Bunshun khổ bunko 5.10

Sợ ghế – Những ngày tôi vật lộn với chứng đau thắt lưng

Kogeibunshun 6.20

Cô gái vứt hoa <Cô gái vứt hoa, Danh tính, Người phụ nữ tận tâm, Bức ảnh gia đình, Ba bản di chúc, Đường và điểm>

Shinchosha 7.20

Ma lực trong thoáng chốc

Bunshun khổ bunko 8.10

Bi kịch C

Kadokawa khổ bunko 10.25

Thời gian làm chứng (Tuyển tập luận văn)

Nhà xuất bản Shio 11.10

Bằng chứng trong sương

Tokuma khổ bunko 12.15

Năm 1998

Cuộc sống kép

Shincho khổ bunko 2.1

Sonata Kreutzer

Kodansha khổ bunko 2.15

Tang tóc

Kobunsha khổ bunko 2.20

Cọng rơm cuối cùng <Cọng rơm cuối cùng, Gục ngã nhẹ nhàng, Hướng đi giả định, Dòng máu tội lỗi>

Bungeishunshu 6.20

Sương giá

Kobunsha khổ bunko

Tuyển tập tác giả nữ – Tập 18 (Viết cùng với Minagawa Hiroko và Mori Yoko)

<Phía sau bàn chân, Bí mật bị cất giấu, Ma lực trong thoáng chốc>

Kadokawa Shoten 8.25

Đứa con bí mật

Kobunsha khổ bunko 10.20

Năm 1999

Từ năm này bà bắt đầu là giám khảo trong ban tuyển chọn giải thưởng văn học trinh thám Nhật Bản. Tháng Mười bà nhận giải thưởng văn hóa Tây Nhật Bản.

Án mạng liên hoàn ở Atami (Viết cùng với Goichi Hitoshi và Morimura Seiichi)

<Ánh đèn lung lay>

Bungeishunshu 1.30

Mariko

Chuokoronshinsha 4.7

Những thiên sứ biến mất

Kobunsha khổ bunko 4.20

Bắt giữ nhầm

Tokuma khổ bunko 6.15

Ham muốn của những người vợ (phi tiểu thuyết)

Kobunsha 7.5

Nụ hôn năm đầu tiên (Viết cùng với Sasazawa Saho và Morimura Seiichi)

Năm 2000

Cuối đường về nhà

Tokuma khổ bunko 1.15

Cô gái vứt hoa

Shincho khổ bunko 4.1

Sợ ghế – Những ngày tôi vật lộn với chứng đau thắt lưng

Bunshun khổ bunko 6.10

Lời làm chứng từ xa <Bí ẩn quyền thừa kế, Lời làm chứng từ xa, Sự thật 15 năm, Ngọn lửa khả nghi xa xôi>

Kodansha 6.20

Hôn ước nặng nề

Tokuma khổ bunko 7.15

Cô gái trễ tàu

Futaba khổ bunko 7.20

Bi kịch β (tác phẩm viết chung với Goichi Hitoshi)

Kadokawa khổ bunko 7.25

Công tố viên Kasumi Yuko – Cuộc gọi chúc mừng lúc nửa đêm <Hung khí dưới cây cầu, Lá thư buổi sớm, Tôi không biết, Cuộc gọi chúc mừng lúc nửa đêm>

Shinchosha 9.20

Tận thế – Mộ phần của loài người (Bản chỉnh sửa của Khúc dạo đầu tới ngày tận thế)

Kadokawa khổ bunko 10.25

Cái bẫy hạnh phúc (Bản chỉnh sửa của Thời gian làm chứng)

Kobunsha bản bunko kỷ niệm 11.15

Năm 2001

Từ giải cờ gô xanh lần thứ 11, hiệp hội cờ gô Nhật Bản đã kết hợp với báo Yomiuri tổ chức.

Cô gái bên biên giới

Tokuma khổ bunko 2.15

Mariko

Chuo khổ bunko 5.25

Cọng rơm cuối cùng

Bunshun khổ bunko 6.10

Định lượng

Kobunsha 6.25

Cáp treo tử hình

Tokuma khổ bunko 8.15

Năm 2002

Bà nhận giải thưởng văn hóa của tỉnh Fukuoka vào tháng Hai. Tháng Tư, bà được trao giải nhân vật có sức ảnh hưởng.

Người lạ trên giường

Tokuma khổ bunko 2.15

Người đàn ông trong ảo mộng <Vùng cát trắng rực sáng, Ánh đèn lung lay, Người đàn ông trong ảo mộng>

Bunshun khổ bunko 7.10

Hình dáng ngày mai (Tuyển tập không có “Căn phòng bí mật”)

Tokuma khổ bunko 9.15

Năm 2003

Cái bẫy đạo đức <Cái bẫy đạo đức, Lỗ hổng hệ thống, Bộc phát, Nỗi đau, Quà tặng>

Bungeishunshu 2.15

Big Apple không ngủ

Tokuma khổ bunko 4.15

Hồ – Độc – Mơ

Futaba khổ bunko 4.20

Đến rồi đi (Tuyển tập luận văn)

Bungeishunshu 4.25

Lời làm chứng từ xa

Kodansha khổ bunko 6.15

Sợ ghế – Những ngày tôi vật lộn với chứng đau thắt lưng

Shincho khổ bunko 8.15

Hãy đi khám bác sĩ nội khoa chuyên về tim mạch (phóng sự)

Shinchosha 11.1

Định lượng

Kobunsha 10.25

Công tố viên Kasumi Yuko – Cuộc gọi chúc mừng lúc nửa đêm

Shincho khổ bunko 11.1

Cô gái vứt hoa

Bunshun khổ bunko 11.10

Cô gái không có chứng cứ ngoại phạm

Tokuma khổ bunko 11.15

Năm 2004

Công tố viên Kasumi Yuko – Mũi đất hút gió <Sapporo xa quá, Marimo kể chuyện, Mũi đất hút gió, Đơm hoa>

Shinchosha 4.20

Báo tang đến vào lúc hai giờ chiều

Tokuma khổ bunko 6.15

Định lượng

Kobunsha khổ bunko 10.20

Năm 2005

Những lúc u sầu

Shincho khổ bunko 1.1

Con đường trắng đen

Tokuma khổ bunko 1.15

Năm 2006

Tháng Mười bà nhận giải thưởng văn học trinh thám Nhật Bản lần thứ 10.

Nếu người đó chết

Tokuma khổ bunko 1.15

Cái bẫy đạo đức

Bunshun khổ bunko 2.10

Lần cuối tôi nhìn thấy tình yêu

Tokuma khổ bunko 7.15

Hình bóng không rõ ràng

Kobunsha 7.25

Hãy đi khám bác sĩ nội khoa chuyên về tim mạch

Năm 2007

Tháng ba, bà nhận giải văn học trinh thám Nhật Bản ở Tokyo-kaikan.

Công tố viên Kasumi Yuko – Mũi đất hút gió

Shincho khổ bunko 2.1

Sát ý bốn chữ <Bí mật, Hạnh phúc, Ướt, Cửa sau, Làm chuyện bao đồng, Sai lầm [33] >

Bungeishunshu 2.15

« Lùi
Tiến »