Nguyễn Trãi

Thôn xá thu châm





Mãn giang hà xứ hưởng đông đinh,
Dạ nguyệt thiên kinh cửu khách tình.
Nhất chủng Tiêu quan
(1) chinh phụ oán,
Tổng tương ly hận nhập thu thanh.



Dịch nghĩa

Từ đâu vẳng đến khắp sông tiếng nện thình thình ?
Trong đêm qua làm kinh động lòng khách trú lâu ngày ở đây
(Như) một nỗi ta thán của người chinh phụ có chồng đang ở chốn Tiêu quan
Cả một niềm ly hận như thấm vào tiếng thu.


村 舍 秋 砧

滿 江 何 處 響 東 丁,
夜 月 偏 驚 久 客 情。
一 種 蕭 關 征 婦 怨,
總 將 離 恨 入 秋 聲



Tiếng chày thu nện vải trên sông
(Người dịch: Lê Cao Phan)

Tiếng chày đâu dội khắp trên sông
Xa xứ đêm trăng khách chạnh lòng
Hay ải Tiêu quan chinh phụ khóc
Tiếng thu lời ly hận hòa chung ?

 


Chú thích:

Tiêu Quan: Tên một cửa ải xa xôi hiểm trở tại Quan Trung phía bắc Trung Quốc. Các đời Đường, Tống xây đồn lũy ở đây để chống rợ Thổ Phồn. Cũng trong văn cảnh này, Chinh Phụ Ngâm Khúc, thơ Hán văn thể cổ Nhạc phủ của Đặng Trần Côn (đời Lê, đầu thế kỷ 18) có hai câu sau đây:




Liên tưởng lương nhân kinh lược xứ
Tiêu quan giốc, hãn hải ngung
(Tưởng chàng giong ruổi mấy niên
Chẳng nơi hãn hải cũng miền Tiêu quan).




Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học Xã hội, 1976
Nguồn: thivien.net

Được bạn: diên vỹ sưu tầm / đưa lên
vào ngày: 5 tháng 2 năm 2013